Toàn cảnh nền kinh tế Việt Nam năm 2015 được ghi nhận là đã có nhiều chuyển biến tích cực với tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục được cải thiện, giá cả được kiềm chế ở mức thấp so với năm trước, hoạt động đầu tư toàn xã hội đạt kết quả khả quan,… Đây là điều đáng khích lệ và đã thể hiện khả năng ứng phó tương đối tốt của Việt Nam trước những biến động của môi trường kinh tế bên ngoài cũng như thách thức từ nội tại. Tuy vậy, bên cạnh những mảng sáng thì toàn cảnh nền kinh tế còn một vài khoảng tối do công cuộc tái cơ cấu còn chậm, nợ công tăng cao gây bất lợi đối với triển vọng tăng trưởng trong những năm kế tiếp.
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM NĂM 2015
VÀ TRIỂN VỌNG NĂM 2016
HÀ NỘI, THÁNG 03/2016
Trang 2HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM NĂM 2015
VÀ TRIỂN VỌNG NĂM 2016
Nhóm tác giả:
ThS Phạm Đức Anh PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh ThS Phạm Mạnh Hùng ThS Trương Hoàng Diệp Hương
ThS Chu Khánh Lân Đào Bích Ngọc Nguyễn Minh Phương ThS Vũ Hương Quỳnh PGS.TS Nguyễn Trọng Tài ThS Trần Huy Tùng
Báo cáo nghiên cứu 16/01
©2016 Báo cáo này thuộc bản quyền của Học viện Ngân hàng Mọi sự sao chép, lưu hành và/hoặc xuất bản một phần hoặc toàn bộ nội dung báo cáo mà không được sự cho phép của Học viện Ngân hàng là vi phạm bản quyền
Quan điểm được trình bày trong báo cáo này là của các tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm của Học viện Ngân hàng và của Ngân hàng Nhà nước
Xin vui lòng trích dẫn báo cáo như sau: Học viện Ngân hàng (2016) Hoạt động ngân hàng Việt
Nam năm 2015 và triển vọng năm 2016 Báo cáo nghiên cứu 16/01
Trang 3I TÌNH HÌNH KINH TẾ VĨ MÔ 1
II HOẠT ĐỘNG ĐIỀU HÀNH CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM NĂM 2015 6
III HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM NĂM 2015 16
IV TRIỂN VỌNG NGÂN HÀNG NĂM 2016 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
PHỤ LỤC 37
Trang 4Chữ viế t tắt Nguyên nghĩa tiếng Việt Nguyên nghĩa tiếng Anh
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài Foreign Direct Investment
FTA Hiệp định thương mại tự do Free Trade Agreement
ROAA Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản bình
VAR Mô hình tự hồi quy vector Vector Auto-Regression
WTO Tổ chức Thương mại thế giới World Trade Organization
Trang 5Bảng 1: Dự báo về tăng trưởng và lạm phát của Việt Nam năm 2016 2
Bảng 2: Dự báo giá dầu thế giới năm 2016 2
Bảng 3: Chỉ đạo của Ngân hàng nhà nước về việc xử lý nợ xấu trong năm 2015 11
Bảng 4: Chi phí dự kiến cho việc hỗ trợ các ngân hàng bị mua lại 0 đồng 13
Bảng 5: Các ngân hàng bị mua lại 0 đồng và giải pháp hỗ trợ 14
DANH MỤC HỘP Hộp 1: Đặc điểm của các FTA thế hệ mới .5
Hộp 2: Sự chủ động, linh hoạt của NHNN trong điều hành tỷ giá trong năm 2015 .7
Hộp 3: Chỉ số áp lực thị trường ngoại hối tại Việt Nam 8
Hộp 4: Hoạt động mua bán và xử lý nợ xấu của VAMC 12
Hộp 5: Những chi phí cho biện pháp mua lại 0 đồng 3 ngân hàng trong năm 2015 13
Hộp 6: Sự phụ thuộc của nền kinh tế vào hệ thống ngân hàng 18
Hộp 7: Chênh lệch lãi suất cho vay ngắn hạn và lãi suất cho vay trung dài hạn 21
Hộp 8: Thay đổi trong cơ cấu tín dụng theo kỳ hạn của các ngân hàng thương mại 23
Hộp 9: Mối quan hệ giữa lợi nhuận và vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thương mại Việt Nam 26
Trang 6Hình 1: Tốc độ tăng trưởng GDP và lạm phát giai đoạn 2010 - 2015 1
Hình 2: Diễn biến lạm phát các tháng năm 2015 1
Hình 3: Cán cân thương mại, 2014-2015 2
Hình 4: Cơ cấu chi ngân sách 2015 3
Hình 5: Cơ cấu thu ngân sách 2015 3
Hình 6: Tăng trưởng vốn đầu tư toàn xã hội (yoy) 4
Hình 7: Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội 4
Hình 8: Trần lãi suất và các lãi suất đ iều hành 6
Hình 9: Diễn biến tỷ giá USD/VND trên các thị trường, 6/2014-12/2015 7
Hình 10: Dự trữ ngoạ i hối, 2012-2015 9
Hình 11: Chỉ số áp lực thị trường ngoạ i hối, 2007- Q3/2015 10
Hình 12: Số lượng TCTD theo loạ i hình 16
Hình 13: Tăng trưởng tín dụng (yoy) 17
Hình 14: Tăng trưởng tín dụng (ytd) 17
Hình 15: Tăng trưởng tín dụng tháng 9/2015 (ytd) 17
Hình 16: Tỷ trọng tín dụng trên tổng tài sản 17
Hình 17: Tỷ lệ tín dụng/ tổng tín dụng và vốn hóa thị trường chứng khoán một số quốc gia 2012 18
Hình 18: Tỷ lệ tín dụng/GDP một số quốc gia năm 2014 18
Hình 19: Cơ cấu tín dụng 19
Hình 20: Giá trị trái phiếu chính phủ do các ngân hàng nắm giữ (triệu đồng) 20
Hình 21: Lãi suất trái phiế u Chính phủ 20
Hình 22: Mặt bằng lãi suất huy động 20
Hình 23: Mặt bằng lãi suất cho vay 20
Hình 24: Tỷ trọng tín dụng trên huy động vốn 22
Hình 25: Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn 22
Hình 26: Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn một số ngân hàng 23
Hình 27: Tỷ trọng cho vay và đi vay trên thị trường liên ngân hàng 23
Hình 28: Tỷ lệ nợ xấ u hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam 24
Hình 29: Tỷ lệ nợ xấ u hệ thống ngân hàng Việt Nam và ASEAN 24
Hình 30: Tỷ lệ lợi nhuận chưa phân phối/vốn chủ sở hữu tháng 9/2015 25
Hình 31: Tăng trưởng vốn chủ sở hữu và vốn điều lệ (ytd) 25
Hình 32: Tỷ lệ lợi nhuận chưa phân phối/vốn chủ sở hữu của một số quốc gia 25
Hình 33: Hệ số an toàn vốn và đòn bẩy tài chính 26
Hình 34: Cơ cấu thu nhập hoạt động một số ngân hàng 9 tháng đầu năm 2015 27
Hình 35: Tỷ lệ thu nhập phi lãi thuần và tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu 27
Hình 36: Hệ số tương quan giữa tỷ lệ lãi biên và lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản 27
Trang 7năm 2015 28
Hình 38: Tỷ lệ lãi biên và lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản 28
Hình 39: Tỷ lệ lãi biên và lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản ngân hàng Việt Nam và ASEAN 28
Hình 40: Lợi nhuận sau thuế 29
Trang 8I TÌNH HÌNH KINH TẾ VĨ MÔ
Toàn cảnh nền kinh tế Việt Nam năm 2015 được ghi nhận là đã có nhiều chuyển biến tích cực với tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục được cải thiện, giá cả được kiềm chế ở mức thấp so với năm trước, hoạt động đầu tư toàn xã hội đạt kết quả khả quan,… Đây là điều đáng khích lệ và đã thể hiện khả năng ứng phó tương đối tốt của Việt Nam trước những biến động của môi trường kinh tế bên ngoài cũng như thách thức từ nội tại Tuy vậy, bên cạnh những mảng sáng thì toàn cảnh nền kinh tế còn một vài khoảng tối do công cuộc tái cơ cấu còn chậm, nợ công tăng cao gây bất lợi đối với triển vọng tăng trưởng trong những năm kế tiếp
1 GDP vượt kế hoạch cả năm 2015, tăng cao nhất trong 5 năm qua trong khi lạm phát thấp nhất trong 14 năm trở lại đây
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2015 ước tính tăng 6,68% so với năm 2014, cao hơn mục tiêu 6,2% đề ra và cao hơn mức tăng của các năm từ 2011 tới nay, cho thấy nền kinh tế đã phục hồi
rõ nét (trong năm 2014, Việt Nam đạt kế hoạch tăng GDP, còn 3 năm liên tiếp trước đó không đạt kế hoạch) Trong năm 2015, khu vực công nghiệp và xây dựng vẫn đóng vai trò là động lực mạnh cho nền kinh tế nhưng có mức tăng cao hơn nhiều so với năm trước (9,64% năm 2015 so với 6,42% năm 2014) Đặc biệt công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao (10,6%), đóng góp đáng kể vào tăng trưởng chung của nền kinh tế Quy mô kinh tế năm 2015 theo giá hiện hành đạt 4.192,9 nghìn tỷ đồng; GDP bình quân đầu người năm 2015 ước tính đạt 2.109 USD, tăng 57 USD so với năm 2014
Hình 1: Tốc độ tăng trưởng GDP và lạm phát
giai đoạn 2010 - 2015
Hình 2: Diễn biến lạm phát các tháng năm 2015 (%)
Nguồn: Tổng cục Thống kê Nguồn: Tổng cục Thống kê
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2015 tăng 0,63% so với năm 2014 Đây cũng là con số thấp nhất trong vòng 15 năm trở lại đây, và thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu lạm phát mà Quốc hội thông qua đầu năm 2015 (dưới 5%) Bình quân mỗi tháng trong năm 2015, CPI chỉ tăng 0,05% so với tháng trước đó Trong đó, lạm phát cơ bản (theo thước đó chỉ số giá loại trừ lương thực - thực phẩm, năng lượng và mặt hàng do nhà nước quản lý gồm dịch vụ y tế, giáo dục) của cả năm 2015 tăng 2,05% so với năm 2014
0.68 0.61 0.4
0.67 0.64 0.63
-0.4 -0.2 0 0.2 0.4 0.6 0.8
Trang 9Xét diễn biến của CPI qua các tháng và so sánh với một số năm gần đây có thể thấy CPI tăng thấp bắt nguồn từ một số nguyên nhân sau: (i) giá nhiên liệu trên thị trường thế giới gần đây giảm mạnh, trong đó giá dầu xuống mức thấp nhất trong vòng nhiều năm qua; (ii) mức độ điều chỉnh giá của các nhóm hàng do Nhà nước quản lý như dịch vụ giáo dục, dịch vụ y tế thấp hơn so với các năm trước; (iii) giá lương thực, thực phẩm ở Việt Nam và thế giới có xu hướng giảm Lạm phát trong năm 2016 được đánh giá là tiếp tục được duy trì ở mức thấp khi mà các dự báo về giá năng lượng cho giai đoạn 2016-
2017 đều thuận lợi cho việc giữ ổn định mặt bằng giá trong nước
Bảng 1: Dự báo về tăng trưởng và lạm phát của
Việt Nam năm 2016
Bảng 2: Dự báo giá dầu thế giới năm 2016
ADB Standard
Chartered
Uỷ ban GSTCQG Tăng trưởng
EIA
Giá dầu
40 USD
40 USD
50 USD
30 USD
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả
2 Cán cân thương mại được duy trì tương đối cân bằng
Tính đến cuối năm 2015, cán cân thương
mại của Việt Nam thâm hụt khoảng 3,2 tỷ USD,
tương đương 1,65% GDP Kim ngạch xuất khẩu
năm 2015 đạt 162,4 tỷ USD, tăng 8,1% so với
năms 2014 Trong đó, xuất khẩu chủ yếu vẫn nằm
ở nhóm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
khi mà xuất khẩu khu vực trong nước giảm 3,5%
Cùng trong năm 2015, nhập khẩu tăng khoảng 12%
đạt mức 165,6 tỷ USD
Đối với các thị trường nhập khẩu, Trung
Quốc vẫn là thị trường cung cấp hàng hóa nhập
khẩu lớn nhất của Việt Nam với 28,8% tổng kim
ngạch Tuy nhiên, xu hướng nhập khẩu của Việt
Nam có sự dịch chuyển sang Hàn Quốc khi giá trị
nhập khẩu từ quốc gia này đạt 27,7 tỷ USD, phản
ánh hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp Hàn
Quốc đang được gia tăng mạnh mẽ tại Việt Nam
3 Hoạt động thu – chi ngân sách còn gặp nhiều khó khăn và tiềm ẩn rủi ro
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tổng thu ngân sách nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2015 ước tính đạt 884,8 nghìn tỷ đồng, bằng 97,1% dự toán năm Một trong những khó khăn lớn đối với hoạt động thu NSNN năm 2015 là giá dầu giảm mạnh so với dự báo (trung bình cả
Hình 3: Cán cân thương mại, 2014-2015
Nguồn: Tổng cục Hải quan
-6 -5 -4 -3 -2 -1 0 1 2 3
0 5 10 15 20 25 30 35 40 45
Trang 10năm 2015, giá dầu chỉ bằng hơn 50% giá dự báo khi lập dự toán) Ngoài ra, còn do thu ngân sách vẫn phụ thuộc khá lớn vào các loại thuế gián thu Đây là những loại thuế phụ thuộc vào mức giá, nên khi lạm phát được kiềm chế, thì tốc độ thu NSNN từ các loại thuế cũng bị giảm
Tổng chi ngân sách thực hiện đạt 1.064,5 nghìn tỉ đồng, bằng 92,8% dự toán và tương đương 26% GDP Trong cơ cấu chi tiêu của NSNN có một số nét đáng chú ý: (i) chi trả nợ viện trợ tăng mạnh 23,58% so với cùng kỳ 2014 (chiếm 13,93% tổng chi), đạt 142,29 nghìn tỷ đồng (ii) chi đầu tư phát triển giảm khá mạnh, chỉ chiếm khoảng 15,22% tổng chi, là mức thấp nhất trong vòng 20 năm qua; (iii) chi thường xuyên tiếp tục tăng cao mặc dù Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 06/CT-TTg về việc cắt giảm 10% chi thường xuyên của các Bộ, ngành trong 8 tháng cuối năm Với quy mô thu chi như trên, bội chi ngân sách ước khoảng 179,7 nghìn tỷ đồng
Hình 4: Cơ cấu chi ngân sách 2015 Hình 5: Cơ cấu thu ngân sách 2015
Thu ngân sách gặp nhiều khó khăn nhưng nhu cầu chi lại quá lớn, dẫn đến bội chi NSNN tiếp tục tăng và đã vượt mốc 5,0% GDP trong năm 2015 (tính toán của nhóm tác giả) Đồng thời, tính đến 31/12/2015, mức dư nợ công dự kiến khoảng 61,3% GDP, nợ Chính phủ khoảng 48,9% GDP và nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 41,5% GDP Các tỷ lệ này nằm trong phạm vi quy định, tuy nhiên dư nợ công từ năm 2011 đến năm 2015 tăng thêm khoảng 7% GDP do yêu cầu phải tăng vay để đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội Nhu cầu vay và trả nợ tăng nhanh (ước tính chi trả nợ lãi năm 2015 bằng khoảng 7,7% tổng chi cân đối NSNN, cao hơn nhiều so với mức trung bình 3,8% của giai đoạn 2006-2010) Bội chi NSNN cao, nợ công tăng nhanh luôn là nguy
cơ khi tình hình thu ngân sách vẫn sẽ không ổn định bởi sự biến động khó lường của giá dầu và việc thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan theo các hiệp định thương mại đã ký kết
4 Vốn đầu tư toàn xã hội tăng trưởng mạnh nhất sau 3 năm, tập trung vào khu vực FDI
Sau 5 năm thực hiện tái cơ cấu đầu tư (2011-2015), hệ thống thể chế về quản lý đầu tư công đã dần được hoàn thiện cũng như cơ cấu vốn đầu tư đã được có sự điều chỉnh Kết quả bước đầu rõ nét nhất là tỷ trọng vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP đã giảm từ 38,7% giai đoạn 2001-2010 xuống còn khoảng 31% vào giai đoạn 2012-2015 Tỷ trọng vốn đầu tư từ khu vực kinh tế nhà nước trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2011-2015 cũng giảm xuống còn 40% (giai đoạn 2001-2010 là khoảng 45,7%); trong đó, tỷ trọng vốn đầu tư từ ngân sách giảm xuống 21,3%
Chi đầu tư phát triển, 15.22%
Thu nội địa, 74%
Thu dầu thô, 7.10%
Thu XNK, 17.96%
Thu khác, 0.94%
Trang 11Hình 6: Tăng trưởng vốn đầu tư toàn xã hội (yoy) Hình 7: Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội
Nguồn: Tổng cục Thống kê Nguồn: Tổng cục Thống kê
Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện năm 2015 theo giá hiện hành ước tính đạt 1367,2 nghìn tỷ đồng, tăng 12% so với năm trước (tăng mạnh nhất trong 3 năm khi so với mức tăng 8% năm
2013 và 11% năm 2014) Trong các khu vực, nhóm FDI đã tăng trưởng đầu tư 19,9%, cao hơn nhiều so với mức 10,5% trong năm 2014 Trong khi đó, khu vực tư nhân trong năm 2015 chỉ tăng khiêm tốn 13,04%, thấp hơn con số 14,13% năm 2014 Như vậy, thu hút và giải ngân vốn FDI thực sự trở thành một điểm sáng của Việt Nam trong năm 2015 khi mà vốn đăng ký đạt 22,76 tỷ USD, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2014 giảm 6,5%); vốn FDI thực hiện đạt 14,5 tỷ USD, tăng 17,4% so với năm 2014 (mức tăng của năm 2014 chỉ là 7,4%)
5 Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (TPP, EVFTA, AEC) được kỳ vọng sẽ mang lại những cải thiện về môi trường kinh doanh và làn sóng đầu tư mới
Năm 2015 được xem là cột mốc đánh dấu cho giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế mới bởi Việt Nam sẽ hội nhập một cách toàn diện vào kinh tế toàn cầu thông qua việc hoàn tất các cam kết trong các hiệp định thương mại tự do đã ký Đồng thời, nỗ lực kết thúc đàm phán một số hiệp định thương mại tự
do thế hệ mới then chốt như TPP, EVFTA hay AEC được kỳ vọng sẽ mang lại những cải thiện đột phá
về môi trường kinh doanh và làn sóng đầu tư mới
Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới được kết thúc đàm phán trong năm 2015 được xem
là bước quan trọng trong việc tiến gần tới mục tiêu thúc đẩy thương mại tự do trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương và cũng như đối với nhiều nền kinh tế phát triển trên thế giới Theo các hiệp định này, Việt Nam sẽ được tiếp cận thị trường dịch vụ của các nước đối tác thuận lợi hơn, với ít các rào cản và điều kiện hơn Người tiêu dùng và các ngành sản xuất của Việt Nam sử dụng nguyên liệu nhập khẩu từ các nước này làm nguyên liệu đầu vào sẽ được hưởng lợi từ hàng hóa, nguyên liệu giá rẻ, giúp giảm chi phí sinh hoạt và sản xuất, từ đó có thể giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của những ngành này Cuối cùng, các hiệp định thương mại cũng thúc đẩy những cải cách về mặt thể chế kinh tế-pháp luật cũng như nâng cao các tiêu chuẩn về lao động, môi trường cho Việt Nam
Trang 12Hộp 1: Đặc điểm của các FTA thế hệ mới
Trong so sánh với các FTA mà Việt Nam đã ký kết và đang thực thi thì các FTA thế hệ mới mà Việt Nam đang đàm phán có một số đặc điểm riêng như sau:
– Mức độ tự do hóa (mở cửa) sâu: Với tiêu chí “FTA tiêu chuẩn cao”, dù chưa kết thúc đàm phán, có thể chắc chắn rằng mức độ mở cửa của Việt Nam cũng như các đối tác trong các FTA này là rất sâu (xóa bỏ phần lớn các dòng thuế, mở cửa mạnh các ngành dịch vụ…) và tất nhiên là rộng hơn nhiều so với WTO cũng như các FTA trước đây của Việt Nam;
– Phạm vi cam kết rộng: Trong khi các FTA trước đây chủ yếu tập trung vào lĩnh vực thương mại hàng hóa, các FTA thế hệ mới sắp tới sẽ bao gồm những cam kết về nhiều lĩnh vực mới mà Việt Nam chưa từng cam kết/mở cửa trước đây, ví dụ: doanh nghiệp Nhà nước, mua sắm Chính phủ, lao động – công đoàn, môi trường…
– Nhiều cam kết về thể chế: Khác với các FTA trước đây chủ yếu ảnh hưởng tới chính sách thuế quan tại biên giới, các FTA thế hệ mới sắp tới có nhiều các cam kết ảnh hưởng trực tiếp và lớn đến thể chế, chính sách pháp luật nội địa (những vấn đề sau đường biên giới);
– Đối tác FTA đặc biệt lớn: Trong các FTA thế hệ mới mà Việt Nam đang đàm phán có những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả
Tuy các hiệp định thương mại tạo ra nhiều thuận lợi như vậy, nhưng khó khăn với nền kinh tế có mức thu nhập bình quân thấp trong khu vực như Việt Nam cũng không phải là nhỏ Có một khả năng chắc chắn là Việt Nam sẽ gặp bất lợi từ việc giảm thuế quan với hàng hóa từ các nước đối tác Việc giảm thu ngân sách từ thuế nhập khẩu sau khi thực hiện theo cam kết của các Hiệp định thương mại là
hệ quả chắc chắn và trực tiếp Ngoài ra, giảm thuế cũng gây nguy cơ cạnh tranh khốc liệt giữa hàng trong nước và ngoại nhập, hệ quả tất yếu là thị phần hàng sản xuất trong nước bị ảnh hưởng
Trang 13II HOẠT ĐỘNG ĐIỀU HÀNH CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM NĂM 2015
1 Điều hành chính sách lãi suất thận trọng, tiếp tục duy trì mức lãi suất thấp
Trái với các năm trước khi NHNN liên
tục ban hành các quy định giảm trần lãi suất,
trong năm 2015, NHNN đã không ban hành thêm
một quy định nào về trần lãi suất nội tê Điều này
thể hiện tính thận trọng trong việc điều hành lãi
suất của NHNN trong thời gian qua Điều chỉnh
theo áp lực cạnh tranh và triển vọng tín dụng của
từng ngân hàng, mặt bằng lãi suất huy động và
cho vay tiếp tục giảm, nhưng tốc độ giảm chậm
hơn giai đoạn trước, chỉ khoảng 0,3%-0,5%/năm
và có xu hướng tăng nhẹ vào cuối năm
Một điểm nổi bật khác trong chính sách
điều hành lãi suất năm 2015 là việc NHNN hai
lần điều chỉnh giảm trần lãi suất huy động đồng
đô la Mỹ từ 0,5% xuống 0,25% rồi xuống 0%
Việc giảm trần lãi suất huy động đô la Mỹ của
NHNN diễn ra trong bối cảnh áp lực giữ vững tỷ
giá cao hơn, khi Trung Quốc liên tục phá giá đồng nhân dân tệ và FED hướng tới việc tăng lãi suất tại thời điểm đó Giảm trần lãi suất huy động USD trong khi ổn định lãi suất huy động VND giúp duy trì sức hấp dẫn của đồng Việt Nam so với các ngoại tệ, đặc biệt là USD, từ đó góp phần kiềm chế tình trạng găm giữ ngoại tệ, giảm sức ép lên tỷ giá
2 Định hướng tín dụng tăng trưởng bền vững, tập trung vào lĩnh vực ưu tiên
Ngay từ chỉ thị 01/CT-NHNN đầu năm 2015, NHNN đã định hướng điều hành tín dụng theo hướng mở rộng tín dụng đi đôi với kiểm soát chất lượng tín dụng, với mức tăng trưởng tín dụng là trong khoảng từ 13%-15% Bên cạnh đó, chính phủ tiếp tục chỉ đạo NHNN hỗ trợ các lĩnh vực ưu tiên, ví dụ như việc ban hành Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn thay thế Nghị định 41/2010/NĐ-CP Kết quả là tín dụng lĩnh vực nông nghiệp nông thôn tăng 11%, lĩnh vực doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 45,13%, cho vay lĩnh vực công nghiệp ưu tiên phát triển tăng 9,72%, DNNVV tăng 6,13%
3 Điều hành chính sách tỷ giá một cách chủ động, linh hoạt nhằm ứng phó với các cú sốc trong và ngoài nước, đồng thời gia tăng sức cạnh tranh thương mại quốc tế của hàng hóa Việt Nam
Đây là một năm đầy khó khăn và thử thách đối với NHNN nhằm ổn định tỷ giá và thị trường ngoại hối do nguồn cung ngoại tệ không dồi dào như ba năm liền kề trước đó còn nguồn cầu ngoại tệ lại tăng khá mạnh trong bối cảnh nền kinh tế có dấu hiệu hồi phục rõ nét Không những thế, các cú sốc từ
Hình 8: Trần lãi suất và các lãi suất điều hành
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
Huy động: 1 đến 12 tháng Huy động: 1 đến 6 tháng Huy động vốn ngoại tệ - tổ chức Huy động vốn ngoại tệ -cá nhân Tái chiết khấu
Tái cấp vốn
Trang 14bên ngoài đặc biệt đến từ sự thay đổi trong chính sách tiền tệ của các quốc gia phát triển đã gây ra những biến động trên thị trường ngoại hối Nhằm ứng phó với những cú sốc trong và ngoài nước, NHNN đã chủ động điều chỉnh tỷ giá cũng như nới rộng biên độ dao động một cách hợp lý, không quá cứng nhắc so với mục tiêu ban đầu So với thời điểm đầu nay 2015, tỷ giá bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng vào ngày 31/12 đã tăng 3% đồng thời biên độ dao động tăng từ ±1% lên ±3%, trong khi đó tỷ giá tại các NHTM và trên thị trường ngoại tệ tự do tăng tương ứng 5,3% và 5,05%
Hộp 2: Sự chủ động, linh hoạt của NHNN trong điề u hành tỷ giá trong năm 2015
Tính chủ động, linh hoạt của NHNN
trong điều hành tỷ giá được thể hiện ở 3 thời
điểm đó là:
Thứ nhất, mặc dù thị trường ngoại hối
có những thời điểm khá căng thẳng trong tháng
11 - 12/2014, nhưng khi NHNN điều chỉnh tăng
tỷ giá bình quân liên ngân hàng thêm 1% vào
ngày 7/1/2015 thì mức chênh lệch giữa tỷ giá
chính thức và tỷ giá tự do chỉ khoảng 200-250
VND – một mức chênh thấp so với những thời
điểm độ chênh lên tới 2.000 VND Đây không
phải là lần đầu tiên NHNN điều chỉnh tỷ giá
vào thời điểm đầu năm bởi lẽ trước đó, vào
tháng 2/2010 và 2/2011, NHNN đã từng điều
chỉnh tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng
thêm lần lượt là 3,25% và 8,5% Chính vì vậy, điều chỉnh tỷ giá vào thời điểm đầu năm 2015 hẳn là sự lựa chọn có lý do khi nó được kì vọng giúp khơi thông, gia tăng nguồn cung ngoại tệ trong bối cảnh cung cầu ngoại tệ đang có dấu hiệu căng thằng tại thời điểm cuối năm 2014, qua đó giảm áp lực tới tỷ giá hối đoái Ngoài ra nó còn là minh chứng cho thấy sự chủ động của NHNN trong điều hành tỷ giá
Thứ hai, trước những thông tin kinh tế không khả quan trong tháng 4/2015 (nhập siêu khoảng 3 tỷ
USD trong 4 tháng, ngân sách thâm hụt có thể được tài trợ bằng khoản vay từ dự trữ ngoại hối ) có thể gây ảnh hưởng đến sự ổn định của thị trường ngoại hối, NHNN đã điều chỉnh tăng tỷ giá thêm 1% vào ngày 7/5/2015 Đợt điều chỉnh tăng tỷ giá thứ 2 trong năm 2015 một lần nữa cho thấy sự chủ động của NHNN trong việc dẫn dắt thị trường, qua đó tránh những kì vọng quá mức của giới đầu cơ
Thứ ba, nếu hai lần điều chỉnh tăng tỷ giá trước phần nào là do những yếu tố kinh tế trong nước thì
lần tăng tỷ giá thứ 3 của NHNN trong năm 2015 nhằm phản ứng kịp thời trước các cú sốc từ bên ngoài Việc NHTW Trung Quốc đột ngột phá giá Nhân dân tệ trong 3 ngày liên tiếp từ 11-13/8/2015 với các mức lần lượt là 1,9%, 1,6% và 1,1% đã ảnh hưởng không chỉ tới các quốc gia trên thế giới, trong khu vực mà còn tới Việt Nam Động thái nâng biên độ tỷ giá ngày 12/8/2015 từ +-1% lên +-2% của NHNN gây bất ngờ cho thị trường cũng như giới chuyên gia Nhưng một lần nữa động thái này lại cho thấy sự chủ động, linh hoạt của NHNN trong điều chỉnh tỷ giá Trong bối cảnh Nhân dân tệ giảm giá mạnh kéo theo tiền tệ thuộc các quốc gia châu Á khác giảm giá theo, thì đây là quyết định hoàn toàn dễ hiểu vì (i) nó sẽ hỗ trợ cho các doanh
Hình 9: Diễn biến tỷ giá USD/VND trên các thị trường,
6/2014-12/2015
Nguồn: www.sbv.gov.vn, www.vietcombank.com.vn,
www.vangsaigon.com
21,000 21,500 22,000 22,500 23,000
Trang 15nghiệp xuất khẩu trong cạnh tranh với các hàng hóa cùng loại do các quốc gia láng giềng sản xuất; (ii) gia tăng độ linh hoạt của tỷ giá USD/VND, tránh những áp lực không đáng có tới thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối
Nhóm biện pháp
1 Điều chỉnh tăng tỷ giá
bình quân liên ngân
hàng
- Tỷ giá USD/VND tăng 1% vào ngày 7/1/2015
- Tỷ giá USD/VND tăng 1% vào ngày 7/5/2015
- Tỷ giá USD/VND tăng 1% vào ngày 19/8/2015
2 Điều chỉnh biên độ
dao động tỷ giá
- Biên độ dao động tăng từ ±1% lên ±2%
- Biên độ dao động tăng từ ±2% lên ±3%
3 Các biện pháp điều
hành tỷ giá khác
- Khách hàng mua ngoại tệ trước thời hạn thanh toán theo chứng từ từ 03 ngày trở lên thì TCTD chỉ được phép bán ngoại tệ kì hạn, không được phép thực hiện giao dịch giao ngay Đồng thời, ngày cuối cùng của kì hạn không được đến trước ngày đến hạn thanh toán theo chứng từ (Thông tư 15/2015/TT-NHNN ngày 02/10/2015) → Giảm tình trạng găm giữ ngoại tệ
- Giảm trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ xuống 0.25% (29/9/2015) và 0% (17/12/2015) Nguồn: Tổng hợp từ website của NHNN
Hộp 3: Chỉ số áp lực thị trường ngoại hối tại Việt Nam
Chỉ số áp lực thị trường ngoại hối (Exchange Market Presure – EMP) đo lường mức chênh lệch giữa cung cầu của một tiền tệ trên thị trường ngoại hối quốc tế Mức chênh lệch cung cầu đối với tiền tệ của một quốc gia trên thị trường quốc tế chính bằng chênh lệch giữa tổng giá trị xuất khẩu và nhập khẩu của chính quốc gia đó Sự mất cân đối cung cầu tiền tệ trên thị trường ngoại hối sẽ bị loại trừ thông qua sự biến động của tỷ giá hối đoái ( ) và sự thay đổi trong dự trữ ngoại hối quốc gia ( ) Chỉ số này có thể được xác định theo 1 trong 3 cách sau đây:
(i) Tỷ lệ biến động (%) của nội tệ thời điểm t so với (t-1) cộng với tỷ lệ thay đổi trong dự trữ ngoại hối (%) tại thời điểm t so với thời điểm (t-1):
(1a)
(ii) Tỷ lệ biến động của nội tệ thời điểm t so với (t-1) cộng với tỷ lệ thay đổi trong dự trữ ngoại hối
tại thời điểm t trên lượng tiền cung ứng tại thời điểm (t-1):
(1b) (iii) Là bình quân gia quyền của: (1) sự thay đổi trong tỷ giá thực của nội tệ; (2) sự thay đổi của lãi suất nội tệ; và (3) sự thay đổi trong dự trữ ngoại hối quốc gia:
(
) ( ) (
) (1c)
Trang 16Trong đó:
: Thông thường các nghiên cứu trước đây sử dụng dự trữ ngoại hối quốc gia tại thời điểm t để
tính toán chỉ số áp lực thị trường ngoại hối
: Lượng cung tiền M2 tại thời điểm t
H: Tỷ giá giữa VND và USD Tuy nhiên, trong giai đoạn này, do NHNN cô gắng duy trì khá ổn định
tỷ giá bình quân liên ngân hàng (ngoại trừ những thời điểm điều chỉnh biên độ) nên nhóm tác giả sử dụng thêm các chuỗi số liệu khác về tỷ giá bao gồm tỷ giá mua-bán của VCB, tỷ giá mua-bán trên thị trường ngoại
tệ tự do
Dựa trên các nghiên cứu của Girton và Roper (1997), Eichengreen và cộng sự (1996), Phạm Thị Hoàng Anh và cộng sự (2013), nếu chỉ số áp lực thị trường ngoại hối lớn hơn mức trung bình của chỉ số áp lực thị trường ngoại hối trong suốt giai đoạn cộng với 2 lần độ lệch tiêu chuẩn thì nguy cơ xảy ra những biến động mạnh trên thị trường ngoại hối hay nguy cơ khủng hoảng tiền tệ là rất lớn Nếu diễn biến đó xảy ra thì NHNN cần phải có những biện pháp ứng phó kịp thời để tránh nguy cơ đó Chính vì vậy, tác giả tính toán lại chỉ số áp lực thị trường ngoại hối tại Việt Nam trong giai đoạn 2007- 2015 dựa trên số liệu thu thập theo tháng từ www.sbv.gov.vn (đối với tỷ giá bình quân liên ngân hàng, M2), www.vietcombank.com (đối với tỷ giá mua bán của NHTM), www.vangsaigon.com (đối với tỷ giá trên thị trường tự do), Thống kê Tài chính quốc tế của IMF (đối với dự trữ ngoại hối) Riêng số liệu dự trữ ngoại hối trong năm 2015, tác giả tính bằng cách lấy số dư dự trữ ngoại hối cuối tháng 12/2014 (theo Thống kê Tài chính quốc tế của IMF) cộng với giá trị của mục tài sản dự trữ (nếu mục này ghi nợ trong BOP) hoặc trừ đi giá trị tại mục tài sản dự trữ (nếu mục này ghi có trong BOP) Giá trị của mục tài sản dự trữ trong BOP được xác định dựa vào số liệu do NHNN công bố1 Diễn biến dự trữ ngoại hối của Việt Nam được thể hiện ở Hình 10 Số liệu này cho thấy, sau khi đạt đỉnh vào quý 3 năm 2014, dự trữ ngoại hối của Việt Nam có xu hướng giảm dần và chỉ còn khoảng 30,4
tỷ USD, tương đương với 9,5 tuần nhập khẩu- đây là con số khá thấp và có thể gây khó khăn cho NHNN trong điều hành tỷ giá
Hình 10: Dự trữ ngoại hối, 2012-2015
Đơn vị: Tỷ USD, tuần nhập khẩu
Nguồn: Thống kê Tài chính quốc tế và tính toán của tác giả
1
http://www.sbv.gov.vn/portal/faces/vi/pages/trangchu/tk/ccttqt?_afrLoop=21582053264228835&_afrWindowMode=0&#%40%3F_afrLoop%3D215 82053264228835%26_afrWindowMode%3D0%26_adf.ctrl-state%3Dtpgqzq7rl_54 (khai thác vào ngày 10/1//2016).
0 2 4 6 8 10 12 14
0 5,000 10,000 15,000 20,000 25,000 30,000 35,000 40,000
Trang 17Trên cơ sở áp dụng công thức xác định chỉ số áp lực thị trường ngoại hối, tác giả đã xác định được chuỗi số liệu về chỉ số áp lực thị trường ngoại hối trong giai đoạn 2007- 2015 được thể hiện trong Hình 11 Theo đó, trong giai đoạn 2007-2015 chỉ số áp lực thị trường ngoại hối tại Việt Nam cao hơn so với mức chuẩn vào các thời điểm tháng 3/2008, tháng 11/2009, tháng 10 và 11/2010, tháng 1 và 2/2011 Thực tế cho thấy đây là những thời điểm thị trường ngoại hối Việt Nam xảy ra những biến động rất mạnh Từ cuối năm
2014, chỉ số áp lực trên thị trường ngoại hối có dấu hiệu tăng lên và tăng khá mạnh trong quý 2/2015, mặc dù vẫn còn khá thấp so với mức chuẩn (trung bình cộng với 2 lần độ lệch chuẩn) Trước diễn biến đó, NHNN đã chủ động đưa ra các biện pháp ứng phó, giúp cho chỉ số áp lực trên thị trường ngoại hối có dấu hiệu giảm
xuống Các bằng chứng thực nghiệm về chỉ số áp lực thị trường ngoại hối trong năm 2015 một lần nữa khẳng định tính chủ động của NHNN trong việc dẫn dắt thị trường ngoại hối, ứng phó kịp thời trước các cú sốc trong và ngoài nước Nhờ đó, đã giảm thiểu nguy cơ xảy ra các biến động lớn ảnh hưởng tiêu cực đến thị
trường tiền tệ nói chung và thị trường ngoại hối nói riêng
Hình 11: Chỉ số áp lực thị trường ngoại hối, 2007- Q3/2015
Hình 11a Chỉ số áp lực thị trường ngoại hối
(dựa trên tỷ giá mua trên thị trường tự do)
Hình 11b Chỉ số áp lực thị trường ngoại hối (dựa trên tỷ giá bán trên thị trường tự do)
Hình 11c Chỉ số áp lực thị trường ngoại hối
(dựa trên tỷ giá mua tại VCB)
Hình 11d Chỉ số áp lực thị trường ngoại hối (dựa
trên tỷ giá bán tại VCB)
Nguồn: Tính toán của tác giả
Trang 184 NHNN tiế p tục có những chỉ đạo sát sao đưa tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống về mục tiêu 3% trước hạn
Nhận thức được việc Thông tư 09/2014/TT-NHNN có hiệu lực vào năm 2015 sẽ khiến cho tỷ lệ
nợ xấu tại tổ chức tín dụng tăng đột biến2, NHNN đã định ra hạn mức và lịch trình cụ thể mà các TCTD buộc phải hoàn thành việc bán nợ cho VAMC, và đưa ra một số hình thức cảnh cáo như tạm dừng cấp phép mở rộng mạng lưới đối với các đơn vị không hoàn thành mục tiêu đề ra Kết quả là, đến tháng 11/2015 tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống giảm xuống còn 2,72 %
Bảng 3: Chỉ đạo của Ngân hàng nhà nước về việc xử lý nợ xấu trong năm 2015
1 Chỉ thị 02/2015 - VAMC phải có kế hoạch mua từ 70.000 -100.000 tỷ đồng nợ xấu trong 2015
- TCTD phải xử lý được tối thiểu 60% số nợ xấu cần xử lý trong năm 2015 trước 30/6/2015
- TCTD bán nợ cho VAMC phải đạt tối thiểu 75% trong 6 tháng đầu năm
- TCTD phải tập trung nguồn lực xử lý nợ xấu
- Báo cáo Ngân hàng Nhà nước kế hoạch xử lý nợ xấu trước ngày 20/7/2015
- Tăng vốn điều lệ của VAMC từ 500 tỷ đồng lên 2000 tỷ đồng
- Mở rộng trường hợp VAMC được mua nợ theo giá thị trường
- Cho phép VAMC hưởng một phần tiền theo tỷ lệ do NHNN quy định sau khi thu hồi nợ xấu
7 Thông tư
18/2015/TT-NHNN
- Hướng dẫn việc tái cấp vốn trên cơ sở trái phiếu đặc biệt của VAMC
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả
2 Thông tư 09/2014/TT-NHNN buộc các ngân hàng thương mại tham chiếu kết quả phân loại nhóm nợ từ CIC, bổ sung các tài sản phải trích lập dự phòng, và bổ sung quy định về cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ với hiệu lực thi hành kể từ 20/3/2014 và hết hiệu lực thi hành kể từ 1/4/2015
Trang 195 VAMC tiếp tục đóng vai trò chủ yếu trong việc mua nợ xấu, tuy nhiên việc xử lý các khoản nợ này vẫn còn chậm
Hoạt động mua nợ của VAMC đã có tác động lớn trong việc giảm tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng, đóng góp 41,3% trong tổng số nợ xấu được xử lý của toàn hệ thống các TCTD từ tháng 9/2012 đến hết tháng 8/2015 Tính từ khi đi vào hoạt động năm 2013 đến ngày 31/12/2015, VAMC đã phát hành trái phiếu đặc biệt hơn 243 nghìn tỷ đồng để mua nợ xấu Tuy nhiên, việc bán nợ cho VAMC của các
ngân hàng trên thực tế hiện nay mới chỉ là xử lý “kỹ thuật” để làm sạch bảng cân đối tài sản của ngân hàng chứ chưa phải xử lý nợ xấu một cách thực sự trong nền kinh tế Cho dù đã bán cho VAMC nhưng
các ngân hàng vẫn phải trích lập dự phòng cho khoản nợ cũng như vẫn phải chịu trách nhiệm chính với các khoản nợ đã bán và nếu hết thời hạn trái phiếu đặc biệt mà VAMC chưa xử lý được khoản nợ thì TCTD phải nhận lại khoản nợ đã bán
Trong khi đó, tiến độ thu hồi nợ của VAMC so với tốc độ mua các khoản nợ xấu cho thấy số nợ được VAMC xử lý trong thời gian vừa qua khá chậm Tỷ lệ thu hồi nợ lũy kế từ khi đi vào hoạt động cho đến hết năm 2015 chỉ đạt 9,3% Hoạt động xử lý nợ xấu của VAMC vẫn còn gặp nhiều khó khăn do một số nguyên nhân: (i) VAMC không có quyền chủ động xử lý những khoản nợ xấu do cần có sự phối hợp chặt chẽ từ phía TCTD; (ii) việc bán khoản nợ khi chưa có cơ sở định giá rất phức tạp do thiếu quy định về trách nhiệm đối với phần chênh lệch thấp hơn khi khoản nợ được bán theo giá thị trường thấp hơn giá trị sổ sách; và (iii) chưa có thị trường mua bán nợ xấu Tuy nhiên, tín hiệu tích cực là tốc độ thu hồi nợ đã tăng lên và kỳ vọng trong thời gian tới khi nền kinh tế phục hồi tốt hơn và thị trường bất động
sản ấm lên, khả năng thu hồi nợ của VAMC sẽ được cải thiện
Hộp 4: Hoạt động mua bán và xử lý nợ xấu của VAMC
VAMC được thành lập từ năm 2013 và đã trở thành một công cụ giúp xử lý nợ xấu khỏi bảng tổng kết tài sản của các NHTM một cách hữu hiệu Trong năm 2015, NHNN cũng đã ban hành nhiều chính sách liên quan tới VAMC nhằm đẩy nhanh hơn tiến độ xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng
Thứ nhất, quy định bắt buộc các TCTD có tỷ lệ nợ xấu từ 3% trở lên theo kết quả thanh tra, giám sát
phải bán nợ xấu cho VAMC
Thứ hai, ấn định số nợ xấu tối thiểu mỗi TCTD phải bán cho VAMC, bảo đảm đến ngày 30/6/2015
xử lý được tối thiểu 60% tổng số nợ xấu phải xử lý theo kế hoạch năm 2015, trong đó chỉ tiêu bán nợ xấu cho VAMC phải đạt ít nhất 75% tổng số nợ xấu dự kiến bán cho VAMC cả năm 2015 và đến ngày 30/9/2015 bán hết 100% tổng số nợ xấu phải bán cho VAMC theo chỉ tiêu được giao
Thứ ba, sửa đổi bổ sung các quy định về VAMC nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động
mua nợ và xử lý nợ của VAMC bao gồm việc cho phép VAMC phát hành trái phiếu để mua nợ theo giá trị thị trường và ban hành các quy định liên quan trực tiếp đến việc xử lý TSBĐ của VAMC
Các quy định trên đều đi kèm các biện pháp chế tài nếu các TCTD không thực hiện sẽ bị áp dụng như thanh tra, đánh giá lại chất lượng và giá trị tài sản bằng kiểm toán hoặc tổ chức định giá độc lập, thậm chí không xem xét, chấp thuận đề nghị mở rộng nội dung hoạt động, giới hạn tăng trưởng tín dụng, mở rộng quy
mô, địa bàn hoạt động và mở chi nhánh, phòng giao dịch Điều này đã khiến các chính sách được các TCTD nghiêm túc thực hiện nhằm đảm bảo đạt kế hoạch đã đề ra
Trang 206 Sắp xếp lại hệ thống ngân hàng thông qua hình thức mua lại 0 đồng nhằm ổn định niềm tin của công chúng
Trong năm 2015, NHNN đã mua lại 0 đồng 3 ngân hàng: Xây dựng, Đại Dương, và Dầu khí Toàn cầu Sử dụng biện pháp mua lại 0 đồng các ngân hàng sau thời gian kiểm soát đặc biệt, NHNN đã có bước đi rất thận trọng nhằm tránh sự đổ vỡ cùng những hệ lụy không tốt tới toàn hệ thống, tiếp tục bảo đảm an toàn của hệ thống ngân hàng và duy trì niềm tin của người gửi tiền Đối với các ngân hàng bị mua lại 0 đồng, các
cổ đông sẽ bị chấm dứt toàn bộ quyền sở hữu NHNN trở thành cổ đông nắm giữ 100% cổ phần của ngân hàng và có thể trực tiếp can thiệp vào quá trình tái cơ cấu các ngân hàng này Động thái này đồng nghĩa với cam kết ngầm của NHNN đối với toàn bộ lượng tiền gửi, đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền Giải pháp mua lại 0 đồng đã cho thấy kết quả tích cực khi sự ổn định của hệ thống ngân hàng được duy trì Tuy chi phí cho biện pháp mua lại 0 đồng không phải là bằng 0 và rủi ro đạo đức vẫn là điều đáng quan ngại trong tương lai nhưng trong bối cảnh hiện tại, việc NHNN lựa chọn mục tiêu ưu tiên kiểm soát sự ổn định của hệ thống
và niềm tin của công chúng sẽ mang lại nhiều lợi ích chung cho toàn bộ nền kinh tế hơn
Hộp 5: Những chi phí cho biện pháp mua lại 0 đồng 3 ngân hàng trong năm 2015
Thứ nhất, NHNN sẽ phải chịu toàn bộ trách nhiệm các khoản nợ cũng như có trách nhiệm đối với
người gửi tiền của 3 ngân hàng bị mua lại 0 đồng Ước tính tổng tiền gửi của các ngân hàng này trước thời điểm bị mua lại 0 đồng rơi vào khoảng hơn 150.000 tỷ đồng Bên cạnh đó, để duy trì hoạt động của các ngân hàng này, NHNN sẽ cần phải bơm tiền để nâng vốn tự có của các NHTM này đạt được mức tối thiểu là 3.000
tỷ đồng theo quy định hiện tại, chưa kể nếu con số vốn tự có của các ngân hàng đang nhỏ hơn 0 thì chi phí NHNN cần phải bỏ ra là lớn hơn
Bảng 4: Chi phí dự kiế n cho việc hỗ trợ các ngân hàng bị mua lại 0 đồng
Đơn vị: tỷ đồng
Chi phí cho các ngân hàng bị mua lại 0 đồng > 150.000 > 150.000 > 150.000
Tổng chi phí tái cơ cấu dự kiến > 283.060 > 602.591 > 615.328
Tỷ trọng chi phí cho các ngân hàng bị mua lại 0
đồng so với tổng chi phí tái cơ cấu dự kiến
Nguồn: Tô Kim Ngọc và cộng sự (2015)
3 Tại thời điểm cuối tháng 9/2012
4 Số liệu được Cơ quan Thanh tra Giám sát NHNN tính lại tổng chi phí dựa trên quy mô nợ xấu đính chính lại vào cuối tháng 9/2012
5
http://www.thesaigontimes.vn/127271/40000-t i-dong-de-tai-co-cau-NH-Xay -dung-lay-tu-dau.html
6
Ước tính trên số liệu âm vốn tự có và tổng tiền gửi của Ngân hàng Đại Dương và Ngân hàng Dầu khí Toàn cầu (tương
tự như trường hợp của Ngân hàng Xây dựng)
Trang 21Thực tế trong năm 2015 để Ngân hàng Xây dựng đi vào ổn định sau khi mua lại 0 đồng, NHNN đã phải chi khoảng hơn 40.000 tỷ đồng (Nguyễn Phước Thanh (2015), trích bởi Thanh Thương (2015)) Trong trường hợp của Ngân hàng Đại Dương con số này còn lớn hơn rất nhiều vì số tiền âm vốn của ngân hàng này lên tới 11.000 tỷ đồng và quy mô của ngân hàng này cũng lớn hơn Ngân hàng Xây Dựng
Với những chi phí kể trên, nguồn tài trợ chỉ có thể đến từ NHNN mà bản chất chính là ngân sách nhà nước Tuy nhiên, cho tới lúc này, thông tin NHNN đã bỏ ra tổng cộng bao nhiêu tiền vẫn chưa thực sự rõ ràng
Có thể, NHNN sẽ “chờ và quan sát” để tư nhân hóa lại các ngân hàng này trong tương lai gần nhằm khơi thông nguồn vốn tài trợ từ phía doanh nghiệp
Thứ hai, khi NHNN áp dụng biện pháp mua lại 0 đồng như vậy đồng nghĩa với việc NHNN đảm bảo
100% tiền gửi của người gửi tiền sẽ được đảm bảo Tuy rằng, niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng vẫn sẽ được duy trì do không phải lo ngại về trường hợp ngân hàng bị phá sản nhưng bài học cho người gửi tiền chưa được hình thành Nói cách khác, chính những người gửi tiền sẽ không có động lực giám sát ngân hàng mà họ đang gửi bởi NHNN sẽ không bao giờ để bất cứ ngân hàng nào rơi vào tình trạng phá sản, hoặc nếu điều đó xảy ra thì NHNN sẽ đứng ra bảo trợ Hệ quả là, “cuộc đua lãi suất” giữa các ngân hàng có thể quay lại Khi đó, rủi ro đạo đức sẽ trở thành nguy cơ tiềm ẩn khi các ngân hàng chỉ cần trả lãi suất cao là thu hút được tiền gửi của công chúng mà không cần quan tâm tới chất lượng hay hiệu quả hoạt động
7 Hỗ trợ các ngân hàng đang bị kiểm soát đặc biệt và bị mua lại 0 đồng thông qua dự trữ bắt buộc có thể là biện pháp phù hợp trong ngắn hạn nhưng có thể gây ra sự cạnh tranh không bình đẳng giữa các ngân hàng trong hệ thống
Thông tư 23/2015/TT-NHNN đã “sửa đổi bổ sung một số điều của Quy chế Dự trữ bắt buộc đối với TCTD ban hành kèm Quyết định 581 ngày 09/06/2003 của Thống đốc NHNN Theo đó, NHNN xem xét điều chỉnh giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với một số ngân hàng Cụ thể, đối với các TCTD được kiểm soát đặc biệt, Thống đốc NHNN sẽ xem xét quyết định giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho đến mức tối thiểu 0% Đối với TCTD đang thực hiện phương án cơ cấu lại đã được phê duyệt, tổ chức tín dụng tham gia cơ cấu lại ngân hàng yếu kém theo chỉ định, Thống đốc xem xét quyết định giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc cụ thể cho từng TCTD Nhìn tổng quan, thông tư này là hợp lý và cần thiết khi nó được đưa ra để góp phần hỗ trợ cho công cuộc tái cơ cấu, củng cố hệ thống ngân hàng Việt Nam, tuy nhiên, trong tương lai NHNN nên sớm gỡ bỏ quy định này bởi quy định vô hình chung đã tạo ra sự cạnh tranh bất bình đẳng giữa các ngân hàng, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập
Bảng 5: Các ngân hàng bị mua lại 0 đồng và giải pháp hỗ trợ
TT Ngân hàng Ngân hàng được NHNN ủy quyền tham
gia tái cơ cấu ngân hàng bị mua lại
Giải pháp hỗ trợ
1 Đại Dương Ngân hàng Công thương Thực hiện giám sát chặt chẽ;
Cho vay đặc biệt nhưng có tính hoàn trả để đảm bảo thanh khoản; Giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc về 0%
3 Dầu Khí Toàn cầu Ngân hàng Công thương
Trang 22Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả