Xã hội hiện đại có những thay đổi toàn diện về kinh tế, văn hoá, xã hội và lối sống với tốc độ nhanh đã làm nảy sinh những vấn đề mà trước đây con người chưa gặp phải. Con người muốn tồn tại được, sống được phải trang bị KNS để giúp họ có thể giải quyết được những khó khăn thách thức của cuộc sống. Nói cách khác, mỗi con người ngày nay muốn đến được bến bờ thành công và hạnh phúc trong cuộc đời cần phải có một cách sống, có một số kiến thức nhất định về các vấn đề của cuộc sống mà người ta thường gọi là KNS để đáp ứng những thách thức và thời cơ trong quá trình toàn cầu hoá mà mục đích chính là nâng cao chất lượng cuộc sống. GD KNS cho học sinh THPT là một trong những nhiệm vụ quan trọng để giáo dục toàn diện trong nhà trường nhằm giúp học sinh có khả năng thích ứng với yêu cầu luôn thay đổi của nhà trường và của xã hội.
Trang 1MỤC LỤC
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ
NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
15
1.2 Nội dung quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục kỹ năng sống
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỂN CỦA QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ
NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THPT
2.1 Khái quát về tình hình giáo dục huyện Thường Tín, Thành
2.2 Thực trạng việc quản lý giáo dục kỹ năng sống cho họcsinh các trường trung học phổ thông huyện Thường Tín,
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG
CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ
3.2 Một số biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho họcsinh các trường trung học phổ thông huyện Thường Tín,
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xã hội hiện đại có những thay đổi toàn diện về kinh tế, văn hoá, xã hội
và lối sống với tốc độ nhanh đã làm nảy sinh những vấn đề mà trước đây conngười chưa gặp phải Con người muốn tồn tại được, sống được phải trang bịKNS để giúp họ có thể giải quyết được những khó khăn thách thức của cuộcsống Nói cách khác, mỗi con người ngày nay muốn đến được bến bờ thànhcông và hạnh phúc trong cuộc đời cần phải có một cách sống, có một số kiếnthức nhất định về các vấn đề của cuộc sống mà người ta thường gọi là KNS
để đáp ứng những thách thức và thời cơ trong quá trình toàn cầu hoá mà mụcđích chính là nâng cao chất lượng cuộc sống GD KNS cho học sinh THPT làmột trong những nhiệm vụ quan trọng để giáo dục toàn diện trong nhà trườngnhằm giúp học sinh có khả năng thích ứng với yêu cầu luôn thay đổi của nhàtrường và của xã hội GD KNS cho học sinh THPT có thể tiến hành theo conđường dạy học và các con đường tổ chức hoạt động giáo dục, hoạt động xãhội GD KNS cho học sinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Năng lực giáo dụccủa giáo viên, nội dung chương trình dạy học, giáo dục của nhà trường, tínhtích cực chủ động của học sinh khi tham gia các hoạt động giáo dục và thamgia vào cuộc sống trải nghiệm, môi trường giáo dục trong và ngoài nhàtrường, các yếu tố quản lý của nhà trường và của người hiệu trưởng
Thông qua các yếu tố quản lý giáo dục giúp cho mục tiêu, nội dung,chương trình GD KNS cho học sinh trong nhà trường phổ thông được tiếnhành một cách có kế hoạch, có tính tổ chức và được kiểm soát một cách hệthống Thực tế giáo dục phổ thông nói chung và giáo dục THPT nói riêng đãđạt được nhiều thành tựu, tuy nhiên còn thiên lệch về mặt học vấn; gia đình,nhà trường chưa quan tâm nhiều đến GD KNS cho học sinh, do vậy hiệntượng lệch chuẩn về hành vi đạo đức, các biểu hiện thiếu văn hóa trong học
Trang 3sinh vẫn thường xuyên xảy ra, nguy cơ bạo lực học đường có chiều hướngngày càng gia tăng.
Các trường THPT nói chung và trường THPT huyện Thường Tín,Thành phố Hà Nội nói riêng đã tiến hành công tác GD KNS cho các em họcsinh và thu được những kết quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn bộc lộ hạn chế
do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó một trong những nguyên nhân củathực trạng là do công tác quản lý giáo dục nói chung, quản lý GD KNS nóiriêng chưa được quan tâm một cách thoả đáng Hiệu trưởng nhà trường, cán
bộ quản lý giáo dục chưa thực sự sát sao với hoạt động GD KNS cho học sinhTHPT Vì vậy cần phải có những nghiên cứu về thực trạng, nguyên nhân GDKNS để từ đó đề xuất biện pháp để nâng cao chất lượng quản lý GD KNS gópphần giáo dục toàn diện cho học sinh Xuất phát từ những lý do trên tôi lựa
chọn đề tài: "Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Thường tín, Thành phố Hà Nội".
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
* Ở nước ngoài
Có thể nhận định rằng trong những thập kỷ qua, vấn đề KNS đã đượcnhiều nước trên thế giới quan tâm KNS bắt đầu xuất hiện trong một sốchương trình giáo dục của UNICEF Trước tiên là chương trình “giáo dụcnhững giá trị sống” Chương trình này được UNESCO, Uỷ ban UNICEF củaTây Ban Nha và Hiệp hội hành tinh, tổ chức Brahma và các chuyên gia giáodục UNICEF (New York) tham gia Khái quát các công trình nghiên cứu vềKNS ở nước ngoài có thể nêu lên hai hướng nghiên cứu chính sau:
Hướng thứ nhất: Nghiên cứu các KNS trong lao động, công việc, trong
hành nghề: Theo hướng này có thể kể đến các công trình sau: Năm 1989, BộLao động Mỹ thành lập một Uỷ ban thư ký về rèn luyện các kỹ năng cần thiết.Thành viên của Uỷ ban đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau như: Giáo dục, kinh
Trang 4doanh, người lao động nhằm mục đích thúc đẩy nền kinh tế bằng nguồn laođộng kĩ năng cao và công việc thu thập cao.
Tác giả Stephen R Covey đã viết cuốn (7 thói quen của người thànhđạt) Đây là một cuốn sách đã nổi tiếng từ hàng chục năm nay trên khắp thếgiới Tác giả muốn giới thiệu một phương pháp kết hợp toàn diện và thực tiễn
để giải quyết các vấn đề về tính cách con người và sự nghiệp Tác giả chothấy từng bước của con đường phải đi để sống một cuộc đời trung thực, nhấtquán, lương thiện và xứng đáng với nhân phẩm Gồm 7 thói quen:
Thói quen 1: Luôn chủ động
Thói quen 2: Bắt đầu bằng định hướng tương lai
Thói quen 3: Việc quan trọng làm trước
Thói quen 4: Lợi người - lợi ta
Thói quen 5: Hiểu rồi được hiểu
Thói quen 6: Cùng hiệp đồng
Thói quen 7: Sự tương hỗ lẫn nhau
Như vậy, nội dung cuốn sách cho người đọc thấy được những giá trịsống cơ bản để thành công trong cuộc sống
Một nghiên cứu gần đây của Bộ Lao động Mỹ (The U.S Department ofLabor) cùng Hiệp hội đào tạo và phát triển Mỹ (The American Society ofTraining and Development) đã nghiên cứu về các kĩ năng cơ bản trong côngviệc Kết luận được đưa ra là có 13 kỹ năng cơ bản cần để thành công trongcông việc:
1 Kỹ năng học và tự học
2 Kỹ năng lắng nghe
3 Kỹ năng thuyết trình
4 Kỹ năng giải quyết vấn đề
5 Kỹ năng tư duy sáng tạo
6 Kỹ năng quản lý bản thân và tinh thần tự tôn
Trang 57 Kỹ năng đặt mục tiêu/tạo động lực làm việc
8 Kỹ năng phát triển cá nhân và sự nghiệp
9 Kỹ năng giao tiếp ứng xử và tạo lập quan hệ
10 Kỹ năng làm việc nhóm
11 Kỹ năng đàm phán
12 Kỹ năng tổ chức công việc
13 Kỹ năng lãnh đạo bản thân
Như vậy, những nghiên cứu trên đã chú trọng đến việc hình thành vàphát triển những KNS cơ bản trong công việc, trong lao động để có thể đemlại hiệu quả cao, còn các lĩnh vực khác như trong giáo dục, sức khỏe ít đượcquan tâm và nghiên cứu hơn
Nhìn chung các nước trên đã quan tâm đến việc hình thành các kĩ năngcần thiết cho người lao động, giúp họ có khả năng làm việc tốt và nâng caochất lượng cuộc sống Tuy nhiên, nếu chỉ quan tâm đến việc phát triển KNS
cơ bản cho người lao động thì chưa đủ mà cần quan tâm đến việc phát triểnKNS cho các lứa tuổi khác nhau, trong các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống
Hướng thứ hai: Nghiên cứu các kỹ năng hướng vào giáo dục sức khoẻ;
hành vi; cách ứng xử, giáo dục an toàn giao thông, bảo vệ môi trường haygiáo dục lòng yêu hoà bình Theo hướng này có thể kể đến các công trìnhnghiên cứu tiêu biểu sau:
Từ năm 1997 đến năm 2002, ở Lào ban đầu KNS chủ yếu được nghiêncứu trong lĩnh vực vó liên quan đến giáo dục phòng chống HIV/AIDS đã lồngghép vào các chương trình giáo dục chính quy, không chính quy và cáctrường sư phạm đào tạo giáo viên Về sau KNS được mở rộng ra nhiều lĩnhvực khác nhau như: Giáo dục dân số, giáo dục sức khoẻ sinh sản, giáo dụcmôi trường… Những kỹ năng cơ bản được giáo dục là: Kỹ năng giao tiếphiệu quả, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng raquyết định…
Trang 6Những kinh nghiệm và bài học rút ra từ các hoạt động GD KNS ở Lào làcần phải biên soạn và in ấn nhiều tài liệu hướng dẫn giảng dạy đào tạo giáo viên,CBQL nhà trường để mở rộng việc học tập và giảng dạy KNS ở nhà trường.
Tháng 2 năm 2003 tại Bali – Inđonexia đã diễn ra hội thảo về GD KNStrong giáo dục không chính quy với sự tham gia của 15 nước vùng Châu ÁThái Bình Dương Qua báo cáo của các nước cho thấy có nhiều điểm chungnhưng cũng có nhiều nét riêng trong quan niệm về GD KNS của các nước
Hội thảo Bali đã xác định mục tiêu của GD KNS trong giáo dục khôngchính quy của các nước Châu Á – Thái Bình Dương là nhằm nâng cao tiềmnăng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng yêucầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hàng ngày, đồng thời tạo ra sựthay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống
Hội thảo Bali đã đưa ra yêu cầu khi thiết kế chương trình GD KNS phảiđảm bảo 3 thành tố:
- Kỹ năng cơ bản: Đọc, viết, ghi chép, báo cáo
- Kỹ năng chung: Tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giảiquyết vấn đề…
- Kỹ năng cụ thể: Tạo thu nhập, tạo bình đẳng giới, bảo vệ sức khoẻ…Tổng hợp các công trình nghiên cứu về KNS, chúng tôi nhận thấy đốivới học sinh THPT tập trung nghiên cứu và giáo dục, thực hành những kĩnăng sau: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tư duy sángtạo, tư duy phê phán, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng tự nhận thức, kỹ năngđương đầu với xúc cảm
* Ở Việt Nam
Thuật ngữ KNS được người Việt Nam biết đến bắt đầu từ chương trìnhcủa UNICEF năm 1996 “GD KNS để bảo vệ sức khoẻ và phòng chốngHIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” Quan niệm vềKNS được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những kỹ năng cốt
Trang 7lõi như: kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹnăng ra quyết định… Nhằm vào những chủ đề giáo dục sức khoẻ do cácchuyên gia Úc tập huấn Tham gia chương trình này đầu tiên có ngành Giáodục và Hội Chữ thập đỏ Khái quát các công trình nghiên cứu về KNS ở ViệtNam có thể nêu lên 2 hướng nghiên cứu chính sau:
Hướng thứ nhất: Quan tâm đến các KNS trong lao động, công việc, trong hành nghề Theo hướng này có thể kể đến các công trình nghiêm cứu
như: Chương trình xoá mù chữ và tăng thu nhập cho phụ nữ được thực hiện từnăm 1996 – 2000 do UNICEF tài trợ nhằm GD KNS cho phụ nữ miền núi
Dự án VIE 01/009: “Nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi cho thanh niên Việt Nam trong phòng chống HIV/AIDS dựa trên cơ sở cộng đông” Triển khai từ tháng 8 năm 2001 tại 8 xã, phường, 4 huyện, thị của tỉnh
Cần Thơ và Hà Tĩnh với mục tiêu nâng cao năng lực quản lí và chuyên môncho cán bộ Đoàn thanh niên các cấp trong việc xây dựng các hoạt động phòngchống AIDS dựa trên cơ sở cộng đồng, thực hiện các hoạt động giáo dụcphòng chống AIDS và KNS dựa vào cộng đồng để nâng cao nhận thức vàkhuyến khích thay đổi hành vi cho nhóm có nguy cơ cao
Tác giả Nguyễn Thị Oanh đã xuất bản cuốn “KNS cho tuổi vị thànhniên” (Năm 2005) Cuốn sách đã đề cập đến những kĩ năng tâm lí xã hội cơbản và tuổi vị thành niên sống có mục đích, có mối quan hệ và giao tiếp, làmchủ cảm xúc và quản lý stress…” [37]
Tác giả Huỳnh Văn Sơn đã xuất bản cuốn: “Bạn trẻ và kỹ năng sống”(năm 2009) Nội dung cuốn sách bàn đến vấn đề hành trang cần có của thanhniên hiện đại đó là KNS Tác giả đưa ra những KNS cần thiết cho thanh niên
là kỹ năng tự đánh giá mình, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng tác động đếntâm lí của người khác, kỹ năng hợp tác, lắng nghe, kỹ năng năng biết chấpnhận người khác [40]
Trang 8Hướng thứ hai: Quan tâm đến các KNS hướng vào GD hành vi, cách ứng xử, giáo dục an toàn giao thông, bảo vệ môi trường hay giáo dục lòng yêu hoà bình cho học sinh Theo hướng này có thể kể đến các công trình như:
Bộ giáo dục và đào tạo phối hợp với ngành công an và Uỷ ban An toàngiao thông quốc gia giảng dạy thí điểm và tổ chức nhiều cuộc thi tìm hiểu luật
An toàn giao thông cho trẻ em các trường từ mẫu giáo đến THPT để trang bịcho các em những kiến thức ban đầu về luật An toàn giao thông
Đề tài cấp Bộ “Giáo dục một số KNS cho học sinh THPT” Mã sốB.2005 – 75 – 126 do bà Nguyễn Thanh Bình chủ nhiệm đề tài và các cộng sựtrường Đại học sư phạm Hà Nội bắt đầu triển khai nghiêm cứu từ năm 2005 –
2006 Đề tài đã tiếm hành điều tra nhu cầu học sinh THPT về những KNS cần cholứa tuổi của các em, xây dựng cơ sở khoa học cho việc xác định chương trình giáodục KNS cho đối tượng này và tiến hành thử nghiệm một số chủ đề [3]
Nghiên cứu "GD KNS ở Việt Nam"- Trưởng nhóm là bà NguyễnThanh Bình, nghiên cứu tập trung tìm hiểu quá trình nhận thức KNS và tổngquan về các chủ trương, chính sách, điều luật phản ánh yêu cầu tiếp cận KNStrong giáo dục và GD KNS ở Việt Nam từ mầm non đến người lớn thông quagiáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên [4,5]
UNICEF đã hỗ trợ xây dựng tài liệu GD KNS cho HS tiểu học miềnnúi bao gồm những nội dung bổ trợ như giáo dục kĩ năng an toàn giúp các embiết phòng tránh hoặc xử lý những tai nạn về sông nước, điện giật, sét đánh giáo dục trẻ em gái ở miền núi với các kĩ năng tự nhận biết mình thuộc giớinào, giữ vẻ đẹp con gái, biết về tuổi dậy thì
Bài viết của tác giả Nguyễn Quang Uẩn bàn về: “Khái niệm KNS xétdưới góc độ tâm lí học” (năm 2008) Tác giả đã đưa ra khái niệm “KNS làmột tổ hợp phức tạp của một hệ thống các kỹ năng nói lên năng lực sống củacon người Giúp con người thực hiện công việc và quan hệ với bản thân, với
xã hội có kết quả trong những điều kiện xác định của cuộc sống” và cách
Trang 9phân loại KNS bao gồm: nhóm KNS hướng vào bản thân; nhóm KNS hướngvào quan hệ; nhóm KNS hướng vào công việc [42].
Tác giả Nguyễn Thị Oanh đã xuất bản cuốn: “10 cách thức rèn KNScho trẻ vị thành niên” (năm 2008) Cuốn sách đã nêu lên một số vấn đềchung về KNS và 10 cách thức rèn KNS cho lứa tuổi vị thành niên [38]
Tác giả Nguyễn Thanh Bình đã xuất bản cuốn “Giáo trình chuyên đề
GD KNS” (năm 2009) Cuốn sách đã nêu lên một số vấn đề chung về KNS
và GD KNS và một số chủ đề GD KNS cốt lõi cho học sinh THPT [4]
Tác giả Huỳnh Văn Sơn đã viết cuốn “ Nhập môn KNS” (năm 2009).Tác giả đã chỉ ra khái niệm KNS được xác định bao gồm 24 kĩ năng: kỹ năng
tự đánh giá; kỹ năng xác lập mục đích sống; kỹ năng phán đoán cảm xúc củangười khác; kỹ năng kiềm chế cảm xúc [41]
Tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Anh (2012) "Quản lý công tác giáo dục kĩnăng sống thông qua hoạt động Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh tạitrường tiểu học Lý Thường Kiệt, Thành phố Hà Nội" Luận văn đã đưa ra một
số giải pháp cụ thể về quản lý GD KNS cho học sinh tiểu học thông qua Độithiếu niên tiền phong [1]
Tác giả Nguyễn Hữu Đức (2010) "Quản lý giáo dục kĩ năng sống choHọc sinh trường Trung học phổ thông Trần Hưng Đạo Nam Định trong giaiđoạn hiện nay" Tác giả đã đề xuất những giải pháp GD KNS cơ bản cho họcsinh THPT thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp [22]
Đề tài cấp Bộ: “Thực trạng biểu hiện của một số xúc cảm và kĩ năngđương đầu với cảm xúc tiêu cực ở thiếu niên” do Đào Thị Oanh và Vũ Thị LệThuỷ thực hiện năm 2008 Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiện tượng bạo lựchọc đường, hành vi xâm kích, gây rối trật tự xã hội của thanh thiếu niên giatăng do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do trẻ thiếu khả năng chế ngựcác cảm xúc của bản thân, chưa biết đương đầu một cách hiệu quả với cáccảm xúc tiêu cực và chưa hình thành một phong cách đương đầu với cảm xúctiêu cực [36]
Trang 10Luận án tiến sỹ Giáo dục học của Phan Thanh Vân: “GD KNS cho họcsinh THPT thông qua hoạt động giáo dục NGLL” (năm 2010) Luận án đã xácđịnh các KNS để hình thành cho học sinh THPT thông qua hoạt động GDNGLL là các kỹ năng cơ bản như: Kỹ năng giao tiếp; Xác định giá trị; kỹnăng đương đầu với cảm xúc, căng thẳng; kỹ năng giải quyết mâu thuẫn mộtcách tích cực Kết quả của việc hình thành những kĩ năng này là giáo dục chocác em có cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng hoặc thayđổi hành vi ở các em theo hướng tích cực phù hợp mục tiêu phát triển toàndiện nhân cách người học, dựa trên cơ sở giúp học sinh có tri thức, giá trị, thái
độ và kĩ năng phù hợp [43]
Từ các công trình nghiên cứu về KNS ở Việt Nam, Bộ GD&ĐT đã đưavào chương trình GD KNS cho học sinh THPT tập trung nghiên cứu, giáo dục vàthực hành KNS bao gồm: Kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng xác định giá trị, kỹ nănggiao tiếp, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định, kỹ năng đạt mục tiêu
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
*Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lí GD KNS, từ đó đề xuấtmột số biện pháp quản lý GD KNS cho học sinh các trường THPT huyện Thườngtín, Thành phố Hà Nội góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện
*Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa, làm rõ cơ sở lý luận về quản lý GD KNS cho học sinh
- Khảo sát thực trạng công tác quản lý GD KNS cho học sinh cáctrường THPT huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội và nguyên nhân củathực trạng
- Đề xuất một số biện pháp quản lý GD KNS cho học sinh các trườngTHPT huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội
Trang 114 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu của đề tài
*Khách thể nghiên cứu
Quản lý quá trình giáo dục học sinh các trường THPT huyện ThườngTín, Thành phố Hà Nội
*Đối tượng nghiên cứu
Quản lý GD KNS cho học sinh các trường THPT huyện Thường Tín,Thành phố Hà Nội
*Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu 5 trường THPT trên địa bàn huyện Thường Tín, Thành phố
Hà Nội hiện nay, đó là trường THPT Lý Tử Tấn, THPT Thường Tín, THPTNguyễn Trãi, THPT Vân Tảo, THPT Tô Hiệu
Số liệu sử dụng trong luận văn từ năm 2014 - 2015
5 Giả thuyết khoa học
Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THPT nóichung, các trường THPT huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội nói riêngđang là vấn đề được quan tâm hàng đầu ở các nhà trường phổ thông, củangành giáo dục và toàn xã hội hiện nay Nếu xác định được các nội dung quản
lý, vận dụng linh hoạt sáng tạo các biện pháp quản lý giáo dục kĩ năng sốngthì sẽ quản lý được giáo dục kỹ năng sống cho học sinhTHPT huyện ThườngTín, Thành phố Hà Nội, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện,đáp ứng được yêu cầu giáo dục và đào tạo hiện nay
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Trang 12pháp nghiên cứu dựa trên các chủ trường chính sách của Đảng, nhà nước vềquản lý giáo dục KNS ở các nhà trường trên toàn quốc.
Khái quát hóa các văn bản có liên quan đến quản lý giáo dục KNS theo quanđiểm hệ thống - cấu trúc, lịch sử lôgíc và quan điểm thực tiễn trong nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa họcchuyên ngành, bao gồm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứuthực tiễn, để luận giải các nhiệm vụ của đề tài Cụ thể là:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các tài liệu, các văn bản, quy định, chỉthị hướng dẫn của nhà nước liên quan đến giáo dục KNS
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát:
+ Dự giờ lên lớp của một số lớp của trường THPT
+ Tìm hiểu những điều kiện dạy học, giáo dục KNS ở trường
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: quản lý hoạt động giáo dục KNS quacác báo cáo thực hiện nhiệm vụ của trường, của ngành giáo dục và đào tạo
Phương pháp Toạ đàm, Trao đổi kinh nghiệm quản lý dạy học
Phương pháp Điều tra bằng phiếu hỏi: thăm dò ý kiến của cán bộ quản
lý, giáo viên và học sinh
Phương pháp phân tích hồ sơ quản lý
Ngoài ra tác giả còn sử dụng các phương pháp khác như: Phương pháp
sử dụng thống kê toán học: thu nhập xử lý các thông tin số liệu điều tra vànghiên cứu các hồ sơ thống kê Phương pháp lấy ý kiến của các chuyên gia cókinh nghiệm trong công tác quản lý giáo dục KNS ở trường THPT
Phương pháp nghiên cứu tài liệu văn bản
Phương pháp nghiên cứu điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp đàm thoại
Trang 13Phương pháp quan sát.
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Phương pháp thống kê
7 Ý nghĩa của đề tài
Khái quát được cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề quản lý giáo dụcKNS cho học sinh THPT
Làm rõ được thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý giáo dụcKNS cho học sinh các trường THPT huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội
Đề xuất các biện pháp nâng cao quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinhcác trường THPT trên địa bàn; góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đáp
ứng yêu cầu của ngành giáo dục đào tạo Thủ đô và yêu cầu của xã hội
8 Kết cấu của đề tài
Gồm phần mở đầu và 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh ở trường trung học phổ thông
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh các trường trung học phổ thông ở huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội
Chương 3: Biện pháp quản lí giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các
trường THPT huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO
HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm quản lý giáo dục
* Khái niệm quản lý
Theo Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảophối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm Mục tiêucủa nhà quản lý là hình thành một môi trường mà con người có thể đạt đượccác mục đích của nó với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ítnhất Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với kiến thứcthì quản lý là một khoa học
Nhà triết học V.G.Afanetser cho rằng: Quản lý xã hội một cách khoahọc là nhận thức, phát hiện các quy luật, các khuynh hướng phát triển xã hội
và hướng sự vận động xã hội cho phù hợp khuynh hướng ấy, phát hiện vàgiải quyết kịp thời các mâu thuẫn của sự phát triển, khắc phục trở ngại, duy trì
sự thống nhất giữa chức năng và cơ cấu của hệ thống, tiến hành một đường lốiđúng đắn dựa trên cơ sở tính toán nghiêm túc những khả năng khách quan,mối tương quan giữa những lực lượng xã hội, một đường lối gắn bó, chặt chẽvới nền kinh tế và sự phát triển tinh thần xã hội
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích,
có kế hoạch của chủ thể quản lý đến những người lao động nói chung làkhách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý
là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) trongmột tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đề ra”
Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau về quản lý song có thể kháiquát nội hàm của khái niệm quản lý đã đề cập tới các vấn đề chủ yếu sau:
Trang 15- Quản lý phải có mục tiêu cần đạt được của hệ thống.
- Quản lý phải bao gồm 2 yếu tố chủ thể quản lý và khách thể quản lý
- Quản lý là tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệthống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó
- Quản lý tồn tại với tư cách là một hệ thống, nó có cấu trúc và vậnhành trong môi trường xác định
Như vậy, Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có chủ đíchcủa chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong một tổ chức, nhằm làm cho tổchức vận hành và đạt được mục đích đã đề ra
Các chức năng cơ bản của quản lý:
Theo các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí: Quản lý là
hệ thống gồm bốn chức năng cơ bản: Kế hoạch hoá; tổ chức; lãnh đạo, chỉđạo và kiểm tra
Các chức năng quản lý tạo thành một chu trình quản lý và có mối quan
hệ biện chứng, tạo sự kết nối giữa các chu trình theo hướng phát triển Trong
đó, thông tin luôn là yếu tố xuyên suốt không thể thiếu trong việc thực hiệncác chức năng quản lý và là cơ sở cho việc quyết định trong quản lý
Từ những phân tích trên có thể rút ra kết luận chung về quản lý như sau:Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có mục đích, có tổ chức,
có lựa chọn của chủ thể quản lý đến đối tượng (khách thể) quản lý nhằm giữcho sự vận hành của tổ chức được ổn định và làm cho nó phát triển tới mụctiêu đã đề ra với hiệu quả cao nhất
* Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đếnkhách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tớikết quả mong muốn Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điềuhành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệtrẻ theo yêu cầu phát triển xã hội
Trang 16Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạtđộng dạy học, có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tínhchất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới quản lý đượcgiáo dục, tức là cụ thể hoá đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối ấythành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước”
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang lại quan niệm về quản lý giáo dục nhưsau: “Quản lý giáo dục là hệ thống các tác động có mục đích, có kế hoạchhợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lốigiáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủnghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy - học, giáo dục thế hệtrẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mối về chất”
Từ những quan niệm trên cho thấy khi nói đến quản lý giáo dục chứađựng những nhân tố đặc trưng bản chất sau: Phải có chủ thể quản lý giáo dục
Ở tầm vi mô là quản lý của Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng các trường THPT.Phải có hệ thống tác động quản lý theo một nội dung, chương trình kế hoạchthống nhất từ Trung ương đến địa phương nhằm thực hiện mục đích giáo dụctrong mỗi giai đoạn cụ thể của xã hội Phải có một lực lượng đông đảo nhữngngười làm công tác giáo dục cùng với hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuậttương ứng Quản lý giáo dục có tính xã hội cao, bởi vậy cần tập trung giảiquyết tốt các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hoá, an ninh quốc phòng phục vụcông tác giáo dục
Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của quản lý giáo dục,trong đó đội ngũ giáo viên và học sinh là đối tượng quản lý quan trọng nhất,đồng thời lại là chủ thể trực tiếp quản lý quá trình giáo dục
Tóm lại: Quản lý giáo dục chính là quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý giáo dục trong việc vận hành nguyên lý, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đề ra Những tác động đó
Trang 17thực chất là những tác động khoa học đến nhà trường, làm cho nhà trường tổchức một cách khoa học, có kế hoạch quá trình dạy học theo mục tiêu đào tạo.
1.1.2 Khái niệm kỹ năng sống
* Khái niệm kỹ năng
Kỹ năng là một vấn đề được nhiều nhà tâm lý học, giáo dục học trong
và ngoài nước quan tâm Ở góc độ khác nhau, các tác giả có các quan niệmkhác nhau về kỹ năng : Kỹ năng được xem là mặt kỹ thuật của hành động; làkhả năng của cá nhân; ở một bình diện khác, kỹ năng là hành vi ứng xử
Trong từ điển Tiếng Việt, kỹ năng được định nghĩa theo quan điểm nhưsau: “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trongmột lĩnh vực nào đó vào thực tế”
Tác giả Huỳnh Văn Sơn quan niệm: “Kỹ năng là khả năng thực hiện cókết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm
đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép Kỹ năng không chỉđơn thuần về mặt kỹ thuật mà còn là biểu hiện năng lực của con người”
Như vậy, kỹ năng không chỉ được hiểu là kỹ thuật mà còn đem lại kếtquả cho hoạt động cuả bản thân Đây là quan niệm tương đối toàn diện vàkhái quát về kỹ năng, tuy nhiên các tác giả chưa quan tâm phân tích về mặtthao tác, hành động của kỹ năng
Từ những quan niệm trên đi đến kết luận: Kỹ năng là khả năng vậndụng những tri thức, kinh nghiệm và những cách thức hành động đúng đắnvào thực tiễn để thực hiện có kết quả hoạt động đó
* Khái niệm kỹ năng sống
Khi quan niệm về KNS có rất nhiều quan niệm khác nhau, một số tổchức quốc tế định nghĩa khái niệm KNS như sau:
Theo tổ chức Văn hoá, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc(UNESCO): KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng vàtham gia vào cuộc sống hàng ngày
Trang 18Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng cho rằng: KNS là những kỹ năng màcon người cần để có cuộc sống an toàn khoẻ mạnh Đó là những kỹ năng mangtính tâm lý xã hội và kỹ năng về giao tiếp được vận dụng trong những tìnhhuống hàng ngày để tương tác một cách hiệu quả với người khác và giải quyết
có hiệu quả những vấn đề, những tình huống trong cuộc sống hàng ngày
Theo chương trình GD KNS của Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc(UNICEF, 1996): KNS bao gồm những kỹ năng cốt lõi như: Kỹ năng tự nhậnthức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹnăng kiên định và kỹ năng đạt mục tiêu
Thuật ngữ KNS được người Việt Nam biết đến nhiều từ chương trìnhcủa UNICEF (1996) “GD KNS để bảo vệ sức khoẻ và phòng chốngHIV/AIDS cho thanh niên trong và ngoài nhà trường” Khái niệm KNS đượcgiới thiệu trong chương trình này bao gồm những KNS cốt lõi như: Kỹ năng
tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyếtđịnh, kỹ năng kiên định và kỹnăng đạt mục tiêu Tham gia chương trình đầutiên này có ngành Giáo dục và Hội Chữ thập đỏ Sang giai đoạn 2 chươngtrình này mang tên: “Giáo dục sống khoẻ mạnh và KNS” Ngoài ngành Giáodục còn có Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liênhiệp Phụ nữ Việt Nam
Hội Liên hiệp phụ nữ đã định nghĩa như sau: KNS là các kỹ năng thiếtthực mà con người cần để có cuộc sống an toàn, khoẻ mạnh và hiệu quả Theo
họ những kĩ năng cơ bản như: Kỹ năng ra quyết định, kỹ năng từ chối, kỹnăng thương thuyết, đàm phán, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng nhận biết
Khái niệm KNS được hiểu với nội hàm đầy đủ và đa dạng hơn sau Hộithảo “Chất lượng giáo dục và KNS” được tổ chức ngày 23 đến ngày 25 tháng
10 năm 2003 tại Hà Nội, đó là:
- Năng lực thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sốnghàng ngày
Trang 19- Hành vi làm cho cá nhân thích ứng và giải quyết có hiệu quả cácthách thức của cuộc sống.
- Những kỹ năng liên quan đến tri thức, những giá trị
- Năng lực đáp ứng và những hành vi tích cực giúp con người có thểgiải quyết có hiệu quả những yêu cầu và thách thức của cuộc sống
Từ những quan niệm trên có thể thấy các quốc gia đều dựa trên quanniệm về KNS của các tổ chức quốc tế (WHO, UNESCO, UNICEF) nhưng cótính chất khác biệt do điều kiện chính trị, kinh tế văn hoá từng quốc gia Nộidung GD KNS vừa đáp ứng những cái chung có tính chất toàn cầu vừa có tínhchất đặc thù quốc gia Một số quốc gia coi trọng một số kĩ năng như: Kỹ năng
tư duy, kỹ năng thích ứng, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác và cạnh tranh,
kỹ năng luân chuyển công việc
Một số nước khác lại chú trọng đến kỹ năng xóa đói giảm nghèo, kỹ năngphòng chống HIV/AIDS Trong đề tài này tôi hiểu khái niệm KNS như sau:
KNS là tất cả những kỹ năng cần thiết trực tiếp giúp cá nhân sống thành công và hiệu quả, trong đó tích hợp những khả năng, phẩm chất, hành
vi tâm lý, ứng xử văn hoá phù hợp và đương đầu được với những tác động của môi trường Những KNS cốt lõi cần nhấn mạnh là kỹ năng tư duy, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng xử lý tình huống, kỹ năng làm chủ bản thân, và kỹ năng tự nhận thức
KNS là khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp vớicách ứng xử tích cực, giúp con người có thể kiểm soát quản lý có hiệu quả cácnhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày
1.1.3 Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông
* Khái niệm giáo dục kỹ năng sống
Giáo dục là một quá trình xã hội hóa nhân cách con người được tiếnhành có mục đích, có kế hoạch, có nội dung chương trình và được thực hiện
Trang 20bởi đội ngũ những nhà sư phạm Trong nhà trường THPT giáo dục được tiếnhành với nhiều nội dung khác nhau nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục toàndiện đó là: Giáo dục trí tuệ, giáo dục lao động, giáo dục đạo đức, thẩm mỹ,
GD KNS vv
Giáo dục KNS cho học sinh THPT được đặt trong mối quan hệ vớihoạt động dạy học, hoạt động giáo dục, sinh hoạt tập thể của học sinh và cáchoạt động khác, thông qua những hoạt động đó giúp học sinh THPT có cơhội trải nghiệm nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu dạy học, giáo dục củanhà trường và phát triển năng lực cá nhân học sinh đáp ứng yêu cầu củacuộc sống
“GD KNS là hình thành cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, làxây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêucực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và các kỹ năngthích hợp” (www.vjol.info/Chuyên đề KNS - Nguyễn Thanh Bình [Tr11])
Như vậy, GD KNS làm thay đổi những thói quen, hành vi tiêu cựcthành những thói quen, hành vi tích cực, nhằm nâng cao chất lượng cuộcsống Chất lượng đó được thể hiện thông qua việc các cá nhân đó giải quyếtcác vấn đề của mình trong xã hội một cách hiệu quả
Có thể quan niệm về giáo dục KNS cho học sinh là một quá trình tác động có mục đích của chủ thể, thông qua các hoạt động giáo dục và tổ chức cuộc sống nhằm hình thành cách sống tích cực, xây dựng những thói quen, hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và các kĩ năng thích hợp.
* Quản lý giáo dục kỹ năng sống
Trong nhà trường THPT, quản lý GD KNS được tiến hành với nhiềunội dung khác nhau nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện đó là: Giáodục trí tuệ, giáo dục lao động, giáo dục đạo đức, thẩm mỹ, vv
Trang 21Quản lý GDKNS cho học sinh chính là quản lý kế hoạch, nội dungchương trình, phương pháp hình thức tổ chức, sự phối hợp các lực lượngtrong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu các nhiệm vụ giáo dục rènluyện KNS ở học sinh.
Quản lý GD KNS cho học sinh góp phần thực hiện mục tiêu giáo dụctoàn diện của trường THPT Mục tiêu của giáo dục phổ thông hiện nay đãchuyển từ chủ yếu trang bị kiến thức sang trang bị năng lực cần cho học sinh,đặc biệt là năng lực hành động, năng lực thực tiễn Bản chất của GD KNS làhình thành cho học sinh các khả năng: khả năng làm chủ bản thân, khả nănggiao tiếp ứng xử… phù hợp với mục tiêu giáo dục trong nhà trường phổ thônghiện nay
Quản lý GD KNS cho học sinh là quá trình của các nhà giáo dục nhằm cụthể hóa những kỹ năng cơ bản chuẩn bị hành trang cho học sinh thích ứng vớinhững thách thức của cuộc sống hội nhập, phát triển và tự hoàn thiện bản thân
Giữa nhận thức và hành vi của con người có khoảng cách KNS là cầunối giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi tích cực lành mạnh
Trong cuộc sống hội nhập phát triển, người có KNS phù hợp sẽ luôn vữngvàng, biết ứng xử tích cực và phù hợp, sẽ thành công hơn và yêu đời Bên cạnhviệc chuẩn bị hành trang cho cá nhân, quản lý GD KNS còn góp phần ngăn ngừacác vấn đề xã hội, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội
Từ những phân tích trên, có thể quan niệm:
Quản lý GD KNS là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch,
có nội dung chương trình và được thực hiện bởi đội ngũ những nhà sư phạm nhằm hình thành cách sống tích cực, xây dựng những thói quen, hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học
có cả kiến thức, giá trị, thái độ và các kĩ năng thích hợp.
1.2 Nội dung quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường trung học phổ thông
Trang 22Để đạt được mục tiêu của GD KNS cho học sinh, Hiệu trưởng nhàtrường tạo ra sự thống nhất những KNS cần được hình thành cho học sinh,xây dựng một kế hoạch thống nhất, xác định được cơ chế hoạt động thốngnhất , từ đó lựa chọn, tổ chức, điều hành các nguồn lực, các tác động của nhàquản lý, của tập thể sư phạm, của các lực lượng giáo dục theo kế hoạch đãvạch ra và chương trình giáo dục đã lựa chọn nhằm tạo ra hiệu quả cần thiết.
1.2.1 Quản lý mục tiêu, kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông
1.2.1.1 Quản lý mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường trung học phổ thông
tư duy của các em
Giúp học sinh có những hiểu biết nhất định về truyền thống đấu tranhcách mạng, truyền thống xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, truyền thống văn hoácủa đất nước, Từ đó tăng thêm sự hiểu biết của các em về Bác Hồ, vềĐảng, về Đoàn Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh
*Mục tiêu về giáo dục thái độ
Tạo cho học sinh hứng thú và ham muốn tham gia các hoạt động giáodục KNS để từ đó hình thành, hoàn thiện và phát tiển các kĩ năng cần thiết
Từng bước hình thành cho học sinh lòng tự hào dân tộc, mong muốnlàm đẹp thêm truyền thống của trường, của quê hương mình; mong muốn
Trang 23vươn lên thành con ngoan, trò giỏi, đoàn viên tích cực để trở thành nhữngcông dân có ích cho đất nước sau này.
Bồi dưỡng cho học sinh những tình cảm đạo đức trong sáng với bạn bè,với thầy cô, với những người lớn khác, với quê hương đất nước,
Bồi dưỡng tính tích cực, tính năng động, sẵn sàng tham gia những hoạtđộng xã hội, hoạt động tập thể của trường, của lớp vì lợi ích chung, vì sự tiến
bộ của bản thân
Góp phần giáo dục cho học sinh tình đoàn kết hữu nghị với các bạnthiếu nhi quốc tế, với các dân tộc khác trên thế giới
*Mục tiêu về rèn luyện kĩ năng
Rèn cho học sinh những kỹ năng giao tiếp, ứng xử có văn hoá
Rèn cho học sinh các kỹnăng tự quản các hoạt động tập thể
Rèn luyện cho học sinh biết cách tự điều chỉnh hành vi phù hợp với cácyêu cầu xã hội, kỹ năng sống hoà nhập và nhiều kỹ năng khác nữa
1.2.1.2 Quản lý kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường trung học phổ thông
Việc quản lý thực hiện kế hoạch GD KNS phải phù hợp với đặc điểmnhà trường, đặc điểm của từng địa phương Phù hợp với nhận thức của lứatuổi, và tính khả thi của kế hoạch
Huy động được các nguồn lực tham gia giáo dục một cách tích cực, cảtrong nhà trường và các lực lượng ngoài xã hội
Có sự tham gia đóng góp xây dựng của lực lượng học sinh, vì các em làchủ thể chính trong hoạt động GD KNS
1.2.2 Quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường trung học phổ thông
* Kỹ năng giao tiếp
Kĩ năng giao tiếp có nghĩa là hiểu được các quy tắc giao tiếp ứng
xử chung như chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, nói lời yêu cầu, đề nghị; biết cách
Trang 24ứng xử phù hợp, bày tỏ sự cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ với một số đối tượng,gần gũi, quen thuộc với các em như thầy cô giáo, bạn bè, người thân trong giađình hoặc những đối tượng đặc biệt như phụ nữ có thai, người già, người cóhoàn cảnh khó khăn, người nước ngoài, người bị nhiễm HIV/AIDS; biếtcách làm việc theo nhóm, thuyết trình trước tập thể lớp, chi đoàn, chiđội, giờ chào cờ đầu tuần; biết lắng nghe những ý kiến đóng góp của bạn bè,người thân, người trên và có hành vi tự uốn nắn kịp thời, tích cực.
*Kỹ năng tự nhận thức, tự đánh giá về bản thân
Kỹ năng tự nhận thức là khả năng con người hiểu biết về chính bảnthân mình, như cơ thể, tư tưởng, các mối quan hệ xã hội của bản thân;biết nhìn nhận, đánh giá đúng tiềm năng, tình cảm, sở thích, thói quen, điểmmạnh, điểm yếu của bản thân mình; quan tâm và luôn ý thức đượcđang làm gì, kể cả lúc bản thân đang cảm thấy căng thẳng Tự nhận thức làmột KNS rất cơ bản của con người, là nền tảng để con người giao tiếp, ứng
xử phù hợp và hiệu quả với người khác cũng như để có thể cảm thông đượcvới người khác
Ngoài ra, có hiểu đúng về mình, con người mới có thể có những quyếtđịnh, những sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với khả năng của bản thân, vớiđiều kiện thực tế và yêu cầu xã hội Ngược lại, đánh giá không đúng về bảnthân có thể dẫn con người đến những hạn chế, sai lầm, thất bại trong cuộcsống và trong giao tiếp với người khác để tự nhận thức đúng về bản thân cầnphải được trải nghiệm qua thực tế, đặc biệt là qua giao tiếp với người khác
*Kỹ năng đặt mục tiêu
Là khả năng của con người trong việc đề ra những cái đích có thể thựchiện được cho một vấn đề nào đó của cuộc sống như một sự hiểu biết, mộtviệc làm cụ thể hay một thái độ nào đó
*Kỹ năng kiên định và từ chối
Đó là kỹ năng kiên quyết giữ vững lập trường và lời nói từ chối trướcnhững lời mời mọc, rủ rê tham gia vào các hoạt động tiêu cực của người xấu
Trang 25hoặc sự lôi kéo chơi bời, bỏ học của bạn bè chưa ngoan; kiên quyết khôngtham gia vào những việc làm, hành vi mang tính tiêu cực.
*Kỹ năng xác định giá trị
Giá trị là những gì con người cho là quan trọng, là có ý nghĩa đối vớibản thân mình, có tác dụng định hướng suy nghĩ, hành động và lối sốngcủa bản thân trong cuộc sống Giá trị có thể là những chuẩn mực đạo đức,những chính kiến, thái độ và thậm chí là những thành kiến đối với một điều
gì đó Giá trị có thể là giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần, có thểthuộc các lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật, đạo đức, kinh tế Mỗi người đều cómột hệ thống giá trị riêng
Kỹ năng xác định giá trị là khả năng con người hiểu rõ được những giátrị bản thân mình Kỹ năng xác định giá trị có ảnh hưởng lớn đến quá trình
ra quyết định của mỗi người Kỹ năng này còn giúp người ta biết tôn trọngngười khác, biết chấp nhận rằng người khác có những giá trị và niềm tinkhác Giá trị không phải là bất biến mà có thể thay đổi theo thời gian, theocác giai đoạn trưởng thành của con người Giá trị phụ thuộc vào giáo dụcvào nền văn hoá, vào môi trường sống, học tập và làm việc của cá nhân
* Quản lý hình thức giáo dục kỹ năng sống
- Hình thức dạy học trên lớp: Hình thức GD KNS trên lớp là hình thức
tổ chức dạy học mà thời gian dạy và học được quy định một cách xác định và
ở một địa điểm xác định, giao viên chỉ đạo hoạt động nhận thức có tính chấttập thể theo từng môn Tuỳ theo đặc điểm của từng môn học và đặc điểm của
Trang 26học sinh trong lớp học, giáo viên sử dụng các phương pháp và phương tiệndạy học nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người học Thực hiện chương trình
GD KNS hiện nay được thực hiện lồng ghép tích hợp vào các môn học nhưGiáo dục công dân, Sinh học, Ngữ văn với những nội dung được địnhhướng vào từng từng bài học cụ thể Hình thức GD KNS trên lớp là hình thức
cơ bản và chủ yếu trong các trường THPT
Thông qua hệ thống các giờ dạy trên lớp nhằm đạt được mục tiêu cơbản của hoạt động GD KNS về trang bị tri thức, rèn luyện các kỹ năng cơ bản
và trang bị những thái độ cần thiết cho học sinh
- Tổ chức hoạt động ngoại khoá: Thi diễn văn nghệ; trình diễn tiểuphẩm là một hình thức của phương pháp đóng kịch, trong đó người giáo viên
tổ chức hoạt động GD KNS bằng cách xây dựng kịch bản và thực hiện kịchbản nhằm giúp học sinh hiểu sâu sắc nội dung học tập và rèn luyện Trong khitrình diễn tiểu phẩm phải có kịch tính (các xung đột, các mâu thuẫn giữa cácnhân vật phải phản ánh được sự đấu tranh trong từng nhân vật) để gây hứngthú chú ý và mang tính thuyết phục cao về các nội dung GD KNS
* Quản lý phương pháp giáo dục kỹ năng sống học sinh trung học phổ thông
- Quản lý chỉ đạo nâng cao nhận thức cho giáo viên và học sinh về tầm
quan trọng của học tập, rèn luyện KNS cho HS THPT, chỉ đạo nâng cao nănglực giáo dục KNS cho GVCN lớp, giáo viên dạy học các môn học có tích hợpnội dung GD KNS Chỉ đạo nâng cao năng lực cho cán bộ Đoàn trong tổ chứchoạt động giáo dục nhằm GD KNS cho HS THPT
- Quản lý chỉ đạo tổ chuyên môn và giáo viên thực hiện giáo dục giá trị
sống và KNS qua dạy học các môn học đặc biệt là các môn học chiếm ưu thếnhư môn Giáo dục công dân, môn Văn, môn Sinh và một số môn học khác.Hiệu trưởng chỉ đạo tổ chuyên môn hướng dẫn giáo viên tích hợp nội dung
Trang 27GD KNS thông qua các môn học chiếm ưu thế nhằm nâng cao hiệu quả củamôn học.
- Quản lý chỉ đạo GVCN lớp và tổ chức Đoàn thực hiện chương trình,
nội dung giáo dục giá trị sống và KNS cho học sinh thông qua tổ chức hoạtđộng giáo dục NGLL, hoạt động xã hội và các hoạt động khác trong trườnghọc và ngoài trường học Chỉ đạo phối hợp các lực lượng giáo dục trong vàngoài nhà trường để GD KNS cho HS THPT
- Quản lý chỉ đạo lựa chọn phương pháp và đổi mới phương pháp dạy
học, giáo dục nhằm tăng cường GD KNS cho học sinh
- Quản lý chỉ đạo xây dựng các mối quan hệ thân thiện nhằm tăng
cường GD KNS cho HS THPT Chỉ đạo quan hệ thầy - trò thân thiện, chia
sẻ, hợp tác nhằm tăng kỹ năng giao tiếp, kỹ năng chia sẻ, cộng tác cho họcsinh Chỉ đạo xây dựng quan hệ trò - trò; trò - nhóm; trò - tập thể nhằm giáodục học sinh biết học cách chia sẻ, cách hợp tác, cách chung sống cùng ngườikhác, biết nhận thức về bản thân trong mối quan hệ với người khác, biết tựkhẳng định mình trước người khác
- Quản lý chỉ đạo xây dựng và phát triển môi trường GD KNS cho HS
THPT thông qua thực hiện nội quy trường học, các chuẩn mực giao tiếp ứng
xử trong trường học, mối quan hệ phối hợp thầy - trò, trò - trò trong trườnghọc và trong quá trình học tập
1.2.4 Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông
Hiệu trưởng phải thường xuyên kiểm tra, giám sát giáo viên, tổ chức đoànthể trong triển khai thực hiện nội dung, chương trình GD KNS cho HS THPT
Tổ chức thăm lớp, dự giờ để đánh giá mức độ thực hiện triển khai nộidung chương trình GD KNS cho HS THPT thông qua hoạt động dạy học trênlớp và các hoạt động ngoại khóa Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nề nếp và
Trang 28các chuẩn mực giáo dục của nhà trường nhằm đánh giá hành vi, thái độ củahọc sinh trong việc thực hiện KNS.
Kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả của tổ chức hoạt động giáo dụcNGLL, đặc biệt là kiểm tra, đánh giá kỹ năng hành vi của học sinh khi thamgia các hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường
Tổ chức tổng kết, rút kinh nghiệm về GD KNS cho HS THPT và rút ranhững bài học kinh nghiệm
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông
1.3.1 Yếu tố chủ quan
* Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh THPT
Tuổi học sinh THPT là giai đoạn đã trưởng thành về mặt thể lực, nhưng
sự phát triển cơ thể còn chưa vững chắc, các em bắt đầu thời kỳ phát triển vềmặt sinh lý tương đối thuận lợi Sự phát triển của hệ thần kinh có những thayđổi quan trọng Nhìn chung, ở lứa tuổi các em đã phát triển cân đối, khỏe vàđẹp, đa số các em có thể đạt khả năng phát triển về cơ thể như người lớn, đó
là yếu tố cơ bản giúp học sinh THPT có thể tham gia các hoạt động phongphú, đa dạng và phức tạp của chương trình giáo dục THPT
Ở học sinh THPT tính chủ định trong nhận thức được phát triển, tri giác
có mục đích đã đạt tới mức cao, quan sát trở nên có mục đích, hệ thống vàtoàn diện hơn Khả năng tư duy lí luận, tư duy trừu tượng một cách độc lậpsáng tạo Tư duy chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán, đồng thời tính phêphán cũng phát triển Có thể nói, nhận thức của học sinh THPT chuyển dần từnhận thức cảm tính sang nhận thức lý tính
Ý thức học tập thúc đẩy sự phát triển tính chủ đích trong quá trình nhậnthức và năng lực điều khiển bản thân, điều này giúp các em có thể tham giacác hoạt động giáo dục với vai trò là chủ thể của các hoạt động đó Sự pháttriển ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của học
Trang 29sinh THPT, có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý các em Học sinhTHPT có nhu cầu tìm hiểu và đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình, quantâm tới đời sống tâm lý, phẩm chất nhân cách và năng lực riêng, xuất hiện ýthức trách nhiệm, lòng tự trọng, tình cảm, nghĩa vụ, đó là những giá trị nổitrội và bền vững.
Học sinh THPT là lứa tuổi quyết định sự hình thành nhân sinh quan,thế giới quan về xã hội, tự nhiên, các nguyên tắc và quy tắc cư xử Lứa tuổicác em quan tâm nhiều đến các vấn đề liên quan đến con người, vai trò củacon người trong lịch sử, quan hệ giữa con người và xã hội, giữa quyền lợi vànghĩa vụ, giữa ý trí và tình cảm Ở lứa tuổi này các em có nhu cầu khẳng địnhbản thân mình, có đời sống tình cảm rất phong phú, điều đó được thể hiện rõnhất trong tình bạn, một số phẩm chất tốt của tình bạn được hình thành: sự vịtha, tính chân thật, tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau Đồng thời đây cũng là cơ sởcho việc học sinh thích tham gia các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Do đó, sự phát triển nhân cách của học sinh THPT là một giai đoạn rấtquan trọng, giai đoạn chuyển đổi từ trẻ em lên người lớn Đây là lứa tuổi đầuthanh niên với sự phát triển tâm sinh lý đặc thù khác với tuổi thiếu niên, các
em đã đạt tới sự trưởng thành về thể lực và nhân cách Đặc điểm tâm sinh lýcủa học sinh THPT là điều kiện thuận lợi cho việc giáo dục KNS cho các em
có hiệu quả Các lực lượng giáo dục dựa và đặc điểm phát triển tâm sinh lýcủa lứa tuổi này để lựa chọn những nội dung, hình thức giáo dục KNS thíchhợp để phát huy được tính tích cực chủ động của các em, đồng thời khắc phụcnhững hạn chế của các em
*Trình độ nhận thức, phẩm chất, năng lực quản lý GD KNS của cán bộ quản lý và giáo viên
Quản lý GD KNS trong trường THPT cũng chịu sự chi phối trực tiếp từnhận thức của những người làm CB quản lý, của những nhà hoạt động sư phạm
Trang 30Nhận thức của CBQL, giáo viên về tầm quan trọng của GD KNS chohọc sinh trong nhà trường phổ thông.
Năng lực và kỹ năng quản lý tổ chức GD KNS của CBQL, giáo viên làmột yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến thực hiện tổ chức GD KNS Kinhnghiệm, hiểu biết của hiệu trưởng về giáo dục KNS cho học sinh THPT cóảnh hưởng lớn đến công tác này
Phẩm chất, nhân cách của cán bộ, giáo viên tham gia GD KNS:
- Các phẩm chất, tâm lí của Hiệu trưởng (tính cách, phong cách làmviệc, giao tiếp, ứng xử ) của Hiệu trưởng có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệuquả và chất lượng của GD KNS
- Năng lực tư duy, năng lực giao tiếp của CBQL, giáo viên thể hiện cácmối quan hệ giữa lực lượng trong và ngoài nhà trường
- Năng lực tổ chức thực hiện của người dưới quyền trực tiếp thực hiện
lý chưa thực sự chú ý tới vấn đề này, các giáo viên được thực hiện theo nộidung đã được tập huấn hoặc chỉ thực hiện theo kinh nghiệm, sự nhiệt tình
1.3.2 Yếu tố khách quan
Hiện nay, KNS đã được đưa vào giáo dục trong nhà trường cho họcsinh nói chung và HS THPT nói riêng Tuy nhiên, mục tiêu, chương trình, nộidung của giáo dục KNS cho học sinh lại dựa trên yêu cầu của đổi mới giáodục THPT Hay nói cách khác mục tiêu, chương trình giáo dục KNS cho họcsinh đã được xác định trong chương trình giáo dục THPT Hầu như cáctrường đều chưa có chương trình riêng về GD KNS và chưa có giáo viên được
Trang 31đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực này Đây là một trong những nguyên nhân cóảnh hưởng lớn đến việc hình thành và phát triển KNS cho học sinh Nhàtrường cần có một chương trình giảng dạy KNS cụ thể, có phương pháp giảngdạy phù hợp giúp các em có kiến thức cơ bản về KNS và có điều kiện đượcthực hành, được trải nghiệm thực tế Có như vậy các em mới có khả năng vậndụng nó trong các điều kiện khác nhau của cuộc sống một cách hiệu quả Đặcbiệt giúp các em hiểu được mình cần trang bị những kỹ năng nào, những kỹnăng ấy có vai trò gì trong cuộc sống của các em.
Việc thực hiện GD KNS trong các nhà trường cũng gặp rất nhiều khókhăn về cơ sở vật chất, thời gian, hình thức tổ chức, kinh phí tổ chức cùngvới việc thiếu chủ động về yếu tố con người - là các nhà giáo trực tiếp thamgia giáo dục KNS và sự hứng khởi, chủ động tích cực tham gia của các emhọc sinh
Quản lý GD KNS trong nhà trường cũng còn nhiều bất cập và hạn chế
Do hoạt động GD KNS không nằm trong hệ thống các môn học theo quy địnhtrong nhà trường phổ thông nên phần lớn các nội dung GD KNS chỉ đượcthực hiện dưới hình thức lồng ghép vào các giờ chào cờ, hoạt động ngoạikhóa và giáo dục ngoài giờ lên lớp
Dưới góc độ giáo dục, gia đình, xã hội không chỉ là lực lượng tham giavào quá trình giáo dục mà còn là môi trường giáo dục quan trọng Trong hoạtđộng giáo dục KNS cho học sinh THPT, môi trường gia đình và môi trường
xã hội có thể tác động theo hướng tích cực hoặc không tích cực đối với quátrình hình thành và phát triển KNS của học sinh Do đó, KNS thuộc phạm trùnăng lực nên sự trải nghiệm có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành vàphát triển KNS Gia đình và xã hội chính là môi trường nơi xác lập các tìnhhuống diễn ra sự trải nghiệm của học sinh Sự phối kết hợp với các lực lượngđịa phương, môi trường văn hóa, các yếu tố phong tục tập quán địa phương vàđịnh hướng giáo dục nhà trường, gia đình, xã hội trong giáo dục KNS cho họcsinh THPT
Trang 32Sự chỉ đạo của các cấp lãnh đạo về GD KNS; sự quan tâm của lãnh đạocác cấp đến vấn đề GD KNS còn hạn chế vẫn nặng về các số liệu đánh giáxếp loại 2 mặt giáo dục của học sinh.
Tóm lại, việc tổ chức KNS của học sinh THPT chịu ảnh hưởng củanhiều yếu tố chủ quan và khách quan, làm sáng tỏ các yếu tố này giúp các emhọc sinh có điều kiện phát triển KNS thuận lợi hơn
Nội dung GD KNS đối với HS THPT cần được giáo dục bao gồm các
kỹ năng: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng đặt mục tiêu, kỹnăng kiên định, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định
Để tổ chức GD KNS cho học sinh, nhà quản lý cần chỉ đạo thực hiệnmục tiêu GD KNS; lập kế hoạch GD KNS; chỉ đạo tổ chức thực hiện kếhoạch và kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện GD KNS
Ngoài ra, còn có nhiều yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến
tổ chức GD KNS bao gồm: Năng lực quản lý của Hiệu trưởng; sự nhận thức
về tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ, giáo viên; năng lực thực hiện công tác
tổ chức các hoạt động GD KNS của Bí thư Đoàn, GVCN; sự phối kết hợpgiữa 3 môi trường: Nhà trường - Gia đình - Xã hội
Trang 332.1.1 Tình hình giáo dục chung của huyện
Công tác GD&ĐT của huyện luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo củaĐảng, Nhà nước, có nhiều chính sách hỗ trợ và ưu tiên phát triển giáo dục củacác cấp lãnh đạo Thành phố, lãnh đạo Sở GD&ĐT Hà Nội Quy mô mạnglưới trường lớp phát triển hợp lý, đội ngũ cán bộ giáo viên tiếp tục được tăngcường cả về số lượng và chất lượng cơ bản đáp ứng được nhu cầu dạy và học
Công tác GD KNS được quan tâm và thực hiện thường xuyên thôngqua các tiết học, hoạt động NGLL, ngoại khoá, các phong trào văn hoá vănnghệ, trò chơi dân gian được tổ chức thường xuyên trong nhà trường Cáctrường luôn chú trọng giáo dục đạo đức lối sống cho học sinh, song do cáctrường ở các vùng địa bàn khác nhau, có phong tục tập quán khác nhau, trình
độ dân trí nhiều nơi còn thấp nên công tác GD KNS hầu như các trường tựtriển khai tổ chức hoạt động phù hợp với điều kiện của từng trường, chưa thuhút được các lực luợng khác cùng tham gia, hình thức tổ chức đơn giản và lặp
Trang 34đi lặp lại với các năm học gây nhàm chán cho giáo viên và học sinh, chưa đadạng hoá được hình thức tổ chức do còn phụ thuộc vào cơ sở vật chất và kinhphí dành cho các hoạt động giáo dục còn hạn chế.
2.1.2 Giáo dục trung học phổ thông
Để khảo sát thực trạng GD KNS cho học sinh THPT trên địa bàn huyệnThường tín, Thành phố Hà Nội, chúng tôi tiến hành khảo sát trên 5 trườngTHPT trong huyện đó là: Trường THPT Lý Tử Tấn, THPT Thường Tín,THPT Nguyễn Trãi, THPT Vân Tảo và trường THPT Tô Hiệu Trong đótrường THPT Thường Tín đặt ở trung tâm thị trấn Thường Tín, điều kiện kinh
tế đang phát triển, là nơi tập trung các cơ quan hành chính của huyện Cáctrường còn lại nằm trên các địa bàn: Trường THPT Lý Tử Tấn thuộc địa bàn
xã Nguyễn Trãi, Trường THPT Nguyễn Trãi thuộc địa bàn xã Nhị Khê,Trường THPT Vân Tảo thuộc địa bàn xã Vân Tảo,Trường THPT Tô Hiệuthuộc địa bàn xã Tô Hiệu Hầu hết ở các xã có các trường đóng trên địa bàn
và các xã lân cận (như xã Tiền Phong, xã Hòa Bình, xã Quất Động, xã NinhSở ) đều phát triển nhiều nghề truyền thống, buôn bán và kinh doanh tự do
Tuy có nhiều điểm khác nhau về những nhân tố tác động, song nămtrường THPT nói trên đều có chất lượng giáo dục tốt, là những trường có
bề dày truyền thống đạt nhiều thành tích trong dạy học và giáo dục họcsinh Đội ngũ giáo viên đều đạt chuẩn, có năng lực chuyên môn vững, cónhiều kinh nghiệm trong giảng dạy và giáo dục học sinh Học sinh của nămtrường phần lớn là con em các gia đình nông dân trên 70%, số còn lại làcon em cán bộ công chức nhà nước Cơ sở vật chất của các nhà trườngtương đối đầy đủ đáp ứng được việc dạy và học góp phần nâng cao chấtlượng chung của các nhà trường
Trang 35Chính vì vậy, cán bộ quản lý nhà trường, giáo viên, nhân viên rất quantâm đến các hoạt động giáo dục học sinh và rèn luyện cho các em những kỹnăng cơ bản trong hoạt động học tập, KNS trong cuộc sống hàng ngày nhằmgiúp các em có thể thích ứng với yêu cầu của nhà trường, gia đình và xã hội.
2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức quản lý, đội ngũ giáo viên và học sinh
* Cơ cấu tổ chức quản lý và đội ngũ giáo viên, nhân viên
các nhà trường
hành chính
Cán bộ quản lý
Giáo viên
Nhân viên
Ghi chú
Lý Tử Tấn
xã Nguyễn Trãi,huyện Thường Tín,Thành phố Hà Nội
Thường Tín
thị trấn Thường Tín,huyện Thường tín,Thành phố Hà Nội
Nguyễn Trãi
xã Nhị Khê, huyệnThường Tín, Thànhphố Hà Nội
Thành tích nổi bật Ghi chú
Lý Tử Tấn
990 Năm học 2014-2015 là trường tiên tiến
xuất sắc, được đón Bằng công nhận
Trang 36trường chuẩn quốc gia của UBNDThành phố Hà Nội, Sở GD và ĐT HàNội Có 73 HS đạt giải HS giỏi, 07 họcsinh đạt giải HSG cấp Thành phố
Thường
Tín
1467 Năm học 2014-2015 là trường tiên tiến
xuất sắc Trường có 112 HS đạt giải
HS giỏi, 12 học sinh đạt giải HSG cấpThành phố
Nguyễn
Trãi
1150 Năm học 2014-2015 là trường tiên tiến
xuất sắc Trường có 81 HS đạt giải HSgiỏi, 08 học sinh đạt giải HSG cấpThành phố
Vân Tảo
1097 Năm học 2014-2015 là trường tiên tiến
xuất sắc Trường có 77 HS đạt giải HSgiỏi, 07 học sinh đạt giải HSG cấpThành phố
Tô Hiệu
1409 Năm học 2014-2015 là trường tiên tiến
xuất sắc Trường có 119 HS đạt giải
HS giỏi, 11 học sinh đạt giải HSG cấpThành phố
(Nguồn Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội năm học 2014-2015) Kết quả rèn luyện hạnh kiểm
Trang 37(Nguồn Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội năm học 2014-2015)
Với những đặc điểm thống kê trên, đội ngũ GV nhà trường, cán bộquản lý ở các trường đều thường xuyên quan tâm đến chất lượng dạy học vàchất lượng giáo dục toàn diện học sinh, đặc biệt quan tâm đến việc GD KNScho học sinh, đây là một trong những yếu tố thuận lợi cho việc triển khaichương trình GD KNS cho HS THPT ở cả năm trường trên
Tuy nhiên, xét tổng thể thì số học sinh có hạnh kiểm khá ở 5 trườngđều chiếm tỉ lệ khá lớn so với tổng số học sinh Đây là điều kiện thuận lợi đểcác nhà quản lý, nhà sư phạm có thể GD KNS cho học sinh
2.1.2.2 Tổng hợp chất lượng giáo dục các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội
Kết quả xếp loại 2 mặt giáo dục
- Xếp loại hạnh kiểm:
Tổng số học sinh: 6113
+ Hạnh kiểm tốt: 3972 học sinh, chiếm tỷ lệ 64,98%
+ Hạnh kiểm khá: 1737 học sinh, chiếm tỷ lệ 28,41%
+ Hạnh kiểm trung bình: 331 học sinh, chiếm tỷ lệ 5,42%
+ Hạnh kiểm yếu: 73 học sinh, chiếm tỷ lệ 1,19%
Trang 38thiếu sân chơi bãi tập để phục vụ cho các hoạt động tập thể, đây cũng là một yếu
tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức các hoạt động GD KNS cho HS
2.2 Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Thường Tín, Thành phố Hà nội
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu thực trạng
* Đối tượng khảo sát: Hiệu trưởng, P hiệu trưởng, giáo viên và học sinh
- Về CBQL và giáo viên: Tổng số phiếu khảo sát là 150 phiếu (trong đómỗi trường phát 30 phiếu cho mỗi nội dung điều tra)
- Về học sinh: Tổng số phiếu điều tra là 400 phiếu (trong đó mỗi trườngphát 80 phiếu cho mỗi nội dung điều tra)
* Kết quả nghiên cứu thực trạng được trình bày theo thứ tự sau:
- Kết quả tổng quát các tham số nghiên cứu từ cán bộ, giáo viên và họcsinh các nhà trường
- Đánh giá của giáo viên về giáo dục rèn luyện KNS cho HS THPT
- Thực trạng quản lý của Hiệu trưởng các trường THPT huyện ThườngTín đối với công tác GD KNS cho học sinh
- Tự đánh giá của học sinh về việc rèn luyện KNS
2.2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội
2.2.2.1.Nhận thức của học sinh về mức độ cần thiết của GD KNS
* Về mức độ quan tâm:
Việc dạy KNS cho học sinh các khối đã được các nhà trường triển khaicùng với phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”,lồng ghép với hoạt động của đoàn thanh niên, các chuyên đề, các giờ họcngoại khóa và hoạt động GD NGLL
Trong quá trình nghiên cứu để đánh giá mức độ quan tâm thông quaphiếu hỏi dành cho học sinh chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 2.1 Nhận thức của học sinh về sự cần thiết của giáo dục kỹ năng sống
Trang 39STT Các mức độ của sự cần thiết Số lượng Tỷ lệ %
Biểu đồ 2.1: Đánh giá của học sinh về sự cần thiết giáo dục kỹ năng sống
Theo kết quả điều tra của bảng 2.1 và biểu đồ cho thấy:
Có 58,75% số HS được hỏi cho rằng rất cần thiết và 28,75% số họcsinh được hỏi cho rằng cần thiết GD KNS Cuộc sống hiện đại luôn đòi hỏimỗi cá nhân phải không ngừng cập nhật giá trị và hoàn thiện giá trị của mình
Để tồn tại và phát triển, để đảm bảo sự tồn tại của cuộc sống là vô cùng quantrọng Đồng thời đó là yêu cầu học tập, bồi dưỡng, rèn luyện không ngừng đểnâng cao chất lượng đời sống, để đời sống thực sự là “sống” chứ không là
“tồn tại” Chính vì thế các em muốn nhà trường cần quan tâm GD KNS trongmôi trường học đường được cụ thể hóa hơn bằng nhiều hình thức và nội dungphong phú, với sự tham gia của nhiều các thày cô giáo và các lực lượng xã
Trang 40hội, thu hút được đông đảo học sinh trong toàn trường tham gia từ đó manglại hiệu quả cao nhất và đạt được mục tiêu GD KNS như mong muốn Tuynhiên số học sinh trả lời không cần thiết vẫn còn chiếm một tỷ lệ khá lớn10,50%, và Có cũng được 2,00% điều đó chứng tỏ có một bộ phận HS chưanhận thức, chưa ý nghĩa hết được tầm quan trọng của việc GD KNS.
* Về tầm quan trọng của kỹ năng:
Chúng tôi tiếp tục điều tra với các học sinh về những kỹ năng cần thiếtđối với việc dạy KNS cho học sinh thông qua 6 kỹ năng mà Bộ GD&ĐT quyđịnh vào chương trình dạy KNS cho học sinh THPT
Bảng 2.2: Mức độ cần thiết của những kỹ năng sống đối với học sinh