1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI

44 223 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 882,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Đà Nẵng, 05/2016

Trang 2

Trong thời gian học tập và rèn luyện dưới giảng đường Đại học,

em đã được học và tích lũy nhiều điều hay và nguồn kiến thức quí báu.Chuyên đề thực tập tốt nghiệp này là sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tếtrong thời gian học tập tại trường và nghiên cứu một vài thông tin, tài liệubên ngoài

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô Khoa Luật– trường Đại học Kinh

tế - Đại học Đà Nẵng đã tận tình giảng dạy trong thời gian em học tập tạitrường Đặc biệt là sự quan tâm hướng dẫn tận tình của cô Lê Thị Thu Hằng,

là giảng viên trực tiếp hướng dẫn em trong thời gian em thực hiện chuyên đề.Những hướng dẫn thiết thực,quý báu của cô đã giúp em hoàn thành tốtchuyên đề

Sau cùng em xin chúc quí thầy cô giáo Khoa Luật– trường Đại học Kinh

tế - Đại học Đà Nẵng dồi dào sức khỏe và luôn thành công trong công việc

Trang 3

PHẦN I: MỞ ĐẦU

Khiếu nại, tố cáo, tranh chấp là những quyền cơ bản của công dân được ghinhận trong Hiến pháp Xét trên phương diện lý thuyết thì thực hiện khiếu nại, tố cáo,tranh chấp chính là phương thức quan trọng để công dân, cơ quan, tổ chức bảo vệ lợiích nhà nước, lợi ích tập thể và các quyền, lợi ích hợp pháp của mình; nhưng theo đánhgiá của các cơ quan chức năng, hiện nay tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp cónhiều diễn biến phức tạp, có chiều hướng gia tăng, nhất là các khiếu kiện nhiều người,vượt cấp, gây tác động xấu đến sự ổn định trật tự xã hội Thậm chí có một số trườnghợp còn lôi kéo, xúi giục các đối tượng chính sách, người già và trẻ em đi khiếu kiệnđông người, với thái độ cực đoan, căng khẩu hiệu, biểu ngữ có nội dung kích động,hoặc diễu hành trên đường phố, kéo vào trụ sở làm việc của cơ quan Nhà nước đạp phánhằm gây sức ép Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động và một số phần tử cơhội chính trị trong và ngoài nước lợi dụng khiếu nại, kiến nghị của công dân để kíchđộng, lôi kéo những người khiếu nại tập trung đông người, vượt cấp; công khai pháttiền cho những người đi khiếu nại…

Giải quyết các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp của công dân vừa bảo đảm kỷcương pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích của công dân, đồng thời là nhiệm vụchính trị trọng tâm, thường xuyên của các cấp chính quyền Làm tốt công tác giảiquyết tranh chấp, khiếu kiện đất đai sẽ giúp cho Nhà nước và các cơ quan nhà nướccủng cố quản lý chặt chẽ toàn bộ đất đai theo pháp luật, xác lập chặt chẽ hơn mốiquan hệ pháp lý giữa Nhà nước với người sử dụng đất và giữa những người sử dụngđất với nhau Tạo điều kiện cho việc sử dụng đất đai một cách ổn định, đầy đủ, hợp

lý, đạt hiệu quả cao nhất

Trong những năm qua công tác giải quyết các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đấtđai của công dân trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi có nhiều chuyển biến tích cực,góp phần vào việc phát triển kinh tế, xã hội, ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốcphòng, trật tự an toàn xã hội tại địa phương Tuy nhiên việc giải quyết các khiếu nại, tốcáo, tranh chấp đất đai của công dân trên địa bàn thành phố có lúc, có nơi còn chưa kịpthời, còn bộc lộ những hạn chế nhất định Xuất phát từ thực tế đó và được sự đồng ý

của giáo viên hướng dẫn, tôi chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu

quả giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi.” làm Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.

- Một số vụ việc khiếu nại, tố cáo, tranh chấp trong lĩnh vực đất đai trên địa bànthành phố Quảng Ngãi

- Các văn bản, quy phạm pháp luật liên quan đến khiếu nại, tố cáo, tranh chấpđất đai

- Số liệu và thông tin thu thập từ thời điểm năm 2010 đến năm 2014 trên địabàn thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi

Trang 4

III Mục đích và ý nghĩa của việc nghiên cứu

Nghiên cứu về tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai và đánh giá thựctrạng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai trên địa bàn thành phốQuảng Ngãi, giai đoạn 2009 - 2014, từ đó đề xuất các giải pháp để nâng cao chấtlượng, hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai trong nhữngnăm tiếp theo trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi

Thông qua việc áp dụng các quy định pháp luật vào thực tiễn trong công tácgiải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai tại thành phố Quảng Ngãi để thấy đượcnhững vướng mắc, bất cập trong hệ thống pháp luật hiện hành, từ đó đề xuất sửa đổi,

bổ sung để hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai, góp phần hỗ trợ chính quyền các cấptrong việc ra các văn bản, chính sách liên quan đến giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranhchấp đất đai cũng như các văn bản để quản lý nhà nước về đất đai tại thành phố

Đề xuất các giải pháp cho chính quyền địa phương trong công tác giải quyếtkhiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai Góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhànước về đất đai tại thành phố Quảng Ngãi

Kết quả nghiên cứu của đề tài có giá trị tham khảo trong công tác nghiên cứu vàthực tiễn công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai của các cơ quan hànhchính nhà nước

- Thu thập các văn bản liên quan như: Luật Đất đai năm 1993, 2000, 2003 và

2013, Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, 2004, 2005, Luật khiếu nại năm 2011, Luật tốcáo 2011, Luật Tố tụng hành chính và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn liên quan

- Các báo cáo, tài liệu liên quan đến tình hình và công tác giải quyết khiếu nại, tốcáo và tranh chấp đất đai tại Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố, Thanh tra thànhphố, Ban tiếp công dân thành phố, UBND các xã, phường trên địa bàn thành phố và Tòa

án nhân dân thành phố giai đoạn 2009-2014

- Tham khảo các công trình đã nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứucủa các tác giả

- Tài liệu giáo trình hoặc các xuất bản khoa học liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Với mục tiêu và phương pháp luận trình bày ở trên, nội dung của chuyên đề được

Trang 5

1.1.2 Mục đích, ý nghĩa của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo

Khiếu nại, tố cáo là quyền của công dân đã được pháp luật quy định Đây làquyền để công dân bảo vệ hợp pháp quyền lợi của mình, lợi ích của Nhà nước Nhànước thông qua việc tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo phát hiện có thể Kiểm tra,giám sát, việc chấp hành pháp luật của các cơ quan, tổ chức và cá nhân Thực hiện tốtcông tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại- tố cáo là cơ sở quan trọng để Đảng và Nhànước ta nhận định đánh giá đúng tình hình thực hiện, thi hành chính sách, pháp luậtcủa các cấp các ngành Đánh giá đúng lăng lực, phẩm chất của cán bộ công chức trongviệc thực thi nhiệm vụ, công vụ được giao, từ đó đưa ra những biện pháp hữu hiệutrong việc thực hiện chính sách, pháp luật trong quá trình thực hiện chức năng quản lýNhà nước

Giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng đắn có tác dụng tích cực đối với ổn định, pháttriển xã hội Ngược lại, nếu giải quyết sai lệch sẽ gây tiêu cực khó lường, lòng tin củanhân dân vào chính quyền, chế độ bị suy giảm, kỷ cương phép nước bị coi thường,công bằng xã hội không được bảo đảm Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dânkịp thời, đúng đắn thể hiện bản chất của chế độ xã hội dân chủ nhân dân, thể hiện quanđiểm dân là gốc của Đảng và Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa

1.2 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về đất đai

1.2.1 Khái niệm về khiếu nại

Tại Khoản 1, Điều 2, Luật khiếu nại 2011 quy định: Khiếu nại là việc công dân,

cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơquan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hànhchính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hànhchính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng

Trang 6

quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp củamình.

1.2.2 Thẩm quyền giải quyết khiếu nại.

* Đối với thủ trưởng cơ quan nhà nước:

Theo quy định của Luật Khiếu nại năm 2011, thủ trưởng cơ quan, tổ chức làngười có thẩm quyền, trách nhiệm giải quyết khiếu nại được quy định cụ thể tại cácđiều sau: Điều 17,Điều 18, Điều 19, Điều 20, Điều 21, Điều 22, Điều 23, Điều 26.Theo đó, Thủ trưởng các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và trách nhiệm:

- Giải quyết khiếu nại lần đầu với khiếu nại quyết định hành chính, hành vihành chính của chính mình và của những người do mình trực tiếp quản lý

- Giải quyết khiếu nại lần hai các khiếu nại mà thủ trưởng cơ quan cấp dưới trựctiếp đã giải quyết nhưng còn khiếu nại trừ khiếu nại mà quyết định giải quyết đã cóhiệu lực pháp luật hoặc khiếu nại đã được tòa án thụ lý giải quyết

* Đối với thủ trưởng cơ quan Thanh tra:

Theo quy định của Luật Khiếu nại năm 2011, thủ trưởng cơ quan, tổ chức làngười có thẩm quyền, trách nhiệm giải quyết khiếu nại được quy định cụ thể tại cácđiều sau: Điều 24, Điều 25 Cụ thể như sau:

- Tổng Thanh tra có thẩm quyền:

+ Giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các bộ, cơ quanngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc tiếp côngdân, giải quyết khiếu nại, thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực phápluật

+ Trường hợp phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật về khiếu nại gây thiệthại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chứcthì kiến nghị Thủ tướng Chính phủ hoặc kiến nghị người có thẩm quyền áp dụng biệnpháp cần thiết để chấm dứt vi phạm, xem xét trách nhiệm, xử lý đối với người viphạm

- Chánh thanh tra các cấp có thẩm quyền:

+ Giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp tiến hành kiểm tra, xácminh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng

cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp khi được giao

+ Giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp theo dõi, kiểm tra, đônđốc các cơ quan thuộc quyền quản lý trực tiếp của thủ trưởng trong việc tiếp công dân,giải quyết khiếu nại, thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật

Trường hợp phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về khiếu nại gây thiệt hại đếnlợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì kiếnnghị thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp hoặc kiến nghị người có thẩmquyền áp dụng biện pháp cần thiết để chấm dứt vi phạm, xem xét trách nhiệm, xử lýđối với người vi phạm

* Đối với thủ tướng chímh phủ:

Theo quy định của Luật Khiếu nại năm 2011, thủ trưởng cơ quan, tổ chức làngười có thẩm quyền, trách nhiệm giải quyết khiếu nại được quy định cụ thể tại Điều

26 Cụ thể như sau:

Trang 7

- Lãnh đạo công tác giải quyết khiếu nại của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quanthuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp.

- Xử lý các kiến nghị của Tổng thanh tra Chính phủ quy định tại khoản 2 Điều

24 của Luật này

- Chỉ đạo, xử lý tranh chấp về thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các bộ, cơquan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

1.2.3 Giải quyết khiếu nại về đất đai

Trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất, việc giải quyết khiếu nại nhằm đảm bảo cho mọi quan hệ giữa Nhà nước và người sử dụng đất và giữa những người sửdụng đất với nhau được thực hiện theo đúng chính sách, pháp luật đất đai Pháp luật hiện hành chưa quy định cụ thể thế nào là khiếu nại hành chính về đất đai Tuy nhiên, từ các khái niệm chung về khiếu nại, có thể hiểu khái niệm khiếu nại hành chính về đất đai là việc công dân, cơ quan, tổ chức đề nghị cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại những QĐHC, HVHC trong quản lý đất đai khi có căn cứ cho rằng những QĐHC, HVHC đó là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp phápcủa mình

Giải quyết khiếu nại về đất đai của các cơ quan HCNN là hoạt động kiểm tra,xác minh kết luận về tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC, HVHC trong lĩnh vựcđất đai bị khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan HCNN để có biệnpháp giải quyết theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa công dân, cơ quan, tổ chức và lợi ích chung của nhà nước và xã hội

Thẩm quyền giải quyết khiếu nại đất đai của cơ quan HCNN là nhiệm vụ,quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan HCNN nhân danh nhà nước tiến hành xemxét, đánh giá, tính hợp pháp, hợp lý của các QĐHC, HVHC trong lĩnh vực quản lý và

sử dụng đất theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm bảo về quyền, lợi íchhợp pháp của người sử dụng đất (công dân, cơ quan, tổ chức)

1.3 Tố cáo và giải quyết tố cáo về đất đai

1.3.1 Khái niệm về tố cáo

Tại Khoản 1, Điều 2, Luật Tố cáo năm 2011 quy định: Tố cáo là việc công dântheo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyềnbiết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệthại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của côngdân, cơ quan, tổ chức

1.3.2 Thẩm quyền giải quyết tố cáo

Được quy định từ Điều 13, Điều 14, Điều 15, Điều 16, Điềy 17, Luật Tố cáo

2011 như sau:

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã)

có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm

vụ, công vụ của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau

đây gọi chung là cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm phápluật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân

Trang 8

dân cấp xã, người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc

Ủy ban nhân dân cấp huyện và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp

- Người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành

phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật

trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứngđầu cơ quan chuyên môn trực thuộc cơ quan mình và cán bộ, công chức do mình bổnhiệm, quản lý trực tiếp

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây

gọi chung là cấp tỉnh) có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trongviệc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấphuyện, người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủyban nhân dân cấp tỉnh và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp

- Tổng cục trưởng, Cục trưởng và cấp tương đương được phân cấp quản lý

cán bộ, công chức có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trongviệc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầuđơn vị thuộc Tổng cục, Cục và cấp tương đương, cán bộ, công chức do mình bổnhiệm, quản lý trực tiếp

- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có thẩm quyền giải quyết tố cáo

hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu,cấp phó của người đứng đầu cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang Bộ và cán

bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp

- Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp

luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Bộ trưởng, Thứ trưởng, Thủ trưởng,Phó Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan thuộc Chínhphủ, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cán bộ, công chức do mình

bổ nhiệm, quản lý trực tiếp

- Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp

- Tổng Kiểm toán Nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm

pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Kiểm toán trưởng, Phó Kiểmtoán trưởng Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành, Kiểm toán Nhà nước khu vực và côngchức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp

+ Kiểm toán trưởng Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành, Kiểm toán Nhà nướckhu vực có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thựchiện nhiệm vụ, công vụ của công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp

- Người đứng đầu cơ quan khác của Nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáohành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của công chức domình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp

Trang 9

- Cơ quan có thẩm quyền quản lý đối với cán bộ là đại biểu Quốc hội, đại biểuHội đồng nhân dân các cấp có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luậttrong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ do mình quản lý.

- Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có thẩm quyền giải quyết tố cáođối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ của viên chức domình tuyển dụng, bổ nhiệm, quản lý trực tiếp

- Người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quản lý đơn vị sự nghiệp công lập cóthẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiệnnhiệm vụ của viên chức quản lý do mình bổ nhiệm

- Người đứng đầu cơ quan của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội có

thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụcủa cán bộ, công chức, viên chức do mình quản lý trực tiếp

- Người đứng đầu cơ quan, đơn vị quản lý trực tiếp người được giao thực hiệnnhiệm vụ, công vụ mà không phải là cán bộ, công chức, viên chức có thẩm quyền giảiquyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người đó trong việc thực hiện nhiệm vụ,công vụ

1.3.3 Giải quyết tố cáo về đất đai

Giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai của các cơ quan HCNN là việc kiểm tra,xác minh, kết luận về tính hợp pháp của hành vi bị tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyếtcủa các cơ quan HCNN để có biện pháp giải quyết theo quy định của pháp luật nhằmbảo vệ lợi ích của nhà nước, của các hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơquan, tổ chức

1.4 Tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai

1.4.1 Khái niệm về tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai, hiểu theo nghĩa rộng là biểu hiện sự mâu thuẫn, bất đồngtrong việc xác định quyền quản lý, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng đối với đất đai,phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai

Theo nghĩa hẹp, tranh chấp đất đai là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thểtham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sửdụng đất đai

Trong thực tế, tranh chấp đất đai được hiểu là sự tranh chấp về quyền quản lý,quyền sử dụng xung quanh một khu đất cụ thể mà mỗi bên đều cho rằng mình phải đượcquyền đó do pháp luật quy định và bảo hộ Vì vậy, họ không thể cùng nhau tự giải quyếtcác tranh chấp đó mà phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phân xử (giải quyết)

Theo quy định của pháp luật hiện hành: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”

Có thể nói, tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợiích, về quyền, nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai, cần được nhà nước giải quyết theo quy định của pháp luật

1.4.2 Giải quyết tranh chấp đất đai

Trong quan hệ pháp luật đất đai, việc xem xét giải quyết tranh chấp đất đai làmột trong những biện pháp quan trọng để pháp luật đất đai phát huy được vai trò trong

Trang 10

đời sống xã hội Thông qua việc giải quyết tranh chấp đất đai, Nhà nước điều chỉnhcác quan hệ đất đai cho phù hợp với lợi ích của Nhà nước và của xã hội Đồng thời,giáo dục ý thức tuân thủ và tôn trọng pháp luật cho mọi công dân, ngăn ngừa nhữngVPPL có thể xảy ra.

Giải quyết tranh chấp đất đai, với ý nghĩa là một nội dung của chế độ quản lýnhà nước đối với đất đai, được hiểu là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩmquyền, nhằm tìm ra các giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật, nhằm giải quyết cácbất đồng, mâu thuẫn giữa các bên, khôi phục lại quyền lợi cho bên bị xâm hại Đồng thời

xử lý đối với các hành vi VPPL đất đai

Như vậy, giải quyết tranh chấp đất đai là việc vận dụng đúng đắn các quy định của pháp luật để bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất

Trang 11

CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ

QUẢNG NGÃI TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2014

2.1 Tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai

2.1.1 Tình hình tiếp công dân trên địa bàn thành phố

Chủ tịch UBND thành phố ban hành Quyết định số 3872/QĐ-UBND ngày25/9/2014 về thành lập Ban tiếp công dân thành phố và Quyết định số 3752/2014/QĐ-UBND ngày 8/9/2014 quy định về tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân của thànhphố, tiếp nhận và xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, tranh chấp đất đaigửi đến lãnh đạo UBND thành phố

Hình 2.1 Công tác tiếp công dân tại UBND thành phố và UBND các xã, phường

(Nguồn: Ủy ban nhân dân thành phố Quảng Ngãi)

Theo kết quả điều tra tổng hợp số liệu từ báo cáo công tác hàng năm của Thanhtra thành phố Quảng Ngãi, từ năm 2010 đến năm 2014, tại Trụ sở tiếp công dân củathành phố và các các cơ quan, ban ngành của thành phố đã tiếp 3.681 lượt người đếnkhiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh (lĩnh vực đất đai chiếm khoảng gần 70% với2.576 lượt người) Trong đó, Lãnh đạo UBND thành phố tiếp định kỳ 950 lượt côngdân, Ban tiếp công dân tiếp thường xuyên 625 lượt và UBND các xã, phường tiếp2.106 lượt Cũng trong giai đoạn từ 2010 đến năm 2014, Lãnh đạo UBND thành phố

và Ban tiếp công dân thành phố đã tiếp 11 đoàn đông người (từ 5 người trở lên) Nội

Trang 12

dung công dân đến phản ánh, khiếu nại liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhưng tập trungchủ yếu liên quan đến công tác quản lý và sử dụng đất đai, bồi thường GPMB, bố trítái định cư, TCĐĐ, thực hiện chính sách xã hội đối với người có công; các kiến nghị,phản ánh một số địa phương, doanh nghiệp Nhà nước mất dân chủ Trong 23 xã,phường thuộc thành phố công dân đi khiếu kiện nhiều nhất tập trung các xã, phường:Nghĩa Chánh, Trương Quang Trọng, Nghĩa Phú, Trần Phú, Tịnh Long, Tịnh Khê.

2.1.2 Tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai

Đối với thành phố Quảng Ngãi, trong các năm vừa qua, công dân trên địa bànthành phố Quảng Ngãi đa số đều chấp hành tốt chính sách của Đảng và pháp luật củaNhà nước chính vì thế tình hình KNTC, TCĐĐ của công dân xảy ra không nhiều sovới toàn tỉnh, nhìn chung tương đối ổn định Tính chất các vụ việc diễn ra ít phức tạp,không gay gắt như một số huyện trong tỉnh Quảng Ngãi, chưa phát sinh điểm nóngkhiếu kiện phức tạp, không có vụ việc tập trung đông người ở tỉnh

Trong những năm gần đây, trên địa bàn thành phố đã triển khai nhiều dự án lớnnhư: Khu dịch vụ và dân cư Bắc Gò Đá phường Lê Hồng Phong, KDC Phía Tâyđường Trương Định, thành phố Quảng Ngãi, Hệ thống hạ tầng kỹ thuật KDC trụcđường Bàu Giang – Cầu Mới, Khu dân cư Trường Xuân thành phố Quảng Ngãi, Nângcấp mở rộng Quốc lộ 1A, Nhà làm việc của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ngãi,Đường Bờ Nam Sông Trà Khúc làm cho bộ mặt của thành phố được khởi sắc, tạođược việc làm cho hàng ngàn lao động trong thành phố Tuy nhiên, cùng với sự pháttriển kinh tế - xã hội làm nảy sinh một vấn đề xã hội đó là việc khiếu nại, tố cáo củacông dân ngày càng gia tăng Việc thu hồi đất GPMB để xây dựng các dự án phát triểnkinh tế xã hội đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người dân làm phát sinh khiếunại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai

NĂM

Tổng số đơn tiếp

nhận

Đơn thuộc thẩm quyền giải quyết

Phân loại đơn

chấp

Tổng

số

LVĐấtđai

Tỷ lệ

%

Tổngsố

LVĐấtđai

Tổngsố

LVĐấtđai

Tổngsố

LVĐấtđai

Tổngsố

LVĐấtđai

Bảng 2.2 Tình hình tiếp nhận đơn thư KNTC, tranh chấp đất đai

(Nguồn: Số liệu tổng hợp từ các báo cáo tại Thanh tra thành phố,

Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố)

Qua Bảng 2.2 về tình hình tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo, tranh chấp tạicác cơ quan HCNN từ năm 2010 - 2014, cho thấy:

- Tổng số đơn thư KNTC và tranh chấp đã tiếp nhận tại các cơ quan HCNN

Trang 13

là 3.033 lượt đơn, trong đó: Khiếu nại 1.535 lượt đơn, chiếm 50,6%; tố cáo 115lượt đơn, chiếm 3,7% Tranh chấp 1.383 lượt đơn, chiếm 45,7% Đơn thư trong lĩnhvực đất đai là: 2.034 lượt đơn, chiếm khoảng 67% tổng số lượng đơn thư tiếp nhận

- Số lượng đơn thư KNTC nói chung và đơn thư KNTC lĩnh vực đất đai nóiriêng biến động qua các năm Số lượng đơn thư có chiều hướng tăng lên trong nhữngnăm từ 2010 đến 2012, số lượng đơn thư tiếp nhận tăng qua các năm, năm sau cao hơnnăm trước Một hai năm trở lại đây, từ năm 2013 đến năm 2014 có xu hướng giảm sốlượng đơn thư tiếp nhận Tuy số lượng đơn thư tiếp nhận trong lĩnh vực đất đai có xuhướng giảm nhưng tỷ lệ đơn thư trong lĩnh vực đất đai so với tổng số lượng đơn thưtiếp nhận toàn thành phố ngày càng tăng (số lượng đơn thư từ 611 năm 2012 giảmxuống còn 221 năm 2014 nhưng tỷ lệ đơn thư lĩnh vực đất đai so với tổng số đơn thưtiếp nhận tăng từ 64% năm 2012 lên 72% năm 2014) Năm 2014 số lượng đơn thư tiếpnhận có xu hướng tăng trở lại Nguyên nhân đơn thư tăng là do hiện nay thành phốQuảng Ngãi đầu tư nhiều dự án, công trình cho 13 xã, phường mới xác nhập vào thànhphố nên đơn thư khiếu nại liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, cũng như đơntranh chất đất đai phát sinh nhiều

- Số lượng đơn thư KNTC tăng qua các năm 2010, 2011, 2012, trong đó đánglưu ý là năm 2012 với số lượng 955 đơn

- Việc khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn thành phố chiếmkhoảng 67% so với tổng số lượng đơn thư KNTC tiếp nhận, thấp hơn mức bình quâncủa cả tỉnh (72%)

PHÂN LOẠI ĐƠN

Tổng số

KN liên quan đến GCNQS

D đất

KN liên quan đến

BT, HT, GPMB, TĐC

KN khác

Tổng số

CB thôn, xã

CB Cấp huyện

CB Cấp tỉnh

Nội dung khác

Tổng số

Đòi lại đất

TC giữa các chủ

sử dụng đất

Bảng 2.3 Tình hình tiếp nhận và phân loại đơn thư trong lĩnh vực đất đai

(Nguồn: Số liệu tổng hợp từ các báo cáo tại Thanh tra thành phố,

Phòng Tài nguyên và Môi trường)

Qua Bảng số 2.3, phân tích về tình hình tiếp nhận và phân loại đơn thư tranhchấp, khiếu nại, tố cáo riêng trong lĩnh vực đất đai tại các cơ quan HCNN của thànhphố từ năm 2009 - 2014, cho thấy:

- Đơn thư có nội dung khiếu nại chiếm tỷ lệ cao chiếm 49,7% trong tổng số đơnthư tiếp nhận trong lĩnh vực đất đai, tiếp đến là đơn thư có nội dung tranh chấp đất đai

Trang 14

chiếm 46,4%, đơn thư có nội dung tố cáo chiếm 3,9%.

- Từ Bảng 3.6, so sánh tỷ lệ giữa các loại đơn KNTC và TCĐĐ trong tổng sốlượng đơn thư tiếp nhận trong lĩnh vực đất đai qua các năm tại Hình 3.5 cho thấy: đơn thư

có nội dung khiếu nại có chiều hướng tăng từ năm 2010 đến năm 2012 và chiều hướnggiảm từ 2012 đến 2014, trong khi đó đơn thư có nội dung tố cáo không giảm nhiều quacác năm Đơn cử: năm 2010 đơn thư khiếu nại chiếm 48%, tố cáo chiếm 5% thì đến năm

2012 đơn khiếu nại tăng lên 61% trong khi đó đơn tố cáo lại giảm còn 2%

Hình 2.4 Diễn biến tỷ lệ các loại đơn khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai so với tổng

số đơn tiếp nhận trong lĩnh vực đất đai giai đoạn 2010 – 2014

(Nguồn: Số liệu tổng hợp từ các báo cáo tại Thanh tra thành phố,

Phòng Tài nguyên và Môi trường)

Theo điều tra, đánh giá tại các báo cáo thì mặc dù số lượng đơn thư tiếp nhậngiảm nhưng số vụ đông người có xu hướng tăng và diễn biễn phức tạp Trong các nămtrước số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân rất đa dạng, phong phú, đơn, thư

đề cập hầu hết các lĩnh vực của đời sống, xã hội chủ yếu là kiến nghị, phản ánh; tuynhiên trong những năm gần đây số lượng đơn, thư chủ yếu tập trung vào lĩnh vực đấtđai, môi trường và chế độ chính sách xã hội Các vụ việc tồn đọng kéo dài, công dânbức xúc, khiếu nại vượt cấp, khiếu nại đông người và cùng một nội dung chủ yếu tậptrung vào lĩnh vực đất đai Khiếu nại về lĩnh vực tư pháp cũng chủ yếu là khiếu nại cácbản án dân sự liên quan đến tranh chấp dân sự trong lĩnh vực đất đai, thừa kế, phânchia tài sản của tòa án và việc chậm thi hành án dân sự Các đơn tố cáo liên quan đếncán bộ có chức quyền lợi dụng chức vụ, quyền hạn, cố ý làm trái các quy định của nhànước; tham ô lãng phí tài sản của Nhà nước, yếu kém trong công tác quản lý, sử dụngđất đai, thu tiền sử dụng đất không đúng quy định của pháp luật, không khách quantrong quá trình giải quyết công việc

Đơn thư chủ yếu tập trung ở các xã, phường: Trương Quang Trọng, Chánh Lộ,Trần Phú, Nghĩa An, Tịnh Khê, Nghĩa Phú, Tịnh Long đây là nơi có nhiều dự án phảithu hồi đất để thực hiện đầu tư Nội dung chủ yếu tập trung trong lĩnh vực bồi thường,GPMB, bố trí tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư và

VT: %ĐVT: %

Trang 15

TCĐĐ (chiếm khoảng 49.4%) Có nhiều vụ việc tồn đọng kéo dài, công dân bức xúc,khiếu nại vượt cấp lên tỉnh, khiếu nại đông người và cùng một nội dung điển hình như

vụ khiếu nại thuộc dự án khu dân cư trục đường Nguyễn Du, khiếu nại về bồi thườngGPMB xây dựng khu dân cư 577, khiếu nại việc xây dựng Khu công nghiệp QuảngPhú, khiếu nại việc GPMB xây dựng dự án trường đại học Phạm Văn Đồng

Thời gian qua, UBND thành phố, Chủ tịch UBND thành phố đã quan tâm chỉđạo, giao trách nhiệm cho các cơ quan chức năng thẩm tra, xác minh, các vụ khiếu nại,TCĐĐ để tham mưu cho chủ tịch UBND thành phố ra quyết định giải quyết theo đúngquy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, pháp luật đất đai, nên tình trạng khiếu nạitập thể, khiếu kiện đông người; đơn thư khiếu nại, tố cáo lên Tỉnh, Trung ương ít xảy ra

Tình hình công dân tái khiếu, khiếu nại vượt cấp ngày càng giảm Tuy vậy, vẫncòn một số ít vụ việc đã được cơ quan có thẩm quyền giải quyết, nhưng công dân cònquá cố chấp, vẫn tiếp tục đến khiếu nại ở trụ sở tiếp công dân của thành phố, tỉnhnhiều lần, nhất là các trường hợp liên quan đến thu hồi đất, đền bù GPMB đã gây một

số trở ngại cho công tác đầu tư xây dựng các dự án và khiếu nại kéo dài dây dưa, vượtcấp điển hình như vụ ông Trần Hiển, ông Trần Bá Ba ở tổ 20 phường Chánh Lộ, vụông Phạm Quận, ở tổ 19 phướng Chánh Lộ, vụ ông Hà Văn Bé ở tổ 8 phường TrầnPhú, vụ bà Phạm Thị Lê Hoa, ở tổ 9 phường Trần Phú, vụ Nguyễn Trần Lại, ở phườngTrần Phú, ông Nguyễn Trợ ở phường Nghĩa Chánh, vụ tố cáo ông Bùi Ngọc Anh cán

bộ địa chính xã Nghĩa Dõng

* Về khiếu nại, tố cáo đông người

Trong những năm qua, trên địa bàn thành phố đã xảy ra một số vụ khiếu kiệnđông người, phức tạp chủ yếu trong lĩnh vực đất đai như vụ khiếu kiện của các hộ dân

ở hẻm 112 đường Trần Hưng Đạo phản ảnh kiến nghị ông Đỗ Thanh Minh xây dựngtrái phép lấn chiếm hẻm 112 đường Trần Hưng Đạo; một số hộ dân ở tổ 24, 25 phườngQuảng Phú phản ảnh Nhà nước thực hiện dự án Khu công nghiệp Quảng Phú làm tắtngẳn dòng chảy kênh Bàu Lăng gây ngập úng, lấp kênh nội đồng không có nước tướinhân dân không sản xuất được; vụ khiếu nại của một số hộ dân tổ 19, 20 phườngChánh Lộ phản ánh việc xây dựng trường Đại học Phạm Văn Đồng, đường Bàu Giang– Cầu Mới khi san lấp mặt bằng ảnh hưởng đến hệ thống tưới tiêu, nhân dân không sảnxuất được, yêu cầu hỗ trợ đời sống; vụ khiếu nại của một số hộ dân tổ 04 phường NghĩaChánh phản ánh tình trạng ô nhiễm môi trường khi xây dựng dự án Hồ Điều Hòa -Nghĩa Chánh; vụ khiếu nại của một số hộ dân Khu dân cư số 6, phường Trương QuangTrọng yêu cầu tính lại giá trị bồi thường, hỗ trợ đời sống khi Nhà nước thu hồi đất củacác hộ xây dựng Khu dân cư 577; vụ khiếu nại của 07 hộ dân có đất bị thu hồi thuộc dự

án xây dựng nhà làm việc Hạ Kiểm lâm tỉnh Quảng Ngãi

Theo số liệu thống kê, giai đoạn từ năm 2010 đến 2014 có 20 lượt đoàn đôngngười với 12 vụ trong lĩnh vực đất đai đến khiếu nại tại các cơ quan HCNN, số lượngđoàn đông người lên đến 15 người

Tình hình trên nếu không được xử lý kịp thời sẽ rất phức tạp, gây tâm lý hoangmang, thiếu tin tưởng vào chính quyền, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp củacông dân và lợi ích quốc gia

2.2 Thống kê các nội dung khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai

Trang 16

2.2.1 Về nội dung khiếu nại

Các đơn thư có nội dung khiếu nại chiếm 49,7% trong tổng số đơn thư tiếp nhậntrong lĩnh vực đất đai Các nội dung khiếu nại chủ yếu liên quan đến việc GPMB, bồithường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triểnkinh tế – xã hội và khiếu nại về việc cấp, thu hồi, chỉnh lý giấy chứng nhận QSDĐ,thực hiện các thủ tục hành chính về đất đai Đây là lĩnh vực có số lượng đơn khiếu nạinhiều nhất, các vụ việc phức tạp, khiếu kiện đông người tập trung chủ yếu vào hai lĩnhvực này

Các đơn khiếu nại liên quan đến giấy chứng nhận QSDĐ chiếm 37,2% trongtổng số đơn khiếu nại đất đai Khiếu nại về QĐHC và HVHC trong việc cấp giấychứng nhận QSDĐ, thu hồi giấy chứng nhận QSDĐ, đăng ký biến động sau khi cấpgiấy chứng nhận QSDĐ cũng là một dạng khiếu nại rất phổ biến hiện nay vì nó liênquan trực tiếp đến quyền của người sử dụng đất Nội dung khiếu nại chủ yếu như: cònnhiều phiền hà, sách nhiễu, quan liêu trong việc thực hiện các thủ tục hành chính vềđất đai, thời gian giải quyết hồ sơ còn quá dài, vượt quá quy định; cấp giấy chứng nhậnQSDĐ sai sót về tên chủ sử dụng, sơ đồ thửa đất, diện tích, xác định nghĩa vụ tài chínhkhông đúng; không cấp, cấp đổi giấy chứng nhận mà không có lý do chính đáng hoặc

lý do không rõ ràng hoặc do quy hoạch treo mà người dân không được cấp giấy chứngnhận Dạng khiếu nại này phát sinh một phần từ sai sót của cơ quan có thẩm quyền.Tuy nhiên, dạng khiếu nại này đang có chiều hướng giảm dần do các cơ quan có thẩmquyền đã tăng cường công tác cải cách hành chính trong việc thực hiện các thủ tụchành chính về đất đai Đối tượng bị khiếu nại là các quyết định của UBND cấp huyện,

và hành vi của cán bộ địa chính cấp xã, các cán bộ, công chức trực tiếp thực hiện cácthủ tục hành chính về đất đai Một số vụ điển hình cho dạng khiếu nại này như: vụ bàNguyễn Thị Kim Bích, ở phường Chánh Lộ khiếu nại hành vi hành chính của cán bộvăn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất chi nhánh thanh phố từ chối nhận hồ sơ xin cấpGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Bà, vụ khiếu nại của các ông, bà: NguyễnTông, Nguyễn Tách, Nguyễn Thị Đến, ở xã Nghĩa Hà khiếu nại quyết định hành chínhcủa UBND thành phố đó là quyết định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất choông Nguyễn Á…

Các đơn khiếu nại liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, GPMB, tái định

cư chiếm 49,4%trong tổng số đơn khiếu nại đất đai Các đoàn đông người thường tậptrung vào lĩnh vực này Điển hình một số vụ khiếu nại về bồi thường, GPMB đôngngười, kéo dài như: vụ khiếu nại của một số hộ dân Khu dân cư số 6, phường TrươngQuang Trọng khiếu nại về giá cả bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất của các hộxây dựng Khu dân cư 577; vụ khiếu nại của các ông, bà: ông Phạm Quận, ông Trần Bá

Ba, ông Trần Hiển, ông Nguyễn Thanh Vân, bà Nguyễn Hợi khiếu nại Quyết định thuhồi đất của UBND thành phố để thực hiện dự án Hạ tầng kỹ thuật khu dân cư trụcđường Bàu Giang – Cầu Mới; Vụ khiếu nại của một số hộ dân có đất bị thu hồi thuộc dự

án đường Nguyễn Công Phương; vụ khiếu nại của một số hộ dân có đất bị thu hồi thược

dự án đường Nguyễn Trãi mở rộng Khiếu nại QĐHC, HVHC trong lĩnh vực này tậptrung vào các nội dung chủ yếu như: xác định sai diện tích đất bị thu hồi, xác định sailoại đất để tính giá bồi thường, các khoản hỗ trợ, tái định cư, tái định cư tại chỗ; áp giá

Trang 17

không đúng quy định, sai vị trí, không nhân hệ số K; kiểm đếm tài sản và áp giá bồithường chưa chính xác; đòi nâng giá bồi thường, tăng tiền hỗ trợ; khiếu nại về việc bốtrí tái định cư Nguyên nhân do giá đất bồi thường thấp hơn giá đất cùng loại trên thịtrường, đặc biệt là đối với đất nông nghiệp trong khu vực đô thị, khu dân cư nôngthôn Tiền bồi thường đất nông nghiệp thường không đủ để nhận chuyển nhượng diệntích đất nông nghiệp tương tự hoặc không đủ để nhận chuyển nhượng đất sản xuấtkinh doanh phi nông nghiệp để chuyển sang làm ngành nghề khác Nhìn chung các địaphương, dự án chưa coi trọng việc lập khu tái định cư chung cho các dự án trên cùngđịa bàn, một số khu tái định cư đó được lập nhưng không bảo đảm điều kiện tốt hơnhoặc bằng nơi ở cũ, giá đất ở tại khu tái định cư của tỉnh ban hành quá cao nên tiềnnhận bồi thường không đủ trả cho đất, nhà ở tại khu tái định cư Các quy định củapháp luật về đất đai để giải quyết vấn đề tái định cư khá đầy đủ nhưng các địa phươngthực hiện chưa tốt, thậm chí một số địa phương chưa quan tâm giải quyết nhiệm vụnày dẫn đến tình trạng khiếu nại kéo dài Việc giải quyết các trường hợp này thườngmất nhiều thời gian, người khiếu nại không chấp hành đầy đủ các quyết định thu hồiđất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư của cơ quan nhà nước, chậm di dời, hoặc không chịu

di dời để bàn giao mặt bằng dẫn đến chậm trễ trong thời gian triển khai các dự án sửdụng đất, gây áp lực cho cơ quan chức năng, có những trường hợp UBND thành phốphải áp dụng biện pháp cưỡng chế thực hiện Quyết định thu hồi đất, như trường hợpcủa 07 hộ dân thuộc dự án Hạt Kiểm lâm tỉnh Quảng Ngãi, trường hợp của ông HồNgọc Phấn thuộc dự án Hạ tầng kỹ thuật khu dân cư trục đường Bàu Giang – CầuMới Một số trường hợp chủ đầu tư các dự án không tính toán mức độ ảnh hưởng của

dự án đến đời sống nhân dân nên khi dự án đi vào hoạt động nhân dân dù không bị thuhồi đất nhưng vẫn khiếu kiện đòi bồi thường do bị ảnh hưởng bởi dự án như Dự ántrường Đại học Phạm Văn Đồng, dự án khu công nghiệp Quảng Phú

Ngoài ra, còn có một số khiếu nại khác như: khiếu nại về việc không đổi đấtcho nhân dân sản xuất, khiếu nại về quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của UBNDcác xã, phường, UBND thành phố về việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền chậm giảiquyết khiếu nại của công dân, khiếu nại về bản án trong lĩnh vực đất đai, kiến nghị đòithực hiện các chính sách về đất đai như đề nghị miễn, giảm tiền sử dụng đất; khiếu nại

về quyết định xử phạt hành vi vi phạm hành chính trong quản lý, sử dụng đất đai; kiếnnghị xác định lại ranh giới, mốc giới sử dụng đất…Các khiếu nại, kiến nghị này chiếmkhoảng 13,4%trong tổng số đơn khiếu nại về đất đai

2.2.2 Về nội dung, đối tượng bị tố cáo

Về đơn tố cáo liên quan đến đất đai hiện nay thường thể hiện ở các nội dung chủyếu sau: tố cáo cán bộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn và lợi dụng các chương trình, dự áncủa Nhà nước để bao chiếm ruộng đất, chia chác đất đai, nhất là đối với các dự án pháttriển khu dân cư, các dư án bố trí tái định cư Tố cáo cán bộ cửa quyền, nhũng nhiễu trongviệc thực hiện các thủ tục hành chính về đất đai, như: giao đất; cho thuê đất; cho phépchuyển nhượng QSDĐ; cấp giấy chứng nhận QSDĐ; không thực hiện đúng trình tự, thủtục thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ.Tố cáo UBND giao đất trái thẩm quyền; giao đất, chothuê đất công ích không đúng đối tượng, không đúng quy hoạch; sử dụng tiền thu từ quỹđất công ích (5%) trái quy định của pháp luật Tố cáo hành vi trục lợi về đất đai thông qua

Trang 18

việc lập phương án hoặc điều chỉnh phương án quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạchđiểm dân cư nông thôn không phù hợp với thực tế, gây xáo trộn không cần thiết trong đờisống nhân dân Đơn tố cáo chiếm 3,8% trong tổng số đơn đất đai đã tiếp nhận Điển hình

là vụ tố cáo của bà Nguyễn Thị Lan, ở thôn 4, xã Nghĩa Dõng; vụ tố cáo của ông Phạmvăn Chương, ở tổ 14, phường Quảng Phú

Đối tượng bị khiếu nại, tố cáo chủ yếu là cán bộ cấp xã, thành phố, các chủ

sử dụng đất liền kề Trong đó: Tố cáo cán bộ xã, thôn chiếm 44,9%, tố cáo cán bộthành phố chiếm 21,8% và các nội dung khác chiếm 33,3%

2.2.3 Về nội dung tranh chấp đất đai

Đơn thư có nội dung tranh chấp chiếm khoảng 46,4% so với tổng số đơn tiếp nhận VềTCĐĐ phát sinh ở nhiều dạng, đa dạng và phức tạp, tập trung vào các vụ việc như: tranh chấpđất hương hoả, họ tộc; tranh chấp ranh giới giữa các chủ sử dụng đất liền kề; tranh chấp vềdiện tích đất đã mua bán, chuyển nhượng trao tay mà chưa làm đầy đủ thủ tục theo đúng quyđịnh của pháp luật; đòi lại đất cũ, tài sản của dòng họ, của người thân trong các giai đoạn khácnhau; tranh chấp quyền thừa kế QSDĐ, thừa kế tài sản gắn liền với QSDĐ, tranh chấp nhà đất

do đó cho mượn, cho thuê, cho ở nhờ; tranh chấp hợp đồng chuyển QSDĐ; khiếu nại việc giảiquyết tranh địa giới hành chính… Tranh chấp giữa các chủ sử dụng đất liền kề (thường giữahai hộ gia đình với nhau) chiếm tỷ lệ cao, gần 88,3% trong tổng số đơn có nội dung tranhchấp Tranh chấp về đòi lại đất cũ chiếm 11,7% Điển hình là vụ tranh chấp quyền sử dụngđất giữa bà Đặng Thị Lan với bà Nguyễn Thị Mai, ở xã Nghĩa Dõng đã được UBND thànhphố, UBND tỉnh giải quyết, khi giải quyết xong thì bà Đặng Thị Lan chuyển sang tố cáo một

số cán bộ UBND xã; vụ tranh chấp đất đường đi giữa ông Nguyễn Thuận và một số hộ dân ở

tổ 2 phường Trần Hưng Đạo

2.3 Phân tích các nguyên nhân dẫn đến khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai

Có nhiều nguyên nhân làm phát sinh tranh chấp, khiếu kiện về đất đai, nhưngchủ yếu vẫn tập trung vào các nguyên nhân sau đây:

2.3.1 Sự bất cập của hệ thống chính sách pháp luật về đất đai và giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai.

Thời gian qua, hệ thống pháp luật quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranhchấp chưa đồng bộ Luật Khiếu nại, tố cáo và Luật Đất đai có các quy định khôngthống nhất trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tranh chấp của nhân dân như đã phântích ở Chương 1:Tổng quan các vấn đề nghiên cứu (mục 1.2.1.2) Việc phân định thẩmquyền giải quyết khiếu nại, tranh chấp về đất đai liên quan đến nhiều cơ quan khácnhau, mối quan hệ trong giải quyết KNTC, TCĐĐ giữa cơ quan hành chính với Toà ánnhân dân, giữa cơ quan chuyên ngành với Thanh tra chưa cụ thể, thống nhất dẫn đếnkhó khăn trong việc áp dụng giải quyết đơn thư KNTC, TCĐĐ của công dân

Một số quy định về đất đai phải sửa đổi, bổ sung nhiều lần trong thời gian ngắndẫn đến tình trạng thiếu ổn định, tính khả thi thấp, nhất là các quy định về bồi thường,

hỗ trợ và tái định cư là nguyên nhân gây ra nhiều so bì, khiếu kiện Một số quy địnhchưa phù hợp với thực tiễn như quy định về việc thỏa thuận bồi thường khi thu hồi đấtvào mục đích phát triển kinh tế đã tạo ra cơ chế hai giá đất; quy định về nguyên tắcđịnh giá đất, khung giá đất do Chính phủ quy định theo 3 vùng; quy định về thời hạn,hạn mức sử dụng đất nông nghiệp, quy định hình thức thuê đất của nhà đầu tư trongnước và nước ngoài… Một số vấn đề phát sinh chưa được quy định cụ thể như việc sử

Trang 19

dụng đất để đầu tư xây dựng công trình ngầm, đầu tư xây dựng nghĩa trang, nghĩa địa

để kinh doanh Mặt khác, chính sách, pháp luật về đất đai chưa theo kịp cơ chế kinh

tế thị trường, đặc biệt là chính sách tài chính đất đai chưa điều tiết hoặc đã điều tiết,phân phối nhưng chưa hợp lý phần giá trị tăng thêm mang lại từ đất khi sử dụng đấtcho các dự án đầu tư như trong công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chongười có đất bị thu hồi

Những tồn tại, hạn chế nêu trên đã làm giảm hiệu lực, hiệu quả các văn bảnQPPL về đất đai và pháp luật về KNTC, là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫnđến tình trạng KNTC của công dân, gây khó khăn cho việc thực hiện quyền KNTC củacông dân, nhất là tình hình KNTC đông người, phức tạp trong thời gian qua

2.3.2 Sự yếu kém trong công tác tổ chức thi hành pháp luật về đất đai

- Việc áp dụng pháp luật về đất đai của các địa phương còn nhiều bất cập, nhất

là trong việc thu hồi đất chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền của Nhà nước với

tư cách là đại diện sở hữu toàn dân về đất đai và quyền của người sử dụng đất đã đượcpháp luật công nhận, dẫn tới nhấn mạnh quyền thu hồi đất của Nhà nước, nhấn mạnhviệc tạo vốn từ quỹ đất mà chưa quan tâm đầy đủ lợi ích chính đáng của người sử dụngđất Đặc biệt là trong việc định giá đất bồi thường, xử lý mối tương quan giữa giá đấtthu hồi với giá đất tái định cư Giá đất bồi thường thấp hơn giá đất cùng loại trên thịtrường, đặc biệt là đối với đất nông nghiệp trong khu vực đô thị Những trường hợp bịthu hồi toàn bộ đất nông nghiệp thì tiền bồi thường không đủ để nhận chuyển nhượngdiện tích đất khác tương tự hoặc cũng không đủ để chuyển sang làm một công việckhác Có trường hợp bị thu hồi đất ở thì tiền bồi thường không đủ để mua lại nhà ởmới tại khu tái định cư Việc chưa điều chỉnh kịp thời giá đất để tính bồi thường khiNhà nước thực hiện dự án có liên quan đến nhiều tỉnh hoặc việc cho người có nhu cầu

sử dụng đất phát triển các dự án tự thoả thuận bồi thường với người dân đang sử dụngđất, người được giao đất muốn GPMB nhanh đã chấp nhận giá bồi thường cao hơn quyđịnh của Nhà nước làm cho mức đền bù chênh lệch trên cùng một khu vực, từ đó phátsinh khiếu nại

- Sau khi có Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành nhiềuđịa phương, nhất là cán bộ cấp cơ sở vẫn chưa nắm chắc những đổi mới, những quyđịnh mới của pháp luật về đất đai nên vẫn còn áp dụng những quy định cũ đã bị huỷ bỏhoặc thay thế, nhiều trường hợp áp dụng sai quy định Những bất cập này đã tạo nênnhững vụ việc khiếu kiện mới về đất đai

- Công tác quản lý đất đai cũng còn nhiều bất cập Việc đầu tư cho công tácquản lý đất đai chưa được chú trọng nên hồ sơ địa chính không đồng bộ, sổ sách, bản

đồ, tư liệu thiếu Công tác lưu trữ tư liệu địa chính chưa tốt dẫn đến việc xác địnhnguồn gốc, quá trình sử dụng đất gặp nhiều khó khăn Những tồn tại có tính lịch sử,như việc cho thuê, cho mượn, cầm cố đất trong nội bộ nhân dân, không có hoặc khônglưu giữ được các tài liệu, sổ sách khi trưng dụng, trưng thu, trưng mua, thu hồi đấtkhông có quyết định, chưa bồi thường hoặc đã bồi thường nhưng không lưu giữ hồ sơ,

đã gây khó khăn rất lớn cho quá trình giải quyết các vụ việc KNTC, TCĐĐ

- Công tác quy hoạch sử dụng đất chậm, việc chỉnh lý biến động đất đai khôngđược theo dõi, cập nhật thường xuyên dẫn đến việc tham mưu không đầy đủ, thiếu

Trang 20

chính xác trong việc quy hoạch, thu hồi đất và giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp

về đất đai Nhiều địa phương chưa có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết, dẫntới tuỳ tiện trong giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất.Quy hoạch sử dụng đất chất lượng chưa cao, chưa đồng bộ với các quy hoạch chuyênngành, tính kết nối liên vùng, và quản lý quy hoạch còn yếu, thu hồi đất, cho thuê đấtkhông đúng thẩm quyền, không theo quy hoạch

- Đa số các địa phương chưa đầu tư kinh phí thoả đáng để xây dựng hệ thống hồ

sơ địa chính, bảo đảm quản lý chặt chẽ đối với từng thửa đất Công tác cấp giấy chứngnhận QSDĐ chậm và trong một số trường hợp không chính xác

- Công tác kiểm tra, thanh tra chưa được quan tâm đúng mức, trong đó công táchậu kiểm đối với các dự án, công trình sau khi được giao đất, cho thuê đất ít được cácđịa phương chú ý Tình trạng sử dụng đất không đúng mục đích, không đúng tiến độ,không đầu tư theo dự án mà chỉ chờ chuyển nhượng kiếm chênh lệch giá đã ít đượcphát hiện và xử lý kịp thời Việc kiểm tra, thanh tra thực hiện chế độ công vụ và xử lýnhững vi phạm của cán bộ, công chức trong công tác quản lý và sử dụng đất đai chưađược đặt ra một cách cụ thể, tích cực

- Nguyên nhân từ việc quản lý thiếu chặt chẽ, còn sai sót của cơ quan nhà nướcnhư: đo đạc không chính xác diện tích, nhầm lẫn địa danh, thu hồi đất không có quyếtđịnh, không làm đầy đủ các thủ tục pháp lý, giao đất, cho thuê đất, đấu thầu đất, bồithường giải toả và sử dụng những khoản tiền thu được không công khai gây ngờ vựccho nhân dân

- Việc giao đất trái thẩm quyền, không đúng đối tượng, giao sai diện tích, vịtrí, sử dụng tiền thu từ đất sai quy định của pháp luật hoặc người sử dụng đất đã làm

đủ các nghĩa vụ theo quy định nhưng không được hợp thức QSDĐ, cấp giấy chứngnhận QSDĐ là những nguyên nhân tạo thành khiếu kiện đông người, thành các đoànkhiếu kiện đến các cơ quan hành chính

- Sự yếu kém, bất cập trong công tác quản lý đất đai cùng với một bộ phậnkhông nhỏ cán bộ, công chức có những hành vi vụ lợi trong quản lý, sử dụng đất đai,nhũng nhiễu, thiếu công tâm là nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh những khiếu nại,tranh chấp về đất đai

2.3.3 Sự bất cập trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp

- Trong tổ chức thực hiện pháp luật về giải quyết tranh chấp, KNTC, nhiều địaphương chưa làm tốt việc tiếp dân, nhận đơn, chưa hướng dẫn cụ thể theo pháp luật vềviệc nộp đơn để tình trạng người đi khiếu kiện đi hết nơi này đến nơi khác, một nộidung đơn mà gửi đi rất nhiều cơ quan Khi phát sinh khiếu kiện, đã không tập trung chỉđạo giải quyết kịp thời, thậm chí né tránh, đùn đẩy Nhiều vụ việc đã có quyết địnhgiải quyết cuối cùng nhưng việc tổ chức thi hành quyết định không nghiêm, cơ quan raquyết định thiếu kiểm tra, đôn đốc kịp thời để giải quyết dứt điểm; một số vụ việc đã

có kết luận hoặc quyết định giải quyết nhưng không có tính khả thi trong tổ chức thihành dẫn tới phát sinh những khiếu kiện mới phức tạp hơn

- Các vụ việc đã được giải quyết nhưng việc tổ chức thực hiện quyết định giảiquyết chưa tốt, thiếu kiểm tra, đôn đốc kịp thời để khiếu kiện kéo dài, gây bức xúc,làm phát sinh những quan hệ khiếu kiện mới phức tạp hơn Một số địa phương sau khi

Trang 21

ban hành quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng cho rằng đã hết trách nhiệm, nhiềutrường hợp quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng có sai sót không được sửa đổi,

bổ sung do đó gây tâm lý ngờ vực về chính quyền địa phương giải quyết không đúngchính sách pháp luật và người dân tiếp tục khiếu nại

- Đất đai là vấn đề phức tạp, đã và đang phát sinh nhiều khiếu kiện, nhưng tổchức và cơ chế giải quyết khiếu kiện thiếu ổn định và nhìn chung bất cập so với yêucầu thực tế Giải quyết một vụ khiếu nại đòi hỏi phải có các bước điều tra, nghiên cứu,kết luận và thi hành kết luận (tương tự như một vụ án hành chính hoặc vụ án dân sự),

do đó cần một đội ngũ những người am hiểu pháp luật, có nghiệp vụ chuyên sâu vàlàm việc chuyên trách Nhưng công tác giải quyết khiếu nại hiện nay chủ yếu là kiêmnhiệm Khiếu nại, Tranh chấp về đất đai phát sinh ở cấp xã, phường do Chủ tịchUBND xã, phường là người chủ trì, chịu trách nhiệm chính về quyết định giải quyếtkhiếu nại lần đầu nhưng lại phải lo mọi việc của địa phương nên khó có điều kiệnchuyên tâm về việc này Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng giải quyếtkhiếu nại chậm chạp, thiếu dứt điểm, chất lượng thấp, tái khiếu nhiều

- Trong quá trình giải quyết các vụ việc tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, nhiều nơichưa nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật, nên có những trường hợp áp dụngchưa phù hợp Nhiều vụ việc tồn đọng mà nếu giải quyết thì sẽ kéo theo nhiều trườnghợp tương tự khác cũng phải giải quyết, nhưng không giải quyết thì người khiếu nạikhông chấp nhận

- Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai liên quan đến thẩmquyền của nhiều cơ quan khác nhau Tại các tỉnh, việc phân công thực hiện nhiệm vụtham mưu cho UBND trong việc giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đaikhông thống nhất, có nơi giao cho Thanh tra tỉnh chủ trì, có nơi giao cho Sở Tàinguyên và Môi trường chủ trì; ở cấp huyện có nơi giao cho Thanh tra huyện, có nơigiao cho Phòng Tài nguyên và Môi trường, thậm chí có nơi vừa giao cho Thanh travừa giao cho cơ quan Tài nguyên và Môi trường Tình trạng này đã gây khó khăn chocông dân và lúng túng trong việc xác định thẩm quyền tham mưu giải quyết

- Việc phối hợp giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai giữa các cơ quan cóthẩm quyền chưa được chặt chẽ và thống nhất, còn đùn đẩy trách nhiệm, có nhiều vụviệc còn có ý kiến khác nhau làm cho công dân tiếp khiếu dai dẳng

2.3.4 Ý thức, trách nhiệm chấp hành pháp luật của một bộ phận nhân dân

Nhà nước ta đã có một số biện pháp tích cực nhằm bảo đảm quyền lợi để độngviên khuyến khích công dân phát huy quyền khiếu nại, tố cáo Trong thực tế quyền nàyvẫn chưa được đảm bảo vì có sự tồn tại hạn chế trong việc giải quyết đơn thư khiếunại, tố cáo ở nhiều cơ quan có thẩm quyền ở nhiều vụ, việc cụ thể trên địa bàn gây ảnhhưởng rất tiêu cực đến ý thức trách nhiệm của họ Vì vậy, hành vi tố cáo chính danhrất ít có mà phổ biến chủ yếu là “nặc danh” mà loại đơn thư này pháp luật quy địnhkhông xem xét Trong thực tế có rất nhiều trường hợp công dân biết hành vi thamnhũng hoặc VPPL khác, nhưng họ không đủ dũng cảm đứng ra phản ánh vì nhiều lý

do như: thiếu hiểu biết, không có chứng cứ cụ thể, sợ trả thù, trùm úm trù dập, sợ baoche, chạy tội, trong khi họ cũng chẳng được gì

Hành vi tố cáo diễn ra phổ biến tại địa phương phần nhiều là đối tượng người bị

Trang 22

xâm phạm về quyền lợi cá nhân Do thiếu hiểu biết về pháp luật nên một số công dânđeo bám khiếu nại không được giải quyết thỏa mãn nên chuyển sang hành vi tố cáo

mà không có bằng chứng thuyết phục Thậm chí đã có nhiều trường hợp lợi dụngquyền khiếu tố để lăng mạ, chửi bới, vu khống cán bộ nhưng chưa ai bị truy cứutrách nhiệm về hành vi này, làm cho tình trạng công dân có biểu hiện ý thức xemthường cơ quan công quyền ngày càng phổ biến Điển hình là tại trụ sở tiếp dân củaUBND thành phố mỗi tháng tiếp công dân hai lần có từ 6 -12 công dân, thì trong sốnày có đến hơn một nữa công dân khiếu, tố đã được giải quyết, nhưng từ năm 2010đến nay vẫn đeo bám như trường hợp ông Nguyễn Tợ, ở phường Nghĩa Chánh khiếunại đòi lại đất cũ; bà Nguyễn Thị On khiếu nại đòi bồi thường đất ở khi nhà nước thuhồi đất thực hiện dự án nhà làm việc của Hạt Kiểm lâm tỉnh Quảng Ngãi; vụ bàNguyễn Thị Thới khiếu nại về giải quyết tranh chấp đất đai với gia đình ông NguyễnThuận Theo đó, tình hình thực hiện các quyết định giải quyết khiếu nại tố cáo hiệuquả còn thấp, do công dân phải có nghĩa vụ thực hiện không tự giác chấp hành mà có

ý thức đối phó, chây ì hoặc lẫn trách, buộc cơ quan chức năng phải thực hiện cácbiện pháp cưỡng chế, gây tốn kém về thời gian và tài chính

Do nhận thức của người dân về sở hữu đất đai không đồng nhất với quy địnhcủa pháp luật Trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng (đặc biệt là những ngườidân sống ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa hoặc người dân có trình độ học vấnthấp) vẫn tồn tại quan niệm đất đai là của ông cha, tổ tiên để lại Hoặc cũng có một sốngười dân quan niệm rằng đất đai là của Nhà nước nhưng khi Nhà nước đã giao cho sửdụng ổn định lâu dài và cấp giấy chứng nhận QSDĐ thì là của họ Chính vì nhận thứckhông đúng này nên trong điều kiện kinh tế thị trường, đất đai ngày càng trở lên có giáthì tình trạng đòi lại đất của ông cha ngày càng gia tăng

Nhiều vụ việc tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai mặc dù các cấp, cácngành ở Trung ương và địa phương đã nỗ lực cố gắng vận dụng chính sách giải quyết

có lý, có tình, phù hợp với tình hình thực tế và đúng với quy định của pháp luật, đãđược đối thoại trực tiếp nhiều lần nhưng do nhiều động cơ khác nhau người khiếu nạivẫn cố tình đeo bám, khiếu kiện và làm cho tình hình trở nên phức tạp hơn

Một số đối tượng đi khiếu nại có hành vi vượt quá giới hạn, VPPL, lợi dụngquyền khiếu nại, tố cáo đã có hành vi quá khích gây mất trật tự an toàn công cộng, ảnhhưởng đến công tác và hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước Tình trạngngười khiếu nại gửi đơn tràn lan, vượt cấp đến nơi không có thẩm quyền giải quyếtvẫn diễn ra phổ biến Điển hình là trường hợp ông Trần Kỳ Đô, 60 tuổi, ở phường LêHồng Phong; vụ ông Lê Bá Mẫn, ở phường Trần Phú liên tục khiếu nại về chế độ hỗtrợ làm nhà ở cho người có công và tố cáo cán bộ phường tham nhũng nhưng không cócăn cứ, bằng chứng mà vẫn đeo bám khiếu tố kéo dài 10 năm

2.4 Kết quả cụ thể về giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai

Theo kết quả điều tra, thống kê, trong những năm qua, Thành uỷ, HĐND&UBND thành phố, các cấp Đảng ủy, Chính quyền từ thành phố đến cơ sở đã quantâm tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo củacông dân đạt kết quả tốt; đặc biệt là cơ quan Thanh tra thành phố đã tham mưu tíchcực, giúp Thủ trưởng cùng cấp giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân hàng năm

Ngày đăng: 07/06/2017, 15:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Luật Đất đai năm 2003, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đất đai năm 2003
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
3. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1998), Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
5. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2011), Luật Khiếu nại năm 2011, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Khiếu nại năm 2011
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
6. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2011), Luật Tố cáo năm 2011, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Tố cáo năm 2011
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
7. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Luật Đất đai năm 2013, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đất đai năm 2013
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2013
1. Chính phủ (2004), Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai Khác
4. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2004), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo năm ngày 15/6/2004 Khác
8. Thanh tra thành phố Quảng Ngãi (2010), Báo cáo số 01/BC-TTr ngày 07/01/2010 tình hình tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trong nhiệm kỳ 2005- 2010 Khác
9. Thanh tra thành phố Quảng Ngãi (2014), Báo cáo số 51/BC-TTr ngày 25/11/2014 tình hình tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trong nhiệm kỳ 2011-2015 Khác
10. Uỷ ban nhân dân thành phố Quảng Ngãi (2014), Báo cáo số 375/BC-UBND ngày 15/12/2014 tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh năm 2014 và nhiệm vụ phát triển năm 2015 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Công tác tiếp công dân tại UBND thành phố và UBND các xã, phường - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
Hình 2.1. Công tác tiếp công dân tại UBND thành phố và UBND các xã, phường (Trang 11)
Bảng 2.2. Tình hình tiếp nhận đơn thư KNTC, tranh chấp đất đai - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
Bảng 2.2. Tình hình tiếp nhận đơn thư KNTC, tranh chấp đất đai (Trang 12)
Bảng 2.3. Tình hình tiếp nhận và phân loại đơn thư trong lĩnh vực đất đai - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
Bảng 2.3. Tình hình tiếp nhận và phân loại đơn thư trong lĩnh vực đất đai (Trang 13)
Hình 2.4. Diễn biến tỷ lệ các loại đơn khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai so với tổng - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
Hình 2.4. Diễn biến tỷ lệ các loại đơn khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai so với tổng (Trang 14)
Hình 2.5. Tỷ lệ kết quả giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo giai đoạn 2009 – 2014 - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
Hình 2.5. Tỷ lệ kết quả giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo giai đoạn 2009 – 2014 (Trang 23)
Bảng 2.6. Kết quả xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
Bảng 2.6. Kết quả xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w