1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phát triển các mô hình thể thao giải trí cho cộng đồng giảng viên trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội

24 653 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 423,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn loai hình thể thao giải trí, từ đó đề tài đưa ra những đề xuất và ứng dụng một số biện pháp phát triển các mô hì

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thể dục thể thao (TDTT) là một mặt cấu thành của xã hội, nhằm tác động có chủ đích và hợp lý đến quá trình phát triển của con người, là một bộ phận không thể thiếu được trong nền giáo dục xã hội chủ nghĩa Tập luyện thể thao giúp con người ngày càng tăng cường sức khoẻ, phát triển cân đối về thể lực, trí lực, đạo đức, thẩm mỹ, tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng sống Rèn luyện TDTT là một biện pháp quan trọng đem lại sức khỏe và thể chất cường tráng cho thế hệ trẻ hiện nay

Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế xã hội nước ta phát triển mạnh mẽ theo xu thế hội nhập sâu rộng với các nước trên thế giới cũng như trong khu vực Cùng với sự phát triển về kinh tế, hoạt động TDTT cũng được đầu tư phát triển và gặt hái được thành tựu mang tầm thế giới: Huy chương vàng Olympic thế giới với môn thể thao bắn súng đã nâng tầm vị thế thể thao Việt Nam trên đấu trường Quốc tế

Để thực hiện được điều đó văn kiện Đại hội Đảng IX đã chỉ rõ: “Đẩy mạnh hoạt động TDTT, nâng cao thể trạng và tầm vóc người Việt Nam Phát triển TDTT quần chúng

và mạng lưới TDTT rộng khắp”

2 Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn loai hình thể thao giải trí,

từ đó đề tài đưa ra những đề xuất và ứng dụng một số biện pháp phát triển các mô hình thể thao giải trí cho giảng viên Trường Đại học Tài Nguyên và Môi Trường Hà Nội, góp phần nâng cao sức khỏe, cải thiện thể chất nhằm nâng cao khả năng và hiệu quả làm việc cho cộng đồng giảng viên của Trường Đại học Tài Nguyên và Môi Trường Hà Nội

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Các mô hình thể thao giải trí cho cộng đồng giảng

viên trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp phát triển các mô hình thể thao giải

trí cho cộng đồng giảng viên trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội

4 Giả thuyết khoa học

Trang 2

2

Hiện nay việc tập luyện và tham gia các hoạt động thể thao giải trí của giảng viên Trường Đại học Tài Nguyên và Môi Trường Hà Nội là chưa nhiều, chất lượng tham gia còn thấp do nhiều nguyên nhân khác nhau cả về nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan ( các yếu tố chủ quan như: nhu cầu của GV với TTGT, vấn đề về hứng thú tham gia và điều kiện về sức khỏe các yếu tố khách quan như: phát triển cơ sở vật chất, hạ tầng phục vụ cho TTGT…) Nếu nghiên cứu các biện pháp và ứng dụng chúng để phát triển các mô hình thể thao giải trí phù hợp dẫn tới thu hút được GV tham gia đông thì sẽ có tác dụng nâng cao hiệu quả làm việc trí óc của giảng viên Trường Đại học Tài Nguyên và Môi Trường Hà Nội

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

7 Phương pháp nghiên cứu

8 Cấu trúc luận văn

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÁC MÔ HÌNH THỂ THAO

GIẢI TRÍ CHO CỘNG ĐỒNG GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC 1.1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1.Ở nước ngoài

tư quá lớn về

Xuất phát từ đặc thù này, thể thao giải trí nhanh chóng có bước phát triển mạnh

mẽ và trên thực tế, không chỉ dừng ở mức "giải trí" đơn thuần mang tính tự phát, loại hình thể thao này đã trở thành bộ phận quan trọng trong đời sống thể thao hiện đại tồn tại song song với các môn thể thao chuyên nghiệp Giờ đây, cái khái niệm "non-olympic sports" (Các môn thể thao không thuộc hệ thống thi đấu Olympic - PV) đã

Trang 3

3

trở nên quen thuộc với người hâm mộ trên toàn cầu cùng hệ thống Ủy ban, Liên đoàn, hiệp hội và các giải đấu cấp quốc tế như: World Games; X-Games Cũng với sự phát triển này, nhiều môn thể thao trước đây chỉ được xem là mang nặng tính giải trí đã xuất hiện trong các đại hội thể thao quốc tế chính thức như: khiêu vũ thể thao; thể thao điện tử (E-sports); bowling; thể thao biển, leo núi

Trương Hồng Đàm [12] lại quan tâm tới lý luận TDTT giải trí, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến giải trí và thể thao giải trí

Còn Chu Hồng Bình, Tô Gia Phúc [2] lại nêu vấn đề có tính thực tiễn hơn bằng cách tiến hành giải trí hóa giờ học điền kinh để tạo nên sự hứng thú cần thiết trong việc dạy học ở môn này nhằm khắc phục sự thờ ơ của đông đảo sinh viên chuyên sâu điền kinh

1.1.2 Ở trong nước

Trở lại với Thể thao Việt Nam Nhằm phục vụ nhu cầu vui chơi và nâng cao sức khỏe, thể thao giải trí tự thân nó đã hình thành và phát triển, đặc biệt là tại các đô thị lớn, nơi có mặt bằng kinh tế - xã hội cao hơn Dù còn manh nha dưới dạng tiềm năng và gắn nhiều với hoạt động kinh doanh hơn là thuộc phạm trù thể thao, nhưng nhiều môn như: đua chó (tại Vũng Tàu); đua ngựa (tại TP Hồ Chí Minh) cùng hệ thống các câu lạc bộ thể dục thể thao (khiêu vũ thể thao, billiards, thể thao điện tử, thể hình, thể thao dưới nước, golf, quần vợt ) đã hình thành, phát triển khá rầm rộ

1.2.Các khái niệm cơ bản

1.2.1 Thể thao giải trí

Chỉ số cơ bản của những thành tựu về thể thao là mức độ sức khoẻ, mức độ phát triển toàn diện các năng lực thể chất, mức độ nghệ thuật thể thao và mức độ thâm nhập của những biện pháp giáo dục thể chất vào đòi sống hàng ngày của con người

Thể thao là bộ phận cấu thành của văn hoá thể chất, một mặt quan trọng của quá trình sư phạm, đồng thời là một bộ phận của giáo dục thể chất ở giai đoạn huấn luyện cơ sở

Trang 4

4

Trong đề tài này, khái niệm TDTT giải trí được hiểu là một lĩnh vực nằm ngoài lĩnh vực GDTC và nâng cao thành tích thể thao, trong đó con người tự do lựa chọn phương tiện TDTT (môn tập) mà mình ưa thích để hoạt động trong thời gian nhàn rỗi

vì củng cố và nâng cao sức khỏe về thể chất và tinh thần

Nói đến TDTT giải trí, chúng ta không thể không đề cập đến những đặc điểm của nó Theo Dương Nghiệp Chí và cộng sự, những đặc điểm đó là:

Đa số các phương tiện TDTT giải trí tương đối đơn giản, dễ sử dụng, rất thuận tiện cho người tập Nội dung và hình thức bài tập TDTT giải trí đơn giản, cấu trúc buổi tập và kỹ thuật của bài tập thể lực không quá chặt chẽ

Các phương pháp GDTC ứng dụng trong TDTT giải trí linh hoạt và không cần định mức chặt chẽ lượng vận động, phương pháp thi đấu linh hoạt, chủ yếu theo sự thỏa thuận của những người chơi

1.2.2 Mô hình thể thao giải trí

Đặc điểm chung của tất cả các loại mô hình là không nhất thiết giống 100% cái nó cần thể hiện, miễn là nó thỏa mãn được yêu cầu cơ bản nhất của người sáng tạo nó đặt

ra, đôi khi mang tính lãng mạn chủ quan Với mô hình ô tô đồ chơi bằng đất xét hay bằng nhựa của trẻ con đâu có cần nó phải to như thật, có nội ngoại thất như thật, thậm chí cũng chẳng cần nó phải tự chạy được, miễn là mang hình hài cơ bản nhất của chiếc ô tô! Các phát hiện khoa học về hiện tượng quá trình nào đó trong tự nhiên cũng như trong

xã hội viết dưới dạng công thức đôi khi cũng không nhất thiết “vế trái” trùng khớp với

“vế phải” Đó là vì công thức lập ra bởi kinh nghiệm hay thực nghiệm trong đó những tham số không có vai trò cơ bản vô tình hay cố ý bị bỏ qua, miễn là người nghiên cứu định lượng được mối quan hệ của các tham số cơ bản nhất đặc trưng cho quá trình hiện tượng được nghiên cứu Trong thể thao cũng vậy, nó thể hiện ở các dạng mô hình khác nhau: mô hình câu lạc bộ, mô hình trung tâm thể thao

1.2.3 Cộng đồng giảng viên

Theo tác giả Phạm Hồng Trung :“Cộng đồng” là một khái niệm đã và đang được

sử dụng khá rộng rãi trên văn đàn khoa học, trong nhiều lĩnh vực như sử học, văn hóa học, xã hội học, tâm lý học, triết học, nhân học, sinh học, nghiên cứu phát triển

Trang 5

5

v.v… [9] Vì vậy, một yêu cầu khách quan đặt ra là phải có những cách định nghĩa về khái niêm “cộng đồng” để xây dựng được một định nghĩa vừa đảm bảo tính chặt chẽ, khoa học, vừa có tính công cụ hay tính “thao tác luận” (functionalist) cao, làm cơ sở và

là công cụ cho những nghiên cứu về cộng đồng và các vấn đề có liên quan đến cộng đồng Đây là một vấn đề đã được bàn thảo khá nhiều ở nước ngoài, song cón chưa được quan tâm thỏa đáng ở Việt Nam Thuật ngữ “cộng đồng” vốn bắt nguồn từ gốc tiếng Latin là “cummunitas”, với nghĩa là toàn bộ tín đồ của một tôn giáo hay toàn bộ những

người đi theo một thủ lĩnh nào đó Một số quan điểm cho rằng:

- Cộng đồng phải là tập hợp của một số đông người;

- Mỗi cộng đồng phải có một bản sắc bản thể riêng;

- Các thành viên của cộng đồng phải tự cảm thấy có sự gắn kết với cộng đồng

và với thành viên khác của cộng đồng;

- Có thể có nhiều yếu tố tạo nên bản sắc và sức bền gắn kết cộng đồng, nhưng quan trọng nhất chính là sự thống nhất về ý chí và chia sẻ về tình cảm, tạo nên ý thức cộng đồng;

- Mỗi cộng đồng đều có những tiêu chí bên ngoài để nhận biết về cộng đồng

và có những quy tắc chế định hoạt động và ứng xử chung của cộng đồng;

1.3 Phát triển mô hình thể thao giải trí cho cộng đồng giảng viên trường Đại học

1.3.1.Vai trò của việc phát triển mô hình thể thao giải trí cho giảng viên

Giải trí là một thực tiễn tích cực của cá nhân hay tập thể Giải trí đã trở thành một hiện tượng xã hội quan trọng Các kỳ nghỉ ngày càng nhiều, người đi nghỉ hè, du lịch, nghỉ cuối tuần, đi ra nước ngoài ngày một đông Tốc độ phát triển các hoạt động thể dục thể thao giải trí phát triển mạnh mẽ Số người tham gia các hoạt động thể dục thể thao tăng lên Ở các nước phát triển người ta coi việc giải trí như mục tiêu theo đuổi của cuộc sống và cũng thông qua các hoạt động giải trí để đánh giá chất lượng của cuộc sống

Trên thế giới, thể thao giải trí là một bộ phận quan trọng và cấu thành của nền thể dục thể thao Xã hội càng phát triển, đời sống nhân dân càng cao, nhu cầu thể

Trang 6

6

thao giải trí càng lớn Ở nước ta, thể thao giải trí đã bước đầu phát triển tốt Vì vậy, thể thao giải trí đã được thể chế hoá trong Luật thể dục, thể thao công bố ngày 12/12/2006 Thể thao giải trí đang phát triển thuận lợi nhờ sự hình thành các tổ chức

xã hội tương ứng như Hội thể thao điện tử và giải trí Việt Nam Để tiếp tục phát triển thể thao giải trí, chúng ta cần đưa môn học "thể thao giải trí" vào giảng dạy tại các trường cao đẳng và đại học thể dục thể thao trên quy mô toàn quốc Có thể coi môn học này như một bộ phận tương đối độc lập, góp phần hoàn thiện tổng thể "Lý luận

và phương pháp thể dục thể thao"

Thể thao giải trí được thừa nhận là một bộ phận của nền thể dục, thể thao Thể thao giải trí là bộ phận trong cấu trúc thể dục, thể thao cho mọi người hoặc là bộ phận hợp thành của thể dục, thể thao Vì vậy, chúng ta muốn phát triển thể thao giải trí, cần xúc tiến nghiên cứu về lý luận và thực tiễn hoạt động thể thao giải trí Vị trí của thể thao giải trí ở nước ta được khẳng định là một bộ phận cấu thành của thể dục, thể thao cho mọi người bao gồm cả thể dục, thể thao quần chúng, giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường, thể thao trong lực lượng vũ trang Nói cách khác, thể thao giải trí là bộ phận hữu cơ của đa số các bộ phận cấu thành nền thể dục thể thao Việt Nam

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc phát triển các mô hình thể thao giải trí cho cộng đồng giảng viên trường Đại học

1.4.1 Các yếu tố chủ quan

Những yếu tố chủ quan có ảnh hưởng lớn nhất đến việc phát triển các mô hình thể thao giải trí chính là nhu cầu, thái độ và động cơ của giảng viên đối với hoạt động này Như vậy, ngay bản thân giảng viên chưa ý thức được vai trò và tác dụng của việc luyện tập thể thao đối với đời sống thể chất cũng như đời sống tinh thần của cá nhân Đây chính là nhân tố chủ quan lớn nhất có ảnh hưởng đến việc phát triển các mô hình thể thao giải trí của cộng đồng giảng viên

Trang 7

Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội được thành lập theo quyết định số 1583/QĐ-TTg, ngày 23 tháng 8 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ

sở nâng cấp trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế rất lớn đòi hỏi cần phải đào tạo nguồn nhân lực tài nguyên và môi trường

có trình độ đại học và sau đại học gắn với các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường ( Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập năm 2002, vào

Trang 8

Số cán bộ do nhà trường đào tạo đã và đang công tác tại các đơn vị thuộc ngành Tài nguyên và Môi trường và nhiều ngành kinh tế xã hội khác như: Hàng không dân dụng Việt Nam, Quân chủng phòng không không quân, Quân chủng Hải quân, Lâm nghiệp, Giao thông, Thủy lợi, Nông nghiệp, Xây dựng, Công an Nhà trường cũng đã có nhiều năm đào tạo về lĩnh vực tài nguyên môi trường cho nước bạn Lào và Campuchia Sau khi ra trường nhiều cán bộ đã giữ những trọng trách quan trọng trong các đơn vị, các cơ sở sản xuất, đồng thời có những đóng góp quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội của ngành và đất nước Đó là những thành tựu đáng được ghi nhận

Việc thành lập trường Đại học thể hiện quyết tâm của Đảng ủy, Ban giám hiệu, tập thể cán bộ, giảng viên, sinh viên Nhà trường thực hiện chủ trương của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc thành lập trường Đại học trực thuộc Bộ Vào thời điểm

đó Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ có một trường cao đẳng và bốn trường trung học đào tạo về khí tượng, thủy văn và địa chính, chưa có trường Đại học Nguồn nhân lực

có trình độ Đại học trong ngành chủ yếu được đào tạo từ nhiều trường khác nhau trong cả nước Do vậy, việc thành lập một trường đại học trực thuộc Bộ nhằm đào tạo nguồn nhân lực có trình độ đại học chuyên sâu về lĩnh vực tài nguyên môi trường là rất cần thiết

Trước tình hình đó, ngay từ khi mới thành lập( năm 2002) Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có chủ trương thành lập một trường Đại học trực thuộc Bộ Chính vì

Trang 9

9

vậy ngày 01 tháng 3 năm 2004 Bộ tài nguyên và Môi trường đã có văn bản đề nghị Thủ tướng phê duyệt đề án sắp xếp lại hệ thống các trường thuộc Bộ, trong đó có một trường đại học ở Hà Nội và hai trường cao đẳng ( 1 trường ở miền trung và 1 trường

ở thành phố Hồ Chí Minh) Từ đề nghị của Bộ Tài nguyên và Môi trường, ngày 29 tháng 9 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án sắp xếp và định hướng phát triển các trường trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong đó có việc sẽ thành lập Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội vào năm 2010 ( quyết định số 172/ 2004/ QĐ- TTg, ngày 29 tháng 9 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ) Ngày 22/3/2010 trong Công văn số 483/TTg- KGVX, Thủ tướng Chính phủ đồng ý chủ trương thành lập trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường

Từ các chủ trương này, được sự quan tâm của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Nhà trường đã bắt tay vào việc chuẩn bị các điều kiện thành lập trường đại học Một mặt, Nhà trường tiếp nhận thêm giảng viên có trình độ thạc sỹ và tiến sỹ, cử hàng chục người đi làm nghiên cứu sinh với nhiều chính sách ưu đãi Đồng thời về sơ sở vật chất, mở rộng thêm 1,35 ha ( đất ở cơ sở chính tăng lên 2,4 ha) triển khai dự án

Dự án tăng cường cơ sở vật chất trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội chuẩn bị cho việc thành lập trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội Xây mới bổ sung các phòng thí nghiệm trong đó phòng thí nghiệm môi trường được đánh giá là một cơ sở thí nghiệm vào loại hiện đại nhất so với các phòng thí nghiệm của các trường ở miền Bắc Bên cạnh đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường đồng ý cho phép nhà trường sử dụng đội ngũ gần 70 tiến sĩ cũng như các phòng thí nghiệm môi trường, dự báo khí tượng thủy văn, viễn thám thuộc các cơ quan trong Bộ nhằm bổ sung đội ngũ và cơ sở vật chất phục vụ cho việc đào tạo đại học

Trong những cố gắng ấy, Nhà trường ghi nhận những cố gắng của các cán bộ

đi làm nghiên cứu sinh, những tiến sĩ, phó giáo sư từ nơi khác về trường góp phần tạo nên đội ngũ hơn 50 cán bộ giảng dạy có trình độ tiến sĩ, phó giáo sư như hiện nay Chính đội ngũ này đã góp phần giúp Nhà trường có điều kiện thành lập trường đại học và đang làm nên sức mạnh của Nhà trường: họ là những cán bộ lãnh đạo, những

Trang 10

10

người đang đi đầu trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế Nhà trường đánh giá cao đội ngũ cán bộ quản lý thời kì ấy rất năng động, sáng tạo góp phần xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho công tác đào tạo đại học: đủ chỗ học, chỗ làm việc và chỗ thực hành với các thiết bị hiện đại

Có thể nói việc nâng cấp Trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội thành trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội là một bước ngoặt, một sự phát triển, mở ra thời kì mới, tạo điều kiện cho nhà trường vươn lên tầm cao hơn, thay đổi cả về quy mô, tầm vóc và vị thế trong hệ thống giáo dục quốc dân Mặt khác, việc thành lập trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã đáp ứng kịp thời việc đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Tài nguyên và Môi trường từ Trung ương đến địa phương có trình độ đại học, sau đại học với các kiến thức đào tạo gắn liền với các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và môi trường

Trong một thời gian rất ngắn khi lên đại học so với chặng đường lịch sử 60 năm, nhà trường đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, xây dựng cơ sở vật chất theo định hướng phát triển trường thành một trường đại học trọng điểm trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường của đất nước, từng bước hội nhập với trình độ của các trường đại học trong khu vực và quốc tế

2.2 Khái quát về quá trình khảo sát

2.2.1 Mục đích khảo sát

Đề tài tiến hành khảo sát với mục đích nắm bắt được tình hình phát triển các

mô hình thể thao giải trí cho cộng đồng giảng viên Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà nội ( số lượng mô hình, cơ cấu tổ chức thực hiện, cơ cấu độ tuổi …)

để từ đó đưa ra phương hướng phát triển tốt nhất cho các mô hình thể thao đó

2.2.2 Nội dung khảo sát

Đề tài tiến hành khảo sátvề các mô hình thể thao giải trí tại trường cho giảng viên trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà nội

Khảo sát về thực trạng giảng viên tham gia các mô hình thể thao giải trí trong trường

Trang 11

11

Khảo sát về thực trạng giảng viên trong nhà trường không tham gia vào các mô hình thể thao giải trí

2.2.3 Phương pháp khảo sát

Đề tài sử dụng các phương pháp để tiến hành khảo sát như:

- Phương pháp quan sát: đề tài sử dụng phương pháp quan sát để quan sát, theo dõi hoạt động của mô hình thể thao giải trí của nhà trường, quan sát cách thức tổ chức và tập luyện, các hoạt động của giảng viên tham gia vào các mô hình TTGT

- Phương pháp phỏng vấn tọa đàm: phương pháp này sử dụng với mục đích phỏng vấn các giảng viên, các chuyên gia ( có thể là các giáo viên chủ nhiệm các mô hình TTGT của nhà trường ) về các vấn đề có liên quan phục vụ cho quá trình làm đề tài

- Phương pháp toán học thống kê: phương pháp này được sử dụng để đưa ra được những con số, những kết luận chính xác về các nội dung được khảo sát

2.2.4 Đối tượng khảo sát

Đề tài lựa chọn ngẫu nhiên 200 giảng viên, cả nam và nữ của Nhà trường đến

từ các khoa, bộ môn khác nhau để tiến hành khảo sát

Bảng 1: Đối tượng khảo sát

Trang 12

12

Từ kết quả ở bảng 2 ta có thế thấy: số lượng giảng viên tham gia vào các mô hình TTGT còn chưa nhiều ở cả nam và nữ, cụ thể tổng số giảng viên tham gia chỉ chiếm 18%, trong đó số giảng viên nam chiếm 22%, nữ chỉ chiếm 14%

2.3.1 Thực trạng số giảng viên tham gia vào các mô hình thể thao giải trí của Nhà trường

Qua tiến hành điều tra ở trên, đề tài đã tìm ra được 36 trên tổng số 200 giảng viên trực tiếp tham gia vào các mô hình thể thao giải trí của nhà trường, trên cơ sở đó,

đề tài tiếp tục tiến hành khảo sát 36 giảng viên trên để thấy thực trạng của các mô hình TTGT của trường, cụ thể như sau:

Bảng 3: Mục đích tham gia TTGT của giảng viên trường Đại học Tài nguyên

và Môi trường Hà nội (n = 36 )

3 Phát triển thể chất, rèn luyện sức khỏe 32 88.9%

Qua bảng 2 cho ta thấy mục đích tham gia vào các hoạt động TTGT của giảng viên trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà nội đó là:

- Giảm căng thẳng, mệt mỏi

- Do đam mê, yêu thích

- Giúp phát triển thể lực, rèn luyện sức khỏe

- Làm đẹp…

2.3.1.2 Các mô hình TTGT mà giảng viên trường tham gia

Để biết được mô hình TTGT mà các giảng viên trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà nội tham gia, đề tài sử dụng phiếu hỏi với 36 giảng viên tham gia vào các mô hình TTGT, kết qua được trình bày ở bảng 4

Ngày đăng: 07/06/2017, 14:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w