Năm 2010, tập thể tác giả do Nguyễn Hữu Độ đứng đầu đã biên soạn tài liệu giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh cho học sinh Hà Nội và thí điểm đối với học sinh lớp 5 qua thực hiện các
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
PHẠM VĂN TUẤN
QUẢN LÝ GIÁO DỤC KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH
CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Hà Nội - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
PHẠM VĂN TUẤN
QUẢN LÝ GIÁO DỤC KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH
CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Chuyên ngành:Quản lý giáo dục
M SỐ 4 4
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Cán bộ hướng dẫn khoa học : PGS.TS BÙI MINH HIỀN
Hà Nội - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, tác giả đã nhận được sự động viên, khuyến khích và tạo điều kiện giúp đỡ nhiệt tình từ nhiều thầy
cô, đồng nghiệp và bạn bè Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
PGS.TS Bùi Minh Hiền- người trực tiếp hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ, góp ý, định hướng cho tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu
Tác giả xin trân trọng cảm ơn các giáo sư, tiến sĩ, các thầy cô giáo khoa Quản lý giáo dục trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn
và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, tạo điều kiện của Sở Giáo dục
và Đào tạo Hải Phòng, Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Ngô Quyền và Ban Giám hiệu, giáo viên, phụ huynh học sinh của trường Tiểu học Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Du, Lê Hồng Phong và Nguyễn Thượng Hiền đã nhiệt tình hợp tác, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thu thập dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu, hỗ trợ tác giả hoàn thiện luận văn
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn cổ vũ, động viên trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài
Do thời gian hạn hẹp nên luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế Kính mong các thầy cô giáo, các nhà khoa học, những người quan tâm đến đề tài cho ý kiến đóng góp để tác giả thực hiện tốt hơn nữa trong những lần nghiên cứu tiếp theo
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Tác giả
Phạm Văn Tuấn
Trang 4Giáo dục và Đào tạo
Giáo dục kỹ giao tiếp Giáo viên
Giáo viên chủ nhiệm Đại học Sư phạm Học sinh
Kỹ năng giao tiếp Nhân viên
Quản lý nhà trường Quản lý giáo dục Tiểu học
Trung học phổ thông Tổng phụ trách
Uỷ ban nhân dân
Tổ chức Văn hóa - Giáo dục và Khoa học của Liên Hợp Quốc
Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
Chương CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNGTIỂU HỌC 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Trên thế giới 6
1.1.2 Ở Việt Nam 10
1.2 Một số khái niệm cơ bản 13
1.2.1 Quản lý giáo dục 13
1.2.2 Quản lý nhà trường 13
1.2.3 Kĩ năng giao tiếp 14
1.2.4 Giáo dục kĩ năng giao tiếp 18
1.2.5 Quản lý giáo dục kĩ năng giao tiếp 19
1.3 Các kỹ năng giao tiếp của học sinh Tiểu học 19
1.4 Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh Tiểu học 21
1.4.1 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh Tiểu học 21
1.4.2 Tầm quan trọng của việc GDKNGT cho học sinh Tiểu học 22
1.4.3 Nội dung GDKNGT cho học sinh Tiểu học 26
1.4.4 Hình thức tổ chức GDKNGT cho học sinh Tiểu học 29
1.4.5 Các lực lượng GDKNGT cho học sinh Tiểu học 31
1.5 Nội dung quản lý GDKNGT cho học sinh Tiểu học 32
1.5.1 Lập kế hoạch giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh 32
1.5.2 Tổ chức bộ máy nhân sự tham gia giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh 33
1.5.3 Chỉ đạo các hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh 33
1.5.4 Kiểm tra, đánh giá kết quả GDKNGT cho học sinh 39
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý GDKNGT cho học sinh Tiểu học 40
1.6.1 Các yếu tố khách quan: 40
1.6.2 Các yếu tố chủ quan 40
Trang 6Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH
PHỐ HẢI PHÒNG 44
2.1 Khái quát về kinh tế - xã hội và giáo dục Tiểu học quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng 44
2.1.1 Vài nét về điều kiện kinh tế - xã hội quận Ngô Quyền 44
2.1.2 Giáo dục Tiểu học và đội ngũ hiệu trưởng các trường tiểu học trong quận Ngô Quyền 46
2.2 Giới thiệu tổ chức khảo sát thực trạng: 47
2.2.1 Mục đích khảo sát: 47
2.2.2 Nội dung khảo sát: 48
2.3.3 Đối tượng khảo sát: 48
2.2.4 Phương pháp khảo sát: 48
2.3 Thực trạng giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh các trường tiểu học quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng 48
2.3.1 Thực trạng nhận thức của các lực lượng giáo dục về tầm quan trọng, sự cần thiết phải GDKNGT cho học sinh tiểu học tại quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng 48
2.3.2.Thực trạng nội dung, phương pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh các trường tiểu học quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng 52
2.3.3 Thực trạng kết quả GDKNGT cho học sinh tiểu học quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng 57
2.4 Thực trạng quản lý giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh các trường tiểu học quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng 59
2.4.1 Thực trạng lập kế hoạch giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh 59
2.4.2 Thực trạng tổ chức máy nhân sự tham gia giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh 62
2.4.3 Thực trạng chỉ đạo hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh 64
2.4.4 Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả GDKNGT cho học sinh 65
2.5 Đánh giá chung về thực trạng: 66
2.5.1 Những điểm mạnh 66
2.5.2 Những hạn chế 67
2.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế 67
Trang 7Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN NGÔ QUYỀN - THÀNH
PHỐ HẢI PHÒNG 72
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 72
3.1.1 Đảm bảo tính mục đích 72
3.1.2 Đảm bảo tính đồng bộ và phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh 72
3.1.3 Đảm bảo tính thực tiễn và tính khả thi 73
3.1.4 Đảm bảo tính kế thừa và phát triển 73
3.2 Các biện pháp quản lý GDKNGT cho học sinh Tiểu học quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng 74
3.2.1 Nâng cao nhận thức của các lực lượng giáo dục về tầm quan trọng của hoạt động GDKNGT cho học sinh Tiểu học 74
3.2.2 Tổ chức, bồi dưỡng nâng cao năng lực của bộ máy nhân sự, đội ngũ giáo viên về GDKNGT cho học sinh 77
3.2.3 Chỉ đạo GDKNGT cho học sinh thông qua dạy tích hợp các môn học và thông qua tổ chức tốt các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 80
3.2.4 Phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng giáo dục: gia đình, nhà trường và xã hội trong việc GDKNGT cho học sinh 83
3.2.5 Thực hiện nghiêm túc kiểm tra, đánh giá, thi đua khen về GDKNGT cho học sinh Tiểu học 86
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp đề xuất 89
3.4 Khảo nghiệm nhận thức về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 90
3.4.1 Các bước khảo nghiệm 90
3.4.2 Tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 95
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng HS, lớp học của các trường tiểu họcquận Ngô Quyền, thành phố
Hải Phòng năm học 2016 –2017 47
Bảng 2.2 Nhận thức của GV, CBQL về khái niệm giao tiếp 49
Bảng 2.3 Nhận thức của GV, CBQL về khái niệm kỹ năng giao tiếp 49
Bảng 2.4 Nhận thức của GV, CBQL về ý nghĩa GD kỹ năng giao tiếp 50
Bảng 2.5 Nhận thức về mức độ cần thiết của Quản lý giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học 51
Bảng 2.6: Thực trạng về nội dung giáo dục kỹ năng giao tiếp cho HS tiểu học quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng 52
Bảng 2.7 Thực trạng sử dụng phương pháp GD KN GT cho HSTH 55
Bảng 2.8 Hình thức giáo dục kỹ năng giao tiếp cho HS 56
Bảng 2.9 Đánh giá của CBQL, GV, phụ huynh HS về KNGT của học sinh lớp các trường Tiểu học quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng 57
Bảng 2.10 Tổng hợp kết quả đánh giá của Phòng GD&ĐT quận Ngô Quyền - thành phố Hải Phòng về việc xây dựng kế hoạch triển khai nhiệm vụ năm học của các trường Tiểu học trên địa bàn quận 60
Bảng 2.11 Tổng hợp kết quả đánh giá của cán bộ giáo viên về chất lượng kế hoạch giáo dục KNGT của cán bộ quản lý tại các trường tiểu học trong quận Ngô Quyền 61
Bảng 2.12 Phân công nhiệm vụ cho bộ máy nhân sự tham gia GDKNGT cho học sinh trong các trường Tiểu học quận Ngô Quyền - thành phố Hải Phòng 63
Bảng 2.13 Đánh giá thực trạng chỉ đạo giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh 64
Bảng 2.14.Thực trạng kiểm tra đánh giá kết quả GDKNGT cho học sinh 65
Bảng 3.1 Bảng khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp quản lý đề xuất 91
Bảng 3.2 Bảng khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp quản lý đề xuất 93
Bảng 3.3 Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý đã đề xuất 95
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của việc GDKNGT cho
học sinh Tiểu học 51
Biểu đồ 2.2 Đánh giá chất lượng về lập kế hoạch giáo dục kĩ năng giao tiếp của cán bộ quản lý các trường Tiểu học quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng 61
Biểu đồ 2.3 Phân công nhiệm vụ cho bộ máy nhân sự tham gia GDKNGT cho học sinh trong các trường Tiểu học quận Ngô Quyền - thành phố Hải Phòng 63
Sơ đồ 3.1 Mối quan hệ tương quan giữa các biện pháp đề xuất 90
Biểu đồ 3.2 Tính cần thiết của các biện pháp quản lý đã đề xuất 92
Biểu đồ 3.3 Tính khả thi của các biện pháp quản lý đã đề xuất 94
Biểu đồ 3.4 Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 95
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của mọi sự phát triển, vấn đề đặt ra cho mỗi quốc gia là muốn phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của đất nước thì phải phát triển con người Vì vậy hầu hết các quốc gia trong khu vực và trên thế giới đều rất quan tâm đến phát triển con người, coi giáo dục - đào tạo là “quốc sách hàng đầu” Trong bối cảnh đó, Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách phát triển giáo dục – đào tạo đồng
thời chỉ rõ mục tiêu giáo dục trong thời kì đổi mới của đất nước “chú trọng xây dựng nhân cách con người Việt Nam về lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, lối sống, thể chất, lòng tự tin dân tộc, trách nhiệm xã hội, ý thức chấp hành pháp luật cho thế
hệ trẻ…” [31]
Chiến lược phát triển giáo dục 2011- 2020, chính phủ xác định “đến năm
2020 nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện gồm: giáo dục đạo đức, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, chất lượng văn hóa và kĩ năng sống cơ bản cần thiết đặc biệt là kĩ năng giao tiếp để tiến tới hội nhập quốc tế” [69]
Để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện nhân cách con người đòi hỏi nhà trường nói chung và giáo dục tiểu học nói riêng không chỉ quan tâm trang bị tri thức
mà cần đề cao trang bị các kĩ năng cần thiết để thể hiện thái độ cùng hòa nhập và chung sống Trong cuộc sống xã hội, quan hệ giữa người với người, quá trình hoạt động trong mọi lĩnh vực thì giao tiếp đóng vai trò rất quan trọng Con người có thể giao tiếp với nhau bằng nhiều phương tiện, nhưng phương tiện thông thường và quan trọng nhất là ngôn ngữ “Giao tiếp là hoạt động trao đổi tư tưởng, tình cảm, cảm xúc nhằm thiết lập quan hệ, sự hiểu biết, sự cộng tác giữa các thành viên trong xã hội”
Trong quá trình dạy và học, giao tiếp càng đóng vai trò quan trọng hơn Nhưng ở bậc tiểu học, học sinh cần phải rèn luyện kĩ năng giao tiếp Nó được thể hiện hai phương diện “Nói-viết”
Trang 11Như vậy, “Nói - viết” như thế nào để mang lại hiệu quả cao trong học tập cho học sinh, giúp các em giao tiếp tốt hơn là vấn đề chúng ta cần phải quan tâm Kĩ năng giao tiếp không phải do bẩm sinh di truyền mà nó được hình thành, phát triển trong quá trình sống, qua hoạt động trải nghiệm, tập luyện, rèn luyện …vì vậy, muốn nâng cao chất lượng giáo dục thì cần thiết phải phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh
Giáo dục Tiểu học có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành nhân cách gốc cho học sinh, đặt cơ sở nền tảng để học sinh phát triển bền vững Mục tiêu giáo dục Tiểu học hướng vào trang bị kiến thức kĩ năng cơ bản ban đầu làm cơ sở để học sinh tiếp tục học ở các lớp cao hơn Nội dung giáo dục tiểu học tập trung vào các môn văn hóa, giáo dục đạo đức,… Trong những nội dung đó thì giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh chiếm vị trí, vai trò quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả giáo dục tiểu học Bởi vậy hoạt động dạy học, giáo dục, sinh hoạt trong nhà trường đều phải được thực hiện thông qua giao tiếp Giao tiếp ở trường Tiểu học được tiến hành trong mối quan hệ thầy – trò; trò- trò và mối quan
hệ thầy, trò với những người xung quanh Để giao tiếp thành công, hiệu quả đòi hỏi thầy giáo và học sinh phải có kĩ năng giao tiếp
Do đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học còn nhiều nét khác biệt về: nhận thức, xúc cảm, tình cảm, vốn ngôn ngữ, tính chủ động trong quá trình giao tiếp chưa cao nên còn nhút nhát, tự ti, lúng túng khi đứng trước đám đông, chưa có kĩ năng hợp tác, làm việc theo nhóm chưa có kĩ năng thích ứng, kĩ năng giải quyết vấn đề, đặc biệt là kiến thức về cuộc sống của học sinh còn nghèo nàn
Ở các trường Tiểu học quận Ngô Quyền việc giáo dục kĩ năng giao tiếp đã được quan tâm, tuy nhiên việc quản lý giáo dục kĩ năng giao tiếp chưa thực sự được chú trọng cho nên việc giáo dục kĩ năng sống và kĩ năng giao tiếp cho học sinh còn gặp nhiều khó khăn, kết quả giáo dục còn hạn chế, những chính sách về đầu tư, phát triển, xây dựng môi trường giáo dục … chưa thực sự tốt Đặc biệt trong công tác quản lý, chỉ đạo việc giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh Tiểu học nói chung, học sinh các trường tiểu học trên địa bàn quận Ngô Quyền nói riêng cũng chưa thực
sự được đề cao, quan tâm hay nếu có thì vẫn còn lúng túng khi xây dựng kế hoạch
và tổ chức thực hiện
Trang 12Xuất phát từ thực tế trên và cho đến nay, vẫn chưa có những công trình nghiên cứu nào về quản lý giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh Tiểu học ở quận
Ngô Quyền thành phố Hải Phòng Vì vậy tác giả đã chọn đề tài: “Quản lý giáo dục
kĩ năng giao tiếp cho học sinh các trường Tiểu học quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng” để nghiên cứu ở trình độ luận văn Thạc sỹ
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản lý giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh Tiểu học, đề tài đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh Tiểu học quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học hiện nay
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu:
Giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh Tiểu học
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Các biện pháp quản lý giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh các trường
Tiểu học quận Ngô Quyền - thành phố Hải Phòng
4 Giả thuyết khoa học
Hiện nay, giáo dục kĩ năng giao tiếp đang trở thành một nội dung quan trọng
và cần thiết trong các trường Tiểu học Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý theo tiếp cận các chức năng quản lý cơ bản phù hợp với điều kiện thực tế của các trường, phù hợp lứa tuổi học sinh tiểu học thì sẽ đem lại kết quả tốt trong công tác giáo dục
kĩ năng giao tiếp cho học sinh các trường Tiểu học quận Ngô Quyền - thành phố Hải Phòng hiện nay
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh các trường Tiểu học
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý giáo dục kĩ năng giao tiếp tại các trường Tiểu học quận Ngô Quyền - thành phố Hải Phòng
5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh các ường Tiểu học quận Ngô Quyền - thành phố Hải Phòng
Trang 13tr-6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
6.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh Tiểu học của Hiệu trưởng
6.2 Giới hạn địa bàn
Đề tài nghiên cứu ở 5 trường Tiểu học trên địa bàn quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng đó là: Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Trãi, Lê Hồng Phong, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Du
6.3 Giới hạn về khách thể khảo sát
- Số lượng: 196 người
- Thành phần: + Giáo viên
+ Tổng phụ trách Đội + Khối trưởng
+ Phụ huynh học sinh + Phó hiệu trưởng
+ Hiệu trưởng
6.4 Chủ thể quản lý:
Chủ thể thực hiện các biện pháp đề xuất là Hiệu trưởng trường Tiểu học
7 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp sau:
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu, các văn bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: Nghị quyết, chính sách của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo về giáo dục và các tài liệu khoa học về quản lý giáo dục, quản lý giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát sư phạm
Quan sát giáo viên khi tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp; quan sát học sinh giao tiếp khi tham gia các hoạt động học tập, vui chơi, các hoạt động ngoại khóa do nhà trường tổ chức
Trang 147.2.2 Phương pháp tọa đàm
Trao đổi với giáo viên, phụ huynh và các tổ chức đoàn thể khác trong và ngoài nhà trường để đánh giá thu thập thông tin về thực trạng giao tiếp, thực trạng giáo dục và quản lý giáo dục về kĩ năng giao tiếp
7.2.3 Phương pháp điều tra viết
Mục đích của phương pháp điều tra viết (bằng phiếu hỏi) nhằm đánh giá thực trạng nhận thức của CBQL, giáo viên các trường Tiểu học quận Ngô Quyền - thành phố Hải Phòng về vai trò của hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp; đánh giá thực trạng giáo dục và quản lý giáo dục kỹ năng giao tiếp ở các trường tiểu học quận Ngô Quyền Từ đó đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh các trường Tiểu học quận Ngô Quyền - thành phố Hải Phòng trong giai đoạn tới
Đối tượng điều tra thực trạng giáo dục, quản lý giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh Tiểu học là Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp, giáo viên bộ môn, giáo viên TPT, … của các trường Tiểu học trên địa bàn quận Ngô Quyền - thành phố Hải Phòng
7.2.4 Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn trực tiếp giáo viên, phụ huynh, lãnh đạo về công tác quản lý GDKNGT cho học sinh các trường tiểu học quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng nhằm bổ sung thông tin cho phương pháp điều tra
7.3 Các phương pháp bổ trợ
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phương pháp bổ trợ như phương pháp thống kê toán học để xử lý các kết quả điều tra thực trạng
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có 3 chương:
Chương : Cơ sở lí luận về quản lý giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh
tiểu học
Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh các
trường Tiểu học quận Ngô Quyền - thành phố Hải Phòng
Chương 3: Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh các
trường Tiểu học quận Ngô Quyền - thành phố Hải Phòng
Trang 15đẻ, để tiếp nhận và giao tiếp trong cộng đồng nhân loại, con người còn dùng tiếng nước ngoài và các hình ảnh phi ngôn ngữ để giao tiếp Vì vậy, khả năng giao tiếp trong xã hội được rộng mở, đa dạng và phong phú
Ngay từ thời cổ đại, các nhà giáo dục đã quan tâm đến vấn đề giao tiếp Các hoạt động giáo dục lao động, giáo dục sức khỏe, giáo dục hình thành năng lực thực hành, năng lực hợp tác đã được coi trọng Từ những hoạt động giáo dục năng lực cá nhân được phát huy, thúc đẩy xã hội loài người phát triển Khổng tử (551-497 TCN) [6] là một triết gia, một nhà giáo dục lỗi lạc của Trung Quốc thời cổ đại đã có tư tưởng gắn giáo dục với thực tiễn để tạo ra lớp người “Trị quốc bình thiên hạ” Ông
khẳng định “Đọc thuộc ba trăm thước kinh thư giỏi, giao cho việc đi sứ không có khả năng đối đáp, học kiểu như vậy chẳng có ích gì” Tư tưởng đó của khổng tử
cho thấy người học ngoài việc học kiến thức chuyên môn, kiến thức văn hóa còn phải học cách giao tiếp để giao tiếp thành công và hiệu quả trong công việc chuyên môn và lao động nghề nghiệp Bởi giao tiếp là công cụ, phương tiện để con người trao đổi, chia sẻ thông tin và lĩnh hội thông tin trong quá trình lao động
Nhà giáo dục lỗi lạc người Tiệp Khắc J.A Comenxki (1592-1670) [23] là người sáng lập ra hình thức tổ chức dạy học trường lớp, tạo môi trường giao tiếp
rộng mở cho người học Ông được coi là “Ông tổ của nền sư phạm cận đại” và đã
Trang 16có những đóng góp to lớn cho nền giáo dục thế giới Tư tưởng của J.A Comenxki là kết hợp giữa giáo dục nhà trường với hoạt động thực hành bên ngoài cuộc sống, nhằm giải phóng hình thức học tập “Giam hãm trong bốn bức tường” của hệ thống các nhà trường giáo dục thời trung cổ Ông khẳng định “học tập không phải là lĩnh hội kiến thức trong sách trong sách vở mà lĩnh hội kiến thức từ bầu trời, mặt đất từ cây sồi, cây dẻ” Chính tư tưởng giáo dục trên cho thấy giao tiếp của học sinh không chỉ thực hiện trong nhà trường mà vượt ra khỏi phạm vi ngoài nhà trường Môi trường giao tiếp, nội dung giao tiếp, đối tượng giao tiếp càng được mở rộng bao nhiêu thì tâm hồn người học càng phong phú bấy nhiêu
Thế kỉ XIX C.Mác (1818- 1883) và F.Anghen (1820-1895) [6] đã xây dựng học thuyết mới trong lịch sử phát triển loài người Các ông không chỉ tổng kết, tìm
ra quy luật của tiến trình phát triển trong triết học, KT và XH; hình thành chủ nghĩa Mác Lênin có sức sống mãnh liệt qua không gian, thời gian mà các ông còn được coi là ông tổ của nền GD hiện đại C.Mác và F.Anghen đã xác định mục đích của
nền GD xã hội chủ nghĩa là tạo ra “con người phát triển toàn diện” Quan điểm GD
của hai ông là phát triển nhân cách con người về mọi mặt theo “Phương thức giáo dục kết hợp với lao động sản xuất” Chính quan điểm này đã được Lênin kế thừa và phát triển thành hiện thực nền giáo dục xã hội chủ nghĩa Theo quan điểm của C.Mác và F.Anghen, kết quả của giáo dục là con người có sức khỏe, biết làm và có khả năng thích ứng với sự biến đổi của nghề nghiệp Trong những nghiên cứu về
GD, Lênin đã đánh giá rất cao vai trò của ngôn ngữ trong quá trình hình thành, phát triển nhân cách con người trong xã hội
Từ những năm đầu của thế kỉ 20, có nhiều nhà triết học, tâm lý học, xã hội học đã tiếp tục quan tâm đến lĩnh vực giao tiếp Nhà triết học và tâm lý học người
Mỹ G.Mit, nhà bác học người Đức C.Giaspe, nhà triết học hiện sinh tại Nhật Bản Mactin Babow, nhà triết học người Pháp Gien Marowsen, nhà triết học người Nga B.M Beccheriev… đã có những nghiên cứu trong lĩnh vực này Trong đó các nhà nghiên cứu khoa học đã chú ý đến nghiên cứu hiện tượng tiếp xúc giữa con người với con người
Trang 17Bắt đầu từ những năm 70 của thế kỷ trước, hàng loạt các nhà tâm lý học hiện đại, với nhiều công trình nghiên cứu, họ đã đưa ra được phạm trù giao tiếp như một phạm trù cơ bản Nó được thể hiện trong công trình “Giao tiếp là vấn đề tâm lý học đại cương” của B.Ph Lotnov, “tâm lý học giao tiếp” của AA.Bodaliov
Trong cuốn “Education for life”- (giáo dục vì cuộc sống) [23], Donald
Walters đã cung cấp cho các nhà GD, các bậc cha mẹ ở khắp nơi những kĩ thuật nhằm biến đổi GD thành một quá trình toàn vẹn, một quá trình hài hòa giữa kiến thức sách vở với những kinh nghiệm trực tiếp từ đời sống Donald Walter đã khuyến khích mọi người ứng dụng một hệ thống giáo dục mà trong đó, nhấn mạnh
sự tích hợp của việc giảng dạy cho trẻ những kiến thức cơ bản cùng với nghệ thuật
sống Ông đã chỉ ra cho mọi người “thấy được toàn bộ cuộc sống là giáo dục và giáo dục không chỉ giới hạn ở những năm tháng miệt mài trên ghế nhà trường…” Đúng như Jesse J Casbon nhận xét “Cuốn sách nói cho chúng ta biết về phương pháp cách nuôi dưỡng óc sáng tạo và trực giác ở mỗi đứa trẻ và làm sao có thể đánh thức những khả năng chưa được khai thác của trẻ” và hãy để “mỗi đứa trẻ là chính nó”
Tác giả Kak- Hai- Nowdich [50] người Đức, đã nêu rõ yêu cầu về phát triển ngôn ngữ của trẻ có một vai trò quan trọng và quá trình phát triển ở từng giai đoạn Trong mỗi giai đoạn đó nhiệm vụ của người lớn giúp trẻ thâm nhập vào thế giới ngôn ngữ phong phú và đa dạng, dẫn dắt trẻ từ những âm thanh “gừ… gừ” ở tuổi sơ sinh đến khi sử dụng, nắm vững ngôn ngữ thành thạo, điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển về trí tuệ Bằng những ví dụ, cách làm cụ thể, thiết thực đã giúp các bậc phụ huynh có thêm những kiến thức cơ bản trong việc giáo dục và dạy dỗ, nắm vững ngôn ngữ giao tiếp của con em mình
Với Evagrafova M.G, sự hình thành văn hóa giao tiếp bằng lời của trẻ em tuổi mẫu giáo lớn trên cơ sở phong tục tập quán của dân tộc là rất quan trọng Ở đây, tác giả đã trình bày quy luật và nguyên tắc hình thành văn hóa giao tiếp bằng lời của trẻ em tuổi mẫu giáo lớn về nọi dung và kĩ thuật trên cơ sở phong tục tập quán của dân tộc; Đây chính là tiền đề để trẻ em ở tuổi mẫu giáo lớn hình thành được kĩ năng giao tiếp trước khi bước vào lứa tuổi Tiểu học
Trang 18Nghiên cứu về sự ảnh hưởng của văn hóa giao tiếp trong gia đình đến sức khỏe tâm lý đạo đức của thiếu niên, tác giả Malin I.I đã khẳng định văn hóa tâm lý của giao tiếp trong gia đình được thể hiện ở hệ thống các chuẩn mực; định hướng những giá trị cách thức và phong cách hành vi, giao tiếp và mối quan hệ qua lại trong gia đình…, những cái áp dụng trong hệ thống các mối quan hệ qua lại và giao tiếp giữa cha mẹ với con cái Tác giả đã làm nổi bật lên 5 loại văn hóa tâm lý giao tiếp trong gia đình và ảnh hưởng tới sự hình thành nhân cách và sức khỏe tâm lý đạo đức của thiếu niên
Để nâng cao khả năng giao tiếp cho trẻ, tác giả Linda Maget đã giới thiệu những kĩ năng giao tiếp xã hội, giúp trẻ giải quyết những trở ngại trong việc kết giao bạn bè Với cách trình bày của mình, tác giả Linda Maget giúp các bậc cha mẹ
và trẻ học được kĩ năng giao tiếp xã hội để luôn có bạn bè, trưởng thành trong học tập và cuộc sống, đó là mục tiêu cuốn sách muốn đem lại
Cuối thế kỉ thứ XX và đầu thế kỉ XXI, trước bối cảnh toàn cầu hóa, quốc tế hóa, các nước đều rất quan tâm đến vấn đề giáo dục con người trong xã hội mới Một trong bốn trụ cột của nền GD toàn cầu trong thế kỷ XXI đã được UNESCO đề xuất “học cùng chung sống” và được coi là một trong những trụ cột quan trọng, then chốt của giáo dục hiện đại Câu hỏi đặt ra là “Kỹ năng nào là cần thiết cho mỗi con người để thành công trong công việc và cuộc sống ?”, một trong những kĩ năng toàn cầu đòi hỏi mỗi con người hoàn thiện là phải có kĩ năng “giao tiếp” Chương trình GD các giá trị sống của Unesco được coi là đối tác của các nhà GD trên toàn cầu Đó là chương trình ứng dụng những kĩ thuật, kĩ năng đơn giản nhưng mang tính chuyên môn cao bao gồm kĩ năng lắng nghe tích cực, những câu hỏi theo dạng
mở - đóng và cách thảo luận tìm ra hướng giải quyết Chương trình này đã làm phong phú thêm vốn sống cho các bạn trẻ, trang bị những giá trị tích cực, các kĩ năng sống thiết thực, hữu ích trong hành trang bước vào đời
Tại Úc, Hội đồng kinh doanh cùng phòng thương mại và công nghiệp có sự bảo trợ của Bộ Giáo dục, Đào tạo và khoa học và Hội đồng giáo dục quốc gia Úc đã xuất bản cuốn “Kỹ năng hành nghề cho tương lai” Cuốn sách đã trình bày các kĩ
Trang 19năng và kiến thức mà yêu cầu người sử dụng lao động bắt buộc phải có Kỹ năng hành nghề là các kỹ năng cần thiết không chỉ để con người có được việc làm mà nó còn làm cho con người tiến bộ trong tổ chức nhờ phát huy tiềm năng cá nhân, đóng góp vào định hướng chiến lược của tổ chức đó Các kỹ năng hành nghề do cuốn sách trình bày bao gồm 8 kỹ năng, trong đó kỹ năng giao tiếp là một kỹ năng được
đề cập đầu tiên Điều đó cho thấy vai trò quan trọng của kỹ năng giao tiếp trong xã hội Bởi vậy các nhà nghiên cứu trên thế giới luôn tìm tòi để hoàn thiện trong quá trình GD và giáo dục kĩ năng giao tiếp
1.1.2 Ở Việt Nam
Trong lịch sử giáo dục của dân tộc, vấn đề về giao tiếp đã được coi trọng, nó được coi là nền tảng, là một trong những tiêu chuẩn, thước đo đánh giá nhân cách, đạo đức của con người, là biểu hiện của nét đẹp văn hóa “Tiền của phân giầu nghèo, giao tiếp phân tầng văn hóa”
Người Việt xưa ảnh hưởng nhiều văn hóa Trung Quốc qua tác động của Khổng giáo, họ có những biểu hiện giao tiếp hoàn toàn khác với cách giao tiếp của người Việt Nam hiện đại [33] Trong hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội, con người luôn có nhu cầu giao tiếp với nhau và những hoạt động giao tiếp được mọi người quan tâm, nó được lưu truyền, gìn giữ, dạy và học… giữa mọi người trong xã hội Từ trước đến nay, người Việt luôn hướng giao tiếp trong xã hội được nâng lên thành một kiểu văn hóa giao tiếp của người Việt nhằm đảm bảo sự đoàn kết kinh nghiệm trong cuộc sống và đấu tranh cho sự sinh tồn của mình Cho nên người xưa
thường lưu truyền dạy nhau qua các thế hệ “học ăn, học nói, học gói, học mở”, “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”…Đó là những kinh
nghiệm quý báu đã được người xưa đúc kết, lưu truyền trong xã hội và nó chính là cách giao tiếp, cách giao tiếp ấy cũng phải học, phải dạy
Ca dao, tục ngữ của Việt Nam cũng thể hiện đề cập nhiều vấn đề giao tiếp giữa con người với con người trong xã hội, trong cuộc sống, trong công việc và trong tình cảm lứa đôi Do thể chế xã hội, ngôn ngữ giao tiếp của con người bị trói buộc trong khuôn khổ của lễ giáo phong kiến với những luật tục khắt khe nên hoạt
Trang 20động giao tiếp bị hạn chế Ví dụ: Trong tình yêu nam nữ, trai gái không thể tự do
đến với nhau được bởi quan niệm “nam nữ thụ thụ bất thân”, “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” Họ không thể vượt qua giới hạn của hành vi giao tiếp cho phép, buộc
phải thể hiện qua những lời bóng gió xa xôi, những câu ca dao, tục ngữ … đây chính là cách thức giao tiếp của tình yêu, được coi là nét đẹp văn hóa giao tiếp thời đại, là nền tảng để giáo dục, giúp con người hình thành nhân cách, sống có chuẩn mực đạo đức Nhiều nét đẹp văn hóa, giao tiếp của người Việt trong suốt hàng nghìn năm, đến nay vẫn được giữ gìn và có giá trị trong cuộc sống
Nếu ngày xưa, thời phong kiến, giao tiếp bó hẹp trong phạm vi làng xóm, thôn bản, thì ngày nay giao tiếp đã không còn bó hẹp trong khuôn khổ đó nữa Nó
đã vượt qua khỏi lũy tre làng, đến mọi miền đất nước và vượt qua biên giới, đến cộng đồng kiều bào Việt Nam sống ở nước ngoài…
Vấn đề giao tiếp ở nước ta là những kĩ năng cơ bản để con người sống, chiến đấu, sản xuất, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Sau cách mạng tháng tám năm 1945, một số quy tắc giao tiếp cũ đã bị phá vỡ cùng tập tục hà khắc, nhiều nội dung mới trong giao tiếp được hình thành trong nền tảng của xã hội mới Và ngày nay, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, những thành tựu khoa học và thông tin bùng nổ… thì vấn đề giao tiếp trong xã hội được coi là điều kiện tất yếu
để khẳng định sự thành công trong cuộc sống hay nói cách khác, đó là sự “cạnh tranh” để phát triển, là điều kiện tất yếu mở rộng mối quan hệ, khẳng định được thành công trong các lĩnh vực hoạt động của con người
Ở nước ta, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu vấn đề giao tiếp dưới góc độ tâm lý học Bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ trước, có nhiều bài viết về công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Việt Nam như Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thủy, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Quang Uẩn,…… được công bố, in ấn, xuất bản và áp dụng, trong giáo dục, trong cuộc sống
Nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên dưới góc độ Tâm lý học, tác giả Hoàng Anh [3] đã đề xuất quy trình rèn luyện kĩ năng sư phạm cho sinh viên các trường sư phạm Như vậy, kỹ năng giao tiếp ở đây được khai thác dưới góc
độ nghề dạy học
Trang 21Năm 1995, tác giả Lưu Thu Thủy, đã nghiên cứu quy trình giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa với bạn cùng lứa tuổi cho học sinh lớp 4, lớp 5 trường Tiểu học Tác giả đã nghiên cứu hành vi giao tiếp có văn hóa của học sinh dưới hai góc độ: Các nét tính cách bộc lộ qua giao tiếp và các kĩ năng giao tiếp của học sinh; thiết kế quy trình giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho học sinh lớp 4, lớp 5 trong phạm vi trường học Tuy nhiên, những hành vi giao tiếp bên ngoài trường học của học sinh chưa được quan tâm, nghiên cứu Đây là khoảng trống bởi hành vi của người học không chỉ được thể hiện ở trong nhà trường mà nó còn được thể hiện ở gia đình và ngoài xã hội
Cùng chủ đề nghiên cứu về giao tiếp ở lứa tuổi trẻ em, năm 2003, tác giả Hoàng Thị Phương nghiên cứu một số biện pháp giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ 5 đến 6 tuổi, giao tiếp được khai thác dưới góc độ hành vi văn hóa sơ đẳng nhưng là cơ bản, phổ biến, đặc trưng cho lứa tuổi mẫu giáo lớn Đó là những
kỹ năng mang tính nền tảng làm cơ sở để GD và phát triển sau này cho trẻ thơ ở tuổi Tiểu học
Năm 2010, tập thể tác giả do Nguyễn Hữu Độ đứng đầu đã biên soạn tài liệu giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh cho học sinh Hà Nội và thí điểm đối với học sinh lớp 5 qua thực hiện các kỹ năng giao tiếp ứng xử trong mối quan hệ gia đình, nhà trường và xã hội Đây là tài liệu có tính thực tiễn trong giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học tại Hà Nội
Nhưng chưa có một nghiên cứu mẫu nào về quản lý giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học Do đó việc nghiên cứu về quản lý giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh các trường Tiểu học trong quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng
là một yêu cầu khách quan và cần thiết Nhìn chung những công trình nghiên cứu trên đã có những tác động nhất định đối với việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh nhưng vẫn còn thiếu những công trình đi sâu nghiên cứu quản lý giáo dục kỹ năng giao tiếp cho HS các trường tiểu học Quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng
Nó vẫn là khoảng trống, ít được quan tâm và từ đó khẳng định tính cấp thiết trong
việc triển khai nghiên cứu của luận văn
Trang 221.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý giáo dục
Một số tác giả quan niệm như sau:
Theo M.I.Konđacốp: QLGD là tập hợp những biện pháp kế hoạch hoá nhằm đảm bảo vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển, mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng [58]
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng “QLGD là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu, tiến lên trạng thái mới về chất”.[68]
Tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng: Mục đích cuối cùng của QLGD là tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo lớp thanh niên thông minh sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và xã hội.[50]
Qua quan niệm của các tác giả có thể hiểu khái niệm: "QLGD là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa các hoạt động của hệ thống giáo dục đạt kết quả mong muốn một cách có hiệu quả nhất.”
1.2.2 Quản lý nhà trường
Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng “QLNT ở Việt Nam là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với thế hệ trẻ và với từng học sinh.” [38]
Tác giả Phạm Khắc Chương cho rằng: "QLGD trên cơ sở QLNT là một phương hướng cải tiến quản lý giáo dục theo nguyên tắc tăng cường phân cấp QLNT nhằm phát huy tối đa năng lực, trách nhiệm và quyền hạn của các chủ thể quản lý trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo mà xã hội đang yêu cầu.[24]
Theo tác giả Bùi Minh Hiền “Quản lý nhà trường là quá trình tác động có mục đích, có định hướng, có tính kế hoạch của các chủ thể quản lí (đứng đầu là
Trang 23hiệu trưởng nhà trường) đến các đối tượng quản lý (giáo viên, cán bộ nhân viên, người học, các bên liên quan…) và huy động, sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả nguồn lực nhằm thực hiện sứ mệnh của nhà trường đối với hệ thống giáo dục và đào tạo, với cộng đồng và xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đã xác định trong một môi trường luôn luôn biến động” [43]
Như vậy Quản lý nhà trường có thể hiểu như một bộ phận của quản lý giáo dục nói chung Quản lý nhà trường cũng chính là quản lý giáo dục nhưng trong một
phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục Quản lý nhà trường là sự tác động có định hướng có kế hoạch của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khai thác, sử dụng có hiệu quả tất cả các nguồn lực, nhằm đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường tiến tới mục tiêu giáo dục Trọng tâm là đưa hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục tiến lên trạng thái mới về chất
1.2.3 Kĩ năng giao tiếp
1.2.3.1 Giao tiếp
Tùy theo góc độ xem xét, khái niệm giao tiếp được phân tích theo các quan điểm khoa học khác nhau, trên lĩnh vực xã hội học, kinh tế học Và hoạt động giao tiếp không chỉ được phân chia thành nhiều cấp độ khác nhau mà nó còn được phân thành nhiều lĩnh vực: nơi công cộng, ở cơ quan, trong nhà trường, trong gia đình…Khi bàn về vấn đề giao tiếp, các nhà tâm lý học đã đưa ra những định nghĩa khác nhau Mỗi định nghĩa đều đứng trên những quan điểm riêng, phản ánh những góc độ khác nhau của giao tiếp
Planton (428-374 TCN), Socrate (460-348 TCN) đã đưa ra những khái niệm
về giao tiếp, các tác giả trên coi đối thoại là sự giao lưu trí tuệ của những người biết suy nghĩ [34]
C.Mác và Ăngghen [34] hiểu giao tiếp như là “một quá trình thống nhất, hợp tác, tác động qua lại giữa người với người” Như vậy, khái niệm giao tiếp được
khai thác dưới góc độ là một quá trình hợp tác giữa con người với con người” Tuy nhiên, trong cuộc sống không phải chỉ có hợp tác là có giao tiếp, đôi khi giao tiếp không có sự hợp tác mà lại là xung đột Nhà tâm lý học người Anh M.Acgain đã
Trang 24khẳng định “Giao tiếp là quá trình hai mặt của sự thông báo, thành lập sự tiếp xúc, trao đổi thông tin” Lúc này, khái niệm giao tiếp được khai thác với chức năng trao
đổi, tiếp nhận thông tin giữa con người với con người trong xã hội
Trong nghiên cứu về giao tiếp, P.Oathavut, G.Bivans, D.Giactson là các nhà tâm lý học Pháp đã coi giao tiếp là một tổ hợp hành vi hay nói cách khác, giao tiếp
là một quá trình xã hội thường xuyên diễn ra giữa con người với nhau, quá trình này tích hợp nhiều loại hành vi, hành vi ngôn ngữ, hành vi phi ngôn ngữ
Các nhà tâm lý học Liên Xô (cũ) đã có những định nghĩa khác nhau về giao tiếp Đại diện cho nhà tâm lý học Liên Xô là A.A Leongchiev Theo A.A Leongchiev [59], giao tiếp là các biểu hiện ở mối quan hệ giữa người với người; sự tiếp xúc về tâm lý; có sự trao đổi thông tin, tình cảm và điều chỉnh lẫn nhau Ông định nghĩa “Giao tiếp là một hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ bảo đảm sự tương tác giữa người này với người khác, trong hoạt động tập thể thực hiện quan hệ xã hội và nhân cách, các quan hệ tâm lý và sử dụng phương tiện đặc thù…” Theo định nghĩa trên, khái niệm giao tiếp được khai thác dưới góc độ là một quá trình có mục đích, động cơ, nội dung và có phương tiện
Ở, Việt Nam vấn đề giao tiếp [14] [45] [74] đã nhận được sự quan tâm rất nhiều của các nhà Tâm lý học và giáo dục học, nó được khai thác dưới nhiều góc độ khác nhau như giao tiếp thông thường ở lứa tuổi, giao tiếp công vụ
Tác giả Ngô Công Hoàn cho rằng: “Giao tiếp là quá trình tiếp xúc giữa con
người với con người nhằm mục đích trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn sống, kỹ năng,
kỹ xảo nghề nghiệp” Khái niệm giao tiếp ở đây đã được khai thác trong mối quan
hệ giữa con người với con người với những mục đích khác nhau
Nhấn mạnh đến những khía cạnh tâm lý của giao tiếp, tác giả Trần Trọng
Thủy quan niệm: “Giao tiếp của con người là quá trình có chủ định hay không chủ định, có ý thức hay không có ý thích mà trong đó, các cảm xúc và tư tưởng được biểu đạt trong các thông điệp bằng phi ngôn ngữ” Khái niệm giao tiếp của tác giả
được khai thác là một quá trình có chủ định hoặc không chủ định, thực hiện bằng lời hoặc không bằng lời, có thể kiểm soát được và có thể không kiểm soát được bằng ý thức con người
Trang 25Tiếp cận ở góc độ mối quan hệ liên nhân cách, tác giả Nguyễn Quang Uẩn
viết: “giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau Hay nói cách khác đi, giao tiếp xác lập và vận hành các mối quan
hệ người- người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác” Ở đây, tác giả đã xem giao tiếp như điều kiện của sự tồn tại và phát triển của
con người Thông qua giao tiếp, các mói quan hệ liên nhân cách của con người được phát triển
Trong thực tế, các nhà nghiên cứu đã nhìn nhận về giao tiếp và có những định nghĩa khác nhau về giao tiếp Mỗi tác giả khai thác khái niệm giao tiếp dưới các góc độ khác nhau Tuy nhiên, thông qua những định nghĩa, các tác giả đều đã nêu ra những dấu hiệu cơ bản của giao tiếp Những dấu hiệu cơ bản đó là:
- Giao tiếp là một hiện tượng đặc thù của con người, chỉ được diễn ra trong
xã hội loài người
- Giao tiếp dựa trên cơ sở hiểu biết lẫn nhau giữa con người với con người
- Giao tiếp thể hiện thông qua sự trao đổi thông tin, sự hiểu biết, rung cảm và ảnh hưởng lẫn nhau
- Giao tiếp chứa đựng những nội dung của xã hội, được thực hiện trong một hoàn cảnh xã hội cụ thể và chịu sự quy định của các yếu tố văn hóa, xã hội
Từ những dấu hiệu chung của giao tiếp, tác giả luận án coi khái niệm sau đây
về giao tiếp là khái niệm công cụ trong nghiên cứu: Giao tiếp là một quá trình tiếp xúc qua lại giữa con người với con người nhằm mục đích trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm Giao tiếp là nhu cầu tất yếu, đặc trưng của xã hội loài người, giao tiếp được tiến hành bằng nhiều hình thức có ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ, khả năng giao tiếp của mỗi người phụ thuộc vào kỹ năng giao tiếp và vốn tri thức, vốn kinh nghiệm sống của họ
Từ khái niệm về giao tiếp trên, chúng tôi quan niệm: Giao tiếp của HS tiểu học là quá trình tiếp xúc của học sinh với gia đình, nhà trường và xã hội nhằm trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm giữa học sinh với người xung quanh Giao tiếp của
Trang 26HS tiểu học là một nhu cầu tất yếu của HS, giúp các em thực hiện các nhiệm vụ học tập, rèn luyện một cách hiệu quả
1.2.3.2 Kĩ năng giao tiếp
Nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp, các nhà nghiên cứu đã có những quan niệm khác nhau với cách nhìn và khai thác khác nhau
Tác giả Hoàng Anh [8] quan niệm kỹ năng giao tiếp là năng lực của con người biểu hiện trong quá trình giao tiếp Đó là các khả năng sử dụng hợp lý các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ … là hệ thống các thao tác cử chỉ, điệu bộ hành vi được chủ thể giao tiếp phối hợp hài hòa Trong thực tế, kĩ năng giao tiếp của con người không chỉ phụ thuộc vào phương tiện mà nó phụ thuộc khá nhiều vào vốn sống, vốn kinh nghiệm, phụ thuộc vào những nét văn hóa đặc trưng vùng miền
mà người đó sinh sống, có khi còn chịu ảnh hưởng của sự giáo dục và sự quản lý của gia đình
Dưới góc độ nhìn nhận khả năng tri giác những biểu hiện bên ngoài và những diễn biến bên trong của hiện tượng … tác giả Ngô Công Hoàn đã coi kỹ
năng giao tiếp “là khả năng tri giác hiểu được những nét biểu hiện bên ngoài cũng như những diễn biến bên trong của các hiện tượng, trạng thái, phẩm chất tâm lý của đối tượng giao tiếp.” Như vậy, kỹ năng giao tiếp của mỗi người bao hàm cả khả
năng vận dụng vốn tri thức, vốn kinh nghiệm của bản thân chủ thể giao tiếp, khả năng điều khiển đối tượng giao tiếp
Tác giả Nguyễn Bá Minh coi “Kỹ năng giao tiếp là nhóm kỹ năng giao tiếp bao gồm các hành động liên quan đến việc hình thành mối quan hệ hợp tác giữa chủ thể và đối tượng giao tiếp, giữa đối tượng giao tiếp với nhau” Ở đây, kỹ năng giao tiếp được hiểu là nhóm kỹ năng hỗ trợ cho người giao tiếp nhằm thực hiệu quả hoạt động giao tiếp trong xã hội
Trong xã hội và trong hoạt động giao tiếp của con người, kỹ năng giao tiếp chính là khả năng sử dụng ngôn ngữ và khả năng biểu cảm của con người, với sự phối hợp hài hòa giữ lời nói và cử chỉ của chủ thể và đối tượng giao tiếp
Trang 27Từ những quan niệm khác nhau về giao tiếp, kỹ năng giao tiếp, chúng tôi hiểu giao tiếp là một hiện tượng tâm lý rất phức tạp về nhiều mặt và nhiều cấp độ khác nhau, là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau Để giao tiếp có hiệu quả đòi hỏi mỗi người phải có kỹ năng giao tiếp Đó
là toàn bộ thao tác, cử chỉ… trong hoạt động giao tiếp Tác giả chọn khái niệm về
kỹ năng giao tiếp sau làm khái niệm công cụ trong nghiên cứu:
Kỹ năng giao tiếp là năng lực tiến hành các thao tác, hành động kể cả năng lực thể hiện cả năng lực cảm xúc, thái độ nhằm giúp chủ thể giao tiếp trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm với đối tượng giao tiếp Nói cách khác, kỹ năng giao tiếp là toàn bộ những thao tác, cử chỉ, thái độ, ngôn ngữ được phối hợp hài hòa, hợp lý của cá nhân với cá nhân hay cá nhân với một nhóm xã hội nhằm điều khiển, điều chỉnh đối tượng giao tiếp để thực hiện mục tiêu của chủ thể giao tiếp
Học sinh tiểu học cần phải thực hiện có hiệu quả các kỹ năng giao tiếp trong nhà trường, gia đình và xã hội nhằm thực hiện các mục đích học tập, vui chơi, rèn luyện để phát triển nhân cách Nói cách khác, kỹ năng giao tiếp của học sinh tiểu học được hình thành và phát triển trong một môi trường rộng lớn và quan hệ chặt chẽ với nhau là: Nhà trường, gia đình và xã hội
1.2.4 Giáo dục kĩ năng giao tiếp
Khái niệm GD được hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau ở cấp độ xã hội và cấp độ nhà trường Ở cấp độ nhà trường, khái niệm GD hiểu là quá trình GD tổng thể (dạy học và GD theo nghĩa hẹp) được thực hiện thông qua các hoạt động GD
Đó là hoạt động giáo dục mang tính mục đích, tính kế hoạch, có nội dung và chương trình, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của người giáo viên, học sinh tự giác, tích cực học tập, rèn luyện đạo đức, kỹ năng, hành vi thực hiện có hiệu quả mục đích, nhiệm vụ giáo dục đặt ra
Nội dung giáo dục trong nhà trường đa dạng và bao gồm dạy học các môn văn hóa, tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, tổ chức các hoạt động xã hội, sinh hoạt tập thể vv Một trong những phương tiện quan trọng để các hoạt động giáo dục đạt hiệu quả cao đó là giao tiếp và kỹ năng giao tiếp, do đó muốn nâng cao hiệu quả của hoạt động giáo dục thì cần phải có giáo dục kỹ năng giao tiếp
Trang 28Giáo dục kỹ năng giao tiếp là quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục nhằm giúp người học hình thành và rèn luyện các thao tác, hành động để trao đổi, tiếp nhận, xử lý thông tin bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong các mối quan hệ của học sinh ở gia đình, nhà trường, xã hội…
1.2.5 Quản lý giáo dục kĩ năng giao tiếp
Quản lý giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh là sự tác động có định hướng có kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực, nhằm đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường tiến tới mục tiêu là giúp học sinh biết cách chuyển dịch kiến thức, kĩ năng (cái học sinh đã biết) và thái độ, giá trị (cái học sinh nghĩ, cảm thấy, tin tưởng) thành hành động thực tế (giao tiếp gì? Giao tiếp như thế nào? Trọng tâm là đưa hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục tiến lên trạng thái mới
về chất đó là làm thay đổi ngôn ngữ, thái độ, hành vi, cách ứng xử của người học từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực chuyển thành những hành vi, thái độ, cách ứng xử, cách sử dụng ngôn ngữ, mang tính xây dựng, tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống của cá nhân và góp phần phát triển nhân cách sống cho các em
1.3 Các kỹ năng giao tiếp của học sinh Tiểu học
Kỹ năng giao tiếp của con người nói chung bao gồm: kỹ năng lắng nghe, thấu hiểu, chia sẻ, kỹ năng nhận và truyền thông tin, kỹ năng biểu đạt thái độ và cử chỉ hành vi phi ngôn ngữ, kỹ năng tự nhận thức về bản thân, kỹ năng từ chối lời yêu cầu đề nghị của người khác, kỹ năng thương lượng và xử lý tình huống, kỹ năng hợp tác, kỹ năng chào hỏi, nói lời cảm ơn xin lỗi, kỹ năng thiết lập mối quan hệ với đối tượng v v…
Cụ thể hóa đối với lứa tuổi học sinh tiểu học, kĩ năng giao tiếp bao gồm:
- Kỹ năng tự khẳng định bản thân: Tự tin đứng trước đám đông, biết giới
thiệu về mình với người khác, biết chào hỏi lễ phép và tôn trọng người khác, biết chào hỏi lễ phép với thầy cô, người lớn tuổi, biết nhường nhịn em nhỏ, biết tôn
trọng bạn bè
Trang 29- Kỹ năng nói lời yêu cầu đề nghị, nói lời cảm ơn, xin lỗi: Giáo dục học sinh
biết nói lời yêu cầu đề nghị của bản thân với người xung quanh, biết bày tỏ thái độ, quan điểm của cá nhân mình trước những vấn đề yêu cầu đề nghị Cám ơn khi nhận
quà hay sự giúp đỡ của người khác, xin lỗi khi làm người khác không hài lòng khi làm tổn thương đến họ
- Kĩ năng từ chối yêu cầu đề nghị của người khác: Giáo dục cho các em biết phân biệt đúng sai, biết ủng hộ cái đúng, cái thiện và kiên định với quan điểm của mình, biết từ chối hay khước từ cái không đúng, hay những lời nói, việc làm thể hiện hành vi lệch chuẩn
- Kỹ năng xử lý tình huống: Trong cuộc sống học sinh tiểu học phải đối mặt
với tình huống trong học tập, vui chơi, sinh hoạt tập thể và hoạt động lao động và gặp những tình huống khó xử trong quan hệ với người lớn trong gia đình,với thầy
cô, bạn bè và với nhiều người xung quanh, đòi hỏi các em phải có kĩ năng ứng xử phù hợp, biết phân tích cái lợi và cái hại của việc ứng xử, tạo ra quan hệ chia sẻ,
hợp tác
- Kỹ năng lắng nghe: Thông qua hoạt động dạy học, rèn luyện, giáo dục học
sinh kỹ năng lắng nghe hiểu người khác, biết về mình rõ hơn, lắng nghe một cách tích cực, chủ động và cảm thông, chia sẻ, lắng nghe có chủ động để tiếp nhận thông tin và xử lý thông tin có ích cho bản thân
- Kỹ năng thương lượng: Là kĩ năng biết thương lượng với người khác để đạt
mục đích giao tiếp, thương lượng với người khác để đạt mục đích giao tiếp, thương lượng với người thân để thực hiện mục tiêu cá nhân, thương lượng với bạn bè để giữ gìn khối đoàn kết
- Kỹ năng chia sẻ: Là kĩ năng chia sẻ với bố mẹ về công lao chăm sóc, dạy
dỗ, chia sẻ với bố mẹ về niềm vui và nỗi buồn, thành công và thất bại trong cuộc sống, chia sẻ với thầy cô về khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ vủa nhà trường và cuộc sống đời tư, chia sẻ với bạn công việc của lớp, của trường v v…
- Kỹ năng thuyết phục: Trong học tập, lao động, sinh hoạt phải thuyết phục
người khác đưa ra yêu cầu đề nghị vì vậy đòi hỏi giáo viên và nhà trường cần rèn
Trang 30luyện cho các em kỹ năng thuyết phục: Thuyết phục bố mẹ cho đi xem phim khi đã hoàn thành nhiệm vụ học tập, thuyết phục cô giáo cho đi dã ngoại, thuyết phục bạn hợp tác trong công việc v v…
- Kỹ năng làm việc hợp tác: Học sinh tiểu học là công dân tương lai cần phải
được trang bị kỹ năng đồng đội, biết chia sẻ và hợp tác, biết tranh thủ sự ủng hộ và
sự giúp đỡ của những người xung quanh để tự hoàn thiện mình,biết tự nhận thức về bản thân và người khác, biết bày tỏ quan điểm cá nhân, biết kiên định với mục tiêu
đã chọn, biết giữ lời hứa và tôn trọng những người xung quanh v v…
- Kỹ năng giải quyết vấn đề: Trong dạy học và giáo dục học sinh tiểu học,
giáo viên cần đưa học sinh vào những tình huống có vấn đề để rèn luyện cho các em
kỹ năng phát hiện, giải quyết vấn đề trong học tập, giải quyết vấn đề trong xử lý các mỗi quan hệ, giải quyết vấn đề cảm xúc cá nhân v v…
- Kỹ năng biểu lộ thái độ tình cảm: Giao tiếp con người bộc lộ cảm xúc cá
nhân của mình, vì vậy, để hành vi giao tiếp có văn hóa cần giáo dục cho học sinh tiểu học có kỹ năng biểu lộ cảm xúc và thái độ cá nhân trong quá trình giao tiếp, biết kiềm chế cảm xúc của mình trong quá trình giao tiếp như tức giận, cáu gắt, quá xúc động v v… để không làm ảnh hưởng tới quá trình giao tiếp và chất lượng học tập, rèn luyện của học sinh
1.4 Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh Tiểu học
1.4.1 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh Tiểu học
Đối tượng của cấp tiểu học là trẻ em từ 6 đến 11 tuổi Học sinh tiểu học là một thực thể hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng Ở mỗi trẻ em tiềm tàng khả năng phát triển về trí tuệ, lao động, ngôn ngữ và giao tiếp Về quan hệ giao lưu
và chăm lo cuộc sống cá nhân, gia đình Trẻ em ở lứa tuổi tiểu học là thực thể đang hình thành và phát triển cả về mặt sinh lý, tâm lý, xã hội, các em đang từng bước gia nhập vào thế giới của mọi mối quan hệ Do đó, học sinh tiểu học chưa đủ ý thức, chưa đủ phẩm chất và năng lực như một công dân trong xã hội, mà các em luôn cần sự bảo trợ, giúp đỡ của người lớn, của gia đình, nhà trường và xã hội Học sinh tiểu học dễ thích nghi và tiếp nhận cái mới và luôn hướng tới tương lai Nhưng
Trang 31cũng thiếu sự tập trung cao độ, khả năng ghi nhớ và chú ý có chủ định chưa được phát triển mạnh, tính hiếu động, dễ xúc động còn bộc lộ rõ nét Trẻ nhớ rất nhanh và quên cũng nhanh
Học sinh tiểu học thường có nhiều nét tính cách tốt như hồn nhiên, ham hiểu biết, dễ bắt chước Giáo viên nên tận dụng đặc tính này để giáo dục học sinh của mình nhưng cần phải đúng, phải chính xác và chuẩn mực
Tình cảm là một mặt rất quan trọng trong đời sống tâm lý, nhân cách của mỗi người Đối với học sinh tiểu học, tình cảm có vị trí đặc biệt vì nó là khâu trọng yếu gắn nhận thức với hoạt động của trẻ em Tình cảm tích cực sẽ kích thích trẻ em nhận thức và thúc đẩy trẻ em hoạt động và bộc lộ qua ngôn ngữ giao tiếp Tình cảm học sinh tiểu học được hình thành trong đời sống và trong quá trình học tập, hoạt động vui chơi và giao tiếp của các em Vì vậy giáo viên cần quan tâm xây dựng môi trường học tập nhằm tạo ra xúc cảm, tình cảm tích cực ở trẻ để kích thích trẻ tích cực trong học tập Đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học thể hiện ở tư duy ngôn ngữ – logíc dừng lại ở mức độ trực quan cụ thể Ngoài ra tâm lí của học sinh còn bộc lộ
ở việc thiếu cố gắng, thiếu khả năng phê phán và cứng nhắc trong hoạt động nhận thức Học sinh có thể học được tính cách hành động trong điều kiện này nhưng lại không biết vận dụng kiến thức đã học vào trong điều kiện hoàn cảnh mới
1.4.2 Tầm quan trọng của việc GDKNGT cho học sinh Tiểu học
Thông qua giao tiếp, con người trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, cảm xúc, kinh nghiệm sống… để biến nó thành tri thức, kỹ năng sống của mỗi người Kỹ năng giao tiếp giúp con người thành công trong giao tiếp và từ đó, con người hình thành, phát triển nhân cách, tạo nên hệ giá trị sống tích cực và tạo lập các mối quan
hệ tốt đẹp trong cuộc sống Trong xã hội, con người là tổng hòa các mối quan hệ và
vì vậy, kỹ năng giao tiếp giữ vai trò quan trọng , nó được thể hiện cơ bản dưới một
số nội dung sau:
- Giáo dục KNGT với việc hình thành phát triển nhân cách
Giao tiếp là nhu cầu bậc cao của con người và là nhu cầu không thể thiếu được trong sự tồn tại, phát triển của con người Thông qua giao lưu hay giao tiếp, cá
Trang 32nhân mới có thể hòa nhập vào các mối quan hệ cá nhân khác trong xã hội để tạo ra hoạt động xã hội Từ đó, con người lĩnh hội được các chuẩn mực đức, giá trị xã hội
và có sự nhìn nhận đánh giá về giá trị, đạo đức theo quan điểm của mỗi thời đại Từ cách nhìn nhận, đánh giá đó, con người tự điều chỉnh, điều khiển bản thân theo các chuẩn mực xã hội, đồng thời mỗi con người có thể tham gia đóng góp những giá trị phẩm chất, nhân cách cho sự phát triển chung của xã hội
Trong cuộc sống cá nhân, kỹ năng giao tiếp có vai trò vô cùng quan trọng việc vận dụng kỹ năng giao tiếp vào cuộc sống của mỗi con người chính là năng lực vận dụng có hiệu quả những tri thức về giao tiếp, giúp cá nhân tạo dựng được chỗ đứng trong xã hội Xét trong quan hệ liên nhân cách, nếu kỹ năng giao tiếp tốt sẽ giúp cá nhân tạo dựng được hình ảnh tốt về bản thân và các mối liên hệ hợp tác tốt trong xã hội Đối với lứa tuổi học sinh đang trong giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách thì kỹ năng giao tiếp đóng vai trò quan trọng bởi nhờ kỹ năng giao tiếp các em học tập hiệu quả, nhờ có kỹ năng giao tiếp các em học tập tự tin tham gia vào hoạt động giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội, trải nghiệm bản thân Vì vậy, nhà trường cần quan tâm giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học đó là các kỹ năng như diễn đạt, nghe, hiểu, tự cảm xúc, tự tạo được các mối liên hệ, chủ động điều khiển giao tiếp hay các kỹ năng giao tiếp qua việc sử dụng ngôn ngữ cơ thể như biểu lộ cảm xúc qua nét mặt, cử chỉ, hành động… nhờ đó, các em học được cách đánh giá hành vi thái độ, lĩnh hội được các tiêu chuẩn đạo đức từ cuộc sống, kiểm tra vận dụng các tiêu chuẩn đó vào thực tiễn
Học sinh tiểu học chuyển từ tuổi chơi sang tuổi học, quan hệ xã hội của học sinh được mở rộng, vì vậy giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh là việc làm có ý nghĩa, giúp các em tự tin trong học tập, tự chủ trong quan hệ xã hội, mạnh dạn và tự tin trong khi tham gia hoạt động giáo dục và hoạt động tập thể Trong các mối quan
hệ đó các em biết nói lời yêu cầu đề nghị, nói lời cảm ơn, xin lỗi, biết chia sẻ niềm vui, nỗi buồn cùng người khác, dạy cho các em biết cách nhận thức đúng đắn về mình, nhận biết về đối tượng giao tiếp, biết cách tiếp cận với đối tượng giao tiếp và biết bày tỏ thái độ, quan điểm của mình bằng lời nói cử chỉ, điệu bộ, nét mặt và
Trang 33bằng cả những việc làm khi cần thiết Kỹ năng giao tiếp giúp cho học sinh biết cách giải quyết những tình huống trong cuộc sống hàng ngày, giúp các em nói những điều muốn nói, làm những việc nên làm, đồng thời biết lắng nghe và thấu hiểu người khác, giúp các em tự tin, mạnh dạn hơn trong cuộc sống Trên cơ sở đó giúp các em có kỹ năng bày tỏ thái độ, quan điểm của mình trước các vấn đề của cuộc sống, đặt ra trong các quan hệ của trẻ ở gia đình, nhà trường và xã hội Đồng thời giúp các em biết nhìn nhận và đánh giá đúng về bản thân, trên cơ sở đó có những biện pháp tự điều khiển, tự điều chỉnh cho phù hợp và thích ứng được dễ dàng với
quan hệ xã hội Nếu các em thiếu hoặc“giao tiếp nghèo nàn” sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến
sự hình thành và phát triển nhân cách Xuất phát từ vai trò của kỹ năng giao tiếp đối với quá trình phát triển nhân cách học sinh đòi hỏi nhà trường, giáo viên cần có nhận thức đúng về kỹ năng giao tiếp và tiến hành giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh
- Giáo dục KNGT tạo nên giá trị sống tích cực của học sinh
Học sinh tiểu học là lứa tuổi bình minh của cuộc đời, hình thành phát triển nhân cách HS tiểu học có tính chất nền tảng cho sự phát triển nhân cách Do đó, phát triển kĩ năng giao tiếp cho HS tiểu học có tầm quan trọng rất lớn trong sự phát triển sau này của học sinh
Phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học sẽ giúp các em hướng tới giá trị sống tích cực, hành vi văn hóa, ứng xử và giá trị sống tích cực; đó là giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ, giá trị về lòng khoan dung, đức độ, giá trị về trí tuệ, sáng tạo…vv
Giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học giữ vai trò rất to lớn trong việc bắt đầu tạo nên giá trị sống cho các em, giúp các em thể hiện được giá trị của bản thân vào cuộc sống để và từ đó, các em trưởng thành với một hệ giá trị tích cực bởi thành quả của quá trình giáo dục Bên cạnh đó, việc giáo dục kĩ năng giao tiếp còn xây dựng và tạo nên nét văn hóa trong nhà trường Đó là văn hóa ứng xử và văn hóa giao tiếp
- Giáo dục KNGT cho học sinh, giúp học sinh tạo lập các mối quan hệ tốt đẹp trong cuộc sống:
Trang 34Thông qua giao tiếp, học sinh tiểu học được phát triển quan hệ với người khác và phát triển nhân cách Toàn bộ quá trình phát triển của các em diễn ra song song với các quan hệ xã hội ngày càng được mở rộng, trong đó mỗi người chịu sự ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau Khi giao tiếp, tương tác với người khác, các
em có dịp quan sát, ghi nhận các phản ứng, các thái độ phản hồi của họ mà nhờ đó biết cách tự tìm hiểu, nhìn nhận đánh giá mình một cách chân thực và khách quan,
để xử lý và hình thành các mối quan hệ phù hợp Qua giao tiếp, các em ra nhập các mối quan hệ trong xã hội với nhiều cá nhân khác trong xã hội, phạm vi giao tiếp sẽ được mở rộng
Giáo dục kĩ năng giao tiếp giúp học sinh trao đổi tri thức, thông tin trong học tập, rèn luyện, chia sẻ các vấn đề trong cuộc sống… Nhờ có giao tiếp, học sinh biết cách bày tỏ thái độ và quan điểm của mình trong quan hệ gia đình, nhà trường và xã hội Vì vậy, đối với học sinh tiểu học, chúng ta cần hướng dẫn các em, giúp các em Biết- Hiểu- Hành động và cộng tác trong quan hệ giao tiếp với người khác Ở đây,
ta thấy vai trò của kĩ năng giao tiếp trong hình thành các mối quan hệ lứa tuổi học trò bậc tiểu học những tiếp xúc rộng rãi với bạn bè, quan hệ với các thầy cô giáo thông qua việc học, sinh hoạt, vui chơi… mà các em đã xuất hiện nhu cầu giao tiếp, hình thành các mối quan hệ xã hội mới trong lớp, trong trường Yêu quý thầy cô, thân thiết với bạn bè, chia sẻ đồ chơi, háo hức khám phá… đã làm cho các mối quan
hệ của các em trở thành rộng hơn, sinh động hơn
Kỹ năng giao tiếp ảnh hưởng trực tiếp tới việc thiết lập các mối quan hệ, đến công việc ở mọi lứa tuổi Kỹ năng giao tiếp tốt là một thế mạnh đối với bất cứ ai trong công việc nói chung và đối với học sinh tiểu học trong học tập, rèn luyện nói riêng Đối với lứa tuổi học trò, giao tiếp là phương tiện cho phép học sinh xây dựng cầu nối với bạn bè, với nền văn hóa của nhân loại, với thầy cô giáo và với người khác, thì chính bản thân mình, thuyết phục người khác chấp nhận ý kiến của các em
để giải quyết các vấn đề học tập, rèn luyện và bày tỏ được nhu cầu của bản thân
Giao tiếp có mối quan hệ trực tiếp với giáo dục, nhờ có giáo dục mà kĩ năng giao tiếp của con người ngày càng hoàn thiện và phát triển Nhờ có giáo dục mà con
Trang 35người biết cách giao tiếp thành công và hiệu quả Nhưng ngược lại, thông qua hoạt động giao tiếp mà giáo dục thực hiện được mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục đặt ra Giữa giao tiếp và giáo dục là hai hoạt động thực hiện thông qua nhau Ở đây, ta cũng cần hiểu giáo dục rộng hơn, không chỉ có trong nhà trường mà nó còn diễn ra trong gia đình, xã hội và thông qua các quan hệ cá nhân Nhiều điều nhỏ nhặt mà học sinh đã từng thực hiện hằng ngày (có thể có những điều mà người lớn không từng nghĩ đến) lại có ảnh hưởng rất lớn tới kĩ năng giao tiếp của các em và ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động học tập, rèn luyện của trẻ
Giao tiếp không chỉ là hình thức, phương tiện của giáo dục, bởi giáo dục thực hiện nội dung giao tiếp để truyền thụ tri thức,hình thành thói quen, xác lập nhân cách và các giá trị tích cực của cuộc sống và trở lại, HS tiếp thu, vận dụng những điều từ giáo dục mang lại để phục vụ cho xã hội Do đó, giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh nói chung, học sinh tiểu học nói riêng là việc làm có ý nghĩa
vô cùng quan trọng và cần thiết bằng hoạt động và giao tiếp của mình , mỗi người trở thành người, xã hội hóa và bản thân nhập vào các quan hệ xã hội, chuyển các quan hệ này thành của chính mình
1.4.3 Nội dung GDKNGT cho học sinh Tiểu học
- Giáo dục văn hóa giao tiếp cho học sinh: Giao tiếp của học sinh tiểu học có
liên quan đến phạm vi hoạt động của các em Nếu số lượng đối tượng giao tiếp của trẻ tăng lên thì phạm vi giao tiếp của trẻ cũng sẽ mở rộng Ở bậc tiểu học, giao tiếp của các em cũng bắt đầu được mở rộng, lúc này giao tiếp không chỉ bó hẹp trong gia đình, chòm xóm nơi cư trú, các em bắt đầu có những quan hệ rộng hơn khi đến trường Lúc này, các em có sự thay đổi căn bản của hoạt động chủ đạo, có sự chuyển biến tích cực trong các quan hệ do đối tượng giao tiếp của trẻ được mở rộng hơn Việc giáo dục giao tiếp có văn hóa cho HS lúc này là việc làm cần thiết nhằm trang bị cho các em những kỹ năng đầu đời và cơ bản của cuộc sống, giúp các em trao đổi tri thức thông tin trong học tập, rèn luyện, chia sẻ các vấn đề trong cuộc sống, hoạt động và vui chơi Thông qua giao tiếp, học sinh biết cách bày tỏ thái độ
và quan điểm của mình trong quan hệ gia đình, nhà trường và xã hội
Trang 36Thông qua nội dung dạy học, nội dung giáo dục và các hoạt động ngoài giờ lên lớp, nhà trường, giáo viên giáo dục cho học sinh tiểu học nhận thức đúng về tầm quan trọng, cách thức thực hiện và vai trò của quá trình tập luyện, rèn luyện những hành vi giao tiếp có văn hóa Cũng thông qua nội dung giáo dục, dạy học và sinh hoạt tập thể, sẽ hình thành cho học sinh tiểu học những nội dung tri thức của hành
vi giao tiếp có văn hóa, các chuẩn mực quy định đối với hành vi giao tiếp, cách thức thực hiện những hành vi đó làm cơ sở nền tảng cho việc hình thành kỹ năng giao tiếp
Khác với trẻ trước khi đến trường, giao tiếp của HS tiểu học đã có và tiếp xúc với nhiều mối quan hệ hơn: quan hệ thày với trò, trò với trò, thày với thày Các mối quan hệ giao tiếp đó có văn hóa hay không phụ thuộc vào môi trường sống, môi trường giáo dục giao tiếp Chính người lớn (hay nói cách khác nhà trường, gia đình) phải làm nền tảng trong giáo dục giao tiếp có văn hóa cho HS Học sinh tiểu học đến trường mới bắt đầu tiếp thu, bước đầu hình thành thói quen, đạo đức do đó, giao tiếp có văn hóa thực sự quan trọng đối với các em Thực hiện chương trình nói lời hay, làm việc tốt cho HS tiểu học có ý nghĩa rất lớn với bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội
Nội dung giáo dục giao tiếp có văn hóa cho HS tiểu học trước hết là những chuẩn mực, quy tắc giao tiếp có văn hóa đơn giản phù hợp với lứa tuổi Đó là cách chào hỏi, nói lời cảm ơn, xin lỗi, biểu đạt thái độ, lắng nghe, biết chia sẻ, hòa nhập, tạo thói quen trong sinh hoạt và hoạt động, các cử chỉ và hành vi phù hợp trong các mối quan hệ với người thân trong gia đình, với thày cô giáo, bạn bè với những người xung quanh Những chuẩn mực, quy tắc giao tiếp này khi GD cho các em, nó phải vừa phù hợp với thực tế, vừa có sự tiếp cận với những chuẩn mực, quy tắc giao tiếp chung của xã hội
Trong giáo dục giao tiếp cho HS tiểu học cần chú ý đến những hệ thống giá trị, ngôn ngữ, phong tục, tập quán lối sống để phát huy tính tích cực, mang tính chất địa phương vào trong giáo dục nói chung và giáo dục giao tiếp nói riêng có hiệu quả Từ đó, các em có sự chia sẻ, hội nhập và tiến tới tiếp cận với cộng đồng xã hội của đất nước
Trang 37- Giáo dục kỹ năng hành vi giao tiếp: Ngôn ngữ là một trong những yếu tố
quyết định đến quá trình phát triển của lịch sử loài người và sự phát triển của mỗi
cá nhân Nhờ có ngôn ngữ mà con người thiết lập được giao tiếp, trao đổi thông tin, tư tưởng tình cảm, tạo lập các mối quan hệ qua phương tiện giao tiếp ngôn ngữ
và phi ngôn ngữ, từ đó con người phát triển, thúc đẩy xã hội phát triển Phương tiện giao tiếp này chỉ có riêng ở con người, là công cụ cơ bản của giao tiếp xã hội Việc sử dụng các phương tiện giao tiếp trong cuộc sống như thế nào để có hiệu quả còn phụ thuộc vào vốn sống kinh nghiệm, tri thức hiểu biết của mỗi con người Ở mỗi cá nhân, trình độ nhận thức về văn hóa xã hội, khả năng trí tuệ được thể hiện
rõ trong cách sử dụng phương tiện giao tiếp, trong ứng xử xã hội hàng ngày
Cũng qua nội dung dạy học, qua bài tập thực hành hay tham gia hoạt động giáo dục và sinh hoạt tập thể, giáo viên tập luyện cho học sinh những kỹ năng giao tiếp phù hợp như: Kỹ năng chào hỏi, xin phép, nói lời cảm ơn, xin lỗi, nói lời yêu cầu đề nghị, nghe và nhận điện thoại của người khác, chia sẻ cùng người khác niềm vui hay nỗi buồn, kỹ năng xử lý tình huống, tự nhận xét đánh giá về bản thân,
kỹ năng khai thác thông tin trên mạng phục vụ cho học tập vv Để các kỹ năng trên đạt được kết quả, giáo viên giúp học sinh nắm vững chuẩn mực của từng kỹ năng, cách thực hiện và quy trình tập luyện từng kỹ năng đó Trong các hoạt động ngoài giờ, ở những môn học, đặc biệt các môn học liên quan đến giao tiếp, ứng xử, giáo viên có thể tác động, lồng ghép những trò chơi phù hợp, những tâm tình, những câu chuyện sống động để giáo dục kỹ năng giao tiếp cho HS Trong những buổi sinh hoạt, những khóa học phổ biến về các chuyên đề như giáo dục KNS, kỹ năng giao tiếp… giáo viên tạo ra môi trường giao tiếp có văn hóa và đó là điều kiện tốt nhất để rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho HS tiểu học nông thôn miền núi
- Lựa chọn các kỹ năng giao tiếp cần giáo dục phù hợp lứa tuổi học sinh tiểu học: Để rèn luyện các kỹ năng giao tiếp, trước hết các nhà giáo dục cần phải
xác định những kỹ năng cần giáo dục cho học sinh và giáo dục các kỹ năng đó như
thế nào trong từng hoàn cảnh cụ thể
Trang 381.4.4 Hình thức tổ chức GDKNGT cho học sinh Tiểu học
Giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh các trường tiểu học thông qua các hình thức sau:
- Tổ chức dạy học trên lớp theo hướng lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục KNGT trong chương trình dạy học, giáo dục HS với các môn học có ưu thế
Hoạt động giáo dục trên lớp là hoạt động giữ vai trò chủ đạo, quan trọng ở các trường học hiện nay Tùy theo nội dung, chương trình của từng môn học, từng loại hình hoạt động, giáo viên có thể lựa chọn các kỹ năng giao tiếp có thể tích hợp lồng ghép một cách thích hợp, vừa sức với tuổi HS tiểu học, tránh khiên cưỡng và quá tải trong giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh Giáo viên có thể lựa chọn hình thức kết hợp GD trong giảng dạy thông qua các môn học chiếm ưu thế và liên quan trong giáo dục kỹ năng giao tiếp như môn: Đạo đức, Tiếng Việt, Tự nhiên và
xã hội, giáo viên có thể tiến hành giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh Giáo viên cần thiết kế chu đáo các bài tập tình huống về giao tiếp để lồng ghép, rèn luyện
kỹ năng giao tiếp cho người học Thông qua việc giáo dục tích hợp, HS sẽ hứng thú, thoải mái, hưng phấn, nhẹ nhàng, tự nhiên trong việc tiếp thu những kỹ năng giao tiếp được tích hợp Việc tích hợp giáo dục này sẽ làm tăng chất lượng giảng dạy của môn học và đặc biệt hoạt động giáo dục, sẽ có hiệu quả cao bởi khả năng chỉ được hình thành thông qua hoạt động và bằng hoạt động, góp phần nâng cao chất lượng dạy học, chất lượng giáo dục và hình thành, phát triển nhân cách học sinh một cách toàn diện
Tổ chức dạy học trên lớp theo hướng lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục KNGT trong chương trình dạy học, giáo dục HS thông qua dạy học trên lớp với các môn học có ưu thế không chỉ thực hiện được các mục tiêu vốn có của bài học gắn với môn học mà còn giúp học sinh hiểu, trải nghiệm được các kỹ năng giao tiếp gắn với bài học, trên cơ sở đó học sinh tiểu học được hình thành các kỹ năng giao tiếp của mình Như vậy, ta thấy hoạt động động dạy học trên lớp là điều kiện
và con đường tốt nhất để phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học
Trang 39Yêu cầu trong việc lồng ghép, tích hợp giáo dục kỹ năng giao tiếp phải không làm ảnh hưởng tới việc thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình môn học
- Tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp tích hợp nội dung giáo dục
kỹ năng giao tiếp
Ngoài việc tích hợp giáo dục kỹ năng giao tiếp thông qua việc giảng dạy các môn học có ưu thế, còn có các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Hoạt động này gắn bó chặt chẽ với các hình thức giáo dục qua dạy học giúp học sinh không những củng cố, mở rộng những tri thức mà còn hình thành được thái
độ tình cảm, rèn luyện được hành vi, kỹ năng thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp như thi tìm hiểu, thuyết trình theo chủ đề, xử lý tình huống, các hoạt động tham quan dã ngoại, xâm nhập thực tế sẽ giúp cho học sinh tiếp cận với thực tế, đi sâu vào một chủ đề và làm quen với các tình huống thực tiễn trong đời sống Những hoạt động này thường thu hút và gây hưng phấn trong HS, tạo điều kiện để HS thực hành và tăng cường những kỹ năng giao tiếp theo những cách thức phù hợp với từng nhóm đối tượng và từng vùng Trên cơ sở đó, HS sẽ tiếp thu nhanh, vững chắc, ấn tượng với kiến thức được giáo dục Vì vậy, giáo viên cần kết hợp lồng ghép việc giáo dục kỹ năng giao tiếp với các hoạt động ngoài giờ lên lớp một cách thích hợp và hiệu quả Trong các hoạt động trên, dùng phương pháp đóng vai hay tổ chức trò chơi sẽ thu được kết quả cao trong rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho HS
- Tổ chức các hoạt động sinh hoạt tập thể thông qua đó giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh
Tổ chức các hoạt động sinh hoạt tập thể cũng là một trong những con đường giáo dục KNGT cho học sinh các trường tiểu học Đặc trưng của tổ chức các hoạt động sinh hoạt tập thể cho học sinh tiểu học là lấy tập thể làm môi trường giáo dục, lôi cuốn các em vào phong trào hoạt động chung của tập thể Với các hình thức như lao động, vui chơi, hoạt động xã hội tập thể và các mối quan hệ giao tiếp ngoài xã hội tạo cơ hội và điều kiện cho học sinh tự rèn luyện, biến những yêu cầu giáo dục thành hành vi, kỹ năng tương ứng Trong sinh hoạt tập thể, học sinh được rèn luyện, biết đoàn kết thương yêu, giúp đỡ và chia sẻ, hợp tác với nhau giúp học sinh được
tự tin, mạnh dạn hòa đồng với tập thể
Trang 40- Tổ chức các hoạt động xã hội để giáo dục KNGT cho học sinh
Hoạt động xã hội giữ vai trò không thể thiếu trong hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp Tác động của xã hội từ nhiều phía, từ các tổ chức chính trị - xã hội,
tổ chức xã hội, nghề nghiệp, từ các cấp, các ngành và các yếu tố khác trong xã hội tham gia vào môi trường giáo dục Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh là tổ chức của lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng có vai trò rất lớn trong việc tập hợp, tổ chức sinh hoạt, giáo dục thiếu niên nhi đồng theo những chương trình, nội dung bổ ích, góp phần hình thành và phát triển phẩm chất, lý tưởng cho HS Trong hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp, nhà trường và giáo viên cần phát huy vai trò tổ chức Đội của nhà trường trong rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học thông qua các phong trào, các hoạt động theo chủ đề, chủ điểm của đội Hoạt động của đội rất phù hợp với lứa tuổi nên có sức cuốn hút HS tham gia tích cực và hiệu quả giáo dục sẽ được nâng lên
1.4.5 Các lực lượng GDKNGT cho học sinh Tiểu học
Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho HS là trách nhiệm chung của nhà trường,
gia đình và xã hội Quá trình giáo dục đó đòi hỏi có một sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các lực lượng trong XH, tạo ra một môi trường giáo dục nói chung, giáo dục kỹ năng giao tiếp nói riêng một cách lành mạnh và có sức mạnh tổng hợp
to lớn
Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho HS, nhà trường giữ vai trò rất lớn nhưng không thể giao phó hết trách nhiệm cho nhà trường Trong hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp cho HS, cần có sự phối hợp chặt chẽ của gia đình và các lực lượng
xã hội khác (hội cha mẹ HS, đoàn - đội, cộng đồng, chính quyền địa phương ) Đó cũng chính là phương châm trong giáo dục của nhà nước Việt Nam
Lớp học, trường học là môi trường thuận lợi trong việc phát triển tri thức, tư duy và ngôn ngữ giao tiếp; lớp học, trường học như một xã hội thu nhỏ, ở đó các
em được học tập, vui chơi, khám phá, tìm tòi Nếu như GV không tạo ra được bầu không khí thân thiện, hòa đồng thì với những bài giảng cứng nhắc cộng với bản tính nhút nhát của HS, sẽ không tạo được hiệu quả trong GD nói chung và trong