1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dịch vụ Công tác xã hội đối với người có công với cách mạng từ thực tiễn Trung tâm Phụng dưỡng người có công với cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng

88 247 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 592,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, cùng với những chính sách của Trung ương, trong những năm qua, Thành ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ Việt Nam thành phố, các cấp, các ngành đã có nhiều chính sách riêng nhằm trợ giúp cho

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÝ QUỲNH LINH

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤNG DƯỠNG NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG ĐÀ NẴNG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS TS PHẠM HỮU NGHỊ

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn

Thạc sĩ Công tác xã hội về “Dịch vụ Công tác xã hội đối với người có công

với cách mạng từ thực tiễn Trung tâm Phụng dưỡng người có công với cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng” là hoàn toàn trung thực và không

trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận văn

Lý Quỳnh Linh

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG CÁCH MẠNG 10 1.1 Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu của người có công với cách mạng 10 1.2 Nhu cầu, khái niệm, cách tiếp cận, kỹ năng dịch vụ công tác xã hội đối với người có công với cách mạng 16 1.3 Nội dung dịch vụ công tác xã hội đối với người có công với cách mạng 24 1.4 Thể chế dịch vụ dịch vụ công tác xã hội đối với người có công với cách mạng 29 1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội đối với người có công với cách mạng 33

Chương 2 THỰC TRẠNG NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG VÀ THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TẠI TRUNG TÂM PHỤNG DƯỠNG NGƯỜI CÓ CÔNG CÁCH MẠNG ĐÀ NẴNG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 38

2.1 Giới thiệu về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng 38 2.2 Thực trạng và nhu cầu của người có công với cách mạng tại Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng 41 2.3 Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với người có công với cách mạng tại Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng 47 2.4 Đánh giá dịch vụ công tác xã hội đối với người có công với cách mạng tại Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng 56

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO THỰC HIỆN DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤNG DƯỠNG NGƯỜI CÓ CÔNG CÁCH MẠNG ĐÀ NẴNG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 63

3.1 Các định hướng đảm bảo thực hiện dịch vụ công tác xã hội đối với người

có công với cách mạng 63 3.2 Các giải pháp đảm bảo thực hiện dịch vụ công tác xã hội đối với người có công với cách mạng từ thực tiễn Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách

mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng 67

KẾT LUẬN 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

PHỤ LỤC

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

LĐ-TB&XH Lao động - Thương binh và Xã hội

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Dân tộc Việt Nam đã trải qua những năm tháng chiến tranh tàn khốc và

ác liệt Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân

dân Việt Nam đã vùng lên chiến đấu theo chân lý: “Không có gì quý hơn độc

lập tự do”, với tinh thần: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, “Thà hy sinh tất

cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, rất nhiều người con yêu

nước, nhiều cá nhân và gia đình đã hiến dâng cả tính mạng, xương máu, sức lực, trí tuệ và tuổi trẻ của mình cho đất nước, để khi họ trở về với cuộc sống đời thường lại mang trên mình những thương tật, bệnh tật, di chứng của chiến tranh Chính vì thế mà Tổ quốc và nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn to lớn của những người con anh dũng ấy Và việc quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho những người có công với đất nước và gia đình họ vừa thể

hiện truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” tốt đẹp của

dân tộc ta vừa là trách nhiệm của Đảng, của Nhà nước và cả xã hội Bởi vậy, ngay sau khi giành được chính quyền, từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 20/SL ngày 16/02/1947 về “Ưu đãi người có công” để đền đáp những công lao, cống

hiến của họ

Theo thống kê, cả nước hiện có gần 9 triệu NCCVCM, chiếm gần 10% dân số, trong đó có 1.146.250 LS, 49.609 MVNAH, 781.021 TB và người hưởng chính sách như thương binh, 185.000 BB, 1.253 Anh hùng Lực lượng

Vũ trang, Anh hùng Lao động trong kháng chiến, 101.138 người có công giúp

đỡ cách mạng, trên 1,47 triệu người có công đang hưởng trợ cấp ưu đãi hằng tháng của Nhà nước

Cũng giống như nhiều NCCVCM ở các địa phương khác trên cả nước, sau những năm tháng tham gia chiến đấu, công tác ở những nơi gian khổ trở

Trang 6

về với cuộc sống đời thường, NCCVCM ở thành phố Đà Nẵng gặp rất nhiều khó khăn do tuổi cao, sức khỏe bị suy giảm, bị thương tật, bệnh tật, không có nguồn vốn để đầu tư, trình độ tay nghề thấp hoặc không có; nhiều người không lập được gia đình, nhiều gia đình có con bị dị tật do cha, mẹ bị ảnh hưởng chất độc hóa học Vì vậy, cùng với những chính sách của Trung ương, trong những năm qua, Thành ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ Việt Nam thành phố, các cấp, các ngành đã có nhiều chính sách riêng nhằm trợ giúp cho NCCVCM vừa thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa” tốt đẹp của dân tộc, vừa để trợ giúp NCCVCM vượt qua khó khăn, vươn lên ổn định cuộc sống; cộng đồng các doanh nghiệp và người dân cũng

có nhiều hoạt động tri ân, chia sẻ với NCCVCM như nhận chăm sóc Bà mẹ VNAH, hỗ trợ xây nhà tình nghĩa, tạo việc làm cho NCC và thân nhân của họ Đà Nẵng được xem là địa phương đi đầu trong thực hiện các chính sách đối với NCCVCM Hiện nay, thành phố có gần 22.000 lượt đối tượng đang hưởng trợ cấp thường xuyên, kinh phí chi trả hằng năm hơn 340 tỷ đồng; trên

100 ngàn lượt đối tượng được xác nhận theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng, trong đó có gần 17.000 liệt sĩ với hơn 27.000 thân nhân, 12.389 TB, BB, 1.114 cán bộ tham gia hoạt động cách mạng trước tháng Tám năm 1945, 18.906 người hoạt động kháng chiến được tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến hưởng trợ cấp 1 lần, 8.516 người có công giúp đỡ cách mạng được tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến, 6.048 người tham gia kháng chiến bị địch bắt tù, đày, 2.912 người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm CĐHH, 9.650 con liệt sĩ, TB, BB được hưởng chính sách ưu đãi giáo dục - đào tạo, có 3.116 Mẹ được tuyên dương danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ VNAH, trong đó có 240 Mẹ còn sống, có 56/56 xã, phường đã được công nhận là xã, phường làm tốt công tác TBLS và người có công theo 6 tiêu chuẩn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội,

Trang 7

100% GĐCS có mức sống cao hơn mức sống trung bình khu dân cư nơi cư trú Trong 2 năm (2015-2016), thành phố xây mới 549 nhà tình nghĩa (kinh phí 32,940 tỷ đồng), sửa chữa 2.007 nhà (kinh phí 41,767 tỷ đồng)

Tuy nhiên, những thành công ấy được xét dưới góc độ chính trị - xã hội, còn dưới góc độ CTXH thì dường như chưa được coi trọng và quan tâm đúng mức; chưa huy động được các nhà khoa học, các nhà chuyên môn trong lĩnh vực CTXH để tham gia xây dựng chính sách; các hoạt động, phong trào còn mang tính hình thức, thiếu chiều sâu, thiếu tính bền vững; nguồn lực đầu tư để thực hiện CTXH và cung cấp DVCTXH còn hạn chế, trong đó có nguồn nhân lực; việc triển khai thực hiện chính sách còn chồng chéo, nhiều cơ quan quản

lý, thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp; việc phối hợp giải quyết vấn đề của một số cơ quan và địa phương đôi khi thiếu chặt chẽ, chậm trể Vì vậy chưa thật sự đáp ứng được mong mỏi, yêu cầu của NCCVCM

Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Dịch vụ Công tác xã hội đối với

người có công với cách mạng từ thực tiễn Trung tâm Phụng dưỡng người

có công với cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sỹ

của mình Với đề tài này, tác giả muốn được đóng góp một phần sức lực của mình trong việc đưa ra một số khuyến nghị, giải pháp nhằm cung ứng các loại hình dịch vụ và nâng cao chất lượng dịch vụ CTXH đối với NCCVCM

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

2.1 Một số nghiên cứu ở nước ngoài

ANN MCDONALD (2010) trong cuốn sách “Social Work with older people”, First published by polyty press, tác giả đã trình bày khung lý thuyết

có thể ứng dụng trong thực hành CTXH với người cao tuổi và một số cách tiếp cận trong thực hành CTXH với người cao tuổi; những khó khăn, những vấn đề phát sinh trong làm việc với người cao tuổi

Trang 8

2.2 Một số nghiên cứu trong nước

Các nhà khoa học, nhà chuyên môn trong nước đã có nhiều nghiên cứu

về chính sách đối với NCCVCM Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả

đã tiếp cận, tham khảo một số công trình sau:

- Nguyễn Văn Thành (1994), Luận án Tiến sĩ kinh tế “Đổi mới chính sách kinh tế - xã hội đối với người có công ở Việt Nam”

- Nguyễn Đình Liêu (1996), Luận án Phó Tiến sĩ khoa học luật học

“Hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng ở Việt Nam - lý luận và thực tiễn”

- Hoàng Công Thái (2005), “Thực hiện chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công”, Tạp chí Quản lý nhà nước, (số 7), tr 28-31

- Nguyễn Thị Tuyết Mai (2009), Luận văn Thạc sĩ luật học “Hoàn thiện pháp luật ưu đãi xã hội ở Việt Nam”

- Đỗ Thị Dung (2010), “Đối tượng hưởng ưu đãi xã hội và một số kiến nghị”, Tạp chí Luật học (số 8), tr 10-17

- Vũ Thị Vân Anh (2015), Công tác xã hội với thương binh từ thực tiễn

xã Pơng Drang, huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk, Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Công tác xã hội, học viện Khoa học xã hội

Nhìn chung, tác giả các bài viết, công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến nhiều góc độ khác nhau của văn bản pháp luật nói chung và việc triển khai thực hiện; tiếp cận ở khía cạnh ảnh hưởng và tác động của chính sách an sinh xã hội ảnh hưởng đến đời sống của NCCVCM dưới góc nhìn của người làm chính sách chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu về các dịch vụ CTXH đối với NCCVCM

Luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội, học viện Khoa học xã hội “Công tác

xã hội với thương binh từ thực tiễn xã Pơng Drang, huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk” của tác giả Vũ Thị Vân Anh đã phân tích, đánh giá việc thực hiện

Trang 9

chính sách đối với TB và các hỗ trợ xã hội đối với TB tại một địa phương dưới góc nhìn của ngành CTXH Tác giả đã nghiên cứu, đánh giá sâu nhu cầu của TB và đưa ra được giải pháp hỗ trợ mang tính bền vững cao phù hợp với

TB và điều kiện thực tiễn của địa phương Luận văn là tài liệu tham khảo tốt đối với tôi trong việc nghiên cứu thực hiện đề tài tốt nghiệp

Đối với thành phố Đà Nẵng, qua tìm hiểu, đến nay chưa có công trình hay đề tài nào nghiên cứu về dịch vụ CTXH đối với NCCVCM trên địa bàn thành phố để đưa ra những khuyến nghị, giải pháp nhằm định hướng trợ giúp cho NCCVCM Vì vậy, đề tài mà tác giả nghiên cứu hoàn toàn mang tính mới, và mong muốn góp phần tìm ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ CTXH đối với NCCVCM

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ những vấn đề về lý luận và thực tiễn dịch vụ công tác xã hội đối với NCCVCM (qua thực tiễn Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng) Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả DVCTXH đối với NCCCM

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về công tác xã hội đối với NCCVCM

- Đi sâu vào tìm hiểu, đánh giá thực trạng đời sống của NCCVCM; thực trạng DVCTXH đối với NCCVCM cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả cung cấp DVCTXH đối với NCCVCM tại Trung tâm Phụng dưỡng người

có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng

- Trên cơ sở phân tích đánh giá, tìm hiểu các thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng để đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả DVCTXH đối với

Trang 10

NCCCM tại Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- NCCVCM được chăm sóc, phụng dưỡng tại Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng

- Các loại hình dịch vụ CTXH đối với NCCVCM đang được thực hiện tại đây

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu về đối tượng: đề tài tập trung nghiên cứu 3 loại hình DVCTXH đối với NCCVCM, đó là: dịch vụ hỗ trợ chăm sóc sức khỏe; dịch vụ hỗ trợ tâm lý; dịch vụ kết nối nguồn lực, hỗ trợ vật chất, tinh thần, vui chơi giải trí, nơi nghỉ dưỡng, ăn ở, hoạt động hỗ trợ xã hội

- Phạm vi nghiên cứu về khách thể:

+ NCCVCM tại Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng;

+ Nhân viên CTXH trong hỗ trợ DVCTXH đối với NCCVCM

- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

- Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: từ những đánh giá thực trạng về đời sống của NCCVCM, thực trạng của DVCTXH đối với NCCVCM tại Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng rút ra được những lý luận và đưa ra được những đề xuất

về biện pháp để nâng cao hiệu quả DVCTXH đối với NCCVCM tại Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng

Trang 11

- Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: nghiên cứu hệ thống những

lý thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quan như dịch vụ hỗ trợ của công tác xã hội đối với NCCVCM

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Trong quá trình nghiên cứu, tôi sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để:

- Đọc và tìm hiểu các giáo trình, tài liệu có liên quan đến CTXH như: Nhập môn CTXH, Phát triển cộng đồng, Lý thuyết CTXH…

- Đọc và phân tích các tài liệu, báo cáo của các cấp chính quyền địa phương, ngành như: "Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế

- xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh năm 2016” của UBND thành phố Đà Nẵng; “Báo cáo kết quả thực hiện Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng những năm vừa qua và nhiệm vụ giải pháp trong thời gian tới” của Sở

Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Đà Nẵng…

5.2.2 Phương pháp điều tra bảng hỏi

Là phương pháp dựa trên hình thức hỏi đáp gián tiếp dựa trên bản các câu hỏi được soạn thảo trước, điều tra viên tiến hành phát bản hỏi, hướng dẫn thống nhất cách trả lời các câu hỏi, người được hỏi tự đọc các câu hỏi trong bản hỏi rồi ghi cách trả lời của mình vào phiếu hỏi rồi gửi lại cho điều tra viên

Tác giả đã tiến hành điều tra 30 NCCVCM được chăm sóc, phụng dưỡng tại Trung tâm Nội dung là đánh giá về các dịch vụ vật chất, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, vui chơi giải trí, hỗ trợ đời sống tinh thần của Trung tâm đối với NCCVCM

5.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Tác giả sử dụng phương pháp này với mục đích tìm hiểu, thu thập thông tin chuyên sâu từ NCCVCM và những người trợ giúp NCCVCM về khả năng, tính hiệu quả của các hoạt động trợ giúp NCCVCM; đồng thời kiểm chứng lại

Trang 12

mức độ tin cậy của các thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu qua điều tra, quan sát

5.2.4 Phương pháp quan sát

Trong đề tài này tác giả sử dụng phương pháp quan sát nhằm thu thập, bổ sung thông tin còn thiếu và kiểm tra đối chiếu, so sánh các thông tin từ việc quan sát để đánh giá độ tin cậy của các thông tin thông qua việc quan sát bối cảnh sống, thái độ, thể trạng, sự hài lòng, của NCCVCM làm cơ sở bổ sung cho các thông tin liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu

luận về chính sách xã hội nói chung

Là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này về lĩnh vực

NCCVCM, cung cấp DVCTXH cho NCCVCM

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu góp phần cung cấp thông tin cho ngành, địa phương, các tổ chức xã hội; đề xuất phương án cũng như đưa ra những khuyến nghị để có các chính sách trợ giúp gắn liền với nhu cầu của NCCVCM để họ có cuộc sống tốt hơn

Là cơ sở để ngành, các cấp chính quyền, tổ chức xã hội tham khảo, nghiên cứu trong quá trình hoạch định, xây dựng chính sách hỗ trợ cho NCCVCM có những chính sách phù hợp để hoàn thiện và nâng cao chất

Trang 13

lượng dịch vụ CTXH đối với NCCVCM tại thành phố Đà Nẵng nói chung,

Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng nói riêng

Giúp cho nhà quản lý, NVCTXH thấy được tầm quan trọng của việc cung cấp DVCTXH đối với NCCVCM tại cơ sở chăm sóc; DVCTXH của cơ

sở có đáp ứng được yêu cầu, sự mong muốn của NCCVCM hay chưa; sự tham gia của NCCVCM vào việc thực hiện DVCTXH

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với NCCVCM

Chương 2: Thực trạng người có công với cách mạng và thực trạng dịch

vụ CTXH đối với NCCVCM tại Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng

Chương 3: Định hướng và các giải đảm bảo thực hiện dịch vụ công tác

xã hội đối với NCCVCM từ thực tiễn Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng

Trang 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI

ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 1.1 Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu của người có công với cách mạng

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của người có công với cách mạng

Khái niệm người có công

Căn cứ các tiêu chuẩn đối với từng đối tượng là NCC mà Nhà nước đã quy định, trong một số công trình đã nêu khái niệm NCC theo 2 nghĩa sau:

- Theo nghĩa rộng: NCC là những người không phân biệt tôn giáo, tín

ngưỡng, dân tộc, nam, nữ, tuổi tác, đã tự nguyện cống hiến sức lực, tài năng, trí tuệ, có người hy sinh cả cuộc đời cho sự nghiệp dựng nước, giữ nước và kiến thiết đất nước Họ là người có những thành tích đóng góp hoặc có những cống hiến xuất sắc phục vụ vì lợi ích của đất nước, của dân tộc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật Ở đây có

thể thấy rõ những tiêu chí cơ bản để được công nhận là NCC, đó là: có thành tích đóng góp hoặc có những cống hiến xuất sắc phục vụ vì lợi ích của đất nước, của dân tộc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật Những đóp góp, cống hiến ấy có thể là trong công cuộc đấu tranh dành độc lập dân tộc, thống nhất cho Tổ quốc; cũng có thể trong hòa bình, xây dựng và phát triển đất nước ngày nay [21, tr.18-19]

Theo nghĩa hẹp: “NCC là những người không phân biệt tôn giáo, tín

ngưỡng, dân tộc, nam, nữ, tuổi tác có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức

có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật” Ở khái niệm này,

NCC bao gồm người tham gia cách mạng, người giúp đỡ cách mạng, họ đã hy sinh cả cuộc đời mình hoặc một phần thân thể hoặc có thành tích đóng góp

Trang 15

Khái niệm người có công với cách mạng

Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng năm 2005 (sửa đổi năm 2012) có quy định: Người có công với cách mạng, bao gồm:

a) Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945;

b) Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng 8 năm 1945;

c) Liệt sĩ;

d) Bà mẹ Việt Nam Anh hùng;

đ) Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân;

e) Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến;

g) Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;

h) Bệnh binh;

i) Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học;

k) Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; l) Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế;

m) Người có công giúp đỡ cách mạng” [34, tr.1]

Cụ thể:

- Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 (còn được gọi là Cán bộ Lão thành cách mạng) là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đã tham gia tổ chức cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 [34, tr.3]

- Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 (còn gọi là Cán bộ Tiền khởi nghĩa) là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đứng đầu một tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã hoặc thoát ly hoạt động cách mạng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945 [34, tr.4]

Trang 16

- Liệt sĩ là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân và được Nhà nước truy tặng Bằng “Tổ quốc ghi công” thuộc một trong các trường hợp pháp luật quy định [34, tr.5]

Quy định về thân nhân liệt sĩ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp

“Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ” và được hưởng chế độ ưu đãi

- Bà mẹ Việt Nam Anh hùng là những bà mẹ có nhiều cống hiến, hy sinh

vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế và pháp luật đã liệt kê những trường hợp quy định những người là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng

- Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân là những người được Nhà nước tặng hoặc truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân” vì có thành tích đặc biệt xuất sắc

- Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến là những người được Nhà nước tuyên dương Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến vì có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động, sản xuất phục vụ kháng chiến

- Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh:

+ Thương binh là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp

“Giấy chứng nhận thương binh” và “Huy hiệu thương binh” thuộc một trong các trường hợp theo quy định tại khoản 12, Điều 1 của Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH 13 [34, tr.8]

+ Người hưởng chính sách như thương binh là người không phải là quân nhân, công an nhân dân, bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 12, Điều 1 của Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH 13, được cơ quan có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận người hưởng chính sách như thương binh" [34, tr.8]

Trang 17

- Bệnh binh là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên khi xuất ngũ về lại gia đình được cơ quan, đơn

vị có thẩm quyền cấp “Giấy chứng nhận bệnh binh” thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 15, Điều 1 của Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH 13 [34, tr.10]

- Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học là người được

cơ quan có thẩm quyền công nhận đã tham gia công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu từ tháng 8 năm 1961 đến 30 tháng 4 năm 1975 tại các vùng mà quân đội Mỹ sử dụng chất độc hóa học và do nhiễm chất độc hóa học dẫn đến một trong các trường hợp: mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên; vô sinh; sinh con bị dị tật, dị dạng [34, tr.11-12]

- Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày là người được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền công nhận trong thời gian bị tù, đày không khai báo có hại cho cách mạng, cho kháng chiến, không làm tay sai cho địch [34, tr.12]

- Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế là người tham gia kháng chiến được tặng “Huân chương kháng chiến”, “Huy chương kháng chiến” [34, tr.12]

- Người có công giúp đỡ cách mạng là người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm, bao gồm: người được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước” trước Cách mạng tháng Tám năm 1945; người được tặng “Huân chương kháng chiến” hoặc “Huy chương kháng chiến”; người trong gia đình được tặng “Huân chương kháng chiến” hoặc “Huy chương kháng chiến” [34, tr.13]

- Một vài đặc điểm của người có công với cách mạng

NCCVCM hầu hết đều trải qua chiến tranh, họ luôn nhớ về những người cùng hoạt động cách mạng, những đồng đội đã anh dũng hy sinh; có ý thức tự

Trang 18

hào về quá khứ cống hiến của mình cho cách mạng, có tinh thần trách nhiệm giữ gìn những phẩm chất và truyền thống cách mạng; phần lớn họ tuổi đã cao, sức khỏe bị suy giảm nhiều do bị thương tật, bệnh tật; họ có nhiều công lao, đóng góp cho cách mạng, cho đất nước

Khi hòa bình lập lại, NCCVCM tiếp tục có nhiều đóng góp vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, họ luôn trăn trở trước vận mệnh của đất nước; họ tình nguyện tham gia vào các hoạt động đi tìm đồng đội, các hoạt động xã hội ở địa phương; là tấm gương cho gia đình, dòng họ, con cháu noi theo; họ nhạy cảm với các chính sách, chế độ của Đảng và Nhà nước, nhất là những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích của họ; họ thích được quan tâm, chăm sóc hơn những người bình thường

Một bộ phận NCCVCM còn khó khăn về đời sống, khó tiếp cận với các nguồn lực xã hội, dịch vụ xã hội, kỹ năng bị hạn chế; có người có tâm lý cho rằng con cháu, thế hệ trẻ không hiểu mình; có khoảng cách về thế hệ; một số

ít có biểu hiện công thần

1.1.2 Nhu cầu của người có công với cách mạng

Nhu cầu của mỗi con người ở mỗi thời đại là rất khác nhau Nhu cầu của con người thường rất đa dạng, phong phú, mang tính thời gian và ngày càng phát triển và tùy thuộc vào hoàn cảnh sống, nhận thức, văn hóa, vị trí xã hội, điều kiện kinh tế của mỗi người Để tồn tại, con người cần phải được đáp ứng những nhu cầu cơ bản thiết yếu nhất cho sự sống như ăn mặc, nhà ở, ngủ nghỉ, y tế Để phát triển, con người cần những nhu cầu cao hơn như sự an toàn, được học hành, được tôn trọng, yêu thương Xét cho cùng sự vận động

và phát triển của xã hội loài người cuối cùng nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, càng nhiều của con người Đồng thời việc đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, càng nhiều ấy cũng chính là động cơ thúc đẩy con người tham gia vào các hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội

Trang 19

Theo nhà tâm lý học người Mỹ A.Maslow, nhu cầu của con người được sắp xếp theo thứ tự bậc thang từ thấp tới cao - từ các nhu cầu thiết yếu nhất tới các nhu cầu thứ yếu, cao hơn Theo đó, nhu cầu của con người được chia thành 5 nhu cầu theo bậc thang đó là: nhu cầu được sống; nhu cầu được an toàn; nhu cầu thuộc về một nhóm nào đó; nhu cầu được tôn trọng; nhu cầu hoàn thiện

Để làm rõ nhu cầu của NCCVCM, tác giả áp dụng thuyết nhu cầu của A.Maslow để nghiên cứu Từ đó xem xét nhu cầu nào đã được đáp ứng, sự đảm bảo, đảm bảo ở mức độ nào, tính bền vững ra sao; nhu cầu nào chưa được đáp ứng; NCCVCM muốn được đáp ứng nhu cầu nào trước, nhu cầu nào sau hay theo trình tự của A.Maslow

Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy, hiện nay NCCVCM có những nhu cầu sau:

- Đối với nhu cầu sống: sau nhiều năm tháng tham gia chiến đấu, phục

vụ kháng chiến, công tác nơi chiến trường gian khổ trở về với cuộc sống đời thường, NCCVCM gặp nhiều khó khăn trong việc bắt nhịp với cuộc sống, nhất là ở những khu vực đô thị có cuộc sống thay đổi nhanh chóng Vì số đông NCCVCM tuổi đã cao, sức khỏe bị suy giảm do thương tật, bệnh tật, di chứng của chiến tranh, ít kinh nghiệm, thiếu vốn, trình độ tay nghề thấp hoặc không có nên cuộc sống còn nhiều khó khăn; mức sống của NCCVCM chưa thể ngang bằng với mức sống bình quân của người dân nơi cứ trú; cuộc sống của họ và nhiều gia đình phụ thuộc vào nguồn trợ cấp hằng tháng; nhiều gia đình chưa có nhà ở ổn định

- Đối với nhu cầu an toàn: NCCVCM đã trải qua những phút giây sinh

tử, lằn ranh giữa sự sống và cái chết, sự tra tấn của quân thù nên họ hiểu được sự tàn khốc, mất mát, đau thương do chiến tranh gây ra Vì vậy họ rất quý trọng sự sống; muốn được sống, nghỉ ngơi, sinh hoạt, làm việc trong sự

Trang 20

an bình, độc lập; muốn được xã hội quan tâm, gia đình chăm sóc, muốn được tiếp cận với các dịch vụ y tế để khám chữa bệnh nhằm đảm bảo sức khỏe

- Đối với nhu cầu thuộc về một nhóm nào đó: NCCVCM hiện nay tuổi

đã cao nên rất muốn được quan tâm, chia sẻ, sự đồng cảm nên rất muốn sinh hoạt với đồng đội để ôn lại kỷ niệm; muốn tham gia sinh hoạt trong Hội Người cao tuổi, Hội Cựu chiến binh, câu lạc bộ dưỡng sinh, hội hoa viên để khuây khỏa tâm hồn và vơi đi ký ức buồn của chiến tranh cũng như sự khác biệt về ý thức hệ với các thành viên nhỏ tuổi trong gia đình

- Đối với nhu cầu được tôn trọng: với phần lớn con người nói chung, NCCVCM nói riêng, đây là nhu cầu quan trọng Bởi lẽ NCCVCM đã trải qua nhiều hy sinh, mất mát, đóng góp cho cách mạng, có nhiều công lao nên họ rất muốn được xã hội, cộng đồng, dòng họ, gia đình tôn vinh, quý trọng, xem

họ là tấm gương để noi theo và công nhận những gì mà họ đóng góp, nhất là tuổi thanh xuân, công sức, sự hy sinh về xương máu để góp phần làm nên lịch

sử dân tộc, xây dựng cuộc sống ngày nay

- Đối với nhu cầu hoàn thiện: cũng như nhiều người khác, NCCVCM cũng có mong muốn hoàn thiện bản thân để khẳng định mình dù trong hoàn cảnh nào; họ rất muốn tiếp tục đóng góp trí tuệ, uy tín, sự ảnh hưởng, tiếng nói của mình để tham gia xây dựng địa phương, xây dựng Nhà nước để góp phần xây dựng cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn

1.2 Nhu cầu, khái niệm, cách tiếp cận, kỹ năng cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với người có công với cách mạng

1.2.1 Nhu cầu dịch vụ công tác xã hội đối với người có công với cách mạng

Cũng như mọi người khác trong xã hội, NCCVCM rất cần có một cuộc sống ổn định, an toàn, đầy đủ về vật chất, thoải mái về tinh thần, được làm việc, được tiếp cận với các dịch vụ xã hội Theo thống kê, cả nước hiện có

Trang 21

gần 9 triệu NCC, chiếm gần 10% dân số, trong đó có 1.146.250 LS, 49.609

Mẹ VNAH, 781.021 TB và người hưởng chính sách như thương binh, 185.00

TB loại B, 1.253 Anh hùng Lực lượng Vũ trang, Anh hùng Lao động trong kháng chiến, 101.138 người có công giúp đỡ cách mạng, trên 1,47 triệu người

có công đang hưởng trợ cấp ưu đãi hằng tháng của Nhà nước Đảng và Nhà nước ngày càng quan tâm đến NCCVCM nhiều hơn để hỗ trợ họ cũng như thân nhân gia đình nhằm có điều kiện sống tốt hơn, không để NCCVCM lâm vào cảnh khó khăn, nghèo đói, thiếu ổn định

Để đảm bảo sự sống và phát triển, mỗi người có cách đáp ứng cũng như cần sự đáp ứng nhu cầu với những cách thức khác nhau Tuy nhiên so với số còn lại, NCCVCM khó có thể tự mình đáp ứng những nhu cầu ấy, ngay cả những nhu cầu tối thiểu nhất vì họ đã có một thời gian dài chịu nhiều hy sinh, mất mát, trải qua nhiều gian khổ, chịu nhiều thiệt thòi; nhiều người đến nay còn mang thương tật, bệnh tật cũng như con của họ; nhiều người không xây dựng được hạnh phúc gia đình vì sau khi hòa bình lập lại họ đã lớn tuổi Vì vậy họ rất cần Nhà nước hỗ trợ, cộng đồng xã hội chia sẻ của để được thăm khám sức khỏe thường xuyên, điều trị bệnh, an dưỡng, cải thiện kinh tế gia đình, lắp chân tay giả, mắt giả để làm việc, sinh hoạt hằng ngày được thuận lợi hơn

1.2.2 Khái niệm dịch vụ công tác xã hội đối với người có công với cách mạng

Theo mạng CTXH Việt Nam: Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại

ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hóa nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội

Theo Liên hợp quốc “Dịch vụ xã hội cơ bản là các hoạt động dịch vụ cung cấp những nhu cầu cho các đối tượng nhằm đáp ứng những nhu cầu tối thiểu của cuộc sống” (UN - Africa Spending Less on Basic Social Services)

Trang 22

Từ những quan điểm nêu trên, có thể hiểu dịch vụ xã hội cơ bản là hệ thống cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản Nếu như dịch

vụ là một khái niệm đơn lẻ thì dịch vụ xã hội là một khái niệm kép Thuật ngữ

“xã hội” trong khái niệm này có thể được hiểu theo hai nghĩa:

- Thứ nhất, đó là tính mục tiêu, nghĩa là dịch vụ hướng tới phát triển xã

hội (theo nghĩa này thì bất kỳ dịch vụ nào đóng góp vào mục tiêu phát triển xã hội đều được coi là dịch vụ xã hội)

- Thứ hai, là tính chuẩn mực hay tính xã hội, nghĩa là dịch vụ để bảo đảm

các giá trị, chuẩn mực xã hội Theo nghĩa này thì dịch vụ xã hội cung cấp những hỗ trợ cho các thành viên trong xã hội được (i) chủ động phòng ngừa khả năng xảy ra rủi ro dẫn đến không bảo đảm giá trị và chuẩn mực xã hội; (ii) chủ động tiếp cận hạn chế ảnh hưởng của rủi ro dẫn đến không bảo đảm giá trị và chuẩn mực xã hội; (iii) khắc phục rủi ro và hòa nhập cộng đồng, xã hội trên cơ sở các giá trị, chuẩn mực xã hội

Trong luận văn này, dịch vụ xã hội có thể được hiểu như sau: Dịch vụ

xã hội là hoạt động cung cấp, đáp ứng nhu cầu cho các cá nhân, nhóm người nhất định nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội Với nhóm yếu thế, DVXH là các hoạt động có chủ đích của con người nhằm phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu cơ bản và thúc đẩy khả năng hòa nhập cộng đồng, xã hội cho nhóm đối tượng yếu thế

Liên đoàn CTXH chuyên nghiệp quốc tế (họp ở Canada vào năm 2004)

cho rằng “CTXH là hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự thay đổi của xã

hội bằng sự tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội (vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ xã hội) vào quá trình tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng CTXH đã giúp con người phát triển đầy đủ và hài hòa hơn và đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân”

Trang 23

Theo Bùi Thị Xuân Mai: “CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên

nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội, góp phần đảm bảo an sinh xã hội” [19, tr.19]

Từ những khái niệm, quan điểm về CTXH và DVXH, có thể hiểu dịch

vụ CTXH ở Việt Nam như sau: DVCTXH là hoạt động chuyên nghiệp CTXH

cung cấp các hoạt động hỗ trợ về tinh thần hay vật chất cho những người gặp hoàn cảnh khó khăn, hoặc những người có nhu cầu hỗ trợ về mặt tâm lý xã hội, trợ giúp pháp lý nhằm giảm thiểu những rào cản, những bất công và bất bình đẳng trong xã hội

Qua đó, có thể hiểu một cách ngắn gọn dịch vụ công tác xã hội đối

với người có công với cách mạng: Là một hoạt động chuyên nghiệp của

CTXH nhằm trợ giúp NCCVCM giải quyết các vấn đề khó khăn mà họ đang gặp phải, từ đó giúp họ hồi phục chức năng xã hội, phòng ngừa hay nâng cao năng lực để tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy các điều kiện

xã hội để NCCVCM tiếp cận được với các chính sách, nguồn lực và dịch vụ

xã hội nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản và quyền của họ để góp phần đảm bảo an sinh xã hội

1.2.3 Cách tiếp cận dịch vụ công tác xã hội đối với người có công với

cách mạng

1.2.3.1 Tiếp cận dựa trên quyền

Tiếp cận dựa trên quyền con người là một khung lý thuyết có chứa đựng các nguyên tắc, tiêu chuẩn và mục tiêu của hệ thống quyền con người trong quá trình lập kế hoạch và tiến trình thực hiện hoạt động CTXH

Trang 24

Trên phương diện vĩ mô, cách tiếp cận dựa trên quyền có bàn đến tầm quan trọng của Nhà nước trong mối quan hệ tương quan với công dân của họ

về mặt quyền và nghĩa vụ Cách tiếp cận dựa trên quyền lôi kéo sự chú ý của Nhà nước về mặt chăm lo đời sống của những người dễ bị tổn thương

Cũng giống như cách tiếp cận khác, tiếp cận quyền con người nhằm hướng đến việc cải thiện hoàn cảnh của con người, tập trung vào nhu cầu, vấn

đề và tiềm năng của họ Theo cách này, cách tiếp cận dựa trên quyền có đề cập đến những vấn đề luôn được coi là trọng yếu đối với sự phát triển, như là thực phẩm, nước, nhà ở, y tế Vì vậy, quyền con người vượt lên trên ý niệm

về nhu cầu cơ bản mà nó chứa đựng một cái nhìn nhân đạo hơn về con người,

về khía cạnh công dân, chính trị, xã hội, kinh tế và vai trò văn hóa Đồng thời, nhắc đến quyền con người là nói đến nghĩa vụ và trách nhiệm, trong khi đó cách tiếp cận theo nhu cầu sẽ không đề cập đến

Tiếp cận quyền con người là cách tiếp cận mang tính nhân văn, coi trọng con người với những quyền mà họ được hưởng, đó là quan điểm hướng tới giá trị nhân văn cao đẹp về con người Với cách tiếp cận này, đối tượng dù đang gặp phải vấn đề khó khăn cũng được tôn trọng như là một con người với đầy đủ các giá trị Tiếp cận dựa trên quyền con người là trung tâm, tập trung vào nhu cầu và tiềm năng của họ để đi tới giải quyết vấn đề Tiếp cận dựa trên quyền con người giúp nhân viên xã hội hướng đến các giải pháp mang tính bền vững

Như vậy, theo cách tiếp cận này, NCCVCM có quyền được chăm sóc

về sức khỏe vật chất, tinh thần, có quyền được phát triển, được tham gia các hoạt động xã hội, được tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước

Vận dụng cách tiếp cận này, tác giả sẽ đóng vai trò người biện hộ, người tập huấn để trợ giúp NCCVCM nâng cao nhận thức, giúp họ tự nhận ra

và quyết định việc tham gia của họ với vai trò chủ động vào quá trình tìm

Trang 25

kiếm sự công bằng cho bản thân và những người có cùng hoàn cảnh, để họ nhận thức rõ được quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng mà họ phải được hưởng Đồng thời giúp họ nói lên tiếng nói của mình đối với những cấp chính quyền cao hơn, những tổ chức xã hội, chính trị - xã hội mà họ tham gia như Hội Người cao tuổi, Hội Cựu chiến binh, Hội Liên hiệp Phụ nữ

1.2.3.2 Tiếp cận theo nhu cầu

Tiếp cận theo nhu cầu của NCCVCM là cách tiếp cận dựa trên việc đáp ứng tốt nhất các DVCTXH đối với các nhu cầu của NCCVCM Việc tiếp cận theo nhu cầu sẽ giúp cho việc hỗ trợ được hợp lý và đạt hiệu quả cao hơn, bền vững hơn, không thừa, không thiếu Việc tiếp cận theo nhu cầu phải theo hai hướng: nhu cầu cần (nhu cầu chủ quan) là những nhu cầu cơ bản của NCCVCM; nhu cầu cảm (nhu cầu khách quan) là nhu cầu mà NVXH thấy cần thiết phải cung cấp cho NCCVCM

Tiếp theo là nhu cầu cần được bảo vệ an toàn, ngăn ngừa những nguy

cơ gây tổn thương cho NCCVCM cả về thể chất lẫn tinh thần, tình cảm, nhu cầu vui chơi, giải trí, học tập Thông qua những hoạt động này, NCCVCM sẽ được hòa nhập với cộng đồng, dần dần sẽ tự khẳng định mình và hướng đến phát triển Nhu cầu được tôn trọng giao lưu, kết nối đồng đội, thăm lại chiến trường xưa, nơi bị tù, đày, tìm hài cốt đồng đội đã hy sinh nơi chiến trường Nhu cầu việc làm, cải thiện nhà ở Nhu cầu cao nhất của NCCVCM đó là tự khẳng định mình, chứng minh rằng mình có năng lực, mình có thể làm được mọi việc Do bản thân từng tham gia chiến đấu, có lý tưởng sống cao đẹp, có bản lĩnh vững vàn, có sự tương thân tương ái lẫn nhau nên một bộ phận NCCVCM có nhu cầu, mong muốn thể hiện mình có khả năng, không phải là gánh nặng cho gia đình, người thân

Cách tiếp cận dựa trên nhu cầu có ý nghĩa quan trọng trong việc hỗ trợ NCCVCM

Trang 26

Thứ nhất, một bộ phận NCCVCM thiếu các nguồn lực để đáp ứng nhu

cầu của cá nhân và gia đình Trong đó, có những người đặc biệt khó khăn không có khả năng tự bảo đảm cuộc sống của mình trong sinh hoạt hằng ngày

từ việc ăn, mặc, chữa bệnh và có nguy cơ ảnh hưởng đến sự ổn định, an toàn của cuộc sống Những người này rất cần đươc sự trợ giúp của Nhà nước

và xã hội

Thứ hai, việc đáp ứng các nhu cầu cho NCCVCM chính là động cơ

thúc đẩy họ tham gia vào các hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội; làm cho NCCVCM thấy được giá trị của bản thân, ý nghĩa của cuộc sống Nếu không đáp ứng nhu cầu thì mất dần động cơ tham gia đóng góp cho xã hội, thay vào

đó là các hành vi bất mãn

Thứ ba, tiếp cận theo nhu cầu sẽ giúp các hỗ trợ xã hội giảm kinh phí

và tăng hiệu quả khi tránh được sự dư thừa hay không cần thiết khi hỗ trợ

1.2.3.3 Tiếp cận vì lợi ích tốt nhất cho người có công với cách mạng

Tiếp cận theo tôn chỉ đem lại lợi ích tốt nhất cho NCCVCM là cách tiếp cận với việc cung cấp các dịch vụ bảo đảm lợi ích tốt nhất cho NCCVCM Tiếp cận theo nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất có ý nghĩa ở việc dù ở bất cứ tình huống nào, thời điểm nào, ở đâu thì lợi ích của NCCVCM luôn được đặt lên hàng đầu, NCCVCM luôn được hưởng những dịch vụ tốt nhất

1.2.4 Kỹ năng cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với người có công với cách mạng

Để việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho NCCVCM đạt hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của NCCVCM, đòi hỏi NVCTXH cần có và nắm vững một

số kỹ năng sau:

- Kỹ năng lắng nghe Lắng nghe trong CTXH là một quá trình lắng nghe tích cực, đòi hỏi NVCTXH phải biết quan sát những hành vi của NCCVCM một cách tinh tế, phải tập trung chú ý cao độ và phải tôn trọng,

Trang 27

chấp nhận NCCVCM và vấn đề của họ, đồng thời giúp họ nhận biết là mình đang được quan tâm và chia sẻ Kỹ năng lắng nghe thể hiện ở khả năng tập trung cao độ tới điều NCCVCM trình bày và thể hiện qua hành vi, cử chỉ, nghe không chỉ bằng tai mà bằng con mắt và bằng cả cái tâm của người NVCTXH

- Kỹ năng quan sát Trong hoạt động nghề nghiệp của mình thì không chỉ lời nói đem lại cho NVCTXH những thông tin về NCCVCM mà ngay cả những cử chỉ không lời của NCCVCM cũng có thể mang lại cho NVCTXH những thông tin quan trọng về nội dung chuyển tải của họ Vì vậy, để kỹ năng quan sát được thực hiện tốt, đòi hỏi NVCTXH cần có khả năng nhận thức tinh

tế về các vấn đề của NCCVCM, phải biết cách quan sát tổng thể về hành vi, diện mạo bên ngoài đến những đặc điểm tâm lý, đặc biệt là những sắc thái tình cảm xảy ra giữa NCCVCM với người khác và với NVCTXH

- Kỹ năng giao tiếp Là năng lực vận dụng hiệu quả các tri thức, hiểu biết về quá trình giao tiếp, các yếu tố tham gia và ảnh hưởng đến giao tiếp

Để thực hiện được kỹ năng này, NVCTXH phải có khả năng thiết lập các mối quan hệ, biết lắng nghe tích cực, biết phản hồi cảm xúc và lắng nghe những nội dung mà NCCVCM chia sẻ, biết cách thu thập thông tin

- Kỹ năng tham vấn Là quá trình NVCTXH sử dụng những kiến thức,

kỹ năng chuyên môn để giúp NCCVCM giải quyết hoặc tăng cường khả năng

tự giải quyết vấn đề, tăng cường chức năng xã hội của mình Mục tiêu là giúp NCCVCM hiểu được cảm xúc, suy nghĩ của chính họ, hoàn cảnh vấn đề, sử dụng những tiềm năng nguồn lực vào giải quyết vấn đề, giúp NCCVCM nâng cao khả năng đối phó với vấn đề trong cuộc sống

- Kỹ năng kết nối nguồn lực Đây được coi là kỹ năng cơ bản trong CTXH Để cung cấp DVCTXH cho NCCVCM và khai thác tối đa hiệu quả của dịch vụ, đáp ứng nhu cầu của NCCVCM đòi hỏi NVCTXH cần phải biết

Trang 28

cách vận động và liên kết các nguồn lực khác nhau lại để phát huy sức mạnh trợ giúp cho NCCVCM Kết nối nguồn lực để trợ giúp cho NCCVCM có thể được hiểu theo 3 khía cạnh: kết nối giữa nguồn lực nào đó với NCCVCM; kết nối giữa các nguồn lực khác nhau để cùng giải quyết vấn đề và trợ giúp cho NCCVCM; vận động và kết nối ngay chính nguồn lực trong cộng đồng để trợ giúp cho NCCVCM

1.3 Nội dung dịch vụ công tác xã hội đối với người có công cách mạng

1.3.1 Dịch vụ hỗ trợ chăm sóc sức khỏe

Công tác chăm sóc sức khỏe cho NCCVCM là một tất yếu cần được quan tâm hàng đầu NCCVCM mang trên mình những vết thương của chiến tranh, khi trái gió trở trời vết thương lại bùng phát ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của họ Đa số họ phải trải qua những gian khổ vì thế mà sức khỏe không còn đủ để đảm bảo phục vụ cho cuộc sống thường ngày của mình

Sức khỏe của TB, BB, người bị ảnh hưởng CĐHH, người bị địch bắt tù, đày nhìn chung bị suy giảm nhiều do thương tật, bệnh tật do hậu quả của chiến tranh để lại nên họ thường xuyên phải chịu những cơn đau mỗi khi trái gió trở trời cộng với gánh nặng tuổi tác Những vết thương của chiến tranh đã bào mòn sức khỏe thể chất lẫn tinh thần của nhiều người Bộ phận TB, BB khác mặc dù thương tật, bệnh tật nhẹ hơn nhưng sức khỏe của họ cũng bị giảm sút do tuổi cao, sức yếu, cuộc sống khó khăn, nhất là ở khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng có kinh tế khó khăn nên việc khám chữa bệnh không được kịp thời Bởi vậy, để chăm sóc tốt hơn đời sống cho TB, BB trước hết cần phải chú ý đến công tác chăm sóc sức khỏe, tổ chức khám bệnh định kỳ để họ

ổn định sức khỏe, ổn định cuộc sống Việc quan tâm chăm sóc đời sống, cũng như tinh thần, đặc biệt là sức khỏe của TB, BB là việc làm đòi hỏi sự chung tay góp sức của Nhà nước và cộng đồng

Trang 29

Hiện nay, toàn bộ NCCVCM đều được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí tạo điều kiện cho NCCVCM được khám chữa bệnh và cấp thuốc kịp thời, đảm bảo sức khỏe cho TB, BB Cùng với việc cấp phát thẻ bảo hiểm y tế, để chăm sóc tốt hơn đời sống tinh thần cho NCCVCM, ngành LĐTBXH tổ chức cho TB, BB đi điều dưỡng tập trung tại các Trung tâm chăm sóc NCCVCM

và tại gia đình nhằm tạo điều kiện cho NCCVCM có thời gian thư giãn, tham quan du lịch, điều dưỡng nâng cao thể trạng và ôn lại kỷ niệm với đồng đội

Có thể nói rằng công tác chăm sóc sức khỏe cho NCCVCM ngày càng được đẩy mạnh, thực hiện một cách có hiệu quả, đem lại sự tin tưởng cho NCCVCM và sự ủng hộ của người dân

1.3.2 Dịch vụ hỗ trợ tâm lý

NCCVCM luôn có ý thức tự hào về quá khứ cống hiến của mình cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, có tinh thần gìn giữ những phẩm chất, truyền thống cách mạng, lịch sử hào hùng của dân tộc Đại bộ phận NCCVCM luôn gương mẫu trong đời sống và công tác, trung thành với Tổ quốc, với chế độ

mà họ đã không ngại hy sinh, gian khổ để chiến đấu và bảo vệ Khi hòa bình lập lại cho đến nay, nhiều người trong số họ dù mang trong mình những thương tật, bệnh tật nhưng vẫn cố gắng vươn lên tìm cho mình một công việc phù hợp để vượt qua khó khăn, góp phần cải thiện kinh tế gia đình, xây dựng địa phương và nhiều người đã trở thành tấm gương lao động giỏi, chiến sỹ thi đua, nhà khoa học, nhà quản lý có uy tín

Bên cạnh những NCCVCM phát huy phẩm chất, bản lĩnh, tinh thần cách mạng, có ý chí vươn lên, vượt qua khó khăn, vẫn có một bộ phận NCCVCM có tâm trạng mặc cảm vì nghĩ bị thua thiệt, cảm giác mất mát so với những người xung quanh nên họ thích được mọi người quan tâm, chăm sóc hơn những người bình thường

NCCVCM thuộc đối tượng là người hoạt động cách mạng trước ngày

01 tháng 01 năm 1945 hoặc người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 hiện nay còn sống rất ít

Trang 30

và tuổi đã cao nên họ có nếp sống khiêm tốn, giản dị, ít đòi hỏi quyền lợi cá nhân về đời sống vật chất nhưng về đời sống tinh thần, nhất là thông tin thời

sự, chính trị lại khá cao; thích được cung cấp thông tin, tìm hiểu, bình luận tình hình trong nước và thế giới…

NCCVCM thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước đa số ở tuổi trung niên và bước vào tuổi cao, có trình độ học vấn và chính trị nên dễ nhạy cảm với chính sách, chế độ của Đảng và Nhà nước, nhất là những vấn đề liên quan đến họ; họ có ý thức tự chủ, tự kiềm chế, đúng đắn, hăng hái, nhiệt tình tham gia các hoạt động xã hội Bên cạnh đó, có một số trường hợp cá biệt có biểu hiện tư tưởng công thần, đòi hỏi, lợi dụng các chính sách để làm việc sai trái…

NCCVCM thời kỳ 1975 trở lại đây phần lớn tuổi còn trẻ, trình độ học vấn cao Họ có ý thức giữ gìn phẩm chất, truyền thống, tinh thần cách mạng, chấp hành chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, còn một

số ít người vẫn nặng về tâm lý nên có cách nhìn phiến diện, thấy mình thua thiệt bạn bè, người thân, sinh hoài nghi thiếu tin tưởng

1.3.3 Dịch vụ kết nối nguồn lực

Sự đóng góp của cộng đồng xã hội, doanh nghiệp là nguồn lực không thể thiếu để đạt mục tiêu của chính sách và là nguồn bổ sung phong phú để góp phần cùng Nhà nước chăm sóc tốt hơn, chu đáo hơn đời sống của NCCVCM và gia đình chính sách Sự đóng góp, hỗ trợ của cộng đồng là nguồn bù đắp những thiếu hụt của các GĐCS và bổ sung những nội dung mà chính sách Nhà nước với tính chất là mặt bằng chung cho NCCVCM không thể đạt tới, kịp thời giải quyết những nhu cầu bức xúc trong cuộc sống của GĐCS Hơn nữa, phần lớn NCCVCM sống tại cộng đồng, cho nên cộng đồng chính là nơi gần gũi nhất, trực tiếp nhất có thể phát hiện kịp thời và chia sẻ những khó khăn của NCCVCM như:

Trang 31

+ Chăm sóc TB, BB nặng có hoàn cảnh khó khăn; nhận đỡ đầu con liệt

sĩ, con TB, phụng dưỡng cha mẹ liệt sĩ, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng neo đơn không nơi nương tựa

+ Hỗ trợ chăm sóc sức khỏe ngay tại cộng đồng để giảm tải cho y tế tuyến trên

+ Tiếp nhận con TB, BB, liệt sĩ, thân nhân GĐCS vào doanh nghiệp để đào tạo nghề, tạo việc làm

+ Hỗ trợ kinh phí, vật tư xây dựng, sửa chữa nhà ở

+ Động viên NCCVCM tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ

Xã hội hóa công tác chăm lo cho NCCVCM, GĐCS có ý nghĩa và sức mạnh rất lớn Cùng với các chính sách của Nhà nước, sự quan tâm của cộng đồng đã tạo nên nguồn lực to lớn giúp đời sống vật chất, tinh thần của NCCVCM càng ngày được cải thiện và nâng cao; đồng thời tạo mọi nguồn lực để NCCVCM nỗ lực vươn lên Ngân sách Nhà nước chi cho ưu đãi xã hội hằng năm phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế, vì thế phong trào xã hội hóa công tác “Đền ơn đáp nghĩa” với các chương trình cụ thể như: tặng nhà tình nghĩa, tặng sổ tiết kệm, phụng dưỡng Bà mẹ VNAH, nhận đỡ đầu con LS, con TB, xây dựng xã, phường làm tốt công tác TBLS và NCCVCM… đã phát triển sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân

1.3.4 Dịch vụ hỗ trợ vật chất, tinh thần

So với những thành viên khác trong xã hội, điều kiện sống của NCCVCM nhìn chung gặp khó khăn hơn bởi khả năng tham gia vào thị trường lao động của nhóm người này hạn chế Điều này bắt nguồn từ những tổn thương về thể chất và tinh thần mà những cá nhân này đã đóng góp trong quá trình bảo vệ Tổ quốc Chính vì thế, thực hiện các hoạt động nhằm bảo đảm chất lượng cuộc sống đối với NCCVCM có tác động tích cực đến quan

Trang 32

điểm, nhận thức của gia đình, cộng đồng và xã hội về hoạt động đền ơn đáp nghĩa của Nhà nước, thể hiện sự tri ân của cộng đồng đối với sự hy sinh, đóng góp của NCCVCM trong quá trình bảo vệ Tổ quốc Việc các cá nhân có sẵn sàng cống hiến, hy sinh cho sự bình yên của đất nước hay không cũng có phần dựa trên cách mà họ nhìn nhận về sự ưu đãi của Nhà nước đối với cuộc sống hiện tại của các gia đình NCCVCM Thực hiện tốt việc bảo đảm đời sống đối với NCCVCM sẽ góp phần ổn định chính trị, giữ vững thể chế, tạo điều kiện để phát triển đất nước bền vững

Trong đời sống, con người không những có nhu cầu về vật chất mà còn

có nhu cầu về tinh thần Đó là nhu cầu khách quan mà Nhà nước và xã hội cần phải quan tâm, đáp ứng Với NCCVCM cũng vậy, họ cần phải được bảo đảm về đời sống TB, BB rất cần sự chăm sóc, động viên về tinh thần nhằm thoát khỏi sự tự ti vì thương tật, bệnh tật, vì sức khỏe, giúp họ vươn lên trong cuộc sống

Các chế độ về vay vốn, miễn, giảm thuế… cũng cần được thực hiện với tinh thần ưu đãi Đồng thời, những chính sách ưu đãi cho con TB, BB nặng, con LS, con người hoạt động kháng chiến bị nhiễm CĐHH suy giảm khả năng lao động nặng trong thời gian đi học như: ưu tiên trong tuyển sinh, hỗ trợ kinh phí đào tạo, tạo điều kiện giải quyết việc làm sau khi ra trường

1.3.5 Dịch vụ hỗ trợ vui chơi, giải trí

Trong nhiều năm qua, hệ thống thiết chế văn hóa trong cả nước đã được chú trọng đầu tư Phong trào xây dựng các thiết chế văn hóa, nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa, thể thao ở cơ sở ngày càng được tiến hành rộng khắp Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo nên ngày càng phát triển sâu rộng trên khắp các vùng, miền của cả nước và được các ngành, các đoàn thể hưởng ứng, được các tầng lớp nhân dân đồng tình thực hiện Hội

Trang 33

nghị Trung ương 9 Khóa XI (năm 2011) đã ban hành Nghị quyết về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” Cùng với đó là phong trào “Người tốt việc tốt” đã góp phần tích cực vào việc định hình và xây dựng nhân cách con người Việt Nam trong đời sống văn hóa mới Xây dựng thiết chế văn hóa cơ sở đã tạo điều kiện để NCCVCM được hưởng thụ và tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục - thể thao là một trong những chủ trương, chính sách văn hóa lớn của Đảng, Nhà nước và là một trong những nội dung trọng tâm của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”

1.4 Thể chế dịch vụ công tác xã hội đối với người có công với cách mạng

1.4.1 Quan điểm, chính sách của Đảng

Chăm sóc NCCVCM vừa là trách nhiệm của Nhà nước, vừa là tình cảm của người dân Ưu đãi NCCVCM và GĐCS là một bộ phận trong tư tưởng Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh chính là tấm gương mẫu mực về tình thân ái thủy chung “Uống nước nhớ nguồn” Bác đã dạy “Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, gia đình quân nhân là những NCC với Tổ quốc, với nhân dân cho nên bổn phận của mỗi người chúng ta là phải quan tâm, thương yêu và giúp đỡ họ” Với tinh thần đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khơi nguồn cho quan điểm xã hội hóa chăm sóc NCCVCM Bác đã

đề ra phương châm thực hiện công tác thương binh, liệt sĩ rõ ràng và phù hợp với đạo lý, truyền thống của dân tộc và hoàn cảnh đất nước “Đồng bào sẵn sàng giúp đỡ, Chính phủ ra sức nâng đỡ, anh em có quyết tâm thì nhất định dần dần tự túc được” Từ lời dạy của Bác, theo sự phát triển của cách mạng đã trở thành phương châm hoạt động trong lĩnh vực chăm sóc NCCVCM và trở thành nền tảng vững chắc Nhà nước - cộng đồng - NCC

nỗ lực vươn lên Tư tưởng nêu trên của Hồ Chí Minh rất có giá trị đối với những người làm công tác trợ giúp cho NCCVCM

Trang 34

Bằng những việc làm thiết thực, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” đã và đang phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu với nhiều hình thức phong phú, trở thành nét đẹp trong đời sống văn hóa dân tộc, góp phần ổn định và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của TB, BB, GĐCS, NCCVCM Điểm nổi bật trong thực hiện chủ trương xã hội hóa chăm sóc NCCVCM là mối quan hệ nghĩa tình tốt đẹp của dân tộc hòa quyện gắn bó dưới sự lãnh đạo của các cấp

ủy Đảng, sự chỉ đạo của các chính quyền đã góp phần đáng kể nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho NCCVCM Ưu đãi NCCVCM có thể hiểu là trách nhiệm của Nhà nước thông qua việc xây dựng hệ thống chính sách cụ thể về

sự ưu tiên và tạo cơ chế thực hiện những ưu tiên đó Vận động người dân, các

tổ chức với truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp tục tổ chức các phong trào, đóng góp công sức để tạo cơ sở vật chất cho sự ưu đãi đối với NCCVCM

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX (năm 2001) khẳng định "Chăm lo tốt hơn đối với với các GĐCS và những NCCVCM, đảm bảo tất cả các GĐCS đều có cuộc sống bằng hoặc khá hơn mức sống trung bình so với người dân địa phương trên cơ sở kết hợp 3 nguồn lực: Nhà nước, cộng đồng và cá nhân các đối tượng chính sách tự vươn lên" Qua các thời kỳ, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn dành sự quan tâm đối với NCCVCM Chăm lo cho NCCVCM vừa là nhiệm vụ chính trị quan trọng, vừa thể hiện đạo lý truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” cao đẹp của dân tộc Việt Nam

Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Đảng về định hướng chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020 nêu rõ “Không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của NCC và bảo đảm ASXH là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội” Kết luận Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa

XI về “Một số vấn đề cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và ưu

đãi người có công, định hướng cải cách đến năm 2020” tiếp tục khẳng định

Trang 35

“Nghiên cứu cải cách chính sách ưu đãi NCC, sớm điều chỉnh mức chuẩn bảo đảm tương ứng với mức chi tiêu bình quân toàn xã hội để NCC có mức sống trung bình khá trong xã hội” Có thể nói, chính sách ưu đãi NCCVCM luôn chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống chính sách an sinh xã hội của Nhà nước; hệ thống chính sách không ngừng được hoàn thiện, đối tượng ưu đãi ngày càng được mở rộng, cơ bản đã bao phủ được hết các đối tượng NCCVCM

Ngày 25/3/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án phát triển Nghề CTXH giai đoạn

2010 - 2020 (gọi tắt là Quyết định 32)

Mục tiêu chung của Đề án là “Phát triển CTXH trở thành một nghề ở Việt Nam; nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề CTXH; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên CTXH đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến” [28, tr.1] Ngay sau khi Đề án được ban hành, các Bộ, ngành chức năng đã ban hành các văn bản quy định về tiêu chuẩn nghiệp vụ, chức danh, mã số các ngạch viên chức CTXH Như vậy, Quyết định 32 đã tạo tiền đề và hành lang pháp lý để từng bước phát triển nghề CTXH theo hướng chuyên nghiệp; đồng thời tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền và xã hội về nghề CTXH

Từ những quan điểm nêu trên, chúng ta nhận thấy Đảng, Nhà nước luôn luôn quan tâm, thể hiện tính nhất quán, xuyên suốt trong việc ưu đãi đối NCCVCM và GĐCS nhằm đảm bảo cho NCCVCM và GĐCS có được cuộc sống ổn định và ngày càng nâng cao

Ở nước ta hiện nay, Chính phủ giao Bộ LĐTBXH là cơ quan quản lý nhà nước về ASXH và CTXH thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lao

Trang 36

động, việc làm, an toàn lao động, dạy nghề, chính sách đối với TB và NCC, bảo trợ xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội trên phạm vi cả nước Như vậy, NCCVCM là một đối tượng của ngành CTXH, họ cần được trợ giúp các DVXH từ NVXH cũng như được NVXH trợ giúp trong việc bảo vệ quyền lợi, giúp NCCVCM nói lên tiếng nói của họ; tham gia tư vấn tâm lý, biện hộ, giúp NCCVCM được đáp ứng những quyền lợi và nhu cầu thiết yếu

Qua đó chúng nhận thấy Đảng, Nhà nước luôn quan tâm và dành nhiều đãi ngộ, ưu tiên cho NCCVCM và GĐCS trong mọi lĩnh vực của đời sống bằng những việc làm, hành động thiết thực

1.4.2 Các văn bản pháp luật

Để công tác trợ giúp NCCVCM và GĐCS được thực hiện thông suốt từ Trung ương đến cơ sở và đạt hiệu quả, chất lượng, đáp ứng được yêu cầu của NCCVCM cũng như GĐCS, Nhà nước đã xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật để thực hiện như:

- Điều 67 Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 1992), ghi rõ "Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước Thương binh được tạo điều kiện phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khỏe và có đời sống ổn định Những người và gia đình có công với nước được khen thưởng và chăm sóc" [23, tr.12]

- Điều 59 Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 2013) quy định: "Nhà nước, xã hội tôn vinh, khen thưởng, thực hiện chính sách sách ưu đãi NCC với nước" [24, tr.12]

- Pháp lệnh số 06/2005/PL-UBTVQH11 ngày 11 tháng 7 năm 2005 của

Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Ưu đãi NCCVCM

Trang 37

- Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 ngày 16 tháng 7 năm 2012 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 13, sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh

- Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26 tháng 4 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ hỗ trợ NCC về nhà ở

Các văn bản nêu trên có ý nghĩa rất quan trọng, là nền tảng, là cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện các DVCTXH đối với NCCVCM

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội đối với người

có công với cách mạng

1.5.1 Yếu tố thuộc về cơ sở vật chất

Để NCCVCM có nhà ở ổn định, Nhà nước áp dụng một số hình thức như: tặng nhà tình nghĩa; hỗ trợ kinh phí để sửa chữa nhà ở, hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ tiền khi mua nhà thuộc sở hữu Nhà nước hoặc khi giao đất làm nhà ở Các biện pháp, chính sách liên quan đến bảo đảm nhà ở đối với NCCVCM được Đảng và Nhà nước quan tâm và dần hoàn thiện; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 về việc

hỗ trợ NCCVCM về nhà ở Quyết định này có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với hộ gia đình NCCVCM Nhờ các hình thức hỗ trợ của Nhà nước, NCCVCM đã dần khắc phục được những khó khăn và có được nơi ở ổn định

Trang 38

Theo báo cáo của Cục Người có công, các cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng, chăm sóc NCCVCM được xây dựng qua nhiều thời kỳ, mặc dù đã được quan tâm đầu tư xây dựng, tuy nhiên do nguồn lực còn hạn chế nên cả nước hiện mới chỉ có 41 Trung tâm điều dưỡng NCC với quy mô khoảng 3.800 giường để phục vụ NCC đã được cải tạo, nâng cấp và đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ công tác nuôi dưỡng, chăm sóc và phục hồi chức năng cho NCCVCM nhằm từng bước hiện đại hóa và đảm bảo có đủ các phương tiện kỹ thuật đáp ứng các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, phục hồi chức năng, lao động trị liệu toàn diện và phù hợp với NCCVCM

Trong công tác chăm sóc sức khỏe cho NCCVCM, nhất là với đối tượng TB, BB, người bị nhiễm CĐHH, các Bệnh viện, Trung tâm Chỉnh hình

và phục hồi chức năng, các Trung tâm điều dưỡng tập trung cho NCCVCM

có vai trò rất quan trọng Vì vậy Nhà nước cần phải có định hướng, lộ trình cụ thể để quy hoạch các cơ sở này đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, công năng sử dụng phù hợp với đặc điểm của NCC để chăm sóc sức khỏe cho các đối tượng NCCVCM trong điều kiện tốt nhất

1.5.2 Yếu tố thuộc về nhân viên công tác xã hội

Để góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, trong đó có việc trợ giúp cho NCCVCM được kịp thời, đáp ứng yêu cầu của họ và bền vững hơn, cần sớm đẩy mạnh việc đào tạo đội ngũ NVCTXH, cộng tác viên CTXH tại cộng đồng Đây là một trong những giải pháp hiệu quả để giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh từ cơ sở, trợ giúp các nhóm đối tượng yếu thế ngay tại địa bàn, góp phần đảm bảo ASXH Do đó, để hướng tới chuyên nghiệp hóa nghề CTXH việc phát huy năng lực, vai trò của đội ngũ CTV

là yêu cầu hết sức cần thiết

Nhân viên CTXH là những người có kiến thức, kỹ năng, chuyên môn, được đào tạo bài bản, họ là cầu nối giữa đối tượng với các nguồn lực xã hội;

Trang 39

là người có trách nhiệm kết nối với các cơ quan, tổ chức và liên hệ chặt chẽ với đối tượng để có được sự thống nhất nhằm đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực hỗ trợ cho đối tượng Chính vì thế, hoạt động kết nối nguồn lực, hỗ trợ xã hội của NVCTXH có ý nghĩa quan trọng trong đảm bảo quyền, lợi ích,

ổn định và nâng cao đời sống đối tượng

Những hoạt động của nhân viên CTXH đối với NCCVCM:

- Thực hiện đánh giá ban đầu về thực trạng, nguyên nhân, nhu cầu và nguyện vọng của NCCVCM Giúp cho NCCVCM xác định được vấn đề, nhu cầu của mình

- Xem xét việc đáp ứng nhu cầu cơ bản của NCCVCM Cung cấp dịch

vụ tham vấn, tư vấn để NCC vượt qua những khó khăn trong cuộc sống; tư vấn cho gia đình NCC cách thức chăm sóc về thể chất, tinh thần và tình cảm cho NCC

- Tìm hiểu các chính sách, chương trình dành cho NCC nhằm kết nối, giúp NCC tiếp cận với các nguồn hỗ trợ phù hợp

- Đối với một số nhóm trong NCC, NVXH hỗ trợ họ về tâm lý, về các

kỹ năng cần thiết Trách nhiệm nâng cao nhận thức của cộng đồng về hỗ trợ, giúp đỡ NCC

- Nghiên cứu thực trạng NCC, góp phần xây dựng chính sách, pháp luật

về NCC; cập nhật các văn bản quy định các chính sách ưu đãi về NCC

1.5.3 Yếu tố thuộc về người có công với cách mạng

Phần lớn NCCVCM tuổi đã cao, sức khỏe bị suy giảm nhiều vì thương tật, bệnh tật, thiếu kinh nghiệm trong làm ăn, không có nguồn vốn để đầu tư, trình độ tay nghề thấp hoặc không có, chính vì vậy đời sống của NCC và gia đình còn gặp khó khăn, mức sống của NCC ở một số địa phương chưa thể bằng so với mức sống người dân nơi cư trú

Trang 40

Một bộ phận NCCVCM vẫn còn mặc cảm về thương tật, thấy thua thiệt bạn bè; nếu làm tổn thương đến họ, họ cảm thấy bị xúc phạm và rất dễ dẫn đến tâm lý bất mãn Một số khác thì có tâm lý cho rằng con cháu, thế hệ trẻ không hiểu mình dẫn đến có khoảng cách về thế hệ, hay có tâm lý chán nản, bất mãn với thời cuộc và từ đó họ cảm thấy khó hòa nhập với gia đình, cộng đồng, không có ý chí để phấn đấu vươn lên

Ngoài ra, một bộ phận nhỏ NCCVCM còn có tư tưởng công thần, ỷ lại,

có những đòi hỏi quá đáng, buộc Nhà nước và xã hội phải phục vụ,ản thân không tự mình nỗ lực vươn lên trong cuộc sống

Bên cạnh đó vẫn có những NCCVCM luôn có ý thức tự hào về quá khứ cống hiến của mình, có tinh thần trách nhiệm giữ gìn những phẩm chất và truyền thống cách mạng Đại bộ phận họ luôn gương mẫu trong đời sống và công tác, thể hiện thái độ trung thành với Đảng, Nhà nước Khi hòa bình lập lại, nhiều người trong số họ dù mang trong mình những thương tích, thương tật, bệnh tật nhưng vẫn nỗ lực cố gắng vươn lên tìm cho mình một công việc phù hợp để vượt qua khó khăn, đói nghèo, góp phần ổn định, phát triển kinh

tế gia đình, xây dựng địa phương Nhiều người trở thành tấm gương lao động giỏi, chiến sĩ thi đua, nhà khoa học, nhà quản lý có uy tín

1.5.4 Yếu tố thuộc về nguồn lực và kết nối nguồn lực

Xã hội hóa công tác chăm sóc NCCVCM là tập hợp chuỗi biện pháp, phương thức hành động cụ thể của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành và toàn xã hội cùng tham gia thực hiện, trong đó Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, dẫn dắt các chương trình hành động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của NCC và điều quan trọng là làm cho NCC thấy rằng mình còn có ích cho xã hội, cho đất nước

Xã hội hóa việc chăm sóc NCC có vị trí rất quan trọng trong chính sách

ưu đãi của Nhà nước Nhà nước có vai trò chủ đạo trong việc hoạch định và

Ngày đăng: 07/06/2017, 12:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w