1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Con người lưu đày trong sáng tác của franz kafka nhìn từ tâm thức hiện sinh

109 920 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện trong sáng tác của nhiều tác giả như: Albert CamusPháp, Noben 1957, Jorge Luis BorgesAchentina, Alain Robbe Grillet, William Seward BurroughsMĩ,KoboAbeNhật,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG

CẢM HỨNG SỬ THI TRONG THƠ HỮU THỈNH

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

HÀ NỘI, 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy tôi, PGS.TS Trương Đăng Dung

- người đã trực tiếp dạy bảo, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá

trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể quý thầy cô giáo ở Trường ĐHSP

Hà Nội 2, Viện Văn học Việt Nam, Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP Hà Nội đã

giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học

Và xin được cảm ơn, chia sẻ niềm vui này với những người thương yêu

đã luôn bên tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu

Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2016

Tác giả luận văn

Phạm Hồng Dương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trương Đăng Dung Trong khi nghiên cứu luận văn, tôi đã kế thừa thành quả khoa học của các nhà

khoa học và đồng nghiệp với sự trân trọng và biết ơn

Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang web theo danh mục tài liệu

của luận văn

Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2016

Tác giả luận văn

Phạm Hồng Dương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 13

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14

5 Phương pháp nghiên cứu 14

6 Đóng góp của luận văn 14

7 Cấu trúc luận văn 15

NỘI DUNG 16

Chương 1 CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC HIỆN SINH VÀ VĂN HỌC HIỆN SINH 16

1.1 Chủ nghĩa hiện sinh trong triết học 16

1.1.1 Con người tự do 18

1.1.2 Con người lo âu, cô đơn 18

1.1.3 Con người tự quyết, dấn thân 19

1.1.4 Con người lưu đày 20

1.2 Chủ nghĩa hiện sinh trong văn học 21

1.2.1 Vài nét về văn học hiện sinh phương Tây 21

1.2.2 Vài nét về văn học hiện sinh Việt Nam 23

1.2.3 Franz kafka - Người mở đường cho chủ nghĩa hiện đại trong văn học 26

Chương 2 CON NGƯỜI LƯU ĐÀY TRONG THẾ GIỚI PHI LÍ 30

2.1 Con người lưu đày trong sự cô đơn 32

2.1.1 Con người cô đơn trong không gian 32

2.1.2 Con người cô đơn trong thời gian 39

2.1.3 Con người cô đơn giữa đồng loại 44

Trang 6

2.2 Con người lưu đày trong sự bất lực 54

2.2.1 Con người bất lực trước thế giới hữu hình 55

2.2.2 Con người bất lực trước thế giới vô hình 65

2.2.3 Sự thích ứng, một hình thức của sự tha hóa 69

Chương 3.KHÔNG GIAN, THỜI GIAN THỂ HIỆN CON NGƯỜI LƯU ĐÀY TRONG THẾ GIỚI PHI LÍ 78

3.1 Không gian huyền thoại 78

3.1.1 Không gian đóng kín 78

3.1.2 Không gian phi lí 80

3.2 Thời gian huyền thoại 82

3.2.1 Thời gian phi tuyến tính 82

3.2.2 Thời gian bất thường 84

3.3 Cái vắng mặt 85

KẾT LUẬN 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 7

MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài

1.1.Triết học hiện sinh đã ghi dấu đậm nét trong đời sống triết học của

thế kỉ XX Triết hiện sinh là triết học về ý nghĩa cuộc nhân sinh,triết học về

con người Emmanuel Mounier đã khẳng định: “Bất cứ khuynh hướng nào

trong triết hiện sinh đều là triết học về con người,trước khi là triết học về vũ trụ”[29, tr 234] Nếu triết học về thiên nhiên tuyệt đối hóa vũ trụ,mải miết

với lẽ huyền vi mà bỏ quên mất con người thì triết hiện sinh đánh thức con người trong giấc mơ phóng thể Nhà hiện sinh biết mình đang ở tình trạng phóng thể nên đã bỏ công việc tìm hiểu vũ trụ cho các nhà khoa học,chỉ tập trung suy nghĩ về sự sống chết của con người Cho nên người ta nói rằng triết hiện sinh đã cảnh tỉnh con người Quan niệm về con người trong triết học hiện sinh được đề cập đến trên các khía cạnh: Con người cô đơn, con người phản kháng, con người dấn thân, con người lưu đày,…Tinh thần ấy của triết học hiện sinh không phải ngẫu nhiên được văn học thể hiện rất thành công ở phương Tây Đây là thứ triết học rất gần văn học, nó cũng tập trung phản ánh con người với tư cách là chủ thể tri nhận thế giới Chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện trong sáng tác của nhiều tác giả như: Albert Camus(Pháp, Noben 1957), Jorge Luis Borges(Achentina), Alain Robbe Grillet, William Seward Burroughs(Mĩ),KoboAbe(Nhật), Gabriel Garcia Marquez(Colombia),…Trong

đó Kafka là người mở đường, đặt nền móng cho chủ nghĩa hiện đại trong văn học với sự thể hiện sâu sắc tinh thần của triết học hiện sinh Với những đóng góp của mình,văn học hiện sinh đã tạo sự cách tân mới mẻ cho văn học hiện đại,vượt lên những thành lũy cũ kĩ tưởng như rất kiên cố của văn học truyền thống,đặc biệt là trong cái nhìn về con người

1.2.Franz Kafka sinh năm 1883 tại Praha trong một gia đình Do Thái

trung lưu nói tiếng Đức Ông sáng tác bằng tiếng Đức,được giới phê bình xem

Trang 8

như là một trong những tác giả lớn có sức ảnh hưởng nhất thế kỉ XX F.Kafka được so sánh với đại văn hào F.M.Dostoyevsky và được xếp ngang hàng với James Joyce và Marcel Proust như những bậc thầy cách tân,mở đường cho nền văn xuôi hiện đại

Đời tư của Kafka khá phức tạp Ông trải qua nhiều mối tình nhưng đã hai lần từ hôn để cống hiến mình cho sự nghiệp viết văn Trước khi mất vì lao phổi (năm 1924),ông đã đốt hầu hết tác phẩm của mình,đồng thời để lại di chúc yêu cầu người bạn thân Max Brod thiêu hủy mọi giấy tờ còn lại Nhưng Max Brod vô cùng ngưỡng mộ Kafka,đã làm trái ý nguyện này Nhờ đó mà người đọc còn được biết đến thiên tài văn chương Franz Kafka - “Thần tượng của những thần tượng”

1.3.Những sáng tác của Kafka,nhà văn được mệnh danh là phức tạp

nhất thế giới - đã tập trung cái nhìn sâu sắc vào con người, mà chủ yếu là những dằn vặt, đau khổ, đọa đày của con người do bị chi phối bởi những ham muốn vật chất,quyền lực,những dục vọng tầm thường mà khiến con người phải đau khổ để đạt được chúng,khiến cho cuộc sống của con người chẳng khác nào kiếp lưu đày dằng dặc Tiếp nhận tác phẩm của Kafka là tiếp nhận một bầu không khí ác mộng đầy những hiểm họa thâm nhập khắp nơi: Những thế lực siêu hình,cảm giác về sự đánh mất hình dạng,gợi nhớ về tội lỗi và nỗi

lo sợ cùng cảm giác về cái xấu đã ngấm vào logic vẹo vọ và “phi lí” của những quyền năng thống trị Tất cả thế giới ấy được Kafka nhìn bằng ành mắt mỉa mai,hoài nghi và bi thảm

Sáng tác của Kafka thể hiện cái nhìn sâu sắc vào bản thể người,đặc biệt

là vào những dằn vặt,đau khổ,đọa đày của con người trong một thế giới phi lí Nổi lên trong tác phẩm của Kafka là cảm thức về con người trốn chạy,con người cô đơn,con người tha hóa, biến dạng, con người phải tự lựa chọn cho mình những cách thế sống trong xã hội bão táp Trong đó phải nói đến cảm

Trang 9

thức về con người lưu đày được tô đậm qua từng trang viết Bản chất của con người lưu đày trong sáng tác của Kafka thể hiện sự bất lực của con người trước đời sống, không thể làm chủ đời sống, ngược lại bị cuộc sống chi phối đến từng ý nghĩ Nhân vật của Kafka luôn thường trực nỗi lo âu,cảm giác bất an,chống chếnh trước thực tại và không chấp nhận thực tại Dù vậy,thực tại vẫn không thay đổi buộc họ phải tưởng tượng ra một thế giới khác để tìm sự bình yên cho mình Cứ thế,con người bị lưu đày trong sự phi lí triền miên,đối diện với hư vô,trống rỗng

Vấn đề thân phận con người mà Kafka đặt ra qua hình ảnh con người lưu đày trong sáng tác của ông vừa mang tính thời sự ở thời đại ông,vừa mang tính nhân loại ở mọi thời đại Cảm giác bất an,trống rỗng,cô đơn vẫn đang là những cảm giác của con người ngày nay khi mà chiến tranh vẫn liên tiếp xảy ra,khi mà làn sóng khủng bố có nguy cơ nhấn chìm cả thế giới,khi mà con người vẫn đang ngày ngày sống trong hoài nghi trước những biến thiên kinh hoàng của đời sống xã hội,nhân sinh…Nhà văn đã dùng cái hài và giọng hài

để biểu đạt cái nhìn của mình Tất nhiên,nó không phải cái hài trong văn học truyền thống thời Phục hưng mà là cái hài buồn thảm về nhân sinh, về kiếp người có tác dụng thức tỉnh lương tri Từ đó giúp ta hình thành những đức tin mới,phù hợp với yêu cầu mới của tồn tại

1.4.Kafka là nhà văn luôn mới dù cho vận động nhân sinh có đi theo

hướng nào Điều đó là lực hấp dẫn bất tận trong những trang viết của ông Tìm hiểu những sáng tác của Kafka là một cách để chúng ta hiểu hơn con người,hiểu hơn thế giới.Từ đó, bằng cái nhìn đối sánh, ta sẽ có nhân thức sâu sắc hơn về cảm hứng hiện sinh trong sáng tác của những nhà văn Việt nam

Đề tài:“Con người lưu đày trong sáng tác của Franz Kafka nhìn từ tâm thức hiện sinh” được hình thành trên cơ sở của những nhận thức trên

Trang 10

2 Lịch sử vấn đề

Con người và tác phẩm Kafka trở thành đối tượng nghiên cứu,cảm hứng sáng tạo cho bao nhà khoa học, nhà nghệ sĩ Điều đó cho đến nay vẫn

chưa có dấu hiệu ngừng lại Nói như Giáo sư Lê Huy Bắc:“Càng ngày,có lẽ

nhân loại càng thoát khỏi bóng đen của những thế lực xấu xa kìm hãm sự tự do,dân chủ,áp đặt, sự bất bình đẳng,… nhưng ắt hẳn con người khó thoát khỏi sự tha hóa (hiểu theo nghĩa sự vận động để tiến lên) và sự phi lí… thì Kafka vẫn luôn đồng hành…”(10,tr 158] Ở đây,chúng tôi xin điểm qua một

số công trình nghiên cứu về gia tài nghệ thuật của F.Kafka

2.1 Tình hình nghiên cứu về Franz Kafka trên thế giới

Trên thế giới Kafka được mệnh danh là “Người viết Kinh Thánh hiện

đại” Bằng tác phẩm của mình,Kafka đã nâng đỡ tâm hồn con người,tâm hồn

thời đại trong một xã hội đầy rẫy sự phi lí,khi con người cứ bơ vơ,lạc lõng,không phương hướng và tiềm tàng nguy cơ tha hóa,tha nhân Ta biết rằng thời đại Kafka sống là thời đại “mất chúa” Đế chế Áo - Hung tan rã,hiểm họa phát xít đang rình rập,nền kĩ trị tha hóa nhân phẩm,mờ hóa lương tri Con người của thời đại ấy chìm trong tâm trạng hoang mang của kẻ đánh mất chìa khóa mở cánh cửa cuộc đời Họ lạc lõng,bơ vơ,hoang hoải trong những âu lo,phiền muộn Con người sống không phải là “được sống” mà là

“phải sống”,không phải “được sinh ra” mà là “bị sinh ra” Hành trình sống ấy thực ra là một cuộc lưu đày của thân phận con người trong thế giới đầy rẫy sự phi lí,vô nhân

Sau khi các tác phẩm của Kafka xuất hiện, việc tiếp nhận chúng có sự khác nhau, nhưng ngày càng được quan tâm nhiều hơn Những tác phẩm quan

trọng của ông chỉ được in ra sau khi ông đã qua đời: Vụ án (1925), Lâu đài (1927), Nước Mỹ (1927)… Tác phẩm của Kafka được giới thiệu ở nước ngoài

và dịch thuật rộng rãi nhất từ sau năm 1933 Còn từ 1939, ông có ảnh hưởng

Trang 11

đặc biệt ở phương Tây, bởi vì theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, từ những

năm ấy “thế giới bắt đầu giống như thế giới của Kafka”

Năm 1939 là mốc đánh dấu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Franz Kafka ở

phương Tây Michel Remon đã viết: “Thế giới bắt đầu gặp gỡ Franz Kafka

và định ngữ K rời bỏ lĩnh vực văn chương để áp dụng vào cuộc sống hàng ngày”[94, tr.645] Phương thức nghệ thuật cũng như nội dung phản ánh của

Franz Kafka lúc này thực sự đã rời bỏ biên giới của nó để tạo nên tính phổ

biến kỳ diệu Viết về nghệ thuậtcủa Becton Brecht là công trình khoa học

chuyên biệt về nghệ thuật và văn học, đã có nhiều nhận định thỏa đáng về Franz Kafka Trong khi nghiên cứu ông đã đưa ra những nhận xét về thế giới nghệ thuật của Franz Kafka và cho rằng chỉ có tầm tư duy nhất định mới thẩm thấu được ẩn ý cũng như khả năng tiên tri của Franz Kafka: “Người ta tìm thấy ở ông ta,đằng sau những hóa trang rất kì cục,những linh cảm về nhiều điều mà vào thời kì những cuốn sách của ông xuất hiện thường chỉ có một vài người nhận thấy được mà thôi.”.Theo chúng tôi hiểu, “nhận thấy” ở đây không đơn giản là nhận thấy sự hiện diện của chúng trên kệ sách mà là nhận

ra giá trị của những sáng tác ấy

Lấy hình thức huyền thoại để đả phá thế giới hiện thực là cách làm mang lại nhiều hiệu quả thẩm mỹ mới mẻ và sâu sắc Vấn đề huyền thoại trong sáng tác của Kafka được E M Meletinsky bàn riêng trong chuyên khảo

Thi pháp của huyền thoại Ông chỉ ra tính chất huyền thoại của Kafka là

“một huyền thoại lộn ngược, một thứ phản huyền thoại”.Nhà nghiên cứu phân tích, so sánh và cho thấy Kafka đã xây dựng huyền thoại “về tha hóa xã hội”

Các nhân vật trong tác phẩm của Kafka “không chỉ là hình tượng thể hiện sự

cô đơn của cá nhân theo chủ nghĩa hiện sinh mà còn là đặc tính của các quan

hệ tha hóa giữa nó với gia đình, giữa nó với xã hội”[95, tr.134]

Tại Tiệp Khắc trước đây, đã từng diễn ra hội nghị Quốc tế về Franz Kafka, Ở đây, R Garaudy đã kiên quyết bảo vệ ý kiến cho rằng Franz Kafka

Trang 12

chính là đại diện tiêu biểu của phương pháp sáng tác hiện thực chủ nghĩa

Trong tác phẩm Về một chủ nghĩa hiện thực không bờ bến, Garaudy khẳng

định Franz Kafka đã xây dựng được một thế giới riêng, mà những vật liệucủa thế giới đó dược tổ chức theo một quy luật khác Bởi vậy Garaudy ca ngợi Kafka trong việc sáng tạo ra một hiện thực mới, “hiện thực có tầm Prometheus”, đem đến cho người đọc một tầm nhìn nhận mới về hiện thực và

ý nghĩa tác phẩm Ngoài ra Garaudy còn phát hiện hình thức sáng tạo huyền

ảo và chức năng dự báo ở những sáng tác ở Franz Kafka: “tác phẩm của ông

thể hiện thái độ của ông đối với thế giới Nó không phải là một bản sao chép của thế giới, cũng không phải là cái gì đó không tưởng Nó không có ý định giải thích hoặc biến đổi thế giới Nó gợi ra sự chưa toàn vẹn của thế giới và kêu gọi sự vượt qua”[32,tr.175]

Tới năm 1981, đã có hơn 5000 công trình nghiên cứu về nhà văn Kafka

đó chính là thống kê chỉ dựa trên các nhan đề nghiên cứu Yvegili Người ta cho rằng, sở dĩ Kafka luôn luôn đặt ra những vấn đề mới, có khi được đánh giá trái ngược nhau, là do lối viết độc đáo của ông khiến người đọc có thể nhìn thấy những tầng ý nghĩa khác nhau Tác phẩm của Kafka được coi là

“tác phẩm mở” theo nhận xét của nhà ký hiệu học Umbecto Eca Đáng chú ý

là, tính chất phức tạp đa nghĩa ấy lại được gợi lên từ những tác phẩm được xây dựng một cách đơn giản đến mức thoạt nhìn có vẻ nhàm chán và ngày nay, một số bản dịch văn Kafka vẫn cứ phải làm lại vì chưa tin tưởng rằng nó

đã tương xứng với nguyên bản của Kafka

Vào tháng 1 năm 2004, nhà xuất bản văn hóa thông tin xuất bản tập

tiểu luận Nghệ thuật tiểu thuyết và Những di chúc bị phản bộicủa Milan

Kundera Trong tập tiểu luận này, Milan Kundera đã trình bày những nhận

định mới mẻ về các đặc trưng phản ánh nghệ thuật của Kafka:“Họ đã chống

lại nghĩa vụ phải gây cho người đọc ảo ảnh về cái có thật; cái nghĩa vụ đã

Trang 13

toàn quyền thống trị suốt hiệp hai của tiểu thuyết”[56, tr.59] Cũng ở đây,

Milan Kundera còn đưa ra một vài luận kiến và luận chứng để so sánh giữa những sáng tác của Balzac, của các nhà hiện thực chủ nghĩa thế kỷ XX với Kafka Qua đó để nhấn mạnh thêm sự cách tân mạnh mẽ của Kafka Ngoài ra, nhà lý luận phê bình tiểu thuyết nổi tiếng còn chỉ ra trong tác phẩm của Franz

Kafka, con người bị thống trị gần như tuyệt đối bởi hoàn cảnh bên ngoài: “đặt

một câu hỏi khác về căn bản: đâu là những khả năng còn lại của con người trong một thế giới và những quyết định từ bên ngoài trở thành nặng trĩu đến nỗi những động cơ bên trong chẳng còn chút trọng lượng nào”[56,tr 49}

Cũng trong hai công trình này, Kundera đã dành riêng một phần phân tích và chỉ ra những đặc điểm của “tính chất Kafka” trong sáng tác của nhà văn này Ông chỉ ra những ẩn dụ và “tính thơ hài hước mênh mông” trong các nhân vật

của Kafka Ông viết: “Hai người giúp việc ở tòa lâu đài quả là sự khám phá

mang tính thơ lớn nhất của Kafka, kỳ công của sự tưởng tượng của ông; không chỉ vì sự tồn tại vô cùng đáng kinh ngạc của nó mà hơn nữa dầy đặc ý nghĩa: đấy là những tên đe dọa phát giác khốn khổ, những kẻ quấy rầy; nhưng chúng cũng đại diện cho toàn bộ cái hiện đại tính đáng sợ của lâu đài; chúng là bọn cớm, phóng viên, phó nháy, viên chức của cuộc hủy hoại hết sạch đời sống riêng tư, chúng tá những kẻ nhìn trộm tà dâm mà sự thể hiện phả vào toàn bộ cuốn tiểu thuyết cái hơi hướng tính dục của một sự lăng loàn chung chạ dơ bẩn và hài hước kiểu Kafka”[56, tr.123]

Còn E Fischer trong công trình nghiên cứu mang tên Kafka đặc biệt

chú ý đến khả năng bóc trần bản chất xã hội của nhà văn thông qua thủ pháp

châm biếm trong việc xây dựng các hình tượng nhân vật: “Kafka bằng những

công cụ châm biếm kỳ quái, như là bức biếm họa gây hoảng sợ, đã dựng lên cái bộ mặt quyền lực bẩn thỉu, thối nát, méo; cái bộ máy truy trách nhiệm cho Jozef K và cái tòa án đồi bại, khuất tất mà dám đại diện cho trật tự của thế

Trang 14

giới đạo đức Nhưng cái thế giới bên ngoài khốn khổ và tan rã này chỉ là sự phản chiếu của phẩm chất cá nhân sa đọa của Jozef K và Jozef K chỉ là sản phẩm của thế giới bên ngoài này”[ 31, tr.99] Đồng thời ông cũng khẳng định

rằng: “cho dù người ta thừa nhận Kafka là nhà văn hiện thực hay người ta

hiểu sai ông, cho ông là thần bí thì Kafka vẫn là một nhà văn lớn và quan trọng của thế kỷ XX”, “một nhà văn đã mô tả sự tha hóa, đồ vật hóa và phi nhân hóa của thế giới tư bản một cách cặn kẽ hơn và mang tính cảnh báo hơn người khác”[31, tr.134] Khi phân tích các nhân vật của Kafka, nhà nghiên

cứu đã chỉ ra bi kịch của con người trong xã hội tư bản bành trướng quyền

lực: “nhân vật của Kafka là người luôn luôn là nó, giống như các nhân vật

của Byron và Stendhal, nhưng không phải là nhân vật lãng mạng mà là người tiểu tư sản tuyệt vọng của thế giới tư bản muộn Anh ta muốn hòa đồng với xã hội, muốn chấp nhận ngày thường của thế giới, gia đình và hôn nhân, sự nghiệp, nhưng không được”[31, tr.168]

Franz Kafka đã qua đời gần một thế kỷ, vậy nhưng tác phẩm của ông vẫn như một chùm ánh sáng kì diệu không ngừng tán sắc qua thời gian và không gian, mỗi ngày nó lại phát lộ những hướng tìm tòi mới, mở ra những

dòng suy nghĩ bất tận trong tâm trí người đọc Leni trong bài viết “Kafka và

Do thái giáo”đã nhận định về tầm vóc vĩ đại của Kafka do những tác phẩm

nghệ thuật của ông tạo nên: “ngày nay, khi thế giới hiện đại trở nên dễ chấp

nhận người Do Thái hơn thì dường như đạo Do Thái lại có cơ hội được Kafka phản ánh trong các tác phẩm của ông nhiều hơn bao giờ hết, sự không kiên định, xa lạ và cảm giác bị gạt ra ngoài thế giới con người Việc phản ánh những cảm nhận đó của Kafka đã khiến ông không chỉ là nhà văn Do Thái, sự thật là như vậy, mà ông còn là nhà văn của toàn nhân loại, người có thể biến hóa mọi cảm nhận con người vào trong một tác phẩm nghệ thuật ấn tượng sinh động”[89, tr.34] Cho đến nay, người ta có thể tập hợp được hàng chục

Trang 15

ngàn quyển sách nghiên cứu về Kafka trên toàn thế giới trong một thư viện khổng lồ Chúng ta chỉ cần gõ từ khóa “Franz Kafka” vào một dịch vụ tìm kiếm nào đó trên internet, sẽ thấy hiện ra ít nhất 130.000 loại tư liệu về ông chỉ tính riêng bằng tiếng Anh - thứ ngôn ngữ mà Kafka không bao giờ sử dụng Cũng trong hội nghị quốc tế về Kafka tổ chức tại Lipbice (Tiệp),hai nhà

lí luận Mác xít là E.Fischer và R.Garaudy coi sáng tác của Kafka là những trường hợp tiêu biểu cho phương pháp sáng tác hiện thực chủ nghĩa,không phải theo nghĩa hiện thực truyền thống mà là một “chủ nghĩa hiện thực không

bờ bến.”,một quan niệm hiện thực luôn dang dở,luôn vận động vẫy gọi sự khám phá của các cây bút hứng thú Sự đa nghĩa,đa chiều trong sáng tác của Kafka đã khiến cho nhiều trường phái khác nhau xem ông là tiền bối,đặc biệt

là các nhà triết học hiện sinh

2.2 Tình hình nghiên cứu Franz Kafka ở Việt Nam

Kafka vào Việt Nam qua hoạt động dịch thuật và nghiên cứu từ những năm 60 của thế kỉ XX Ban đầu,người giới thiệu Kafka đứng trên lập trường phê phán với tư tưởng “biết để tránh” Đầu tiên phải kể đến hai công trình nghiên cứu về phê bình văn học của Đỗ Đức Hiểu và Hoàng Trinh năm 1970

Trong công trình Tiếng vọng từ phương tây, tác giả Đỗ Đức Hiểu đã nhận

định: “Nhân vật trong những sáng tác của Kafka là những người cô đơn trừu

tượng, không tên tuổi, một bóng ma chập chờn giữa một thế giới vô danh đầy

lo âu, không có gì đảm bảo”[40, 234] Từ đó, GS Đỗ Đức Hiểu cho rằng:

“Giới thiệu văn học hiện sinh chủ nghĩa, phê phán nó để khước từ nó là điều

cần thiết”[40, 246] Còn trong Phương tây - văn học và con người, GS

Hoàng Trinh đã chọn Franz Kafka là đối tượng quan trọng cho công trình nghiên cứu của mình Ông đã tìm hiểu về con người tha hóa cũng như thế giới huyền thoại trong sáng tác của Kafka, bằng cách phân tích một cách khái lược

các tiểu thuyết Vụ án, Lâu đài, Hóa thân, GS Hoàng Trinh đã khẳng định

Trang 16

thế giới hiện thực của Kafka chính là: “thế giới huyền thoại”, “thế giới ảo ảnh”, một “thiên nhiên thứ hai”, “đối lập với hiện thực và cuộc sống”, thế giới

ấy “đã biến dạng thành một thế giới mờ ảo, quái dị, bay lơ lửng ở trên những

cơ sở thực tế của nó”[78, 345] Đồng thời, tác giả Hoàng Trinh còn chỉ ra những điều mà ông cho là nhược điểm của Kafka khi Kafka đã làm cho “Thế giới được xây dựng theo những quy luật kiểu khác”

Dẫu vậy,trong số ba gương mặt được coi là khai sinh ra văn chương hiện đại thế giới là James Joyce (1882 - 1991,nhà văn Anh ),William Faulkner (1897 - 1962,nhà văn Mĩ đạt giải Nobel 1949) và Franz Kafka thì Kafka lại là người có tác phẩm dịch ra tiếng Việt gần như là đầy đủ nhất,trong khi sáng tác của Kafka thuộc loại khó đọc nhất và ngôn ngữ (tiếng Đức) xa lạ hơn ngôn ngữ mà hai bậc thầy kia sử dụng (tiếng Anh) Điều này phần nào cho thấy sự yêu mến, ngưỡng mộ lớn lao mà giới trí thức Việt Nam dành cho nhà văn Séc gốc Do Thái này

Từ 1986 đến nay,sự đổi mới tư duy đã mang lại cho độc giả Việt những tâm cảm mới, tầm đón đợi mới Một loạt bài nghiên cứu của các học giả uy tín: Đặng Anh Đào,Trương Đăng Dung,Đỗ Ngoạn,Nguyễn Văn Dân,Lê Huy Bắc đã được công bố như một quá trình “nhận thức lại” những giá trị nghệ

thuật chân chính bị khuất lấp Tác giả Đặng Anh Đào viết: “Cách thể hiện

của Kafka là hoàn toàn không đơn giản và cùng một lúc,một chi tiết nghệ thuật có thể phát ra những thông điệp khác nhau,tùy theo kinh nghiệm, sự lịch lãm của người đọc”[53]

Nguyễn Văn Dân trong công trình nghiên cứu Kafka với cuộc chiến chống phi lý in trên tạp chí văn học nước ngoài, số 4, năm 1996, đã nhận định, thật ra, cái phi lí đã xuất hiện phần nào trong văn học thế giới, từ F.Rabelais đến các nhà văn lãng mạng như E Th Hoffmann, J Swift, E Poe,

L Carroll và một số nhà văn hiện đại khác, như là một thủ pháp sáng tác văn

Trang 17

học, có thể gọi là thủ pháp huyễn tưởng phi lý Nhưng đến Kafka thì sự việc hoàn toàn khác hẳn, phi lý không phải dơn thuần chỉ là một hiện tượng xã hội,

mà nó có liên quan và thậm chí chi phối vận mệnh của con người, mà muốn tồn tại, con người phải luôn luôn đấu tranh loại trừ nó Trong mọi trường hợp, cái phi lý của Kafka là những bi kịch của con người hiện tồn trong thế giới đương thời, nó được ông chắt lọc đến mức tinh chất, từ đó thấy được cái cốt logic của nó Đó là lúc nhà văn muốn tấn công trực diện nó không chút quanh

co, câu nệ, hoặc điềm nhiên chấp nhận liện thực phi lý, phi nhân bản ấy thì con người của Kafka lại cố đi tìm hiểu, cắt nghĩa nó Vì khả năng tồn tại tích cực này nên nhân vật của Kafka là kiểu con người hành động Chỉ có điều dẫu cho họ cố hành động đến mức nào đi nữa thì đa phần, cái chết cũng sẵn sàng đợi họ Trong công trình nghiên cứu này Lê Huy Bắc còn khai thác thế giới nghệ thuật mà Kafka sử dụng trong nững sáng tác của mình Đó là yếu tố huyền thoại mà tác giả sử dụng bằng việc xây dựng thời gian huyền thoại thay

vì đua tín hiệu thời gia phiếm chỉ cho thấy “Thế giờ của Kafka là thế giới pha

trộn đến quái đản giữa thực và mơ Nhiều lúc ta không thể nào phân biệt được câu truyện ông kể được thực hiện vào lúc ông tỉnh hay ông mơ Rã ràng thế giới của ông là thực, thực hơn mọi sự thực khác nhưng bảo cõi ấy là mơ cũng chẳng hề sai tý nào” [10, tr.56]

Một trong những người trực tiếp giới thiệu tác phẩm của F.Kafka vào Việt Nam,bên cạnh việc chuyển dịch tác phẩm tiêu biểu nhất là tiểu thuyết

“Lâu đài”,tác giả Trương Đăng Dung đã viết một bài có tính chất tổng quan

về “Thế giới nghệ thuật của F.Kafka” Đứng trên quan điểm mới của lí luận

văn học,bài viết khẳng định F.Kafka là nhà văn “Cảm nhận sâu sắc về trạng

thái tồn tại của con người hiện đại,đã thể hiện bản chất của thời đại mình một cách độc đáo,mở ra những khả năng mới cho tiểu thuyết hiện đại Các tác phẩm của F.Kafka là sự lí giải những ấn tượng nghiệt ngã về thế giới phi lí,về

Trang 18

sự tha hóa của con người trong vòng vây của những thiết chế quyền lực vô hình”[95]

Ngoài ra, có thể kể tên rất nhiều công trình nghiên cứu khác về sáng tác của Franz Kafka như: Nguyễn Thị Giáng Chi trong công trình nghiên cứu

Thân phận con người trong truyện ngắn “Hóa thân” của Franz Kafka (2008) cho rằng “Truyện ngắn Hóa thân đã xây dựng được một hình tượng

đầy ám ảnh về thân phận con người cô đơn, lạc loài, sống kiếp lưu đày trong ngôi nhà thân yêu của mình… Cảm giác xa lạ của con người về thế giới còn được đẩy lên một mức cao hơn - sự xa lạ với chính mình Hình tượng đầy ám

dụ G.Samsa bị biến thành bọ chính là biểu tượng bi đát về sự tha hóa của con

người”[13] Hoặc trong công trình nghiên cứu của Lê Văn Mẫu “Không gian

nghệ thuật trong sáng táccủa Franz Kafka“(2011), nhận định rằng “F

Kafka miêu tả con người trong một thế giới mà ta cảm nhận được là hình ảnh của những cơn ác mộng với những lo âu trần thế” Trong công trình nghiên cứu này, tác giả còn nói đến nghệ thuật biểu hiện cái phi lý, Franz Kafka đã tạo nên những kiểu không gian mới mẻ, độc đáo, kỳ lạ, hiếm thấy trong lịch

sử văn chương trước đó như: không gian mê cung, không gian ngột ngạt tù túng, không gian giấc mơ Có thể nói cùng với các nhà triết học hiện sinh, Franz Kafka đã biểu hiện một cách chân thực hình ảnh con người phản tỉnh trong các trang viết của mình, cùng họ đi vào cuộc chiến chống phi lý.Sự bùng nổ thực sự của Kafka ở Việt Nam chỉ diễn ra khi những nhà giáo dục đưa Kafka vào giảng dạy trong các trường đại học từ những năm 90 của thế kỉ

XX, đánh dấu một thời đại mới trong tiếp nhận Kafka ở Việt Nam Năm 2003,trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây đã tổng kết công trình nghiên

cứu và dịch thuật Kafka bằng cách cho ra đời “Franz Kafka,tuyển tập tác phẩm “ Tập sách quy tụ tất cả bài viết và những tác phẩm đã được dịch ra

tiếng Việt tính đến thời điểm đó

Trang 19

2.3.Từ việc tìm hiểu các ý kiến xung quanh sáng tác của Kafka ta thấy:

Sớm hay muộn,trước hay sau thì người đọc luôn tìm thấy chân dung thời đại trong tác phẩm của ông Vừa là thời đại ông sống,vừa là thời đại chúng ta đang sống đã được ông dự cảm từ trước với linh cảm không thể nhạy bén hơn

Tất cả đều thừa nhận Kafka là người khai mở cho văn học hiện đại với

tư tưởng mang đậm chất hiện sinh Các nhà nghiên cứu đều thống nhất vấn đề

cơ bản trong sáng tác Kafka là vấn đề con người,sự tồn tại của con người,thân phận con người đáng thương,tội nghiệp trong xã hội đầy rẫy phi lí vẫn đang tồn tại như một lẽ hiển nhiên Tuy nhiên,những kiểu con người trong sáng tác của Kafka (Con người cô đơn,con người phản kháng,con người tha hóa,con người lưu đày,…) mới chỉ được tìm hiểu trong những công trình chung,tổng quát mà chưa được tiếp cận một cách rốt ráo như một trong những phương diện cơ bản biểu đạt cho tư tưởng của Kafka Đương nhiên vấn đề con người lưu đày cũng chưa từng được tìm hiểu với tư cách một chuyên luận có tính khoa học chuyên sâu Ở đề tài này,chúng tôi tập trung tìm hiểu con người lưu đày nhìn từ tâm thức hiện sinh như một phương diện nổi bật giúp biểu đạt thành công tư tưởng của Kafka trong hành trình nghệ thuật khám phá con người và thế giới

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để có được cái nhìn đúng đắn, khoa học nhất về những đóng góp của Kafka trong việc thể hiện thân phận con người qua cảm thức về con người lưu đày, luận văn sẽ tìm hiểu đối tượng nghiên cứu từ nền tảng của triết học, mĩ học hiện sinh

Đi sâu vào những sáng tác của Kafka, khảo sát, phân tích, khái quát, tổng hợp để thấy được bản chất của sự lưu đày xuất phát từ hiện thực cuộc đời đầy rẫy phi lí và ý thức của con người về sự tồn tại trong thế giới phi lí

Thấy được vai trò tiên phong, mở đường của Kafka đối với sự ra đời của chủ nghĩa hiện đại trong văn học nhân loại

Trang 20

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1.Đối tượng nghiên cứu

Tập trung làm rõ những đặc sắc nổi bật của Kafka qua việc thể hiện thân phận con người lưa đày trong một thế giới phi lí nhìn từ tâm thức hiện sinh Từ đó thấy được, trong thế giới phi lí ấy, con người hoàn toàn bị động trước thực tại khách quan, con người “bị sinh ra”, bị ném vào đời một cách ngẫu nhiên giữa những phồn tạp không thể cưỡng lại, bị lưu đày

- “Lâu đài” (Trương Đăng Dung dịch)

- các truyện ngắn, nhật kí, thư từ (nhiều người dịch)

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp vận dụng một số phương pháp nghiên cứu: Phương pháp loại hình,phương pháp hệ thống,phương pháp phân tích và nhất là phương pháp so sánh với ưu thế trong việc nhận diện đặc trưng của đối tượng

để đi đến những kết luận có tính khoa học

6 Đóng góp của luận văn

Các sáng tác của Kafka đã mở ra một thời kì mới cho tư duy tiểu thuyết nói riêng và văn học hiện đại nói chung Luận văn khám phá “con người lưu đáy trong sáng tác của Franz Kafka nhìn từ tâm thức hiện sinh” cho thấy cách nhìn mới của Kafka về thế giới thông qua thân phận co người trong một thế giới phi lí, nơi con người bị lưu đày trên con đường mưu cầu hạnh phúc Qua

đó nói lên những điểm độc đáo của phản ánh nghệ thuaatjtrong thế giới nghệ

Trang 21

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận,nội dung luận văn bao gồm ba chương:

CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC CHỦ NGHĨA HIỆN SINH TRONG TRIẾT HỌC VÀ TRONG VĂN HỌC

1.Chủ nghĩa hiện sinh trong triết học

2 Chủ nghĩa hiện sinh trong văn học

3 Fraz Kafka,người mở đường cho chủ nghĩa hiện đại trong văn học

CHƯƠNG 2: CON NGƯỜI LƯU ĐÀY TRONG THẾ GIỚI PHI LÍ

1 Cong người lưu đày trong sự cô đơn

2 Con người lưu đày trong sự bất lực

CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ CON NGƯỜI LƯU ĐÀY TRONG SÁNG TÁC CỦA F KAFKA

1 Nghệ thuật miêu ta cái vắng mặt

2 Nghệ thuật miêu tả thời gian, không gian

Trang 22

NỘI DUNG Chương 1 CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC HIỆN SINH

VÀVĂN HỌC HIỆN SINH

1.1 Chủ nghĩa hiện sinh trong triết học

Chủ nghĩa hiện sinh ra đời sau Thế chiến I tại Đức Cho đến sau Thế chiến II thì trung tâm của triết thuyết này chuyển sang Pháp, sau đó, được truyền bá và lan rộng cả châu Âu, châu Á, châu Phi và đến Mỹ vào thập niên

60 của thế kỷ XX Chủ nghĩa hiện sinh là sản phẩm từ cuộc khủng hoảng xã hội và khủng hoảng khoa học kỹ thuật của nhân loại trong thế kỷ XX Mặt trái của sự phát triển khoa học kĩ thuật cũng như dư chấn từ hai cuộc Đại chiến thế giới đã tạo điều kiện cho thuyết hiện sinh phát triển và ảnh huởng đến nhiều khuynh hướng của triết học, văn học nghẹ thuật ở các nước phương tây Giai đoạn thịnh vượng của chủ nghĩa hiên sinh là những năm 50, 60 của thế

kỷ XX Nếu như triết học cổ điển trình bày nội dung triết học của mình thành

hệ thống lý thuyết thì các nhà triết học hiện sinh lại dùng cách gián tiếp để trình bày những luận đIểm tư tuởng của mình Đó là thông qua những truyện

hư cấu mang hình thức tiểu thuyết, sân khấu Đa số các triết gia của chủ nghĩa hiên sinh đều là nhà văn nhà viết kịch, nhà chính luận, giỏi vận dụng hình thức văn học nghẹ thuật với lối diễn tả dễ hiểu để truyền bá quan điểm của mình Chính vì vậy triết học của họ được lưu truyền rộng rãi không chỉ trong giới tư tưởng gia mà còn trong tầng lớp tri thức Nếu các nhà duy lý coi giới

tự nhiên là đối tượng, mục tiêu nghiên cứu chủ yếu của mình mà không chú ý nhiều đến sự tồn tại đặc thù của con người như một nhân cách tự do thì nhà hiện sinh chủ nghĩa lấy con người làm đối tuợng, mục tiêu nghiên cứu chủ yếu của mình Con người trong chủ nghĩa hiện sinh là con người hiện

Trang 23

sinh,con người cá nhân, một cá nhân tự khẳng định trên mặt đất này với tất cả những đặc tinh chủ quan, từ chối mọi cố gắng hiểu về con người theo tinh thần duy lý hoá

Emmanuel Mounier cho rằng: “Bất cứ khuynh hướng nào trong triết

học hiện sinh đều là triết học về con người, trước khi là triết học về vũ trụ”[29,

tr.23] Và tác giả Trần Thái Đỉnh thì cho rằng: “Dầu ít nhiều chịu tiếng xấu

phần nào do cách sống quá tự do của “phong trào hiện sinh” của một số người, triết hiện sinh vẫn giữ được những giá trị đích thực của nó với những đề tài đặc trưng như: Tự do, tự quyết, quyết chọn, vươn lên, độc đáo, thân phận con người, dấn thân….Cho dù là triết học Sartre, triết học Heideggers vẫn là triết học về con người, về những gì làm nên bản thể con người”[29,tr.8]

Triết học hiện sinh chú trọng đến thân phận con người, tìm hiểu ý nghĩa của cuộc sống và cái chết Các nhà hiện sinh đã đưa ra những vấn đề cơ bản của con người, tôn vinh giá trị con người, tự do cá nhân, thức tỉnh con người trước những điều phi lý của cuộc sống Do đó, tiếng nói của hiện sinh đã được các giới đón chào một cách nồng nhiệt, nhất là lớp thanh niên - những người luôn nhạy cảm với cái mới, cái Tôi - làm dậy nên phong trào triết học sâu rộng và mãnh liệt ở Âu Mỹ trong thế kỷ XX

Đối tượng của triết học hiện sinh là con người thực tồn, con người với

tư cách một bản chính duy nhất không có bản sao, con người như một hữu thể đứng trên vũ trụ chứ không phải như một sự vật thuộc về vũ trụ Nói đến con người trong triết hiện sinh là nói đến con người đã tỉnh ngộ, con người dám nhìn thẳng vào sự thực, không sống theo những quan niệm trừu tượng, con người luôn khao khát tìm tới ý nghĩa thực sự của mỗi người và mỗi vật trong hành trình tri nhận thế giới Có thể thấy một số kiểu con người được đề cập đến trong triết học hiện sinh như: Con người tự do, con người lo âu, con người dấn thân, con người bất lực, con người cô đơn, con người lưu đày,…

Trang 24

1.1.1 Con người tự do

Cần thấy rằng con người tự do của triết hiện sinh phải bắt nguồn từ sự

tự do bên trong - tự do hiện sinh Tức là con người dám chịu trách nhiệm về hành động của mình, làm vì mình thấy điều đó là cần là nên, là đúng, là làm cho bản thân, cho cuộc đời thêm ý nghĩa (Chứ không phải tôi làm vì thấy người ta làm như thế, không phải tôi làm vì người ta nghĩ tôi phải làm như thế, không phải tôi làm vì sợ điều này hay sợ điều kia, và sau hết không phải tôi làm vì thói quen) Triết học hiện sinh thường gọi con người là “sinh hoạt của một tự do tính” Con người hiện sinh không để cho bất cứ yếu tố ngoại

cảnh nào xâm thực vào suy nghĩ và hành động của mình Jaspers cho rằng:

“Hiện sinh là chủ thể tự nhận mình độc đáo Thay vì nhìn vũ trụ, chủ thể tự xét mình để tìm ra ở trong mình cái nguồn khả năng hầu như vô tận: Hiện sinh của tôi là chính hữu thể mà tôi phải dùng một chuỗi những quyết tuyển

để tác thành và hoàn thành Như vậy tôi phải luôn luôn vươn lên khỏi cái thường nhật để đạt tới chỗ trung thực của con người tôi” [29, tr.32]

1.1.2 Con người lo âu, cô đơn

Trong tác phẩm triết học Tồn tại và Hư vô, Sartre đưa ra mệnh đề nổi

tiếng: “Tôi chỉ hiện hữu khi tôi sẽ không hiện hữu nữa”[29] Theo Sartre, con

người luôn phải đối diện với cái chết, cũng như con người từ hư vô trở về hư

vô nên cuộc đời con người như một đường hầm không lối thoát Vì ý thức

được điều đó cũng như nhận ra con người là hữu thể cô đơn nên “Lo âu là sự

nắm bắt phản tính tự do bởi chính nó”[29].Con người lo âu vì phải mang

trách nhiệm với bản thân Cuộc tồn sinh là quá trình làm nên mình nên lo âu

là bạn đồng hành của con người Và, khi lo âu kéo dài không có đường giải thoát thì con người rơi vào cô đơn tuyệt vọng vì con đường trước mắt là hư

vô Tuy nhiên tuyệt vọng không phải là buông xuôi, khuất phục mà con người bắt buộc phải nhập cuộc Hành trình làm người là một quá trình mâu thuẫn,

đau khổ vì không có một thước đo, chuẩn mực để hướng tới Chính vì con

Trang 25

người bị (được) sinh ra để đi đến cõi chết và trong cuộc hành trình về với hư

vô lại quá trĩu nặng trách nhiệm cũng như sợ hãi nên cuộc sống càng trở nên

cô đơn bội phần, phi lí bội phần Song, trong cái vòng bắt buộc của phận người ta có quyền lựa chọn để làm nên ta Vậy, cuộc đời không đơn thuần là phận số mà là những lựa chọn của mỗi cá thể trong hành trình tự xác lập nhân

vị, những lựa chọn giúp ta trở thành con người theo kiểu của ta mà không lệ thuộc hoàn cảnh, ham muốn của bất cứ ai khác Chỉ khi hiện sinh, đối mặt với mọi tình huống ta mới biết bản chất của mình Cũng khi đó, ta nhận ra trạng thái cô đơn trong tận cùng ý nghĩ

Đi tìm hiểu bản chất của lo âu ta sẽ thấy nó bắt nguồn từ thức tỉnh và suy nghĩ Lo âu là bắt đầu vươn lên Con người lo âu là con người đã tỉnh ngộ, khác với con người phóng thể không lo âu vì họ cứ sống thừa ra, sống như mọi người, lẫn vào mọi người trong một không gian nhòe mờ, vô nghĩa

lí Như vậy, lo âu là vẻ đặc sắc của cuộc hiện sinh đã tự ý thức, muốn dứt mình

ra khỏi cuộc sống thừa, sống an nhàn của sự vật và của những con người phóng thể Cũng chính mối âu lo triền miên dẫn con người vào sự cô đơn tột độ khi không tìm được mối giao cảm, sự sẻ chia

Cho nên, vẻ ngoài của con người lo âu, con người cô đơn có thể làm người ta lầm tưởng là yên tĩnh, kì thực bên trong nó đang vần vũ chuyển động, là những cái cựa mình để vươn lên Có thể coi yếu tính của lo âu là xao xuyến không cùng, trở trăn không tận, là cựa mình để vươn lên và không bao giờ cam chịu nằm lỳ ở trạng thái an cư của một sự vật Tương tự, yếu tính của cô đơn là khát khao được thấu hiểu, thấu cảm đến tận cùng Nhưng càng khao khát càng

cô đơn Đó là bi kịch

1.1.3 Con người tự quyết, dấn thân

Tự quyết của hiện sinh nằm ngay ở nhân vị con người, không nhằm sự vật Vì thế ý niệm tự quyết thường đi liền với ý niệm dấn thân Tự quyết là tự chọn cho mình cách ứng xử, ứng phó trước đời sống: mỗi quyết định của tôi

Trang 26

đều ghi một bước tiến trên cuộc đời tôi; tự quyết là tự chứng minh rằng tôi là một chủ thể tự do và tự đảm nhận Mỗi khi tôi dám là tôi mỗi khi tôi tự quyết

về tôi trong bất cứ hành động nào, tôi đều đã hoàn thành một bước tiến đáng

kể cho nhân vị của tôi, tức là tôi dấn thân vì chính tôi Người hiện sinh tin tưởng ở giá trị hành động tự quyết của mình miễn là đã quyết định trong sự bình tĩnh và sau khi đã suy nghĩ đủ

Chính trong hành động tự quyết, triết hiện sinh chứng tỏ hiện sinh là giá trị sống, không phải là giá trị tư tưởng, là sự thực hành của đời sống chứ không chỉ dừng lại ở lý thuyết về đời sống Đề cao tự quyết, dấn thân, con người hiện sinh tự khẳng định mình là chủ thể, tự nhận lấy trách nhiệm làm người Con người hiện sinh ưu tư về định mệnh của mình và ưu tư tìm cách phát triển nhân cách của mình tới mức hoàn hảo, cho nên tự quyết luôn luôn mang nặng những suy nghĩ và ưu tư, cũng là mang đậm ý thức về sự dấn thân trong một thế giới nhiều bất trắc, phi lí

1.1.4.Con người lưu đày

Đến cuối Chiến tranh thế giới thứ hai, Chủ nghĩa hiện sinh trở thành một phong trào được biết đến rộng rãi, đặc biệt qua danh tiếng và các tác phẩm của Jean-Paul Sartre cùng một số các tác giả khác ở Paris sau giải phóng Các tác phẩm của họ chú trọng vào các chủ đề như "nỗi sợ, sự buồn chán, sự lạc lõng, sự phi lý, tự do, cam kết, và hư vô" như là nền tảng của sự

hiện sinh con người Walter Kaufmann miêu tả chủ nghĩa hiện sinh là "Sự từ

chối gia nhập bất cứ trường phái tư tưởng nào, sự bác bỏ rằng không có bất

cứ niềm tin hay đặc biệt là hệ thống niềm tin nào là thỏa đáng, và một sự thất vọng rõ rệt đối với triết học truyền thống vì nó bề nổi, hàn lâm, và xa cách với cuộc sống"[4, tr.98]

Heiderger thì cảm thấy con người sống trong trần thế như những kẻ bị

bỏ rơi, những kẻ bị lưu đày Sống trong đời thực ra là một cuộc lưu đày bất

Trang 27

tận.Dù vậy, để sống trong đời con người vẫn phải không ngừng vươn lên để chống lại thảm kịch Từ đó, vươn lên cũng là lẽ sống của người hiện sinh trung thực Không vươn lên tức là bị cứng đọng, sa lầy Mà vươn lên không

có nghĩa là thắng người này người nọ, vươn lên của hiện sinh chỉ nhằm thắng chính mình: Vươn lên trên cái hôm qua và lúc nãy Như vậy, triết học hiện sinh luôn luôn buộc con người phải tiến lên và vươn cao Cũng chính là sự lưu đày con người trang công cuộc vươn lên mệt mỏi

Không phải ngẫu nhiên mà Kierkegaard, ông tổ của triết học hiện sinh

luôn cảnh tỉnh con người rằng: “Coi chứng sa lầy! Tất cả những gì ru ngủ

đều là những sa lầy Những triết thuyết và tôn giáo hô to rằng sẽ đảm bảo cho chúng ta Đó là những sức phá hoại nhân vị của ta Chúng chỉ có chủ đích là

giúp ta thôi làm người để chúng làm người giúp ta”[29, tr.346].Sartre thì cho

rằng: “Hữu thể tự thân chỉ là mình nó Nó đặc ứ Nó không có tha tính (tính

chất biến ra khác) Muôn đời nó sẽ là chính nó và cứ thế cho đến khi nó kiệt đi”[29, tr.67]

1.2 Chủ nghĩa hiện sinh trong văn học

Triết học hiện sinh thường gắn với văn học, có lẽ bởi nó là thứ triết học gắn liền với cuộc sống và cái chết của con người, nghĩa là nó cùng có một đối tượng chung với văn chương Văn học hiện sinh là một trào lưu văn học xuất hiện ở châu âu, trước hết là ở Pháp vào những năm trước và sau chiến tranh thế giới thứ hai và tiếp đó lan rộng nhanh chóng sang một số nước khác trên thế giới…giống nhau ở tư tưởng bi quan sâu sắc đối với con người và cuộc sống

1.2.1 Vài nét về văn học hiện sinh phương Tây

Văn học phương Tây hiện đại chịu ảnh hưởng sâu đậm của những tư tưởng hiện sinh, Suốt một thế kỷ qua, đã xuất hiện một dòng văn học hiện sinh với nhiều thành tựu nổi bật ở phương Tây cùng những tên tuổi sáng chói như F.Kafka, J.P Sartre, A Camus, Simon de Bovoir…

Trang 28

Tác giả Nguyễn Đắc Vĩnh cho rằng: Nếu ở Kafka cái phi lý là một thực thể khách quan mà con người tìm hiểu cả đời không thấy, thì ở Albert Camus, cảm giác về cái phi lý là khởi nguồn cho lối sống đậm chất hiện sinh có tên: Nổi loạn Cuộc đời, thực ra, tự thân nó không phi lý, cũng như tự thân con người không phi lý Nhưng tính chất phi lý nằm ở chỗ một bên là cuộc đời đầy rẫy trái tai gai mắt mà bên kia con người sáng suốt lại đòi hỏi mọi sự phải rạch ròi Hai bên đối lập nhau như vậy, mà lại phải hiện hữu bên nhau hàng

ngày Qua các tiểu thuyết Kẻ xa lạ, Ngộ nhận, Caligula… Camus muốn nói

rằng tính chất phi lý này là sự thật của cuộc đời chúng ta Đó cũng là chủ thể

nổi bật ở hầu hết các tác phẩm của ông Meursault trong Kẻ xa lạ coi tình mẫu

tử, tình yêu đôi lứa, giết người, cái chết của bản thân….chẳng có gì quan trọng cả Anh ta khước từ những chuẩn mực xã hội áp đặt lên hành vi của anh

ta, anh ta muốn sống đích thực với chính con người mình Chính vì vậy anh ta

là kẻ lạc loài, xa lạ với xã hội và bị xã hội kết án Marta trong vở kịch Ngộ nhận, coi tình yêu, lý tưởng… là ảo tưởng, “nhận lầm”; chỉ sự phi lý là có thật, cho nên sau khi vô tình giết chết anh trai và sau khi mẹ mất đã chấp nhận

sự phi lý của cuộc đời với một thái độ dửng dưng Nhân vật Hoàng đế La Mã Caligula trong vở kịch cùng tên trước cái chết của chị gái đồng thời là người yêu hắn - Drusilla - nhận ra sự phi lý của cuộc đời, đã nổi loạn muốn phá phách cái thế giới này, muốn ngang bằng với thần linh Muốn bất tử, muốn tàn bạo, bất công, phi luân, chém giết như thần linh…để khẳng định tự do của hắn

Với Jean-Paul Sartre, cái phi lý vẫn luôn hiển hiện dẫn đến buồn nôn và

từ buồn nôn dẫn đến tự do Tư tưởng này đã được Sartre thể hiện trong nhiều

tác phẩm văn học của ông như: Buồn nôn, Bức tường, Đường về tự do, Chữ nghĩa,Ruồi, Kín cửa, Chết không mồ, Gái điếm mà lễ độ, Tay bản, Quỷ thần và Thượng đế…

Trang 29

Trong tác phẩm Buồn nôn, nhân vật Roquentin đã dũng cảm vén lên

bức màn nhận thức giả dối bấy lâu che lấp con người với thế giới để phát hiện

ra rằng: Bản chất đích thực của thể giới là vô thường, vô đích, hoàn toàn phi

lý, nó có đấy, không nguyên nhân, không lý do, khổng thể lý giải nổi Điều đó khiến anh “nôn mửa” trước những sự vật im lìm bất động, trước cuộc đời quẩn quanh theo những lối mòn Thế giới đó với con người chẳng có gì ràng buộc nhau cả; con người có tự do, nó thuộc về tương lai, nó tự tạo nên bản chất của mình qua “dự phóng”

Trong vở kịch Ruồi, Sartre tiếp tục triển khai chủ đề tự do Hoàng tử

Oreste tiêu biểu cho triết lý tự do của thuyết hiện sinh: “tôi là tự do của chính tôi” Chàng tự mình đảm nhận trách nhiệm chiến đấu chống lại cái ác: “…ta

là một con người và mỗi con người phải tìm ra con đường của mình”, không chịu khuất phục trước thần quyền và thế quyền, không sợ bị chị gái và đám dân chúng ghét bỏ, không sợ những con ruồi báo thù bao vây đuổi đốt

Có thể nói văn học hiện sinh phương tây chứa chất đầy mâu thuẫn nội tại, sâu sắc đến mức không thể giải quyết và tất yếu đi đến chỗ bế tắc ở cuối những năm 50 của thế kỷ XX Đề tài chủ yếu của họ là cái phi lý, cuộc sống

lo âu, tự do, dấn thân, nổi loạn… Phần lớn các nhà văn hiện sinh đồng thời cũng là những nhà triết học hiện sinh nổi tiếng Họ đã viết văn để phát triển, giải thích và tuyên truyền học thuyết hiện sinh, tạo ra một trào lưu văn học có ảnh hưởng mạnh mẽ ở chây Âu và lan rộng ra châu Á, châu Phi, châu Mỹ

1.2.2 Vài nét về văn học hiện sinh Việt Nam

Xã hội đô thị miền Nam 1954- 1975 la mảnh đất màu mỡ cho triết học

và văn học hiện sinh cắm rễ Sự mất mát đau thương của cuộc chiến đã tác động đến tư tưởng của giới trí thức văn nghệ sỹ khiến họ ngày càng hoang mang, bế tắc Đây là điều kiện tốt nhất để chủ nghĩa hiện sinh du nhập va phát triển ở Việt Nam

Trang 30

Các nhà văn hiện sinh đuợc dịch nhiều nhất ở đô thị miền Nam 1954

- 1975 là: J.P Sartre, A Camus, F Sagan, S Beckett Không chỉ được dịch, được giới thiệu với đông đảo bạn đọc, những tác phẩm văn học hiện sinh còn thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu phê bình ở đô thị miền Nam giai đoạn này

Văn học đô thị miền Nam 1954- 1975 chịu ảnh hưởng sâu đậm chủ nghĩa hiện sinh trên tất cả mọi thể loại,trong đó, sâu đậm nhất là thơ ca và tiểu thuyết Đây cũng là hai thể loại kết tinh thành tựu của văn học đô thị miền Nam giai đoạn này

Thơ ca đô thị miền Nam viết nhiều về sự vô định, mong manh, hư vô của kiếp người, về cái chết, nỗi buồn đau, sự xa lạ của thế nhân, sự đổ vỡ của niềm tin và mơ ước Những tác giả tiêu biểu cho thơ ca mang khuynh hướng hiện sinh là Bùi Giáng, Nguyên Sa, Đinh Hùng, Thanh Tâm Tuyền,Mai Thảo,

Du Tử Lê, Nhã Ca,…Nếu thơ Thanh Tâm Tuyền luôn chìm đắm trong nỗi đau cô đơn, luôn vang lên lời khẩn cầu tha thiết của kẻ đi tìm lại bản thể và nhân vị của mình:” Tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ”, “Tôi gào tên tôi thảm thiết” thì thơ Bùi Giáng đau đáuvề thân phận dâu bể của con người, nỗi hoài nghi về

số kiếp, ta từ đâu lại? Ta là ai? Những trầm luân biến đổi làm sao đo, đếm, đặt

tên được: " Hỡi Thượng đế! Cúi đầu con thưa lại/ Ở trần gian ai cũng khổ

liên miên/ Người đã dựng cảnh tù đầy dọa mãi/ Để làm gì/Cho sáng nghĩa vô

biên " (Dâng - Bùi Giáng)

Bên cạnh thơ ca, tiểu thuyết cũng mang màu sắc hiện sinh rõ rệt trên cả hai phương diện nội dung tư tưởng và hình thức biểu hiện Đây được coi là thể loại “bùng nổ” của văn học đô thị miền Nam, tạo thành một hiện tượng trong đời sống văn học thời ký đó Ngay nhan đề các tác phẩm cũng đã thấy

được sự buồn thảm, hư vô trong cuộc sống con người: Bóng tối cuối cùng; Tình yêu địa ngục;Vòng tay học trò của Nguyễn Thị Hoàng,Bóng tối,tiếng

Trang 31

cười, môihôn và nghĩa trang; củaNguyên Vũ Bao giờ hết thương đaucủa Nghiêm Lê Quân Cát lầy; Mù khơi của Thanh Tâm Tuyền Lao vào lửa; Nhang tàn thắp khuya; Thú Hoang củaThụy Vũ

Triết học hiện sinh và văn học hiện sinh ảnh hưởng lớn đến sáng tác của các nhà văn đô thị miền Nam 1954 - 1975 đặc biệt là thể loại tiểu thuyết, thể loại thuận lợi nhất trong việc chuyển tải những vấn đề về thân phận con người qua những hình tượng nhân vật sinh động.Sự ảnh hưởng này đã mang lại cho văn học đô thị miền Nam một diện mạo riêng, trong đó có những bước tiến dáng được ghi nhận tuy cũng còn không ít hạn chế…

Trong điều kiện “mở cửa” hiện nay, các nhà văn hoàn toàn nắm bắt được hiện trạng phi lý của thế giới duy lý hoá hiện đại, thấy được thân phận nhỏ bé của con người trước nền văn minh kỹ thuật hiện đại Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng lãnh đạo đã đạt được những thành quả nhất định, nhưng tệ quan liêu, nạn tham nhũng đang trở nên một quốc nạn Tình trạng thất nghiệp, nghèo đói và mặt trái của cơ chế thị trường còn đang đè nặng lên tâm lý của cá nhân Đó là miếng đất thuận lợi cho chủ nghĩa hiện sinh nảy nở

Đầu tiên phải nói đến Nguyễn Huy Thiệp, ngay khi ra đời tác phẩm

Tướng về hưu,tác giả đã tạo nên "vụ nổ gây phản ứng dây chuyền” Có nhiều

ý kiến xoay quanh tác phẩm từ bác bỏ đến ủng hộ- Nhưng dần dần tầm đón nhận của độc giả rộng mở và thtra nhận sự ra đời của những tác phẩm đầy lạ lẫm này Có thể thấy trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp nhiều yếu tố

quen mà lạ: Phẩm tiết, Mưa Nhã Nam, Kiếm sắc, Con gái thủy thần, Trương Chi, Những vấn đề về than phận con người,sự đấu tranh giữa thiện và

ác trong con người, mối quan hệ giữa văn học nghệ thuật với cuộc sống, vấn

đề nhìn nhận lịch sử hay tình yêu, đạo đức, thẩm mỹ triết lý, ý nghĩa nhân bản

ẩn chứa sâu xa sau mỗi câu chuyện đều là một sự sáng tạo vừa nghiêm túc, vừa táo bạo

Trang 32

Tạ Duy Anh xuất hiện với câu truyện ngắn Bước qua lời nguyền, tái

hiện một bức tranh toàn cảnh nông thôn Việt Nam đầy nước mắt trong những năm 50-70 của thể kỷ XX Nhân vật đã từng thốt lên “Giữa tình yêu và thù hận nên chọn cái nào?” một bên là sức mạnh của quyền lực, một bên là sức mạnh của khát khao tự do Con người đứng trước sự lựa chọn phải hành động hay chấp nhận số phận

Nguyễn Khải trở nên bé nhỏ trước vô số những mảnh đời chới với, quay cuồng trong những tháng ngày hiện hữu Triết lý nghịch một ngày thì lê thê mà một đời là thoáng chốc trong tiểu thuyết của Lê Văn Thảo cũng là một

sự thật, một quy luật đậm chất hiện sinh (Một ngày và một đời).Đặc biệt, với Những đứa trẻ chết già,Nguyễn Bình Phương đã dựng lên một thế giới hỗn

độn, ngỡ như không quy luật, không logic, bí ẩn, ma mị song lại mang đậm những trăn trở về thời-gian-đời - người Vạn vật đều truy tìm bản thể, cắt nghĩa đời sống của chính mình trong hành trình tiến dần vềcái chết Đặt cái

hữu hạn của kiếp người bên cạnh cái vô hạn của thời gian, Những đứa trẻ chết

già của Nguyễn Bình Phương tiêu biểu cho những ưu tư hiện sinh không bao

giờ dứt của văn chương về thân phận con người

Có thể nói, văn học Việt Nam sau đổi mới đang bước đi trên một cuộc hành trình đầy thử thách với những cây bút mở dầu đày sáng tạo.Từ bối cảnh của lịch sử xã hội đến sự tiếp nhận nội dung và hình thức trong các sáng tác văn học phương Tây đã đặt ra những mục tiêu sáng tác trên chặng đường của mỗi nhà văn Màu sắc hiện sinh tồn tại trong những trang văn khiến con người không phải là những “ốc đảo cô đơn” mà là những thực thể sóng động được cảm nhận và phát triển trên hành trình tìm kiếm bản thể

1.2.3 Franz kafka - Người mở đường cho chủ nghĩa hiện đại trong văn học

Người đầu tiên sáng tác những tác phẩm mang đậm chất hiện sinh là F Kafka Các tác phẩm của ông là tiếng nói đa âm về thân phận con người, thấm

Trang 33

đẫm tư tưởng hiện sinh, được biểu hiện tập trung nhất qua hai cuốn tiểu

thuyết Vụ Án và Lâu đài Hai tác phẩm này đã phác họa ra một thế giới hoàn

toàn phi lý, ở đó con người có thể bị buộc tội bất cứ lúc nào, không có quyền được khiếu nại, xét xử Josef K và K là hình ảnh tượng trưng cho thân phận con người trong thế giới phi lý ấy; bất lực và lẻ loi, cô đơn và luôn mang nặng tâm trạng lo âu, bất an khôn cùng Nghịch lý bi đát của Kafka được gợi lên qua hình tượng những nhân vật “tội phạm - vô tội” là: Trong khi cảm thấy tất

cả cái phi lý của Lâu đài, của Vụ án, của Lời phán quyết, của việc trở thành

Người Châu Âu trung bình thì nhân vật Joseph K, hay K, hay là Gheor

Budeman….vẫn dính vào những chuyện đó, như “những con ruồi bị dính chân vào đĩa đường” Người ta thường gọi tác phẩm của Kafka là huyền thoại

Nó gợi lên những tổng hợp, khái quát về những vấn đề lớn lao của thân phận con người Tác phẩm của Kafka cũng vì thế mà còn là một tác phẩm “mở”, giàu tính chất đa âm, đối thoại

Franz Kafka(3 tháng 7 năm 1883 - 3 tháng 6 năm 1924) là một nhà

văn lớn viết truyện ngắn và tiểu thuyết bằng tiếng Đức, được giới phê bình xem như một trong những tác giả có ảnh hưởng nhất thế kỉ 20 Kafka là một nhàhiện đại chủ nghĩa và chịu ảnh hưởng mạnh bởi những thể loại khác, bao

gồm chủ nghĩa hiện sinh Các tác phẩm của ông, như "Hóa thân", "Vụ án"và

"Lâu đài" sử dụng những chủ đề và nguyên mẫu về sự ghẻ lạnh, sự tàn bạo về

thể xác và tinh thần, mâu thuẫn cha-con, những nhân vật trong những cuộc truy tìm đáng sợ, và những sự biến đổi kỳ bí

Kafka sinh ra trong một gia đình Do Thái nói tiếng Đức trung lưu

ở Praha, khi ấy là một phần của Đế quốc Áo-Hung, và được đào tạo để trở thành một luật sư Sau khi tốt nghiệp ngành luật ở đại học, ông đi làm ở một công ty bảo hiểm Kafka bắt đầu viết những truyện ngắn trong những lúc rảnh rỗi, và trong suốt phần đời còn lại ông luôn phàn nàn về khoảng thời gian ít ỏi

Trang 34

có thể cống hiến cho việc viết văn - mà ông dần xem là thiên hướng của mình; trong khi lấy làm hối tiếc đã dành nhiều sự quan tâm cho "công việc hàng

ngày" (Brotberuf, tức công việc kiếm sống) Ông ưa liên lạc bằng thư từ và đã

viết hàng trăm lá thư cho gia đình và những người bạn gái thân thiết, trong đó

có thư gửi cho cha, hôn thê Felice Bauer và em gái Ottla Mối quan hệ phức tạp và khó khăn với người cha có tầm ảnh hưởng quan trọng lên tác phẩm của ông, và dù ông xung đột với tính Do Thái của mình và cho rằng nó không tác động gì tới ông, tuy nhiên nó đã có dấu ấn đậm nét trên văn chương Kafka

Chỉ có một vài tác phẩm của Kafka được xuất bản khi ông còn sống:

các tập truyện Trầm tư và Một thầy thuốc nông thôn, và các truyện ngắn lẻ (như Hóa thân) trong các tạp chí văn học Ông đã soạn tập truyện Nghệ sĩ nhịn đói để in, nhưng nó không được xuất bản cho đến sau khi ông mất Các

tác phẩm chưa hoàn thành của ông, bao gồm các tiểu thuyết Vụ án, Lâu

đài và Nước Mỹ(Amerika, còn được gọi là Der Verschollene tức Người mất

tích) được xuất bản như những di cảo, phần lớn bởi bạn ông là Max Brod,

người đã từ chối di nguyện của Kafka là tiêu hủy tất cả bản thảo Albert Camus và Jean-Paul Sartre là hai trong số những nhà văn chịu ảnh hưởng bởi

tác phẩm của Kafka; tính từ "kiểu Kafka" (tiếng Anh: kafkaesque) đi vào

nhiều ngôn ngữ Âu châu để mô tả những hoàn cảnh siêu thực như trong truyện của ông

Không thể xếp Kafka vào một trào lưu văn học nào cả, văn phong của

ông gần với chủ nghĩa biểu hiện, nhưng theo quan điểm tư tưởng thì lại có người xếp vào trường phái hiện sinh chủ nghĩa Cuộc sống nội tâm và những

sáng tác của ông mang dấu ấn của ba di sản văn hóa: văn hóa Do Thái ở trong gia đình, văn hóa Đức ở trong nhà trường, văn hóa Séc trong cuộc sống với cộng đồng người Séc dưới sự thống trị Áo-Hung Sức mạnh của Kafka không phải là sức khỏe, mà là sự im lặng quan sát- một thói quen của cậu bé Franz

Trang 35

gầy gò ốm yếu có từ khi sống ở nhà Hình tượng anh chàng đạc điền K không

có một chỗ ở, không được hành nghề, vì vậy không có tiền đồ và chỗ đứng trong cộng đồng Phải chăng đây là cảnh sống của những người dân sống trên đất Séc dưới ách thống trị đế quốc Áo-Hung ở đầu thế kỷ XX (trong đó có những người Do Thái) Trong nhật ký của mình, Kafka đã thổ lộ, rằng ông đã

"tự ủy nhiệm" cho mình nhiệm vụ phản ánh cuộc sống ấy bằng ngòi bút Với những trang viết độc đáo của mình, Franz Kafka xứng đáng được mệnh danh

là người mở đường cho chủ nghĩa hiện đại trong văn học thế giới

Trang 36

Chương 2 CON NGƯỜI LƯU ĐÀY TRONG THẾ GIỚI PHI LÍ

Từ điển triết học định nghĩa về “cái phi lý’’ là:“không thể hiểu biết

được đối với lý tính và tư duy, không thể diễn đạt bằng những khái niệm logic”[68; 722]

Theo Nguyễn Văn Dân trong cuốn Văn học phi lý (10), thì khái niệm phi lý trong triết học được hiểu trên hai phương diện:

Thứ nhất, "trên phương diện logic học thì người ta quan niệm những gì tồn tại trái với quy tắc logic đều bị coi là phi lý”

Thứ hai,“trên bình diện lý luận nhận thức, người ta cho rằng tất cả

những gì chống lại năng lực nhận thức, chống lại lý trí, không thể giải thíchđược bằng tư duy, đều được coi là phí lý Như vậy phi lý là cái phản lý tính Với hàm nghĩa này, khái niệm phí lý mang tính khái quát hơn, vượt ra khỏi địa hạt của lôgíc học, lá định nghĩa của nền triết học phương Tây hiện đại pháttriển thành chủ nghĩa phi lý tính từ cuối thí kỷ XVII và kéo dài suốt hơn một thế kỷ”[10;15]

Khái niệm về “cái phi lý” này được các nhà triếthọc hiện sinh như J P Sartre (1905-1980) A Camus(1913-1960) phát triển thêm một bước

nghiêng về tính chủ quan của nhận thức “Chủ nghĩa hiện sinh tạo ra giữa lý

tính và thực tại một vực sâu ngăn cách không thể vượt qua Và trong cái vực sâu này có sự ngự trị của cái phi lý” [10;18] A Camus thì tuyên bố “phi lý chỉ nảy sinh từ sự bất hòa hợp giữa khát vọng của lý trí với thực tại u tối”[10,20]

Dù phát triển ờ mức độ nào thì chúng ta đều nhận thấy “cái phi lý” liên quan mật thiết với tư duy, nhận thức lý tính của con ngưòi Khi tư duy logic

và nhận thức lý tính không thể hiểu được, không thể giải thích được thì nó là

Trang 37

phi lý Khái niệm này khi muốn chuyển sang lĩnh vực văn học, nó sẽ được mở rộng hàm nghĩa

Trong cuốn Văn học phi lý, Nguyễn Văn Dân khẳng định: "khái niệm

phi lý trong văn học được dùng để chỉ loại hình văn học phi lý có nhiệm vụ nhận thức và mô tả cái hiện thực vô nghĩa, phi logic, phi lý tính, trái với năng lực nhận thức của con người” [10;23] Như vậy, ở lĩnh vực văn học thì khái

niệm phi lý đã được mở rộng để chỉ một loại hình văn học mổ tả về "cái phi lý” "Cái phi lý" trong văn học cũng không đơn thuần là "cái phi lý” phản lý tính trong quá trình nhận thức, tư duy E Ionesco, một đại diện tiêu biểu của

Văn học phi lý đã nêu rõ "cái phi lý là sự tồn tại vô nghĩa của con người, là

sự suy giảm giá trị của mọi lý tưởng của con người, thường nhận thấy trong thế giới hiện đại” [10;22] Điều này có nghĩa là văn học đã nhìn thấy cả tính

lịch sử của khái niệm “cái phi lý” thấy mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời giữa văn học với con người, xã hội và thời đại của nó Trong quá

trình sáng tác, các nhà văn đã cố gắng nhận thứcđểphản ánh, mô tả "cái phi

lý” như vừa nói trên, mà nói gọn lại là: cái phi lý của cuộc đời.Franz Kafka

được coi là người vén tấm màn cho sân khấu của “cái phi lý” ấy được khai mạc Đây chính là một nội dung khái niệm chúng tôi quan tâm trong quá trình tìm hiểu phân tích nghệ thuật biểu hiện nó ở tác phẩm của Kafka

Thêm nữa chúng tôi muôn nhấn mạnh khía cạnh đạo đức - nhân vân khi quan niệm về "cái phi lý" Bởi xét cho cùng, mục đích cuối cùng của mọi

sáng tạo văn học vẫn là vì con người và cuộc sống của con người "Bất cứ một

hiện tượng nào cũng có nguy cơ trở thành phi lý: ăn, ngủ, làm việc là hợp lý theo logic riêng của nó Nhưng xét từ góc độ đạo lý nhân văn thì nó có thể phi

lý nếu nó không có mục đích nhân văn rõ ràng” [8;47] Có nghĩa là một sự

việc, hiện tượng sẽ là phi lý nếu nókhông phục vụ cho con người, không vì con người mà tồn tại

Trang 38

Ở Kafka, người mà Camus coi là thần tượng và chịu ảnh hưởng nhiều,

thì từ Lời tuyên án (truyện ngắn, 1913), Vụ án (tiểu thuyết,1914), Hoá thân (tiểu thuỵết, 1915) đến Trước của pháp luật(truyện ngắn,1916), Lâu đài (tiểu

thuyết, 1920) v.v cái phi lý trải dài theo từng con chữ, tràn ngập khắp các mặt giấy Cả thế giới nghệ thuật của ông là thế giới của sự phi lý thống trị và nạn nhân của nó có đủ mọi hạng người Dưới tác động của nó, hầu hết các nhân vật đều có"cơ may" dừng hành trình sống của mình, chấm dứt những chuỗi ngày tìm kiếm chờ đợi mỏi mòn, khốn khổ

Có thể nói cái phi lý của Kafka là cái phi lý toàn triệt, phi lý đến độ người ta không có cảm giác phi lý nữa mà cảm thấy bình thường Như vậy, Kafka với việc khai thác mảng đề tài cái phi lý của cuộc sống đã mở đường cho loại hình văn học phi lý, đổng thời cũng mở đường cho trào lưu văn học chủ nghĩa hiện sinh

2.1 Con người lưu đày trong sự cô đơn

Franz Kafka không phải là một triết gia hiện đại nhưng những sáng tác của ông ảnh hưởng rất nhiều bởi triết học hiện sinh cho nên hình ảnh con người trong những sáng tác của Kafka luôn luôn mang một nỗi ám ảnh cô đơn của thời thế

2.1.1 Con người cô đơn trong không gian

Trong đời sống tinh thần người Phương Đông, với lối tư duy “Thiên địa

vạn vật nhất thể” cũng như quan niệm “thiên nhân tương đồng”đã mang tới

cái nhìn nhất thể về vũ trụ, con người dù cô đơn vẫn còn có một điểm tựa tinh thần, đó chính là thiên nhiên Người Á Đông đến với thiên nhiên, hòa vào thiên nhiên như một cách tìm kiếm sự an yên, tự tại, tránh xa cuộc sống xô

bồ, phồn tạp Vì thế, khi muốn diễn tả sự cô đơn cực độ, các nhà thơ cổ Phương Đông thường đặt con người trong một không gian rộng lớn vô biên,

xa lạ Ở đó, họ không tìm thấy một hình ảnh gì thân thuộc, gần gũi với mình,

Trang 39

con người như lạc vào một không gian nằm ngoài dòng chảy của cuộc đời Như vậy, nếu như trong nghệ thuật Phương Đông, nỗi cô đơn của con người thường được tô dậm trong sự đối lập với không gian mênh mông xa lạ, thì trong sáng tác của Kafka cũng như các nhà văn Phương tây sau này, con người cô đơn lạc lõng ngay trong những không gian quen thuộc và gần gũi nhất Con người xa lạ ngay giữa cuộc sống cộng đồng, xa lạ với người thân, thậm chí với chính mình

Gắn liền với văn hóa Đức, Kafka vẫn không hoàn toàn thoải mái trong môi trường xã hội của người Đức Trong hành trình kiếm tìm ý nghĩa của cuộc sống, sự trải nghiệm căn bản của Kafka là việc trở thành xa lạ và có nhu

cầu được phép lưu lại trong hữu thể Ông viết trong nhật ký: “Tôi sống xa lạ hơn cả một người ngoại quốc” Điều này một phần do chính hoàn cảnh của

ông mang lại: một người Do Thái, nói tiếng Đức, sống ở Tiệp, dưới sự thống trị Áo - Hung càng làm tăng thêm tình cảm cô độc và tha hương Cái tâm trạng bất ổn này dường như bao trùm cả một loạt những nhà văn Tiệp viết tiếng Đức thời bấy giờ, kể cả nhũng người nổi tiếng như Rinke hoặc người bạn thân của Kafka là Max Brod Như vậy, sự cô đơn trở thành một không gian sống khủng khiếp mà con người sống trong đó thực chất là một cuộc lưu đày, hành xác ở mọi chốn, mọi nơi Cái cuộc sống mà như cuộc lưu đày trong

cô đơn như thế này đối với Kafka rõ ràng có dấu ấn đậm nét hơn những nhà văn khác cùng thời điểm Lí giải ta thấy, trước hết có thể do tình hình sức khỏe và gốc tích Song, ở xứ sở từng là quê hương thứ hai của ông - bởi lẽ không có quê hương thật sự - thì cũng có thể xem là những dự cảm về một tình trạng bất ổn của xã hội, của sự tồn tại

Chính những điều bất lợi bắt nguồn từ cuộc sống thực tế của Kafka cho nên ông bao giờ cũng cảm thấy cô đơn ở nơi ông sống Những nhân vật trong những sáng tác của Kafka cũng tồn tại trong một thế giới vô nghĩa với những

Trang 40

mê cung cuộc đời, những thiết chế quyền lực vô hình, một thế giới ngột ngạt

tù túng Các nhân vật thích nghi với thế giới này, thậm chí không chịu nổi khi tách ra nó Kafka miêu tả con người trong một thế giới mà ta cảm nhận được

là hình ảnh của những cơn ác mộng với những lo âu trần thế, con người sống trong thế giới ấy thực chất là người bị lưu đày trong đời sống Qua khảo sát những sáng tác của Kafka chúng tôi nhận thấy Kafka đã tạo ra những hình tượng không gian mới mẻ mà trong đó những con người phải sống cô đơn, bị lưu đày ở những nơi thân thuộc nhất, ngay trong chính gia đình của mình

Điều này chúng ta có thể thấy rất rõ trong chính cuộc đời thực của Franz Kafka Sinh ra trong một gia đình thương gia giàu có, bản thân là đứa con trai độc nhất trong nhà, Kafka phải gánh trên vai trách nhiệm cuộc sống của cả hai người em trai đã mất của mình Kafka chính là mơ ước, là hy vọng,

là nơi cha ông gửi gắm khát vọng làm giàu bằng con đường kinh doanh theo truyền thống gia đình, mà nếu như còn hai người em trai, có lẽ Kafka chưa chắc đã bị hướng theo con đường đó Thế nhưng mơ ước từ nhỏ của Kafka là khao khát sáng tạo văn chương giống như định mệnh mà chúa trời sắp đặt cho ông Không thể chống lại người cha đầy quyền lực, Kafka theo học ngành luật

và đi làm nhân viên bảo hiểm Nhưng ông vô cùng căm ghét công việc ở nhiệm sở, vì ông muốn là nhà văn chứ không phải là ai khác, không thể và không muốn là ai khác: ban ngày ông là một nhân viên chăm chỉ, mẫn cán ở công sở, ban đêm về nhà ông lại vùi mình vào nỗi cô đơn tận cùng khi tháy mình hoàn toan xa lạ, lạc loài trước thế giới, ban ngày Kafka sống cho trọng trách và số phận, sống thay phần người khác, chỉ mỗi đêm ông mới được phơi trải lòng mình trong câm lặng, trên mỗi trang viết khi sức lực đã gần như bị vắt kiệt Vì thế cuộc sống của Kafka luôn luôn là những giằng xé, không yên ổn: cảm giác đau khổ, bức bối, bất lực đem đến cho ông những cơn đau đầu

và những cơn ác mộng không có điểm cuối Đó là “một cuộc sống hai mặt

Ngày đăng: 07/06/2017, 12:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. R. M. Alberes (1963), Tổng kết văn học thế kỷ XX, Phạm Đình Khiêm dịch, Viện Đại học Huế, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết văn học thế kỷ XX
Tác giả: R. M. Alberes
Năm: 1963
2. R. M. Alberes (2003), Cuộc phiêu lưu tư tưởng văn học Châu Âu thế kỷ XX (1900 - 1959), Vũ Đình Lưu dịch, NxB Lao Động, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc phiêu lưu tư tưởng văn học Châu Âu thế kỷ XX
Tác giả: R. M. Alberes
Năm: 2003
3. M. Bakhtin (1993), Những vấn đề thì pháp Dostoievski, Trần Đình Sử dịch, Nxb GD, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Những vấn đề thì pháp Dostoievski
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1993
4. M. Bakhtin (2003), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư dịch, NxB Hội nhà văn, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Năm: 2003
5. Lê Huy Bắc (1998), Lâu đài và tiềm năng nghệ thuật thuật của Franz Kafka, Tạp chí Văn nghệ trẻ, số 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâu đài và tiềm năng nghệ thuật thuật của Franz Kafka
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
6. Lê Huy Bắc (1998), Kiểu nhân vật trung tâm trong tác phẩm của Hemingway, Luận án TS Ngữ văn, ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểu nhân vật trung tâm trong tác phẩm của Hemingway
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
7. _ Lê Huy Bắc (2001), Phê bình- Lý luận văn học Anh-Mỹ, Nxb GD, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình- Lý luận văn học Anh-Mỹ
Tác giả: _ Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2001
8. Lê Huy Bắc, Trên hành trình chân lỷ Franz Kafka, T/c Văn học, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên hành trình chân lỷ Franz Kafka
9. Lê Huy Bắc (2005), Truyện ngắn - Lý luận tác gia và tác phẩm (2 tập), Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn - Lý luận tác gia và tác phẩm (2 tập)
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
10. Lê Huy Bắc (2006), Nghệ thuật Franz Kafka, Nxb GD, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật Franz Kafka
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2006
11. Lê Nguyên cẩn (2003), Cái kỳ ảo trong tác phẩm Balzac, Nxb ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái kỳ ảo trong tác phẩm Balzac
Tác giả: Lê Nguyên cẩn
Nhà XB: Nxb ĐHSPHN
Năm: 2003
12. Charlie Nguyễn (2010), Jesus dưới cải nhìn của Do thái và Hồi giáo, http://sachhiem.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Jesus dưới cải nhìn của Do thái và Hồi giáo
Tác giả: Charlie Nguyễn
Năm: 2010
13. Nguyễn Thị Giang Chi (2008), Thân phận con người trong truyện ngắn “Hóa thân ” của Franz Kafka, http://tapchisonghuong.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: hân phận con người trong truyện ngắn "“Hóa thân ” của Franz Kafka
Tác giả: Nguyễn Thị Giang Chi
Năm: 2008
15. Nguyễn Văn Dân (1996), Kafka với cuộc chiến chống phi lý, T/c Văn học nước ngoài, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kafka với cuộc chiến chống phi lý
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 1996
16. Nguyễn Văn Dân (1999), Nghiên cứu văn học - lý luận và ứng dụng, Nxb GD, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học - lý luận và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1999
17. Nguyễn Văn Dân (2000), Những bước tiến hóa của văn học phi lý, T/c Văn học nước ngoài, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bước tiến hóa của văn học phi lý
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 2000
18. Nguyễn Văn Dân (1998), Văn học phi lý, Nxb VHTT, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học phi lý
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb VHTT
Năm: 1998
19. Trương Đăng Dung (2004), Tác phấm văn học như là quá trình, Nxb KHXH, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phấm văn học như là quá trình
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2004
20. Trương Đăng Dung, “Thế giới nghệ thuật của Franz Kafka”, Tuyển tập Kafka, Nxb Hội Nhà văn, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nghệ thuật của Franz Kafka
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
22. Nguyễn Tiến Dũng (1999), Chủ nghĩa hiện sinh: lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện sinh: lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w