1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Không gian thời gian nghệ thuật trong trường ca của hữu thỉnh

125 471 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 798,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc làm này về mặt khoa học cho phép chúng ta có cái nhìn bao quát, toàn diện hơn về thơ và trường ca của Hữu Thỉnh; nhận ra được đặc trưng phong cách riêng và vị trí của nhà thơ trong

Trang 1

NGUYỄN THỊ THANH THUÝ

KHÔNG GIAN - THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TRƯỜNG CA CỦA HỮU THỈNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ THANH THUÝ

KHÔNG GIAN - THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TRƯỜNG CA CỦA HỮU THỈNH

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số: 60 22 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Công Tài

HÀ NỘI, 2016

Trang 3

Trước hết, tôi xin cảm ơn chân thành PGS.TS Hà Công Tài - người thầy trực tiếp hướng dẫn, tận tâm dìu dắt, chỉ bảo tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong tổ Lí luận văn học, các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, các thầy cô Phòng Sau đại học Trường Đại học

Sư phạm Hà Nội 2 đã giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Từ đáy lòng mình, tôi xin được cảm ơn, chia sẻ niềm vui này với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp - những người luôn ở bên tôi, giúp đỡ và động viên kịp thời để tôi vững tâm nghiên cứu, hoàn thành luận văn

Mặc dù đã có nhiều cố gắng song do khả năng của bản thân và điều kiện nghiên cứu còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, khuyết điểm Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quí thầy cô và đồng nghiệp để chúng tôi rút kinh nghiệm và nâng cao hơn nữa trong quá trình học tập và nghiên cứu

Xin trân trọng cảm ơn !

Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Thúy

Trang 4

Tôi xin cam đoan bản luận văn này do tôi nghiên cứu và thực hiện dưới

sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS Hà Công Tài

Những tư liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực được trích dẫn

và có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu, tạp chí, các công trình nghiên cứu

đã được công bố… với sự trân trọng

Kết quả nghiên cứu này không hề trùng khít với bất kì công trình nghiên cứu nào từng công bố

Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Thúy

Trang 5

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 12

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 12

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

6 Phương pháp nghiên cứu 12

7 Đóng góp của luận văn 13

8 Cấu trúc của luận văn 13

NỘI DUNG 14

Chương 1 KHÁI NIỆM KHÔNG GIAN - THỜI GIANTRONG TRƯỜNG CA CỦA HỮU THỈNH 14

1.1 Khái niệm không gian - thời gian nghệ thuật 14

1.1.1 Không gian nghệ thuật 14

1.1.2 Thời gian nghệ thuật 22

1.1.3 Mối quan hệ giữa không gian - thời gian 30

1.2 Trường ca của Hữu Thỉnh 34

1.2.1 Cuộc đời và quan niệm sáng tạo của nhà thơ 34

1.2.2 Những chủ đề cơ bản trong trường ca của Hữu Thỉnh 37

Chương 2 KHÔNG GIAN TRONG TRƯỜNG CA CỦA HỮU THỈNH 48

2.1 Không gian thiên nhiên 48

2.2 Không gian cư trú 60

2.3 Không gian chiến trận 65

Chương 3 THỜI GIAN TRONG TRƯỜNG CA CỦA HỮU THỈNH 74

3.1 Thời gian tâm lý và những tương quan 74

3.2 Thời gian lịch sử 84

Trang 6

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong số các nhà thơ trực tiếp tham gia chiến đấu và trưởng thành

giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, Hữu Thỉnh là một nhà thơ có phong cách riêng khá độc đáo Những nhà thơ thuộc thế hệ trước hay cùng thời với ông như ở Thu Bồn, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy… đã được tìm hiểu một cách

có hệ thống qua một số công trình nghiên cứu trong những năm gần đây Trong khi đó, nghệ thuật thơ và trường ca của Hữu Thỉnh, mặc dù đã được tìm hiểu qua một vài công trình, một số bài viết, nhưng nhìn chung vẫn chưa có một công trình mang tính hệ thống, nghiên cứu một cánh sâu sắc, toàn diện Thiết nghĩ, việc tìm hiểu một nhà thơ đã từng được biết đến từ rất sớm và đã

có những đóng góp nhất định cho nền văn học dân tộc nói chung và thơ ca hiện đại nói riêng như Hữu Thỉnh trong tình hình hiện nay là công việc cần thiết Việc làm này về mặt khoa học cho phép chúng ta có cái nhìn bao quát, toàn diện hơn về thơ và trường ca của Hữu Thỉnh; nhận ra được đặc trưng phong cách riêng và vị trí của nhà thơ trong nền văn học nước nhà

Tiếp cận không gian- thời gian nghệ thuật là hướng tiếp cận quan trọng và hiệu quả của thi pháp học hiện đại Bởi không gian và thời gian nghệ thuật vừa là hình thức tồn tại của hình tượng, vừa là hình thức mang tính quan niệm thể hiện đặc điểm tư duy nghệ thuật và khả năng chiếm lĩnh hiện thực của văn học

Tìm hiểu không gian - thời gian nghệ thuật trong thơ nói chung, trong trường ca của Hữu Thỉnh nói riêng như là một phương tiện nghệ thuật không chỉ cho thấy cấu trúc tác phẩm mà còn giúp người đọc nhận ra nguồn cảm hứng sáng tạo, cảm thức tồn tại của con người trước cuộc đời với bao ý

nghĩa của đời sống nhân sinh “Cái tâm của nhà thơ càng nặng nỗi đời thì

Trang 8

sự khắc khoải trước thời gian càng lớn” “ mỗi tác giả là cả một thế giới không gian với những hình thù, đường nét, màu sắc khác nhau”

1.2 - Hữu Thỉnh là một nhà thơ trưởng thành trong những năm cuối

của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, và là nhà thơ sớm khẳng định mình qua các giải thưởng văn học Ba tập trường ca của

Hữu Thỉnh đều đạt các giải: Sức bền của đất đạt giải A cuộc thi thơ năm 1975-1976, Trường ca biển được tặng giải thưởng xuất sắc của Bộ quốc phòng năm 1994, Đường tới thành phố đạt giải A của Hội nhà văn Việt

Nam năm 1995 Hữu Thỉnh cùng thời với Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo, Nguyễn Duy, Lâm Thị Mỹ Dạ Trong hơn ba mươi năm cầm bút, Hữu

Thỉnh đã sáng tác 5 tập thơ và 3 trường ca (Sức bền của đất, Đường tới

thành phố, Trường ca biển) được viết trong vòng 20 năm (1975-1995) mà

tác giả đã nung nấu từ những năm cuối cuộc chiến tranh chống Mĩ Hiện thực chiến tranh, cuộc sống của người lính dội vào tâm trí tác giả đến mức vượt ra khỏi một thời đoạn, một đề tài Tác phẩm của Hữu Thỉnh vừa mang những đặc điểm chung của thơ ca chống Mỹ, vừa có những nét độc đáo riêng về cảm hứng, thi pháp

1.3 - Khi kết thúc chiến tranh, bom đạn đã đi qua, nhà thơ từ giã màu

xanh áo lính trở về với cuộc sống thường ngày Ngòi bút của ông tiếp tục

hướng vào cuộc hành trình trở về với Trường ca biển, với Sức bền của đất, với Đường tới thành phố Tất cả đều vang lên âm hưởng của một khúc ca

hào hùng, dữ dội của người lính Họ phải chịu đựng hy sinh, mất mát, gian khổ trong cảm giác thiệt thòi như “dòng sông hóa thạch” cặm cụi và lặng lẽ Hòa mình vào trong công cuộc xây dựng đất nước sau chiến tranh, nhưng ngòi bút của Hữu Thỉnh hướng vào cuộc hành trình đi tìm những giá trị nhân bản mà cuộc sống sau chiến tranh đã làm mờ nhạt ít nhiều

Trang 9

Vì lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: Không gian -thời gian trong trường ca

của Hữu Thỉnh làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình

Sáng tác của Hữu Thỉnh là một trong những đề tài nghiên cứu hấp dẫn trên văn đàn trong hơn hai thập kỷ qua, đã có nhiều bài viết, nhiều ý kiến, chuyên luận, luận văn viết về thơ và trường ca của Hữu Thỉnh Nhiều

ý kiến nhận xét, đánh giá mang tầm khái quát về phong cách nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh

Theo nhiều nhà nghiên cứu nhận định không gian - thời gian không chỉ

là biểu hiện quan niệm của tác giả về vũ trụ, nhân sinh mà còn được xử lý

“như một hình thức để kiến tạo nên tác phẩm cụ thể” Hệ thống lý thuyết thi pháp học hiện đại đã chỉ ra rằng “Thời gian nghệ thuật là hình thức nội tại

của hình tượng nghệ thuật” Bên cạnh đó, không gian nghệ thuật cũng là

cách thức con người tìm thấy sự tồn tại của mình trong thế giới Tác phẩm

nghệ thuật luôn cho thấy những điểm nhìn và cảm thức, từ đó hé mở tư duy

nghệ thuật và phẩm tính con người tác giả

Trang 10

Theo Pospelov, “Văn học nghệ thuật thì trái lại chủ yếu thể hiện

các quá trình đời sống diễn ra trong thời gian, tức là hoạt động sống của con người gắn liền với chuỗi cảm thụ, suy nghĩ, hành vi, sự kiện” - khẳng

định sự tồn tại của yếu tố thời gian trong văn chương như một hiện tượng khách quan, một đặc trưng loại hình

Likhachev trong Thế giới bên trong của tác phẩm văn học cho rằng

thời gian nghệ thuật là nhân tố nằm trong mạng lưới các tác phẩm văn học, khiến quan niệm triết học về thời gain phải phục vụ cho những nhiệm vụ nghệ thuật của nó

Trong Những vẫn đề thi pháp Dostoievsski, M.Bakhtin khi xây dựng

mô hình lí thuyết thi pháp của ông đã xem xét thế giới của nhân vật với không gian, thời gian mà ở đó không gian chiếm ưu thế hơn thời gian

Yếu tố không gian - thời gian nghệ thuật trong văn chương tuy có những điểm chung những vẫn có những nét khác biệt giữa văn xuôi và thơ

ca Vì vậy trong nghiên cứu thi pháp học đã có sự phân biệt Nếu trong văn xuôi thời gian gồm hai lớp - thời gian trần thuật và thời gian được trần thuật

- thì thời gian trong thơ ca nghiêng về thời gian tâm lí không gian trong thơ

ca cũng không xác định dễ dàng như trong văn xuôi, có nhiều lớp, nhưng đặc biệt nhấn mạnh đến kiểu “không gian con người” - chuyển dịch đổi

thay, biến hình bởi nhiều yếu tố chi phối Theo Hoàng Trinh, “Đứng về

phía kết cấu, người ta xếp thơ vào loại phạm trù thẩm mỹ không gian - thời gian hỗn hợp”

Ở Việt Nam, Trần Đình Sử là một trong những người đầu tiền mở ra hướng nghiên cứu mới cho thi pháp học Ông đã đề cập đến yếu tố thời gian -

không gian nghệ thuật trong công trình Thi pháp thơ Tố Hữu (1987):

- “Khó mà hiểu được con người nếu không hiểu được không gian tồn

tại trong nó” - “Thời gian nghệ thuật trong văn học không phải là đơn giản

Trang 11

chỉ là quan điểm của tác giả về thời gian, mà là một hình tượng thời gian sinh động, gợi cảm, là sự cảm thụ, ý thức về thời gian được dùng làm hình thức nghệ thuật để phản ánh hiện thực, tổ chức tác phẩm” - “Sự cảm thụ thời gian gắn liền ý thức về ý nghĩa của cuộc đời” - “ ý thức về thời gian

là ý thức về sự tồn tại của con người, phát hiện về thời gian giúp con người

ta nhận thức sâu hơn về cuộc sống” Trong cuốn Những thế giới nghệ thuật thơ

(1997) tập hợp một số nghiên cứu, tác giả Trần Đình Sử cũng đưa lại các bài viết

về không gian và thời gian nghệ thuật trong Truyện Kiều (nghiên cứu từ những

cũng có những nhận xét khá tinh tế về nhiều phương diện trong bài viết

Hữu Thỉnh trên đường tới thành phố, in trên báo Văn nghệ Quân đội số

3-1980: “Cảm xúc dạt dào, phong phú và mạnh mẽ là chỗ mạnh của Hữu

Thỉnh Trong lòng cuộc chống Mỹ vĩ đại của nhân dân, Hữu Thỉnh thường nghĩ về những vấn đề lớn lao của đất nước, của thời đại anh đi Anh khao khát thơ mình lí giải được điều đó Thành công chủ yếu nhất của Hữu Thỉnh cũng chính là thể hiện vừa sâu, vừa tỉnh, vừa khái quát, vừa tỉ mỉ, chí

lí những tình cảm, suy ngẫm của người chiến sĩ trong cuộc chiến đấu chống

Mỹ, cái vững của ngòi bút Hữu Thỉnh là miêu tả trực diện những tổn thất

mà tác phẩm vẫn không chìm xuống trong không khí bi đát, trái lại vẫn thấy được xu thế tiến lên của cuộc chiến đấu ” Sau Sức bền của đất, Đường tới thành phố, Trường ca Biển là bức tranh hoành tráng, tập thể về những

người lính trên đảo xa, sự cô đúc một thế giới đảo điên, khắc nghiệt và đầy

Trang 12

nghịch lý, làm nổi bật một cách lung linh và góc cạnh số phận những con người trả giá đến cùng để giữ lấy cho cuộc sống một ý nghĩa, một diện mạo văn hóa, một thế giới riêng biệt, một đội ngũ bền vững để chống lại sự cô đơn và sự hòa tan Số phận họ là hiện thân của số phận dân tộc trong những thử thách lịch sử cuối thế kỷ mà nổi bật là thử thách về vấn đề ranh giới

Lưu Khánh Thơ trong “Hữu Thỉnh một phong cách thơ sáng tạo” in

trên Tạp chí Văn học số 2 năm 1988, cho rằng hình tượng người lính và hiện thực lớn lao, sôi động của cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc là nguồn cảm hứng chủ đạo cho sáng tác của Hữu Thỉnh Nhà thơ cũng đã tiếp thu được ở truyền thống thơ ca dân tộc, ở cách nói, cách ví von so sánh, ở cách tư duy, liên tưởng độc đáo để làm nên những sáng tạo thơ ca có sức sống lâu bền Thơ ông trở nên đa nghĩa, hàm ẩn, mới lạ, bất ngờ trong cảm

xúc Đường tới thành phố, Sức bền của đất được nhiều người yêu mến

chính là những chiều sâu của sự suy nghĩ và dạt dào cảm xúc “Hữu Thỉnh cảm nhận rõ qua cuộc sống của chính mình, của những người thân nơi quê hương, sức mạnh đã làm nên chiến thắng Trước những vấn đề lớn của đất nước, Hữu Thỉnh đã góp phần phản ánh và lí giải bằng một cách nói riêng,

giản dị mà sâu lắng” và đất trong thơ Hữu Thỉnh “là biểu tượng của một cái gì

rộng lớn hơn, như nhân dân, như Tổ quốc” Phong cảnh thiên nhiên đơn sơ

như cỏ rơm, hoa, lá được truyền vào một sự sống mới, giàu sức biểu hiện

Bài “Thư gửi mùa đông của Hữu Thỉnh” của tác giả Trần Mạnh Hảo

in trên báo Văn nghệ Quân đội số 4/1996 đã đánh giá về những sáng tác độc

đáo của Hữu Thỉnh qua tập thơ Thư mùa đông như thơ kiệm lời, hàm súc,

hồn nhiên đan xen với những yếu tố triết lý sâu sắc Điều đáng chú ý là bài viết đã nhận ra được chất đồng quê, sự hồn nhiên và cả nỗi cô đơn, đau

buồn của thơ Hữu Thỉnh Đến tập thơ Thương lượng với thời gian, thơ ông

có một bước đột phá mới bởi nó đặc biệt quan tâm tới vấn đề đời tư, thế sự,

Trang 13

những trăn trở, suy tư và trải nghiệm của một hồn thơ nặng lòng với đời

Trần Mạnh Hảo cũng đã viết: “Hữu Thỉnh và Thanh Thảo là cái gạch nối

của nền thơ ca chống Mỹ sang thời bình Sau 1975, cùng với Nguyễn Duy

họ đưa thơ tiến về phía trước với những bước tiến ngoạn mục, đa dạng và phong phú”

Năm 1999 trên Tạp chí Văn học số 12 nhà nghiên cứu Lý Hoài Thu

có bài “Thơ Hữu Thỉnh - một hướng tìm tòi và sáng tạo từ dân tộc đến hiện

đại” Bài viết đã đưa ra những minh chứng cho ý kiến “luôn biết đào sâu,

khai thác cái hay cái đẹp, cái dân gian, dân tộc”, “cách tân” “sáng tạo cái mới”, đó là một sự khái quát đầy đủ và sâu sắc về những nét đặc sắc, độc đáo và những đóng góp cho nền thi ca đương đại của thơ Hữu Thỉnh Tác giả đã khái quát và đưa ra nhận xét về phong cách nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh là sự hòa quyện nhuần nhụy giữa yếu tố truyền thống và hiện đại, có

sức lôi cuốn để “tạc dựng thành một hình tượng dân tộc Việt Nam bất tử”,

giữa trữ tình và triết luận, giữa những hình ảnh gần gũi bình dị với những ý

tứ sâu xa

Nhà phê bình Vũ Nho trong Vài cảm nhận về Thương lượng với thời

gian của Hữu Thỉnh đã chỉ ra một Hữu Thỉnh thể hiện được bản lĩnh của

một nhà thơ có tầm vóc, được nhiều bạn đọc yêu thích, ngưỡng mộ Những vần thơ của ông đã làm say đắm biết bao thế hệ bạn đọc bởi những cảm nhận rất tinh tế và tài hoa Trong ông không còn cái bồng bột mạnh mẽ, tinh

tế của buổi đầu biết yêu, nhưng tình yêu ấy lại được cảm nhận theo những mùi vị riêng

Bài viết “Thơ Hữu Thỉnh” của tác giả Vũ Nho Thìn in trong “Đi giữa

miền thơ” năm 2001 cũng đã nhận xét đánh giá bao quát về thơ Hữu Thỉnh

nhưng vẫn chưa đánh giá và nhận xét về trường ca Sức bền của đất (Giải A

Trang 14

về thơ của Báo Văn nghệ (1975-1976)- tác phẩm đánh dấu sự trưởng thành của hồn thơ chiến sỹ Hữu Thỉnh

Năm 2001 nhà phê bình Vũ Nho có bài Sức bền của một ngòi bút, in trên Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam đã cho rằng: Thơ Hữu Thỉnh đẹp

một vẻ đa dạng Ban đầu là sự hồn nhiên, tươi tắn, tinh tế của một người lính trẻ Sau là những chiêm nghiệm, suy tư, trăn trở của người lính từng trải Rồi từ một niềm tin tuyệt đối đến chỗ có lúc phân vân, hoang mang nhưng vẫn kiên trì “tin, sau cay đắng vẫn tin” Bên cạnh vẻ đẹp của những người lính trong chiến tranh là vẻ đẹp của quê hương, đất nước, vẻ đẹp bình

dị của làng quê với những cỏ hội hè, cau ấp bẹ, cây rơm gầy, cuốc kêu ngoài bến xa, bầu trời giàn mướp…

Năm 2014 nhà nghiên cứu phê bình văn học Lí Hoài Thu lại có bài

“Cây như là sinh mệnh thứ hai của Hữu Thỉnh” đăng trên tạp chí Nghiên

cứu văn học số 12 đã khẳng định: “Trong thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh, hình cây bóng lá là một kiểu nhân vật trữ tình chứa đựng nhiều cung bậc tình cảm, những vui buồn riêng tư và nỗi niềm nhân thế”

Tác giả Nguyễn Trọng Tạo trong cuốn “Văn chương cảm và luận”

in năm 1998 có bài “Hữu Thỉnh, thành phố hồn quê” cũng đã đánh giá rất

cao yếu tố truyền thống, yếu tố đồng quê Bắc Bộ trong những sáng tác của Hữu Thỉnh Ông cho rằng chính những yếu tố dân gian và truyền thống của dân tộc đã làm nên phong cách và khẳng định vị thế của thơ Hữu Thỉnh trên thi đàn đương đại

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp viết bài “Hữu Thỉnh và quá trình

đổi mới thơ” in trên Tạp chí Văn học số 9 năm 2003 Tác giả đã đi sâu vào

những quan niệm và ý thức đổi mới thơ của Hữu Thỉnh Tác giả cho rằng Hữu Thỉnh đã viết thơ gần gũi, bình dị và chân thực để gần với đời sống

Trang 15

thường nhật, chú trọng phản ánh đời sống với những suy tư, trăn trở, triết luận, chính điều đó làm nên sức lôi cuốn kì diệu của thơ Hữu Thỉnh

Ngoài những bài viết tiêu biểu trên, gần đây thơ Hữu Thỉnh đã trở thành

đề tài nghiên cứu của nhiều chuyên luận, luận văn Chuyên luận: Thi pháp thơ

Hữu Thỉnh của Nguyễn Nguyên Tản do Nhà xuất bản Hà Nội xuất bản năm

2005 đã khảo cứu khá toàn diện những sáng tác của Hữu Thỉnh nhìn từ góc độ

thi pháp Những chặng đường thơ Hữu Thỉnh của Nguyễn Minh Phương; Thế

giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh qua hai tập thơ Thư mùa đông và Thương lượng với thời gian của Nguyễn Thị Ngọc Linh

Trong Thi pháp thơ Hữu Thỉnh, Nguyễn Nguyên Tản trình bày những

biểu hiện của không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật trong thơ Hữu Thỉnh

Về không gian nghệ thuật tác giả khảo sát các dạng không gian nghệ thuật cụ thể như: không gian con đường; không gian thiên nhiên, đất nước; không gian làng quê và một số dạng không gian khác Thứ nhất: không gian con đường, Nguyễn Nguyên Tản tiếp cận đối tượng của mình bằng cách chia nhỏ nó thành hai dạng cơ bản: con đường trong thời chiến và trong thời bình Trong thời chiến không gian con đường trước hết là những con đường

cụ thể trên những nẻo trường xung trận của người lính Đó có thể là con đường đầy chông gai, gian khổ, nhưng cũng không vắng bóng niềm vui, những âm thanh rộn rã, những màu sắc rợn ngợp hết lòng cổ vũ cho người

chiến sĩ cách mạng Một cách cụ thể, “con đường trong trường ca Đường

tới thành phố là con đường vận động có hướng của tập thể người lính” để

“trở thành biểu tượng khái quát cho bước trưởng thành của quân đội cách mạng Mỗi địa danh trên con đường ấy như những cột mốc trên chặng đường giải phóng nhân dân, gợi lên chiều sâu lịch sử”.Trong giai đoạn thời bình, không gian con đường cũng có những biểu hiện khá rõ nét của nó

Trang 16

“Trong Trường ca biển có con đường từ đất liền đến các đảo xa Con đường

mà người lính trải qua từ tuổi thơ tràn đầy kỉ niệm, qua những năm tháng ở chiến trường đánh Mỹ đến khi làm người lính đảo, mang ý nghĩa điển hình cho một thế hệ con người”

Còn “con đường trong Thơ mùa đông là đường đời, con đường của nhà thơ với tư cách một cá nhân - đi tìm người, tìm tri âm tri kỉ, tìm cái đẹp

và cái thiện như mơ ước và quan niệm của mình” Tác giả còn chỉ rõ những điểm khác biệt cơ bản về chất của không gian con đường trong hai giai đoạn sáng tác này “So với con đường viết trong chiến tranh, con đường trong thơ viết vào thời bình, tính chất cụ thể ít đi, tính ước lệ tăng lên” Theo

Nguyễn Nguyên Tản, không gian thiên nhiên nổi bật nhất trong thơ Hữu

Thỉnh là không gian rừng và biển Trong đó, việc nhân hóa không gian rừng núi Trường Sơn là nét đặc trưng quan trọng nhất của dạng không gian này cũng như tính ước lệ, tượng trưng là trái tim của dạng không gian biển Tiếp thu một số ý kiến nhận xét về không gian làng quê trong thơ Hữu Thỉnh, Nguyễn Nguyễn Tản cũng cho rằng nét đặc trưng dễ nhận biết nhất của không gian làng quê trong thơ Hữu Thỉnh là những yếu tố mang đậm màu sắc của hồn quê đồng bằng trung du Bắc Bộ (từ khung cảnh thiên nhiên đến đồ vật, cây cối) Tác giả cũng chỉ ra được mối liên đối âm thầm nhưng vô cùng hiệu quả của dạng không gian này với các dạng không gian khác như: chiến trường, hải đảo,… để chỉ ra những giá trị thiết thực của chúng trong việc thể hiện tư tưởng chủ đề Bên cạnh ba dạng không gian chính yếu trên, người viết còn dẫn chúng ta lướt qua một sô biểu tượng không gian khác như hình tượng cỏ, gốc sim, đất đai, ngọn lửa

Thời gian nghệ thuật được tác giả biểu hiện trên hai phương diện: trong thơ trữ tình sử thi và trong thơ trữ tình thế sự Vấn đề này được giải

mã ở ba khía cạnh then chốt của nó: điểm nhìn trần thuật, thời gian đồng

Trang 17

hiện và nhịp độ trần thuật Điểm nhìn trần thuật, trên cơ sở phân tích và chứng minh cụ thể, tác giả đã đưa ra những mô hình chung nhất của điểm nhìn nghệ thuật trong thơ Hữu Thỉnh và chốt lại những điểm nhấn sinh động đó bằng một nhận xét mang tính kết luận “Sự miêu tả, trần thuật trong thơ Hữu Thỉnh có một điểm chung là bao giờ cũng bắt đầu từ một điểm nhìn hiện tại Anh thường chọn một mốc thời gian nào đó của hiện tại rồi từ

đó ngược dòng quá khứ hồi tưởng và liên tưởng; thời gian quá khứ được tái hiện bao giờ cũng được quy kết về cái mốc hiện tại đó Từ cái mốc đã cắm anh tiếp tục triển khai “cái hiện tại tiếp diễn” cho đến đích của sự kiện” Thời gian đồng hiện: Đồng hiện quá khứ với hiện tại đã trở thành thủ pháp chính trong miêu tả nhân vật ở các trường ca và thơ trữ tình của Hữu ThỉnhVà “trong sự kết hợp giữa quá khứ hiện tại và tương lai nhìn chung ở các trường ca Hữu Thỉnh, thời gian hiện tại thường chiếm vị trí ưu tiên, nhưng không phải là cái hiện tại đứng yên mà là hiện tại đang vận động

Tài năng của Hữu Thỉnh được khẳng định bởi một loạt các giải thưởng thơ mà ông đoạt được Với nhiều giải thưởng văn học có giá trị, Hữu Thỉnh là nhà thơ có sức tìm tòi sáng tạo nghệ thuật bền bỉ Ông luôn

có những khám phá mới, thú vị trên con đường nghệ thuật Thơ nói chung

và trường ca nói riêng của ông có chiều sâu về nội dung, giàu chất thơ và tính nhạc nên đã tạo sự lôi cuốn và hấp dẫn đối với bạn đọc Qua sự sàng lọc của thời gian, các tác phẩm của ông vẫn tìm được chỗ đứng trong lòng độc giả và lọt vào “con mắt xanh” của những nhà nghiên cứu Các tác giả

đã chỉ ra nét hấp dẫn kì lạ trong thơ Hữu Thỉnh được bắt nguồn từ sự kết hợp giữa yếu tố truyền thống và yếu tố hiện đại, thể hiện rõ ý thức luôn biết chủ động “khai thác cái hay, cái đẹp của dân gian, của dân tộc, vừa biết dồn tâm lực, tài năng cho việc tìm kiếm sáng tạo cái mới”

Trang 18

Tiếp nối những công trình đã có, luận văn đi vào nghiên cứu, tìm hiểu

“Không gian - thời gian trong trường ca của Hữu Thỉnh” để có một cái

nhìn toàn diện về quá trình sáng tạo nghệ thuật của Hữu Thỉnh Trên cơ sở

đó người viết mong góp tiếng nói nhỏ bé của mình cùng với các bài viết, các công trình nghiên cứu đã có để khẳng định đầy đủ, sâu sắc hơn sự nghiệp thơ nói chung và trường ca nói riêng của Hữu Thỉnh

3 Mục đích nghiên cứu

Phân tích cách chiếm lĩnh hiện thực qua không gian - thời gian trong trường ca của Hữu Thỉnh, luận văn chỉ ra được đặc điểm thi pháp, cá tính sáng tạo và phong cách độc đạo của nhà thơ Từ đó góp phần khẳng định những đóng góp, giá trị và vị thế của Hữu Thỉnh trong thơ ca đương đại Việt Nam

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Dựa vào cơ sở lí thuyết thi pháp học về không gian - thời gian trong văn học để tìm tòi, phát hiện những phương diện độc đáo và vai trò của yếu

tố không gian - thời gian trong trường ca của Hữu Thỉnh

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn đi sâu nghiên cứu “Không gian - thời nghệ trong trường ca

của Hữu Thỉnh”

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Trường ca của Hữu Thỉnh Sức bền của đất, Đường tới thành phố,

Trường ca Biển và trường ca của một số nhà thơ cùng thời: Thanh Thảo,

Nguyễn Khoa Điềm để so sánh làm nổi bật các luận điểm trong luận văn

6 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài trên chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

Trang 19

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Tiếp cận theo lí thuyết thi pháp học nhằm tìm hiểu các bình diện không gian, thời gian trong trường ca của Hữu Thỉnh

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp so sánh: So sánh các đặc điểm về không gian, thời gian trong trường ca của Hữu Thỉnh với không gian - thời gian trong thơ của một số tác giả để thấy cái riêng độc đáo trong sáng tác thơ ca của Hữu Thỉnh

7 Đóng góp của luận văn

- Luận văn nghiên cứu Không gian - thời gian trong trường ca của

Hữu Thỉnh ở từng cấp độ, để làm cơ sở cho việc khám phá thơ và trường ca

của Hữu Thỉnh trên bình diện tổng thể, toàn diện

- Lần đầu tiên không gian thời gian trong trường ca của Hữu Thỉnh được tiếp cận một cách toàn diện, sâu sắc Góp phần khẳng định vai trò, vị trí của Hữu Thỉnh trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Không gian- thời gian trong trường ca của Hữu Thỉnh

Chương 2: Không gian trong trường ca của Hữu Thỉnh

Chương 3: Thời gian trong trường ca của Hữu Thỉnh

Trang 20

NỘI DUNG Chương 1 KHÁI NIỆM KHÔNG GIAN - THỜI GIAN TRONG TRƯỜNG CA CỦA HỮU THỈNH

1.1 Khái niệm không gian - thời gian nghệ thuật

1.1.1 Không gian nghệ thuật

Không gian là hình thức tồn tại của vật chất trong thế giới, là phương

thức tồn tại của con người giữa cuộc đời Từ điển thuật ngữ văn học định

nghĩa:“Trong văn học nghệ thuật, không gian nghệ thuật chính là hình thức

tồn tại của hình tượng” Nếu như thời gian nghệ thuật không tồn tại trong

thời gian vật chất thì không gian nghệ thuật cũng không phải là không gian

vật lý “Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ

thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Sự miêu tả, trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn ra trong một trường nhìn nhất định, Không gian nghệ thuật gắn với về không gian, mang tính chủ quan chẳng những cho thấy cấu trú nội tại của tác phẩm văn học mà còn cho thấy quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay của một giai đoạn văn học”

Không gian nghệ thuật là một trong những yếu tố quan trọng của nghiên cứu thi pháp học, bên cạnh các yếu tố như quan niệm nghệ thuật về con người, thời gian nghệ thuật, tác giả Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của tác phẩm chứa đựng những quan niệm về thế giới, là phương thức chiếm lĩnh thế giới của nhà văn Nó không những cho thấy cấu trúc nội tại của hình tượng văn học mà còn cho thấy quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của một tác giả hay một giai đoạn văn học Nó cung cấp

Trang 21

cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo của tác phẩm cũng như nghiên cứu loại hình của hiện tượng nghệ thuật

Không gian nghệ thuật trong tác phẩm cũng là một vấn đề được bàn tới từ lâu, tuy nhiên các quan điểm đều gặp gỡ nhau trong quan niệm cho rằng: không gian nghệ thuật không đồng nhất với không gian hiện thực Đó

là mô hình nghệ thuật về thế giới mà con người đang sống, đang cảm thấy

vị trí, số phận của mình trong không gian đó Không gian nghệ thuật là một yếu tố quan trong thuộc hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật

Trong thi pháp học, khái niệm không gian nghệ thuật là: "một phạm

trù của hình thức nghệ thuật, là phương thức tồn tại và phát triển của thế giới nghệ thuật Nếu thế giới nghệ thuật là thế giới của cái nhìn và mang ý nghĩa thì không gian nghệ thuật là trường nhìn mở ra từ một điểm nhìn, cách nhìn" [18] Không có hình tượng nghệ thuật nào lại không có không

gian nghệ thuật và không có một nhân vật nào lại không tồn tại trong một nền cảnh nhất dịnh nào đó Ngay bản thân người kể chuyện cũng nhìn nhận

sự việc trong một khoảng cạch, một góc nhìn nhất định

Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện quan điểm nhất định về cuộc sống Do đó không thể đồng nhất không gian trong tác phẩm văn học với không gian địa

lí, không gian vật lí được Trong Thi pháp Truyện Kiều, Trần Đình Sử nhận xét: "Không gian nghệ thuật là mô hình nghệ thuật về thế giới mà con

người đang sống, đang cảm thấy vị trí, số phận của mình trong đóvà góp phần biểu hiện cho quan niệm ấy Không gian nghệ thuật có thể xem là không quyển tinh thần bao bọc cảm hứng của con người, là hiện tượng tâm linh nội cảm chứ không phải là hiện tượng vật lí hay tâm lí" Ở các tác

phẩm không gian nghệ thuật là bối cảnh tự nhiên nhưng cũng là ý dồ sáng tạo của người nghệ sĩ Không gian nghệ thuật luôn chứa đựng trong lòng nó

Trang 22

cảnh huống con người và xã hội nhằm thể hiện một quan điểm nhất định về cuộc sống Do đó không thể quy không gian nghệ thuật về sự phản ánh giản

đơn không gian địa lí hay không gian vật lí, vật chất Và đúng như Từ điển

thuật ngữ văn học đã nhận định: "Ngoài không gian vật thể còn có không gian tâm tưởng"

Trong cuốn Dẫn luẫn thi pháp học, Trần Đình Sử còn cho rằng

"Không gian nghệ thuật là một hiện tượng khép kín như không gian trò

chơi" Luật chơi ở đây nằm trong quy ước chung giữa tác giả và người đọc,

do tác giả đề xuất và người đọc đồng cảm Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học có tác dụng mô hình hóa các mối quan hệ của bức tranh thế giới như: tôn giáo, đạo đức, xã hội, pháp luật Không gian nghệ thuật có thể mang tính địa điểm, tính phân giới, tính cản trở Nó cho thấy cấu trúc bên trong của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng, quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ hay một giai đoạn văn học Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình của các hình tượng nghệ thuật

Thế giới không gian nghệ thuật có thể chia thành hai tiểu không gian, giữa các tiểu không gian có đường ranh giới có thể hoặc không thể vượt qua Theo IU.Lotman, đó có thể là không gian điểm (địa điểm, địa danh), không gian tuyến hoặc không gian mặt phẳng Không gian điểm được xác định bằng các giới hạn và tính chất chức năng của nó Chẳng hạn như không gian quảng trường có tính chất công đồng; không gian bãi chiến trường là không gian chiến đấu; không gian ngôi nhà là nơi diễn ra các sinh hoạt riêng tư, không gian tuyến, không gian mặt phẳng lại có thể vượt ra chiều rộng hoặc chiều thẳng đứng; không gian tuyến tính có thể hướng ra chiều dài như con đường, đường đời như trong thơ Tố Hữu hay Truyện Kiều

Trang 23

Mỗi loại hình nghệ thuật có cách tái hiện không gian riêng Nếu hội họa và điêu khắc miêu tả các sự vật một cách tĩnh tại thì trong việc chiếm lĩnh không gian nghệ thuật văn học lại có ưu thế vượt trội Bằng phương tiện đặc biệt là ngôn từ, văn học có khả năng chuyển dịch từ bức tranh này sang bức tranh khác một cách nhanh chóng lạ thường, dễ dàng đưa người đọc vào những miền không gian khác nhau

Theo Trần Đình Sử, “Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo

của nhà nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống, do đó không thể quy nó về không gian địa lí hay không gian vật lí, vật chất” Chính vì thuộc về thế giới nghệ thuật, thế giới của

“cái nhìn và mang ý nghĩa”, cho nên không gian nghệ thuật được mở ra từ

một trường nhìn, một cách nhìn Điểm nhìn giúp mô hình không gian trở nên linh động và đầy đủ, đồng thời soi chiếu phản ánh không gian bên trong con người:

Dừng chân đứng lại: trời, non, nước Một mảnh tình riêng ta với ta

(Bà huyện Thanh Quan)

Nhưng trong các làng Mèo đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi

trên mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ…Đám trẻ đợi Tết, chơi quay, cười

ầm lên sân chơi trước nhà Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi… Mị nghe tiếng sáo vọng lại tha thiết bổi hổi…Tiếng chó sủa

xa xa Nhữngđêm tình mùa xuân đã tới (Tô Hoài)

Trong Dẫn luận thi pháp học Trần Đình Sử chia ra không gian

điểm, không gian tuyến, không gian mặt phẳng - không gian khối (dựa vào

vị trí, giới hạn của sự vật), không gian bên trong - phi thời gian, không gian bên ngoài - đổi thay (dựa vào biến đối của sự vật, hiện tượng) Bên cạnh đó còn không gian hành động và phi hành động

Trang 24

Tác giả Huỳnh Như Phương trong công trình Lý luận văn học vấn đề

và suy nghĩ lại phân biệt không gian thiên nhiên, không gian sinh hoạt, cũng

có thể là không gian mở hay không gian khép Không gian nghệ thuật có thể

là không gian linh hoạt, đa hướng hoặc là không gian tĩnh tại, khép kín…

Qua không gian nghệ thuật tác giả bộc lộ tư duy nghệ thuật, cá tính sáng tạo và đánh dấu trình độ chiếm lĩnh thế giới cũng như miêu tả hồn người

Không gian nghệ thuật cũng mang tính hình tượng, tính quan niệm Vẫn từ một cảm quan thiên nhiên, môi trường xã hội bao bọc xung quanh đời sống con người, mỗi tác giả sẽ tìm thấy một thế giới mang đường nét, sắc màu riêng, mỗi trào lưu, bộ phận văn học lại có bút pháp tạo hình không

gian khác nhau Đó là “lâu đài” của F Kafka, là “con đường” của Lỗ Tấn Hay như các biểu tượng “cây đa, bến nước, sân đình” trong thơ ca dân gian

Việt Nam gợi những hẹ hò - khác với “không gian vũ trụ” trong thơ ca bác học, nơi con người luôn cảm thấy nhỏ bé, luôn mang một nhu cầu khám phá cái bao la, cái ở ngoài con người:

Hữu thì trực thượng cô phong đỉnh Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư Nghĩa là:

Có khi đỉnh núi trèo lên thẳng Một tiếng kêu vang lạnh cả trời

(Không Lộ thiền sư)

Phải chăng đó cũng là khát vọng hướng về nơi vô thủy vô chung của

bản thể theo quan niệm Phật học:

Vạn lý thanh giang, vạn lý thiên Nghĩa là:

Vạn dặm sông xanh, vạn dặm trời

(Không Lộ thiền sư)

Trang 25

Thiên nhiên trong thơ ca trung đại là nơi di dưỡng tinh thần:

Xuân tằm hồ sen, hạ tắm ao

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Với thơ ca cách mạng, Trần Đình Sử đã phát hiện “Hình tượng không

gian quan trọng nhất đóng vai trò hình tượng xuyên suốt trong thế giới thơ

Tố Hữu là con đường cách mạng”

Không gian nghệ thuật không đồng nhất với vốn tồn tại khách quan

mà nó trở thành một kí hiệu đặc biệt để diễn đạt những phạm trù ở ngoài thời gian, hoặc để thể hiện tâm trạng của nhân vật, thậm chí hé lộ khả năng đánh giá nhân vật về mặt đạo đức, thẩm mĩ Chẳng hạn bầu trời Auterlitx

trong xanh, cao vời mà Anđrây (Chiến tranh và hòa bình - LevTolstoi) nhìn

thấy lúc nằm ngửa mặt, bị thương, giáp mặt tử thần đã thể hiện tầm hồn và

tư tưởng chàng Bầu trời ấy là không gian thức tỉnh và khao khát, cái cao

cả, cái vĩnh hằng hiện ra qua “khoảng không vô tận màu xanh biếc”, như muốn nói lên chân lý “ngoài bầu trời cao tận kia ra, tất cả đều là vô nghĩa,

đều là lừa dối”

Không gian nghệ thuật trong thơ mang tính chất ít xác định Trong

tiểu thuyết, “không gian được dễ dàng xác định bởi khuôn khổ của nội dung

cốt truyện và môi trường sinh sống của nhân vật”

Theo Nguyễn Thái Hòa trong Những vấn đề thi pháp của truyện, ở

văn xuôi có các loại không gian không gian bối cảnh (là không gian rộng lớn nhất mà câu chuyện xảy ra, bao gồm bối cảnh thiên nhiên, bối cảnh xã hội, bối cảnh tâm trạng), không gian sự kiện, không gian tâm lý, không gian

kể chuyện, không gian đối thoại Theo tác giả Lý Hoài Thu nhận xét ở thơ

“không gian nghệ thuật trở nên khó xác định bởi sự vận động của mạch cảm

xúc cùng sự biến hóa của hình tượng thơ đã làm nhòe đi ranh giới giữa

Trang 26

không gian rộng và không gian hẹp, không gian vật thể và không gian tâm tưởng…” Như vậy, không gian nghệ thuật trong thơ không dễ xác định như

trong văn xuôi mà có thể định hình theo nhiều lớp, trong đó có không gian bên trong con người (không gian tâm tưởng - không gian tinh thần, ước vọng, hồi tưởng, tâm linh…) Đây là không gian đặc biệt nhất, với chiều

kích bí ẩn, luôn tạo ra một không quyển tinh thần đặc trưng cho tác phẩm

trữ tình

Trong trường ca của Hữu Thỉnh không gian không chỉ có không gian chiến trường với những con đường hành quân ra trận mà ông còn tái hiện không gian ác liệt nhất của chiến trường chống Mỹ Đó là cảnh quân ta giành giật một gốc sim cằn, một tấc đất với kẻ thù cho dù phải đổi bằng xương máu Đó chính là cảnh quân giành thắng lợi vẻ vang sau trận đánh ác liệt, đó là cảnh người lính anh hùng phải ẩn mình dưới hầm sâu chật chội để chờ ngày mai vùng lên giết giặc với bao nỗi hồi hộp, nhớ nhung, căm hờn Giữa chiến trường chiến đấu ác liệt, người lính là trung tâm của của mỗi trận để Hữu Thỉnh đã tái hiện chân thực, xúc động hình tượng người lính giữa chiến trường tiêu biểu nhất ở trường ca Đường tới thành phố

Một nửa người anh dâm dấp máu

Anh đang đau cho đất đá anh yêu

Gốc sim cằn và xơ xác làm sao

Không che nổi anh đâu, bò cách chi cũng lộ

Em có thể mất anh bất cứ lúc nào

Em có thể bơ vơ khi em còn rất trẻ

Anh có thể chẳng bao giờ còn đánh được gốc tre

Phơi nỏ sẵn dành sưởi ấm cho mẹ

Sông ơi sông nếu ta phải ra đi

Bậc xuống thấp cho em bậc gánh nước

Trang 27

Xin bát canh đến tay mẹ lúc còn nóng

Xin mùa đông dừng lại

(Đường tới thành phố)

Đó là không gian ác liệt của chiến trường và nỗi gian khổ, hiểm nguy hy sinh của người lính Nhưng khi ta tiếng bom, im tiếng súng "Sau trận đánh" lại là một không gian yên bình, hồn nhiên, trong trẻo với những anh hùng chiến trận hồn nhiên trong trẻo Không gian chiến trường ở đây được tác giả miêu tả cụ thể đó là không gian của căn hầm chật hẹp, trong lòng đất, trận đánh ngày mai, không khí chiến trận được miêu tả qua tâm trạng hồi hộp chờ đợi của người lính ngồi trong hầm chờ trận đánh quyết định ngày mai để giải phóng quê hương Hữu Thỉnh tái hiện qua các bài thơ để làm nền bộc lộ cảm xúc, suy tư về đất nước, quê hương và bộc lộ lòng yêu quê hương, đất nước Nhưng không gian chiến trường được tác giả tái hiện quá trình chiến đấu chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ để từng bước đi tới tổng tiến công vào thành phố Sài Gòn của quân ta

Đây là khi ngủ hầm mai phục tránh mặt đất quân thù, không gian "những

ăn hầm" tối tăm chật chội mà ấm tình đồng chí:

Chúng tôi người chủ những căn hầm

Đốt ngọn lửa để tìm vào tri kỉ

Hầm là nơi che máu che xương

Và đây là không khí đánh tận của lính tăng thiết giáp:

Đội hình xe tăng- dội hình đột phá

Xích bừa qua bãi bom

Đánh xa bằng đạn phá đạn xuyên

Đánh gần bằng máy gầm lửa đạn

Vỏ đạn nhồi thêm cơn nóng giữ

Chiếc xe tăng thành một quả bom hơi

(Đường tới thành phố)

Trang 28

Hữu Thỉnh tái hiện không gian chiến trận các liệt với "đội hình xe tăng

rầm rập" trên chiến trường lúc "đánh xa" lúc "đánh gần" uy vũ vô cùng

Không gian các liệt của chiến trận được nhà thơ miêu tả bằng một không

gian nhỏ bé mà vụ thể: "Chiếc xe tăng thành một quả bom hơi"

Đây là nỗi niềm của người lính nơi chiến tuyến thương mẹ khiến ta khó cầm lòng:

Chiến dịch này ăn cơm không phải độn

Mừng thì mừng mà thương mẹ bao nhiêu

Đây là không khí mừng chiến thắng đầy xúc động vì chiến thắng đó phải đổi bằng máu:

Đồng chí trưởng xe

Mình quấn đầy băng trắng

Anh giơ tay cả thành phố động lòng

Tìm hiểu không gian - thời gian nghệ thuật trong văn chương không những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng, mà còn cho thấy quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay giá trị phản ánh của một giai đoạn văn học.Từ đó, cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo trong tác phẩm văn chương và phong cách tác giả Điều này càng có ý nghĩa với địa hạt thơ ca - nơi thi sĩ tái hiện cuộc sống qua cửa ngõ tâm tình, làm sống dậy cả thời gian hoài niệm hay đưa suy tưởng đến tương lai xa xôi và phác họa miền không gian nội cảm mênh mang

1.1.2 Thời gian nghệ thuật

Bên cạnh không gian thì thời gian trong triết học người ta xem là phương thức tồn tại của vật chất, Đó là hình thức tồn tại của tính liên tục,

độ dài, hướng nhịp của ba chiều quá khứ, hiện tại, tương lai và có tính chất không thể đảo ngược Không một vất chất nào có thể tồn tại ngoài thời gian,

mọi dạng tồn tại của vật chất đều có thời gian riêng của mình Theo Từ điển

Trang 29

thuật ngữ văn học: "Thời gian nghệ thuật là hình thức nội tại của hình tượng nghệ thuật thẻ hiện tính chính thể của nó Cũng như không gian nghệ thuật, sự miêu tả nghệ thuật trong văn học bao giờ cũng xuất phát từ điểm nhìn nhất định trong thời gian Và cái nhìn trần thuật bao giờ cũng cũng diễn ra trong thời gian, được biệt qua thời gian nghệ thuật Sự phối hợp của hai yếu tố này tạo thành thời gian nghệ thuật, một hiện tượng nghệ thuật chỉ có trong thế giới nghệ thuật" Thời gian là hình thức tồn tại bên

trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chính thể của nó Thời gian nghệ thuật không phải là thời gian khách quan, vận động theo trật tự một chiều, trước sau không thể đảo ngược mà là thời gian soi chiếu bởi tư tưởng, tình cảm của nhà văn, được nhào nặn và trở thành hình tượng nghệ thuật, phù hợp với quan điểm nghệ thuật của nhà văn về con người và thế giới Vì thế thời gian nghệ thuật có thể nhanh hay chậm, dài hay ngắn, liên tục hay đứt quãng theo một logic riêng không hoàn toàn trùng khớp với thời gian khách quan

Một trong những phương diện quan trọng của thi pháp học là nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về thời gian và không gian tức là cái thế giới mà nhân vật (trong văn xuôi, kịch) và nhân vật trữ tình (trong thơ) tồn tại Bên cạnh việc miêu tả không gian, thời gian phải lý giải được nhà văn bộc lộ cách nhìn, cách cảm như thế nào về cuộc đời và quan niệm nghệ thuật về thế giới

có tính chất cá nhân độc đáo của từng nhà văn Do các yếu tố: hoàn cảnh xã hội lịch sử, tư tưởng thẩm mỹ, mỗi thời đại văn học có những quan niệm chung có tính chất đặc trưng

Về thời gian nghệ thuật trong văn học hiện đại, Trần Đình Sử đã có những nhận xét xác đáng: “Văn học thế kỷ XX đã phong phú lên với nhiều hình thức thời gian nghệ thuật mới gắn liền với tư duy liên tưởng chiều sâu văn hoá và ý thức về quá trình lịch sử sôi động của thế kỷ chúng ta trên lĩnh

Trang 30

vực cách mạng xã hội và khoa học kỹ thuật Chẳng hạn sự xáo trộn các bình diện thời gian, tăng cường vai trò của thời gian hồi tưởng và thời gian tâm lý,

sự mở rộng khái niệm thời gian lịch sử" Ở phương Tây phần đông các nhà văn hiện đại: Proust, Joyce, Dos Passos, Faulkner, Gide, Virginia Volf… mỗi người đều thể hiện thời gian theo một cách riêng Có người cắt bỏ quá khứ và tương lai, rút gọn thời gian vào khoảnh khắc trực giác.Có người như Dos Passos lại biến thời gian thành một ký ức hạn chế và máy móc Proust và Faulkner lại chỉ đơn giản chặt đầu thời gian Họ tước bỏ tương lai của nó, tức

là tước bỏ đi cái chiều lựa chọn và hành động tự do của con người… Những quan niệm hiện đại chủ nghĩa như thế về thời gian không thể không ảnh hưởng đến văn nghệ sĩ ở ta trong điều kiện mở cửa, giao lưu với văn hóa thế giới

Sau 1975 do hoàn cảnh sống và ý thức thẩm mỹ, các nhà thơ Việt Nam

đã có sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về thời gian Tuy nhiên, không phải mọi thứ liên quan đến thời gian trong tác phẩm văn học đều trở thành thời

gian nghệ thuật Nhà lí luận Nga D.X.Likhachop cho rằng "Thời gian vừa là

khách thể vừa là chủ thể đồng thời vừa là công cụ phản ánh vưn học Văn học ngày càng thấm nhuần ý thức và cảm giác về sự vận động của thế giới trong hình thức hết sức đa dạng của thời gian" và "thời gian nghệ thuật là nhân tố nằm trong mạng lưới nghệ thuật Nó buộc thời gian cú pháp và quan niệm triết học về thế giới phải phục vụ cho những quan niệm nghệ thuật của nó" Trong tác phẩm văn chương, thời gian chỉ trở thành thời

gian nghệ thuật khi nó tác động trực tiếp vào nhân vật, vào môi trường mà ở

đó diễn ra số phận nhân vật và những biến động tâm tư, tình cảm của con

người Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử trong cuốn Thi pháp thơ Tố Hữu cũng khẳng định: "Thời gian nghệ thuật trong văn học không phải chỉ đơn giản

là quan điểm của tác giả về thời gian mà là một hình tượng thời gian sinh

Trang 31

động, gợi cảm, sự cảm thụ, ý thức về thời gian được dùng làm hình thức nghệ thuật để phản ánh hiện thực, tổ chức tác phẩm"

Là hình thức của hình tượng nghệ thuật, thời gian nghệ thuật là một trong những phạm trù quan trọng nhất của thi pháp học, bởi nó thể hiện thực chất sáng tạo của người nghệ sĩ Thời gian trong tác phẩm phụ thuộc vào điểm nhìn của tác giả, vì vậy nó được sử dụng một cách mềm dẻo, linh hoạt hơn Và khác với thời gian khách quan được đo bằng đồng hồ và lịch,

"thời gian nghệ thuật có thể quay về quá khứ có thể bay vượt tương lai xa

xôi, có thể dồn nén một khoảng thời gian dài, trong chốc lát thành vô tân"

Thời gian nghệ thuật được đo bằng nhiều thước đo khác nhau, bằng sự lặp

lại đều đặn của các hiện tượng đời sống được ý thức, sự sống, cái chết, gặp

gỡ chia tay, mùa này, mùa khác tạo nên nhịp điệu trong tác phẩm Như vậy, thời gian nghệ thuật gắn liền với tổ chức bên trong hình tượng nghệ thuật Khi nào ngòi bút của người nghệ sĩ chạy theo diễn biến sự kiện thì thời gian trôi đi nhanh, khi nào dừng lại mô tả chi tiết thì thời gian chậm

lại Thời gian nghệ thuật là một phạm trù quan trọng của thi pháp học bởi

văn học là nghệ thuật của thời gian Thời gian là đối tượng, chủ thể, là công

cụ miêu tả, là sự ý thức và cảm giác vè sự vận động và thay đổi của các thế giới trong các hình thức đa dạng của tác phẩm Thời gian trong tác phẩm văn học nói chung, trong thơ nói riêng là một yếu tố quan trọng và là phương diện hữu hiệu quan trọng nhất để tổ chức nội dung tác phẩm Đó là

lí do giải thích tại sao trong sáng tạo nghệ thuật các tác giả thường quan tâm đặc biệt tới thời gian trong tác phẩm

Thời gian nghệ thuật do được sáng tạo ra nên mang tính chủ quan, gắn với thời gian tâm lý Nó có thể kéo dài hay rút ngắn thời gian thực tế,

có thể đảo ngược hay vụt tới tương lai, có thể dừng lại, nghệ thuật có thời gian riêng thời gian nghệ thuật không trùng khít cũng không hoàn toàn tồn

Trang 32

tại trong thời gian vật chất bởi những sự kiện và tâm thế con người trong tác phẩm nghệ thuật luôn có quá trình vận động và phát triển riêng Văn học được xếp thuộc loại nghệ thuật thời gian, nghĩa là hình tượng văn học được

mở dần theo thời gian, gắn liền với sự cảm thụ về thời gian “Thời gian nghệ

thuật thể hiện sự tự cảm thấy của con người trong thế giới” Thời gian nghệ

thuật được xây dựng theo cách cảm nhận thời gian, cảm nhận phương thức tồn tại giữa thế giới của con người Phản ánh sự cảm nhận ấy, thời gian nghệ thuật thể hiện quan điểm, tư tưởng tác giả Đó cũng là sự sáng tạo của người nghệ sĩ đẻ tạo ra một thế giới nghệ thuật có thể trường tồn trong thời gian Như thế, thời gian trong nghệ thuật cũng mang đầy tính chủ quan

Là thời gian tâm lý, thời gian nghệ thuật được cảm nhận qua lăng kính cảm xúc nên không nhất thiệt phải theo trật tự vốn có của tự nhiên

(quá khứ - hiện tại - tương lai) mà có thể “đảo ngược quay về quá khứ, có

thể bay vượt tới tương lai xa xôi, lại có thể kéo dài cái chốc lát thành vô tận” Cảm quan nghệ thuật có thể bắt đầu từ một điểm nhìn trong thời gian

có thể làm ngưng đọng một giây phút, vĩnh hằng hóa một khoảnh khắc giữa dòng đời vô tận, cũng có thể dồn nén khoảng cách vời vợi vào giờ khắc ngắn ngủi:

Khắc giờ đằng đẵng như niên

Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa

Trang 33

Quá khứ, hiện tại, tương lai không tách rời mà đan cài với nhau, có khi cùng hiển hiện, cái hôm qua cùng hiện hữu trong cái hôm nay, cái hôm

nay dự báo cái ngày mai:

Cái bay không đợi cái trôi

Từ tôi phút trước sang tôi phút này

(Xuân Diệu)

Thời gian đồng hiện giúp con người khắc phục cái tuyến tính- giới hạn đơn chiều của thời gian để vươn tới một sự tiếp xúc đa chiều trong không gian Thời gian nghệ thuật đa dạng, gợi cảm đã trở thành một thuộc

tính tất yếu của hình tượng nghệ thuật: “Trong quá trình sáng tạo, người

nghệ sĩ đã xử lý yếu tố này như một phương tiện nghệ thuật cần thiết để tái hiện đời sống và cấu trúc tác phẩm” Thời gian nghệ thuật không chỉ biểu

hiện nội dung cảm hứng mà còn đóng vai trò như một thao tác thuộc tính về hình thức nghệ thuật từ đó mà thời gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học được biểu hiện bằng nhiều phương thức Trước hết, đó là những hình dung

khái quát qua các trạng từ chỉ thời gian: ngày xửa ngày xưa, dạo ấy, hôm qua,

ngày mai, mùa thu, có khi thời gian được gọi tên cụ thể bởi các số từ: giờ, phút, ngày, tháng, năm…, hay chỉ cần nhận biết dấu hiệu thời gian đặc trưng

Thể thơ Hai - kư bé nhỏ của Nhật Bản luôn tinh tế với quý ngữ chỉ mùa:

Từ bốn phương trời xa cánh hoa đào lả tả gợn sóng hồ Bi - ao hay

Đất khách mười mùa sương

về thăm quê ngoảnh lại Ê- đô là cố hương

(Ba-Sô)

Trang 34

Thơ ca trung đại Việt Nam đã điểm nhịp thời gian:

Sen tàn cúc lại nở hoa Sầu dài, ngày ngắn đông đà sang xuân

(Nguyễn Du)

cho đến thơ ca hiện đại:

Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về

(Hữu Thỉnh)

Với những cá tính sáng tạo, thời gian nghệ thuật bao giờ cũng có cách thức thể hiện mới lạ, độc đáo, tạo nên ấn tượng sâu sắc về dòng chảy

vô thủy vô chung của cuộc đời

Thế giới nghệ thuật là khúc xạ của của cuộc sống thực, thời gian nghệ thuật theo đó cũng là một hiện tượng ước lệ trong thế giới tưởng tượng ấy, cho nên không dễ xác định Nhìn chung thời gian nghệ thuật có thể biểu hiện qua một số phương diện nghệ thuật nhịp điệu thời gian, hình tượng

thời gian, trình tự thời gian Theo Giáo sư Trần Đình Sử: “Thời gian nghệ

thuật trong văn học không phải là đơn giản, là quan điểm của tác giả về thời gian mà là một hình tượng thời gian sinh động, gợi cảm, là sự cảm thụ,

ý thức về thời gian được dùng làm hình thức nghệ thuật để phản ánh hiện thực, tổ chức tác phẩm”

Ở mỗi thể loại văn học, do đặc trưng nghệ thuật riêng nên thời gian cũng diễn biến khác nhau Tiểu thuyết là thể loại có sức dung chứa lớn với khát vọng thâu tóm toàn bộ hiện thực (mô hình đại tự sự), thời gian trong tiểu thuyết mang quảng tính Truyện ngắn thường chỉ tái hiện một đoạn đời sống Thời gian trong kịch gắn với sự vận động của sự kiện, xung đột, tính

Trang 35

cách và chịu khuôn khổ chặt chẽ của thời gian sân khấu Trong thơ thời gian nghiêng về thời gian tâm lý, sự vận động của thời gian diễn ra theo dòng cảm xúc Bởi nhà thơ viết để phản ánh tâm hồn mình hơn là phản ánh thế giới khách quan

Thời gian luôn là mối âu lo của thi sĩ Đó là cảm thức rõ ràng:

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

trạng của đời người:

Lòng tôi rộng nhưng cuộc đời cứ chật Không cho dài thời trẻ của nhân gian…

Còn trời còn đất chẳng còn tôi mãi Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời

Phản ánh tâm thế tồn tại của con người nên thời gian nghệ thuật cũng gợi nhắc không gian - nơi con người luôn cảm thấy vị trí và số phận của mình trong đó Thời gian nghệ thuật có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố thuộc cấu trúc tác phẩm, trước hết là không gian nghệ thuật

Trang 36

1.1.3 Mối quan hệ giữa không gian - thời gian

Không gian và thời gian gian là hai phạm trù có mối liên hệ chi phối, khó

có thể nhận thức tách bạch, thực chất đó là một phạm trù không thời gian Thời gian thực ra là một chiều của không gian và ngược lại, con người sống trong thế giới bốn chiều mà trong đó chiều thứ tư là thời gian Trong văn học,

ý thức về thời gian của con người có sự thay đổi, từ quan niệm thời gian vĩ mô (ngàn năm, thiên thu) đến quan niệm thời gian đời tư, thời gian tâm trạng Ý thức về thời gian chính là ý thức về sự tồn tại Đối với thi sĩ, cần phải có đủ

năng lực để phát hiện về không gian trong tâm hồn và thời gian trong trí nhớ

Không gian và thời gian nghệ thuật luôn gắn bó với nhau như là hai mặt của vấn đề, có thể chuyển hóa lẫn nhau Khi thời gian được không gian hóa nó trở nên

Ngày qua ngày lại qua ngày

Lá xanh rụng đã thành cây lá vàng

(Nguyễn Bính)

Khi không gian được được thời gian hóa thì chiều kích của nó trở nên vời vợi, mênh mông, tạo thành nỗi nhớ khắc khoải:

Đêm mưa nằm nhớ không gian

Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bào la

(Huy Cận)

Theo nhà viết kịch Upenxki thì "Không gian là thời gian trường tồn,

thời gian là không gian lấn bước" Trần Đình Sử cũng đề cập đến mối quan

hệ giữa không gian và thời gian "khi nhà văn dừng lại khăc họa không gian

thì thời gian bị hãm chậm hay triệt tiêu Người ta có thể không gian hóa thời gian bằng cách miêu tả các sự kiện, biến đổi theo trật tự liên tưởng, cái này bên cạnh cái kia" Trong thơ, tình cảm không đứng yên mà luôn

vận động, vì thế mối quan hệ thời gian không gian - thời gian luôn khăng

Trang 37

khít Trong thơ và trường ca của Hữu Thỉnh, không gian và thời gian luôn

có sự chuyển hóa, do cảm thức nhân hóa của chủ thể trữ tình Tuy nhiên,

vẫn có thể nhận ra mối quan hệ tương ứng: thời gian hiện tại - không gian

hiện thực; thời gian đồng hiện- không gian tâm tưởng

Trong thời hiện tại, nhà thơ lắng nghe những vang động cuộc đời, nhìn ngắm thế giới và cảm nhận tình yêu Cảm nhận rõ ràng luôn đem đến cho thơ, trường ca của Hữu Thỉnh những bức tranh thiên nhiên cũng như hình ảnh đời sống sinh động Bằng khả năng trực cảm tinh tế, nhà thơ đã đưa vào thơ ca những âm thanh ríu rít, hình ảnh mềm mại hơi thở ấm

nồng như những khoảnh khắc quý giá của không gian đời sống: Người

qua đường chung tiếng Việt cùng tôi/ Mái tóc em bay như ngọn lửa đen/ Mọi tên tuổi vinh dự chỉ hư danh/Chẳng nghĩa lý bằng chiều nay em nhóm bếp Trong những khoảnh khắc bình yên giữa đời thường, nhà thơ cảm

nhận từng nhịp đi của tháng năm trôi

Một trong những phương diện quan trọng của thi pháp học là nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về thời gian và không gian, tức là cái thế giới mà nhân vật (trong văn xuôi, kịch) và nhân vật trữ tình (trong thơ) tồn tại Bên cạnh việc miêu tả không gian, thời gian phải lý giải được nhà văn bộc lộ cách nhìn, cách cảm như thế nào về cuộc đời và quan niệm nghệ thuật về thế giới

có tính chất cá nhân độc đáo của từng nhà văn Do các yếu tố hoàn cảnh xã hội lịch sử, tư tưởng thẩm mỹ mỗi thời đại văn học có những quan niệm chung có tính chất đặc trưng

Về thời gian nghệ thuật trong văn học hiện đại, Trần Đình Sử đã có những nhận xét xác đáng: “Văn học thế kỷ XX đã phong phú lên với nhiều hình thức thời gian nghệ thuật mới gắn liền với tư duy liên tưởng chiều sâu văn hoá và ý thức về quá trình lịch sử sôi động của thế kỷ chúng ta trên lĩnh vực cách mạng xã hội và khoa học kỹ thuật Chẳng hạn sự xáo trộn các bình

Trang 38

diện thời gian, tăng cường vai trò của thời gian hồi tưởng và thời gian tâm lý,

sự mở rộng khái niệm thời gian lịch sử” Ở phương Tây, phần đông các nhà văn hiện đại Proust, Joyce, Dos Passos, Faulkner, Gide, Virginia Volf… mỗi người đều huỷ hoại thời gian theo một cách riêng Có người cắt bỏ quá khứ và tương lai, rút gọn thời gian vào khoản khắc trực giác Có người như Dos Passos lại biến thời gian thành một ký ức hạn chế và máy móc Proust và Faulkner lại chỉ đơn giản chặt đầu thời gian Họ tước bỏ tương lai của nó, tức

là tước bỏ đi cái chiều lựa chọn và hành động tự do của con người…Những quan niệm hiện đại chủ nghĩa như thế về thời gian không thể không ảnh hưởng đến văn nghệ sĩ ở ta trong điều kiện mở cửa, giao lưu với văn hóa thế giới Sau

1975 do hoàn cảnh sống và ý thức thẩm mỹ, các nhà thơ Việt Nam đã có sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về thời gian Trong thơ sau 1975 thời gian lịch

sử thường gắn liền với thời gian đời tư Tố Hữu đã trình bày lịch sử gắn với đời người:

Năm 20 của thế kỷ 20 - Tôi sinh ra

Nhưng chưa được làm người Nước đã mất, cha đã làm nô lệ

Ôi những ngày xưa mưa xứ Huế Mưa sao buồn vậy quê hương ơi

(Một nhành xuân)

Sự cảm nhận thời gian lịch sử gắn với thời gian đời tư làm cho các

trường ca xuất hiện sau 1975 nghiêng về phía trữ tình “Những người đi tới

biển” của Thanh Thảo và “Đường tới thành phố” của Hữu Thỉnh là những ví

dụ tiêu biểu

Thời gian lịch sử ở thì quá khứ được tái hiện không chỉ đầy ắp sự kiện

hào hùng “Lừng lững thác đèo chiến dịch” (Hữu Thỉnh) mà còn gắn với

Trang 39

những hy sinh, mất mát không thể tính đếm hết của nhân dân Gắn với thời gian quá khứ là hình ảnh những người mẹ:

Mấy cuộc chiến tranh

Mẹ gánh cùng một lúc Người chị đợi chờ quay mặt vào đêm Một mình một mâm cơm

Ngồi bên nào cũng lệch

Chị chôn tuổi thanh xuân trong má lúm đồng tiền (Đường tới thành phố)

Quá khứ kháng chiến gian khổ, được thể hiện một cách thấm thía bằng trải nghiệm cá nhân:

Những năm Chiếc áo dính chặt vào thân bạc màu ngắn nhanh rồi rách Những năm

Một chiếc áo có thể sống lâu hơn một cuộc đời

(Thanh Thảo)

Quá khứ lịch sử đã kết đọng thành văn hoá để con người hôm nay sống

có trách nhiệm hơn

Tôi xin nhắc tháng ngày gian khổ ấy

Đã thành sao lặng lẽ sáng trong tôi

(Ý Nhi)

Chị vẫn tin chữ hợp cuối trang Kiều Hoa nở hai lần hoa có hậu

Chị vẫn tin cỏ mùa thu xanh đều cho cuốc kêu tháng sáu

Vẫn tin có ngày hái quả cho anh

(Hữu Thỉnh)

Trang 40

1.2 Trường ca của Hữu Thỉnh

1.2.1 Cuộc đời và quan niệm sỏng tạo của nhà thơ

Hữu Thỉnh tờn thật là Nguyễn Hữu Thỉnh, bỳt danh Vũ Hữu, sinh ngày

15 thỏng 2 năm 1942, tại làng Phỳ Vinh, xó Duy Phiờn, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phỳc, trong một gia đỡnh cú truyền thống nho học, cú cuộc đời

trải qua tuổi thơ ấu khụng dễ dàng Năm 1963, ụng nhập ngũ tham gia chiến

đấu ở binh chủng Tăng Thiết giỏp rồi trở thành cỏn bộ văn húa, tuyờn huấn trong quõn đội và bắt đầu sỏng tỏc thơ Hữu Thỉnh là gương mặt tiờu biểu trong số cỏc nhà thơ trưởng thành trong cuộc khỏng chiến chống Mỹ cứu nước được khẳng định từ 1975 và tiếp tục tỏa sỏng cho đến nay với nhiều giải thưởng văn chương do cỏc tổ chức cú uy tớn trao tặng Đọc thơ Hữu Thỉnh ta nhận thấy tỏc giả thực sự là một tài năng văn học Tài năng vừa cú

tớnh “tiờn thiờn” vừa là kết quả của một quỏ trỡnh “nhập cuộc, dấn thõn”

sõu sắc vào đời sống, khụng ngừng mài dũa tài năng và lao động sỏng tạo

Vốn sống mà Hữu Thỉnh có được hình thành ngay từ những năm tháng nhọc nhằn của tuổi thơ: sáu năm sống với bác ruột, mười tuổi phải đi phu, làm

đủ mọi thứ lao dịch cho các đồn binh Pháp: Vân Tập, Chợ Vàng, Thứa, Thanh Vân ít ai có thể ngờ được rằng cậu bé Hữu Thỉnh mới 9, 10 tuổi đã phải đi phu, từ gánh gạch, gánh đất, lại đến rửa bát, nấu cơm Có hôm rửa bát, lỡ tay

đánh vỡ chiếc đĩa liền bị thằng Tây bóp cổ đến nghẹt thở Có hôm thì bị đánh nhừ tử vì giặt quần áo mạnh tay quá để vỡ mất chiếc khuy Những năm tháng gian khổ, thấm đẫm mồ hôi nước mắt đó, không chỉ thôi thúc nhà thơ ý thức sống mạnh mẽ, bền bỉ, nhẫn nại mà còn là nhân tố quan trọng hình thành phẩm chất nghệ sỹ của Hữu Thỉnh Điều này, rất phù hợp với quy luật “nghịch cảnh thành tài” như đã nêu ở trên Nhà văn người Mĩ, Hêminuây khi trả lời một bạn

đọc hâm mộ rằng sự rèn luyện tốt nhất để trở thành nhà văn cũng núi đú “Một tuổi thơ không vui sướng”

Ngày đăng: 07/06/2017, 12:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoài Anh (1999), "Hữu Thỉnh- nhà thơ và phía khuất lấp cuộc đời", Tạp chí Văn hóa Văn nghệ Công an số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hữu Thỉnh- nhà thơ và phía khuất lấp cuộc đời
Tác giả: Hoài Anh
Năm: 1999
2. Anh Chi (2006) "Đường thơ Hữu Thỉnh", Tạp chí Hồn Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường thơ Hữu Thỉnh
7. Tế Hanh (1997), “Từ những người đi tới biển tới Đường tới thành phố” Báo Văn nghệ số 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ những người đi tới biển tới Đường tới thành phố
Tác giả: Tế Hanh
Năm: 1997
27. Thanh Thảo (2000), Hữu Thỉnh gửi “Thư mùa đông” tới mùa, Báo Sài Gòn giải phóng số Tết 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thư mùa đông
Tác giả: Thanh Thảo
Năm: 2000
45. Nguyễn Hữu Thỉnh Sức bền của đất , Giải A cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1975-1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức bền của đất
46. Nguyễn Hữu Thỉnh Đường tới thành phố, giải thưởng hội nhà văn Việt Nam 1980, giải thưởng nhà văn đợt 1-2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường tới thành phố
47. Nguyễn Hữu Thỉnh Trường ca Biển, giải thưởng Văn học xuất sắc của Bộ quốc phòng 1994, Giải thưởng Hồ Chi Minh 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường ca Biển
3. Hoàng Thị Ngọc Duyên (2011), Ngôn ngữ nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh, Khóa luận TN Khác
4. Xuân Diệu (1981), Những suy nghĩ nhân đọc Đường tới thành phố, Báo Văn nghệ số 19 Khác
5. Trần Bách Diệp (1999), Hữu Thỉnh Thơ là kinh nghiệm sống, Báo Người Hà Nội, số 9 Khác
6. Nguyễn Đăng Điệp (2003), Hữu Thỉnh và quá trình tự đổi mới thơ, Tạp chí văn học số 9 Khác
8. Trần Mạnh Hảo (1996) Thư mùa đông của Hữu Thỉnh, Tạp chí Văn nghệ quân đội, số 4 Khác
9. Nguyễn Thái Hòa , Những vấn đề thi pháp của truyện Khác
10. Hoàng Ngọc Hiến, Mô típ thời gian, mô típ thiên nhiên trong thơ Hữu Thỉnh Khác
11. Nguyễn Đăng Mạnh (1996) Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Nxb GD Khác
12. Lê Thị Mây (2001), Hữu Thỉnh với Trường ca Biển, Tạp chí Văn học, T1 Khác
13. Nguyễn Thị Ngọc Linh. Thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh qua hai tập thơ Thư mùa đông và Thương lượng với thời gian Khác
14. Nguyễn Thị Phương Lan (2003), Thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh, Lv Thạc sĩ Khác
15. Nguyễn Thị Ly (2007), Tính dân tộc và tính hiện đại trong thơ Nguyễn Duy Khác
16. Thy Lan (2016), Thiên nhiên nơi ký thác tâm hồn- Báo Văn nghệ số 10 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w