HOÀNG THU THỦY THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA HARUKI MURAKAMI NHÌN TỪ TÂM THỨC HẬU HIỆN ĐẠI Chuyên ngành: Lý luận Văn học Mã số: 60 22 01 20 LUẬN VĂN THẠC SĨ N
Trang 1HOÀNG THU THỦY
THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA HARUKI MURAKAMI
NHÌN TỪ TÂM THỨC HẬU HIỆN ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2016
Trang 2HOÀNG THU THỦY
THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA HARUKI MURAKAMI
NHÌN TỪ TÂM THỨC HẬU HIỆN ĐẠI
Chuyên ngành: Lý luận Văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trương Đăng Dung
HÀ NỘI, 2016
Trang 3Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo ở Viện Văn học, các thầy cô giáo trong Tổ Lý luận văn học - Khoa Ngữ Văn và Phòng Sau đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2 đã nhiệt tình giảng dạy và tạo điều kiện tốt nhất trong suốt thời gian tôi học tập tại đây để hoàn thành luận văn này Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Hoàng Thu Thủy
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp
đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Hoàng Thu Thủy
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của đề tài 8
NỘI DUNG 9
Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI TRONG VĂN HỌC 9
1.1 Chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học thế giới 9
1.2 Chủ nghĩa hậu hiện đại trong sáng tác của Haruki Murakami 27
Chương 2 TH I GIAN NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA HARUKI MURAKAMI 40
2.1 Thời gian hiện thực 40
2.2 Thời gian huyền ảo 57
2.3 Thời gian đồng hiện phi tuyến tính 66
Chương 3 KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA HARUKI MURAKAMI 83
3.1 Không gian hiện thực 83
3.2 Không gian huyền ảo 97
KẾT LUẬN 119
TÀI LIỆU THAM KHẢO 123
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sau Thế chiến II, thế giới không hề an ninh: chiến tranh lạnh, đối kháng Đông Tây, chạy đua vũ trang, bóng ma của vũ khí hạt nhân, chiến tranh Triều Tiên, Việt Nam… Không khí hoang mang hoài nghi, bi quan bao trùm lên thời đại Nhưng thế giới sau chiến tranh, khoa học kĩ thuật phát triển siêu tốc, mang lại một năng suất sản xuất cao hơn cả mấy chục thế kỉ trước cộng lại
Xã hội bước vào thời đại “hậu công nghiệp” với nền văn minh máy tính, bùng
nổ thông tin quảng cáo, thế giới như bé lại, nhưng lại chất chứa tràn đầy hàng hóa tiêu dùng và tất cả các mặt nhu cầu đời sống đều được thương phẩm hóa
Từ đó, tư tưởng tình cảm, kết cấu tâm lý con người không thể không có nhiều thay đổi sâu sắc Khoa học kĩ thuật phát triển cao độ hình thành dần nên chủ nghĩa kĩ trị Trong giáo dục, yếu tố nhân văn có chiều phai nhạt, bởi vì dường như con người ngày nay chỉ cần ngồi trước máy vi tính nối mạng là có thể thu thập hầu hết các thông tin và tri thức Con người trở nên hoài nghi về sự tồn tại của mình Chủ nghĩa hậu hiện đại dần dần tích tụ một chủ nghĩa tương đối cực đoan về mặt nhận thức và màu sắc hư vô về mặt nhân sinh Từ đấy chủ nghĩa hậu hiện đại đã hàm chứa một quan niệm về hiện thực đời sống và con người với những màu sắc riêng Thể hiện sự nghi ngờ những sự thật được biểu hiện, cho rằng những sự thật này chỉ là những cấu trúc mang tính xã hội,
sẽ thay đổi theo không gian, thời gian Khuynh hướng này nhấn mạnh vai trò của ngôn ngữ, những động cơ và mối quan hệ quyền lực đồng thời phê phán
sự cứng nhắc trong việc phân biệt hay nhìn nhận các thực thể văn hóa xã hội theo kiểu trắng – đen, sáng – tối, đúng – sai…, chủ trương hướng tới sự tương đối và tính đa dạng của thực tế Chủ nghĩa hậu hiện đại trong triết học có ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực văn hóa – xã hội như tôn giáo, phê bình văn học, ngôn ngữ học…
Trang 7Có thể nói văn chương hậu hiện đại là một khuynh hướng sáng tác phổ biến hiện nay trên thế giới, tập trung nhất có lẽ là ở Hoa Kỳ, với những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như: Auster, Salinger, Chandler, Borges, Thomas Pynchon, John Barth, Hunter S Thompson, David Markson, Bret Easton Ellis,…
Nhật Bản là quốc gia có nền văn học phát triển sớm và có nhiều thành tựu Bước sang thế kỉ XX, tiếp thu ảnh hưởng văn học phương Tây, Văn học Nhật Bản đã trải qua quá trình hiện đại hóa và đạt đến đỉnh cao với những tác giả như Atukagawa Ryunosuke, Kawabata Yasunary, Oe Kenzaburo… Đứng trước những “tượng đài” đó, nhiều nhà văn đã không hề nao núng, không chấp nhận dừng lại viết theo kiểu cũ, mà đã không ngừng sáng tạo, có sự thay đổi về cái nhìn và bút pháp Haruki Murakami là một trong những nhà văn như thế Haruki Murakami là một nhà văn nổi tiếng không chỉ trong nước mà còn được độc giả nhiều nước trên thế giới biết đến qua các bản dịch với hơn
ba mươi thứ tiếng Ông là chủ nhân của nhiều giải thưởng tầm vóc quốc gia
và quốc tế, đồng thời là một trong số những nhà văn lớn của Nhật Bản và
châu Á đựơc đề cử giải thưởng Nobel văn học Theo Từ điển Bách khoa
Columbia (ấn hành năm 2000), Haruki Murakami là nhà văn “được công nhận
là một trong những tiểu thuyết gia của thế kỷ XX quan trọng nhất của Nhật Bản” Sáng tác của Haruki Murakami là những khám phá mới về nội dung và nghệ thuật mang đậm phong cách Nhật Bản, Á Đông kết hợp với phong cách phương Tây hiện đại Trong tác phẩm của ông, con người và cuộc sống của
xứ sở Phù Tang được phản ánh bằng nhiều hình thức nghệ thuật độc đáo như nghệ thuật huyền ảo, siêu thực, những ẩn dụ và biểu tượng nghệ thuật mang bút pháp hậu hiện đại… Âm nhạc (đặc biệt là nhạc Jazz, Rock), những hình ảnh và biểu tượng văn hóa, lối kể chuyện hấp dẫn như truyện trinh thám, hình
sự cũng góp phần quan trọng tạo nên những giá trị nghệ thuật của văn chương Haruki Murakami
Trang 8Tác phẩm của nhà văn Haruki Murakami (xuất bản ở trong nước và nước ngoài) trở thành một hiện tượng văn học lớn, thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu phê bình và hàng triệu độc giả trên thế giới Cơn sốt về những tác
phẩm của nhà văn, đặc biệt là cuốn tiểu thuyết Rừng Nauy ở Nhật Bản, Anh,
Nga, Đức, Hàn Quốc, Trung Quốc, Pháp, Ý, Hy Lạp, Hà Lan, Đan Mạch, Hồng Kông, Đài Loan, Việt Nam… đã khẳng định tài năng và giá trị những sáng tác của Haruki Murakami Ông là người đang và sẽ lãnh vai trò “giương cao ngọn đèn pha cho quần chúng” và những tác phẩm của nhà văn “lôi cuốn được độc giả trẻ… không chỉ trong nước mà còn khắp thế giới” Cho đến nay, đối với văn học đương đại Nhật Bản, Haruki Murakami vẫn là nhà văn được đánh giá cao nhất không chỉ về số lượng đầu sách xuất bản, tái bản, là một best
– seller (tiểu thuyết Rừng Nauy đã in trên 10 triệu bản ở Nhật Bản) mà còn là
một nhà văn nhận được nhiều giải thưởng văn học nhất ở trong nước và nước
ngoài: Giải thưởng “Nhà văn mới – Gunzo” (1979) cho Lắng nghe gió
hát, Giải thưởng “Tanizaki Junichio” (1985) cho tác phẩm Xứ xở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới, “Giải Yomiuri” (1996) cho Biên niên ký chim vặn dây cót, Giải thưởng Franz Kafka (của cộng hoà Czech – 2006) cho Kafka bên bờ biển, Giải thưởng Frank O Connor (mang tên nhà văn Ireland – 2006)
cho tập truyện ngắn Cây liễu mù và cô gái… Và hiện nay, Haruki Murakami là
một ứng cử viên nặng ký cho giải Nobel văn học trong những năm tới Khi nói
về các giải thưởng, nhà văn đã tâm sự: “Tôi chẳng mấy quan tâm đến bất kỳ giải thưởng nào Giải thưởng đích thực của tôi là độc giả, những độc giả đang mong chờ tác phẩm kế tiếp của tôi Tôi rất trân trọng sự quan tâm và thuỷ chung của họ Tôi đã nỗ lực suốt nhiều năm trời để nắm được tư tưởng họ, tâm hồn họ và dường như tôi đã nắm được tư tưởng, tâm hồn độc giả” (Haruki Murakami trả lời phỏng vấn dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng)
Trang 9Hướng đến thế giới tâm hồn phong phú của những con người Nhật Bản đương đại để khám phá những bí ẩn kỳ diệu của xứ sở Phù Tang trong hoàn cảnh nước Nhật và thế giới hiện đại có nhiều biến đổi dữ dội là mục đích chính, nổi bật trong sáng tác của Haruki Murakami Tất nhiên, nhằm khai thác chiều sâu tâm lý nhân vật, Haruki Murakami đã dụng công một cách khéo léo trong việc sử dụng nghệ thuật đểthể hiện nội dung Đặc biệt, cái đặc sắc của Haruki Murakami là từng bước khẽ mở bức màn che về hiện thực cuộc sống của xã hội Nhật Bản Nói đến những sáng tác của ông là nói đến các thủ pháp nghệ thuật độc đáo Trong các tác phẩm của mình, Haruki Murakami đã vận dụng khá nhiều hình thức nghệ thuật như: Thi pháp hậu hiện đại, yếu tố huyền
ảo, hệ thống hình tượng nhân vật, sự vật… Song cái làm nên một tác phẩm hoàn chỉnh – một thế giới nghệ thuật thì hai hình tượng: không gian và thời gian nghệ thuật là một yếu tố quan trọng để xác định giá trị của một tác phẩm văn chương Chính không gian và thời gian nghệ thuật này tạo điều kiện cho nhân vật của Haruki Murakami được thể hiện chính mình và thông qua đó cho thấy một bức tranh xã hội hiện thực của Nhật Bản đang trên con đường của sự phát triển thần tốc về kinh tế và sự xuống dốc về tinh thần– văn hóa
Với sự say mê về nội dung cũng như nghệ thuật của những cuốn tiểu thuyết đặc sắc, người viết muốn đi sâu hơn tìm hiểu và phát hiện ra cái hay của Haruki Murakami nhất là khi ông thể hiện không gian và thời gian nghệ thuật Trong đó, Haruki Murakami đã khéo léo đan cài lẫn lộn giữa thế giới thực tại và phi thực tại tạo nền tảng cho nhân vật của mình hành động và tiến gần đến điểm đích cuối cùng Đặc biệt, nó tạo cho người đọc một sự thôi miên như bị lôi cuốn vào cái thế giới ấy và có cảm giác như đang sống trong không
gian và thời gian của các tác phẩm đó
2 Lịch sử vấn đề
Haruki Murakami là tiểu thuyết gia nổi tiếng của Văn học Nhật Bản đương đại Những tác phẩm của ông không chỉ được đón đợi ở trong nước mà
Trang 10còn được các độc giả trên khắp thế giới chờ đợi Ngay từ những tác phẩm đầu
tay như Hãy nghe gió hát (tạm dịch từ Kazeno uta okike, 1979, bản tiếng Anh
Hear the Wind Sing, 1987), Cuộc săn cừu (tạm dịch từ Hitsuji o meguru
boken, 1982, bản dịch tiếng Anh A Wild Sheep Chase, 1989)… đã chinh phục được trái tim độc giả
Không chỉ có sự đón đợi của độc giả mà các nhà nghiên cứu, phê bình cũng luôn dành sự quan tâm, chú ý cho các tác phẩm của Haruki Murakami Ông được giới phê bình phương Tây tán dương hết lời, xem ông là gương mặt đại diện cho nền văn học Nhật Bản đương đại và so sánh ông với : Auster, Salinger, Chandler, Borges.v.v…
Ở Việt Nam những năm gần đây cũng có khá nhiều các bài nghiên cứu khoa học, các hội thảo liên quan đến tác phẩm của Haruki Murakami Có thể thấy, các tác phẩm của ông có rất nhiều vấn đề và khía cạnh để khai thác, tìm hiểu, nghiên cứu
Các bài viết về tác phẩm của Haruki Murakami có thể kể đến sách
Nghiên cứu và phê bình truyện ngắn Haruki Murakami của Hoàng Long
Trong công trình đó, tác giả đã đi vào phân tích sơ lược tiểu thuyết Rừng
NaUy và một số truyện ngắn để làm rõ một vài khía cạnh về mặt nội dung và
về cách viết đầy mới mẻ của nhà văn.Về các bài nghiên cứu có liên quan đến không gian và thời gian nghệ thuật trong một số tác phẩm của Haruki Murakami có thể kể đến một vài bài viết được đăng tải trên mạng như: Thứ
nhất, “Về con người cô đơn trong tiểu thuyết rừng NaUy” được đăng trên trang http://vanthotre.sfi.vn Trong bài viết này, người nghiên cứu đã chỉ ra hai loại không gian chính trong tiểu thuyết Rừng NaUy.“…Có hai loại không
gian chính: không gian nhà nghỉ Ami và không gian ngoài nhà nghỉ Ami Hai biểu tượng đó cũng là biểu tượng cho hai phần Nhật Bản: truyền thống và hiện đại.” Bên cạnh việc phân loại và đi vào phân tích hai kiểu không gian thì
Trang 11tác giả cũng đã nêu lên giá trị của từng hình tượng không gian đó Nó góp phần thể hiện dụng ý nghệ thuật của Haruki Murakami Khoảng cách giữa hai
kiểu không gian được xem như “ranh giới ngăn cách của những ám ảnh cạm
bẫy, chết chóc, là sự cách ngăn giữa quá khứ và hiện tại” Thứ hai, “Thực và
ảo trong truyện ngắn của của Haruki Murakami” được đăng trên trang: http://ebookmore.com Bên cạnh đó còn có một số bài luận văn như: “Thời gian và không gian nghệ thuật trong Biên niên ký chim vặn dây cót của Haruki Murakami” của Nguyễn Thị Loan Thảo (Khoa Khoa học Xã hội và
Nhân văn - Trường ĐH Cần Thơ), hay “Thời gian và không gian nghệthuật
trong Rừng Na-uycủa Haruki Murakami” của Võ Khánh Phương (Khoa Khoa
học Xã hội và Nhân văn - Trường ĐH Cần Thơ)… Đây là những bài viết có tính chất tổng hợp Các công trình này lý giải rất nhiều vấn đề có liên quan đến các yếu tố nghệ thuật trong các tác phẩm của Haruki Murakami Đáng chú ý nhất là tác giả đã nêu lên hai đặc điểm lớn về không gian và thời gian nghệ thuật trong các truyện ngắn của Haruki Murakami Hai đặc điểm đó là: tính phi không gian – thời gian và tính hư cấu không gian – thời gian Nhìn chung, các bài viết về các phương diện nghệ thuật nói chung và không gian – thời gian nghệ thuật nói riêng trong các tác phẩm của Haruki Murakami có không ít Các tác giả khi viết thường chú ý đến một vài khía cạnh về mặt nội dung và nghệ thuật như: phân tích nội dung cốt truyện tâm lí, giải thích các biểu tượng, bình luận về một vài sự kiện được dư luận quan tâm Có thể thấy
đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các tác phẩm của Haruki Murakami
và đề tài nghiên cứu về không gian – thời gian nghệ thuật cũng Tuy nhiên, chúng tôi xin mạnh dạn tiếp tục nghiên cứu để thấy rõ hơn những đóng góp
của ông về thủ pháp nghệ thuật trong sáng tác thông qua đề tài:“Thời gian và
không gian nghệ thuật trong sáng tác của Haruki Murakami nhìn từ tâm thức hậu hiện đại”
Trang 123 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu không gian và thời gian nghệ thuật trong một số tác phẩm của
Haruki Murakami, người nghiên cứu hy vọng đạt được những mục đích sau:
Một là, có cái nhìn hệ thống về không gian và thời gian nghệ thuật trong các sáng tác của Haruki Murakami, đồng thời biết được đặc điểm và giá trị của hình tượng không gian và thời gian nghệ thuật trong các sáng tác của ông
Hai là, thông qua sự hiểu biết về không gian và thời gian nghệ thuật trong các sáng tác của tác giả Haruki Murakami, người viết muốn thông qua
đó để tìm hiểu thêm về phong cách sáng tác của nhà văn
Ba là, người viết muốn ứng dụng lý thuyết về lý luận văn học đã được tiếp thu từ nhà trường vào thực tiễn, đúng hơn là vận dụng tri thức về không gian và thời gian nghệ thuật vào trong tác phẩm văn chương, để từ đó có một cái nhìn đúng đắn hơn về đặc trưng, bản chất, tác dụng của phương diện không gian và thời nghệ thuật trong tác phẩm văn chương Nghiên cứu đề tài này, người viết hy vọng sẽ củng cố và tích lũy thêm về tri thức lý luận văn học
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Dựa vào cơ sở lý thuyết về không gian và thời gian nghệ thuật trong văn học thời kì hậu hiện đại để đối chiếu, phát hiện những độc đáo cũng như vai trò của yếu tố thời gian, không gian nghệ thuật trong sáng tác của Murakami
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Qua việc thống kê, khảo sát, phân tích, giải mã các phương thức biểu hiện, làm rõ yếu tố thời gian và không gian nghệ thuật trong sáng tác của Haruki Murakami nhìn từ tâm thức hậu hiện đại
Trang 134.2 Phạm vi nghiên cứu
Để làm nổi bật lên vấn đề trọng tâm trong đề tài nghiên cứu, người viết chủ yếu tập chung vào vào thủ pháp xây dựng hình tượng không gian và thời gian nghệ thuật trong 3 tác phẩm tiêu biểu
Một là, Rừng NaUy - tác phẩm có tính chất bước ngoặc đã đưa tên tuổi
của Haruki Murakami vang danh khắp thế giới
Hai là, Phía nam biên giới phía tây mặt trời - tác phẩm được xem là
“quyển tiểu thuyết cảm động nhất và có liên quan nhiều nhất đến cuộc đời
của Haruki Murakami”
Ba là, Biên niên kí chim vặn dây cót - tác phẩm có dung lượng lớn nhất
trong các sáng tác của Haruki Murakami, và được đánh giá là đỉnh cao của nghệ thuật ngôn từ theo phong cách hậu hiện đại
Trong quá trình nghiên cứu, người viết cũng có liên hệ với một số tác phẩm tự sự khác của chính Haruki Murakami và các tác giả tiểu thuyết khác
5 Phương pháp nghiên cứu
- Góp phần tiếp tục làm rõ vai trò của yếu tố thời gian và không gian
nghệ thuật trong sáng tác của Murakami
- Khẳng định những sáng tạo về thời gian và không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Murakami
- Minh họa thêm về tài năng, vị trí và những đóng góp của Murakami trong văn chương Nhật Bản
Trang 14NỘI DUNG
Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI
TRONG VĂN HỌC 1.1 Chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học thế giới
Trong những thập niên cuối thế kỷ 20, có một khái niệm, tuy chưa có được một cách hiểu thống nhất, nhưng lại được sử dụng và bàn đến nhiều nhất, đó là khái niệm “chủ nghĩa hậu hiện đại” (postmodernism) Chủ nghĩa hậu hiện đại gần như đã trở thành tinh thần của thời đại mới, vượt qua thời hiện đại và được gọi là thời “hậu hiện đại” hay “kỷ nguyên hậu hiện đại” Chủ nghĩa hậu hiện đại vừa được xem là một chủ thuyết triết học, cũng vừa
là một phong trào xã hội được áp dụng vào hầu khắp các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, nghệ thuật, giáo dục, tôn giáo Trong văn học, con người
đã xây dựng nên cả một hệ thống lý thuyết hậu hiện đại, được dùng để áp dụng vào việc nghiên cứu tác phẩm, làm tiêu chí phân loại và định dạng, vừa
để cụ thể hoá quá trình nhận thức luận về tinh thần văn học hậu hiện đại Như vậy, hậu hiện đại là một cách gọi để chỉ về một sự vận động, mà sự vận động đó đang tạo nên một hệ hình tư duy mới, có nhiệm vụ thay thế cho hệ hình tư duy hiện đại đã không còn phù hợp, kể cả trong kinh tế, chính trị và trong văn hoá tinh thần
Trước tiên, chúng ta phân tích thuật ngữ "hậu hiện đại" (postmodern) Thuật ngữ này lần đầu được sử dụng khoảng thập niên 1870 Trong giai đoạn đó, John Watkins Chapman đề xuất một “phong cách hậu hiện đại trong hội họa”
để vượt qua chủ nghĩa ấn tượng Pháp (French Impressionism) Năm 1914, J
M Thompson viết một bài phê bình tôn giáo, đăng trên tạp chí triết học The
Trang 15Hibbert Journal, sử dụng khái niệm "hậu hiện đại" để miêu tả những đổi thay
trong quan điểm và đức tin để thoát khỏi chủ nghĩa hiện đại
Năm 1917, nhà văn - triết gia Đức Rudolf Pannwitz (1881 – 1969) sử dụng thuật ngữ này để miêu tả sự giáo hóa định hướng chất hiện đại của Friedrich Nietzsche với kết quả cuối cùng là sự điêu tàn và chủ nghĩa hư vô (nihilism)
Từ năm 1921 đến 1925, "chủ nghĩa hậu hiện đại" (postmodernism) được dùng để miêu tả những hình thức mới của nghệ thuật và âm nhạc Đến năm 1939, với tư cách là một lý thuyết chung trong sự vận động của lịch sử,
nó được Arnold J Toynbee sử dụng lần đầu trong tác phẩm Our own
Post-Modern Age (Thời hậu hiện đại của chính chúng ta)
Năm 1942, H R Hays miêu tả thuật ngữ này như một hình thức văn chương mới Đến năm 1949 hậu hiện đại được dùng để cho thấy sự không thỏa mãn trước kiến trúc hiện đại, dẫn tới phong trào "kiến trúc hậu hiện đại" (postmodern architecture), và có lẽ đây còn là phản ứng trước phong trào kiến trúc hiện đại gọi là "Phong cách quốc tế" (International style)
Chủ nghĩa hậu hiện đại là một thuật ngữ bao quát, đa nghĩa, chứa nhận thức hoài nghi về văn hóa, văn chương, nghệ thuật, triết học, kinh tế và những lĩnh vực khác trong đời sống Nó có liên quan với phương pháp phân tích văn chương gọi là "giải cấu trúc" (deconstruction ) và hậu cấu trúc luận (post-structuralism) Trong thế kỷ 20 nó là thuật ngữ phổ biến quan trọng bên cạnh
tư tưởng hậu cấu trúc (post-structural)
Chủ nghĩa hậu hiện đại xuất hiện sau Thế chiến II, được xem là phản ứng trước những hỏng hốc của chủ nghĩa hiện đại Nó hình thành từ sự tổn thương tinh thần, chịu ảnh hưởng lớn bởi những sự kiện như Hiệp định Geneva, những nhà tù Xô Viết, cuộc Cách mạng văn hóa Trung Quốc, bom nguyên tử thả xuống Hiroshima và Nagasaki, nạn tàn sát người Do Thái, bom
Trang 16hủy diệt thành phố Dresden (Đức), những trận bom lửa khiến Tokyo bị thiêu hủy và những trại giam người Mỹ gốc Nhật Nó còn gợi ý sự phản ứng trước những sự kiện hậu chiến quan trọng như tình trạng không an toàn trong thời
kỳ chiến tranh lạnh (1947 - 1991), phong trào đòi quyền cơ bản của người Mỹ gốc Phi (1955-68), hậu quả sau chủ nghĩa thực dân, uy quyền của các tập đoàn đa quốc gia, hệ thống hậu công nghiệp với những kỹ thuật mới và văn hóa tiêu dùng
Phần lớn các học giả đồng ý rằng chủ nghĩa hậu hiện đại bắt đầu cạnh tranh với chủ nghĩa hiện đại từ cuối thập niên 1950 và có ảnh hưởng lớn từ thập niên 1960, sau đó ngày càng định hình trong nhiều loại hình như mỹ thuật, văn chương, phim ảnh, âm nhạc, kịch, kiến trúc và triết học
Trong thập niên 1960, chủ nghĩa hậu hiện đại tác động rõ nét đến sự phát triển của xã hội Nó được ứng dụng rộng rãi trong nhiều loại hình nghệ thuật, ám chỉ đến tình trạng thiếu hệ thống kết nối các thành phần riêng lẻ (cái cho thấy sự phức tạp, mơ hồ và đa nghĩa)
Chủ nghĩa hậu hiện đại từ chối sự tồn tại của bất kỳ nguyên tắc cơ bản nào Nó thiếu tính lạc quan hiện có trong khoa học, triết học và chân lý tôn giáo.Về bản chất, chủ nghĩa hậu hiện đại xuất phát từ sự công nhận thực tại không đơn giản chỉ là sự phản chiếu hiểu biết của nhân loại về thực tại Nó hình thành trong tâm trí để con người cố hiểu chân lý riêng của nó Vì lý do này, chủ nghĩa hậu hiện đại chính là sự hoài nghi cao độ về những lý giải tuyên bố là “chân lý”, đúng đắn cho tất cả các nhóm, các nền văn hóa, các truyền thống hay các chủng tộc, thay vì phải tập trung vào cái đúng cho từng
cá nhân Trong sự hiểu biết về hậu hiện đại, cách hiểu là tất cả; thực tại trở thành cái cốt lõi qua sự hiểu biết của chúng ta, cái mà thế giới có ý nghĩa đối với mỗi cá nhân chúng ta Chủ nghĩa hậu hiện đại tin vào kinh nghiệm cụ thể đối lập với những nguyên tắc, luôn biết rằng kết quả kinh nghiệm riêng của ai
Trang 17đó chỉ là sự tương đối, có thể sai lầm, chứ không phải là điều hoàn toàn chính xác, phổ biến cho tất cả Chủ nghĩa hậu hiện đại phủ nhận tư duy logic, tiếp cận thế giới hoàn toàn chủ quan Người theo chủ nghĩa hậu hiện đại không tin vào chân lý trừu tượng hoặc chân lý phổ biến, cố loại bỏ sự khác biệt giữa cái gọi là văn hóa cao và thấp Họ không tin vào kinh nghiệm trong quá khứ, văn bản nói về quá khứ và cho rằng những gì thuộc về quá khứ không hữu dụng cho hiện tại
Trong thời chủ nghĩa hậu hiện đại, với sự tấn công mạnh mẽ của các phương tiện thông tin đại chúng và sự tiến bộ trong công nghệ, truyền hình và máy vi tính trở nên có ưu thế vượt trội trong xã hội Những tác phẩm nghệ thuật và văn chương đã bắt đầu được sao chép, bảo quản bằng các phương tiện kỹ thuật số Người ta không còn tin các tác phẩm nghệ thuật và văn chương chứa một ý nghĩa duy nhất Họ tin vào sự suy luận, nhận thức riêng của họ về những tác phẩm văn chương và nghệ thuật Internet và các phương tiện media tương tác dẫn tới sự phân bố kiến thức rộng khắp trong xã hội
Như tất cả các khuynh hướng nghệ thuật, chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn chương không cho thấy sự phát triển, phổ biến và suy tàn của nó cụ thể như thế nào Bên cạnh dòng chảy của chủ nghĩa hậu hiện đại vẫn còn đó sự phát triển của chủ nghĩa hiện đại và những trào lưu khác
Văn chương hậu hiện đại được xem là phản ứng chống lại tư tưởng Khai sáng (Enlightenment) - phong trào ủng hộ lý tính, khoa học và sự hợp lý khởi nguồn từ châu Âu trong thế kỷ 17- 18; chống lại cả sự tiếp cận của những người theo chủ nghĩa hiện đại đối với văn chương Nó không thích bị định nghĩa hay phân loại là một “trào lưu” (văn chương) Nó có nhiều kiểu lý thuyết phê bình khác nhau, chấp nhận phản ứng đa chiều của người đọc, kể cả cách tiếp cận "giải cấu trúc" (déconstruction) - phương pháp phân tích văn
Trang 18chương của triết gia Pháp Jacques Derrida Nó phá vỡ cái gọi là "ngầm hiểu", sợi dây liên kết giữa tác giả, văn bản và người đọc thông qua tác phẩm
Riêng tại nước Mỹ thập niên 60, một số nhà phê bình và văn học
sử dùng nhóm từ "Hậu hiện đại" để chỉ những tác gia sinh vào khoảng thập
niên 30, thế hệ sau Hemingway, Faulkner, Caldwell, chủ trương cách tân
tiểu thuyết với những đặc điểm: phi lý, châm biếm, huyền ảo, truyện không cốt truyện, không tình tiết, giọng văn mới lạ, có chất quái dị, kinh hoàng
như John Barth, Donald Berthelme, Robert Coover, William Gass, John
Hawkes, Kurt Vonnegut,
Đối với John Hawkes (sinh năm 1925, tại Stanford), kẻ thù đích thực của tiểu thuyết là: tình tiết, nhân vật và đề tài Để chống lại lối viết hiện thực, ông đưa ra một hình thức tiểu thuyết độc đáo, dựa trên hai yếu tố: châm biếm
và kinh hoàng Trong cuốn The cannibal (Kẻ ăn thịt người) in năm 1949,
Hawkes khắc họa hình ảnh một nước Đức quái đản trong tưởng tượng, trước thế chiến thứ nhất và cuối thế chiến thứ hai, với những nhân vật dị kỳ, phế thải, một thế giới dã man, tàn bạo, "ăn thịt người", thế giới của ác mộng mà
hiện thực không còn chỗ đứng Trong cuốn Whistlejacket (Nhiếp ảnh gia và
người mẫu, tạm dịch theo tựa tiếng Pháp Le photographe et ses modèles)
(1988), ông tả một họa sĩ, muốn vẽ cho thật chính xác bức tranh ngựa, đã mổ ngựa để giảo nghiệm cơ thể; muốn vẽ chân dung hai mẹ con, bèn tìm cách mổ moi (trộm) xác một người mẹ chết vì sinh nở, để vẽ cho sống động Tác phẩm của ông toát ra một thứ ngôn ngữ văn chương lạ kỳ, rùng rợn, mê sảng, một không khí ngụ ngôn thi ca khốc liệt
Robert Coover (sinh 1932), dùng thủ pháp xáo trộn lịch sử, kể lại và di chuyển việc xử tử Rosenberg vào thời cao điểm chiến tranh lạnh của phong trào Mac Carthy Phác họa một chân dung Nixon đầy nọc độc Nghi ngờ tất cả
Trang 19những version chính thức của thực tại Coover bẻ tréo thực tại "chính thức" để tạo ra một thực tại khác với cảm quan độc đáo của mình
Kurt Vonnegut (sinh 1922) đặt những câu hỏi hóm hỉnh: Tại sao chúng
ta lại ở trên trái đất này? Ta có thể làm gì được ở đây? Ta biết gì về thế giới này? Trinh thám giả tưởng là đất dụng võ của ông, ông thích so sánh trái đất với những hành tinh khác để tìm hiểu cõi "vũ trụ buồn" của chúng ta Cố tình pha trộn châm biếm với ngây thơ giả đò, Vonnegut tưởng tượng ra một xã hội
mà những người cầm quyền là những nhà bác học và quần chúng trở nên "vô dụng" Ông tạo ra những tình tiết ly kỳ giữa các thiên thể như hành tinh
Tralfamadore, dùng những gì mà trái đất gọi là di tích lịch sử như Vạn lý trường thành để gửi thông điệp Để giễu cợt "tương lai nhân loại", ông đặt
những câu hỏi lẩn thẩn như "người để làm gì?", "làm sao yêu được đám người
vô dụng?"
Dưới đây có thể thấy một số thủ pháp tiêu biểu được sử dụng trong văn chương hậu hiện đại, tuy nhiên đây không phải là đặc điểm và thủ pháp độc quyền của văn chương hậu hiện đại và không phải bất kỳ nhà văn hậu hiện đại nào cũng sử dụng chúng
Châm biếm (irony): sử dụng lời nói, kịch tính và tình huống trớ trêu để
nhấn mạnh, khẳng định một chân lý hay sự thật nào đó Thí dụ, dùng hình thức so sánh bằng lời mỉa mai, cách nói giảm (litotes) để nhấn mạnh ý nghĩa cái gì đó (sử dụng ngôn ngữ có cân nhắc để đối lập với sự thật) hoặc tuyên bố
rõ ràng, mạnh mẽ điều liên quan đến sự thật; ngoài ra còn những hình thức khác, bao gồm phép biện chứng và thực hành
Trong văn chương hậu hiện đại, tác giả có thể sử dụng hình thức châm
biếm cổ điển (có nguồn gốc từ hài kịch Hy Lạp cổ đại và sự cường điệu của
những nhà tu từ học thời Trung cổ); châm biếm bằng lời (nói ngược lại ý nghĩa của sự vật, hiện tượng); châm biếm kịch tính (sử dụng sự mỉa mai vốn
Trang 20có trong bài phát biểu hoặc tình huống của phim và kịch, miễn sao người đọc
hiểu ý đồ của tác giả); châm biếm lãng mạn (hài hước về giới hạn của bản
thân trong mọi khía cạnh, thường là cười sự trớ trêu một cách lãng mạn và vui
vẻ); châm biếm bi kịch (sử dụng những tình huống éo le, kịch tính trong một
bi kịch, cho thấy lời nói hay hành động của nhân vật sẽ mang lại kết quả bi
thảm nhưng người đọc nhận ra không phải vậy);châm biếm số phận hay châm
biếm vũ trụ (mỉa mai số phận, định mệnh vì nghĩ rằng ông Trời đã kiểm soát,
trêu chọc, đùa vui trước hy vọng và mong ước của con người); châm biếm
hoàn cảnh (mỉa mai một tình huống trong đó hành động có kết quả ngược lại
sự chờ đợi) và những hình thức khác như châm biếm thi ca (poetic- irony); châm biếm lịch sử (historical irony)
Trong văn chương hậu hiện đại còn có hình thức vui đùa (playfulness)
và chuyện khôi hài (black humor), tác giả có thể sử dụng những đoạn trích để
mua vui hoặc châm biếm Nhìn chung, những hình thức châm biếm, khôi hài trong văn chương hậu hiện đại thường nằm trong những chủ đề nghiêm túc Nói như thế, không có nghĩa là bất kỳ nhà văn trào phúng nào cũng được xem
là nhà văn hậu hiện đại Trên thực tế, đã có một số người chuyên viết hài trước đây, bây giờ được dán nhãn là tiểu thuyết gia hậu hiện đại (!) Thí dụ như Joseph Heller, Bruce Jay Friedman, John Barth, hay Kurt Vonnegut
Phân mảnh (fragmentation): là một khía cạnh quan trọng khác của văn
chương hậu hiện đại Người ta có thể tìm thấy những mảnh vụn rời rạc trong cốt truyện, tính cách nhân vật, đề tài, hình ảnh và tình tiết xuyên suốt toàn bộ tác phẩm Nhìn chung, một chuỗi gồm nhiều sự kiện, con số, hành động tiếp nối nhau theo trình tự nào đó, thoạt nhìn có vẻ giống tác phẩm hiện đại, song,
sự khác biệt chính là cách tiếp cận từng mảnh vụn của văn chương hậu hiện đại Sự phân mảnh có thể xuất hiện trong ngôn từ, cấu trúc câu và văn phạm
Trong tiểu thuyết Ζ213: ΕΞΟΔΟΣ (Z213: Ra đi, 2009), nhà văn Hy Lạp
Trang 21Dimitris Lyacos cho thấy phong cách viết gần như là điện báo (telegraphic) Hiếm khi ông sử dụng mạo từ và liên từ, chủ yếu dùng biện pháp tu từ của hình thức nhật ký; phần lớn là ngôn ngữ đời thường, giản dị với sự rối loạn và méo mó của văn phạm Sự khiếp sợ được tạo ra bằng ngôn từ vừa phải, kết hợp để hình thành loại cú pháp không có kết cấu, đứt quãng, dường như chật chội, mà qua đó nỗi sợ hãi trong tiềm thức người đọc có thể tăng lên rồi dịu xuống Sự phân mảnh còn xuất hiện bằng những hình thức khác trong tiểu
thuyết Giovanni’s Room (Căn phòng của Giovanni, 1956) của James Baldwin hay trong kịch Waitingfor Godot (Chờ đợi Godot, 1953) của Samuel Beckett
Theo nhà văn James Morley, nhiều tác giả hậu hiện đại thường tìm kiếm các yếu tố hữu ích trong những hình thức xưa, thí dụ như sử dụng nghệ thuật cắt dán ảnh cho tác phẩm của mình
Nghịch lý (paradox): nghịch lý của văn chương hậu hiện đại là đặt toàn
bộ các nguyên tắc dưới sự giám sát của chủ nghĩa hoài nghi (absurdism), ngay
cả những nguyên tắc riêng cũng có thể bị tra hỏi Chủ nghĩa hoài nghi (hay chủ nghĩa phi lý) có nguồn gốc từ quan điểm của triết gia Đan Mạch Søren Kierkegaard (1813 – 1855), người đã chọn cách đương đầu với những khủng khoảng mà con người phải đối mặt với sự phi lý Chủ nghĩa này không thừa nhận lí trí, khả năng khoa học nhận thức được chân lý, bản chất và quy luật của hiện thực khách quan
Chủ nghĩa hoài nghi cho rằng thế giới bị chi phối bởi những lực lượng phi lý trí, chỉ có thể nhận thức được bằng bản năng, trực giác hay vô thức…Đến cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20, chủ nghĩa này đã trở thành hệ thống với những đại biểu tầm cỡ như Arthur Schopenhauer, Friedrich Nietzsche, Henri Bergson…Chủ nghĩa hoài nghi có liên quan mật thiết với thuyết hiện sinh (existentialism) và thuyết hư vô (nihilism)
Trang 22Về bản chất, xét phương diện nào đó, văn chương hậu hiện đại có thể là
sự chế giễu, sự phi lý, một thể loại không phải hài kịch và cũng không đơn thuần là những hành vi vô nghĩa, nói đúng hơn, nó là sự nghiên cứu về hành
vi con người trong những hoàn cảnh (dù hiện thực hay hư cấu) cho thấy không có mục đích, chứa sự vô lý mang tính triết học Cái phi lý ấy ấn định phần nào đó trong tính cách và hành động của nhân vật và người đọc có thể nhận ra được Điều này thể hiện khá rõ trong vở kịch phi lý "Chờ đợi Godot"
đã nêu ở trên
Liên kết văn bản (intertextuality): văn chương hậu hiện đại thường sử
dụng sự liên kết văn bản: mối quan hệ giữa văn bản này (thí dụ tiểu thuyết) và văn bản khác có kết cấu đan xen trong lịch sử văn chương Liên kết này có thể
là sự tham khảo, trích dẫn, mô phỏng, thảo luận rộng mở hoặc ứng dụng vài quyển sách nào đó trong tác phẩm mới của tác giả Năm 1975, trong một cuộc phỏng vấn trên Pacifica Radio, nhà văn Mỹ Donald Barthelme đã thổ lộ rằng ông chịu ảnh hưởng một số tiểu thuyết gia, đã từng "liên kết văn bản" với những tác phẩm của họ, đặc biệt là đối với Samuel Barclay Beckett (1906 – 989) - nhà văn Ai Len đoạt giải Nobel Văn chương năm 1969
Cóp nhặt (pastiche): kết hợp hoặc "dán" nhiều yếu tố vào nhau Trong
văn chương hậu hiện đại, điều này có nghĩa là tôn trọng hoặc giễu nhại những thể loại trong quá khứ Nó có thể đại diện cho sự hỗn độn, tính đa nguyên hoặc đa khía cạnh thông tin của xã hội hiện đại Kỹ thuật cóp nhặt có thể kết hợp nhiều thể loại để tạo ra một chuyện kể duy nhất hoặc đưa ra những lời bình về sự vật, hoàn cảnh trong thời hậu hiện đại
Siêu hư cấu (metafiction): về cơ bản, siêu hư cấu là cách viết về cách
viết hoặc "làm nổi bật cấu trúc phức tạp của tác phẩm", vì nó là đặc trưng cho cách tiếp cận của người theo chủ nghĩa giải cấu trúc, tạo ra tính chất giả của nghệ thuật hoặc tính chất tiểu thuyết hư cấu mà người đọc có thể nhận ra
Trang 23được, nói chung siêu hư cấu không quan tâm tới sự hoài nghi Thí dụ, sự tri giác hậu hiện đại và siêu hư cấu ra lệnh cho những tác phẩm giễu nhại (parody) cần nhái lại ý tưởng của chính sự giễu nhại
Siêu hư cấu thường được sử dụng để làm suy yếu quyền lực của tác giả, giúp chuyện kể thay đổi bất ngờ, thúc đẩy nội dung theo lộ trình duy nhất, tạo khoảng cách xúc cảm hoặc bình luận hành động kể chuyện Thí dụ, tiểu
thuyết Se una notte d'inverno un viaggiatore (Nếu một đêm đông có người lữ
khách, 1979) của nhà văn Ý Italo Calvino Nội dung nói về một người đang
đọc quyển sách có tựa là Se una notte d'inverno un viaggiatore (chú ý: tựa
sách thật và tựa sách trong truyện trùng tên) Quyển này bắt đầu bằng chương nói về nghệ thuật và bản chất của việc đọc, và sau đó được chia thành hai mươi hai đoạn Những đoạn đánh số lẻ và đoạn cuối cùng cho thấy nhân vật
chính kể chuyện bằng đại từ nhân xưng ở ngôi thứ hai, kể cho người đọc
những gì mà anh ta đang chuẩn bị cho việc đọc ở chương kế tiếp Mỗi đoạn đánh số chẵn là một chương đầu tiên của một quyển tiểu thuyết (tổng cộng 10 quyển khác nhau), có sự thay đổi lớn về chủ đề, thể loại, văn phong Tất cả bị gãy rời, vì những lý do khác nhau được giải thích trong những đoạn rải rác, phần lớn xuất hiện chốc lát trong vài cao điểm của cốt truyện Trong sách có một chương riêng cho thấy nhân vật thứ hai là người nữ
Siêu hư cấu biên sử (historiographic metafiction): một thuật ngữ do
nhà lý thuyết văn chương Linda Hutcheon tạo ra Hutcheon có giải thích: tác phẩm siêu hư cấu biên sử là "những tiểu thuyết phổ biến và nổi tiếng, có sự tự phản thân mãnh liệt nhưng nghịch lý là chưa sắp xếp để khẳng định nhân vật quan trọng và sự kiện lịch sử" Siêu hư cấu biên sử là hình thức nghệ thuật hậu hiện đại điển hình, dựa vào lời kịch, văn thơ nhại và sự tái định nghĩa lịch
sử
Trang 24García Márquez đã sử dụng thành thạo kỹ thuật này trong tiểu thuyết El
general en su laberinto (Vị tướng trong mê cung của mình, 1989), nói về
những ngày cuối đời của nhà cách mạng Simón Bolívar, người lãnh đạo các phong trào giành độc lập ở Nam Mỹ đầu thế kỷ 19
Nhìn chung, có rất nhiều nhà văn thành danh qua kỹ thuật siêu liên kết biên sử, thí dụ như Margaret Atwood, A S Byatt, Angela Carter, Peter Ackroyd, Robert Coover, E L Doctorow, Julian Barnes, Umberto Eco, John Crowley hay Timothy Findley
Bóp méo thời gian (temporal distortion): là kỹ thuật thông thường trong
văn hư cấu hậu hiện đại, thể hiện bằng sự phân mảnh và tự sự phi tuyến tính (non-linear narrative), hai đặc điểm chính trong cả văn chương hiện đại và hậu hiện đại Nhờ kỹ thuật này, tác giả có thể nhảy tới lui bất kỳ thời điểm nào của thời gian Riêng trong văn hư cấu hậu hiện đại, tác giả có thể sử dụng thủ pháp này trong nhiều cách, thường là vì mục đích châm biếm, khôi hài Siêu hư cấu biên sử cũng là một thí dụ cho cách này
Trong quyển Flight to Canada (Chuyến bay đến Canada, 1976), nhà
văn Mỹ Ishmael Reed đã xử lý tinh tế, nghịch ngợm những chi tiết sai thời gian lịch sử, thí dụ cảnh Abraham Lincoln (Tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ)
sử dụng điện thoại Nhìn chung, thời gian đã trở nên méo mó bởi sự pha trộn lịch sử với thực tế chính trị và hài kịch qua lăng kính của Ishmael Reed
Trong Everything Is Illuminated (Mọi điều sáng tỏ, 2002), tiểu thuyết đầu tay
của Jonathan Safran Foer, thủ pháp này hiện rõ qua cảnh nhân vật chính Jonathan Safran Foer đến Ukraine, ở nơi ấy mọi điều đã trở nên cũ kỹ so với nước Mỹ, nơi ông khởi hành
Ngoài ra, thời gian cũng có thể chồng chéo lên nhau, lặp lại hay phân tách trong nhiều sự kiện có thể xảy ra Một số tiểu thuyết của Thomas Pynchon khắc họa những cảnh hồi tưởng hoặc tình tiết quan trọng, trong đó
Trang 25địa điểm nằm trong nhiều giai đoạn thời gian khác nhau Thêm vào đó, bất kỳ nhân vật nghiện ma túy nào của Pynchon cũng bị rối loạn thời gian tương ứng với tình trạng say thuốc của họ - vài nhân vật trải qua cảm giác chồng chéo thời gian, những người khác thấy thời gian lặp lại hoặc bị phân mảnh Trong
truyện ngắn The Babysitter (Cô giữ trẻ), trích từ tuyển tập Pricksongs and
Descants (1969), tác giả Robert Coover cho thấy nhiều sự kiện có thể xảy ra
cùng lúc, ở tiết đoạn này cô giữ trẻ bị giết và cùng lúc ở tiết đoạn khác lại không có gì xảy ra , mọi việc diễn tiến bình thường, câu chuyện chẳng đưa
ra lời giải thích nào rõ ràng về điều này
Bản thể luận (Ontology): xuất phát từ tiếng Hy Lạp Οντολογία, dùng
để chỉ sự nghiên cứu triết học về bản chất sự sống, sự tồn tại, thực tại cũng như các phạm trù cơ bản của sự sống và toàn bộ mối quan hệ của chúng …
Nó là một phần trong phân nhánh quan trọng của triết học gọi là “siêu hình học” (metaphysics), thường nêu những câu hỏi liên quan tới sự tồn tại của những thực thể nào đó Nhìn chung, luận đề cơ bản của bản thể luận là “Tồn tại là gì?”, “Cái gì tồn tại?”, “Sự tồn tại của cái hữu hình là gì?” “Sự tồn tại của cái vô hình là gì?” hay “Nếu một đối tượng vô hình tồn tại thì điều đó có nghĩa gì?”
Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo (magic realism): năm 1925, nhà phê bình
nghệ thuật Đức Franz Roh sử dụng cụm từ này để nói về phong cách hội họa
gọi là Neue Sachlichkeit (Tính khách quan mới), cho thấy đó là một phản ứng
đối với chủ nghĩa biểu hiện trên tạp chí Ý Novecento, do nhà văn - nhà phê bình Massimo Bontempelli biên tập Đến thập niên 1940, nhiều tác giả Mỹ La Tinh kết hợp lý thuyết của Roh và Bontempelli với những khái niệm kỳ lạ của siêu thực Pháp, sáp nhập những thần thoại bản địa và qui tắc truyền thống vào tiểu thuyết Mỹ La Tinh
Trang 26Nhìn chung, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo là một thể loại, trong đó những yếu tố ảo cấu thành bộ phận tự nhiên của môi trường hiện thực thế tục Một tác phẩm hiện thực huyền ảo thường được đánh dấu bằng việc sử dụng tranh ảnh đã xác định rõ, hoặc những vật thể được mô tả một cách siêu thực
Đề tài và chủ đề thường là hư cấu, một cái gì đó xa xăm, không tưởng, giống như một loại giấc mơ nào đó Đặc điểm của thể loại này là sự pha trộn, cái có thật và cái tưởng tượng được đặt cạnh nhau, cho thời gian xoắn vào nhau, luân phiên thay đổi một cách kỳ lạ, thậm chí cốt truyện và lời kể phức tạp đến mức khó hiểu Ngoài ra kỹ thuật này còn là cách sử dụng những giấc mơ hỗn hợp, chuyện thần tiên và thần thoại, sự diễn tả siêu thực và biểu hiện, những kiến thức thần bí, yếu tố tạo ngạc nghiên, gây sốc đột ngột, sự khủng khiếp và điều không thể giải thích được
Trong văn chương hậu hiện đại, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo xuất hiện khi một nhân vật trong truyện vẫn tiếp tục sống bên kia thế giới, vượt qua giai đoạn sống thông thường của con người Điều này được mô tả một cách huyền
ảo, cho thấy nhân vật đó sống xuyên suốt nhiều thế hệ Diễn biến câu chuyện trong một môi trường có thật, nhưng với nhân vật như thế thì qui tắc của thế giới thực sẽ bị phá vỡ
Riêng trong văn chương hậu hiện đại, có những đại diện tầm cỡ như Gunter Grass (Đức), Salman Rushdie (Ấn Độ) và Italo Calvino (Ý).Những tác giả này thường sử dụng chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong tác phẩm của họ Đến đầu thế kỷ 21, một khuynh hướng mới pha trộn chất ngụ ngôn với hiện thực huyền ảo xuất hiện trong những truyện ngắn Mỹ
Hoang tưởng (paranoia): “paranoia” có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp
παράνοια (paranoia) Thuật ngữ này được dùng để miêu tả một loại bệnh tâm thần “Hoang tưởng” là quá trình suy nghĩ tin là bị ảnh hưởng nặng bởi sự lo
âu hay sợ hãi, thường liên quan tới sự phi lý hay lừa dối Ý nghĩ về chứng
Trang 27hoang tưởng có nét đặc trưng là tin bị ngược đãi, tin là có âm mưu nào đó đe dọa mình Thí dụ: “Ai cũng muốn trả thù tôi!”
Tối đa luận (maximalism): là thuật ngữ được dùng để giải thích một
dòng chảy hoặc khuynh hướng chứa mọi nhân tố của thuật ngữ đa mục đích như chủ nghĩa biểu hiện (expressionism) Vì thuật ngữ này thường được dùng
để miêu tả phản ứng chống lại chủ nghĩa tối giản, còn gọi là tối giản luận (minimalism) Nó miêu tả tính chất thừa mứa phơi bày qua sự tích lũy vật dụng phản chiếu xã hội hiện tại Thuật ngữ này còn diễn tả sự khoe khoang tài sản khổng lồ của kẻ siêu giàu hoặc sự ám ảnh xuất hiện thường xuyên trong hành vi của những người bán đồ cũ, những kẻ đã tích lũy quá nhiều vật dụng gia đình trong quá khứ
Tối giản luận (Minimalism): còn gọi là chủ nghĩa tối giản Khái niệm
này trong văn chương thể hiện sự tập trung vào việc mô tả bề mặt, nơi mà độc giả tin rằng họ đóng vai trò hành động trong quá trình sáng tạo câu chuyện Các nhân vật trong truyện ngắn và tiểu thuyết chứa tối giản luận thường không có vẻ gì nổi bật, nói cách khác: rất bình thường Họ chỉ là những lát cắt nhỏ của đời sống Nhìn chung, tối giản luận đối lập với tối đa luận Nó chỉ đại diện cho cái cơ bản nhất, thiết yếu nhất với những mảng miếng cần thiết, thể hiện cụ thể, rõ ràng qua sự kiểm soát chặt chẽ ngôn từ Những tác giả hậu hiện đại ứng dụng tối giản luận thường lưỡng lự khi dùng những tính từ, trạng
từ (phó từ) hay những chi tiết vô nghĩa Thay vì cung cấp từng chi tiết nhỏ, tác giả trình bày một văn cảnh chung, sau đó cho phép trí tưởng tượng của người đọc định hình câu chuyện
Trên thế giới,có thể nói văn chương hậu hiện đại là một khuynh hướng sáng tác phổ biến hiện nay trên thế giới, tập trung nhất có lẽ là ở Hoa Kỳ, với những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Thomas Pynchon, John Barth, Hunter
S Thompson, Kurt Vonnegut, Robert Shea, Robert Anton Wilson, Donald
Trang 28Barthelme, Robert Sheckley, Gilbert Sorrentino, Philip K Dick, Paul Auster, Joseph McElroy, Nicholson Baker, Mark Leyner, Richard Powers, David Foster Wallace, Chuck Palahniuk, Don DeLillo, Donald Antrim, Tim O'Brien, David Markson, Bret Easton Ellis, Christopher Sorrentino, Joshua Cohen và William H Gass…
Ở đây, chúng tôi xin giới thiệu những tác phẩm hậu hiện đại xuất sắc bên ngoài nước Mỹ, ngõ hầu chứng minh sự lan rộng của khuynh hướng sáng tác này
- The Atrocity Exhibition (Sự phơi bày tàn bạo, 1970) của nhà văn Anh
J G Ballard: một quyển tiểu thuyết súc tích, được cắt rời từng phần và mỗi phần có đời sống riêng Mỗi chương lại được chia thành những mảng nhỏ Không có gì rõ ràng cho thấy đâu là khởi đầu, đâu là kết thúc, nghĩa là không theo kết cấu của tiểu thuyết thông thường Nhân vật chính thay đổi tên trong từng chương hoặc câu chuyện (Talbert, Traven, Travis hay Talbot ), vai trò
và cái nhìn của ông ta về thế giới cũng liên tục thay đổi
- Le città invisibili (Những thành phố vô hình,1972) của nhà văn Ý
Italo Calvino: bao gồm những bài thơ tản văn mô tả 55 thành phố do nhân vật chính (nhà thám hiểm Marco Polo) thể hiện; ngoài ra còn có những đoạn đối thoại ngắn giữa Marco Polo và hoàng đế Hốt Tất Liệt (Trung Hoa) xen kẽ mỗi 5-10 thành phố, cho thấy những chủ đề về ngôn ngữ học, bản chất con người và kiến trúc, không giới hạn qui luật vật lý hoặc hạn chế của lý thuyết
đô thị
- It's Me, Eddie (Tôi là Eddie, 1976) của nhà văn Nga Eduard Limonov:
nội dung sách nói về Eddie, một đứa trẻ rời Liên Xô đến nước Mỹ với ảo tưởng giàu sang, có đàn bà, ma túy và tự do nghệ thuật Thế rồi về sau, Eddie lâm vào cảnh nghèo túng, vợ bỏ, rượu chè Câu chuyện cho thấy tình yêu và cảm xúc đan xen trong sự buồn chán của công việc và cuộc sống đô thị Nhìn
Trang 29chung, tác giả chống tất cả, chống lại cả con người, còn cách giải quyết chỉ là nước mắt Văn của Limonov có khuynh hướng vươn tới mức cuồng loạn của cảm xúc, điều này có là tín hiệu tốt hay xấu, tất cả tùy thuộc vào người đọc
- La Vie mode d'emploi (Cuộc sống: phương thức sử dụng, 1978) của
nhà văn Pháp Georges Perec: một quyển tiểu thuyết phức tạp với những tình tiết và ý tưởng đan xen nhau, với những ám chỉ lịch sử và văn chương, dựa trên cuộc sống của cư dân Paris trong chung cư tưởng tượng ở số 11 đường Simon-Crubellier (con đường không có thật) Cấu trúc tác phẩm dựa trên một
số yếu tố, mỗi yếu tố lại kết hợp với một lớp đa phức
- Lanark: A Life in Four Books (Lanark: Cuộc đời trong bốn quyển
sách, 1981) của nhà văn Scốt-len Alasdair Gray: quyển này được viết gần 30 năm mới hoàn tất, từng đoạt giải Sách của năm của Saltire Society và giải David Niven Tiểu thuyết này bao gồm 4 quyển: quyển 1 và 2 là sách giáo dục nhân cách theo chủ nghĩa thực tế trong giai đoạn đầu thời tiền chiến Glasgow; quyển 3 nói về một chàng trai tỉnh dậy trong một toa xe, không còn nhớ quá khứ, phải đặt tên mình theo một bức ảnh quen thuộc trên tường Anh
ta đến Unthank, nơi đó có một thành phố tưởng tượng không có ánh sáng ban ngày, cư dân đã biến mất vì bị những bệnh biểu tượng kỳ lạ; quyển 4 cho thấy nhân vật Lanark bắt đầu cuộc hành trình trở về Unthank giống như một giấc
mơ kỳ quái, với đỉnh điểm của sự tan vỡ, bị tàn phá do xung đột chính trị, thói hám lợi, sự hoang tưởng, suy thoái kinh tế mà anh ta không thể ngăn chặn được
- Il pendolo di Foucault (Thiết bị quả lắc của Foucault, 1988) của nhà
văn - triết gia Ý Umberto Eco: Tiêu đề sách đề cập đến một con lắc có thật,
do nhà vật lý Pháp Léon Foucault thiết kế để chứng minh sự quay của trái đất, trong đó có ý nghĩa biểu trưng của sách Nội dung quyển này tập trung vào sự huyền bí, nhằm cung cấp cách giải thích riêng về thuyết âm mưu của một số
Trang 30nhân vật Trên thực tế, có thể xem quyển này là một bài phê bình, một sự bịp bợm hoặc giải cấu trúc của những âm mưu lớn, bao quát toàn bộ thường được tìm thấy trong văn chương hậu hiện đại
- Хазарски речник / Hazarski rečnik (Từ điển Khazar, 1984) của nhà
văn Séc-bia Milorad Pavić: một tiểu thuyết rất khó nhận ra cốt truyện theo cách thông thường, câu hỏi trọng tâm của sách (sự chuyển giáo của người Khazar) dựa trên sự kiện lịch sử những thập niên cuối thế kỷ 8 hay đầu thế kỷ
9, khi hoàng gia và giới quí tộc Kharar chuyển sang Do Thái giáo Phần lớn nhân vật và sự kiện trong sách đều hư cấu, ngay cả văn hóa của người Kharar (không giống bất kỳ bằng chứng văn học và khảo cổ nào) Quyển này có hình thức ba quyển bách khoa toàn thư mini với sự tham chiếu chéo, tổng hợp từ nguồn Hồi giáo, Thiên chúa giáo, Do Thái giáo; không cho thấy niên đại, mỗi người đọc tự đặt mình vào sách, giống như chơi bài hay domino và tự rút ra kết luận
- Empire of Dreams (Đế quốc của những giấc mơ, 1988) của nhà văn
Puerto Rico Giannina Braschi: miêu tả một cuộc tình dài suốt thập kỷ 1980 ở New York với tất cả những mâu thuẫn của nó Sự trụy lạc và đam mê của thành phố, quyền lực và sự phụ thuộc, sự tráng lệ và nghèo túng trở thành cuộc sống sôi động trong sách, một màn trình diễn lễ hội lấy cảm hứng từ Cuộc diễu hành Ngày Puerto Rico, đậm chất hiện thực huyền ảo kiểu châu
Mỹ La Tinh
nhà văn Nhật Haruki Murakami: một tiểu thuyết đã từng đoạt giải Văn chương Yomiuri, gồm có 3 phần, nội dung xoay quanh nhân vật chính Toru Okada, một người đàn ông trẻ thất nghiệp, tìm kiếm con mèo bị mất tích của
vợ ông Sau đó ông nhận thấy cũng đang tìm kiếm vợ ông trong cõi âm ti nằm dưới lòng thành phố Tokyo yên bình Câu chuyện hư cấu, đậm chất trinh
Trang 31thám, đầy sự đe dọa xen lẫn hài hước, miêu tả một cuộc hôn nhân tan vỡ, một cuộc khai quật những bí mật chôn vùi trong Thế chiến II
- Die Ringe des Saturn: Eine englische Wallfahrt (Những chiếc nhẫn
của Saturn: Một cuộc hành hương trên đất Anh?, 1999) của nhà văn Đức W
G Sebald: tiểu thuyết nói về nhân vật kể chuyện không tên (xưng hô ở ngôi thứ nhất) có cuộc hành trình đi bộ xuyên qua Suffolk, một hạt ở East Anglia, đông bắc nước Anh Nội dung cho thấy sự ám chỉ đến hoàng gia Anh trong quá khứ và bản chất của sự suy tàn, thối nát và mục rửa
- Natural Novel (Tiểu thuyết tự nhiên, 1999) của nhà văn Bungari
Georgi Gospodinov: thể hiện sự phân mảnh phức tạp, chứa nhiều chuyện kể,
sự phản chiếu và những chi tiết…lạc đề; bao gồm lịch sử của những nhà vệ sinh và nghệ thuật viết chữ trên tường (graffiti), một sự suy tưởng về mối quan hệ giữa bầy ong và ngôn ngữ, một sự thể nghiệm viết sách bằng cách sử dụng những động từ có một không hai Quyển này cho thấy những điều buồn cười khó tin qua sự tan vỡ hôn nhân của nhân vật chính, sự không chung thủy của vợ hắn với những người bạn thân của hai vợ chồng và sự mãnh liệt cá nhân, minh họa chân thực cho điều không tưởng trong đời sống hiện nay
- 2666 (Bí số 2666, 2004) của nhà văn Chi Lê Roberto Bolaño: quyển
tiểu thuyết có 5 phần: nói về những nhà phê bình văn chương châu Âu; giáo
sư triết học Oscar Amalfitano; nhà báo Mỹ Oscar Fate; những kẻ giết người hàng loạt ở Santa Teresa; nhà văn bí mật Archimboldi (Hans Reiter) tất cả liên kết ở những mức độ khác nhau, đều liên quan tới những vụ giết hơn 300 người chưa được giải quyết (nạn nhân là những người nữ Mexico trẻ và nghèo ở Ciudad Juárez (khu vực Santa Teresa trong tiểu thuyết)
- Ζ213: ΕΞΟΔΟΣ (Z213: Ra đi, 2009) của nhà văn Hy Lạp Dimitris
Lyacos: một câu chuyện giống như nhật ký cá nhân trong hình thức thơ tản văn hậu hiện đại, cho thấy những chuyến lang thang của một người đàn ông
Trang 32trốn khỏi tòa cao ốc như một cơn ác mộng Nhân dạng của người chạy trốn hay kẻ rượt đuổi không hề được xác định trong cuộc săn lùng ấy, không có nguyên nhân nào cho thấy tại sao người chạy trốn lại bị giam cầm trong tòa cao ốc Hoàn cảnh lúc đó dường như ám chỉ tình trạng của một loại cầm quyền chuyên chế theo thuyết vị lai đã suy tàn Cuộc rượt đuổi không được miêu tả bằng ngôn ngữ hiện thực, nó có liên quan đến chủ nghĩa biểu hiện, tạo
ra cảm giác sắp bị chết đến nơi, cái có thể nhận thấy trong hai quyển của bộ tam bi kịch Poena Damni Ấn tượng chung của quyển Z213 là gợi nhớ đến cuộc tìm kiếm tâm linh hay kinh nghiệm của thuyết mạt thế (eschatological experience)
- Crash (Đâm sầm, 1973) của nhà văn Anh J G Ballard: trong tiểu
thuyết ảo giác này, nhân vật chính Vaughan, "một nhà khoa học truyền hình",
bị ám ảnh tình dục qua những tai nạn xe hơi Gã cho thấy những hoạt cảnh của địa ngục, những "thiên thần ác mộng trên đường cao tốc", những thí nghiệm có hành động tàn bạo, gợi dục trong cảnh đụng xe Crash là một tiểu thuyết gây tranh cãi, thám hiểm vào sự phiền muộn và những khả năng đáng
sợ của xã hội đương đại Công nghệ đóng vai trò trung gian trong mối quan
hệ của con người
1.2 Chủ nghĩa hậu hiện đại trong sáng tác của Haruki Murakami
Chủ nghĩa hậu hiện đại là một hiện tượng văn hóa, có nguyên nhân sâu
xa từ cơ sở xã hội và ý thức của thời đại.Nền văn hóa hậu hiện đại cũng chứa chất chủ nghĩa tương đối cực đoan về mặt nhận thức và màu sắc hư vô về mặt nhân sinh Không tách rời với những đặc điểm đó, nền văn học hậu hiện đại
từ những năm 50, 60 trở đi lan tràn khắp Âu Mỹ và cả Nhật Bản nữa Thời đại
mà con người giống như nhân vật của Samuel Beckett băn khoăn: Tôi sinh ra hay không sinh ra, tôi đã sống hay không sống, tôi đã chết hay chỉ là đang chết, tất cả những điều này không quan trọng Tôi chỉ sẽ làm như từ trước đến
Trang 33nay tôi vẫn luôn luôn làm trong tình trạng không hay biết gì về những việc tôi làm, về việc tôi là ai, từ đâu đến, và tôi có tồn tại thực hay không?
Văn học Nhật Bản điển hình cho sự liên kết chặt chẽ trong tổ chức của
họ và thể hiện thái độ đóng cửa đối với các tổ chức khác Khuynh hướng các nhà văn thống nhất thành những nhóm đã ít nhiều khiến nguồn tư liệu trong văn học Nhật Bản bị hạn chế Các nhà văn chuyên nghiệp trở nên rất thống nhất trong nhóm của họ đến nỗi họ dường như không biết gì về thế giới bên ngoài Thế giới quan của người Nhật chuyển biến bởi sự thâm nhập của các
hệ thống tư tưởng nước ngoài khác nhau không nhiều bằng sự bám chặt dai dẳng vào thế giới quan bản xứ và vào sự tích hợp bản sắc Nhật Bản đến các
hệ thống ngoại nhập Nhật Bản những năm đầu của thế kỷ XX là một Nhật Bản đang trên đà phát triển và hội nhập Những làn gió phương Tây thổi vào đem lại cho Nhật Bản truyền thống những luồng sinh khí mới Nét chung của văn học hiện đại Nhật Bản là văn hóa phương Tây vẫn không ngừng hấp dẫn các nhà văn trong khi truyền thống Nhật Bản lại khơi nguồn cảm hứng Haruki Murakami là một trong những nhà văn mới hứng trọn luồn sinh khí
ấy Phong cách hành văn trong tác phẩm của ông rõ ràng mang nhiều dấu vết của văn học phương Tây, đạo cụ và góc nhìn Tây hóa Văn hóa phương Tây, nhạc jazz, spaghetti là một phần tạo nên âm sắc riêng cho tiểu thuyết Murakami Ông bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi những nhà văn Mỹ như Kurt Vonnegut, Raymond Chandler, Richard Brautigan cũng như Frank Kafka và
Fyodor Dostoyevski Cho nên Will Slocombe (Anh) kết luận: “Murakami
không hẳn là một nhà văn Nhật mà có khi là một nhà văn phương Tây viết bằng tiếng Nhật” Một mặt, tác phẩm của Murakami bị xem là “lai căng”,
mâu thuẫn với thế hệ những nhà văn gạo cội của Nhật Mặt khác, theo đánh giá của nhà văn Masatsugu Ono, Murakami chính là người tạo nên diện mạo văn học Nhật đương đại, bản thân ông là động lực cho các nhà văn đồng
Trang 34hương; Murakami không hẳn đã phá vỡ bức tường bao quanh nền văn học Nhật nhưng là người có công đầu đẩy bức tường đó xa khỏi biên giới Nhật Bản, đưa văn học Nhật đến với thế giới Theo chúng tôi, bản sắc dân tộc Nhật Bản và diện mạo Murakami - nhà văn đương đại Nhật Bản, là sự hòa quyện thống nhất Trong một bài phê bình năm 2005, trên tờ The New Yorker, tác
giả John Updike từng viết: "Dù tác phẩm của ông nhan nhản sự tham khảo
văn hóa đương đại Mỹ, đặc biệt là âm nhạc bình dân; dù ông miêu tả chi tiết
sự sáo rỗng, tầm thường của giới trẻ phương Tây, lối kể chuyện của ông vẫn rất đáng mơ ước và gần với tính chất siêu thực mềm dẻo, linh hoạt của Kobo Abe hơn là tính chất cứng nhắc, mãnh liệt của Yukio Mishima và Jun'ichirō Tanizaki” Đối với sáng tác của Murakami cái vị Nhật Bản ấy, không nguyên
chất, đậm đặc như các bậc tiền bối trước ông mà nó được gia giảm, trộn lẫn trong một hỗn hợp “nhiều dư vị” Nhân vật trong tác phẩm của Murakami là những con người luôn sống cuộc đời độc lập, phóng khoáng như là một bản nguyên Họ không phải là một sự sao chép theo một khuôn mẫu nào Tính hậu hiện đại thể hiện ở điểm này vì tin theo một đại tự sự nào đó thì đánh mất bản nguyên của mình Vấn đề ở đây là nhân vật từ biệt đại tự sự để cho cuộc sống của mình bộc lộ cái bản nguyên vốn có Vấn đề là Murakami đưa ra một chân dung thuyết phục, sống động của đời thường chứ không nên khuôn định nó bằng những mô thức sẵn có Ông là người luôn luôn chống lại những mô thức tiền giả lập: Kimono, hoa anh đào, kịch Nol Văn học Nhật thường chú trọng đến vẻ đẹp ngôn từ, do đó có thể khiến cho khả năng diễn đạt bị giới hạn và trở nên cứng nhắc, trong khi phong cách của Murkami tương đối thoáng đạt
và uyển chuyển Với các tác phẩm quan trọng lần lượt được giới thiệu ở Việt
Nam và các nước trên thế giới: Rừng Nauy, Biên niên ký chim vặn dây cót,
Phía nam biên giới phía tây mặt trời, và Kafka bên bờ biển Haruki Murakami
trở thành sự xuất hiện ấn tượng, tên tuổi ông nổi lên với phong cách tiểu
Trang 35thuyết độc đáo, đại diện cho một “nước Nhật mới” được khai phóng mãnh liệt năng lượng của cảm giác, dục tính và tâm linh, một thể loại văn chương thách thức lối viết duy lý và vượt ra ngoài sự bế tắc của các trường phái tri thức trong lối kể chuyện hậu hiện đại Người đọc có thể cảm thức một cách sâu sắc những ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại, tư duy phương Tây thể hiện rõ nét trong tác phẩm của ông: kỳ ảo, lắp ghép, ám ảnh và sex Ở đó, chúng ta
có thể phát hiện những vết tích phi lý của Kafka, tìm thấy triết lí hiện sinh của
F Nietzsche, A Camus, huyền ảo của Market hay nhiều nhà hiện đại khác
Murakami Haruki là một tiểu thuyết gia nổi tiếng của văn học Nhật Bản đương đại.Tác phẩm của ông thể hiện rõ những đặc trưng của bút pháp hậu hiện đại như cách kể chuyện, hệ thống nhân vật và sự đan xen giữa hiện thực
và huyền ảo Bằng cách viết này, ông đã gửi đến người đọc những thông điệp
về số phận con người, về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội và về sự hỗn độn của thế giới hiện nay Đọc tiểu thuyết Murakami bằng lý thuyết hậu hiện đại là một con đường để tiếp cận và khám phá những thông điệp nghệ thuật được mã hóa trong tác phẩm
Tính chất hậu hiện đại trong tiểu thuyết của Murakami Haruki thể hiện trước hết ở vấn đề thể loại Tất nhiên, sự phân loại trong thế giới văn học thông thường chỉ có ý nghĩa tương đối, nhưng tác phẩm của Murakami là một thách thức lớn đối với chủ trương phân biệt “văn học thuần túy” và “văn học đại chúng”, như quan niệm của Oe Kenzaburo được trình bày trong những bài viết có ý phê phán Murakami Haruki Trên thực tế, Murakami không quan tâm đến vấn đề thể loại của tác phẩm, không có ý định làm hài lòng những tên tuổi lớn trên văn đàn Nhật Bản bằng cách gò ngòi bút của mình theo những tiêu chí của “văn học thuần túy” mà họ đặt ra, và điều đó được thể hiện rõ ràng qua kiểu viết “phá cách” của ông, từ ngôn ngữ diễn đạt đến hệ thống nhân vật và cấu trúc tác phẩm
Trang 36Khác với những nhà văn Nhật Bản thời hậu chiến thường viết một cách
“nghiêm túc” về những vấn đề xung đột xã hội, Murakami mô tả, thông qua bản đồ nhận thức, những mối quan hệ có vấn đề và không được định nghĩa rõ ràng giữa cá nhân và xã hội trong một bầu không khí xã hội đang thay đổi triệt để ở nước Nhật hậu hiện đại Do đó, tác phẩm của Murakami là sự phản ánh chân thực hình ảnh của một đất nước Nhật Bản hiện đại - một xã hội ở giai đoạn phát triển cao - nhưng mọi vấn đề trong bức tranh nhiều màu sắc đó đều ở trong tình trạng phân mảnh, rời rạc, bỏ ngỏ Điều đó dẫn đến những thái
độ tiếp nhận khác nhau, thậm chí đối lập nhau, đối với những tác phẩm này Tiểu thuyết của Murakami, trong khi được độc giả ở Nhật Bản và nhiều nước khác trên thế giới, đặc biệt là những độc giả trẻ tuổi, đón nhận nồng nhiệt thì lại bị một số nhà văn, nhà phê bình Nhật Bản phê phán gay gắt, loại ra khỏi thế giới của những tác phẩm thuần văn học Có thể thấy sự bất định về thể loại trong tác phẩm của Murakami, tuy không làm thay đổi định hướng sáng tác hay vị trí của tác giả trên văn đàn, là một biểu hiện khá rõ nét của văn học hậu hiện đại, thể hiện chủ trương chống lại cách nhìn nhận theo kiểu phân biệt rạch ròi giữa thật và giả, trắng và đen, cái tốt và cái xấu
Một đặc điểm quan trọng khác của thế giới tiểu thuyết Murakami là tính phi trật tự của cấu trúc tác phẩm Tiêu biểu cho cách cấu trúc này là tác
phẩm Cuộc săn cừu hoang - một tiểu thuyết được viết vào thời gian đầu của
sự nghiệp văn chương Murakami nhưng mới được dịch ra tiếng Việt trong
thời gian gần đây Cuộc săn cừu hoang tuy ít nhiều có đặc điểm của một tiểu
thuyết trinh thám, trong đó tác giả kể lại một cuộc hành trình săn đuổi khá cuốn hút, nhưng cốt truyện được cấu trúc theo kiểu phân mảnh, rời rạc Truyện bắt đầu bằng lời kể của nhân vật “tôi” về việc đi dự đám tang của một người quen cũ, rồi cuộc đối thoại với người vợ mới ly hôn, rồi sự xuất hiện của cô người mẫu tai - sau đó trở thành bạn gái mới của “tôi”, tiếp đó là
Trang 37những lá thư của Chuột, rồi mới đến sự xuất hiện của người lạ mặt với những tình tiết kỳ lạ lôi cuốn nhân vật vào cuộc săn tìm con cừu có một vết chàm hình ngôi sao trên lưng Khó tìm thấy một sự giải thích hợp lý cho trình tự sắp xếp những phần khác nhau cấu trúc nên tác phẩm, và có những tình tiết, nhân vật của phần trước không có mối liên hệ hay một sự tiếp nối nào trong phần sau Điều đó làm cho người đọc có cảm tưởng như câu chuyện được kể một cách ngẫu nhiên, rời rạc chứ không phải tác phẩm là một hệ thống những tình tiết được sắp xếp theo một cấu trúc nào đó Cách kể chuyện tương tự cũng được thực hiện với tiểu thuyết Biên niên ký chim vặn dây cót Còn tác phẩm
Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới hay Kafka bên bờ biển thì có
kết cấu theo kiểu song tuyến: những chuyện xảy ra ở “xứ sở diệu kỳ tàn bạo”
và ở “chốn tận cùng thế giới”, hay câu chuyện về Koichi Tamura và ông già Nakata được kể đan xen nhau
Tất nhiên, trình tự của một câu chuyện xảy ra và trình tự mà tác giả lựa chọn để kể lại câu chuyện đó trong một cuốn tiểu thuyết không phải bao giờ cũng trùng lặp Nhà văn có quyền cấu trúc các phần của một cuốn sách theo ý của mình, có thể đảo ngược trình tự thời gian của câu chuyện mình muốn kể, sao cho tác phẩm đạt hiểu quả nghệ thuật cao nhất Nhưng ở các tác phẩm của Murakami, dường như câu chuyện được kể một cách ngẫu nhiên, và bản thân câu chuyện ấy cũng không có một kết cấu logic, trọn vẹn Cách kể chuyện này như một sự thách thức đối với bất kỳ sự tưởng tượng hay suy đoán nào theo kiểu logic thông thường ở độc giả Và trong cái thế giới được sắp đặt theo kiểu ngẫu nhiên đó, một vật lưu niệm, một con người hay một mối quan
hệ có thể biến mất hay chấm dứt bất cứ lúc nào mà không cần lý giải, như trường hợp phong bì đựng tiền của người đàn ông lạ được Hajime cất trong
ngăn kéo trong tiểu thuyết Phía Nam biên giới phía Tây mặt trời, hay con mèo trong Biên niên ký chim vặn dây cót Điều đó tạo cho người đọc cảm giác
Trang 38như tác giả đang kể về một thế giới bề bộn trong đó mọi thứ không được tổ chức theo bất cứ một trật tự nào Một thế giới gồm những thực thể rời rạc tồn tại bên cạnh nhau như một sự lắp ghép ngẫu nhiên
Tương ứng với cấu trúc phi trật tự là ngôn ngữ kể chuyện đơn giản và giọng điệu hài hước Khác với những nhà văn yêu thích vẻ đẹp hoa mỹ của ngôn từ và chú trọng đến việc thể hiện vẻ đẹp này trong tác phẩm, đặc biệt là những nhà văn tâm đắc với tính mơ hồ của tiếng Nhật và tìm cách khai thác triệt để tính chất này trong công việc viết văn, Murakami kể chuyện bằng một thứ ngôn ngữ đơn giản, mạch lạc Cả lời thoại của nhân vật hay lời kể chuyện trong tác phẩm hầu hết đều được trình bày dưới dạng những câu ngắn Đặc điểm này làm cho tác phẩm của Murakami có một không khí lạnh lùng, rời rạc, phù hợp với việc trình bày một cốt truyện không hệ thống Thêm vào đó, người kể chuyện thường quan sát hiện thực với đôi mắt thờ ơ, hoặc miêu tả,
trần thuật bằng giọng giễu cợt Chẳng hạn, đây là một cảnh trong Cuộc săn
cừu hoang được miêu tả qua cái nhìn của nhân vật “tôi”, trong hoàn cảnh
nhân vật này đang chuẩn bị dấn thân vào cuộc hành trình tìm kiếm con cừu
theo yêu cầu của người lạ mặt: “Lúc mười giờ sáng, cái ô tô lố bịch to như
tàu ngầm ấy đợi tôi bên ngoài khu chung cư Từ cửa sổ tầng ba nhà tôi, chiếc limousine trông giống như một cái máy cắt bánh quy bằng sắt lộn ngược hơn
là một cái tàu ngầm Người ta có thể cho ra một cái bánh khổng lồ mà ba trăm đứa trẻ phải mất hai tuần mới ăn hết”
Những đoạn văn như thế có thể tìm thấy khắp nơi trong tiểu thuyết của Murakami Ngoài ra, tác giả còn sử dụng hàng loạt những tên gọi hài hước để đặt cho các nhân vật, các hình tượng trong tác phẩm: “Chuột”, “giáo sư Cừu”,
“Người Cừu”, “Cá Trích”, “Cá Thu”, “khách sạn Cá Heo”, “chim vặn dây cót”, “cái thằng tên là Quạ”,
Trang 39Một đặc trưng không thể không nói đến của tiểu thuyết Murakami là
việc sử dụng phổ biến các chi tiết huyền ảo, siêu thực Trong Kafka bên bờ
biển, nhân vật chứng kiến cảnh tượng một trận “mưa cá”, trong Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới thì tồn tại cả một hệ thống ngầm được gọi
là “nhà máy” ngay dưới lòng đất của thành phố Tokyo, còn Cuộc săn cừu
hoang thì nói đến chuyện con cừu có vết chàm hình ngôi sao nhập vào cơ thể
của một số người Có thể thấy trong thế giới truyện kể của Murakami, hiện thực và siêu thực cùng tồn tại, thậm chí hòa lẫn vào nhau mà không cần một
sự giải thích nào, như thể đó là một trạng thái hiển nhiên - trạng thái của một thực tại hỗn độn trong đó mọi lằn ranh đều bị xóa nhòa hay biến mất
Tính chất hậu hiện đại trong tiểu thuyết của Murakami Haruki không chỉ thể hiện ở hình thức hay bút pháp xây dựng tác phẩm, mà còn là sự trình bày, miêu tả một thế giới theo cảm quan hậu hiện đại Thế giới này chủ yếu được mô tả thông qua hệ thống nhân vật trong tác phẩm
Trong tiểu thuyết của Murakami, nhân vật xưng “tôi” thường là nhân vật chính, đảm nhận vai trò người kể chuyện Nhân vật này trước hết là hình ảnh về con người đô thị trong một xã hội phát triển cao- một xã hội “tự động hóa” bởi hàng loạt máy móc hiện đại, và cũng là một xã hội tiêu dùng với bề bộn hàng hóa và đầy đủ tiện nghi, nhưng rất ít không gian cho sự tiếp xúc tình
cảm giữa con người với con người Những nhân vật xưng “tôi” trong Xứ sở
diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới, Biên niên ký chim vặn dây cót hay Cuộc săn cừu hoang đều là những con người như vậy Họ là những hình ảnh
không có diện mạo và tính cách rõ ràng Trong một vài tác phẩm, nhân vật chính thể hiện một thái độ thờ ơ với mọi thứ xung quanh, không thể hiện một mối quan tâm nào đặc biệt Trong tác phẩm khác, họ có thể là những người theo đuổi một vấn đề nào đó, có thể dấn thân vào một cuộc hành trình, nhưng điều đó không làm cho họ trở thành một nhân cách rõ ràng hơn, và cuộc hành
Trang 40trình đó cũng không xuất phát từ bản chất sự tồn tại của nhân vật Nói cách khác, cái tôi được thể hiện trong tiểu thuyết của Murakami không giống như một thành viên trong một tập thể gắn kết, mà như những mảnh vụn, trôi dạt trong một không gian lạnh lùng, xa lạ Như vậy, cái tôi không còn là một hình tượng rõ ràng với vai trò chủ thể trong câu chuyện, mà đã trở thành một cái tôi mờ nhạt, bị phân mảnh, đúng như cách nhận xét của một nhân vật về cá thể và con người: “Cá thể như chúng ta vẫn biết sẽ không còn tồn tại, và tất cả trở nên hỗn độn Con người ta thôi không còn là một thực thể độc đáo không thể lặp lại nữa, mà tồn tại đơn thuần như một hỗn độn”
Với những hình ảnh mờ nhạt đó, không nói đến chuyện phân biệt theo kiểu nhân vật chính diện - phản diện, người tốt - người xấu mà ngay cả việc xác định diện mạo, tính cách của nhân vật cũng rất khó khăn Khi tự nói về mình, nhân vật “tôi” trong một tiểu thuyết của Murakami đã phác họa một hình ảnh đơn điệu trong một cuộc sống tẻ nhạt: “lớn lên tại một thị trấn nhỏ bình thường, đi học ở một trường bình thường”, “gặp một cô gái bình thường,
có một mối tình đầu bình thường”, “có một con mèo đực làm vật nuôi trong nhà”, “có ba bộ com lê, sáu chiếc cà vạt, cộng với một bộ sưu tập năm trăm đĩa nhạc đã lỗi thời hết thuốc chữa”, “uống bia vào mùa hè, whisky vào mùa đông” Miêu tả như thế là tác giả đã cung cấp cho người đọc một hình ảnh mơ
hồ, không có đường nét nào để gây ấn tượng, không có điểm nhấn nào để người đọc có thể phân biệt nhân vật này và những người khác Đó là cách làm cho cái tôi chủ thể bị chìm lấp trong ý niệm chung về con người, làm cho cái tôi bị biến mất trong một không gian xã hội rời rạc và mông lung
Cùng với vẻ ngoài mờ nhạt và vô cảm, nhân vật “tôi” trong thế giới tiểu thuyết Murakami còn được xây dựng như là những con người sống trong tâm
trạng cô đơn khủng khiếp: “Tôi nghĩ là trên thế giới có vô số cây, vô số chim
chóc, vô số cơn mưa, vậy mà tôi không thể hiểu được lấy một cây long não và