1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tình hình chăn nuôi lợn nái sinh sản và phòng trị bệnh phân trắng lợn con tại trại lợn nguyễn thanh lịch, xã ba trại huyện ba vì hà nội

75 301 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

*Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn nái chửa: Trong khi nuôi dưỡng lợn nái chửa cần cung cấp đầy đủ dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển của bào thai, nhu cầu duy trì của bản thân lợn m

Trang 1

HẦU TUẤN ANH

Tên đề tài:

TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI LỢN NÁI SINH SẢN VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON TẠI TRẠI LỢN NGUYỄN THANH LỊCH

XÃ BA TRẠI - HUYỆN BA VÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính Quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2012 – 2017

Thái Nguyên, năm 2016

Trang 2

HẦU TUẤN ANH

Tên đề tài:

TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI LỢN NÁI SINH SẢN VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON TẠI TRẠI LỢN NGUYỄN THANH LỊCH

XÃ BA TRẠI - HUYỆN BA VÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính Quy Chuyên ngành: Thú y

Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2012 – 2017 Giảng viên HD: ThS Nguyễn Thu Trang

Thái Nguyên, năm 2016

Trang 3

Cuối cùng em xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân và bạn bè đã động viên, giúp đỡ em hoàn thành tốt việc học tập nghiên cứu của mình trong suốt quá trình học vừa qua

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái nguyên, ngày tháng năm 2016

Sinh viên

Hầu Tuấn Anh

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Cơ cấu đàn lợn qua các năm (2013 - 2015) 8

Bảng 2.2 Lƣợng thức ăn cho lợn nái chửa giống ngoại 12

Bảng 2.3 Sự phát triển của bộ máy tiêu hóa heo con 29

Bảng 2.4 Nhiệt độ thích hợp cho heo con theo mẹ 30

Bảng 4.1 Khẩu phần ăn cho đàn lợn 43

Bảng 4.2 Kết quả phục vụ sản xuất 50

Bảng 4.3 Tình hình đẻ của đàn lợn nái 51

Bảng 4.4 Một số chỉ tiêu số lƣợng lợn con của các loại lợn nái 52

Bảng 4.5 Một số chỉ tiêu khối lƣợng lợn con của các loại lợn nái 54

Bảng 4.6 Tình hình cảm nhiễm bệnh sinh sản sau đẻ của các loại lợn nái 55

Bảng 4.7 Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo các tháng 56

Bảng 4.8 Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo tính biệt 56

Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh phân trắng lợn con 57

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

LỜI CÁM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu của đề tài 2

1.2.2 Yêu cầu của đề tài 3

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 4

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 4

2.1.2 Đặc điểm cơ sở vật chất của trại 5

2.1.3 Đối tượng và kết quả sản xuất của cơ sở (trong 3 năm) 8

2.2 Cơ sở khoa học của đề tài 9

2.2.1 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái 9

2.2.2 Kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ 19

2.2.3 Sinh lý tiết sữa của lợn nái 24

2.2.4 Những đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ 27

2.2.5 Đặc điểm bệnh phân trắng lợn con 32

2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 38

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 38

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 39

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 40

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 40

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 40

Trang 7

3.3 Nội dung nghiên cứu 40

3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 40

3.4.1 Phương pháp theo dõi 40

3.4.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu 41

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 41

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42

4.1 Công tác phục vụ sản xuất 42

4.1.1 Công tác chăn nuôi 42

4.1.2 Công tác thú y 46

4.2 Kết quả nghiên cứu 51

4.2.1 Tình hình đẻ của đàn lợn nái tại trại 51

4.2.2 Số lượng lợn con của các loại lợn nái 52

4.2.3 Khối lượng lợn con của các loại lợn nái 53

4.2.4 Tình hình cảm nhiễm bệnh sinh sản sau đẻ của các loại lợn nái 55

4.2.5 Tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng 55

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59

5.1 Kết luận 59

5.2 Đề nghị 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

là cơ hội làm giàu cho người dân

Trong những năm gần đây, nhờ việc áp thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất đã thúc đẩy tổng đàn lợn tăng, cơ cấu đàn lợn đa dạng, khả năng phòng bệnh tốt, làm cho năng suất chăn nuôi ngày càng tăng lên, thời gian nuôi được rút ngắn, lợi nhuận chăn nuôi ngày càng cao Bên cạnh

đó, Đảng và Nhà nước ta luôn có những chính sách, biện pháp cụ thể nhằm phát triển ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng Theo quyết định số 10/2008/QĐ-TTg về việc phê duyệt chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020, “Về chăn nuôi lợn: phát triển nhanh quy mô đàn lợn ngoại theo hướng trang trại, công nghiệp ở nơi có điều kiện về đất đai, kiểm soát dịch bệnh và môi trường; duy trì ở quy mô nhất định hình thức chăn nuôi lợn lai, lợn đặc sản phù hợp với điều kiện chăn nuôi của nông hộ và của một số vùng Tổng đàn lợn tăng bình quân 2,0% năm, đạt khoảng 35 triệu con, trong

đó đàn lợn ngoại nuôi trang trại, công nghiệp chiếm 37%”

Trang 9

Do nhu cầu tiêu thụ ngày càng lớn, ngành chăn nuôi lợn nước ta đang chuyển mình từ chăn nuôi nhỏ lẻ, chăn nuôi hộ gia đình sang chăn nuôi tập trung với quy mô vừa, lớn và chăn nuôi chủ yếu là các giống lợn ngoại Những giống lợn ngoại có khả năng sinh trưởng, phát triển nhanh nhưng khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh và chống chịu bệnh tật còn kém Đây là vấn đề khó khăn mà các trang trại chăn nuôi thường gặp phải

Đối với các trang trại chăn nuôi lợn nái, vấn đề thường gặp và cũng là vấn đề nan giải hiện nay vẫn là bệnh phân trắng lợn con ở lợn con theo mẹ Bệnh xuất hiện lúc ồ ạt, lúc lẻ tẻ tùy vào sự thay đổi ít, nhiều của các yếu tố chăm sóc, nuôi dưỡng và sự thay đổi của thời tiết khí hậu, với tỷ lệ mắc bệnh cao 70% - 80%, có nơi 100%, tỷ lệ chết có thể 18% - 20% (Đào Trọng Đạt và cs., 1986) [5] Khi lợn con bị bệnh điều trị lâu ngày không khỏi sẽ gây ra chi phí điều trị cao, lợn con bị còi cọc, chậm lớn, giảm sức đề kháng đối với các bệnh khác, ảnh hưởng đến khối lượng cai sữa của đàn lợn giống, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của đàn lợn con sau này Chính vì vậy

mà bệnh phân trắng lợn con đã được nghiên cứu từ rất lâu, để từ đó tìm ra nguyên nhân, biện pháp phòng và trị hiệu quả sao cho đạt kết quả tốt nhất

Xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn sản xuất cũng như góp thêm tư liệu

về quy trình tiêm phòng, vệ sinh phòng bệnh, điều trị bệnh phân trắng lợn con

tại trại lợn giống có hiệu quả, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tình

hình chăn nuôi lợn nái sinh sản và phòng trị bệnh phân trắng lợn con tại trại lợn Nguyễn Thanh Lịch, xã Ba Trại, huyện Ba Vì, Hà Nội”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu của đề tài

- Tìm hiểu quy trình chăn nuôi, vệ sinh phòng bệnh của trại chăn nuôi

- Nắm được thực trạng bệnh phân trắng lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại chăn nuôi

Trang 10

- Ứng dụng một số phác đồ điều trị bệnh phân trắng lợn con có hiệu quả

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

- Tìm hiểu đúng, đầy đủ về thực trạng chăn nuôi lợn nái sinh sản và tình hình phòng trị bệnh phân trắng tại trại lợn Nguyễn Thanh Lịch

- Số liệu đưa ra dưới dạng bảng biểu

- Thực hành công tác thú y cơ sở và công tác chăn nuôi

- Nâng cao kiến thức thực tiễn, tăng khả năng tiếp xúc với thực tế chăn nuôi

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý: Trại lợn Nguyễn Thanh Lịch nằm tại xã Ba Trại - một trong bảy xã miền núi của huyện Ba Vì – thành phố Hà Nội, nằm trong vùng bán sơn địa

- Phía Đông giáp với xã Tản Lĩnh

- Phía Tây giáp xã Thuần Mỹ

- Phía Bắc giáp xã Cẩm Lĩnh

Đặc điểm khí hậu thời tiết: Trại lợn Nguyễn Thanh Lịch chịu sự ảnh

hưởng trực tiếp của khí hậu miền Bắc, bị chi phối bởi các yếu tố vĩ độ Bắc, cơ chế gió mùa Sự phối hợp giữa cơ chế gió mùa và vĩ độ tạo nên khí hậu nhiệt đới ẩm, có sự khác biệt rõ rệt giữa mùa nóng và mùa lạnh nên có thể phân ra làm 4 mùa Mùa đông lạnh, hanh khô có kèm theo gió mùa, mưa ít Mùa hè nóng, mưa nhiều Giữa hai mùa đó lại có hai thời kỳ chuyển tiếp (tháng 4 và tháng 10), còn được gọi là mùa xuân và mùa thu Đó là một trong những yếu

tố khách quan tác động đến quá trình sinh trưởng, phát triển của vật nuôi và

phẩm chất của nông sản

Lượng mưa:

Lượng mưa trung bình năm 2.500 mm, phân bố không đều trong năm,

tập trung nhiều vào tháng 7, tháng 8

Nhiệt độ:

Nhiệt độ bình quân năm là 23,400C Mùa nóng bắt đầu từ cuối tháng

4 đến giữa tháng 9, khí hậu nóng ẩm và mưa nhiều rồi mát mẻ, khô ráo vào tháng 10 Mùa lạnh bắt đầu từ giữa tháng 11 đến hết tháng 3 Từ cuối tháng 11 đến tháng 1 rét và hanh khô, từ tháng 2 đến hết tháng 3 lạnh và mưa phùn kéo dài từng đợt Trong khoảng tháng 9 đến tháng 11, có những ngày thu với tiết trời mát mẻ và sẽ đón từ hai đến ba đợt không khí lạnh yếu tràn về

Trang 12

Độ ẩm:

Độ ẩm không khí trung bình năm: 86,1% Vùng thấp thường khô hanh vào tháng 12, tháng 1

2.1.2 Đặc điểm cơ sở vật chất của trại

Trại lợn Nguyễn Thanh Lịch được xây dựng trên diện tích đất 2 ha, trong đó kết hợp cả vườn cây ăn quả Có 1 chủ trại, 1 quản lý, 2 kỹ sư, 2 tổ trưởng, 1 nấu ăn, 24 công nhân trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn

Ưu điểm: Trại có vị trí thuận lợi cho việc vận chuyển các sản phẩm từ trại đi tiêu thụ, cũng như vận chuyển thức ăn vào trại, nằm giữa rừng đều cách

xa nhà dân, xa các nơi sinh hoạt xã hội nên tránh được việc tiếp xúc với bên ngoài, giảm thiểu được dịch bệnh lây lan từ ngoài vào cũng như từ trong trại

ra bên ngoài

Trại được xây dựng theo hướng Đông Nam nên đón được nắng buổi sáng, tránh được nắng buổi chiều, trại nằm ở sườn đồi nên việc thoát nước rất

dễ dàng, mùa mưa khô ráo không bị ngập nước phân Giữa phần dành cho lợn

mẹ và phần dành cho lợn con được ngăn cách bởi khung sắt, tránh lợn mẹ đè chết lợn con

Sàn chuồng cách biệt với mặt đất, có nhiều lỗ để thoát phân thoát nước tiểu nên giữ được chuồng luôn khô ráo, sạch sẽ, tiết kiệm được diện tích Giữa phần cho lợn mẹ và lợn con có khung sắt chỉ cho lợn con qua lại nên giảm tỷ

Trang 13

Ưu điểm: Tiết kiệm được diện tích, dễ theo dõi chăm sóc, tránh được

sự cắn nhau gây sẩy thai, thuận tiện cho việc tiêm phòng cho lợn chửa

Nhược điểm: Sự vận động của lợn nái bị hạn chế, lợn nằm xuống đứng

Ưu điểm: sàn chuồng cách biệt với mặt đất, có nhiều lỗ để thoát phân thoát nước tiểu nên giữ được chuồng luôn khô ráo, sạch sẽ, tiết kiệm được diện tích Giữa phần cho lợn mẹ và lợn con có khung sắt chỉ cho lợn con qua

lại nên giảm tỷ lệ lợn con bị mẹ đè

Nhược điểm: diện tích chuồng hẹp Nền chuồng hở nên việc che chắn

gió gặp khó khăn

+ Chuồng cách ly

Có 1 chuồng được thiết kế theo kiểu chuồng hở, ở đây là nơi nhập lợn mới chuyển về trại Trại này có 4 ô, mỗi ô có các chiều đo là: dài x rộng x cao

= 6 x 5 x 1.2 (m) Có một lối đi chung để tiện cho lợn ăn và lùa lên trại bầu

Ưu điểm: mỗi chuồng nền được lát bằng xi măng và có diện tích đủ rộng để lợn có thể vận động thoải mái

Nhược điểm: lợn hậu bị nuôi nhốt và chưa tập lợn ỉa đúng chỗ nên ỉa phân toàn chuồng, là điều kiện để phát sinh mầm bệnh và lây lan từ con ốm sang con lành

- Thiết bị sản xuất (hệ thống nghiền, trộn, sấy, soi tinh trùng, máy hấp )

- Trại có các loại máy móc: Máy quạt công suất lớn, máy nén, máy hàn

- Trại có các loại các dụng cụ như thùng đá, chổi quét, ki hốt phân, xe đẩy cám, xe đẩy phân

Trang 14

- Trại có tổng đàn lợn khoảng 1580 lợn nái Chuồng bầu với 1264 con nái Chuồng đẻ với 263 con nái Chuồng cách ly có 30 con lợn mới nhập về đang được cách ly

- Trong trại có các loại thuốc:

Apisur, Oxytetracyclin, Amoxycillin, Bcomlex, Oxytoxcin, AD3E, Colistin, Glucose và các thuốc sát trùng chuồng trại Omicid, vôi bột…

Các loại các thiết bị để tiêm chích như seringe, kim tiêm các cỡ, dụng

cụ để phối giống như ống phối, bình xịt sinh lý mặn

Hệ thống cấp thoát nước của trại lợn được lấy từ nguồn nước giếng bơm lên đài có dung tích 20m3

cấp nước cho toàn bộ hệ thống chuồng lợn và

hệ thống mương thoát nước thải, do đó đảm bảo vệ sinh môi trường rất tốt cho khu vực dân cư sinh sống

2.1.2.2 Năng lực lao động

Lao động là nguồn lực hết sức quan trọng của sản xuất Khoa học và công nghệ phát triển thì vai trò của lao động hết sức to lớn vì lao động không chỉ là yếu tố sản xuất mà còn là chủ thể của quá trình lao động sản xuất

Do đặc thù của trại lợn chăn nuôi có lao động hầu hết nặng về kỹ thuật, đòi hỏi năng lực nhiệp vụ, tay nghề hết sức quan trọng trong mọi thao tác hàng ngày Việc bố trí tổ chức hợp lý, định mức lao động phù hợp là một trong những vấn đề mà người quản lý cần phải quan tâm

Trang 15

Đối với chuồng trại luôn đảm bảo quy trình:

+ Hạn chế người ngoài vào khu chăn nuôi

+ Thực hiện sát trùng các dụng cụ chăn nuôi đưa từ ngoài vào

+ Cổng khu chuồng trại có hố sát trùng

+ Rửa sạch và phun thuốc sát trùng

+ Lợn mới nhập về phải nuôi ở khu chuồng cách ly

+ Dùng chế phẩm iốt để tẩy uế và giữ vệ sinh môi trường

2.1.2.4 Tình hình dịch bệnh

Trong thời gian chúng tôi thực tập ở trại lợn từ ngày 23/5/2016 do thời tiết khí hậu thất thường làm ảnh hưởng đến quá trình sinh bệnh cho lợn con như bệnh ỉa phân trắng, tiêu chảy lợn con Tuy nhiên, ở trại lợn cũng ít khi xuất hiện bệnh như tụ huyết trùng, dịch tả, thương hàn bởi trại lợn chăn nuôi rất chú trọng đến vấn đề phòng dịch

18/11/2015-2.1.3 Đối tượng và kết quả sản xuất của cơ sở (trong 3 năm)

Bảng 2.1 Cơ cấu đàn lợn qua các năm (2013 - 2015)

Loại lợn

Số lượng lợn của các năm (con) Tỷ lệ tổng đàn

năm 2015 (%)

Trang 16

Bảng trên cho thấy tổng số lợn của trại có sự tăng lên và giảm xuống đáng kể qua 3 năm (2013 – 2014 - 2015):

Từ năm 2013 đến 2014 số nái sinh sản tăng từ 1136 con lên 1343 con (tăng 207 con), tuy nhiên tính đến tháng 11/2015 thì số nái sinh sản này chỉ còn 1167 con (giảm 176 con)

Trong khi đó số nái hậu bị lại có xu hướng tăng đều qua 3 năm, năm

2013 có 300 con và đến tháng 11/2015 tổng số nái hậu bị là 360 con Cũng giống như số nái hậu bị thì số đực hậu bị cũng tăng thêm 1 con với tổng số 4 con ở 2014 và giữ nguyên con số này đến tháng 11/2015 Con số tăng này đã nói lên việc chú trọng về mặt chất lượng cũng như sự chuẩn bị tốt để cho ra đời những lứa lợn con mới của trại

Số đực khai thác bị giảm dần trong 3 năm từ 22 con (năm 2013) giảm xuống 21 con (năm 2014) và đến tháng 11/2015 con số này tiếp tục giảm xuống còn 19 con Điều này cho thấy tinh lợn có chất lượng tốt, đáp ứng đủ nhu cầu của việc phối giống

2.2 Cơ sở khoa học của đề tài

2.2.1 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái

* Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái chửa

Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái chửa có vai trò quan trọng trong dây chuyền sản xuất lợn con giống Mục đích và yêu cầu kỹ thuật chăn nuôi lợn nái có chửa nhằm đảm bảo cho thai phát triển bình thường, không bị xảy thai hoặc

đẻ non, mỗi lứa đẻ nhiều con, lợn con có sức sống cao, khối lượng sơ sinh cao, lợn mẹ phát triển bình thường, lợn nái kiểm định có sức khỏe tốt đủ tiêu chuẩn chuyển lên đàn nái cơ bản Lợn mẹ dữ trữ đủ chất dinh dưỡng để tiết sữa nuôi con sau này, không bị hao mòn lớn

Trại nái Nguyễn Thanh Lịch là trại gia công của công ty CP nên thực hiên quy trình nuôi dưỡng của công ty

Trang 17

- Phương pháp phát hiện lợn có chửa:

Thời gian chửa của lợn nái bình quân là 114 ngày Người ta chia thời gian chửa của lợn nái làm 2 chu kỳ:

+ Thời kỳ chửa kỳ I: là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu tiên

+ Thời kỳ chửa kỳ II: là thời gian lợn có chửa từ ngày chửa thứ 85 ngày đến khi đẻ

Việc phát hiện lợn nái chửa ở thời kỳ II dễ dàng hơn chửa kỳ I vì bào thai lúc này phát triển mạnh, bụng to và xệ hơn Trong thực tiễn có nhiều phương pháp phát hiện lợn nái có chửa nhanh và chính xác như phương pháp căn cứ vào chu kỳ động dục của lợn nái, dùng máy siêu âm, phương pháp đo điện trở âm đạo, phương pháp chẩn đoán trong phòng thí nghiệm

- Quy luật sinh trưởng phát dục của bào thai lợn:

+ Giai đoạn phôi thai (1 - 22 ngày): Đặc điểm của giai đoạn này là hợp

tử bắt đầu phân chia nhanh chóng từ một khối tế bào thành các lá phôi Đồng thời ở thời kỳ này, nhau thai chưa hình thành nên cơ thể mẹ chưa có sự bảo vệ hợp tử Giai đoạn này phải chú ý khâu chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý đầy đủ

- Những biến đổi của cơ thể mẹ trong thời gian có chửa:

Trong thời gian có chửa, sự tổng hợp vật chất của cơ thể mẹ được đẩy mạnh, còn quá trình oxy hoá giảm tương đối Quá trình trao đổi chất và năng lượng tăng lên do sự đẩy mạnh các quá trình này ở cả cơ thể mẹ cũng như cơ thể phôi thai

Trang 18

Quá trình trao đổi nhiệt của cơ thể mẹ trong thời gian mang thai tăng lên mạnh Đồng thời với quá trình này là sự tích lũy các chất dinh dưỡng trong cơ thể mẹ tăng dần Trong giai đoạn lợn nái chửa, cơ thể trao đổi chất rất mạnh, quá trình đồng hóa lớn hơn quá trình dị hóa

*Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn nái chửa:

Trong khi nuôi dưỡng lợn nái chửa cần cung cấp đầy đủ dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển của bào thai, nhu cầu duy trì của bản thân lợn mẹ và tích lũy một phần cho sự tiết sữa nuôi con sau này Riêng đối với lợn nái tơ còn cần thêm dinh dưỡng cho bản thân để tiếp tục lớn lên nữa

Giai đoạn chửa kỳ 1, 2 dùng khẩu phần có tỷ lệ protein là 13% - 14%, năng lượng trao đổi không dưới 2900 Kcal/kg thức ăn Nhưng ở giai đoạn 2, mức ăn cần phải tăng từ 15% - 20% so với giai đoạn chửa kỳ 1 Giai đoạn chửa kỳ 1, bào thai chưa phát triển, vì vậy nhu cầu dinh dưỡng chủ yếu cho lợn nái giai đoạn này là để duy trì cơ thể lợn mẹ, một phần không đáng kể để nuôi thai Giai đoạn chửa kỳ 2, tốc độ phát triển của bào thai rất nhanh, vì vậy cần cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho bào thai phát triển ở giai đoạn cuối để lợn con sinh ra đạt được khối lượng sơ sinh theo yêu cầu của từng giống

Khi xác định lượng thức ăn cho lợn nái chửa/ngày chúng ta cần chú ý các yếu tố: Giống và khối lượng cơ thể lợn nái, giai đoạn chửa, thể trạng của lợn nái, tình trạng sức khỏe của lợn nái, nhiệt độ môi trường và chất lượng thức ăn Ví dụ như nái chửa kỳ 2 cho ăn nhiều hơn nái chửa kỳ 1, lợn nái gầy cho ăn nhiều hơn lợn nái bình thường, mùa đông khi nhiệt độ xuống dưới 15°C thì cho lợn ăn nhiều hơn 0,3 - 0,5 kg thức ăn so với nhiệt độ 25°C - 30°C

để tăng khả năng chống rét cho lợn

Nguồn thức ăn sử dụng cho lợn nái chửa: nếu là chăn nuôi công nghiệp chúng ta sử dụng thức ăn hỗn hợp và bổ sung thêm rau xanh càng tốt, một ngày từ 3 - 4 kg rau xanh/nái (cho nái chửa kỳ 1), và từ 2 - 3 kg/con/ngày (chửa kỳ 2) Đối với lợn nái nuôi theo phương thức nhỏ, tận dụng (lợn nái

Trang 19

nội) có thể cho ăn các thức ăn địa phương có sẵn như ngô, cám gạo, bột sắn, đậu tương, hoặc trộn phối các loại thức ăn đậm đặc theo tỷ lệ quy định

Đối với lợn nái tơ chửa lần đầu, có thể cho ăn tăng hơn từ 10% - 15%

vì ngoài cung cấp dinh dưỡng để nuôi thai còn cần cho sự phát triển của cơ thể lợn mẹ

Đối với lợn nái sau khi tách con cần áp dụng chế độ ăn uống để tăng số trứng rụng và sẽ làm tăng số con đẻ ra trên lứa

Bảng 2.2 Lượng thức ăn cho lợn nái chửa giống ngoại

(kg thức ăn/nái/ngày)

Giai đoạn

Thể trạng lợn nái Nái

gầy

Nái bình thường Nái béo

xanh

xanh

(hoặc 0)

0,5 (hoặc 0) 0,5 (hoặc 0)

Lợn nái chửa cần hạn chế thức ăn nhiều tinh bột và cho ăn thêm rau xanh Trong trường hợp chăn nuôi công nghiệp không có điều kiện cho ăn rau xanh thì thức ăn cần bổ sung đầy đủ các thức ăn, khoáng và vitamin để tăng cường chuyển hóa thức ăn để chống táo bón Trước khi đẻ một tuần cần giảm thức ăn đạm để phòng bệnh căng vú sau đẻ

Trang 20

Không cho lợn nái chửa ăn những loại thức ăn có chất độc, thức ăn bị hôi thối, mốc, các chất kích thích dễ gây sảy thai như lá thầu dầu, khô dầu bông, hoặc bỗng bã rượu Không nên sử dụng quá nhiều thức ăn khô dầu để nuôi lợn nái có chửa, sẽ tạo cho cơ bắp và mỡ lợn con biến tính, lợn con đẻ ra yếu ớt, tỷ lệ nuôi sống kém

Không cho lợn nái ăn quá nhiều thức ăn vào 30 ngày đầu sau khi phối giống có chửa, kể cả lợn nái gầy

Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái chửa là qua các giải đoạn từ lúc phối đến lúc

đẻ lợn nái được ăn khẩu phần ăn một cách hợp lý và khoa học, còn kỹ thuật nuôi dưỡng có thêm phần dinh dưỡng cho nái chửa giúp lợn nái háo thụ cao dưỡng chất

* Kỹ thuật chăm sóc, quản lý lợn nái chửa:

Vấn đề quan trọng trong công tác chăm sóc quản lý lợn nái chửa là phòng bệnh sảy thai, nhất là làm tốt công tác bảo vệ thai, làm cho thai sinh trưởng phát dục bình thường, tránh các tác động cơ giới gây đẻ non hoặc sẩy thai, nhất là trong giai đoạn chửa kỳ II

 Vận động: Trong điều kiện chăn nuôi có bãi chăn thả thì đối với lợn nái chửa kỳ I chú ý cho lợn nái vận động, nhất là đối với những lợn nái quá béo

Thời gian vận động hợp lý là 1 - 2 lần/ngày với 60 - 90 phút/lần Lợn nái chửa kỳ II thì hạn chế cho vận động, trước khi đẻ một tuần chỉ cho lợn đi lại trong sân chơi

Chú ý, khi thời tiết xấu và những nơi có địa hình không bằng phẳng, nhiều rãnh không cho lợn vận động Trước khi vận động nên cho lợn con uống nước đầy đủ để lợn không uống nước bẩn ở bãi chăn

 Tắm chải: đây là công việc rất cần thiết có tác dụng làm sạch da, thông lỗ chân lông để tăng cường trao đổi chất, tuần hoàn, gây cảm giác dễ

Trang 21

chịu, phòng chống bệnh ký sinh trùng ngoài da Ngoài ra, còn tạo điều kiện gần gũi giữa người và lợn nái để thuận tiện cho việc nuôi dưỡng chăm sóc lợn nái khi đẻ Việc tắm rửa cho lợn chửa cần tiến hành hàng ngày, đặc biệt trong mùa hè nóng bức, ngoài tác dụng kể trên còn có tác dụng chống nóng cho lợn chửa

 Chuồng trại: phải đảm bảo đúng theo quy định cho lợn nái chửa, theo từng thời kỳ chửa Mật độ nhốt: chửa kỳ I mỗi lô từ 3 - 5 con, chửa kỳ II nhốt

1 con một lô Trong chăn nuôi công nghiệp ở giai đoạn chửa kỳ 2 có thể nhốt mỗi con một cũi Trước khi đẻ 1 tuần cần chuyển lợn lên cũi đẻ

Yêu cầu chuồng trại phải đảm bảo vệ sinh thú y, khô ráo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông

Cần tạo không khí yên tĩnh, thoải mái cho lợn chửa nghỉ ngơi dưỡng thai Không gây tiếng ồn xáo trộn không cần thiết có ảnh hưởng đến lợn

Mỗi nái chửa cần có một phiếu theo dõi về hình thức chửa như thời gian chửa, những biến cố sảy ra trong quá trình mang thai, nguy cơ sảy thai,

tỷ lệ chết thai… để có biện pháp xử lý đề phòng

 Công tác thú y đối với lợn nái chửa: Trước khi đẻ 10 ngày cần tẩy nội ngoại ký sinh trùng (bằng trộn thuốc vào thức ăn hoặc tiêm theo hướng dẫn của bác sĩ thú y)

Ô chuồng cần được cọ rửa sạch, phun sát trùng bằng thuốc sát trùng Crezin 5% hoặc bằng loại thuốc sát trùng khác

Hằng ngày quan sát phát hiện biểu hiện không bình thường của lợn, kiểm tra sức khỏe, đo thân nhiệt xem lợn có sốt nóng không

Công tác tiêm phòng: tiêm định kỳ các loại vắc xin dịch tả, tụ - dấu, Lepto 2 lần/nái/năm

Quy trình tắm ghẻ: thường xuyên phát hiện ghẻ để điều trị kịp thời Ngoài ra 14 ngày trước ngày dự kiến đẻ, tắm lần thứ nhất sau đó 7 ngày tắm lần thứ hai Đây là điều kiện bắt buộc để dự phòng lợn mẹ bị ghẻ rồi lây truyền sang lợn con ngay từ sau sinh

Trang 22

Cần tiêm vaccine E coli cho lợn nái chửa vào lúc 6 tuần và 2 tuần

trước khi đẻ, liều lượng: 2 ml/con, tiêm bắp

Lợn nái được đưa từ chuồng bầu sang chuồng đẻ từ 5 - 7 ngày so với ngày đẻ dự kiến

* Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái nuôi con:

Mục đích của chăn nuôi lợn nái nuôi con là áp dụng các biện pháp khoa học để tăng sản lượng sữa mẹ, đảm bảo cho lợn mẹ có sức khỏe tốt, lợn con sinh trưởng phát triển nhanh, đạt số con sau cai sữa và khối lượng cai sữa cao Lợn nái chóng được phối giống trở lại sau khi tách con

Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng sữa và chất lượng sữa Đó là thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ, cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mì, loại củ quả, đạm động vật, các loại khoáng, vitamin…

Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất,

hư hỏng

Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng quy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal, protein 15%,

Ca từ 0,9 - 1,0%, P 0,7%

Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con:

- Trong quá trình nuôi con, lợn nái được chăn như sau:

Đối với lợn nái ngoại:

+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do

+ Sau ngày đẻ thứ 1, thứ 2 và thứ 3 cho thức ăn hỗn hợp với lượng thức

Trang 23

Lượng thức ăn/nái/ngày = 2 kg + (số con x 0,35 kg/con)

+ Số bữa ăn trên ngày: 2 bữa (sáng, chiều)

+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì bớt đi 0,5 kg thức ăn/ngày

+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2 kg rau xanh/ngày sau bữa ăn tinh, nếu

có rau xanh

+ Một ngày trước khi cai sữa, cho lợn mẹ ăn giảm đi 20 - 30 %

+ Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn

+ Đối với những lợn nái có số con lớn hơn 10, đàn con mập, lợn mẹ gầy thì cho lợn mẹ ăn theo khả năng (không hạn chế) bằng cách tăng số bữa ăn/ngày cho lợn mẹ

Đối với lợn nái nội:

Công thức tính nhu cầu thức ăn cho lợn nái nội nuôi con/1 ngày đêm: Lợn nái nội có khối lượng cơ thể dưới 100 kg, mức ăn trong 1 ngày đêm được tính như sau:

Thức ăn tinh = 1,2 kg + (số lợn con theo mẹ x 0,18 kg)

Thức ăn thô xanh: 0,3 đơn vị

Lợn nái nội có khối lượng 100 kg trở lên, mức ăn cho 1 ngày đêm giai đoạn nuôi con được tính như sau:

Thức ăn tinh = 1,4 kg + (số con theo mẹ x 0,18 kg)

Thức ăn thô: 0,4 đơn vị

Định mức ăn cho một lợn nái nội nuôi con/1 ngày đêm

 Kỹ thuật cho ăn

+ Lợn nái nuôi con trong thời gian mới đẻ mỗi bữa cho ăn một ít một, nhưng cho ăn làm nhiều lần, thường một ngày cho ăn 3 - 4 bữa Khoảng cách giữa các bữa nên chia đều nhau

+ Cho ăn đúng giờ, đúng tiêu chuẩn quy định

Trang 24

+ Cung cấp đủ nước uống cho lợn nái nuôi con

+ Khi chuyển sang dùng thức ăn cho giai đoạn nuôi con, để tránh gây ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa do thay đổi thức ăn, ta phải thay dần dần

+ Chú ý theo dõi khả năng ăn và tình trạng sức khỏe của lợn nái để có biện pháp can thiệp kịp thời

 Vận động: Vận động tắm nắng là điều kiện tốt giúp cho lợn nái nhanh hồi phục sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa của lợn mẹ Do vậy sau khi lợn đẻ được từ 3 - 7 ngày, trong điều kiện chăn nuôi có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì cho lợn nái vận động, thời gian vận động lúc đầu là 30 phút, về sau tăng dần số giờ vận động lên Khi thời tiết xấu thì không cho lợn nái vận động Khi cho vận động chú ý đề phòng cảm lạnh, bẩn vú, những lợn nái có bầu vú quá sệ thì cho vận động trong sân chơi Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong các cũi đẻ, không được vận động,

vì vậy phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt là các khoáng và vitamin

 Chuồng trại: chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo khô ráo, sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt Do vậy hằng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn máng uống sạch sẽ Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 180C - 200C, ẩm độ là 70% - 75%

Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con

Diện tích chuồng nuôi cho lợn nái:

Chuồng nền cứng: 4 - 5 m2 chuồng ở/1 lợn nái và 15 m2sân chơi/1 lợn nái

Chuồng sàn (nuôi công nghiệp): kích thước 2,4 m x 1,6 m, với một cũi cho lợn mẹ trong chuồng có kích thước từ 2,2 - 2,4 m x 0,70 m

 Kỹ thuật cho lợn con bú:

Lợn con sau khi đẻ 1 - 2 giờ đã biết tìm vú mẹ, nên sau khi lợn đẻ phải nhanh chóng cho lợn con bú sữa đầu càng sớm càng tốt

Trang 25

Lần cho bú đầu tiên phải tập cho lợn con bú và cố định đầu vú để lợn con quen với vị trí vú của mình Khi cố định đầu vú cho lợn con thì những con yếu, có khối lượng sơ sinh thấp, ta cho bú ở những vú phía trên ngực, còn những con khỏe mạnh và có khối lượng sơ sinh cao hơn thì cho bú ở những

vú phía sau Để cho những con nhỏ có thể bú được nhiều sữa hơn, tạo tỷ lệ đồng đều trong đàn lợn con

Cần lưu ý trong khi bú sữa mẹ, phải giữ yên tĩnh, để lợn mẹ có thể tiết sữa được tốt hơn

 Đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ:

Để có những biện pháp nuôi dưỡng thích hợp đối với lợn mẹ cũng như quyết định thời gian tập ăn sớm cho lợn con là một việc rất quan trọng Hàng ngày chúng ta quan sát những biểu hiện bên ngoài của đàn lợn con, từ đó đánh giá sản lượng sữa của lợn mẹ, đề ra những biện pháp tác động trong khâu chăm sóc nuôi dưỡng, để tăng sản lượng lợn mẹ

Việc đánh giá sản lượng sữa của lợn mẹ khó khăn hơn nhiều so với bò sữa, bởi vì phải tiêm oxytoxin để kích thích thải sữa Chúng ta có thể đánh giá lượng sữa của lợn mẹ thông qua các phương pháp sau:

Quan sát biểu hiện bên ngoài của đàn lợn con và lợn mẹ: nếu lượng sữa` của lợn mẹ tiết ra nhiều thì lợn con sinh trưởng phát triển nhanh, lông da bóng mượt Đồng thời quan sát thấy 2 hàng vú của lợn mẹ mọng lên, đầu vú căng ra hai bên Hình dáng của vú trước và vú sau khi cho bú thay đổi rõ rệt Nếu thời gian tiết sữa của lợn mẹ dài thì sản lượng sữa sẽ cao hợn và ngược lại Nếu quan sát thấy lợn con biết ăn sớm thì chứng tỏ sản lượng sữa của lợn

mẹ thấp Nếu đầu vú của lợn mẹ bị lợn con cắn thủng thì những lợn nái đó có sản lượng sữa thấp

Cân khối lượng lợn con toàn ổ trước và sau mỗi lần bú mẹ: sự chênh lệch về khối lượng đó chính là lượng sữa tiết ra của lợn nái 1 lần, rồi nhân với

số lần cho lợn bú trong ngày, chúng ta cũng có thể biết được lượng sữa tiết ra của lợn nái

Trang 26

Hiện nay người ta sử dụng tổng khối lượng lợn con toàn ổ lúc 21 ngày tuổi để đánh giá sản lượng sữa của lợn mẹ

2.2.2 Kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ

Mục đích của việc chăn nuôi lợn con giai đoạn bú sữa là áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật để lợn con đạt khối lượng cai sữa cao, khi nuôi thịt lợn sinh trưởng phát triển nhanh, đồng thời là cơ sở để tạo giống tốt và nâng cao được sức sống của lợn con

Trước tiên là khâu trực đẻ phải đảm bảo để tỷ lệ số con sơ sinh còn sống cao nhất, đây là công việc rất cần thiết, lợn con đẻ ra được lau khô bằng vải xô mềm sạch theo trình tự miệng, mũi, đầu, mình, bốn chân Sau đó cắt rốn, sát trùng và cho vào lồng úm Tiếp theo với tiến hành bấm nanh, bấm số tai và thiến lợn đực

Lưu ý: cho lợn con bú sữa đầu

Lợn con giai đoạn theo mẹ có 3 thời kỳ quan trọng, chúng ta cần tìm hiểu rõ để có biện pháp tác động thích hợp

- Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi:

Là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn

về môi trường, bởi vì lợn con chuyển từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể

mẹ sang điều kiện tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài Do vậy nếu nuôi dưỡng không tốt, lợn con dễ bị mắc bệnh, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp

Mặt khác, lúc này lợn con mới đẻ còn yếu ớt, chưa nhanh nhẹn Lợn

mẹ vừa đẻ xong, cơ thể còn mệt mỏi, đi đứng còn nặng nề vì sức khỏe chưa hồi phục, nên dễ đè chết lợn con Cần nuôi dưỡng chăm sóc tốt lợn con ở giai đoạn này để giảm tỷ lệ chết

- Thời kỳ 3 tuần tuổi:

Là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quy luật tiết sữa của lợn

mẹ gây nên Sản lượng sữa của lợn nái tăng dần sau khi đẻ và đạt cao nhất ở giai đoạn 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa của lợn mẹ giảm nhanh, trong khi

Trang 27

đó nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng, phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu, để giải quyết mâu thuẫn này, cần tập cho lợn con ăn sớm vào 7 - 10 ngày tuổi

- Thời kỳ ngay sau khi cai sữa:

Là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi hoàn toàn,

do yếu tố cai sữa gây nên Mặc khác, thức ăn thay đổi, chuyển từ thức ăn chủ yếu là sữa lợn mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp Nên giai đoạn này, nếu nuôi dưỡng chăm sóc không chu đáo, lợn con rất dễ còi cọc, mắc bệnh đường tiêu hóa, hô hấp

- Cho lợn con bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn con:

Lợn con đẻ ra cần được bú sữa mẹ càng sớm càng tốt, vì sữa đầu có hàm lượng chất dinh dưỡng rất cao Thời gian tiết sữa đầu của lợn nái là 1 tuần đầu kể từ khi đẻ nhưng có ý nghĩa lớn nhất đối với lợn con là trong 24 giờ đầu

Sữa đầu có hàm lượng các chất dinh dưỡng rất cao Hàm lượng protein

trong sữa đầu gấp 2 lần so với sữa thường, vitamin A gấp 5 - 6 lần, vitamin C gấp 2,5 lần, vitamin B1 và sắt gấp 2,5 lần Đặc biệt trong sữa đầu có hàm lượng gama globulin mà sữa thường không có Ngoài ra, Mg++

trong sữa đầu

có tác dụng tẩy các chất cặn bã trong quá trình tiêu hóa ở thời kỳ phát triển thai, để hấp thu chất dinh dưỡng mới, nếu không nhận được Mg thì lợn con sẽ

bị rối loạn tiêu hóa, gây ỉa chảy tỷ với lệ chết cao

Việc cố định đầu vú cho lợn con nên bắt đầu ngay từ khi cho chúng bú sữa đầu Theo quy luật tiết sữ của lợn nái, thì lượng sữa tiết ra ở các vú phần ngực nhiều hơn những vú ở phần bụng Nếu để lợn con tự bú thì những con to khỏe thường tranh bú ở những vú phía trước ngực có sữa nhiều hơn, dẫn đến

tỷ lệ đồng đều của đàn lợn con rất thấp Khi cố định đầu vú, nên ưu tiên những con lợn nhỏ yếu được bú các vú phía trước ngực Công việc này đòi

Trang 28

hỏi phải kiên trì, tỉ mỉ, bắt từng con cho bú và cho bú nhiều lần trong một ngày, làm như vậy liên tục 3 - 4 ngày để chúng quen hẳn với vị trí vú mới thôi

- Bổ sung sắt cho lợn con:

Trong những ngày đầu, khi lợn con chưa ăn được, lượng sắt mà lợn con tiếp nhận từ nguồn sữa mẹ không đủ cho nhu cầu của cơ thể, vì vậy lợn con cần được bổ sung thêm sắt

Nhu cầu sắt cần cung cấp cho lợn con ở 30 ngày đầu sau đẻ là 210 mg/ngày Trong đó lượng sắt lợn mẹ cung cấp từ sữa chỉ đạt 10 - 20 mg/ngày, lượng sắt thiếu hụt cho 1 lợn con khoảng 150 - 180 mg, vì vậy mỗi lợn con cần cung cấp thêm lượng sắt thiếu hụt Trong thực tế thường cung cấp thêm

200 mg

Nên tiêm sắt cho lợn con trong 3 - 4 ngày đầu sau khi sinh Việc tiêm sắt thường cùng làm với thao tác khác để tiết kiệm công lao động Nếu cai sữa lợn con ở lúc 3 tuần tuổi, tiêm 1 lần 100 mg sắt là đủ Nếu cai sữa sau 3 tuần tuổi, nên tiêm 200 mg sắt chia làm 2 lần, lần 1 tiêm lúc 3 ngày tuổi, lần 2 tiêm lúc 10 - 13 ngày tuổi Trại lợn Nguyễn Thanh Lịch tiến hành cai sữa cho lợn con lúc 21 ngày tuổi nên chúng tôi bổ sung sắt một lần

Triệu chứng điển hình của thiếu sắt là thiếu máu, hàm lượng Hemoglobin giảm Khi thiếu sắt, da lợn con có màu trắng xanh, đôi khi lợn con bị ỉa chảy, ỉa phân trắng, lợn con chậm lớn có khi tử vong

Có thể bổ sung sắt bằng cách tiêm hoặc cho ăn nhưng người ta thường tiêm ở cổ Không nên tiêm ở mông do có thể làm hại đến dây thần kinh và cũng có thể vết sắt dư thừa lưu ở thân thịt mổ bán

- Tập cho lợn con ăn sớm:

+ Mục đích của việc cho lợn con ăn sớm là để bổ sung thức ăn sớm cho lợn con, lợn con ăn được thức ăn có rất nhiều tác dụng:

Đảm bảo cho lợn con sinh trưởng phát triển bình thường, không hoặc ít

bị stress, không bị thiếu hụt dinh dưỡng cho nhu cầu phát triển nhanh của lợn con sau 3 tuần tuổi và khi cai sữa, giảm tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ

Trang 29

Thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện hơn Khi bổ sung thức ăn sớm cho lợn con thì kích thích tế bào vách dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị

Nâng cao được khối lượng cai sữa lợn con, qua nghiên cứu cho thấy rằng khối lượng cai sữa chịu ảnh hưởng tới 57% của thức ăn bổ sung, trong khi đó chịu ảnh hưởng của sữa mẹ khoảng 38% và khối lượng sơ sinh là 5% Qua nhiều thí nghiệm và thực tế chứng minh rằng những lợn con được tập ăn sớm thì tăng khối lượng nhanh hơn, tỷ lệ mắc bệnh ít hơn Giúp cho lợn con làm quen với thức ăn và sớm biết ăn tốt để tạo điều kiện cho việc cai sữa sớm hơn Hạn chế tình trạng nhiễm ký sinh trùng và vi khuẩn do lợn con hay gặm nhấm nền chuồng, thành chuồng Thường sau 6 - 10 ngày tuổi lợn con mọc thêm răng nên hay ngứa lợi, nên có thức ăn nhấm nháp cả ngày đỡ ngứa lợi thì lợn con bớt gặm lung tung

+ Phương pháp tập cho lợn con ăn sớm:

Thường bắt đầu tập ăn từ 7 - 10 ngày tuổi, với lợn cai sữa sớm lúc 21 ngày tuổi thì phải tập cho lợn con ăn từ lúc 5 ngày tuổi, tốt nhất là nên sử dụng loại thức ăn hoàn chỉnh sản xuất dành riêng cho lợn con tập ăn đến 8 kg Thức ăn tập ăn sớm cho lợn con thường ép thành dạng mảnh như cốm, thơm ngon, vệ sinh sạch sẽ, mầu bắt mắt Với chuồng lợn nái đẻ cũi, máng tập ăn

để ở ngăn lợn con Với chuồng lợn nái nuôi con nền truyền thống thì máng tập ăn để vào ô sưởi ấm lợn con Rắc thức ăn vào máng ít một và nhiều lần trong ngày để thức ăn luôn mới, mùi thơm hấp dẫn cho lợn con ăn

+ Tác dụng của việc tặp ăn cho lợn con:

Nếu tập đều đặn thì 20 ngày tuổi thì lợn con đã biết ăn tốt Nếu không được tập ăn thì đến 30 ngày tuổi lợn con mới ăn thêm được nhiều, nhưng còn tùy thuộc vào lượng sữa của mẹ, nếu sữa lợn mẹ ít thì lợn con tự biết ăn sớm hơn và ngược lại

Nếu cho rằng lợn mẹ là một đơn vị sản xuất lợn thì việc chăm sóc lợn con từ lúc đẻ đến lúc cai sữa được cải thiện, sẽ làm tăng số lợn con cai sữa/lợn mẹ/năm Bình quân người chăn nuôi thiệt hại hơn 25% lợn con còn sống lúc sơ sinh

Trang 30

đến trước lúc cai sữa Hơn 42% số lợn con sống bị hao hụt trước cai sữa đã chết vì đói hoặc dẫm đạp Việc quản lý tốt sẽ làm giảm số lợn chết và có thể tăng thêm 2 lợn con cai sữa/lợn mẹ/năm

Hạn chế tình trạng nhiễm ký sinh trùng và vi trùng do lợn con hay gặm nền chuồng, thành chuồng

- Cho lợn con uống đủ nước:

Nước rất cần thiết cho sự sống Tất cả các quá trình sống đều liên quan với nước Nước trong cơ thể động vật vừa là dung môi, vừa là phương tiện vận chuyển Quá trình đồng hóa các chất dinh dưỡng rất mạnh nên cơ thể lợn con cần rất nhiều nước mới thỏa mãn nhu cầu hằng ngày

Cho lợn con uống nước bằng vòi tự động hoặc vào chậu nước và nước uống cần đảm bảo sạch sẽ, có khử trùng để tránh nhiễm khuẩn đường ruột

- Yêu cầu về chuồng trại của lợn con:

Chuồng của lợn nái đẻ cần được thiết kế theo những kiểu thích hợp để hạn chế tỉ lệ chết của lợn con, hệ thống nước được thiết kế một cách phù hợp, téc nước lớn được để trên cao trong chỗ mát gần hệ thống chuồng tiện lợi cho việc cung cấp nước, ống dẫn nước không bị nắng chiếu vào, vòi nước được thiết kế tự động giúp cho lợn con có thể uống dễ dàng và hợp vệ sinh Chuồng trại phải hạn chế sự vận động của lợn nái và lợn con được ngăn ra bằng các dóng chắn

Hiện nay kiểu chuồng lồng để nuôi lợn nái đang được các cơ sở chăn nuôi công nghiệp ở nước ta ưa chuộng

- Giữ ấm cho lợn con

Phải thường xuyên giữ ấm cho lợn con, nhất là ở 3 tuần đầu sau khi sinh Ngoài ra phải đảm bảo chuồng luôn khô ráo, sạch sẽ

Biện pháp giữ tốt nhất là kết hợp lót ván cùng rơm và dùng đèn hồng ngoại đặt trong ô chuồng để cả phần bụng và phần lưng của lợn con đều không bị mất nhiệt Cũng có thể sưởi ấm cho lợn con như dùng hệ thống hơi nước nóng, dùng bóng đèn 200 - 300W hoặc dùng lò sưởi điện

Trang 31

Mùa đông cần che kín chuồng, căng bạt ở đầu chuồng giúp cản gió cũng như không khí lạnh, nền chuồng phải khô ráo để tránh gây bệnh Nhất là những hôm thời tiết thay đổi đột ngột cần tránh gió lùa

2.2.3 Sinh lý tiết sữa của lợn nái

Sự tiết sữa của lợn nái trong quá trình nuôi con là một quá trình sinh lý phức tạp, do có những đặc điểm khác với các gia súc khác là bầu vú của lợn nái không có bể sữa nên ở lợn nái không có dự trữ sữa trong bầu vú, do vậy lợn không tiết sữa tùy tiện được và lợn con không phải lúc nào cũng bú được sữa mẹ

Quá trình tiết sữa ở lợn nái là một quá trình phản xạ, do những kích thích vào bầu vú gây nên Phản xạ tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn và chuyển dần từ trước ra sau, trong đó yếu tố thần kinh đóng vai trò chủ đạo Những vú ở phần ngực tiết sữa nhiều hơn những vú ở phần sau

Quan sát đàn lợn con bú mẹ ta thấy đầu tiên lợn con lấy mõm thúc vào

vú lợn mẹ, thời gian thúc vú của lợn con có thể từ 5 - 7 phút, sau đó nằm yên hoàn toàn và tiến hành bú Sữa tiết ra thể hiện rõ nhất là lúc lợn mẹ kêu “ịt ịt”, lợn con mút chặt đầu vú, hai chân trước đạp thẳng vào bầu vú, nằm yên mút theo đợt tiết sữa của lợn mẹ Do thời gian tiết sữa của lợn mẹ rất ngắn chỉ khoảng 25 - 30 giây, nên một ngày lợn con phải bú nhiều lần mới đủ so với nhu cầu Trong những ngày đầu sau khi sinh lợn con bú từ 20 - 25 lần/ngày, mỗi lần lượng sữa tiết ra khoảng 25 - 35 gam/con

Trang 32

Heo mẹ tiết sữa tăng dần ngay sau khi đẻ đến ngày thứ 20 - 25, sau đó lượng sữa giảm dần (Lê Hồng Mận, 2005) [11] Vì vậy trong chăn nuôi nên tiến hành cai sữa sớm cho lợn con

Sữa lợn mẹ có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao tỷ lệ nuôi sống của lợn con, sữa lợn mẹ luôn được coi là nguồn thức ăn lý tưởng cho lợn con

Sự hiểu biết về năng xuất và thành phần của sữa lợn mẹ có vai trò quan trọng,

đó là cơ sở cho việc đưa ra các quyết định về chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý lợn nái

Nguyên liệu để tạo nên sữa đều được lấy từ máu, sữa lợn mẹ được tiết

ra trong vòng 2 - 3 ngày đầu sau khi đẻ gọi là sữa đầu Sữa đầu có đặc điểm là màu vàng đặc và hơi mặn, khi đun dễ ngưng kết Thành phần dinh dưỡng của sữa đầu khác hẳn so với sữa thường, trong sữa đầu có các thành phần như protein, vitamin… đều cao hơn so với sữa thường Trong sữa đầu lượng vật chất khô đạt 22,30% cao hơn so với sữa thường chỉ có 16,60% Hàm lượng protein cũng cao hơn (11,15% so với 6,8%), tuy nhiên hàm lượng khoáng, chất béo và đường lactose lại thấp hơn

Sữa đầu rất quan trọng với lợn con, chứa nhiều globulin miễn dịch, vitamin hòa tan trong dầu, cả những chất bảo vệ heo con mới đẻ chống nhiễm bệnh Hai giờ sau khi đẻ lợn con phải được bú sữa đầu, nó hấp thu được nhiều globulin miễn dịch từ sữa đầu vào máu trong thời gian 24 - 36 giờ Nhờ đó đủ kháng thể cho 5 tuần đầu tiên của cuộc sống (Trương Lăng, 2004) [8]

Sản lượng sữa của lợn mẹ trong vòng 5 ngày đầu sau đẻ là 4,55kg/ngày, năng lượng là 1202 Kcal/kg, lượng vật chất khô, khoáng, chất béo và đường lactose là 19,2%; 0,47%; 6,41%; 6,88% và 5,16% theo thứ tự

* Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái

Theo các nhà nghiên cứu, sản lượng sữa bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: giống, dinh dưỡng cho heo nái, di truyền học, sự quản lý, tuổi và lứa đẻ, môi trường và tình trạng nội tiết của heo nái

Trang 33

Khi năng suất sữa đã qua giai đoạn tối đa, sự tăng sữa sẽ không tăng theo mức tăng của khảu phần ăn vào Lúc ấy, chất dinh dưỡng trong thức ăn được dùng để tạo mô mỡ của cơ thể (Trần Thị Dân, 2004) [3]

Nhiệt độ: Để nái tiết sữa tốt cần tạo bầu khí hậu tốt cho nái, không quá nóng, khồng quá lạnh, ẩm thấp hay không khí quá khô

Đối với heo nái, khả năng chịu nóng tốt hơn heo thịt tuy nhiên heo nái nuôi con béo mỡ gặp thời tiết nóng bức thì giảm mức tiêu thụ thức ăn nên dễ

Kỹ thuật chăm sóc, quản lý: Là yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến sản lượng sữa của lợn nái Nuôi dưỡng ảnh hưởng đến chất lượng sữa, vì những chất dinh dưỡng cần thiết để tạo thành sữa đều lấy từ thức ăn Cơ sở của vấn

đề này là khi cho lợn mẹ ăn nhiều chất béo sẽ làm tăng tỷ lệ mỡ sữa, do vậy cung cấp cho lợn con nhiều năng lượng hơn Nhưng trong thực tiễn khi sử dụng khẩu phần có tỷ lệ chất béo cao sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình chế biến

Tuổi và lứa đẻ: Sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần từ lứa thứ 1 - 3, ổn

định từ lứa 3 - 8, sau đó giảm dần theo sự tăng của tuổi Đó là do lợn nái đẻ lứa đầu, các tuyến bào phát triển chưa hoàn chỉnh, chưa có thói quen cho lợn con bú, còn ở những lứa đẻ tiếp theo sản lượng sữa bắt đầu tăng Nghiên cứu

về vấn đề này người ta thường thấy bình quân số ống dẫn sữa của lợn nái đẻ nhiều lứa là 2,1 trong khi đó lợn nái đẻ lứa đầu chỉ có 1,9, mà số ống dẫn sữa nhiều hay ít đều có liên quan đến sản lượng sữa cao hay thấp

Trang 34

2.2.4 Những đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ

Sau khi lợn nái sinh sản xong thì bên cạnh việc chăm sóc cho lợn mẹ để đảm bảo sức khỏe tốt thì việc chăm sóc quản lý lợn con là hết sức quan trọng, đây là chỉ tiêu ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế Lợn con theo mẹ sức

đề kháng bệnh tật chưa cao, dễ cảm nhiễm bệnh, trong đó bệnh phân trắng lợn con xảy ra rất phổ biến Chính vì thế mà công tác phòng và trị bệnh phân trắng lợn con rất được chú trọng trong chăn nuôi lợn nái sinh sản

2.2.4.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát dục của lợn con bú sữa

Lợn con hay gia súc nói chung đều có thời kỳ bào thai phát triển tốt thì

sẽ ảnh hưởng tốt đến sự phát triển về sau Nhìn chung khả năng phát triển của lợn nhanh hơn so với một số loài gia súc khác Khối lượng khi cai sữa của lợn

2 tháng tuổi gấp 10 - 15 lần so với khối lượng sơ sinh, trong khi đó bê, nghé chỉ tăng 3 - 4 lần

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [12], lợn con trong giai đoạn bú sữa có khả năng sinh trưởng, phát dục rất nhanh So với khối lượng sơ sinh thì sau 10 ngày tuổi khối lượng tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần Thời gian

bị giảm sinh trưởng thường kéo dài khoảng 2 tuần, còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con Chúng ta có thể hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách tập cho lợn con ăn sớm

Do sinh trưởng phát dục nhanh nên khả năng đồng hóa và trao đổi chất của lợn rất mạnh Ví dụ: lợn con 20 ngày tuổi mỗi ngày cần tích lũy 9 - 10 g protein/kg thể trọng, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích lũy 0,3 - 0,4 g protein/kg thể trọng

2.2.4.2 Đặc điểm về khả năng tiêu hóa và hấp thụ của heo con

Thời kỳ này đặc điểm nổi bật của cơ quan tiêu hóa heo con đó chính là

sự phát triển rất nhanh song chưa hoàn thiện Sự phát triển nhanh thể hiện ở

Trang 35

sự tăng về dung tích và khối lượng của bộ máy tiêu hóa Còn chưa hoàn thiện thể hiện ở số lượng cũng như hoạt lực của một số men trong đường tiêu hóa của heo con bị hạn chế (Nguyễn Thiện và cs 1998) [16]

- Men pepsin: Nếu không cho lợn con ăn sớm thì khoảng 25 ngày đầu khi đẻ ra, men pepsin trong dạ dày lợn con chưa có khả năng tiêu hóa protein của thức ăn, vì lúc này dịch vi dạ dày của lợn con chưa có HCl tự do Khi có HCl tự do sẽ kích hoạt men pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hóa Do thiếu HCl tự do nên lợn con rất dễ bị vi khuẩn có hại xâm nhập vào đường tiêu hóa gây bệnh

Chúng ta có thể kích thích tế bào vách dạ dày lợn con tiết ra HCl tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con

- Men amylaza và maltaza: Hai men này có trong nước bọt và trong dịch tụy lợn con từ lúc mới đẻ, nhưng dưới 3 tuần tuổi hoạt tính còn thấp, do

đó có khả năng tiêu hóa của tinh bột của lợn con còn kém, chỉ tiêu hóa được 50% lượng tinh bột ăn vào Sau 3 tuần tuổi, hai men này mới có hoạt tính mạnh, nên khả năng tiêu hóa tinh bột của lợn con tốt hơn

- Men saccaraza: Lợn con dưới 2 tuần tuổi men saccaraza hoạt tính còn thấp, nếu cho lợn con ăn đường saccarose thì rất dễ bị ỉa chảy Lợn con dưới 3 tuần tuổi chỉ có một số men tiêu hóa có hoạt tính mạnh như men tryspin, catepsin, lactase, lipase và chymosin

- Men tryspin: Là men tiêu hóa protein của thức ăn

- Men catepsin: Là men tiêu hóa protein trong sữa

- Men lactaza: Có tác dụng tiêu hóa đường lactose trong sữa Men này

có hoạt tính mạnh ngay từ khi lợn con mới đẻ ra và tăng cao nhất ở tuần tuổi thứ 2, sau đó hoạt tính của men này giảm dần

- Men lipaza và chymosin: Hai men này có hoạt tính mạnh trong 3 tuần đầu và sau đó hoạt tính giảm dần

Trang 36

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [12], chức năng tiêu hóa của heo con mới sinh chưa có họat lực cao, trong giai đoạn theo mẹ, chức năng tiêu hóa của một số men tiêu hóa được hoàn thiện dần

Bảng 2.3 Sự phát triển của bộ máy tiêu hóa heo con

Tiêu hóa ở miệng: Heo mới sinh những ngày đầu hoạt tính amylaza

nước bọt tăng nhanh và đạt đỉnh cao vào ngày thứ 14 và giảm dần theo tuổi của heo đối với heo con tách mẹ sớm, nhưng đối với heo con tách mẹ trễ hoạt tính này duy trì đến ngày tuổi thứ 21 Nước bọt ở tuyến mang tai chứa 0,6% - 2,6% vật chất khô Tùy lượng thức ăn lượng tiết khác nhau, thức ăn có phản ứng acid yếu và khô thì nước bọt tiết ra mạnh, thức ăn lỏng thì giảm hoặc ngừng tiết dịch Vì vậy, cần lưu ý không cho heo con ăn thức ăn lỏng (Trương Lăng, 1999) [9]

Tiêu hóa ở dạ dày: Theo Trương Lăng (1999) [8], sự tiêu hóa ở dạ dày

được nghiên cứu khá đầy đủ Khi heo con mới sinh, dịch vị tiết ra ít và sau đó tăng theo sự tăng dung tích của dạ dày Lượng dịch vị tăng nhanh nhất vào 3% - 4% tuần tuổi và sau đó giảm dần Trước khi cai sữa, ban đêm heo con tiết nhiều dịch vị hơn do heo mẹ ban đêm nhiều sữa kích thích sự tiết dịch vị của heo con Khi cai sữa lượng dịch vị tiết ra ngày và đêm gần bằng nhau Lượng dịch vị biến đổi tùy theo tuổi và ngày đêm

Tiêu hóa ở ruột: Tiêu hóa ở ruột của heo con nhờ vào dịch ruột và dịch tụy, enzyme trypsin trong dịch tụy thủy phân protein thành (Trương Lăng,

1999) [8]

Trang 37

Trypsin được sản xuất rất sớm, ngay trong giai đoạn thai, ở thai 2 tháng tuổi và thai càng lớn thì hoạt tính trypsin càng cao Khi mới sinh hoạt tính trypsin tăng dần đến 20 ngày và sau đó giảm theo tuổi

2.2.4.3 Đặc điểm về cơ năng điều tiết nhiệt

Theo Nguyễn Thiện và cs (1998) [16], heo con mới đẻ có sự thay đổi rất lớn về điều kiện sống so với ở bên trong cơ thể heo mẹ có nhiệt độ ổn định 39°C, ra bên ngoài điều kiện nhiệt độ thay đổi tùy theo từng mùa khác nhau

Do vậy heo con rất dễ bị nhiễm lạnh, giảm đường huyết và có thể dẫn đến chết

Khả năng điều tiết thân nhiệt ở lợn con chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt của lợn con chưa ổn định

Trung khu điều tiết thân nhiệt của lợn con nằm ở vỏ não, mà não là cơ quan phát triển muộn nhất cả trong thai và ngoài thai

Diện tích bề mặt của cơ thể lợn con so với khối lượng chênh lệch tương đối cao nên khi bị lạnh lợn con mất nhiệt nhanh

Lớp mỡ dưới da mỏng, lượng mỡ và glycozen dự trữ trong cơ thể còn thấp nên khả năng giữ nhiệt và cung cấp nhiệt kém

Bảng 2.4 Nhiệt độ thích hợp cho heo con theo mẹ Ngày

Nhiệt độ

(0C) 35 34 33 31 - 32 30 - 31 28 - 29 26 - 27 23 - 25

Theo Nguyễn Thanh Sơn và Nguyễn Quế Côi, 2005)[14]

Để đảm bảo được nhiệt độ thích hợp cho heo con, đặc biệt vào những tháng mùa đông, ngoài ô úm heo con ra thì phải có bóng đèn sưởi ấm (bóng đèn hồng ngoại hoặc bón điện có công suất 100W (Nguyễn Thanh Sơn và Nguyễn Quế Côi, 2005) [14]

Từ những lý do nêu trên ta thấy khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con dưới 3 tuần tuổi là rất kém, nhất là tuần đầu mới đẻ Vì vậy phải tạo điều

Ngày đăng: 07/06/2017, 11:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Axovach, Lobiro (1976), “Sử dụng E. coli sống chủng M117 với bệnh đường tiêu hóa”, Tạp chí KHKT thú y, tập XI, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng "E. coli" sống chủng M117 với bệnh đường tiêu hóa”
Tác giả: Axovach, Lobiro
Năm: 1976
2. Đặng Xuân Bình (2002), “Chế ta ̣o, thƣ̉ nghiê ̣m mô ̣t số chế phẩm sinh ho ̣c phòng trị bệnh tiêu chảy phân trắng lợn con do E. coli và Cl. perfringens”.Tạp chí KHKT Thú y, tập số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế ta ̣o, thƣ̉ nghiê ̣m mô ̣t số chế phẩm sinh ho ̣c phòng trị bệnh tiêu chảy phân trắng lợn con do "E. coli" và "Cl. perfringens"”. "Tạp chí KHKT Thú y
Tác giả: Đặng Xuân Bình
Năm: 2002
3. Trần Thị Dân (2004), Sinh sản heo nái và sinh lý heo con, Nxb Nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản heo nái và sinh lý heo con
Tác giả: Trần Thị Dân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2004
4. Đào Trọng Đạt (1997), Bệnh ở lợn nái và lợn con, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở lợn nái và lợn con
Tác giả: Đào Trọng Đạt
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1997
5. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phƣợng (1986), Bệnh gia súc non, tập 1, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh gia súc non
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phƣợng
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1986
6. Phạm sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dũng (1997), Bệnh phổ biến ở lợn con và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr 93 - 114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn con và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dũng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
7. Phạm Sỹ Lăng, Trương Văn Dung, Trần Duy Khanh (2006), Các bệnh thường gặp ở lợn và biện pháp phòng trị, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bệnh thường gặp ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Trương Văn Dung, Trần Duy Khanh
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2006
8. Trương Lăng (1999) Nuôi lợn gia đình, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội 9. Trương Lăng (2004), Cai sữa sớm lợn con, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi lợn gia đình", Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội 9. Trương Lăng (2004), "Cai sữa sớm lợn con
Tác giả: Trương Lăng (1999) Nuôi lợn gia đình, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội 9. Trương Lăng
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2004
10. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), Một số bệnh quan trọng ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở lợn
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
11. Lê Hồng Mận (2005), Kỹ thuật mới về chăn nuôi lợn ở nông hộ, trang trại, phòng và trị bệnh ở lợn cao sản, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật mới về chăn nuôi lợn ở nông hộ, trang trại, phòng và trị bệnh ở lợn cao sản
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
12. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2004), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
13. Nguyễn Vĩnh Phước (1987). Bệnh truyền nhiễm gia súc, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh truyền nhiễm gia súc
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Phước
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1987
14. Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Quế Côi (2005), Chăn nuôi lợn trang trại, Nxb Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn trang trại
Tác giả: Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Quế Côi
Nhà XB: Nxb Lao động – Xã hội
Năm: 2005
15. Nguyễn Nhƣ Thanh (2001), Dịch tễ học Thý y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ học Thý y
Tác giả: Nguyễn Nhƣ Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
16. Nguyên Thiện, Võ Trọng Hốt, Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Duy Hoan (1998), Chăn nuôi lợn (Giáo trình Sau Đại học), Nxb Nông ngiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn (Giáo trình Sau Đại học)
Tác giả: Nguyên Thiện, Võ Trọng Hốt, Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Duy Hoan
Nhà XB: Nxb Nông ngiệp
Năm: 1998
17. Nguyễn Văn Thiện (2002), Giáo trình Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
18. Chu Thị Thơm (2005), Hướng dẫn nuôi lợn trong gia đình, Nxb lao động. II. Tài liệu tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn nuôi lợn trong gia đình
Tác giả: Chu Thị Thơm
Nhà XB: Nxb lao động. II. Tài liệu tiếng anh
Năm: 2005
20. Markku Johansen (2001), Prevention of edema disease in pigs by passive immunization, Department of pathobiology, Ontatiro Veterinary Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevention of edema disease in pigs by passive immunization
Tác giả: Markku Johansen
Năm: 2001
19. Bielh L.G., Hoefling D.C. (1986), Diagnosis and treatment of diarrhea in 7 to 14 days old pigs, J.Am Vet.Assoc Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Lƣợng thức ăn cho lợn nái chửa giống ngoại - Tình hình chăn nuôi lợn nái sinh sản và phòng trị bệnh phân trắng lợn con tại trại lợn nguyễn thanh lịch, xã ba trại   huyện ba vì   hà nội
Bảng 2.2. Lƣợng thức ăn cho lợn nái chửa giống ngoại (Trang 19)
Bảng 4.2. Kết quả phục vụ sản xuất - Tình hình chăn nuôi lợn nái sinh sản và phòng trị bệnh phân trắng lợn con tại trại lợn nguyễn thanh lịch, xã ba trại   huyện ba vì   hà nội
Bảng 4.2. Kết quả phục vụ sản xuất (Trang 57)
Bảng 4.3. Tình hình đẻ của đàn lợn nái - Tình hình chăn nuôi lợn nái sinh sản và phòng trị bệnh phân trắng lợn con tại trại lợn nguyễn thanh lịch, xã ba trại   huyện ba vì   hà nội
Bảng 4.3. Tình hình đẻ của đàn lợn nái (Trang 58)
Bảng 4.7. Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo các tháng - Tình hình chăn nuôi lợn nái sinh sản và phòng trị bệnh phân trắng lợn con tại trại lợn nguyễn thanh lịch, xã ba trại   huyện ba vì   hà nội
Bảng 4.7. Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo các tháng (Trang 63)
Bảng 4.8. Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo tính biệt - Tình hình chăn nuôi lợn nái sinh sản và phòng trị bệnh phân trắng lợn con tại trại lợn nguyễn thanh lịch, xã ba trại   huyện ba vì   hà nội
Bảng 4.8. Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo tính biệt (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w