1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái và lợn con tại trại lợn nguyễn xuân dũng –ba vì – hà nội

65 362 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 681,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Phạm Hữu Doanh và cs 2003 [4] cho rằng: Không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi t

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2012 - 2016

Thái Nguyên, 2016

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình hướng tới thành công của mỗi con luôn có sợ giúp đỡ,

hỗ trợ của những người xung quanh Và để có được kết quả của ngày hôm nay ngoài sự cố gắng nỗ lực của chính bản thân, em đã nhận được sự chỉ bảo giúp đỡ của các thầy cô giáo khoa Chăn Nuôi Thú Y, trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên cũng như sự giúp đỡ nhiệt tình của trại chăn nuôi Nguyễn Xuân Dũng Vì vậy em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới:

Bán giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, ban chủ nhiệm khoa cùng quý thầy cô khoa Chăn Nuôi Thú Ý đã tận tình truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt quá trình học tập tại trường

Trại chăn nuôi Nguyễn Xuân Dũng – Ba Vì – Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ và chỉ bảo nhiều kiến thức thực tế, giúp em hoàn thành tốt quá trình thực tập tại trại

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Lê Minh Châu đã luôn động viên, giúp đỡ và hướng dẫn chỉ bảo em tận tình trong suốt

quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Và cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, những người luôn ở bên và ủng hộ em giúp đỡ em hoàn thành tốt nhất khóa luận tốt nghiệp

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016

Sinh viên

Hà Thị Thương

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung 18

Bảng 2.2: Thành phần các chất dinh dưỡng trong thức ăn sử dụng cho lợn nái chửa 26

Bảng 3.1: Lịch sát trùng trại lợn nái 34

Bảng 4.1: Tình hình chăn nuôi của trại Nguyễn Xuân Dũng - Ba Vì – Hà Nội 6 tháng cuối năm 2015 và 6 tháng đầu năm 2016 45

Bảng 4.2: Lịch phòng bệnh của trại lợn 46

Bảng 4.3: Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại 47

Bảng 4.4: Kết quả thực hiện chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái 48

Bảng 4.5: Kết quả thực hiện chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn con 49

Bảng 4.6 Kết quả công tác phối giống 50

Bảng 4.7: Kết quả công tác phục vụ sản xuất khác 51

Trang 5

PED : Porcine Epidemic Diarrhoea – Dịch tiêu chảy cấp trên lợn PRRS : Porcine reproductive and respiratory syndrome - Hội chứng

rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn STT : Số thứ tự

TT : Thể trọng

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Yêu cầu nghiên cứu 2

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm khí hậu 3

2.1.2 Quá trình thành lập 3

2.1.3 Cơ sở vật chất của trại 4

2.1.4 Cơ cấu tổ chức của trại 5

2.1.5 Tình hình sản xuất của trại 5

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 6

2.2.1.Đại cương về sinh lý sinh sản của lợn nái 6

2.2.2 Đặc điềm sinh lý của lợn con theo mẹ 11

2.2.3 một số bệnh thường gặp ở lợnnái và lợn con theo mẹ tại trại 13

2.2.4 Những hiểu biết về kỹ thuật chăn nuôi lợn nái chửa và nái đẻ 23

2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 29

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 29

2.3.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 30

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 32

Trang 7

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 32

3.3 Nội dung thực hiện 32

3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 32

3.4.1Các chỉ tiêu theo dõi 32

3.4.2 Phương pháp thực hiện 32

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45

4.1 Kết quả đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại 45

4.2 Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh tại trại 46

4.3 Kết quả thực hiện công tác chẩn đoán và điều trị bệnh gặp trên đàn lợn nái và lợn con tại trại 47

4.4 Kết quả thực hiện công tác xác đinh lợn nái lên giống và phối giống 50

4.5 Kết quả công tác phục vụ sản xuất khác 51

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52

5.1 Kết luận 52

5.2 Đề nghị 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

Trang 8

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Nước ta hiện nay đang hội nhập mạnh mẽ với kinh tế thế giới, nhằm đưa kinh tế nước ta phát triển nhanh hơn mạnh hơn Đảng và Nhà nước đã đưa

ra nhiều chính sách mới trong sự phát triển của đất nước, đặc biệt quan tâm chú trọng cho phát triển ngành chăn nuôi Với tiền đề là một nước nông nghiệp đi lên cùng với sự giúp đỡ của các tổ chức trong và ngoài nước cũng như sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, chăn nuôi đang có những bước trở mình mạnh mẽ Không những giúp người dân xóa đói giảm nghèo mà còn đang góp phần vào công cuộc làm giàu của đất nước

Đặc biệt là chăn nuôi lợn, hiện nay không chỉ còn là chăn nuôi theo phương thức hộ gia đình nhỏ lẻ, sử dụng con giống nội giá trị kinh tế thấp

Mà còn nhờ có các chính sách mở cửa, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, sự tham gia của các công ty trong nước và ngoài nước trong việc chăn nuôi đã được tăng cường mở rộng theo hướng công nghiệp tập trung, sử dụng con giống ngoại nhập, công nghệ tự động Chăn nuôi lợn hiện nay đã đem lại một nguồn lợi kinh tế lớn và góp phần thúc đẩy cho sự phát triển của kinh tế Tuy nhiên, do đặc điểm về địa lý cũng như khí hậu nóng ẩm ở nước ta, mà chăn nuôi cũng gặp không ít khó khăn Từ những điều kiện trên ta cần thực hiện một quy trình chăn nuôi có thể đáp ứng được các yêu cầu trong nước về điều kiện ngoại cảnh cũng như cơ sở vật chất

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, cũng như được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn Nuôi Thú Y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn và cơ sở thực tập, em tiến hành thực

hiện : “Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái và lợn con tại trại lợn Nguyễn Xuân Dũng –Ba Vì – Hà Nội ”

Trang 9

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Nhằm nắm vững kiên thức về quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái,

lợn con ở các giai đoạn

- Rèn luyện và nâng cao tay nghề, củng cố kiến thức đã học và tìm hiểu thêm những kiến thức thực tế

1.3 Yêu cầu nghiên cứu

- Nắm bắt được quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái và lợn con tại trại Nguyễn Xuân Dũng – Ba Vì – Hà Nội

- Quy trình vệ sinh, phòng và trị một số bệnh gặp trên đàn lợn tại trại

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm khí hậu

Trại chăn nuôi Nguyễn Xuân Dũng thuộc địa bàn thôn Hương Canh,

xã Khánh Thượng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

Về địa lý, Khánh Thượng là xã miền núi nằm ở sườn tây núi Ba Vì, với diện tích tự nhiên 2882,43 ha Cách trung tâm huyện Ba Vì trên 35 km, cách trung tâm thành phố Hà Nội 82km Xã có địa bàn giáp gianh với 2 tỉnh (phía Đông Nam giáp tỉnh Hoà Bình, phía Tây cách con sông Đà là tỉnh Phú Thọ) có

trục đường giao thông Sơn Tây - Chẹ - Hợp Thịnh - Kỳ Sơn - Hoà Bình đi qua

Dân số có 1.852 hộ với 8.219 nhân khẩu (tính đến 20/7/2011) được phân bổ trên 13 thôn, làng trong xã, gồm 03 dân tộc cùng chung sống là Kinh,

Mường, Dao; trong đó dân tộc Mường chiếm 62% toàn xã

Về khí hậu, Khánh Thượng thuộc vùng đồng bằng sông Hồng chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 với nhiệt độ trung bình 23oC, tháng 6 và tháng 7 có nhiệt độ trung bình cao nhất là 28,6 o

C Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 3 với nhiệt độ xấp xỉ 20o

C, tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất 15,8oC

2.1.2 Quá trình thành lập

Trại chăn nuôi Nguyễn Xuân Dũng là trại lợn gia công cho công ty CP Việt Nam, nằm tại thôn Hương Canh, xã Khánh Thượng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội Trại được xây dựng năm 2014 và đưa vào sản xuất từ năm 2015 cho đến nay, với quy mô xây dựng cho tổng số nái là 2000 con Hoạt động theo phương thức chủ trại đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đưa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y và cán bộ kỹ thuật

Trang 11

2.1.3 Cơ sở vật chất của trại

Trại được xây dựng trên diện tích gần 5 ha chia làm 2 khu vực chính là: khu sinh hoạt chung cho công nhân và khu sản xuất

Trong đó khu sinh hoạt chung cho công nhân gồm có: cổng ra vào trại, phòng sinh hoạt ngoài giờ làm của công nhân, nhà ăn… các khu phục vụ cho các nhu cầu thiết yếu cho công nhân ngoài giờ làm Ngoài ra trại còn thiết kế thêm một số khu vui chơi phục vụ nhu cầu giải trí của công nhân

Khu chăn nuôi thì gồm 2 phần chính: chuồng đẻ và chuồng bầu

Hệ thống chuồng đẻ của trại gồm 3 dãy chuồng chính, mỗi dãy chuồng gồm 2 ngăn chuồng có cửa thông với nhau ở cả đầu trên và cuối chuồng Mỗi ngăn chuồng lại gồm 56 ô chia làm 2 dãy với kích thước mỗi ô là 2,4 m × 1,6 m/ô Trong mỗi ngăn được lắp đặt hệ thống dàn mát ở đầu chuồng và 4 quạt thông gió ở cuối chuồng Ngoài ra mỗi ngăn còn được lắp đặt thêm cửa sổ và

hệ thống chiếu sáng, hệ thống điện Ngoài 3 chuồng chính, còn có 1 chuồng cai sữa phục vụ cho việc chăm sóc lợn con đã qua 21 ngày tuổi mà chưa được xuất bán

Thứ 2 là hệ thống chuồng bầu với 2 chuồng chính, trong mỗi chuồng được lắp đặt 560 ô, kích thước 2,4 m × 0,65 m/ô Cũng như chuồng đẻ chuồng bầu cũng có dàn mát, cuối mỗi chuồng có 8 quạt thông gió, ngoài ra trong mỗi chuồng bầu còn có hệ thống làm mát cho lợn bằng nước Bên cạnh

2 chuồng chính còn có chuồng đực với sức chứa 20 lợn đực, 3 chuồng cách ly dung để nhốt lợn mới nhập, lợn có dấu hiệu bị bệnh, 1 phòng tinh

Sau mỗi chuồng đều có đường rãnh thoát nước thải, các đường rãnh này đều thông về một bể chứa nước thải tập trung

Nguồn nước được sử dụng trong trại được cung cấp từ hệ thống giếng khoan, nước sau khi được bơm lên 2 bể được sử lý bằng hóa chất Sau đó được

Trang 12

bơm lên một bể ở trên cao, lợi dụng áp lực của nước để đưa nước tới hệ thống cung cấp nước uống, dàn mát và các vòi nước phục vụ cho công việc vệ sinh Trong khu sản xuất còn có kho thuốc, phòng tắm sát trùng, nhà giặt và kho cám

2.1.4 Cơ cấu tổ chức của trại

Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:

2.1.5 Tình hình sản xuất của trại

* Công tác chăn nuôi

Đặc điểm là trại gia công nên nhiệm vụ chính của trại là sản xuất giống thương phẩm, xuất bán cho các trại nuôi lợn thịt

Hiện nay trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2 – 2,5 lứa/năm Số con sơ sinh là 10,83 con/đàn, số con cai sữa: 9,18 con/đàn

Tại trại, lợn con sẽ được nuôi theo mẹ cho đến khoảng 19 đến 21 ngày tuổi, những lợn con chưa đủ khối lượng sẽ được ghép đàn nuôi với những đàn

có số ngày tuổi nhỏ hơn, còn những lợn con đã quá ngày suất bán nhưng chưa

có đợt sẽ được nhốt sang chuồng cai sữa Những lợn con này sau đó sẽ được chuyển tới các trang trại nuôi lợn thịt

Trong trại có 19 lợn đực giống Duroc được công ty cung cấp theo nhiều đợt đã được huấn huyện nhằm mục đích khai thác tinh và kích thích sự lên giống của lợn nái Tinh dịch sau khi được pha loãng trong môi trường sẽ được

Trang 13

bảo quản lạnh, mỗi lợn nái sau khi được phát hiện lên giống sẽ được đem đi phối 3 lần

Thức ăn phục vụ trong trại do công ty CP cung cấp, là loại thức ăn hỗn hợp với các loại khác nhau dành cho lợn ở các lứa tuổi và các chu kỳ khác nhau

- Công tác phòng bệnh: theo lịch của công ty, lợn trong trại sẽ được tiêm phòng vắc xin để phòng một số bệnh thường gặp trên lợn Từ đó tăng sức đề kháng cho lợn mẹ và lợn con sau sinh, lợn con cũng được tiêm phòng các loại vắc xin theo ngày tuổi

- Công tác trị bệnh: Lợn luôn được theo dõi dám sát của 2 kỹ sư và 2 tổ trưởng, mọi con lợn có biểu hiện bất thường đều sẽ được nhốt riêng các ly theo dõi và có các biện pháp điều trị cũng như xử lý kịp thời Trong thời gian

này thì lợn của trại có mắc dịch PED xong đã nhanh tróng được dập tắt

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề

2.2.1.Đại cương về sinh lý sinh sản của lợn nái

Khi gia súc thành thục về tính thì cơ thể con cái đặc biệt là cơ quan sinh dục đã phát triển cơ bản hoàn thiện Dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết, con

Trang 14

vật xuất hiện các phản xạ về sinh dục, khi đó trên buồng trứng có khả năng thụ thai, tử cung cũng sẵn sàng cho thai làm tổ, biểu hiện của con vật là lông mượt, tai thính, thường xuyên phá chuồng và nhảy lên lưng những con khác

Sự thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào: giống, tính biệt và các điều kiện ngoại cảnh như chăm sóc nuôi dưỡng

- Giống: Các giống khác nhau thì thành thục về tính cũng khác nhau: những giống thuần hóa sớm hơn thì tính thành thục sớm hơn những giống thuần hóa muộn, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn những giống có tầm vóc lớn

Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [4] cho rằng: Tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4-5 tháng khi khối lượng đạt từ 20-25kg Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nội thuần, ở lợn lai F1 (có sẵn máu nội) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng

cơ thể đạt 50-55kg Ở lợn ngoại động dục muộn hơn so với lợn lai, tức là lúc động dục 6-7 tháng khi lợn có khối lượng 60-80kg Tuỳ theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn

ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4-5 tháng tuổi (121-158 ngày tuổi) các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) có tuổi động dục lần đầu muộn hơn từ 7-8 tháng tuổi

- Điều kiện nuôi dưỡng, quản lý

Cùng một giống nhưng nếu điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý tốt thì gia súc phát triển tốt, sự thành thục về tính sớm hơn và ngược lại

- Điều kiện ngoại cảnh

Khí hậu và nhiệt độ cũng có ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính gia súc, những giống lợn nội nuôi ở vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường thành thục về tính sớm

Trang 15

Trong điều kiện chăn thả chung giữa gia súc đực và gia súc cái cũng ảnh hưởng tới tính thành thục sớm của gia súc cái Theo Paul Highes và Tilton (1996) [38], nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với lợn đực 2 lần/ ngày với thời gian 15-20 phút thì 83% lợn cái ngoài 90kg động dục là 165 ngày tuổi

Lợn cái hậu bị nếu nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi động dục lần đầu dài hơn lợn nuôi chăn thả Vì lợn nuôi chăn thả sẽ tăng cường trao đổi chất, tổng hợp được sinh tố và có được tiếp xúc với lợn đực nhiều hơn nên có tuổi động dục lần đầu sớm hơn

- Tuổi thành thục về tính của gia súc

Tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc, nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớn lên Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [4] cho rằng: Không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục lần đầu rồi mới cho phối giống

lý Các biến đổi lặp đi lặp lại theo chu kỳ như trên được gọi là chu kỳ động dục (chu kỳ tính)

Trang 16

Theo Nguyễn Thiện và cs (1993) [28], chu kỳ tính của lợn nái thường diễn ra trong phạm vi 19 - 21 ngày Thời gian động dục thường kéo dài khoảng 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại), và được chia làm ba giai đoạn: giai đoạn trước khi chịu đực (bắt đầu), giai đoạn chịu đực (phối giống), giai đoạn sau chịu đực (kết thúc)

Giai đoạn trước khi chịu đực: Lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, chưa cho phối và lợn chưa chịu đực Thời gian rụng trứng khi có hiện tượng trên đối với lợn ngoại và lợn nái lai là 35-40h, với lợn nội là 25-30h

Giai đoạn chịu đực: Lợn kém ăn, mê ì, lợn đứng yên khi ấn tay lên lưng gần mông, âm hộ giảm độ sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên khi có đực đến gần và cho đực nhảy Giai đoạn này kéo dài 2 ngày, nếu được phối giống lợn sẽ thụ thai, lợn nội có thời gian ngắn hơn 28-30h

Giai đoạn sau chịu đực: Lợn trở lại bình thường, âm hộ giảm độ nở, đuôi cụp và không chịu đực

- Thời điểm phối giống thích hợp

Thời điểm phối giống thích hợp: Trứng rụng tồn tại trong tử cung 2-3h Tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái 30-48h Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục

Đối với lợn nái nội hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ

3 do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn Thời điểm phối giống có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối chậm đều đạt kết quả kém nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu (Nguyễn Thiện và cs, 1993 [28])

- Mang thai: Thời gian mang thái của lợn trung bình là 114 ngày (113 -

115 ngày) Thời gian chửa của lợn nái được chia làm hai thời kỳ:

Chửa kỳ I: Là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu tiên

Trang 17

Chửa kỳ II: Là thời gian lợn chửa từ ngày chửa thứ 85 đến khi đẻ

Sinh lý đẻ

- Quá trình sinh đẻ

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2006)[7], gia súc cái mang thai trong một thời gian ngắn tùy từng loại gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ dưới tác động của hệ thống thần kinh- thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn đẻ, đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài, quá trình này gọi

là quá trình sinh đẻ

Khi gần đẻ con cái sẽ có triệu chứng biểu hiện: trước khi đẻ 1 tuần, nút niêm dịch ở cổ tử cung, đường sinh dục, lỏng, sánh, dính và chảy ra ngoài Trước đẻ 1-2 ngày, cơ quan sinh dục bắt đầu có những thay đổi, âm môn phù

to, nhão ra và sung huyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu căng to, sữa bắt đầu tiết

- Giai đoạn tiết sữa

Khả năng tiết sữa của lợn nái phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng thức

ăn giống lợn và số lượng lợn con, lợn nái thường tiết sữa nhiều nhất vào tuần thứ 2-3 Ở những giống lợn khác nhau thì khả năng tiết sữa khác nhau Sự tiết sữa của lợn nái là một quá trình phản xạ do những kích thích vào đầu vú gây nên, phản xạ tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn và chuyển dần từ trước ra sau Thần kinh giữ vai trò chủ đạo trong quá trình tiết sữa, khi lợn con thúc

bú, những kích thích này chuyển lên vỏ não, từ vỏ não lại chuyển xuống vùng Hypothalamus từ đó các luồng xung động tác động vào tuyến yên và tuyến yên tiết ra kích tố Oxytocin, kích tố Oxytocin đến tuyến bào kích thích làm cho lợn nái tiết sữa

Qua theo dõi, sản lượng sữa và chất lượng sữa ở các vị trí vú khác nhau cũng không giống nhau, các vú phía trước ngực sản lượng sữa cao, phẩm chất tốt, các vú phía sau nhìn chung kém hơn Theo Trương Lăng (2000)[16] cho biết: Vú phía trước lượng sữa tiết nhiều hơn (nên cố định cho lợn con sơ sinh

Trang 18

có khối lượng kém bú), vì Oxytocin theo máu đến tuyến vú phía trước sớm hơn, kéo dài hơn lên vú trước nhiều sữa hơn

Sản lượng sữa của lợn nái phụ thuộc vào số lợn và chất lượng thức ăn

vì thế trong giai đoạn lợn nái nuôi con thì thức ăn cho lợn nái cần đủ chất dinh dưỡng Chăm sóc lợn nái ăn với khẩu phần đẩy đủ chất dinh dưỡng không những nâng cao sản lượng sữa mà còn giảm tỷ lệ hao mòn của lợn nái

Ở lợn không có bể sữa do đó không thể đo lượng sữa bằng cách vắt sữa

mà chỉ có thể đo lượng sữa của lợn nái qua khối lượng đàn con

Theo Trương Lăng, (2003)[17], sữa lợn nái là nguồn thức ăn có đầy đủ chất dinh dưỡng, không có loại thức ăn nào có thể so sánh bằng và thay thế được Do đó để tăng năng suất của lợn con phải thoả mãn nhu cầu tối đa trong thời gian bú sữa

2.2.2 Đặc điềm sinh lý của lợn con theo mẹ

Sau khi sinh, trong thời gian bú mẹ trọng lượng bộ máy tiêu hóa của lợn con tăng từ 10 – 15 lần, chiều dài của ruột non tăng lên gấp 5 lần so với lúc mới sinh Dung tích của bộ máy tiêu hóa cũng tăng từ 40 đến 50 lần Ở ngày tuổi thứ 30 trọng lượng của tuyến tụy tăng lên 4 lần và gan tăng lên 3 lần so với lúc mới sinh Lúc mới sinh dạ dày của một lợn con trung bình nặng từ 6 – 8 gam

và chứa được từ 35 – 50 gam sữa, nhưng sau 3 tuần đã tăng lên gấp 4 lần

Mặc dù bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện Khả năng tiêu hóa của lợn con còn rất kém do số lượng và hoạt lực của các men trong đường tiêu hóa còn hạn chế Theo Vasnhixky, (1954) [35] dịch vị của lợn con dưới một tháng tuổi hoàn toàn không có HCl tự do, vì lượng acid tiết ra ít và nó nhanh tróng kết hợp với các niêm dịch là cho hàm lượng HCl tự

do rất ít hoặc hoàn toàn không có trong dạ dày của lợn con bú sữa Vì thiếu

Trang 19

HCl tự do nên hệ vi sinh vật lên men dễ phát triển gây hiện tượng tiêu chảy ở lợn con

Trong dịch tụy của lợn trưởng thành có tới 15 loại men tiêu hóa song lợn con chỉ có 2 men là Kimozin và Lipaza, sau một tuần tuổi có thêm một số men như Trypsin và Amilase Hoạt tính cả các men tăng dần theo tuổi, từ 1 đến 28 ngày tuổi hoạt tính của Trypsin tăng 20 lần, Amilase tăng 30 lần, các men như Kimotipxin, Protease, Amilase, Elastase, Carbuaxipolypeptidasa cũng tăng dần theo tuổi của lợn con Hàm lượng vật chất khô trong dịch tụy cũng tăng dần Dịch ruột do 2 tuyến Bruner và Liberkun tiết ra chưa đầy đủ các men tiêu hóa như ở lợn con chưa có men Lactose, các men tiêu hóa khác có hàm lượng rất thấp không đủ khả năng để tiêu hóa các thức ăn nhân tạo Dịch mật của lợn con trong những tuần tuổi đầu con hạn chế, chưa có khả năng nhũ tương hóa mỡ

Cơ thể lợn con thường sinh ra nhiệt năng lớn, nhiệt lượng liện tục tảo ra bên ngoài do sự chệnh lệch giữa nhiệt độ cơ thể với nhiệt độ môi trường Lông của lợn con thưa, lớp mỡ dưới ra mỏng, diện tích bề so với khối lương cơ thể cao nên khả năng chống lạnh kém, lượng mỡ và glycogen dự trữ trong cơ thể thấp nên khả năng cung cấp năng lượng chống lạnh bị hạn chế Hệ thần kinh điều khiển thân nhiệt năm chưa hoàn thiện Trong thời gian này lợn con có khả năng điều hòa thân nhiệt do sự hoạt động rất mạnh của hệ tuần hoàn cũng như

sự thay đổi tư thế của lợn Vì vậy cần phải sưởi ấm đảm bảo cho lợn con không

bị lạnh

Lợn con sinh ra trong máu hầu như không có kháng thể, song lượng kháng thể trong máu lợn con tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu, cho nên nói rằng ở lợn con khả năng miễn dịch là hoàn toàn thụ động Nó phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu nhiều hay ít từ sữa mẹ Quá trình hấp thu

Trang 20

nguyên vẹn γ-globulin bi giảm nhanh theo thời gian Lợn con có thể hấp thu nuyên vẹn phân tử γ-globulin vì trong sữa đầu có kháng men Antitripsin nó làm mất hoạt lực của men Tripsin của tuyến tụy Đồng thời khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con rất lớn nên phân tử γ-globulin được chuyển qua bằng đường ẩm bào Xuất phát từ đó chúng ta thấy rằng cho lợn con bú sữa đầu là rất quan trong và việc cho bú càng sớm càng tốt (Nguyễn Thiện và cs, 2005) [30]

2.2.3 một số bệnh thường gặp ở lợnnái và lợn con theo mẹ tại trại

Bệnh viêm tử cung xảy ra trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau Lợn nái đẻ ít lứa, nhiều lứa hay đang nuôi con đều có thể mắc bệnh song tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào yếu tốt vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng, các khu thực vật ở mỗi vùng là khác nhau Khi gia súc sinh đẻ nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây xát, bị tổn thương, vi khuẩn xâm nhập và phát triển gây viêm Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao… thường gây viêm tử cung (Đỗ Quốc Tuấn, 2005 [31])

- Nguyên nhân bệnh viêm tử cung

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6], viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái

Theo các tác g iả Nguyễn Xuân Bình (2000) [1], Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [15], Nguyễn Hữu Phước (1986) [21], bê ̣nh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

+ Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợn nái

Trang 21

gây viêm

+ Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ

+ Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát

+ Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung + Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm, Phó thương hàn, bệnh Lao… gây viêm

+ Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau

đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm

Theo Đoàn Kim Dung và Lê Thi ̣ Tài (2002) [5] cho biết, nguyên nhân gây

viêm tử cung là do vi khuẩn tu ̣ cầu vàng (Staphylococcus aureus), Liên cầu dung huyết (streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E.coli…

Theo Lê Văn Năm và cs (1999) [18] cho rằng , có rất nhiều nguyên nhân từ ngoa ̣i cảnh gây bê ̣nh như: Do thức ăn nghèo dinh dưỡng, do can thiê ̣p đỡ đẻ bằng du ̣ng cu ̣ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuâ ̣t dẫn đến Muxin của chất nhày các cơ quan sinh dục bị phá hủy hoặc kết tủa , kết hợp với viê ̣c chăm sóc nuôi dưỡng bất hợp lý và thiếu vâ ̣n đô ̣ng đã làm châ ̣m quá trình thu teo si nh

lý của dạ con (trong điều kiê ̣n cai sữa bình thường da ̣ con trở về khối lượng kích thước ban đầu khoảng 3 tuần sau đẻ ) Đây là điều kiê ̣n tốt để vi khuẩn xâm nhâ ̣p vào tử cung gây bênh Biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhâ ̣p vào da ̣ con gây lên trong thời gian đô ̣ng đực (vì lúc đó tử cung mở ) và

do thu ̣ tinh nhân ta ̣o sai kỹ thuâ ̣t

Bê ̣nh còn xảy ra do thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý : Khẩu phần thiếu hay thừa protein trước , trong thời kỳ man g thai có ảnh hưởng đến viêm

Trang 22

tử cung Lợn nái sử du ̣ng quá nhiều tinh bô ̣t gây đẻ khó , viêm tử cung do xây xát Khoáng chất, vitamin cũng ảnh hưởng đến viêm tử cung

- Triệu chứng:

Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4-5 ngày cá biệt tới 6-7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sang vàng hay trắng và trong Trong trường hợp viêm thì sản dịch có thể có màu đen hôi thối, mùi tanh rất khó chịu

- Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:

+ Thể cấp tính: Con vật sốt 41-420C trong vài ngày đầu âm môn sưng tấy đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra trắng đục đôi khi có máu lờ lờ

+ Thể mãn tính: Không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch nhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không liên tục mà chỉ chảy

ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần Lợn nái thường thụ tinh không có kết quả hoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo

tử cung lan sang thai làm chết thai

- Hậu quả của bê ̣nh viêm tử cung

Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6], Trần Thị Dân (2004) [3], khi

lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:

+ Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai

Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co

thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có

thể bám chặt vào tử cung

Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử

Trang 23

cung tiết nhiều Prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây

co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi

đến thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử

cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai

+ Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để

giúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng Progesterone

giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu

+ Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy

Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có

mặt của vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân

tiết kích thích tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc

+ Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể

vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone

Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự

phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được và không thải trứng được

+ Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi

Trang 24

sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng

- Chẩn đoán lâm sàng bê ̣nh viêm tử cung

Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động đực, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định, từ vài ml cho tới 200 ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu máu cá Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính, viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kì cho sữa Hiện tượng chảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung

Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có những mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợn nái còn có thể là do viêm bàng quang có mủ gây ra

Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ chảy ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đực thì

có thể bị nhầm lẫn

Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ nên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặt khác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho chính xác

Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viên từ

Trang 25

đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất

Để chẩn đoán người ta dựa vào những triệu chứng điển hình ở cục bộ

cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân

Bảng 2.1: Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung

Thể viêm

Chỉ tiêu

Phân biệt

Viêm nội mạc tử cung

Màu Trắng, trắng xám Hồng, nâu đỏ Nâu rỉ sắt

Phản ứng đau Đau nhẹ Đau rõ hơn Đau có phản ứng

Bỏ ăn Bỏ ăn một phần

hoặc hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn

Lợn đẻ mà thời gian sổ thai kéo dài nhưng thai vẫn không được đẩy

ra ngoài Bệnh biểu hiện dưới nhiều hình thức, diễn biến khác nhau Nó không những gây tổn thương cho cơ quan sinh dục mà còn dẫn đến hiện tượng vô sinh, thậm chí cả lợn mẹ và lợn con có thể chết

- Nguyên nhân

+ Đẻ khó do nguyên nhân cơ thể mẹ: Khi chăm sóc, nuôi dưỡng không tốt, thức ăn không đầy đủ, chất dinh dưỡng thiếu so với nhu cầu của lợn mang thai dẫn đến cơ thể mẹ suy nhược, sức khỏe kém Trong quá trình đẻ, sức rặn

đẻ của lợn yếu, thậm trí không rặn đẻ, cổ tử cung co bóp yếu nên không đẩy thai ra ngoài

Trang 26

+ Lợn ăn quá nhiều tinh bột, protein dẫn đến béo cũng gây ra đẻ khó Lợn quá gầy cũng dẫn đến đẻ khó

+ Do cấu tạo tổ chức các phần mềm như: Cổ tử cung, âm đạo giãn nở không bình thường có chỗ giãn quá mạnh, chỗ lại không giãn nên việc đẩy con ra ngoài gặp khó khăn

+ Khung xoang chậu bị biến dạng, khớp bán động háng phát triển không bình thường, vôi hóa cột sống hay xoang chậu hẹp Trong quá trình đẻ

độ giãn nở kém, thai bị mắc trước cửa xoang chậu không ra đươc Khi quá trình rặn đẻ kéo dài, sức co bóp lớn ép lợn con bị chết

+ Ở thời gian có thai kỳ cuối, thai quá to, lợn nái vận động mạnh, chèn

ép tử cung làm tử cung bị xoắn vặn lại, tư thế tử cung thay đổi, đường sinh dục trở nên không bình thường cũng gây đẻ khó

+ Do rối loạn hormone tuyến sinh dục cái: Kích tố nhau thai Relaxin

lúc đẻ tiết ra ít nên không làm mất lớp canxi ở bán động háng, không giãn dây

chằng xương chậu (không sụt mông) hoặc Prostagladin tiết ít không đủ gây

co bóp tử cung nên không tống thai ra ngoài được

+ Đẻ khó do nguyên nhân bào thai

Chiều hướng, tư thế của thai lúc đẻ không bình thường Theo Nguyễn Huy Hoàng (1996) [10], các trường hợp lợn con nằm không đúng tư thế: Bốn chân lợn con hướng về xương sống lợn mẹ, lợn con nằm đưa vai ra trước, lợn con đầu ngước ra sau lưng, lợn con đầu quẹo sang một bên, lợn con đưa đầu

và bốn chân ra một lượt, lợn con mõm ra trước, hai chân trước co xuống bụng, lợn con đầu cúp xuống ngực

Chế độ dinh dưỡng không phù hợp hoặc do quá ít thai, làm thai quá to không phù hợp với kích thước của xương chậu và đường sinh dục của lợn mẹ Thai bị dị hình hay quái thai

Trang 27

Đẻ khó do nguyên nhân bào thai thường chiếm 3/4, những nguyên nhân

và loại hình đẻ khó có thể xảy ra đơn độc hoặc kết hợp lại với nhau như bào thai quá to mà xương chậu lại quá nhỏ, thai to cộng với tư thế thai không bình thường… khi rặn đẻ thai bị kẹt không ra được

- Triệu chứng

Lợn nái đến ngày đẻ, nước ối vỡ ra, trong nước ối có lẫn phân su nhưng không thấy thai ra Lợn nái có biểu hiện rặn nhiều lần, rặn mạnh, thậm chí lợn nái còn rặn căng bụng, cong lưng, chân đạp vào thành chuồng để rặn nhưng thai vẫn không ra Do thời gian rặn đẻ mạnh và kéo dài mà thai vẫn không ra làm cho lợn nái mệt mỏi Nếu để lâu có thể dẫn đến hiện tượng thai bị ngạt

mà chết Khi đưa tay vào đường sinh dục thấy khung xoang chậu hẹp, thai to hoặc ở tư thế không bình thường nằm kẹt ở trước cửa xoang chậu

Khi dùng biện pháp can thiệp không đúng cách, gây xây xát niêm mạc

tử cung, hoặc dụng cụ thủ thuật không đảm bảo vệ sinh làm lợn bị nhiễm một

số bệnh: viêm tử cung, viêm vú, sảy thai truyền nhiễm… khi đó, niêm mạc sẽ

có nhữngvết sẹo gây cản trở cho quá trình thụ thai, thai làm tổ… dẫn đến xảy thai, tiêu thai, đẻ non ở những lần sinh sản tiếp theo, thậm trí là vô sinh

Trang 28

- Nguyên nhân: Virut gây bệnh thai khô, chết thai ở lợn là một loại Parvovirus dạng trần, không vỏ bọc chứa ADN có kích thước nhỏ 20nm (trong khi đó virut gây bệnh PRRS có kích thước lớn hơn và chứa ARN) Khi vào cơ thể, virut gây sảy thai ký sinh ở trong nhân tế bào ký chủ và lấy ADN của tế bào lợn điều tiết quá trình sinh sản cho chính virut Cơ quan thích hợp nhất để chúng phát triển là não, hạch lâm ba, gan, thận, phổi, amidal, bào thai

và nhau thai (http://www.opac.lrc.edu.vn [40])

- Virut dễ nuôi cấy trên các tổ chức tế bào khác nhau của cơ thể lợn và tạo nên hiện tượng “Bệnh tích tế bào” (Cito - pathogen effect - CPE) và các biến đổi trong nhân tế bào ký chủ Virut có sức sống kém đối với các chất như nước vôi 5%, Foocmol 0,8%- 1%, Vinadin 10% …

- Triệu chứng: nái đẻ ít, hoặc đẻ ra nhiều thai khô (thai chết ở nhiều giai đoạn khác nhau), nhiều trường hợp lợn con chết ngay sau khi sinh Nái có các dấu hiệu rối loạn sinh sản, không động dục, động dục phối nhiều lần không đậu, chậm động dục sau cai sữa Chết phôi, tiêu thai, sảy thai và tăng số thai khô hoặc đẻ non, đến thời kỳ đẻ nhưng lợn không có phản xạ đẻ (http://www.opac.lrc.edu.vn [40])

- Bệnh tích: Thai có thể chết ở các giai đoạn khác nhau, nước bị hấp thu hết, đậm màu, mất nước, thai khô cứng như gỗ

 Bệnh tiêu chảy ở lợn con

Theo Purvis và cs (1985) [39] cho rằng phương thức cho ăn không phù hợp là nguyên nhân quan trọng gây tiêu chảy ở lợn

Niconxki (1971) [18] đã nhấn mạnh “Khi cơ thể gia súc non bị lạnh kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm số lượng bạch cầu và tác dụng thực bào, giảm khả năng diệt trùng của máu do đó gia súc dễ bị vi khuẩn tấn công”

Bệnh tiêu chảy lợn con ở nước ta đã được nghiên cứu từ năm 1959 tại các cơ sở chăn nuôi tập trung (trại chăn nuôi và các nông trường quốc doanh)

Trang 29

Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [24] thì bệnh tiêu chảy lợn con

là một hội chứng hay nói cách khác là một trạng thái lâm sàng rất đa dạng, đặc biệt là dạng viêm dạ dày ruột, tiêu chảy và gầy sút nhanh Tác nhân gây

bệnh chủ yếu là E.coli, ngoài ra có sự tham gia của Salmonella và vai trò thứ yếu là Proteus, Streptococcus Bệnh xảy ra quanh năm ở những nơi tập trung

nhiều gia súc, bệnh thường phát mạnh từ mùa đông sang mùa hè (tháng 11 đến tháng 5) đặc biệt khi thời tiết thay đổi đột ngột (từ oi bức chuyển sang mưa rào, từ khô ẩm chuyển sang rét).Tỷ lệ mắc bệnh tới 50% và tỷ lệ chết tới 30- 45% (Nguyễn Như Thanh, 1997) [23]

- Nguyên nhân:

+ Do vi khuẩn: Vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy cho lợn thường gặp bao

gồm một loại như E Coli, Salmonella, Shigella, Clostridium perfringens…

Lợn con sơ sinh có thể bị nhiễm bệnh do vi khuẩn từ chuồng nuôi, da lợn mẹ, phân lợn mẹ thải ra Do đó, trong điều kiện vệ sinh kém hoặc trong hệ thống nuôi liên tục, mầm bệnh tồn tại trong môi trường có thể dẫn đến dịch tiêu chảy trên lợn con sơ sinh Lợn con được sinh ra từ những lợn mẹ chưa được tiêm phòng hoặc không có kháng thể chống lại các loại mầm bệnh trong sữa đầu sẽ rất nhạy cảm với bệnh

+ Do virus: Tiêu chảy do virus xảy ra trên lợn mọi lứa tuổi, đặc biệt là

lợn con theo mẹ Một số loài virus như: Rotavirus, Coronavirus, Herpesvirus,

Pestivirus…

- Triệu chứng: biểu hiện thay đổi theo độc lực của mầm bệnh, tuổi và tình trạng miến dịch của lợn con Những trường hợp nặng triệu chứng lầm sàng là mất nước, toan huyết và chết Một số trường hợp nặng lợn con có thể chết trước khi xuất hiện tiêu chảy

Tiêu chảy có thể xuất hiện 2 – 3 giờ sau khi sinh và có thể ảnh hưởng trên một con hay toàn lứa Lợn con của những lợn nái đẻ lứa đầu thì bị ảnh

Trang 30

hưởng nhiều hơn so với những lợn con của những lợn nái đẻ nhiều lứa Một

số lượng lớn lợn con trong chuồng bị ảnh hưởng và tỷ lệ chết cao trong một vài ngày đầu Tiêu chảy có thể nhẹ và không có hiện tượng mất nước cho đến nặng và mất nước rõ Màu phân thay đổi tùy theo loại mầm bệnh như: trắng, xám, vàng, xanh… mùi chua, tanh Trường hợp nặng lợn co có thể bị mất nước, 30 – 40% trọng lượng cơ thể bị mất do mất nước Cơ vùng bụng mất trương lực, lợn suy nhược uể oải, mắt trũng, da xắm và hơi xanh Những trường hợp mãn tính hậu môn viêm đỏ do tiếp xúc nhiều với phân mang tính kiềm

2.2.4 Những hiểu biết về kỹ thuật chăn nuôi lợn nái chửa và nái đẻ

2.2.4.1 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái chửa

Ý nghĩa của việc nhận biết nái chửa: việc nhận biết lợn nái là công việc cần thiết, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong trong nuôi nái sinh sản, chuẩn đoán lợn nái có thai để có chế độ nuôi dưỡng phù hợp như Phát hiện lợn nái sinh sản có bệnh hay không có để can thiệp kịp thời, trong trường lợp lợn nái bị bệnh về đường sinh dục không thể sinh sản cần loại thải để giảm chi phí trong chăn nuôi

Phương pháp chẩn đoán lợn nái mang thai:

Theo Vũ Đình Tôn và cs (2005) [31] trước khi tiến hành chẩn đoán lợn nái mang thai cần nắm rõ các thông tin sau:

- Thời gian phối giống cho lợn lần cuối, số lần phối

- Tình hình phối giống và quá trình sinh đẻ của những lần trước

- Sau khi phối giống lợn có động dục trở lại hay không

- Về tiền sử lợn có bị bệnh về đường sinh dục hay không

- Tình hình nuôi dưỡng lợn nái

Phát hiện lợn nái có thai dựa vào những biểu hiện của lợn nái, ngoài ra căn cứ vào 2 phương pháp sau:

Trang 31

- Phương pháp chẩn đoán trên lâm sang: Phương pháp này chủ yếu dựa vào biểu hiện nói chung của lợn nái khi mang thai để chẩn đoán chửa hay không

+ Quan sát bên ngoài: Khi quan sát bên ngoài nái thường xuất hiện trạng thái phù thũng tứ chi, thành bụng, tuyến sữa phát triển to lên, bè ra, hiện tượng này có thể quan sát rõ ở thời kỷ chửa kỳ 2

+ Dùng lòng bàn tay sờ nắn vào một bên thành bụng ở hai hàng vú phía sau cùng Phương pháp này có thể sờ nắn bào thai khi lợn nằm về phía bên phải và vào thời gian có thai cuối của tháng thứ 3 Đối với lợn nuôi tốt, mỡ thành bụng quá dày thì sờ nắn vào thai khó khăn và kém chính xác

- Phương pháp chẩn đoán trong phòng thí nghiệm:

+ Phương pháp này đòi hỏi kỹ thuật cao, phải kết hợp nhiều hóa chất tốn kém, khi lợn mang thai ở tháng thứ nhất rất khó phát hiện Ta có thể lấy nước tiểu của lợn nái (thường lấy nước tiểu vào buổi sang) rồi đem đi chuẩn

độ iod

+ Hiện nay chúng ta có thể dùng máy siêu âm để chẩn đoán, phương pháp này rất đơn giản, tuy nhiên mức độ chính xác chưa cao nếu chẩn đoán trước 35 ngày sau khi phối

Nuôi dưỡng chăm sóc lợn nái chửa nhằm mục tiêu là lợn nái đẻ sai con, lợn con có khối lượng sơ sinh cao, dự trữ đủ sữa cho con bú, cơ thể mẹ không

bị hao mòn lớn, sớm động dục trở lại, tăng số lứa đẻ trên năm

- Giai đoạn phôi thai (1 – 22 ngày)

Giai đoạn này tính từ ngày thứ nhất đến ngày thứ 22 sau khi thụ tinh

Từ một tế bào, phôi tăng cường trao đổi chất tạo thành túi phôi, sau đó túi phôi phân cắt phôi thai phát triển thành hợp tử Trong giai đoạn này hợp tử lấy dinh dưỡng từ tế bào trứng và tinh trùng

Trang 32

Sau khi thụ tinh 5 – 6 ngày túi phôi được hình thành

Sau 7 – 8 ngày màng ối được hình thành

Sau 12 ngày màng nhung niệu được hình thành

Ở cuối giai đoạn này, một số cơ quan trao đổi chất như: đầu, hố mắt, tim, gan hình thành nhưng chưa hoàn chỉnh

Trong giai đoạn này cần chăm sóc nái mẹ cẩn thận, tránh những tác động mạnh tới cơ thể nái mẹ không cho ăn những thức ăn ôi thiu không hợp

vệ sinh giảm khả năng sảy thai ở lợn mẹ

- Giai đoạn tiền thai (23 – 39 ngày)

Thời kỳ này nhau thai phát triển đầy đủ hơn, quá trình phát triển diễn ra mạnh mẽ hơn để hoàn chỉnh các cơ quan mới Ở cuối thời kỳ này hầu hết các

cơ quan đã cơ bản được hình thành Chất dinh dưỡng chủ yếu lấy từ cơ thể mẹ

- Giai đoạn bào thai (40 – 114 ngày)

Đây là giai đoạn phát triển mạnh nhất, sự trao đổi chất say ra mãnh liệt, các cơ quan bộ phận dần được hoàn chỉnh Quá trình trao đổi chất của bào thai diễn ra mãnh liệt Khối lượng bào thai tăng mạnh, đặc biệt từ ngày thứ 80 trở đi thai phát triển rất mạnh, tăng gấp 600 – 1300 lần Vì vậy nuôi dưỡng lợn nái ở thời kỳ này là rất quan trọng, nó quyết đinh khối lượng của con sơ sinh

Định mức ăn của nái chửa cần căn cứ vào thời kỳ mang thai, để cung cấp lượng thức ăn đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng nhưng không ảnh hưởng đến thai, lợn nái cần cho ăn nhiều bữa trong ngày, không nên cho lợn nái ăn quá no gay chèn ép thai

Tuy nhiên thức ăn còn phụ thuộc vào chất lượng khẩu phần thức ăn tức

là mức độ cân đối của các thành phần dinh dưỡng trong khẩu phần

Ngày đăng: 07/06/2017, 11:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Bình (2000), Phòng trị bệnh heo nái - heo con - heo thi ̣t , Nxb Nông nghiê ̣p - Hà Nội, Trang 29 - 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trị bệnh heo nái - heo con - heo thi ̣t
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiê ̣p - Hà Nội
Năm: 2000
2. Lê Xuân Cường (1986), Năng suất sinh sản của lợn nái, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất sinh sản của lợn nái
Tác giả: Lê Xuân Cường
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1986
3. Trần Thi ̣ Dân (2004), Sinh sản heo nái và sinh lý heo con , Nxb Nông nghiê ̣p TpHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản heo nái và sinh lý heo con
Tác giả: Trần Thi ̣ Dân
Nhà XB: Nxb Nông nghiê ̣p TpHCM
Năm: 2004
4. Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2003), Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con
Tác giả: Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
5. Đoa ̀n Kim Dung, Lê Thi ̣ Tài (2002), Phòng và trị bệnh lợn nái để sản xuất lợn thi ̣t siêu nạc xuất khẩu, Nxb Nông nghiê ̣p - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị bệnh lợn nái để sản xuất lợn thi ̣t siêu nạc xuất khẩu
Tác giả: Đoa ̀n Kim Dung, Lê Thi ̣ Tài
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp - Hà Nội
Năm: 2002
6. Trần Tiến Du ̃ng , Dương Đình Long , Nguyễn Văn Thanh (2002), Sinh sản gia súc , Nxb Nông nghiê ̣p - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Du ̃ng , Dương Đình Long , Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp - Hà Nội
Năm: 2002
7. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2006), Giáo trình sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2006
8. Phan Xuân Hảo, “Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái ngoại Landrace, Yorkshire và F1( LandracexYorkshire) đời bố mẹ”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, Tập 4, số 2/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái ngoại Landrace, Yorkshire và F1( LandracexYorkshire) đời bố mẹ
10. Nguyễn Huy Hoàng (1996), Tự trị bệnh cho heo, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp 11. Dương Mạnh Hùng (2012), Giống vật nuôi, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự trị bệnh cho heo", Nxb Tổng hợp Đồng Tháp 11. Dương Mạnh Hùng (2012), "Giống vật nuôi
Tác giả: Nguyễn Huy Hoàng (1996), Tự trị bệnh cho heo, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp 11. Dương Mạnh Hùng
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Đồng Tháp 11. Dương Mạnh Hùng (2012)
Năm: 2012
12. Nguyễn Đức Hưng, Phùng Thăng Long, Nguyễn Xuân Bả, (2005), Giáo trình chăn nuôi đại cương, Trường Đại học Nông Lâm Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi đại cương
Tác giả: Nguyễn Đức Hưng, Phùng Thăng Long, Nguyễn Xuân Bả
Năm: 2005
13. John Mabry. 1998. Đánh giá lợn Quốc Gia sử dụng BLUP ở Hoa Kỳ. Hội Chăn nuôi Việt Nam, Trang: 5 – 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá lợn Quốc Gia sử dụng BLUP ở Hoa Kỳ
15. Phạm Sỹ Lăng, Phan Đi ̣ch Lân, Trương Văn Dung (2002), Bê ̣nh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, tâ ̣p II, Nxb Nông nghiê ̣p, Trang 44 – 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bê ̣nh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Đi ̣ch Lân, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiê ̣p
Năm: 2002
16.Trương Lăng (2000), Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn, Nxb Đà Nẵng 17.Trương Lăng (2003), Cai sữa lợn con, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn", Nxb Đà Nẵng 17.Trương Lăng (2003), "Cai sữa lợn con
Tác giả: Trương Lăng (2000), Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn, Nxb Đà Nẵng 17.Trương Lăng
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng 17.Trương Lăng (2003)
Năm: 2003
18.Lê Văn Năm (1999), Cẩm nang bác sĩ thú y hướng dẫn phòng và trị bệnh lợn cao sản, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang bác sĩ thú y hướng dẫn phòng và trị bệnh lợn cao sản
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
19. Nikonski (1986), Bệnh lợn con (Phạm Tuân, Nguyễn Đình Trí dịch), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh lợn con
Tác giả: Nikonski
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1986
20. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2004), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2004
22.Đoàn Văn Soạn, Đặng Vũ Bình (2011), “Khả năng sinh sản của các tổ hợp lai giữa nái lai F1 (Landrace x Yorkshire), F1 (Yorkshire x Landrace) với đực Duroc và L19”, Tạp chí Khoa học và Phát triển 9(4) tr 614-621 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sinh sản của các tổ hợp lai giữa nái lai F1 (Landrace x Yorkshire), F1 (Yorkshire x Landrace) với đực Duroc và L19
Tác giả: Đoàn Văn Soạn, Đặng Vũ Bình
Năm: 2011
23. Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương (1997). Vi sinh vật thú y. Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi sinh vật thú y
Tác giả: Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1997
24. Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương (2001), Vi sinh vật thú y, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi sinh vật thú y
Tác giả: Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
25.Nguyễn Văn Thanh (2007), “Khảo sát tỷ lệ mắc và thử nghiệm điều trị bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại nuôi tại vùng Đồng bằng Bắc bộ”, Tạp chí KHKT thú y, XIV (số 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tỷ lệ mắc và thử nghiệm điều trị bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại nuôi tại vùng Đồng bằng Bắc bộ
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung - Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái và lợn con tại trại lợn nguyễn xuân dũng –ba vì – hà nội
Bảng 2.1 Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung (Trang 25)
Bảng 2.2: Thành phần các chất dinh dƣỡng trong thức ăn sử dụng cho - Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái và lợn con tại trại lợn nguyễn xuân dũng –ba vì – hà nội
Bảng 2.2 Thành phần các chất dinh dƣỡng trong thức ăn sử dụng cho (Trang 33)
Bảng 3.1: Lịch sát trùng trại lợn nái - Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái và lợn con tại trại lợn nguyễn xuân dũng –ba vì – hà nội
Bảng 3.1 Lịch sát trùng trại lợn nái (Trang 41)
Bảng 4.1: Tình hình chăn nuôi của trại Nguyễn Xuân Dũng - Ba Vì – Hà - Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái và lợn con tại trại lợn nguyễn xuân dũng –ba vì – hà nội
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi của trại Nguyễn Xuân Dũng - Ba Vì – Hà (Trang 52)
Bảng 4.2: Lịch phòng bệnh của trại lợn - Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái và lợn con tại trại lợn nguyễn xuân dũng –ba vì – hà nội
Bảng 4.2 Lịch phòng bệnh của trại lợn (Trang 53)
Bảng 4.3: Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại. - Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái và lợn con tại trại lợn nguyễn xuân dũng –ba vì – hà nội
Bảng 4.3 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại (Trang 54)
Bảng 4.4: Kết quả thực hiện chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái - Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái và lợn con tại trại lợn nguyễn xuân dũng –ba vì – hà nội
Bảng 4.4 Kết quả thực hiện chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái (Trang 55)
Bảng 4.5: Kết quả thực hiện chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn con - Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái và lợn con tại trại lợn nguyễn xuân dũng –ba vì – hà nội
Bảng 4.5 Kết quả thực hiện chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn con (Trang 56)
Bảng 4.6 Kết quả công tác phối giống - Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái và lợn con tại trại lợn nguyễn xuân dũng –ba vì – hà nội
Bảng 4.6 Kết quả công tác phối giống (Trang 57)
Bảng 4.7: Kết quả công tác phục vụ sản xuất khác - Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái và lợn con tại trại lợn nguyễn xuân dũng –ba vì – hà nội
Bảng 4.7 Kết quả công tác phục vụ sản xuất khác (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w