1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

91 487 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức thời gian qua trong cả nước nói chung ở Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nói riêng đã thu được các kết quả đáng ghi nhận nh

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN THỊ HẢI

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO,

BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, VIÊN CHỨC TỪ THỰC TIỄN VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

Chuyên ngành : Chính sách công

Mã số : 60 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS VĂN TẤT THU

Hà Nội, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài nghiên cứu “Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam” của luận

văn này là kết quả của sự nỗ lực cố gắng, tìm tòi và sáng tạo của riêng bản thân tôi cùng với sự hướng dẫn tận tình của người hướng dẫn khoa học PGS.TS Văn Tất Thu Tôi xin cam đoan, kết quả nghiên cứu của công trình hoàn toàn là kết quả của cuộc điều tra xã hội học mà tôi đã tiến hành nghiên cứu tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam Trong công trình nghiên cứu này không hề có bất kỳ sự sao chép nào mà không có trích dẫn nguồn, tác giả Tôi xin cam đoan những lời trên đây là hoàn toàn đúng sự thật và tôi xin chịu toàn bộ trách nhiệm về lời cam đoan của mình

Hà Nội, tháng năm 2017

Học viên

Phan Thị Hải

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, VIÊN CHỨC Ở VIỆT NAM 6

1.1 Một số khái niệm cơ bản 6 1.2 Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức 10 1.3 Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, viên chức .16 1.4 Nội dung các bước thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức 17 1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức 23 1.6 Những yêu cầu cơ bản trong tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức 26 1.7 Các phương pháp tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức 28 1.8 Các chủ thể tham gia thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức 29

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, VIÊN CHỨC TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM 32

2.1 Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, viên chức của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam 32 2.2 Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam 37 2.3 Thực trạng bảo đảm các yêu cầu trong tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức tại 42 2.4 Thực trạng các chủ thể tham gia thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, viên chức tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam 46

Trang 4

2.5 Kết quả thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam 49 2.6 Đánh giá chung kết quả tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, viên chức tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam 55

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, VIÊN CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 62

3.1 Phương hướng hoàn thiện thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức 62 3.2 Các giải pháp hoàn thiện thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,viên chức ở nước ta hiện nay 63

KẾT LUẬN 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Cơ cấu trình độ chuyên môn 35

Bảng 2.2: Cơ cấu trình độ chính trị 36

Bảng 2.3: Cơ cấu trình độ tin học

Bảng 2.4: Cơ cấu trình độ ngoại ngữ 36

Bảng 2.5: Cơ cấu trình độ quản lý nhà nước 36

Bảng 2.6: Cơ cấu về độ tuổi 37

Bảng 2.2: Công tác tuyển sinh tại Học viện Khoa học xã hội 56

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cán bộ viên chức Nhà nước là những người lao động có chuyên môn nghề nghiệp được Nhà nước tuyển dụng bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo hoặc một chức nghiệp nhất định trong các đơn vị sự nghiệp công và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước Họ là những người lao động có vai trò quan trọng quyết định chất lượng, hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công (sự nghiệp giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, y tế, văn hóa, thông tin .) có nhiệm vụ nghiên cứu, tham mưu đề xuất cho Đảng và Nhà nước các luận cứ khoa học trong hoạch định chủ trương, đường lối, chiến lược, chính sách pháp luật xây dựng bảo vệ phát triển đất nước và cung ứng cho người dân và xã hội các dịch

vụ công cơ bản

Trình độ năng lực, trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ viên chức nhà nước phụ thuộc nhiều vào quá trình đào tạo, bồi dưỡng và hoạt động thực tiễn Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ viên chức là nhiệm vụ giải pháp quan trọng trong xây dựng đội ngũ cán bộ viên chức Từ nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò của cán bộ, viên chức và tầm quan trọng của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức Nhà nước đã ban hành chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức thời gian qua trong

cả nước nói chung ở Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nói riêng đã thu được các kết quả đáng ghi nhận như: trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ viên chức đã được nâng cao, tham mưu ngày một tốt hơn cho Đảng và Nhà nước trong hoạch định chủ trương đường lối, chính sách, pháp luật và cung cấp dịch

vụ công cho người dân và xã hội ngày một tốt hơn

Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả, ưu điểm đã đạt được tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức còn bộc lộ các hạn chế, bất cập, ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu chính sách Các hạn chế, bất cập này cần được nghiên cứu để đề xuất các giải pháp khắc phục và hoàn thiện, nâng cao hiệu quả

tổ chức thực hiện chính sách Là một cán bộ làm việc tại Viện Hàn lâm Khoa

Trang 8

học xã hội Việt Nam tôi nhận thấy có trách nhiệm và mong muốn được đóng góp các đề xuất của mình vào hoàn thiện tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức ở Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nói

riêng và trong cả nước nói chung Chính vì lý do trên nên tôi chọn đề tài: “Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ chính sách công

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Chính sách đào tạo bồi dưỡng, cán bộ công chức là đề tài được nhiều học giả quan tâm đi sâu nghiên cứu, nhưng đối tượng viên chức gần đây mới được chú trọng Có thể nêu ra một số công trình tiêu biểu như sau:

- Nguyễn Thị Hà, Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức từ thực tiễn Bộ Khoa học và Công nghệ, Luận văn thạc sĩ Chính sách công, Học viện Khoa học xã hội Tác giả đã làm sáng tỏ các lý luận và thực tiễn về chính sách đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức ở Việt Nam nói chung và Bộ Khoa học

và Công nghệ nói riêng

- Nguyễn Thị Thúy Hằng, Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ngành nội vụ ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ Chính sách công, Học viện Khoa học xã hội Tác giả đã phân tích, làm rõ các lý thực trạng và đưa ra các giải pháp về chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ngành nội

vụ ở nước ta hiện nay

- Nguyễn Xuân Hội, Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ngành nội vụ ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ Chính sách công, Học viện Khoa học xã hội Tác giả đề cập một cách tổng quát quá trình đào tạo, bồi dưỡng cũng như thực trạng và giải pháp đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ công chức tại huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội

- TS Ngô Thành Can, “Nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước Số 5/2008 Bài viết của tác giả Ngô Thành Can đã đi sâu nghiên cứu về các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác

Trang 9

- PGS.TS Nguyễn Minh Phương, Tiếp tục đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước, Táp chí Nghiên cứu khoa học nội vụ tháng 6/2014

- Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam (2015), Báo cáo Tổng kết năm

2015 về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức của Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam

Do vậy, học viên mạnh dạn xem đây như là cố gắng khoa học đầu tiên

nghiên cứu về “Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam”

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức ở Việt Nam để có cơ sở khoa học đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và đề xuất các giải pháp hoàn thiện thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức ở nước ta hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.2.1 Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức ở Việt Nam

3.2.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, chỉ rõ

ưu điểm, hạn chế, bất cập và nguyên nhân của các hạn chế, bất cập

3.2.3 Xác định phương pháp, đề xuất các giải pháp hoàn thiện thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ, viên chức làm việc tại các đơn vị trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Trang 10

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, viên chức (gồm cả cán bộ nghiên cứu và phục vụ nghiên cứu) của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam

- Phạm vi về thời gian: từ năm 2011 đến năm 2015

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận:

Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh,phân tích và tổng hợp, vận dụng cách tiếp cận theo hệ thống, đa ngành, liên ngành về khoa học xã hội, tiếp cận dựa trên phương pháp nghiên cứu quy phạm về chu trình thực thi và đánh giá chính sách công Những vấn đề lý luận chung của chính sách công được soi chiếu vào môi trường thực tiễn thông qua nghiên cứu một chính sách cụ thể giúp hình thành lý luận về chính sách chuyên ngành

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Có nhiều phương pháp để nghiên cứu đề tài luận văn nhưng do đặc thù của đề tài và đặc thù của chính sách nên tôi đã lựa chọn các phương pháp sau để nghiên cứu:

+ Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập thông tin qua nhiều phương tiện như: báo cáo tổng kết về kết quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, các quy định của các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, tham khảo qua internet, báo hình, báo viết, tạp chí và một số tham khảo khác

+ Phương pháp so sánh, phân tích và tổng hợp: Đây là phương pháp được

áp dụng chủ yếu trong luận văn

+ Phương pháp đánh giá: Đánh giá quá trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,

Trang 11

nguyên nhân những vấn đề khó khăn, vướng mắc, từ đó đưa ra các giải pháp để hoàn thiện và nâng cao công tác đào tạo, bồi dưỡng

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Các kết quả, kết luận rút ra từ việc nghiên cứu đề tài luận văn góp phần

bổ sung, hoàn thiện những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách công nói chung, thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ viên chức ở Việt Nam nói riêng

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Ý nghĩa thực tiễn của luận văn thể hiện ở chỗ luận văn đã đề xuất được các kinh nghiệm, các giải pháp thiết thực và hữu hiệu nhằm hoàn thiện thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, nguồn nhân lực chất lượng cao có vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy chuyên ngành chính sách công tại học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học

xã hội Việt Nam

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các hình và bảng, danh mục tài liệu tham khảo; luận văn được bố cục theo 3 chương sau:

Chương 1 Những vấn đề lý luận chung về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức ở Việt Nam

Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, viên chức tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Chương 3 Phương hướng, giải pháp hoàn thiện thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức ở Việt Nam hiện nay

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, VIÊN CHỨC Ở VIỆT NAM

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm viên chức

Viên chức có viên chức công và viên chức tư, viên chức được đề cập trong luận văn này là viên chức công, viên chức nhà nước

Khi Luật viên chức năm 2010 chưa ra đời, khái niệm về viên chức chưa được rõ ràng với cán bộ, công chức Căn cứ Nghị định 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ

công chức trong sự nghiệp của Nhà nước quy định: “ Viên chức là công dân

Việt Nam, trong biên chế, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội được quy định tại điểm

d khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức ngày 29 tháng 4 năm 2003, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật” [9]

Và khi Luật Viên chức 58/2010/QH12 ngày 15/11/2010 quy định “Viên

chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật (Điều 2,

Chương I) [25]

Như vậy, khái niệm về viên chức được thay đổi theo từng giai đoạn nhưng hiểu một cách chung nhất viên chức nhà nước là những người lao động có nghề nghiệp chuyên môn được nhà nước tuyển dụng vào làm việc theo chế độ hợp đồng và được bổ nhiệm vào một chức nghiệp (chức danh nghề nghiệp,

Trang 13

sách nhà nước hoặc quỹ lương từ các đơn vị sự nghiệp công theo quy định của pháp luật Viên chức là người lao động mang tính chất chuyên môn nghiệp vụ, kỹ thuật chuyên môn sâu, lao động của họ không mang tính chất quyền lực nhà nước Đặc điểm, đặc thù tính chất, đối tượng, kỹ năng tác nghiệp và việc sử dụng thời giờ làm việc của họ khác với công chức nhà nước Đạo đức nghề nghiệp của họ cũng khác với đạo đức nghề nghiệp của công chức nhà nước Họ là những người làm việc trong hệ thống các đơn vị

sự nghiệp công có nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công mà nhà nước phải chịu trách nhiệm chủ yếu bảo đảm nhằm phục vụ nhân dân trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, khoa học và các lĩnh vực khác mà khu vực ngoài công lập chưa có khả năng đáp ứng

4)[26]

Cán bộ viên chức được đề cập trong luận văn này là cán bộ viên chức nhà nước là những người được nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm vào vị trí chức danh nghề nghiệp nhất định trong đơn vị sự nghiệp công và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật Viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công có viên chức lãnh đạo, quản lý, viên chức chuyên môn nghiệp vụ, viên chức hành chính, kỹ thuật Cán bộ trong các đơn vị sự nghiệp công có thể hiểu là viên

Trang 14

chức lãnh đạo quản lý các đơn vị sự nghiệp công Trong luật Viên chức năm

2010 quy định: “Viên chức quản lý là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản

lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập nhưng không phải là công chức và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý”[25]

1.1.3 Khái niệm đào tạo cán bộ, viên chức và bồi dưỡng cán bộ, viên chức

Theo quy định tại điều 5 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 5/3/2010 của

chính phủ: “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri

thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học”, “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc”[6] Từ khái

niệm chung về đào tạo, bồi dưỡng có thể hiểu khái niệm đào tạo cán bộ viên chức và bồi dưỡng cán bộ, viên chức như sau:

Đào tạo cán bộ, viên chức là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học cho cán bộ, viên chức

Bồi dưỡng cán bộ, viên chức là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc của cán bộ, viên chức

Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức là trang bị kiến thức về lý luận chính trị; quản lý hành chính nhà nước, chuyên môn, nghiệp vụ; ngoại ngữ, tin học; hội nhập kinh tế quốc tế và kỹ năng, phương pháp tác nghiệp cho đội ngũ viên chức đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ công tác

Theo quy định của Luật viên chức năm 2010: “Nội dung, chương trình,

hình thức, thời gian đào tạo, bồi dưỡng viên chức phải căn cứ vào tiêu chuẩn chức vụ quản lý, chức danh nghề nghiệp, yêu cầu bổ sung, cập nhật kiến thức,

kỹ năng phục vụ hoạt động nghề nghiệp”[25]

Trang 15

1.1.4 Khái niệm chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức

Có rất nhiều cách hiểu chính sách khác nhau, chính sách được hiểu là tập hợp các quyết định hay chương trình hành động do tập thể các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình

“Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của

Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định”[41,tr12]

Nói cách khác, chính sách công là chính sách của Nhà nước là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước với mục tiêu giải pháp cụ thể nhằm giải quyết một vấn đề kinh tế, xã hội nhất định, theo ý chí của Đảng cầm quyền Từ khái niệm chung của chính sách công có thể định nghĩa chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức là tập hợp các quyết định chính trị

có liên quan của Nhà nước về đạo tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức với mục tiêu, giải pháp, công cụ cụ thể nhằm nâng cao trình độ năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, viên chức góp phần xây dựng đội ngũ cán

bộ, viên chức đáp ứng yêu cầu cung cấp dịch vụ công phục vụ nhân dân và sự nghiệp phát triển đất nước

1.1.5 Khái niệm tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức

Tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức là toàn

bộ quá trình chuyển ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực Tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức là một khâu hợp thành chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức, so với các khâu khác trong chu trình chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức có vị trí đặc biệt quan trọng là bước hiện

Trang 16

thực hóa đưa chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức vào thực tiễn cuộc sống

Tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức tốt không những mang lại lợi ích to lớn cho các nhóm đối tượng thụ hưởng chính sách mà còn góp phần làm tăng uy tín của nhà nước trong quá trình quản lý xã hội

Tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức là tất yếu, khách quan để duy trì sự tồn tại của công cụ chính sách theo yêu cầu quản lý của nhà nước và cũng là để đạt được mục tiêu của chính sách

1.2 Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức

1.2.1 Quan điểm của Đảng về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức

Đội ngũ cán bộ, viên chức có vai trò đặc biệt quan trọng trong công cuộc

“kháng chiến, kiến quốc” trước đây cũng như trong xây dựng và phát triển đất nước hiện nay

Là bộ phận trung tâm của nền hành chính, đội ngũ cán bộ, viên chức quyết định sự thành công của công cuộc cải cách hành chính, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì vậy, Đảng, Nhà nước ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm, chăm lo, xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, viên chức, coi đó là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, lâu dài Nói về vị trí, tầm quan trọng của cán bộ, viên chức Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là gốc của mọi công việc” và “muốn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”

Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 3 (khóa VIII) khẳng định: “Cán

bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng” Vì vậy, “phải thường xuyên chăm lo, xây dựng đội ngũ cán bộ, đổi mới công tác cán bộ gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng”, phải

“xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực

Trang 17

và trình độ đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước”[13]

Để thực hiện được mục tiêu đó, một trong các giải pháp quan trọng và không thể thiếu là đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, viên chức Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã dạy rằng: “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII chỉ rõ, phải “đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức với chương trình, nội dung phù hợp”

Quyết định số 1374/ QĐ-TTg ngày 12/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ đã

khẳng định “tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức là giải

pháp quan trọng hàng đầu để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”[30]

Là một bộ phận của hệ thống cán bộ, viên chức Việt Nam, quan điểm về chính sách đối với cán bộ, viên chức nằm trong tổng thể các quan điểm trên của Đảng

1.2.2 Chính sách của Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức

Các quan điểm trên của Đảng về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức

ở nước ta trong những năm qua, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã thể chế hóa thành các văn bản quy phạm pháp luật Đó là:

+ Luật cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 được Quốc hội khóa 12 thông qua ngày 13/11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/01/2010

+ Luật Viên chức 58/2010/QH12 ngày 15/11/2010 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2012

+ Và các Nghị định của chính phủ quy định chi tiết thực hiện luật cán bộ, công chức và luật viên chức như:

+ Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 05/03/2010 của Chính phủ về việc đào tạo, bồi dưỡng công chức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 5 năm 2010; + Các quy định pháp lý trong luật của Quốc hội và trong các Nghị định của chính phủ là cơ sở để xây dựng và thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán

Trang 18

bộ viên chức Cụ thể như: Luật cán bộ công chức năm 2008 quy định cán bộ, công chức có quyền “được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ” Đồng thời trên cơ sở các quy định của luật cán bộ, công chức năm 2008 của Quốc hội và các quy định trong Nghị định của chính phủ quy định chi tiết thực hiện luật Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 1374/QĐ-TTg ngày 12 tháng 8 năm 2011 quy định về việc phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011 – 2015 Trong kế hoạch này đã xác định mục tiêu chung của chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công

chức là: “Góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, vững

vàng về chính trị, tinh thông nghiệp vụ có đủ năng lực xây dựng hệ thống chính trị, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tiên tiến, hiện đại”[30]

Về chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức, tại Khoản 2 điều

11 của Luật viên chức năm 2010 đã quy định “viên chức có quyền được đào

tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ” và tại

Khoản 4 điều 10 của Luật viên chức năm 2010 đã quy định “Nhà nước có

chính sách xây dựng, phát triển đội ngũ viên chức có đạo đức nghề nghiệp, có trình độ và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khu vực cung ứng dịch vụ công; phát hiện, thu hút, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với người có tài năng để nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân”[25]

Ngoài ra, Khoản 1 điều 33 của Luật viên chức năm 2010 đã quy định

“Việc đào tạo, bồi dưỡng được thực hiện đối với viên chức trước khi bổ nhiệm chức vụ quản lý, thay đổi chức danh nghề nghiệp hoặc nhằm bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng phục vụ hoạt động nghề nghiệp” và “Viên chức được cử tham gia đào tạo, bồi dưỡng được hưởng tiền lương và phụ cấp theo quy định của pháp luật và quy chế của đơn vị sự nghiệp công lập; thời gian đào tạo, bồi dưỡng được tính là thời gian công tác liên tục, được xét nâng

Trang 19

Cụ thể hóa các quy định của Luật cán bộ, công chức năm 2008 và Luật viên chức năm 2010 Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định 163/QĐ-TTg ngày 25 tháng 01 năm 2016 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016 – 2025 Trong đề án chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai

đoạn 2016-2025 đã đề ra mục tiêu chung: “Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về

chất lượng và hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng, góp phần xây dựng đội ngũ cán

bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp có đủ phẩm chất, trình độ và năng lực, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân, sự nghiệp phát triển của đất nước và hội nhập quốc tế”[31] Đồng thời đề ra các mục tiêu cụ thể:

+ Xây dựng hệ thống thể chế thống nhất, đồng bộ cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, phù hợp với điều kiện của Việt Nam

và yêu cầu hội nhập quốc tế; hệ thống chính sách khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức học tập và tự học để không ngừng nâng cao trình độ và năng lực thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao

+ Tổ chức hệ thống quản lý và cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức gọn nhẹ, khoa học, phù hợp với mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng

+ Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực hoạt động thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Cụ thể đối với viên chức: Bảo đảm đến năm 2020, ít nhất 60% và đến năm 2025, 100% viên chức được bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp; Đến năm 2020, ít nhất 70% và đến năm 2025, 100% viên chức giữ chức vụ quản lý được bồi dưỡng năng lực, kỹ năng quản lý trước khi bổ nhiệm; Hàng năm, ít nhất 60% viên chức được bồi dưỡng về đạo đức nghề nghiệp; cập nhật nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp chuyên ngành [31]

+ Các giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức

Trang 20

- Nâng cao nhận thức về vai trò nhiệm vụ của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng; trách nhiệm của các cơ quan đơn vị quản lý sử dụng cán bộ, viên chức trong việc bảo đảm chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng

- Xây dựng hệ thống thể chế chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,

- Nâng cao năng lực quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức

- Thực hiện quản lý chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức

- Thực hiện hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức

- Áp dụng các hình thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức (tập trung, không tập trung, vừa học vừa làm, bồi dưỡng từ xa, )

- Bảo đảm, bố trí đủ kinh phí, tài chính để thực hiện mục tiêu, giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức

Có thể thấy, chính sách của Nhà nước ta về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức là khá rõ ràng và đầy đủ

1.3 Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức

1.3.1 Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức nhằm biến ý định của chủ thể chính sách thành hiện thực

Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức thực chất là nhằm biến ý định, quyết định chính trị về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức của Nhà nước thành hiện thực nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức thực sự có năng lực, biết giải quyết các vấn đề được giao trên nguyên tắc kết quả, hiệu quả và chất lượng nhằm trang bị những kiến thức, kỹ năng, thái độ

Trang 21

Nói cách khác thực hiện chính sách là giai đoạn biến thái độ của Nhà nước trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức thành những việc làm, trong điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể Quan đó, tìm ra những giải pháp phù hợp nhất để đáp ứng nhu cầu và trình độ năng lực thực tế của họ nhằm đạt được mục tiêu định hướng

1.3.2 Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức nhằm từng bước thực hiện các mục tiêu chính sách và mục tiêu chung

Việc triển khai thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức vào thực tế sẽ cho thấy rõ nhất và cụ thể nhất những ưu điểm và hạn chế của chính sách, đồng thời mang lại kết quả chính xác để xác định mức độ đạt được của mục tiêu đã đề ra Từ đó, các nhà hoạch định và xây dựng chính sách có căn cứ để điều chỉnh, hoàn thiện nhằm từng bước thực hiện mục tiêu của chính sách

Việc thực hiện các giai đoạn trong chu trình của chính sách không chỉ

do một cơ quan, tổ chức có thể đảm nhận mà cần phải có sự tham gia của nhiều cơ quan thuộc các cấp, các ngành khác nhau Vì vậy, thông qua việc thực hiện một chính sách sẽ góp phần thúc đẩy sự phối hợp của nhiều ngành,

cơ quan, tổ chức khác nhau Từ đó, ngoài việc đạt được mục tiêu của chính sách còn đạt được mục tiêu phát triển chung đối với nền kinh tế - xã hội của

Trang 22

định được chính sách đúng, có chất lượng là rất quan trọng, nhưng thực hiện đúng chính sách còn quan trọng hơn Có chính sách đúng nếu không được thực hiện sẽ trở thành khẩu hiệu suông, không những không có ý nghĩa, mà còn ảnh hưởng đến uy tín của chủ thể hoạch định và ban hành chính sách (uy tín của nhà nước) Nếu chính sách không được thực hiện đúng sẽ dẫn đến sự thiếu tin tưởng và sự phản ứng của nhân dân đối với nhà nước Điều này hoàn toàn bất lợi về mặt chính trị và xã hội, gây những khó khăn, bất ổn cho nhà nước trong công tác quản lý Qua thực hiện mới biết được chính sách có đúng, phù hợp và đi vào cuộc sống hay không Quá trình thực hiện với những hoạt động thực tiễn sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách cho phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống Đồng thời, việc phân tích, đánh giá một chính sách (mức độ tốt, xấu) chỉ có cơ sở đầy đủ, sức thuyết phục sau khi được thực hiện Thực tiễn là chân lý, kết quả thực hiện chính sách là thước đo, là cơ sở đánh giá một cách chính xác, khách quan chất lượng và hiệu quả của chính sách Việc đưa chính sách vào thực tiễn cuộc sống là một quá trình phức tạp đầy biến động, chịu sự tác động của nhiều yếu

tố giúp các nhà hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách có kinh nghiệm để

đề ra được các giải pháp hữu hiệu trong thực hiện chính sách [33] Vì vậy, thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức nhằm khẳng định tính đúng đắn chính sách của Nhà nước

1.3.4 Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức nhằm giúp cho chính sách ngày càng hoàn chỉnh

Thực tế cho thấy chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức được hoạch định bởi một tập thể nên không tránh khỏi sự ảnh hưởng của ý chí chủ quan Đồng thời, các quá trình kinh tế - xã hội lại thường xuyên vận động phát triển trong khi chính sách được xây dựng lại, dựa chủ yếu vào thực trạng

Trang 23

của môi trường sống và có khoảng cách khá lớn về thời gian kể từ khi xây dựng đến lúc tổ chức thực hiện chính sách

Ngoài ra, tổ chức thực hiện đưa chính sách vào thực tiễn cuộc sống là quá trình phức tạp, đầy biến động, chịu sự tác động của một loạt các yếu tố, thúc đẩy hoặc cản trở việc thực hiện chính sách Do ảnh hưởng của ý chí chủ quan và

sự vận động của môi trường nên giữa chính sách và thực tiễn xã hội trong giai đoạn tổ chức thực hiện chắc chắn có khoảng cách cần được lấp đầy bằng những điều chỉnh về chính sách hay các biện pháp tổ chức thực hiện chính sách Những điều chỉnh bổ sung về mục tiêu hay biện pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, viên chức trong quá trình tổ chức thực hiện là hoạt động giúp chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức ngày càng hoàn chỉnh

1.4 Nội dung các bước trong tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức

1.4.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức

Thực hiện chính sách là một quá trình diễn ra phức tạp trong thời gian dài do vậy đòi hỏi phải có kiến thức, hiểu biết chuyên môn, kỹ năng và thái

độ của cán bộ, viên chức trong xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách Kế hoạch thực hiện chính sách là một công cụ quan trọng để giúp các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện chính sách vào thực tiễn một cách chủ động Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách gồm các nội dung: phải có

kế hoạch tổ chức điều hành; có kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực cho thực hiện chính sách; có kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách; dự kiến xây dựng nội quy, quy chế về tổ chức, điều hành thực hiện chính sách

Khi các kế hoạch triển khai được xây dựng cụ thể và chính xác thì quá trình thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức sẽ thuận lợi và đạt kết quả cao

Trang 24

1.4.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức

Sau khi kế hoạch tổ chức thực thi chính sách được thông qua, các cơ quan nhà nước tiến hành tổ chức triển khai thực hiện theo kế hoạch Việc trước tiên cần làm trong quá trình này là phổ biến, tuyên truyền vận động mọi cán bộ, viên chức tham gia thực hiện hiểu rõ mục đích, yêu cầu của chính sách

Phổ biến, tuyên truyền chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức

là một hoạt động quan trọng, có ý nghĩa với cơ quan nhà nước và các đối tượng thực thi chính sách Vừa giúp cho các cá nhân, tổ chức thực thi chính sách nhận thức được đầy đủ tính chất, mục tiêu, nôi dung, nhiệm vụ, yêu cầu, phạm vi đối tượng, quy mô của chính sách đối với đời sống xã hội để chủ động tích cực tìm kiếm các kỹ năng, giải pháp, hình thức quán triệt phổ biến, tuyên truyền chính sách thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực thi có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách được giao

Đồng thời để việc phổ biến, tuyên truyền chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức có hiệu quả, cơ quan nhà nước cần có sự tăng cường đầu tư

về trình độ chuyên môn, phẩm chất chính trị đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực thi chính sách, về trang thiết bị, kỹ thuật… nhằm nâng cao chất lượng phổ biến, tuyên truyền chính sách

Phổ biến, tuyên truyền chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức cần phải được thực hiện thường xuyên, bằng nhiều hình thức như trực tiếp tiếp xúc, trao đổi với các đối tượng tiếp nhận; gián tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng, cán bộ làm công tác tuyên truyền Tuy nhiên, tùy theo các yêu cầu của cơ quan nhà nước, các nhà quản lý chính sách để có thể lựa chọn một hình thức phổ biến, tuyên truyền chính sách bằng nhiều hình thức cho phù hợp với điều kiện hiện có của mình mang lại hiệu quả cao nhất

Trang 25

1.4.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán

Trong phân công nhiệm vụ thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, viên chức cần chú ý đến khả năng, trình độ, năng lực chuyên môn và thế mạnh của từng tổ chức, cơ quan, cá nhân, tránh hạn chế trình trạng nhiệm vụ chồng chéo và phân công trách nhiệm không rõ ràng Phân công, phối hợp thực hiện chính sách còn được thể hiện qua quá trình tổ chức điều hành và phối hợp nhịp nhàng giữa các tổ chức, cơ quan, cá nhân trong việc thực hiện chính sách

Do vậy, để tổ chức thực hiện chính sách có hiệu quả cần phải có sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các chức, cơ quan, cá nhân

1.4.4 Duy trì chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức

Duy trì chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức là hoạt động bảo đảm cho chính sách tồn tại và phát huy tác dụng cho môi trường thực tế

Tuy nhiên, trong thi thực thi chính sách lại nảy sinh một số vướng mắc,

có thể do nhà hoạch định chính sách chưa lường hết những tác động làm thay đổi môi trường trước hoặc sau khi ban hành chính sách Vì vậy, các cơ quan ban hành chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức cần tạo lập môi trường thuận lợi và chủ động tham mưu, đề xuất với chủ thể ban hành chính sách và áp dụng các giải pháp, biện pháp thực hiện chính sách phù hợp với

Trang 26

hoàn cảnh mới Việc duy trì chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức có

ý nghĩa vô cùng quan trọng bảo đảm cho chính sách này tồn tại và bền vững

1.4.5 Điều chỉnh chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức

Điều chỉnh chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức là một hoạt động cần thiết diễn ra thường xuyên trong tiến trình tổ chức thực hiện chính sách Muốn điều chỉnh chính sách cho phù hợp với yêu cầu, thực tiễn quản lý thì chỉ có các cơ quan nhà nước mới có đủ thẩm quyền Theo quy định cơ quan nào ban hành chính sách thì cơ quan đó được điều chỉnh, trên thực tế việc điều chỉnh bổ sung các biện pháp, các cơ chế chính sách diễn ra rất năng động và linh hoạt Vì vậy, các cơ quan nhà nước, ban ngành, các cấp chủ động điều chỉnh biện pháp, đưa ra cơ chế chính sách để thực hiện chính sách

có hiệu quả

Muốn điều chỉnh một chính sách hợp lý đòi hỏi cán bộ, viên chức thực thi chính sách phải am hiểu, nắm chắc các quy định, các công cụ thực hiện chính sách, đồng thời phải có kiến thức, kỹ năng phân tích các hạn chế, bất cập của chính sách, các yêu cầu thực tiễn đặt ra trong thực hiện chính sách để

có cơ sở khoa học đề xuất điều chỉnh các giải pháp, biện pháp và cơ chế chính sách Do vậy, mỗi cán bộ, viên chức thực thi chính sách cần phải có năng lực

và kiến thức, kỹ năng đề xuất các giải pháp, biện pháp, cơ chế chính sách để chính sách được thực hiện có hiệu quả, bảo đảm mục tiêu chính sách đề ra

Trong điều chỉnh chính sách công nói chung, chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức nói riêng cần đặc biệt chú trọng và tôn trọng nguyên tắc chỉ được điều chỉnh các biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu hoặc bổ sung hoàn chỉnh mục tiêu theo yêu cầu thực tế Nếu điều chỉnh làm thay đổi mục tiêu nghĩa là làm thay đổi chính sách thì coi như chính sách không tồn tại

Trang 27

1.4.6 Đôn đốc, theo dõi, kiểm tra thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức

Thực hiện một chính sách có hiệu quả tốt thì việc đôn đốc, theo dõi kiểm tra là một trong những khâu quan trọng, nó thể hiện được năng lực thực hiện, khả năng, kiến thức, kỹ năng, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, viên chức Để đốn đốc, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức cần phải am hiểu sâu sắc mục tiêu của chính sách này, đối tượng thụ hưởng của chính sách và các quy định, công cụ, giải pháp thực hiện chính sách Cần nắm chắc, chính xác các quy định trong kế hoạch thực hiện chính sách, các quy chế, nội quy trong thực hiện chính sách

Đôn đốc, theo dõi, kiểm tra thực hiện chính sách đội ngũ cán bộ công chức, viên chức cần thu thập, cập nhật đầy đủ các nguồn thông tin, các cơ sở dữ liệu thông tin phản ánh về quá trình triển khai và kết quả thực hiện chính sách từ các cơ quan, tổ chức

Từ đó, phân tích xử lý thông tin một cách chính xác tránh những thiếu sót trong công tác lập kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách Kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách vừa kịp thời bổ sung, hoàn thiện chính sách giúp nâng cao hiệu lực hiệu quả của chính sách

1.4.7 Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức

Đánh giá chính sách công là hoạt động kiểm tra chính sách bằng các tiêu chí cụ thể như phù hợp, đầy đủ, tính hiệu quả, hiệu suất và tác động của chính sách nhằm cải thiện việc hoạch định, xây dựng và thực hiện chính sách giải quyết thành công các vấn đề chính sách công trong tương lai [23]

Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức là việc làm cần thiết và là một khâu rất quan trọng trong quá trình thực hiện chính sách Đánh giá, tổng kết thực hiện chính

Trang 28

sách là quá trình xem xét kết luận về sự chỉ đạo, điều hành tổ chức thực hiện chính sách của chủ thể thực hiện chính sách (các cơ quan, tổ chức và đội ngũ cán bộ, viên chức có nhiệm vụ thực hiện chính sách) và việc chấp hành, thực hiện của các cán bộ, viên chức là đối tượng thụ hưởng chính sách

Phải căn cứ vào các tiêu chuẩn, tiêu chí và các nguyên tắc nhất định để đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm chính sách một cách chính xác Dựa trên các tiêu chí đánh giá công tác chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách của các

cơ quan, ban ngành, các tổ chức nhà nước của cán bộ viên chức là kế hoạch

và các quy định, quy chế, nội quy ban hành kèm theo Còn phải sử dụng các văn bản liên tịch giữa các cơ quan trong và ngoài ngành, các văn bản quy phạm pháp luật, các báo cáo kết quả thực hiện chính sách của các cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan

Để tổng kết, đánh giá chính xác, ngoài các tiêu chí ra còn phải căn cứ vào các nguyên tắc đó là toàn diện, công bằng và khách quan Việc đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm phải chỉ ra được chính xác các ưu điểm, nhược điểm, kinh nghiệm thực hiện chính sách Từ đó, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách đòi hỏi các cơ quan, tổ chức và các cán bộ, viên chức phải có trình

độ, kiến thức và kỹ năng nhất định mới có thể đánh giá, tổng kết và rút ra bài học kinh nghiệm trong thực hiện chính sách

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện chính sách

Trong quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức có liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân do vậy kết quả tổ chức thực hiện chính sách sẽ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố trong đó có yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan

1.5.1 Yếu tố khách quan

Một là, tính chất của vấn đề chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên

Trang 29

phức tạp Tính phức tạp của vấn đề chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức ở chỗ không chỉ do số lượng cán bộ, viên chức quá lớn mà còn do đặc điểm, đặc thù, tính chất chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp của viên chức rất đa dạng, phong phú và khác nhau Viên chức làm việc trong các ngành, nghề, lĩnh vực sự nghiệp công khác nhau đòi hỏi phải có chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp tương ứng Không có chuyên môn, nghiệp

vụ, đạo đức nghề nghiệp chung cho tất cả các ngành, nghề, lĩnh vực sự nghiệp công Chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp của viên chức sự nghiệp giáo dục đào tạo khác với chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp của viên chức sự nghiệp y tế và càng khác với chuyên môn nghiệp vụ của viên chức sự nghiệp khoa học công nghệ và viên chức sự nghiệp khác Do

đó, nhu cầu và yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ, viên chức các ngành nghề lĩnh vực sự nghiệp công cũng rất khác nhau Và nội dung, chương trình, kiến thức, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp cần thiết đào tạo, bồi dưỡng trang bị cho họ cũng đòi hỏi phải khác nhau và phải phù hợp với từng ngành, nghề, lĩnh vực sự nghiệp nơi họ công tác Đặc điểm, đặc thù này là biểu hiện rõ tính phức tạp của vấn đề chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức nó gây khó khăn và phức tạp cho việc xây dựng về tổ chức thực hiện chính sách Do tính phức tạp của vấn đề chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức nên trong tổ chức thực hiện chính sách cần phải chú ý đến tác động ảnh hưởng của nó để chủ động tìm kiếm các giải pháp khắc phục mới cho kết quả và hiệu quả mong muốn

Hai là, môi trường thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ viên

chức ở nước ta hiện nay Môi trường thực hiện chính sách là yếu tố liên quan đến các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội Điều này nói lên rằng môi trường chính sách cũng đặt ra nhiều thách thức trong quá trình thực hiện chính sách đó là: Hệ thống các cơ quan có chức năng hoạt động khá đa dạng

Trang 30

Ba là, mối quan hệ giữa các đối tượng thực thi chính sách đào tạo, bồi

dưỡng cán bộ, viên chức ở nước ta hiện nay Là sự thống nhất giữa chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức trong quá trình thực hiện chính sách

Bốn là, tiềm lực của các nhóm đối tượng chính sách đào tạo, bồi dưỡng

cán bộ, viên chức Được hiểu là thực lực và tiềm năng của mỗi nhóm đối tượng chính sách có được trong mối quan hệ so sánh với các nhóm đối tượng khác Tiềm lực của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức hiện nay nhìn chung

có nhiều thuận lợi cho việc thực hiện chính sách này

Năm là, đặc tính của đối tượng chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,

viên chức Do tính chất đặc trưng nghề nghiệp nên cán bộ, viên chức đa phần

là những cán bộ, viên chức có năng lực trình độ cao, khá nhạy bén và dễ dàng tiếp nhận những chính sách mới và có ý thức kỷ luật cao Đây là mặt thuận lợi trong việc thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ viên chức ở nước ta hiện nay

1.5.2 Yếu tố chủ quan

Một là, các yếu tố thuộc về cơ quan, tổ chức, do cán bộ, viên chức chủ

động chi phối đến quá trình thực hiện chính sách nên nó có ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện Việc thực hiện chính sách luôn đòi hỏi phải thực hiện đầy

đủ các bước, các khâu trong quy trình thực hiện chính sách Nếu thực hiện chính sách thiếu trong các bước này thì chính sách đó sẽ không đạt kết quả tốt, sẽ đi không đúng mục tiêu, yêu cầu đặt ra

Hai là, năng lực thực thi chính sách của đội ngũ cán bộ, viên chức có

trách nhiệm thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ, viên chức

ở nước ta hiện nay Muốn năng lực thực thi chính sách tốt trước hết đội ngũ cán bộ, viên chức tham gia thực hiện chính sách phải quyết định chất lượng, hiệu quả của việc thực hiện chính

Trang 31

Ba là, điều kiện vật chất cho quá trình thực hiện chính sách đội ngũ cán

bộ, viên chức tham gia thực hiện chính sách Điều kiện vật chất là một trong những yếu tố quan trọng cho quá trình thực hiện chính sách Về điều kiện vật chất này Đảng và Nhà nước luôn phải tăng cường các nguồn lực vật chất và nhân sự, trong đó nguồn lực vật chất cần tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng Trong thực tế, do chỉ thiếu các điều kiện vật chất, kỹ thuật cho công tác tuyên truyền phổ biến chính sách thì các cơ quan nhà nước khó có thể chuyển tải những nội dung chính sách đến với chủ thể tham gia và đối tượng thụ hưởng một cách thường xuyên

Bốn là, sự đồng tình, ủng hộ của đối tượng thụ hưởng chính sách là đội

ngũ cán bộ, viên chức ở nước ta và các đối tượng liên quan Đây cũng là nhân

tố có vai trò quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của một chính sách cũng là vấn đề hết sức lớn lao, bởi việc thực hiện các mục tiêu chính sách không thể chỉ do các cơ quan, tổ chức nhà nước làm, mà phải có sự tham gia của đội ngũ cán bộ, viên chức Vì mỗi cán bộ, viên chức không chỉ là người trực tiếp tham gia hiện thực hóa mục tiêu chính sách, mà còn là đối tượng trực tiếp thụ hưởng những lợi ích do chính sách mang lại Do vậy, một chính sách đáp ứng được nhu cầu thực tế được sự ủng hộ, đồng tình của đối tượng thụ hưởng chính sách là đội ngũ cán bộ, viên chức thì chính sách đó mới có hiệu quả

1.6 Những yêu cầu cơ bản trong tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức

1.6.1 Yêu cầu thực hiện mục tiêu

Thực hiện chính sách là những hoạt động cụ thể của các cơ quan, tổ chức nhà nước các cán bộ, viên chức tham gia chính sách nhằm đạt được những mục tiêu trực tiếp Đây là yêu cầu quan trọng nhất và xuyên suốt trong quá trình thực hiện chính sách Đạt được mục tiêu chính sách tức là bảo đảm cho

Trang 32

vấn đề chính sách được giải quyết Mục tiêu của chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức ở nước ta hiện nay là xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức chuyên nghiệp có đủ phẩm chất, trình độ và năng lực, đáp ứng yêu cầu cung cấp dịch vụ công cho người dân về sự nghiệp phát triển đất nước.Vì vậy, phải đạt mục tiêu chính sách chính là yêu cầu cơ bản nhất Mục tiêu chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức không thực hiện được thì coi như chính sách không thực hiện được

1.6.2 Yêu cầu đảm bảo tính hệ thống

Nội dung của tính hệ thống trong thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức thể hiện ở các khía cạnh khác nhau: hệ thống mục tiêu và biện pháp của chính sách; hệ thống trong tổ chức bộ máy tổ chức thực thi chính sách; hệ thống trong điều hành, phối hợp thực hiện; yêu cầu bảo đảm tính hệ thống trong tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, viên chức chính là bảo đảm cho tổ chức thực hiện chính sách đồng bộ, có hiệu quả cao Yêu cầu này cũng đòi hỏi phải sử dụng đồng bộ các công cụ chính sách với các công cụ quản lý khác của nhà nước Nếu yêu cầu này được đảm bảo trong thực thi chính sách sẽ là cơ sở trực tiếp cho việc đạt mục tiêu

đề ra

1.6.3 Yêu cầu cơ quan nhà nước phải bảo đảm tính pháp lý, khoa học và hợp lý trong thực hiện chính sách

Yêu cầu quan trọng này buộc các cơ quan tổ chức, đơn vị có trách nhiệm

tổ chức thực hiện phải bảo đảm tính pháp lý, khoa học và hợp lý trong thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức Tính pháp lý được thể hiện trong tổ chức thực hiện chính sách là việc chấp hành các quy định về thực thi chính sách để đảm bảo tính tập trung, thống nhất trong chấp hành chính sách

Trang 33

Yêu cầu này còn đòi hỏi hệ thống bộ máy cơ quan tổ chức, đơn vị quản lý chính sách phải gọn nhẹ và đội ngũ cán bộ, viên chức phải đủ năng lực tổ chức thực hiện chính sách Tính khoa học đòi hỏi trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức phải phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các bộ phận quản lý chính sách và phải chủ động, năng động, tìm kiếm việc thu hút các nguồn lực các chương trình dự án hướng mạnh vào thực hiện mục tiêu chính sách Đồng thời việc tổ chức thực hiện chính sách một sách khoa học và hợp lý sẽ giúp việc thực hiện chính sách một cách thuận lợi

1.6.4 Yêu cầu bảo đảm lợi ích thật sự cho các đối tượng thụ hưởng chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức

Hiện nay, tồn tại rất nhiều nhóm lợi ích và nhà nước là người bảo vệ lợi ích hợp pháp cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân cụ thể là cán bộ, viên chức, người lao động Nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện chính sách cho đối tượng nào thì đối tượng đó được thụ hưởng chính sách Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức thì chỉ những ai là cán bộ, viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công mới là đối tượng được thụ hưởng chính sách Yêu cầu này cũng chính là yêu cầu xác định đúng đối tượng được đào tạo, bồi dưỡng Trong quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức phải bảo đảm lợi ích thực sự cho các đối tượng thụ hưởng của chính sách, tránh việc thực hiện mang tính hình thức, thiếu khách quan vì như vậy

sẽ không giải quyết được vấn đề chính sách Vì thế đảm bảo lợi ích thật sự

cho các đối tượng thụ hưởng là yêu cầu quan trọng trong thực thi chính sách

1.7 Các phương pháp tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức

1.7.1 Phương pháp kinh tế

Phương pháp kinh tế là cách thức tác động lên các đối tượng tham gia

Trang 34

trực tiếp đến lợi ích của các nhóm đối tượng chính sách, nên có tác dụng rất mạnh so với các phương pháp khác Với chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, viên chức thì phương pháp kinh tế giúp cho người thực hiện triển khai những nội dung của chính sách vào thực tiễn như tuyển dụng, đào tạo, bồi

dưỡng đối với đội ngũ cán bộ, viên chức

1.7.2 Phương pháp tuyên truyền, thuyết phục

Phương pháp tuyên truyền, thuyết phục là cách thức tác động lên các đối tượng và quá trình chính sách bằng ý tưởng để các cán bộ, viên chức có ý thức được trách nhiệm của mình trong việc tham gia thực hiện chính sách Ý thức đầy đủ về mục tiêu chính sách sẽ giúp cho các cán bộ, viên chức tham gia một cách tự nguyện vào việc thực hiện mục tiêu chung Phương pháp này được tiến hành thông qua tuyên truyền, giáo dục, giải thích, hướng dẫn về chính sách đào tạo, cán bộ, viên chức và những lợi ích về vật chất và tinh thần

mà chính sách mang lại nhằm tác động đến ý thức, trách nhiệm của mỗi cán

bộ, viên chức để thúc đẩy họ tích cực và trách nhiệm hơn trong quá trình thực thi chính sách này

1.7.3 Phương pháp hành chính

Phương pháp hành chính là cách thức tác động trực tiếp của cơ quan, tổ chức đối tượng và quá trình thực hiện chính sách quyền lực để đạt được mục tiêu dự kiến Phương pháp này có tính bắt buộc, tính quyền lực và bảo đảm kỷ cương trong quá trình thực thi chính sách Trong quá trình thực thi chính sách người ta hay sử dụng phương pháp kinh tế và giáo dục thuyết phục, nhưng cũng có những trường hợp hai phương pháp trên không mang lại kết quả, nên phải dùng phương pháp hành chính

1.7.4 Phương pháp kết hợp

Phương pháp kết hợp là phương pháp tác động lên đối tượng là cán bộ,

Trang 35

hiện chính sách có hiệu quả Đây là phương pháp được xây dựng trên cơ sở kết hợp giữa ba phương pháp trên theo một trật tự, quy mô nhất định Về nguyên tắc, phương pháp kết hợp có một cấu trúc hình thể nhất định tùy theo điều kiện cụ thể các tổ chức, cơ quan, cá nhân nhà quản lý kết hợp các phương pháp trên cho phù hợp với yêu cầu tổ chức thực thi chính sách

1.8 Các chủ thể tham gia thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, viên chức

Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có tính gắn kết của Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định [41,tr12]

Có thể coi chính sách công là chính sách của Nhà nước mà Nhà nước ở đây là các cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước Chủ thể tham gia thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức ở nước ta bao gồm: Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng chính phủ Ngoài ra, các ban Đảng và Văn phòng Trung ương Đảng, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng ban hành các văn bản phục vụ cho việc điều hành quản lý hoạt động của đơn vị mình Trong số các cơ quan

kể trên, Ban Tổ chức Trung ương và Bộ Nội vụ là hai cơ quan có vai trò chính trong tham mưu và trực tiếp xây dựng chính sách

Ban Tổ chức Trung ương: là cơ quan tham mưu của BCH Trung ương, trực tiếp và thường xuyên là BCT, BBT về chủ trương và các chính sách lớn thuộc lĩnh vực tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ của hệ thống chính trị; quản lý biên chế công chức, viên chức cơ quan đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội; đồng thời là cơ quan chuyên môn, nghiệp

vụ về công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ của Trung ương

Trang 36

Bộ Nội vụ: là cơ quan quản lý đối tượng cán bộ, công chức, viên chức Nghị định số 58/2014/NĐ-CP ngày16/6/2014 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ Nghị định số 108/2014: Bộ Nội vụ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực: Tổ chức hành chính, sự nghiệp nhà nước; chính quyền địa phương, địa giới hành chính; cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; đào tạo, bồi dưỡng về chuyên ngành hành chính và quản lý nhà nước; tổ chức phi chính phủ; thi đua, khen thưởng; tôn giáo; văn thư, lưu trữ nhà nước; thanh niên và quản lý nhà nước đối với các dịch vụ công thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật

Như vậy, để thể chế chính sách được thực hiện và triển khai có hiệu quả cần nhiều cơ quan ban ngành cùng góp sức bằng các quy định cụ thể, phù hợp với các văn bản hiện hành khoa học, dễ thực thi cho các đối tượng liên quan Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức là kết quả của các chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức

Kết luận Chương 1

Ở Chương 1 tác giả đi sâu nghiên cứu, làm rõ một số nội dung những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức ở nước ta hiện nay

Một là, tác giả đã đưa ra các khái niệm liên quan như: Viên chức; Cán

bộ, viên chức; Đào tạo cán bộ, viên chức; Bồi dưỡng cán bộ, viên chức; chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức; thực hiện chính sách đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức; phân tích quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức; phân tích ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức của

Trang 37

Hai là, phân tích nội dung các bước tổ chức thực hiện chính sách đào

tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức ở nước ta hiện nay và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách bao gồm các yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan; phân tích các yêu cầu cơ bản, các phương pháp tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức

Ba là, Các chủ thể tham gia thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng

cán bộ, viên chức ở nước ta hiện nay

Việc phân tích và làm rõ những vấn đề mang tính lý luận về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức trong các tổ chức, cơ quan, đơn vị sự nghiệp sẽ là nền tảng quan trọng định hướng cho tác giả nghiên cứu thực trạng ở Chương 2 và đề xuất các giải pháp ở Chương 3 của luận văn

Trang 38

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO,

BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, VIÊN CHỨC TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

2.1 Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, viên chức của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

2.1.1 Số lượng đội ngũ cán bộ, viên chức

Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ, có chức năng nghiên cứu những vấn đề cơ bản về KHXH; cung cấp luận cứ khoa học cho Đảng và Nhà nước trong việc hoạch định đường lối chiến lược, quy hoạch,

kế hoạch, chính sách phát triển nhanh và bền vững của đất nước theo định hướng

xã hội chủ nghĩa; thực hiện tư vấn về chính sách phát triển; đào tạo sau đại học

về KHXH; tham gia phát triển tiềm lực khoa học của cả nước

Hiện nay, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam gồm có 41 đơn vị trực thuộc, trong đó có 32 đơn vị nghiên cứu khoa học; 05 đơn vị giúp việc Chủ tịch Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam; 04 đơn vị sự nghiệp Trong đó có 01 Học Viện KHXH, 01 Nhà xuất bản KHXH và 34 tạp chí khoa học chuyên ngành

Học viện Khoa học xã hội trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 35/QĐ-TTg ngày 10 tháng 01 năm

2010 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở thống nhất 17 cơ sở đào tạo trước đây thuộc các viện nghiên cứu chuyên ngành Học viện Khoa học xã hội là cơ sở đào tạo sau đại học về các ngành khoa học xã hội với 58 chuyên ngành đào tạo, trong

đó có 44 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ và 14 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ

Ngày 26 tháng 12 năm 2012, Chính phủ ra Nghị định số

109/2012/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam trên cơ sở Viện KHXH Việt Nam Nghị định của Chính

Trang 39

phủ cũng xác định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, trong đó có các nội dung cơ bản là:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về KHXH:

- Tổ chức sưu tầm, khai quật, nghiên cứu, bảo tồn và bảo tàng nhằm phát huy những giá trị di sản văn hóa của các dân tộc Việt Nam

- Kết hợp nghiên cứu với đào tạo trong lĩnh vực KHXH; đào tạo và cấp bằng thạc sĩ và tiến sĩ về KHXH theo quy định của pháp luật; tham gia PTNNL có trình độ cao theo yêu cầu của cả nước, ngành, vùng, địa phương và doanh nghiệp

- Tổ chức hợp tác nghiên cứu và liên kết đào tạo về KHXH với các tổ chức quốc tế, các viện và trường đại học nước ngoài theo quy định của pháp luật

- Tư vấn và phản biện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, chương trình và dự án phát triển kinh tế - xã hội quan trọng theo yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp

- Tổ chức tư vấn và thực hiện dịch vụ công theo quy định của pháp luật

- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về thông tin khoa học xã hội, phổ biến tri thức khoa học, góp phần nâng cao trình độ dân trí

Hiện nay, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam có hơn 1946 cán bộ, viên chức

Về cán bộ, viên chức Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam có số lượng đông

và tỷ lệ cán bộ, viên chức có học hàm, học vị từ thạc sĩ trở lên chiếm số lượng khá lớn trong tổng số cán bộ, viên chức làm nghiên cứu

2.1.2 Chất lượng đội ngũ cán bộ, viên chức

Trong tổng số 1946 cán bộ, viên chức về trình độ và cơ cấu như sau:

- Về trình độ:

Trang 40

Bảng 2.1 Cơ cấu về trình độ chuyên môn

STT

đẳng

Trung cấp

Nguồn: Ban Tổ chức cán bộ - Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam

Bảng 2.3 Cơ cấu về trình độ tin học

STT Tổng SL

Nguồn: Ban Tổ chức cán bộ - Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam

Bảng 2.4 Cơ cấu về trình độ ngoại ngữ

Ngày đăng: 07/06/2017, 09:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Ngô Thành Can (2008), “Nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước số 5/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Tác giả: Ngô Thành Can
Năm: 2008
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2009), Kết luận 37-KL/TW ngày 02 tháng 02 năm 2009 của Hội nghị lần thứ 9 (Khóa XI) về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược từ nay đến năm 2020 Khác
2. Bộ Nội vụ (2011), Thông tư số 03/2011/TT-BNV ngày 25 tháng 01 năm 2011 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức Khác
3. Bộ Nội vụ (2014), Thông tư số 19/2014/TT-BNV ngày 04 tháng 12 năm 2014 của Bộ Nội vụ quy định hướng dẫn công tác đào tạo, bồi dưỡng viên chức Khác
4. Bộ Nội vụ (2014), Quyết định 104/2005/QĐ-BNV ngày 03 tháng 10 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc ban hành quy chế cử cán bộ, công chức đi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước Khác
5. Bộ Tài chính (2010), Thông tư 139/TT-BTC ngày 21 tháng 9 năm 2010 quy định việc lập dự toán, quản lý và sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước dùng cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Khác
6. Chính phủ (2010), Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức Khác
7. Chính phủ (2014), Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011- 2020, Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ Khác
8. Chính phủ (2014), Nghị định số 40/2014/NĐ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định việc sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ Khác
9. Chính phủ (2003), Nghị định 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ công chức trong sự nghiệp Khác
10. Chính phủ (2014), Nghị định 58/2014/NĐ-CP ngày 16/6/2014 của Chính phủ ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ Khác
12. Phan Văn Dựng (2016), Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng, Luận văn thạc sĩ chính sách công, Học viện Khoa học xã hội Khác
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật Khác
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật Khác
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật Khác
16. Nguyễn Thị Hà (2016), Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức từ thực tiễn Bộ khoa học và công nghệ, Luận văn thạc sĩ chính sách công, Học viện Khoa học xã hội Khác
17. Nguyễn Thị Thúy Hằng (2015), Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ngành nội vụ ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sỹ chính sách công, Học viện Khoa học xã hội Khác
18. Nguyễn Xuân Hội (2015),Chính sách ĐTBD CBCC từ thực tiễn huyện Thanh Oai, TP. Hà Nội, Luận văn thạc sỹ chính sách công, Học viện Khoa học xã hội Khác
19. Đỗ Phú Hải (2012),Quy trình chính sách công tại Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn, Đề tài cấp cơ sở Khác
20. Đỗ Phú Hải (2014),Khái niệm chính sách công, Tạp chí lý luận chính trị số 2 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Cơ cấu về trình độ chuyên môn - Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Bảng 2.1. Cơ cấu về trình độ chuyên môn (Trang 40)
Bảng 2.2. Cơ cấu về trình độ chính trị - Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Bảng 2.2. Cơ cấu về trình độ chính trị (Trang 40)
Bảng 2.5. Cơ cấu về trình độ quản lý nhà nước - Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Bảng 2.5. Cơ cấu về trình độ quản lý nhà nước (Trang 41)
Bảng  2.7 : Công tác tuyển sinh tại Học viện KHXH từ năm 2010 đến 2015 - Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
ng 2.7 : Công tác tuyển sinh tại Học viện KHXH từ năm 2010 đến 2015 (Trang 60)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm