Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nguồn nhân lực là nhân tố trung tâm, có vai trò quyết định đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Nguồn nhân lực vừa là nguồn lực to lớn, vừa là động lực tăng năng suất lao động, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ, của doanh nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế, lại vừa là yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững;
Trang 1Trang
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN
NGÀNH THUẾ Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 14
1.1 Quan niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn
1.2 Nội dung và các nhân tố tác động đến phát triển nguồn
nhân lực ngành thuế của Thành phố Hà Nội 23
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
NGÀNH THUẾ THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN QUA 34
2.1 Khái quát về chức năng, nhiệm vụ và tổng quan tình hình
hoạt động của ngành Thuế Thành phố Hà Nội trong thời
2.2 Những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân phát triển
nguồn nhân lực ngành thuế Thành phố Hà Nội trong thời
2.3 Những vấn đề đặt ra từ thực trạng phát triển nguồn nhân
Chương 3 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH THUẾ
3.1 Những quan điểm cơ bản phát triển nguồn nhân lực của
ngành thuế thành phố Hà Nội trong thời gian tới 663.2 Những giải pháp chủ yếu phát triển nguồn nhân lực của
ngành thuế thành phố Hà Nội trong thời gian tới 73
Trang 2
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nguồn nhân lực là nhân tố trung tâm, có vai trò quyết định đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Nguồn nhân lực vừa là nguồn lực to lớn, vừa là động lực tăng năng suất lao động, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ, của doanh nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế, lại vừa là yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; chỉ có nguồn nhân lực mới
có khả năng tiếp thu và áp dụng tiến độ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, công nghệ cao, sử dụng hiệu quả các nguồn lực vật chất khác trong xã hội, trở thành lực lượng xung kích đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập Phát triển, phân bổ hợp lý và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là một trong những giải pháp đột phá nhằm thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển ở tất
cả các ngành, các cấp góp phần thực hiện thắng lợi sự công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tạo ra sự tăng trưởng bền vững của đất nước trong thới gian tới
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, thuế đóng một vai trò hết sức to lớn, là nguồn thu ngân sách chính, đồng thời là công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng của Nhà nước Nó đã góp phần quan trọng trong quản lý
và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thực hiện bình đẳng, công bằng xã hội, tạo công ăn việc làm cho người lao động, ổn định chính trị xã hội, quốc phòng an ninh được bảo đảm Vì vậy, trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã giành nhiều sự quan tâm đến công tác đổi mới hệ thống thuế nhằm phát huy vai trò to lớn của thuế đối với phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Phát huy vai trò của thuế cho phát triển kinh tế xã hội là vấn đề cần thiết và cấp bách đối với sự nghiệp xây dựng đất nước trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đang diễn ra sâu rộng, mạnh mẽ và Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của nhiều tổ chức kinh tế quốc tế Vì vậy, việc sử
Trang 3dụng thuế làm công cụ quản lý, điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế không thể tiếp tục thực hiện theo những nội dung mang tính truyền thống trước đây mà cần có những sửa đổi bổ sung và phát huy tác động to lớn của thuế tới mọi mặt của đời sống xã hội cho phù hợp và bảo đảm cho quá trình hội nhập kinh
tế đạt hiệu quả cao Để đáp ứng yêu cầu trên một trong giải pháp quan trọng cần phải quan tâm đó là phát triển nguồn nhân lực ngành thuế đủ sức hoàn tốt chức năng nhiệm vụ trong tình hình mới
Trong những năm qua, mặc dù nền kinh tế đất nước gặp nhiều khó khăn do tác động của suy thoái kinh tế thế giới Tuy nhiên, với những lợi thế riêng có của mình, Thành phố Hà Nội vẫn dữ được sự ổn định và phát triển về mọi mặt Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thành công đó là Hà Nội
đã chú trọng phát triển nguồn nhân lực ngành thuế nhằm phát huy tốt vai trò của thuế trong phát triển kinh tế xã hội của Thành phố Tuy nhiên, với yêu cầu công việc ngày càng cao và yêu cầu nguồn nhân lực thuế của Thành phố tăng cả quy mô, chất lượng, cơ cấu đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế nảy sinh nhiều vấn đề mới trong nghiệp vụ thuế chưa được giải quyết kịp thời Do vậy, nguồn nhân lực thuế của Thành phố Hà Nội còn nhiều bất cập chưa theo kịp với yêu cầu phát triển của Thành phố, chưa phát huy hết vai trò của thuế để kích thích phát triển kinh tế xã hội, phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế trên địa bàn
Vì vậy, việc tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực ngành thuế nói chung và ở thành phố Hà Nội nói riêng để có những quan điểm và giải pháp thích hợp nhằm phát triển nguồn nhân lực ngành thuế ở Thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay là vấn đề
có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn Với lý do đó, tác giả chọn vấn
đề "Phát triển nguồn nhân lực ngành thuế ở Thành phố Hà Nội hiện nay" làm
đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ
Trang 42 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế xã hội ở nước
ta nói chung và phát triển nguồn nhân lực ngành thuế ở Thành phố Hà Nội nói riêng là vấn đề rất quan trọng và cần thiết đối với sự phát triển kinh tế xã hội của thành phố cũng như của đất nước Do đó, vấn đề nguồn lực và phát triển nguồn nhân lực đã thu hút được sự quan tâm của nhiều tổ chức, cá nhân nghiên cứu về lĩnh vực này trên nhiều góc độ khác nhau, trong đó đáng chú ý một số công trình tiêu biểu sau:
Luận án tiến sĩ kinh tế: “Sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta”, tác giả Trần Kim Hải [19] Luận án phân tích nhiều góc độ về hiện trạng, yêu cầu và những vấn đề đang đặt ra trong sử dụng nguồn nhân lực cho CNH, HĐH ở nước ta Theo đó, NNL hiện
có còn chưa đáp ứng được những yêu cầu và đòi hỏi của sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta Vì vậy quá trình khai thác sử dụng cần phải được đặt trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với việc nâng cao chất lượng của NNL Phải coi nâng cao chất lượng NNL là một nội dung, một tiền đề cơ bản để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực cho CNH, HĐH Luận án khẳng định: Những vấn đề bức xúc nhất của việc nâng cao chất lượng NNL nước ta là mở rộng quy mô đào tạo trên cơ sở đa dạng hoá các nguồn vốn, điều chỉnh cơ cấu đào tạo, đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu NNL theo hướng CNH, HĐH, đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên gia, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em Tất cả phải hướng tới mục tiêu cung cấp NNL có chất lượng cao, đáp ứng được những yêu cầu và đòi hỏi khắt khe của thị trường sức lao động trong nước và quốc tế, phù hợp với yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Luận án tiến sĩ kinh tế: “Phát triển nguồn nhân lực quân sự chất lượng cao đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa Quân đội nhân dân Việt Nam”, tác giả Đỗ
Văn Dạo [13] Đã đi sâu nghiên cứu về NNL trong một lĩnh vực đặc thù – NNL
Trang 5có chất lượng cao trong lĩnh vực quân sự quốc phòng Tác giả đã xây dựng được một khung lý thuyết khá sâu sắc và toàn diện về vấn đề NNL quân sự, NNL quân sự chất lượng cao và phát triển NNL quân sự chất lượng cao với những nội dung và tiêu chí đánh giá sự phát triển Tác giả cũng đã đi sâu khảo sát đánh giá thực trạng phát triển NNL quân sự chất lượng cao để trên cơ sở đó đề ra những quan điểm, giải pháp cơ bản để phát triển lực lượng này Những giải pháp về giáo dục đào tạo và thực hiện những cơ chế, chính sách đặc thù ở cả tầm vĩ mô
và vi mô đã được tác giả đề cập trong công trình để tạo ra sự đột phá mạnh mẽ phát triển NNL quân sự chất lượng cao
Luận án tiến sĩ kinh tế: “Phát triển nguồn nhân lực của Tập đoàn Điện lực Việt Nam”, tác giả Đinh Văn Toàn [35] Đã đi sâu nghiên cứu về NNL trong một tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam Trong khung lý thuyết của công trình, tác giả đã tiến hành khảo sát nhiều kinh nghiệm quý của một số quốc gia về phát triển NNL trong ngành điện lực Công trình cũng đã đi sâu nghiên cứu khảo sát thực trạng phát triển NNL ở các công ty, các đơn vị thành viên của Tập đoàn điện lực Việt Nam trong những năm qua để đề ra một số giải pháp nhằm phát triển NNL, tạo sức bật mới trong quá trình tái cơ cấu ngành điện lực theo đề án của Chính phủ
Luận án tiến sĩ kinh tế:“Phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam đến năm 2020”, tác giả Nguyễn Hoàng Thụy [36] Đã đi sâu luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển NNL ở ngành công nghiệp dầu khí nước ta Công trình cũng đã phân tích thực trạng phát triển NNL ở ngành công nghiệp dầu khí với những thành tựu và hạn chế bất cập và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển NNL trong ngành dầu khí Trong đó tác giả đặc biệt coi trọng đến việc cần phải có chiến lược liên kết đào tạo, hợp tác quốc tế để phát triển NNL ngành dầu khí có chất lượng cao nhằm đem lại năng suất, hiệu quả trong công việc khai thác, chế xuất dầu ở nước ta
Trang 6Luận văn thạc sĩ kinh tế: “Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở thành phố Hải Phòng và tác động của nó đến tăng cường sức mạnh khu vực phòng thủ thành phố” tác giả Phạm Tiến
Điện[16] Tác giả đã luận giải cơ sở lý luận về phát triển NNL, từ đó xem xét phát triển NNL theo hướng CNH,HĐH ở thành phố Hải Phòng; làm rõ tác động của phát triển NNL ở thành phố Hải Phòng đến việc xây dựng khu vực phòng thủ thành phố Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển NNL ở thành phố Hải Phòng gắn với việc tăng cường sức mạnh khu vực phòng thủ thành phố
Luận văn thạc sĩ kinh tế: “Tác động của đào tạo NNL trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến củng cố quốc phòng ở nước ta hiện nay”,
tác giả Bùi Thúc Vịnh [40] Tác giả đã làm rõ tính cấp thiết của đào tạo NNL cho CNH, HĐH và tác động của nó đối với củng cố nền quốc phòng Trên cơ
sở đó, đề xuất các quan điểm, giải pháp cơ bản để công tác đào tạo NNL vừa đáp ứng nhu cầu CNH,HĐH vừa đáp ứng nhu cầu củng cố nền quốc phòng toàn dân
Luận văn thạc sĩ kinh tế: “Phát triển thị trường sức lao động và tác động của nó đến đảm bảo NNL cho Quân đội nhân dân Việt nam hiện nay” tác
giả Trần Văn Ban [1] Đã phân tích sự phát triển của thị trường sức lao động
trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và tác động của nó đến đảm bảo NNL cho QĐNDVN Trên cơ sở đó đề xuất quan điểm, giải pháp thúc đẩy sự phát triển của thị trường lao động gắn với bảo đảm NNL cho quân đội trong giai đoạn hiện nay
Đề tài khoa học B2006 - 37 - 02TĐ HN (2010), “Những vấn đề lý luận
cơ bản về phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam”, tác giả Nguyễn Lộc [23]
Đã xây dựng hệ thống lý luận cơ bản về NNL và phát triển NNL ở cấp độ quốc gia Với cách tiếp cận tổng thể, có sự so sánh kinh nghiệm quốc tế phong phú về
Trang 7phát triển NNL, công trình đã cung cấp nhiều luận cứ khoa học về lý luận và thực tiễn phát triển NNL nói chung ở nước ta.
Đề tài khoa học KX.02.24/06 (2010), “Nguồn nhân lực và nhân tài cho phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới”, tác giả Nguyễn Ngọc Phú [29]. Đã tập trung khái quát những vấn
đề lý luận chung về NNL, luận giải về cơ cấu, số lượng, chất lượng, nhu cầu, thực trạng NNL và nhân tài Đề xuất những quan điểm, giải pháp, chính sách cho phát triển NNL, nhân tài
Cuốn sách: Phát huy nguồn lực con người để công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Tiến sĩ Vũ Bá Thể [31] Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm phát
triển NNL của một số nước trên thế giới và thực trạng NNL ở nước ta, tác giả
đã đưa ra những quan điểm về NNL và phát triển NNL; vai trò của NNL đối với tăng trưởng kinh tế và sự nghiệp CNH,HĐH ở Việt Nam Đồng thời, đưa
ra định hướng và những giải pháp nhằm phát huy nguồn lực con người ở nước
ta hiện nay
Cuốn sách: Phát triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta, của Tiến sĩ Trần Văn Tùng và Lê Ái Lâm [34] Cuốn sách đã khái quát những kinh nghiệm về phát triển NNL của các nước phát triển trên thế giới Tuy nhiên, cuốn sách chưa trình bày nội dung tổng quát của phát triển NNL như chăm sóc sức khoẻ, nâng cao mức sống, việc làm… mà tập trung vào lĩnh vực giáo dục đào tạo - yếu tố quyết định phát triển NNL
Cuốn sách: Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, của Tiến sĩ Nguyễn Thanh [33] Tác giả đã luận giải rõ:
phát triển NNL là yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp CNH,HĐH, đồng thời nêu lên một số thực trạng về phát triển NNL có chất lượng, trên cơ
sở đó đưa ra một số định hướng chủ yếu trong phát triển NNL cho CNH,HĐH
ở nước ta hiện nay
Trang 8Cuốn sách: Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, tác giả Tô Chí Thành [32] Đã khảo sát những kinh nghiệm trong phát triển NNL lĩnh vực công nghệ thông tin của một số nước thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Tác giả cho rằng, đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đang rất cần học hỏi những kinh nghiệm quốc tế về phát triển NNL nói chung, đặc biệt là NNL trong ngành công nghệ thông tin trong đó có lĩnh vực truyền hình Đối với một số nước ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, Việt Nam đã và đang có điều kiện để hợp tác mạnh mẽ trong quá trình phát triển NNL công nghệ thông tin Do vậy, những bài học về phát triển NNL trong lĩnh vực này ở các nước khu vực Châu
Á - Thái Bình Dương được các tác giả luận giải khá sâu sắc từ đó rút ra một
số bài học cụ thể đối với Việt Nam
Báo khoa học: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế, của Tiến sĩ Phạm Công Nhất[28] Đã khái quát
kết quả hơn hai mươi năm đổi mới đất nước và hơn một năm gia nhập Tổ chức thương mại thế giới, đồng thời chỉ rõ thực trạng phát triển NNL ở nước
ta và đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng NNL đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và sự nghiệp CNH,HĐH đất nước
Luận án Tiến sĩ kinh tế “Nâng cao vai trò của thuế - công cụ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa ở Việt nam”, tác giả: Nguyễn Kim Quyến Luận án
đã đề cập khá toàn diện vai trò của thuế đối với quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam: Thuế là công cụ huy động nguồn tài chính cho ngân sách Nhà nước để thực hiện quá trình công nghiệp hóa; là công cụ thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước theo hướng chiến lược công nghiệp hóa; là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế thị trường theo chiến lược công nghiệp hóa Đồng thời luận án đề xuất một số định hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của thuế phục vụ công nghiệp hóa ở nước ta Trong đó có 1 định
Trang 9hướng, 2 giải pháp bàn về phát triển nguồn nhân lực để bảo đảm phát huy vai trò của thuế.
Luận văn Thạc sĩ kinh tế “Thanh tra, kiểm tra thuế trong điều kiện thực hiện cơ chế sản xuất, kinh doanh tự kê khai, tự nộp thuế ở Việt nam”, tác giả: Thành Xuân Lý Luận văn đã đánh giá được khái quát thực trạng kiểm tra, thanh tra thuế trên các mặt: bộ máy, kết quả thu, quy trình nghiệp vụ, cơ sở dữ liệu… và chỉ ra tồn tại chủ yếu là ở năng lực chuyên môn nghiệp vụ của cán
bộ, nhân viên trong ngành chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành, đăc biệt là lực lượng kiểm tra, thanh tra thuế
Luận văn thạc sĩ kinh tế “Hoàn thiện việc sử dụng công cụ thuế trong quản lý Nhà Nước đối với doanh ngiệp công nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt nam”, tác giả: Phạm Thái Hà Luận văn đã luận giải làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về sử dụng công cụ thuế trong quản lý Nhà Nước đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh Đề xuất quan điểm, giải pháp về chú trọng khâu bồi dưỡng đào tạo đội ngũ cán bộ và thực hiện tốt chế độ đãi ngộ đối với cán bộ ngành thuế nhằm nâng cao hiệu quả công cụ thuế trong quản lý Nhà Nước đối với doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam
Luận văn thạc sĩ kinh tế “ Hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế theo chương trình cải cách hiện đại hóa ngành thuế Việt nam đến năm 2010”, tác giả: Phạm Thúy Hồng Tác giả đã đánh giá thực trạng tổ chức bộ máy của kiểm tra, thanh tra thuế theo hai giai đoạn từ 1999-2004 và từ 2004-2006 qua các mặt: trình độ của cán bộ thanh tra của ngành thuế, việc lập kế hoạch kiểm tra, thanh tra thuế qua các năm
Luận văn thạc sĩ kinh tế “ Thanh tra, kiểm tra nhằm nâng cao tính tuân thủ của người nộp thuế trong điều kiện Việt nam hiện nay”, tác giả: Nguyễn Chí Dũng Đã phân tích kiểm tra, thanh tra thuế dưới giác độ tuân thủ của người nộp thuế, nêu được một số vai trò của kiểm tra, thanh tra thuế đối với việc nâng cao tính tuân thủ của người nộp thuế Tác giả đã đề cập các giải pháp để nâng
Trang 10cao tính tuân thủ của người nộp thuế, trong đó đã chú trọng đến khâu bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và hiểu biết pháp luật của cán bộ, viên chức ngành thuế.
Luận văn thạc sĩ kinh tế “ Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế ở Việt nam hiện nay”, tác giả: Lê Thị Phương Thảo Đã đánh giá thực trạng kiểm tra, thanh tra thuế trên các nội dung: kiểm tra đăng ký thuế; chấp hành chế độ kế toán sổ sách chứng từ, hóa đơn; kê khai, tính thuế
và nộp thuế Qua đó, luận văn đã phân tích những ưu điểm và hạn chế của khâu lập kế hoạch kiểm tra, thanh tra thuế các năm từ 2005-2008 Phần giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra thuế luận văn đã đề cập đến giải pháp đột phá đó là nâng cao trình độ về mọi mặt đối với đội ngũ cán bộ, viên chức ngành thuế đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành
Phạm vi phát triển nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế xã hội nói chung là một vấn đề rộng lớn, đã được nhiều nhà quản lý, nhà nghiên cứu đề cập ở các khía cạnh khác nhau Có công trình nghiên cứu phân tích dưới góc
độ tổng hợp, có công trình nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực gắn với từng lĩnh vực cụ thể Các tác giả đều đã nêu bật những yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến phát triển nguồn nhân lực, làm rõ những yêu cầu mới về phát triển nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn hiện nay và đề xuất một số quan điểm giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế xã hội nói chung và của ngành thuế nói riêng Tuy
nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề "Phát triển nguồn nhân lực ngành thuế ở Thành phố Hà Nội hiện nay" Vì vậy, tôi đã lựa chọn vấn đề
trên làm đề tài nghiên cứu luận văn Thạc sĩ của mình
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Luận giải những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn phát triển nguồn nhân lực ngành thuế ở Thành phố Hà Nội Trên cơ sở đó đề xuất một số quan
Trang 11điểm cơ bản và những giải pháp chủ yếu phát triển nguồn nhân lực ngành thuế ở Thành phố Hà Nội trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận giải cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực ngành thuế ở Thành phố Hà Nội
- Đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực ngành thuế ở Thành phố Hà Nội trong thời gian qua
- Đề xuất các quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực ngành thuế ở Thành phố Hà Nội trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu:
Phát triển nguồn nhân lực ngành thuế ở Thành phố Hà Nội
* Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn sử dụng phương pháp đặc thù của kinh tế chính trị Mác - Lênin (trừu tượng hoá khoa học) và các phương pháp khác như: Kết hợp lôgíc
và lịch sử, phân tích và tổng hợp, thống kê, so sánh và phương pháp chuyên gia
Trang 126 Ý nghĩa của đề tài
- Góp phần làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn về nguồn lực và phát triển nguồn nhân lực ngành thuế nói chung và phát triển nguồn nhân lực ngành thuế ở Thành phố Hà nội nói riêng
- Cung cấp những luận cứ khoa học cho Đảng bộ, chính quyền thành phố Hà Nội tham khảo trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế xã hội nói chung và trực tiếp là phát triển nguồn nhân lực ngành thuế của Thành phố nói riêng
7 Kết cấu của đề tài
Kết cấu luận văn gồm: Phần mở đầu, 3 chương (7 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH THUẾ
Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 1.1 Quan niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực
1.1.1 Quan niệm về nguồn nhân lực
Nói tới nguồn nhân lực là nói tới con người; khi nói tới con người thì
có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau Chủ nghĩa Mác - Lênin, với quan điểm duy vật về lịch sử đã khẳng định: Trong quá trình lao động sản xuất vật chất, quá trình cải biến giới tự nhiên, con người đã làm ra lịch sử của mình Con người là sản phẩm của lịch sử đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch
sử của chính con người Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện tồn tại của con người vừa là phương thức để biến đổi đời sống và kết cấu xã hội Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con người làm biến đổi giới tự nhiên, làm cho các vật thể có sẵn trong tự nhiên bộc lộ những thuộc tính vốn có của
nó để đáp ứng nhu cầu của con người Không có hoạt động thực tiễn của con người thì không thể xuất hiện và tồn tại của các quy luật xã hội, không có sự ra đời và phát triển của lịch sử xã hội loài người
Những thập kỷ gần đây, dưới tác động mạnh mẽ của khoa học và công nghệ hiện đại, lao động sản xuất vật chất của con người đã có những thay đổi
về chất, hàm lượng trí tuệ chiếm giá trị rất lớn trong tổng giá trị hàng hoá và có
xu hướng ngày càng tăng cao Những thiết bị, phương tiện hiện đại và công nghệ tiên tiến đã làm cho năng suất lao động tăng nhanh Do đó số lượng, chất lượng chủng loại hàng hoá, dịch vụ đều tăng lên một cách mạnh mẽ Từ thực tiễn đó một số người đã dùng thuật ngữ: Rô bốt thông minh, nhà máy không người, xã hội kỹ trị… để mô tả đặc trưng của nền sản xuất xã hội hiện tại Nhưng nhìn chung, các nhà nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn, khoa học kinh tế, khoa học kỹ thuật và kể cả các học giả của giai cấp tư sản đều có những đánh giá cao về vai trò của con người trong tất cả các lĩnh vực kinh tế- chính trị- xã hội, quân sự và chiến tranh
Trang 14Theo lý luận của kinh tế học phát triển, con người được xem xét, đề
cập với tư cách là lực lượng sản xuất chủ yếu, là phương tiện để sản xuất hàng hoá và dịch vụ, được xem như là lực lượng lao động cơ bản nhất trong xã hội;
nó là yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo cho tốc độ tăng trưởng sản xuất, dịch
vụ nhanh và bền vững
Khai thác ở góc độ về nguồn lực cho sản xuất kinh doanh: thì yếu tố con người được xem xét trước hết như là một bộ phận quan trọng và quyết định nhất của quá trình sản xuất, một phương tiện để phát triển kinh tế xã hội Lý luận về
"vốn người" còn được xem xét từ quan điểm nhu cầu về các nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội Đầu tư cho con người được phân tích với tính cách tương
tự như đầu tư vào các nguồn vật chất khác có tính đến tổng hiệu quả của các đầu
tư, hoặc thu nhập mà con người và xã hội thu được từ các đầu tư đó Đây là cách tiếp cận đang được nhiều người quan tâm hiện nay.[16]
Từ cách tiếp cận này, Ngân hàng thế giới cho rằng, nguồn nhân lực là toàn bộ "vốn người", bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp…mà mỗi
cá nhân sở hữu ở đây nguồn nhân lực được coi như là một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác như vốn tiền, vốn công nghệ, tài nguyên thiên nhiên… Trong đó đầu tư cho con người giữ một vị trí trung tâm trong các loại đầu tư và được coi là cơ sở không thể thiếu cho sự phát triển bền vững[16]
Cũng dựa trên cơ sở tiếp cận như trên, Tổ chức Hợp tác và phát triển của Liên Hiệp Quốc (OECD) đã đưa ra khái niệm về nguồn nhân lực, cho rằng nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người
có quan hệ tới sự phát triển của đất nước Nguồn nhân lực được coi như một yếu tố quan trọng bậc nhất trong việc tạo ra, khai thác và không ngừng phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội[16]
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì “Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động Nguồn
Trang 15nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển” [30] Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là một nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, là tổng thể các yếu tố
về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động
Theo một số nhà khoa học Việt Nam trong đề tài “Con người Việt Nam- mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội” mang mã số KX-
07 thì nguồn nhân lực được hiểu là dân số và chất lượng con người, bao gồm
cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, thái độ và phong cách làm việc[16]
Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của Đại học kinh tế Quốc dân, nguồn nhân lực là nguồn lực con người Với tư cách là một nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định [3]
Nhân lực hay nguồn nhân lực xã hội là những cá nhân có nhân cách, có khả năng lao động, sản xuất [5]
Nguồn nhân lực hay nguồn nhân lực tổ chức là nguồn lực con người, nhân tố con người trong một tổ chức cụ thể Nguồn nhân lực là toàn bộ người lao động làm việc trong một tổ chức hoặc trong một ngành [34]
Nguồn nhân lực này do tổ chức tuyển dụng, đào tạo và phát triển và sử dụng để thực hiện mục tiêu của tổ chức Nguồn nhân lực là nguồn tài nguyên nhân sự, là tài sản quan trọng nhất của tổ chức Nói tới nguồn nhân lực là nói
về số lượng, cơ cấu và chất lượng của nguồn nhân lực Nguồn nhân lực được coi là hợp lý và được đánh giá cao khi có số lượng tương ứng với số lượng công việc của tổ chức, có cơ cấu về chuyên môn, nghề nghiệp phù hợp với cơ
Trang 16cấu của công việc Người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, kinh nghiệm công tác đáp ứng được những đòi hỏi của công việc [32].
Các định nghĩa trên cho thấy nói đến nguồn nhân lực tức là nói đến nguồn lực con người có khả năng lao động Nguồn nhân lực được xem xét ở 2 khía cạnh số lượng (bao gồm cả kết cấu) và chất lượng nguồn nhân lực Số lượng nguồn nhân lực bao gồm số lượng người lao động làm việc cho tổ chức, ngành, địa phương, quốc gia Số lượng nguồn nhân lực còn được xem xét ở cơ cấu của nguồn nhân lực đó có phù hợp với cơ cấu ngành, nghề của tổ chức, ngành, địa phương, quốc gia (hiện tại và phát triển) hay không Cơ cấu nguồn nhân lực thường được xem xét trên một số chỉ tiêu như: cơ cấu theo trình độ chuyên môn đào tạo, cơ cấu theo giới tính, cơ cấu theo nghề, cơ cấu theo tuổi và thâm niên
Chất lượng nguồn nhân lực phản ánh khả năng lao động, sáng tạo của nguồn nhân lực Chỉ tiêu phản ánh chất lượng của Nguồn nhân lực bao gồm các chỉ tiêu như: trình độ chuyên môn đào tạo, kỹ năng nghề nghiệp (công việc), kiến thức, thái độ đối với tổ chức và công việc, sức khỏe, kinh nghiệm công tác
Về phạm vi, nguồn nhân lực có thể được giới hạn ở phạm vi tổ chức (đơn vị), ngành, địa phương (tỉnh, huyện, xã), quốc gia Nguồn nhân lực của tổ chức: bao gồm toàn bộ nguồn nhân lực làm việc cho tổ chức đó Nguồn nhân lực của ngành: bao gồm toàn bộ người lao động làm việc cho các tổ chức, các đơn vị thuộc phạm vi ngành Nguồn nhân lực của địa phương: bao gồm toàn bộ người lao động trong phạm vi địa phương (tỉnh, huyện, xã) Nguồn nhân lực của quốc gia: bao gồm toàn bộ người lao động trong phạm vi quốc gia Luận văn tập trung nghiên cứu nguồn nhân lực trong phạm vi một ngành của Thành phố Hà Nội
Từ những quan điểm trên có thể thấy rằng nguồn nhân lực được đề cập
như một nguồn vốn tổng hợp với hệ thống các yếu tố hợp thành: Sức lực và trí tuệ, số lượng cùng với các đặc trưng về chất lượng lao động như trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kinh nghiệm nghề nghiệp, thái độ và
Trang 17phong cách làm việc…, ở đây nhân tố con người được xem xét với tư cách là
một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, là một nguồn lực chủ yếu để phát triển kinh tế xã hội Con người - nguồn nhân lực là vốn của mọi nguồn vốn khác
Từ cách tiếp cận về nguồn nhân lực nói chung như trên là cơ sở để nghiên cứu về nguồn nhân lực của ngành thuế phố Hà Nội
Nguồn nhân lực của ngành thuế Hà Nội hiện nay được hiểu là một
bộ phận nguồn nhân lực của ngành thuế, bao gồm những cán bộ, công chức được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ về thuế và làm việc trong ngành Đội ngũ này gồm những cán bộ, công chức trong biên chế và lao động hợp đồng được đào tạo từ các Học viện, Nhà trường, cơ sở đào tạo trong và ngoài nước Họ làm việc tại các chi cục thuế ở các quận, huyện, thị xã và các phòng trực thuộc Cục thuế Thành phố Hà Nội
Nguồn nhân lực này là những người trong độ tuổi lao động, có sức khoẻ, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ phù hợp với từng chuyên ngành cụ thể Họ được đào tạo qua các chuyên ngành kế toán, tài chính, thanh tra, kiểm tra, chuyên môn nghiệp vụ của ngành thuế có trình độ trung cấp, đại học, sau đại học sau đó được bồi dưỡng hoặc đào tạo lại về chuyên môn nghiệp vụ của ngành thuế Họ cũng có thể được đào tạo ban đầu từ các ngành khác, trong hoặc ngoài nước, sau đó được tuyển dụng vào ngành thuế và được đào tạo lại đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của ngành
Do vậy, Nguồn nhân lực của ngành thuế Hà Nội là bao gồm toàn bộ các cán bộ, công chức trực tiếp làm công tác trong ngành thuế ở các quận, huyện và các phòng trực thuộc Cục thuế Thành phố Hà Nội.
1.1.2 Quan niệm và vai trò phát triển nguồn nhân lực
* Quan niệm về phát triển nguồn nhân lực
Phát triển, theo cách hiểu chung nhất là làm cho biến đổi từ ít thành nhiều,
từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Với cách hiểu như vậy có thể hiểu
Trang 18phát triển nguồn nhân lực là làm cho số lượng và chất lượng nguồn nhân lực ngày càng tăng lên với một cơ cấu hợp lý.
Như vậy: Phát triển nguồn nhân lực là làm gia tăng các giá trị cho con người, cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như những kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới, cao hơn và có cơ cấu nguồn nhân lực một cách hợp lý đáp ứng được những yêu cầu ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Đây là một khái niệm rộng bao hàm sự phát triển toàn diện các giá trị
cả về vật chất và tinh thần, cả trí tuệ nói chung đến kỹ năng nghề nghiệp nói riêng trong mỗi con người Đồng thời cũng phải xây dựng một cơ cấu hợp lý trong toàn bộ nguồn nhân lực
Bên cạnh việc phát triển số lượng và nâng cao về chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời phải xác định một cơ cấu hợp lý, tránh được sự mất cân đối, lãng phí trong quản lý, sử dụng nguồn nhân lực của ngành thuế Hà nội
Vì vậy, có thể khái quát: Phát triển nguồn nhân lực của ngành thuế
Hà Nội là tổng thể các biện pháp mà ngành thuế Hà Nội thực hiện nhằm biến đổi về số lượng, chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của ngành thuế Hà Nội đặt ra.
Từ quan niệm trên thì các dấu hiệu nội hàm của quan niệm được biểu hiện ở các nội dung cụ thể sau:
Về mục đích phát triển nguồn nhân lực của ngành thuế Hà Nội đó là: đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành thuế Hà Nội đặt ra
Về chủ thể phát triển nguồn nhân lực của ngành thuế Hà Nội: Chủ thể lãnh đạo là cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp của ngành thuế Hà Nội lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực thông qua Nghị quyết và triển khai thực hiện Nghị quyết Chủ thể quản lý là lãnh đạo Cục và các Chi cục, Thủ trưởng các cơ
Trang 19quan chức năng của ngành thuế Hà Nội Các cán bộ, công chức của ngành thuế Hà Nội vừa là chủ thể vừa là đối tượng của quá trình phát triển nguồn nhân lực.
Lực lượng tham gia phát triển nguồn nhân lực của ngành thuế Hà Nội gồm: Cấp ủy Đảng, Ủy ban nhân dân Thành phố và các quận, huyện, thị xã trên địa bàn Hà Nội Các cơ quan chức năng cấp trên theo ngành dọc của ngành thuế Hà Nội Các cơ sở đào tạo, dạy nghề, các trung tâm bồi dưỡng trong và ngoài nước có liên quan đến phát triển nguồn nhân lực của ngành thuế Hà Nội
Phương thức phát triển nguồn nhân lực của ngành thuế Hà Nội thông qua nhiều hình thức như: Ngành thuế Hà Nội gửi cán bộ, công chức chức đi đào tạo nâng cao trình độ về mọi mặt ở các cơ sở đào tạo, dạy nghề trong và ngoài nước
Tổ chức các đợt tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, viên chức hàng năm hoặc theo từng đợt Tự đào tạo bồi dưỡng, rèn luyện của từng cán bộ, công chức và của từng cơ quan đơn vị trong ngành Thông qua tuyển dụng nhân lực mới và đào thải những cán bộ, viên chức không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của ngành Thuê khoán chuyên gia làm việc ở những lĩnh vực mới, những lĩnh vực khó mà cán bộ, công chức của ngành chưa đảm nhiệm được
* Vai trò phát triển nguồn nhân lực
Khi đề cập đến vai trò phát triển nguồn nhân lực nhà kinh tế học William Petty đã khẳng định: Đất là mẹ, lao động là cha của mọi của cải xã hội Lênin cho rằng: lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động Do vậy, người lao động là chủ thể của của quá trình lao động sản xuất Người lao động với sức mạnh và kỹ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất Mặc dù tư liệu sản xuất, vốn, khoa học - công nghệ là những yếu tố cần thiết của quá trình sản xuất, song tất cả những thứ đó đều phải thông qua hoạt động của con người mới phát huy tác dụng Con người
Trang 20tham gia vào quá trình này với tư cách là sức lao động, vừa với tư cách là chủ thể của các quan hệ kinh tế Trình độ ý thức và thái độ của người lao động đối với sản xuất là những yếu tố quan trọng để sử dụng, khai thác tư liệu sản xuất
Đề cập đến vai trò của người lao động trong mối quan hệ với tư liệu sản xuất Ăng ghen đã nhấn mạnh: muốn nâng sản xuất công nghiệp và nông nghiệp lên mức độ cao mà chỉ có phương tiện cơ giới và hóa học phù trợ thì không
đủ, còn cần phải phát triển một cách tương ứng năng lực của con người sử dụng những phương tiện đó nữa
Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội Đảng ta đã xác định: Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020, Đảng ta xác định: Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững Trên cơ sở quan niệm đúng đắn khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin
về vai trò của nguồn nhân lực đối với sản xuất; quan điểm của Đảng ta về vị trí vai trò của nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cho thấy nguồn nhân lực có vai trò rất to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội của nước ta nói chung và đối với ngành thuế Hà Nội nói riêng được biểu hiện ở các nội dung cụ thể sau:
Phát triển nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định đến sự thắng lợi của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực là một tất yếu khách quan, là xu thế phát triển của thời đại là yêu cầu tất yếu của quá trình công nghiệp hóa hiện đại hoá là sự cần thiết khách quan đối với đất nước nói chung và đối với các cơ quan đơn vị nói riêng Nguồn nhân lực có chất lượng cao là tiền đề, là cơ sở
Trang 21quyết định sự thành bại trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Hơn nữa nguồn nhân lực chất lượng cao còn là nhân tố khắc phục được những hạn chế của đất nước về tài nguyên thiên nhiên, môi trường, vị trí địa lý… Phát triển nguồn nhân lực còn là cách duy nhất để đưa đất nước thoát khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh bền vững Đối với ngành thuế Hà Nội phát triển nguồn nhân lực là giải pháp quan trọng bảo đảm cho ngành hoàn thành tốt nhiệm vụ trong tình hình mới.
Phát triển nguồn nhân lực góp phần đáp ứng nhu cầu lao động cho nền kinh tế và giải quyết việc làm cho người lao động Trong thời gian tới yêu cầu phát triển của đất ngày càng tăng do nhu cầu tiêu dùng của xã hội ngày càng lớn, ngày càng phong phú đa dạng Điều đó tất yếu xã hội phải tạo ra nhiều của cải đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội; lực lượng tham gia vào các hoạt động của nền sản xuất xã hội phải ngày càng nhiều, chất lượng lao động phải ngày càng nâng lên, phải nâng cao trình độ trí tuệ và sức sáng tạo của con người hay nói cách khác phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để tạo ra một đội ngũ lao động có trình độ ngày càng cao mới đáp ứng được yêu cầu phát triển đó
Phát triển nguồn nhân lực góp phần nâng cao dân trí, chất lượng cuộc sống của nhân dân Khi kinh tế phát triển ngày càng cao, xã hội được phát triển hơn thì con người ngày càng được hoàn thiện Đến lượt nó đòi hỏi việc nâng cao trình độ tri thức của người lao động; chất lượng của nguồn nhân lực
sẽ tăng lên là điều tất yếu trong tiến trình phát triển của nền sản xuất xã hội Đặc biệt là sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, yêu cầu khoa học của tính đồng bộ trong tiến trình phát triển Đối với Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế, chất lượng nguồn nhân lực tăng lên không chỉ có ý nghĩa để sử dụng các thành tựu mới của khoa học công nghệ mà còn có điều kiện để sáng tạo ra các tư liệu lao động mới Hơn thế quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa yêu cầu nguồn nhân lực phải có sự
Trang 22chuyển biến về chất từ lao động thủ công sang lao động cơ khí và lao động trí tuệ Ngày nay với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ thì vai trò của đội ngũ trí thức, lao động chất xám ngày càng tăng và càng
có ý nghĩa quyết định Tuy nhiên, tri thức chỉ thực sự trở thành nguồn lực khi
nó được con người tiếp thu, làm chủ và sử dụng chúng Hơn nữa dù máy móc công nghệ hiện đại đến đâu mà không có phẩm chất và năng lực cao, có tri thức khoa học thì không thể vận hành để làm “sống lại” nó chứ chưa nói đến việc phát huy tác dụng của nó thông qua hoạt động của con người
Đối với phát triển nguồn nhân lực của ngành thuế Hà Nội có vị trí, vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của ngành và nó quyết định đến việc nâng cao chất lượng hiệu quả công việc của cán bộ, viên chức của toàn ngành, bảo đảm cho ngành thuế Hà Nội hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ của mình trong tình hình mới Từ những phân tích trên cho thấy, phát triển nguồn nhân lực có vị trí, vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như đối với sự phát triển, nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc
ở ngành thuế Hà Nội Từ vai trò quan trọng của phát triển nguồn nhân lực, đòi hỏi đất nước ta nói chung cũng như ngành thuế Hà Nội nói riêng phải coi trọng sự phát triển nguồn nhân lực trong quá trình phát triển của mình
1.2 Nội dung và các nhân tố tác động đến phát triển nguồn nhân lực ngành thuế của Thành phố Hà Nội
1.2.1 Nội dung phát triển nguồn nhân lực ngành thuế của Thành phố Hà Nội
Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của Thành phố trong tình hình mới thì nguồn nhân lực của ngành thuế Hà Nội phải không ngừng được hoàn thiện về mọi mặt, cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu
Về số lượng nguồn nhân lực của ngành thuế Hà Nội được xác định bao
gồm toàn bộ cán bộ, công chức của ngành, những người trong độ tuổi lao
Trang 23động và tham gia lao động trong ngành đã qua đào tạo, có trình độ học vấn
và chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của ngành
Ở ngành Thuế Hà Nội hiện nay, số lao động qua đào tạo chiếm tỷ lệ cao so với các ngành khác của Thành phố, tuy nhiên số lượng nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành còn khá khiêm tốn Trong khi đó nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao trong một số lĩnh vực ngày một tăng cao như: Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế; Thanh tra; Kiểm tra thuế Đây là những ngành, lĩnh vực mà ngành thuế Hà Nội đang rất cần lực lượng lao động chất lượng cao cho cả hiện tại và tương lai, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay Thành phố Hà Nội cùng với cả nước đang hội nhập kinh tế quốc
tế ngày càng sâu rộng Vì vậy, phát triển về số lượng nguồn nhân lực phù hợp
với yêu cầu của ngành là hết sức cần thiết Số lượng nguồn nhân lực ở các cơ
quan thuộc Cục thuế Hà Nội và các Chi cục thuế ở các quận huyện thuộc Thành phố Hà Nội phải biên chế đủ nhân lực sao cho đảm bảo vừa đáp ứng được nhu cầu thường xuyên theo kế hoạch, vừa sẵn sàng đáp ứng nhân lực để hoàn thành các nhiệm vụ đột xuất theo yêu cầu của trên Số lượng cán bộ, công chức của toàn ngành thuế Hà Nội phải tương ứng với chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực
Về chất lượng nguồn nhân lực của ngành thuế Hà Nội là nội dung tổng
hợp, bao gồm những đặc trưng về trạng thái thể lực (tình trạng sức khỏe); trí lực (trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp); phẩm chất tâm lý xã hội (đạo đức nghề nghiệp, lối sống, kỹ năng giao tiếp, ý thức kỷ luật, tác phong lao động …) của người lao động Trong đó trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, là quan trọng nhất Vì nó không chỉ
là cơ sở để nâng cao kỹ năng nghề nghiệp của người lao động, mà còn là yếu tố hoàn thiện nhân cách, lối sống trong mỗi con người Chất lượng nguồn nhân lực
có tác động làm tăng năng xuất lao động, chất lượng hiệu quả công việc của người lao động được tăng lên
Trang 24Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phải bằng tổng hợp các giải pháp,
sự vào cuộc của tất cả các cấp, các ngành, bằng cả hệ thống chính trị, trong đó tập trung vào công tác giáo dục và đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, phát triển thể lực, nâng cao chất lượng cuộc sống Trang bị cho họ có trình độ học vấn
và chuyên môn nghiệp vụ phù hợp, có khả năng thích ứng nhanh chóng với sự phát triển của ngành tiến, có khả năng sáng tạo, có sức khoẻ và phẩm chất đạo đức tốt, khát khao được làm việc, được cống hiến, có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, những kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ đã được đào tạo vào hoạt động thực tiễn nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Hà Nội đặt ra
Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực của ngành thuế Hà Nội ngoài việc đáp ứng các yêu cầu đủ về số lượng, đa dạng về cơ cấu bộ phận, cân đối về tổ chức biên chế giữa các bộ phận, các cơ quan, đơn vị của Cục thuế Hà Nội và các Chi cục thuế của các Quận, Huyện, Thị xã thuộc thành phố Hà Nội với nguồn nhân lực xã hội … thì nguồn nhân lực này nhất định phải có chất lượng ngày càng cao Yêu cầu về chất lượng đối với nguồn nhân lực của ngành thuế Hà Nội đòi hỏi phải toàn diện, cả về lý thuyết lẫn năng lực thực thực hành, cả về trình độ chuyên môn thể hiện qua trình độ học vấn, bằng cấp chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm cũng như năng lực hoạt động thực tiễn của mỗi người
Về cơ cấu nguồn nhân lực được thể hiện trên các phương diện như: cơ
cấu trình độ học vấn (trên đại học, đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp);
cơ cấu về giới tính; độ tuổi; cơ cấu lao động trong các bộ phận, các lĩnh vực
chuyên môn của ngành thuế
Ở đây, cơ cấu nguồn nhân lực của ngành thuế Hà Nội hợp lý, tức là phát
triển hợp lý về số lượng, đào tạo theo cấp bậc (trình độ) phù hợp với nhu cầu
Trang 25thực tiễn của các lĩnh vực, các ngành, các bộ phận của các cơ quan thuộc Cục
thuế Hà Nội và các Chi cục thuế Quận, Huyện, Thị xã thuộc Thành phố Hà Nội
phù hợp với qui hoạch phát triển chung của thành phố Hà Nội Cơ cấu nguồn
nhân lực hợp lý sẽ tạo điều kiện bảo đảm cho ngành thuế Hà Nội hoạt động một
cách có chất lượng và hiệu quả
Như vậy về cơ cấu nguồn nhân lực của Thành phố Hà Nội phải duy trì
một cách hợp lý cả về số lượng lẫn chất lượng, xây dựng được một cơ cấu
đồng bộ, cân đối hợp lý về: trình độ, chuyên môn nghiệp vụ, độ tuổi, khu vực,
địa bàn…
Về trình độ phải cân đối giữa số lượng cán bộ quản lý và công chức,
giữa trình độ sau đại học, đại học và trung cấp Về độ tuổi gồm nhiều thế hệ
kế tiếp nhau, đặc biệt ưu tiên đối với thế hệ trẻ, nhằm khai thác triệt để thế
mạnh của từng thế hệ Về cơ cấu chuyên môn nghiệp vụ phải bảo đảm cân đối
giữa các bộ phận, các lĩnh vực Cần thực hiện phương châm: "công tác đào
tạo phải đi trước một bước", kết hợp nhiều hình thức đào tạo, bồi dưỡng đội
ngũ, chú trọng đào tạo ở tất cả các bậc học Gắn đào tạo với quy hoạch, sử
dụng, bố trí công tác và quản lý nhân sự, không ngừng nâng cao chất lượng
đào tạo Nội dung đào tạo tập trung ưu tiên cho những chuyên môn đang
thiếu, đang yếu
Trang 26Bố trí hợp lý và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực ở những bộ phận chủ
lực của ngành Thực hiện tốt các chế độ chính sách để đảm bảo quyền lợi vật
chất tinh thần cho đội ngũ cán bộ viên chức công tác trong bộ phận chủ lực
của ngành…Đảm bảo các quyền lợi về tiền lương, chế độ bảo hiểm, chăm sóc
sức khoẻ, đào tạo, nhà ở…để họ yên tâm công tác lâu dài và tạo yếu tố hấp
dẫn thu hút nguồn nhân lực mới vào công tác trong ngành
Khắc phục sự mất cân đối về số lượng, cơ cấu, chuyên môn nghiệp vụ,
trình độ của đội ngũ cán bộ công chức trong ngành và tình trạng mất cân đối
về độ tuổi, cấp đào tạo, bậc học, phân bố theo khu vực địa bàn, tăng thêm cả
về chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ công chức làm việc ở các bộ phận
chủ yếu và những địa bàn khó khăn
Như vậy, Nội dung phát triển nguồn nhân lực của ngành thuế Hà Nội
chính là các hoạt động nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết bảo đảm cho
mọi người làm việc trong ngành được phát triển cả về phẩm chất, thể chất, trí
tuệ, trình độ chuyên môn, tay nghề ngày càng cao đáp ứng tốt mục tiêu, yêu
cầu phát triển của ngành đặt ra
1.2.2 Các nhân tố tác động đến phát triển nguồn nhân lực ngành thuế thành phố Hà Nội
Sự phát triển nguồn nhân lực của ngành thuế chịu sự tác động của các điều kiện khách quan cũng như các nhân tố chủ quan, đó là: Điều kiện kinh tế
xã hội của đất nước; sự lãnh đạo, định hướng của Đảng, sự quản lý của Nhà
Trang 27nước, chỉ đạo của ngành; phụ thuộc vào mỗi đơn vị, tổ chức và mỗi cán bộ công chức về chuyên môn nghiệp vụ của mình.
* Các nhân tố bên ngoài
Có nhiều nhân tố bên ngoài tác động mạnh mẽ đến phát triển nguồn nhân lực của ngành thuế Hà nội, trong đó nổi lên là:
Thứ nhất, điều kiện kinh tế - xã hội Điều kiện kinh tế - xã hội của quốc
gia và của Thành phố Hà nội có tác động, ảnh hưởng rất lớn đến phát triển nguồn nhân lực của ngành thuế Kinh tế - xã hội phát triển sẽ đòi hỏi phải phát triển nguồn nhân lực của ngành theo kịp với sự phát triển của thực tiễn đặt ra Đồng thời, chính sự phát triển của kinh tế - xã hội cũng tạo điều kiện nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cả về thể chất, phẩm chất và trình độ học vấn nói chung và của ngành nói riêng Ngược lại, điều kiện kinh tế - xã hội của quốc gia và của Thành phố còn hạn chế, đời sống vật chất - tinh thần của dân cư gặp nhiều khó khăn sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng nguồn nhân lực nói chung, trong đó có nguồn nhân lực của ngành thuế nói riêng Ngoài ra, kinh tế - xã hội phát triển sẽ tạo ra điều kiện xây dựng cơ cấu kinh
tế và cơ cấu lao động phù hợp, mở ra khả năng phát triển tốt hơn nhu cầu nguồn nhân lực cho các ngành nói chung và ngành thuế nói riêng
Thứ hai, sự phát triển của hệ thống giáo dục và đào tạo Số lượng và
chất lượng nguồn nhân lực của ngành thuế phụ thuộc rất lớn vào hệ thống giáo dục đào tạo của quốc gia, trong đó đặc biệt là hệ thống giáo dục đào tạo nghề liên quan trực tiếp đến nghiệp vụ của ngành…Mức độ phát triển của giáo dục, đào tạo là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực … Các tác động chính của phát triển giáo dục, đào tạo đối với chất lượng nguồn nhân lực ngành thuế Hà Nội bao gồm:
- Mức độ phát triển của giáo dục - đào tạo của quốc gia và Thành phố
Hà Nội càng cao thì quy mô nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực của ngành thuế Hà Nội nói riêng có trình độ chuyên môn nghiệp vụ càng mở rộng
Trang 28bởi vì giáo dục và đào tạo là nguồn gốc cơ bản để nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn nghiệp vụ của ngành thuế.
- Hệ thống giáo dục - đào tạo càng phát triển cao thì càng có điều kiện và khả năng nâng cao chất lượng theo chiều sâu của nguồn nhân lực, chất lượng của đầu ra được phát triển, đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động và ngành thuế đặt ra
- Giáo dục - đào tạo đem lại những lợi ích to lớn lâu dài cho cá nhân và ngành: đối với cá nhân giáo dục đem lại cho họ kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, thái độ… trên nền tảng đó, để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ thích nghi với những với những thay đổi phát triển của nghề nghiệp…; đối với ngành thuế, giáo dục - đào tạo góp phần nâng cao trình độ văn hóa là tiền đề
để tiếp thu tri thức, nâng cao trình độ cho cán bộ, công chức của ngành, để tận dụng các cơ hội trong lao động sáng tạo đáp ứng tốt yêu cầu của ngành đặt ra
Trong nền kinh tế hiện đại ngày nay, kinh tế tri thức ngày càng giữ vai trò quan trọng Sức cạnh tranh sẽ xoay quanh tâm điểm là hàm lượng khoa học và công nghệ, chất xám, nó quyết định đến giá trị của sản phẩm Do vậy, phát triển của hệ thống giáo dục - đào tạo càng có vị trí vai trò to lớn đối phát triển nguồn nhân lực nói chung và phát triển nguồn nhân lực của ngành thuế nói riêng
Thứ ba, cơ chế, chính sách của ngành Việc phát triển nguồn nhân lực
thuế của quốc gia nói chung và của Thành phố Hà Nội nói riêng phụ thuộc rất lớn vào cơ chế, chính sách của Nhà nước và của ngành.Trước hết việc phát triển nguồn nhân lực của ngành phụ thuộc vào chính sách đầu tư phát triển nhân lực ngành thuế của Nhà nước Đồng thời, nguồn nhân lực này sẽ được bảo đảm tốt hơn nếu Nhà nước có cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển
hệ thống đào tạo chuyên môn nghiệp vụ phục vụ cho quá trình phát triển của ngành; mở rộng hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trung cấp dạy nghề,
Trang 29tăng số lượng đào tạo nhân lực của ngành Ngoài ra, thông qua các chính sách
vĩ mô, Nhà nước có khả năng điều tiết việc chuyển dịch lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ ở các ngành khác sang phục vụ cho quá trình phát triển của ngành thuế Thông qua hệ thống các cơ chế, chính sách của Nhà nước và của ngành như: chính sách xã hội hóa giáo dục; chính sách phát triển các cơ sở giáo dục đào tạo của ngành chất lượng cao đạt chuẩn khu vực và quốc tế; chính sách đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục; chính sách phát triển đội ngũ cán bộ, công chức của ngành; chính sách tiền lương, nhà
ở, thu nhập, bảo hiểm xã hội…đây chính là điều kiện, môi trường pháp lý thúc đẩy sự phát triển hoặc kìm hãm sự phát triển nguồn nhân lực của ngành
Thứ tư, là thị trường lao động Việc phát triển nguồn nhân lực của
ngành thuế Hà Nội đang diễn ra trong điều kiện kinh tế thị trường nên còn phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển của thị trường lao động Thị trường lao động phát triển, cung lao động sẽ được phát triển tốt hơn cả về số lượng và chất lượng cho nền kinh tế nói chung và cho ngành thuế nói riêng; đồng thời
hệ thống thông tin thị trường lao động, dịch vụ tư vấn, trung tâm giới thiệu việc cũng được phát triển, sẽ có khả năng, điều kiện đáp ứng tốt hơn về nguồn nhân lực của ngành thuế Các bộ phận của ngành thuế Hà Nội dễ dàng tìm kiếm được nguồn lao động có trình độ, kỹ năng đáp ứng được nhu cầu phát triển của ngành thuế đặt ra Đồng thời người lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững cũng dễ dàng tìm kiếm việc làm phù hợp với năng lực và
sở trường của mình ở các bộ phận của ngành thuế Hà Nội
Thứ năm, là hội nhập quốc tế Hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của
nước ta sẽ tạo ra thời cơ cho các ngành, các lĩnh vực kinh tế của đất nước tranh thủ các nguồn ngoại lực để đẩy nhanh sự tăng trưởng, phát triển Thông qua thị trường lao động quốc tế, ngành thuế ở nước ta nói chung và ngành thuế của Hà Nội nói riêng có thể tuyển dụng, sử dụng các chuyên gia, nguồn nhân lực chất lượng cao từ nước ngoài cho phát triển của ngành; gửi đi đào
Trang 30tạo ở nước ngoài, cũng như liên kết trong đào tạo nhằm tăng cường số lượng, chất lượng nguồn nhân lực của ngành thuế thủ đô v.v
* Các nhân tố bên trong
Có nhiều nhân tố bên trong tác động mạnh mẽ đến phát triển nguồn nhân lực của ngành thuế Thủ đô đó là:
Thứ nhất là quy hoạch, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của ngành thuế
Hà Nội Việc bảo đảm nguồn nhân lực của ngành thuế Hà Nội sẽ phụ thuộc vào nhu
cầu về nguồn nhân lực của chi cục thuế các quận, huyện và các cơ quan chức năng thuộc Cục thuế Hà Nội Nhu cầu về nguồn nhân lực của các cơ quan đơn vị của ngành thuế Hà Nội thể hiện ở quy hoạch, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực và xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực trên cơ sở kế hoạch phát triển của ngành thuế của đất nước và của ngành thuế Thành phố Hà Nội
Thứ hai là cơ chế, chính sách tuyển chọn, sử dụng, đãi ngộ nguồn nhân lực của ngành Cơ chế, chính sách thu hút, tuyển chọn, sử dụng, đãi ngộ, bồi dưỡng
nguồn nhân lực có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực của ngành thuế Trước hết, cơ chế, chính sách tuyển chọn hợp lý, phù hợp sẽ bảo đảm chất lượng tuyển chọn nguồn nhân lực vào làm việc ở các cơ quan đơn vị của ngành thuế Hà Nội Đồng thời, chính sách sử dụng, đãi ngộ hợp lý, như chính sách bảo hiểm, y tế, thu nhập, tiền lương, điều kiện lao động được bảo đảm v.v đáp ứng lợi ích, nguyện vọng của người lao động sẽ có tác dụng to lớn trong việc thu hút, khuyến khích nguồn nhân lực chất lượng cao vào làm việc và gắn bó với ngành
Thứ ba là nguồn lực bảo đảm nhân lực của ngành thuế Hà nội Nguồn lực
bảo đảm nhân lực của ngành, trong đó đặc biệt là nguồn lực tài chính tác động, ảnh hưởng rất lớn đến thực hiện hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực của ngành
Để bảo đảm nguồn nhân lực của ngành thuế Hà Nội cần phải tiến hành việc
bồi dưỡng, đào tạo lại đội ngũ cán bộ, viên chức tại chỗ cũng như gửi đi đào tạo, bồi
Trang 31dưỡng ở các cơ sở giáo dục đào tạo bên ngoài Điều đó đòi hỏi các cơ quan đơn vị
của ngành thuế Hà nội cần phải có nguồn lực tài chính nhất định
Thứ tư, môi trường văn hóa ở các cơ quan đơn vị của ngành thuế Hà Nội
Môi trường văn hóa bao gồm truyền thống, tập quán, thói quen, bầu không khí tâm
lý và sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong tập thể lao động…Các
yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng nguồn nhân lực vì chúng tạo nên sức
mạnh tinh thần thông qua việc hình thành môi trường văn hoá nhân văn ở các cơ
quan đơn vị của ngành thuế Hà Nội Ngược lại, các các cơ quan đơn vị có môi trường
văn hoá không tốt, tập thể không đoàn kết, thống nhất, thiếu tin tưởng lẫn nhau,
người lao động không phát huy được tính sáng tạo của mình… thì không tạo ra sự
hấp dẫn để thu hút được nguồn nhân lực chất lượng cao vào làm việc cho ngành
Sự phụ thuộc vào chính đội ngũ nguồn nhân lực của ngành thuế
Môi trường xã hội thuận lợi là những yếu tố quan trọng để phát triển nguồn
nhân lực nói chung và ngành thuế nói riêng Tuy nhiên, nhân tố quyết định đến sự
phát triển lại là tính tích cực, chủ động sáng tạo của mỗi thành viên trong đội ngũ hợp
thành nguồn nhân lực của ngành thuế, với tư cách là chủ thể của hành động Một môi
trường dù thuận lợi đến đâu đi chăng nữa nhưng mỗi người lao động không tích cực,
chủ động sáng tạo thì khó thực được công việc một cách có hiệu quả Ngược lại, cho
dù điều kiện có khó khăn đến đâu đi chăng nữa nhưng nếu mỗi người có tinh thần
Trang 32chủ động sáng tạo, tích cực khắc phục khó khăn thì sẽ biến khả năng thành hiện thực,
tìm ra những giải pháp để khắc phục khó khăn, hoàn thành thắng lợi các mục tiêu đề
ra Tuy nhiên, tính tích cực, độc lập, tự chủ, sáng tạo của mỗi người chỉ có được khi
họ có trình độ trí tuệ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ cao và bản lĩnh chính trị vững
vàng Trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và quá trình hội nhập quốc tế ngày
càng sâu rộng của đất nước, đòi hỏi mỗi thành viên trong đội ngũ nguồn nhân lực của
ngành thuế, dù ở cương vị nào cũng phải không ngừng nỗ lực vươn lên, nếu không sẽ
bị tụt hậu Những tri thức, kinh nghiệm vốn sống đã được tích luỹ cần phải được liên
tục bổ sung, cập nhật và được kiểm nghiệm trong thực tiễn Mọi sự thoả mãn dừng
lại đều dẫn tới sự lạc hậu, làm mai một những năng lực trí tuệ của mỗi cá nhân và
điều đó sẽ dẫn đến không còn đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của ngành thuế đặt ra
*
* *Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nguồn nhân lực
là nhân tố trung tâm, có vai trò quyết định đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Trong quá trình phát triển này thuế đóng một vai trò hết sức to lớn, là nguồn thu ngân sách chính, đồng thời là công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng của Nhà nước Nó đã góp phần quan trọng trong quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thực hiện bình đẳng, công bằng xã hội, tạo công ăn việc làm cho người lao động, ổn định chính trị xã hội, quốc phòng an ninh được bảo đảm Phát huy vai trò của thuế cho phát triển kinh tế xã hội là vấn đề cần thiết và cấp bách đối với sự' nghiệp xây dựng đất nước trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đang diễn ra sâu rộng, mạnh mẽ và Việt Nam đã trở thành
Trang 33thành viên chính thức của nhiều tổ chức kinh tế quốc tế Để đáp ứng yêu cầu trên một trong giải pháp quan trọng cần phải quan tâm đó là phát triển nguồn nhân lực ngành thuế đủ sức hoàn tốt chức năng nhiệm vụ trong tình hình mới.
Từ cách tiếp cận về nguồn nhân lực nói chung và trên cơ sở nghiên cứu
về nguồn nhân lực của Thành phố Hà Nội tác giả đã đưa ra quan niệm
“Nguồn nhân lực của ngành thuế Hà Nội là bao gồm toàn bộ các cán bộ, công chức trực tiếp làm công tác trong ngành thuế ở các quận, huyện và các phòng
trực thuộc Cục thuế Thành phố Hà Nội” Đồng thời tác giả chỉ rõ phát triển
nguồn nhân lực của ngành thuế Hà Nội là tổng thể các biện pháp mà ngành thuế Hà Nội thực hiện nhằm biến đổi về số lượng, chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của ngành thuế Hà Nội đặt ra Trong quá trình phát triển nguồn nhân lực của ngành thuế Hà Nội phải tính đến các nhân
tố tác động chi phối như: Điều kiện kinh tế - xã hội; Sự phát triển của hệ thống giáo dục và đào tạo quốc gia; Cơ chế, chính sách của ngành; Thị trường lao động; Quy hoạch, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của ngành thuế Hà Nội; Cơ chế, chính sách tuyển chọn, sử dụng, đãi ngộ nguồn nhân lực của ngành; Nguồn lực bảo đảm nhân lực của ngành thuế Hà nội; Môi trường văn hóa ở các cơ quan đơn vị của ngành thuế Hà Nội; Sự phụ thuộc vào chính đội
ngũ nguồn nhân lực của ngành thuế Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế
xã hội của Thành phố trong tình hình mới thì nguồn nhân lực của ngành thuế Hà Nội phải không ngừng được hoàn thiện về mọi mặt, cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH THUẾ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN QUA 2.1.Khái quát về chức năng, nhiệm vụ và tổng quan tình hình hoạt động của ngành Thuế Thành phố Hà Nội trong thời gian qua
2.1.1 Khái quát về chức năng, nhiệm vụ của ngành thuế Hà Nội
Cục Thuế Thành phố Hà Nội được thành lập theo Quyết định số 1640/QĐ-BTC ngày 28 tháng 7 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ tài chính, Nghị định số: 218-HĐBT ngày 07 tháng 8 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay
là Chính phủ) về việc thành lập hệ thống Thuế nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính Cục Thuế Hà Nội là tổ chức trực thuộc Tổng cục Thuế, có chức năng
tổ chức thực hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của ngân sách nhà nước thuộc phạm vi nhiệm vụ của ngành thuế trên địa bàn theo quy định của pháp luật; Có tư cách pháp nhân, con dấu riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật Cục Thuế thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm theo quy định của Luật Quản lý thuế, các luật thuế, các quy định pháp luật có liên quan khác và các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể như:
Tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn và triển khai thực hiện thống nhất các văn bản quy phạm pháp luật về thuế, quy trình nghiệp vụ quản lý thuế trên địa bàn tỉnh, thành phố Phân tích, tổng hợp, đánh giá công tác quản lý thuế; tham mưu với cấp uỷ, chính quyền địa phương về lập dự toán thu ngân sách Nhà nước, về công tác quản lý thuế trên địa bàn; phối hợp chặt chẽ với các ngành,
cơ quan, đơn vị liên quan để thực hiện nhiệm vụ được giao Tổ chức thực hiện
nhiệm vụ quản lý thuế đối với người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý của Cục Thuế: đăng ký thuế, cấp mã số thuế, xử lý hồ sơ khai thuế, tính thuế, nộp thuế, miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, xoá nợ thuế, tiền phạt, lập sổ thuế, thông báo thuế, phát hành các lệnh thu thuế và thu khác theo quy định của
Trang 35pháp luật thuế; đôn đốc người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ, kịp thời vào ngân sách nhà nước.
Quản lý thông tin về người nộp thuế; xây dựng hệ thống dữ liệu thông tin về người nộp thuế Thực hiện nhiệm vụ cải cách hệ thống thuế theo mục tiêu nâng cao chất lượng hoạt động, công khai hoá thủ tục, cải tiến quy trình nghiệp vụ quản lý thuế và cung cấp thông tin để tạo thuận lợi phục vụ cho người nộp thuế thực hiện chính sách, pháp luật về thuế
Tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, hướng dẫn, giải thích chính sách thuế của Nhà nước; hỗ trợ người nộp thuế trên địa bàn thực hiện nghĩa
vụ nộp thuế theo đúng quy định của pháp luật Thực hiện dự toán thu thuế hàng năm được giao, các biện pháp nghiệp vụ quản lý thuế; trực tiếp thực hiện việc quản lý thuế đối với người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý của Cục Thuế theo quy định của pháp luật và các quy định, quy trình, biện pháp nghiệp vụ của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế Hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra các Chi cục Thuế trong việc tổ chức triển khai nhiệm vụ quản lý thuế Trực tiếp thanh tra, kiểm tra, giám sát việc kê khai thuế, hoàn thuế, miễn, giảm thuế, nộp thuế, quyết toán thuế và chấp hành chính sách, pháp luật về thuế đối với người nộp thuế, tổ chức và cá nhân quản lý thu thuế, tổ chức được uỷ nhiệm thu thuế thuộc thẩm quyền quản lý của Cục trưởng Cục Thuế
Thực hiện kiểm tra việc chấp hành nhiệm vụ, công vụ của cơ quan thuế, của công chức thuế thuộc thẩm quyền quản lý của Cục trưởng Cục Thuế Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế, khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc chấp hành trách nhiệm công vụ của cơ quan thuế, công chức thuế thuộc quyền quản lý của Cục trưởng Cục thuế theo quy định của pháp luật; xử lý vi phạm hành chính về thuế, lập hồ sơ đề nghị cơ quan có thẩm quyền khởi tố các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về thuế Tổ chức thực hiện thống kê,
kế toán thuế, quản lý biên lai, ấn chỉ thuế; lập báo cáo về tình hình kết quả thu thuế và báo cáo khác phục vụ cho việc chỉ đạo, điều hành của cơ quan cấp
Trang 36trên, của Uỷ ban nhân dân đồng cấp và các cơ quan có liên quan; tổng kết, đánh giá tình hình và kết quả công tác của Cục Thuế.
Kiến nghị với Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế những vấn đề vướng mắc cần sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về thuế, các quy định của Tổng cục Thuế về chuyên môn nghiệp vụ và quản lý nội bộ; kịp thời báo cáo với Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế về những vướng mắc phát sinh,
những vấn đề vượt quá thẩm quyền giải quyết của Cục Thuế Quyết định hoặc
đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định miễn, giảm, hoàn thuế, gia hạn thời hạn khai thuế, gia hạn thời hạn nộp tiền thuế, truy thu tiền thuế, xoá nợ tiền thuế, miễn xử phạt tiền thuế theo quy định của pháp luật
Được phép yêu cầu người nộp thuế, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức,
cá nhân có liên quan cung cấp kịp thời các thông tin cần thiết cho việc quản lý thu thuế; đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý các tổ chức, cá nhân không thực hiện trách nhiệm trong việc phối hợp với cơ quan thuế để thu thuế vào ngân sách Nhà nước Được ấn định thuế, thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế theo quy định của pháp luật; thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng đối với người nộp thuế vi phạm pháp luật thuế Bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế; giữ bí mật thông tin của người nộp thuế; xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế khi
có đề nghị theo quy định của pháp luật thuộc phạm vi quản lý của Cục Thuế Giám định để xác định số thuế phải nộp của người nộp thuế theo yêu cầu của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tổ chức tiếp nhận và triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ thông tin và phương pháp quản lý hiện đại vào các hoạt động của Cục Thuế Quản lý bộ máy, biên chế, công chức, viên chức, lao động và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức, viên chức của Cục Thuế theo quy định của Nhà nước và của ngành thuế Quản lý, lưu giữ hồ sơ, tài liệu, ấn chỉ thuế và kinh phí, tài sản được giao theo quy định của pháp luật Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế
Trang 37giao Địa chỉ trụ sở làm việc của Cục Thuế Thành phố Hà Nội đặt tại: 187 Đường Giảng Võ, Quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.
2.1.2 Tình hình hoạt động của ngành Thuế Thành phố Hà Nội
*Tình hình thu ngân sách từ thuế của Thành phố Hà Nội trong những năm qua
Thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2010 thu được là 44.069 tỷ đồng đạt 128,2% dự toán pháp lệnh; Năm 2011 thu được là 51.318 tỷ đồng đạt 111%
dự toán pháp lệnh; Năm 2012 thu được là 52.345 tỷ đồng đạt 82,3% dự toán pháp lệnh; năm 2013 thu được là 47.969 tỷ đồng đạt 67,3% dự toán pháp lệnh; năm 2014 thu được là 40.431 tỷ đồng đạt 86,4% dự toán pháp lệnh
Thuế giá trị gia tăng năm 2010 thu được là 16.036 tỷ đồng đạt 103,5%
dự toán pháp lệnh; năm 2011 thu được 18.941 tỷ đồng, đạt 89,1% dự toán pháp lệnh; Năm 2012 thu được là 21.325 tỷ đồng đạt 87,4% dự toán pháp lệnh; năm 2013 thu được là 22.069 tỷ đồng đạt 79,2% dự toán pháp lệnh; năm
2014 thu được là 24.318 tỷ đồng đạt 109,7% dự toán pháp lệnh
Thu từ doanh nghiệp Nhà nước trên địa bàn Thành phố:
Năm 2010 thực hiện được 43.811 tỷ đồng, đạt 115,2% dự toán pháp lệnh; Năm 2011 thực hiện được 50.608 tỷ đồng, đạt 103% dự toán pháp lệnh; Năm 2012 thu được là 53.565 tỷ đồng đạt 89,9% dự toán pháp lệnh; năm
2013 thu được là 51.701 tỷ đồng đạt 73,9% dự toán pháp lệnh; năm 2014 thu được là 38.822 tỷ đồng đạt 78,6% dự toán pháp lệnh
Thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài:
Năm 2010 thực hiện được 11.423 tỷ đồng, đạt 131,3% dự toán pháp lệnh; Năm 2011 thực hiện được 13.907 tỷ đồng, đạt 114,2% dự toán pháp lệnh; Năm 2012 thu được là 14.033 tỷ đồng đạt 78% dự toán pháp lệnh; năm
2013 thu được là 16.672 tỷ đồng đạt 88,7% dự toán pháp lệnh; năm 2014 thu được là 16.411 tỷ đồng đạt 105,8% dự toán pháp lệnh
Thu từ khu vực Ngoài quốc doanh:
Trang 38Năm 2010 thực hiện được 11.356 tỷ đồng, đạt 138,5% dự toán pháp lệnh; Năm 2011 thực hiện được 14.420 tỷ đồng, đạt 113,1% dự toán pháp lệnh; Năm 2012 thu được là 14.900 tỷ đồng đạt 73% dự toán pháp lệnh; năm
2013 thu được là 14.908 tỷ đồng đạt 70,3% dự toán pháp lệnh; năm 2014 thu được là 18.865 tỷ đồng đạt 136,2% dự toán pháp lệnh
Thuế thu nhập cá nhân:
Năm 2010 thực hiện được 5.885 tỷ đồng, đạt 202,9% dự toán pháp lệnh; Năm 2011 thực hiện được 8.708 tỷ đồng, đạt 140,5% dự toán pháp lệnh; Năm 2012 thu được là 10.311 tỷ đồng đạt 103,1% dự toán pháp lệnh; năm
2013 thu được là 10.403 tỷ đồng đạt 89,7% dự toán pháp lệnh; năm 2014 thu được là 10.645 tỷ đồng đạt 118,3% dự toán pháp lệnh
Thu lệ phí trước bạ:
Năm 2010 thực hiện được 3.787 tỷ đồng, đạt 172,2% dự toán pháp lệnh; Năm 2011 thực hiện được 4.836 tỷ đồng, đạt 138,2% dự toán pháp lệnh; Năm 2012 thu được là 2.250 tỷ đồng đạt 52,3% dự toán pháp lệnh; năm 2013 thu được là 2.806 tỷ đồng đạt 105,9% dự toán pháp lệnh; năm 2014 thu được
là 3.861 tỷ đồng đạt 167,9% dự toán pháp lệnh
Phí và lệ phí:
Năm 2010 thực hiện được 4.646 tỷ đồng, đạt 104,4% dự toán pháp lệnh; Năm 2011 thực hiện được 4.947 tỷ đồng, đạt 103,1 % dự toán pháp lệnh; Năm 2012 thu được là 3.325 tỷ đồng đạt 92,4% dự toán pháp lệnh; năm
2013 thu được là 4.67 tỷ đồng đạt 91,6% dự toán pháp lệnh; năm 2014 thu được là 5.416 tỷ đồng đạt 117,7% dự toán pháp lệnh
Thuế bảo vệ môi trường:
Năm 2012 thu được là 1.568 tỷ đồng đạt 108,2% dự toán pháp lệnh; năm 2013 thu được là 1.336 tỷ đồng đạt 78,6% dự toán pháp lệnh; năm 2014 thu được là 1.432 tỷ đồng đạt 102,3% dự toán pháp lệnh
Trang 39Các khoản thu về đất: Ngành Thuế Hà Nội tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các ngành có liên quan trong công tác quản lý thu Ngân sách đối với các khoản thu liên quan đến đất đai kết quả đạt được cụ thể như sau:
- Thu tiền sử dụng đất: Năm 2011 thực hiện được 9.431 tỷ đồng, đạt 97,2% doanh thu pháp lệnh; Năm 2012 thu được là 11.841 tỷ đồng đạt 100,1%
dự toán pháp lệnh; năm 2013 thu được là 12.131 tỷ đồng đạt 101,5% dự toán pháp lệnh; năm 2014 thu được là 8.026 tỷ đồng đạt 73% dự toán pháp lệnh
- Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp: Năm 2011 thực hiện được 218 tỷ đồng, đạt 136,3% dự toán pháp lệnh; Năm 2012 thu được là 269 tỷ đồng đạt 134,9% dự toán pháp lệnh; năm 2013 thu được là 345 tỷ đồng đạt 138,1% dự toán pháp lệnh; năm 2014 thu được là 359 tỷ đồng đạt 119,5% dự toán pháp lệnh
- Thu tiền cho thuê đất: Năm 2011 thực hiện được 1.233 tỷ đồng, đạt 220,3% dự toán pháp lệnh; Năm 2012 thu được là 1.692 tỷ đồng đạt 199,1% dự toán pháp lệnh; năm 2013 thu được là 1.903 tỷ đồng đạt 173% dự toán pháp lệnh; năm 2014 thu được là 2.031 tỷ đồng đạt 169,2% dự toán pháp lệnh
* Công tác quản lý của ngành thuế Thành phố Hà Nội
Trong những năm qua ngành thuế Thành phố Hà Nội đã triển khai đồng
bộ, quyết liệt các giải pháp quản lý thuế, đặc biệt đã tập trung tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật thuế, đôn đốc kê khai, nộp thuế, thanh kiểm tra chống thất thu và đôn đốc nợ đọng thuế nhằm ngăn chặn và phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật thuế, đẩy mạnh công tác cải cách, hiện đại hóa công tác quản lý thuế, từ đó nâng cao tính tuân thủ pháp luật của Người nộp thuế, góp phần tạo môi trường sản xuất kinh doanh bình đẳng và đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, cụ thể là:
Công tác tuyên truyền hỗ trợ:
Công tác tuyên truyền, hỗ trợ Người nộp thuế luôn được ngành thuế Thành phố coi trọng là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt của ngành Nội dung tuyên truyền tương đối đa dạng, bao trùm hầu hết các sắc thuế, pháp luật quản
Trang 40lý thuế, nhất là các chính sách mới, các chính sách ưu đãi thuế của Nhà nước Trong thời gian qua, công tác tuyên truyền đã đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu
đề ra, đã chuyển tải kịp thời nội dung cơ bản của chính sách thuế đến các tầng lớp dân cư và Người nộp thuế, góp phần nâng cao hiểu biết về chính sách thuế của Người nộp thuế và nhân dân Công tác hỗ trợ Người nộp thuế đã được ngành thuế Hà Nội thực hiện bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú như: Tổ chức các đợt tập huấn cho người nộp thuế về các chính sách thuế mới; trả lời qua đường dây nóng; cung cấp các ấn phẩm, tờ rơi tuyên truyền về chính sách thuế Thông qua công tác hỗ trợ, chính sách thuế đã được chuyển tải một cách cụ thể cho Người nộp thuế, giải quyết kịp thời những vướng mắc của Người nộp thuế trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế Tổ chức tốt các hội nghị đối thoại nhằm tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, đồng thời nắm bắt phản ánh của Người nộp thuế về tinh thần trách nhiệm, thái độ làm việc của cán bộ thuế đối với Người nộp thuế, tiếp thu các ý kiến đóng góp của Người nộp thuế đối với các chính sách thuế
Công tác kê khai thuế:
Tăng cường công tác kê khai - kế toán thuế nhằm thúc đẩy người nộp thuế chấp hành tốt việc kê khai, nộp thuế, đồng thời góp phần ngăn chặn bước đầu các hành vi vi phạm pháp luật thuế của người nộp thuế Do vậy trong những năm qua ngành thuế Hà Nội đã tổ chức thực hiện đúng quy trình kê khai thuế Tăng cường công tác đôn đốc nộp tờ khai, kiểm tra, kiểm soát việc
kê khai thuế của người nộp thuế, phát hiện ngay các trường hợp kê khai không đúng, không đủ, không kịp thời số thuế phải nộp để có các biện pháp chấn chỉnh, xử lý kịp thời; cương quyết áp dụng các biện pháp xử lý phạt vi phạm hành chính trong kê khai thuế (năm 2014 đã ban hành 10.341 quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kê khai thuế, số tiền xử phạt 8,7 tỷ đồng) Do vậy trong năm qua, đại đa số người nộp thuế chấp hành tốt việc kê khai, nộp thuế kịp thời, sát số phát sinh, tỷ lệ người nộp thuế đã nộp tờ