Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu các hoạt động công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo, cụ thể là các hoạt động về công tác truyền thông vận động; hoạt động kết n
Trang 1VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN NGỌC TOẢN
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu, thực hiện của chính bản thân Các kết quả, số liệu nêu trong luận văn là trung thực và được trích dẫn tài liệu đã công bố và cập nhật chính xác Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác và chưa được dùng cho bất cứ luận văn thạc sĩ nào
Trà Vinh, ngày 12 tháng 5 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Từ Minh Điền
Trang 36 HNĐC Hộ nghèo đa chiều
7 NVXH Nhân viên xã hội
8 CTV Cộng tác viên
9 CTXHCN Công tác xã hội cá nhân
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO .8
1.1 Khái niệm, đặc điểm, nhu cầu của người nghèo 8
1.2 Lý luận về công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo 12
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội đối cá nhân đối với người nghèo 24
1.4 Văn bản pháp lý liên quan đến công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo 29
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH 33
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Trà Vinh 33
2.2 Thực trạng về hộ nghèo, người nghèo ở Trà Vinh .34
2.3 Thực trạng hoạt động công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo tại Trà Vinh 37 2.4 Thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo 50 Chương 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO TẠI TRÀ VINH .58
3.1 Mục tiêu giảm nghèo tỉnh Trà Vinh .58
3.2 Giải pháp tăng cường công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo 59
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 81
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề giảm nghèo là vấn đề toàn cầu, không chỉ có ở Việt Nam và các nước đang phát triển, các nước nghèo mà là vấn đề của cả các nước phát triển Công tác
xã hội có vai trò quan trọng trong hỗ trợ giảm nghèo ở các cách tiếp cận khác nhau, công tác xã hội (CTXH) giúp người nghèo, cộng đồng xã hội thay đổi nhận thức, xây dựng kế hoạch huy động nguồn lực cho giảm nghèo Đặc biệt công tác xã hội
cá nhân thông qua việc sử dụng nhân viên công tác xã hội trực tiếp xây dựng kế hoạch tổ chức can thiệp hỗ trợ, giúp người nghèo, hộ nghèo thoát nghèo bền vững
Ở Việt Nam, giảm nghèo là một chủ trương, một quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước, mục tiêu giảm nghèo, hướng đến phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu chung của các Quốc gia Sau 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu phát triển kinh tế, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân đã từng bước được cải thiện Việt Nam đã đạt được một bước tiến ấn tượng trong công tác giảm nghèo những năm vừa qua Tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm từ 58% (năm 1993) xuống còn 14,2% (năm 2010) và 9,88% (năm 2015) Cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được tăng cường, đời sống người dân không ngừng được cải thiện cả về sinh kế và tiếp cận các dịch vụ xã hội Với thành quả này, Liên Hiệp Quốc đánh giá Việt Nam là một trong điểm sang giảm nghèo và thực hiện thành công mục tiêu thiên niên kỷ
Công tác xã hội nói chung và CTXH cá nhân nói riêng đã đóng góp vai trò không nhỏ trong việc trợ giúp người nghèo phát triển sản xuất, kinh doanh tăng thu nhập và giảm nghèo bền vững Trà Vinh, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 20,13% năm 2011 xuống còn 11,16% năm 2016, giai đoạn 2011 – 2015, toàn tỉnh có 51.543 hộ thoát nghèo, 14.064 hộ nghèo mới phát sinh, tỷ lệ hộ nghèo bình quân hàng năm giảm 3,19% (đầu năm 2011 có 58.158 hộ nghèo, chiếm 23,63%; cuối năm 2015 giảm còn 20.417 hộ nghèo, chiếm 7,61% so với tổng số hộ dân cư của tỉnh theo tiêu chí cũ) Cuối năm 2016, toàn tỉnh còn 30.359 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 11,16%; trong đó 17.946 hộ nghèo dân tộc khmer, chiếm tỷ lệ 20,46% so với tổng số hộ dân tộc
Trang 6khmer (chiếm 59,11% so với tổng số hộ nghèo toàn tỉnh) Các hoạt động CTXH được triển khai thực hiện có hiệu quả, tổ chức thông tin, tuyên truyền về nghề CTXH được 60 cuộc, có gần 2.000 lượt người dự; phối hợp đào tạo, tập huấn nghiệp vụ về CTXH cho các ngành, các cấp được 04 lớp đại học, 01 lớp Trung cấp,
03 lớp Cao đẳng và 40 lớp tập huấn nghiệp vụ, có 2.341 lượt cán bộ tham dự Đây
là điều kiện tiền đề quan trọng trong việc hình thành đội ngũ nhân viên CTXH chuyên nghiệp trong thời gian tới
Tuy nhiên, công tác giảm nghèo trên địa bàn tỉnh còn hạn chế, phần đông chính sách hỗ trợ người nghèo chưa được thực hiện đầy đủ, một bộ phận người nghèo lười lao động, trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước, chưa biết cách làm
ăn, chưa biết cách huy động nguồn lực, vốn sản xuất kinh doanh, chưa biết cách tiêu thụ sản phẩm dẫn đến thu nhập thấp, dẫn đến tái nghèo Những vấn đề trên, do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng một nguyên nhân quan trọng đó là chúng ta chưa có được các giải pháp, biện pháp và cách thức hỗ trợ người nghèo phù hợp Đồng thời chưa có một đội ngũ nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp thực hiện các hoạt động hỗ trợ người nghèo
Trong thời gian qua cũng có nhiều nghiên cứu về người nghèo trong địa bàn
cả nước và tỉnh Trà Vinh Các nghiên cứu này tập trung đánh giá thực trạng nghèo, kết quả thực hiện các chương trình, chính sách giảm nghèo, chưa có nghiên cứu về CTXH cá nhân đối với người nghèo trên địa bàn tỉnh Trà Vinh Đặc biệt là phân tích CTXH cá nhân đối với người nghèo nhìn từ góc độ vai trò, chức năng cũng như hoạt động CTXH chuyên nghiệp, nhằm nâng cao hiệu quả nguồn lực, phối hợp và tham gia tích cực của cộng đồng trong tổ chức thực hiện chương trình giảm nghèo
Từ lý do trên cho thấy, nghiên cứu đề tài luận văn:“Công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo từ thực tiễn tỉnh Trà Vinh” là cần thiết, có ý nghĩa lý luận
thực tiễn và ứng dụng
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề nghèo và công tác xã hội trong giảm nghèo như:
Trang 7Nguyễn Văn Nguyện (2006), với đề tài “Giải pháp chiến lược xóa đói, giảm
nghèo phát triển kinh tế bền vững trong vùng dân tộc Khmer ở tỉnh Trà Vinh, giai đoạn 2006 – 2015”.Tác giả đã tổng hợp một số vấn đề lý luận về giảm nghèo; thực
trạng kinh tế của tỉnh Trà Vinh và tình trạng nghèo của đồng bào dân tộc Khmer, từ
đó đã đề xuất giải pháp khắc phục tình trạng nghèo, phát triển kinh tế bền vững vùng dân tộc Khmer ở tỉnh Trà Vinh [16]
Trần Xuân Sơn (2016), với đề tài “"Giảm nghèo bền vững trong đồng bào dân tộc Khmer ở Trà Vinh" Tác giả đã nghiên cứu về một số lý luận về giảm
nghèo bền vững trong đồng bào dân tộc Khmer ở Trà Vinh, thực trạng và giải pháp về giảm nghèo bền vững đối với dân tộc Khmer, góp phần thực hiện tốt hơn công tác giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh [20]
Lê Thị Mỹ Ngọc (2016), với đề tài “Nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ
nghèo tại Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Trà Vinh”, đề tài nghiên cứu về thực
trạng và hiệu quả cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Trà Vinh
và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại Ngân hàng chính sách xã hội [15]
Đỗ Tiến Tân (2016), với đề tài “Chính sách công tác xã hội trong giảm
nghèo bền vững từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” Đề tài là vận dụng lý luận chính
sách công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững ở Việt Nam để đánh giá thực tiễn thực hiện chính sách CTXH trong giảm nghèo bền vững ở tỉnh Quảng Ngãi, tìm ra những bất cập của chính sách CTXH trong giảm nghèo bền vững hiện nay Đồng thời đã đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách CTXH trong giảm nghèo bền vững hướng đến việc chuyên nghiệp hóa CTXH đối với người nghèo [21]
Trần Quốc Điện (2015), với đề tài “Tỉnh ủy Vĩnh Long lãnh đạo công tác
giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay” Trong nghiên cứu, tác giả đã làm rõ lý luận
và thực tiễn về sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long đối với công tác giảm nghèo, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo công tác giảm nghèo của Tỉnh ủy Vĩnh Long trong giai đoạn hiện nay [9]
Trang 8Trần Quốc Khánh (2016), với đề tài “Quản lý công tác xã hội trong hoạt
động giảm nghèo từ thực tiễn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” Đề tài nghiên cứu quản lý
công tác xã hội thông qua lực lượng nhân viên công tác xã hội, cộng tác viên công tác xã hội và các ngành, các cấp đối với hoạt động giảm nghèo của tỉnh Bà Rịa-
Vũng Tàu [10]
Nguyễn Minh Lập, với đề tài “Quản lý công tác xã hội đối với người nghèo
từ thực tiễn tỉnh Bến Tre” Đề tài nghiên cứu quản trị công tác xã hội, chú trọng đến
hoạch định, tổ chức, kiểm soát và các chức năng quản trị khác đối với người nghèo
của tỉnh Bến Tre [12]
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2015),“Đề án tổng thể chuyển đổi
phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều dựa và thu nhập sang đa chiều
áp dụng trong giai đoạn 2016 - 2020” Đề án đã chỉ ra rằng, nghèo đói thường
được xác định bằng thu nhập hoặc chi tiêu và chuẩn nghèo được xác định bằng tiền Cách xác định này đã bộc lộ những hạn chế như: một số nhu cầu cơ bản của con người không thể quy ra tiền hoặc không thể mua được bằng tiền; có những trường hợp hộ gia đình có tiền nhưng không chi tiêu vào việc đáp ứng những nhu cầu tối thiểu Điều này cho thấy việc áp dụng duy nhất tiêu chí thu nhập để xác định hộ nghèo đã dẫn đến sự phân loại đối tượng, đánh giá mức độ và nguyên nhân nghèo chưa chính xác vì chưa phản ánh đầy đủ nhu cầu cơ bản, cũng như mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Từ đó chỉ ra cần thay đổi và áp dụng phương pháp xác định nghèo đa chiều [3]
Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh (2013), “Đề án giảm nghèo bền vững đến
năm 2015 và định hướng đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Trà Vinh”Mục tiêu của
Đề án là phấn đấu đến năm 2020 giảm tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh còn dưới 5%, góp phần cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người nghèo trên địa bàn tỉnh [29] Ngoài ra còn nhiều công trình khoa học, đề tài nghiên cứu của nhiều tác giả khác, mỗi tác giả nghiên cứu ở những góc độ khác nhau của vấn đề đói nghèo và giảm nghèo trong phạm vi cả nước và ở mỗi địa phương, như: Tổ chức Oxfam,
“Mô hình giảm nghèo tại một số cộng đồng dân tộc thiểu số điển hình ở Việt Nam”
Hà Nội – 2013 [25]; Viện Khoa học xã hội Việt Nam – VASS, “Giảm nghèo tại
Trang 9Việt Nam: Thành tựu và Thách thức”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 2011 [31];
Ngân hàng thế giới tại Việt Nam, “Báo cáo đánh giá nghèo Việt Nam 2012”, Hà
Nội – 2012 [17] Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo trên địa bàn tỉnh Trà Vinh
Tổng quan nghiên cứu cho thấy bằng các cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đã nêu một cách khái quát thực trạng nghèo và công tác giảm nghèo ở Việt Nam nước nói chung và Trà Vinh nói riêng Đây là nguồn tư liệu quan trọng để tiếp tục nghiên cứu về công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo từ thực tiễn tỉnh Trà Vinh
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu, tổng hợp và vận dụng các cơ sở lý luận, để soi rọi giữa lý luận
và thực tiễn về CTXH cá nhân đối với người nghèo, tìm ra thực trạng và đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác này Đồng thời, đưa công tác xã hội cá nhân đi vào đời sống của người nghèo
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo
- Đánh giá thực trạng hoạt động công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo trên địa bàn tỉnh Trà Vinh
- Đánh giá các yếu tố thuộc về bản thân người nghèo; yếu tố nhận thức, phong tục tập quán; yếu tố thuộc về người làm công tác xã hội cá nhân và công tác giảm nghèo đối với người nghèo
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện hoạt động công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo tại tỉnh Trà Vinh trong thời gian tới
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo tại tỉnh Trà Vinh
4.2 Khách thể nghiên cứu
- Cơ quan, tổ chức thực hiện công tác giảm nghèo tỉnh Trà Vinh
- Cán bộ làm công tác giảm nghèo, công tác xã hội tại tỉnh Trà Vinh
- Người nghèo, hộ nghèo trên địa bàn tỉnh Trà Vinh
Trang 104.3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu các hoạt động công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo, cụ thể là các hoạt động về công tác truyền thông vận động; hoạt động kết nối nguồn lực; hỗ trợ về tư vấn, tham vấn; hỗ trợ tiếp cận các chính sách giảm nghèo; hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2011 – 2016
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Trong quá trình thực hiện, Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về công tác giảm nghèo và CTXH cá nhân
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng các phương pháp nghiên cứu liên quan đến công tác giảm nghèo cũng như công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo, như:
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Nghiên cứu và phân tích các tài liệu, các công trình nghiên cứu đã được công bố về công tác xã hội cá nhân, về công tác giảm nghèo
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Các tài liệu, báo cáo kết quả chính sách, Chương trình giảm nghèo; Đề án 32 về phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020, các văn kiện, Nghị quyết, Nghị định, Quyết định, Thông tư; giáo trình, tài liệu, các công trình nghiên cứu liên quan đến công tác xã hội cá nhân
đối với người nghèo
- Thảo luận sâu; phỏng vấn sâu với 04 nhóm người nghèo và người làm công tác giảm nghèo tại huyện Trà Cú và huyện Cầu Kè (mỗi huyện 02 nhóm, mỗi nhóm
10 người nghèo và 6 cán bộ làm công tác giảm nghèo cấp xã) về hoạt động công tác
xã hội cá nhân đối với người nghèo
- Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Chọn ngẫu nhiên 200 người nghèo của 04 huyện (Trà Cú và Cầu Kè, Cầu Ngang và Châu Thành, mỗi huyện 50 người nghèo)
và 120 cán bộ làm công tác giảm nghèo cấp tỉnh, huyện, xã Phỏng vấn theo bảng hỏi, bằng cách in sẵn với 2 dạng câu hỏi chính (câu hỏi đóng và câu hỏi mở) Người
Trang 11được hỏi trả lời ý kiến của mình bằng cách đánh dấu vào các ô tương ứng hoặc trả lời câu hỏi do học viên đề ra trong bảng hỏi
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài bổ sung kiến thức lý thuyết về công tác xã hội nói chung và công tác
xã hội cá nhân nói riêng đối với người nghèo Đề tài minh chứng cho việc vận dụng các lý thuyết về công tác xã hội cá nhân là cần thiết trong quá trình nghiên cứu thực tiễn khi tiếp cận, làm việc với người nghèo, từ đó góp phần tạo mối quan hệ, tạo sự hưởng ứng của người nghèo đối với nhân viên công tác xã hội
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài, trước hết là góp phần nâng cao nhận thức đối với các đồng chí lãnh đạo chính quyền, các ngành, đoàn thể các cấp hiểu rõ hơn về công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo Xem xét giữa lý luận và thực tiễn từ kết quả thực hiện công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo ở tỉnh Trà Vinh Từ đó, định hướng góp phần nâng cao vai trò, nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội đối với người nghèo, nâng cao hiệu quả chất lượng của nhiệm vụ này ở Trà Vinh trong quá trình xây dựng và phát triển công tác xã hội thành một nghề chuyên nghiệp
- Phân tích thực trạng các hoạt động công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ người nghèo tại tỉnh Trà Vinh cho thấy vai trò của công tác xã hội có đóng góp rất quan trọng trong việc đánh giá hiện trạng nghèo, triển khai thực hiện các chế độ, chính sách và giải pháp đối với người nghèo Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Trà Vinh trong việc tổ chức triển khai thực hiện chính sách, chương trình, đề án, dự án giảm nghèo trong thời gian tới
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo trên địa bàn tỉnh Trà Vinh
Chương 3: Giải pháp tăng cường công tác xã hội cá nhân đối người nghèo tại Trà Vinh
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO
1.1 Khái niệm, đặc điểm, nhu cầu của người nghèo
1.1.1 Một số khái niệm
* Khái niệm nghèo
Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia
hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không
có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng
có nghĩa là không an toàn, không có quyền và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn” [11].
Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng nghèo là một khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất Nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức khoẻ, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực [6, tr.96]
Ở Việt Nam, nghèo được hiểu thống nhất là tình trạng một bộ phận dân cư chưa bảo đảm các điều kiện thoả mãn những nhu cầu tối thiểu hay nói cách khác là
có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng [6, tr.96]
* Khái niệm nghèo đa chiều
Nghèo đa chiều là nghèo không chỉ là thiếu ăn, thiếu uống hoặc thiếu các điều kiện sống, sinh hoạt khác, mà còn thiếu các điều kiện tiếp cận dịch vụ xã hội
cơ bản [24]
* Khái niệm chuẩn nghèo
Chuẩn nghèo được hiểu là công cụ hay thướt đo để đánh giá nghèo, hộ nghèo Hay nói cách khác là công cụ để xác định hộ nghèo và người nghèo Chuẩn
Trang 13nghèo quốc gia quy định và áp dụng thống nhất trên phạm vi toàn quốc và dùng để xác định hộ nghèo, người nghèo Chuẩn nghèo không cố định mà thay đổi tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia
Ở Việt Nam, từ năm 2015 trở về trước, hộ nghèo trên xác định là hộ gia đình
có mức thu nhập (bình quân đầu người) thấp hơn hoặc bằng chuẩn nghèo Từ 2016-
2020, người nghèo, hộ nghèo được xác định dựa trên cả tiêu chí về thu nhập và mức
độ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (chuẩn nghèo đa chiều) Cụ thể:
Chuẩn nghèo theo Quyết định số 09 2011 QĐ-TTg ngày 30 01 2011 của Thủ tướng Chính phủ áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 là:
- Thành thị: Từ 500.000 đồng người tháng trở xuống
- Nông thôn: Từ 400.000 đồng người tháng trở xuống
Chuẩn nghèo theo Quyết định số 59 2015 QĐ-TTg ngày 19 11 2015 về việc
ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 là:
- Hộ nghèo khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Thu nhập bình quân đầu người tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; Thu nhập bình quân đầu người tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
- Hộ nghèo khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Thu nhập bình quân đầu người tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống Thu nhập bình quân đầu người tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
* Khái niệm hộ nghèo
Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người tháng từ chuẩn nghèo chính sách trở xuống hoặc có thu nhập bình quân đầu người tháng cao hơn chuẩn nghèo chính sách nhưng thấp hơn chuẩn mức sống tối thiểu về thiếu hụt từ 1 3 tổng số điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên [32]
* Khái niệm người nghèo
Người nghèo là những người có cuộc sống bất bênh vì không được tiếp cận với các chính sách, dịch vụ Họ thiếu các điều kiện đảm bảo các nhu cầu tối thiểu của con người về ăn, mặc, ở, đi lại, học hành và chăm sóc sức khỏe; tiếp cận với các
Trang 14kết cấu hạ tầng và các nguồn lực xã hội kém; thiếu tự tin và dễ tổn thương; ít có điều kiện tham gia vào các quyết định của địa phương Để xác định người nghèo cần căn cứ vào giấy chứng nhận hộ nghèo Người nghèo là người có tên trong giấy chứng nhận hộ nghèo sổ theo dõi quản lý hộ nghèo [32]
* Khái niệm giảm nghèo
Giảm nghèo là giảm tỷ lệ hộ nghèo hay giảm số hộ nghèo trên một địa bàn, hay giảm mức độ nghèo của một cộng đồng hoặc giảm khoảng cách nghèo của cộng đồng dân cư Bản chất giảm nghèo là cải thiện hay nâng cao mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản và mục đích là hộ nghèo thoát nghèo, có nghĩa là thỏa mãn các nhu cầu cơ bản ở mức độ cao Nói một cách khác giảm nghèo là quá trình chuyển một
bộ phận dân cư nghèo lên mức sống cao hơn [32]
1.1.2 Đặc điểm của người nghèo
* Về đặc điểm kinh tế
Phần lớn người nghèo sống ở vùng nông thôn và chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, làm thuê; không có vốn hoặc thiếu vốn sản xuất, thiếu đất canh tác, thiếu phương tiện sản xuất, ốm đau nặng, thiếu lao động, đông người ăn theo, có lao động nhưng không có việc làm hoặc thiếu việc làm, không biết cách làm ăn, không có tay nghề, mắc các tệ nạn xã hội, chây lười lao động, thu nhập thấp, khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội chưa cao, đặc biệt là người nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn,…[6, tr.97; 36, tr.4]
* Về đời sống tâm lý
Người nghèo thường mặt cảm, tự ti do hoàn cảnh, số phận của mình, sống thụ động trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ từ các chính sách giảm nghèo trong đó có chính sách cho không của nhà nước, điều kiện sống của người nghèo luôn thấp hơn mặt bằng chung của cộng đồng nơi cư trú Đồng thời, người nghèo gặp các nguy cơ trong cuộc sống, phải đối mặt với khó khăn và thách thức, nhất là các dịch vụ về chăm sóc sức khỏe, nhà ở, giáo dục, nước sạch, thông tin,… Người nghèo ngại giao tiếp và tham gia vào các hoạt động xã hội, không mạnh dạn tham gia đề xuất ý kiến
ở cộng đồng, cho rằng lời nói của mình không có giá trị, không được mọi người chấp nhận và ít bộc lộ nguyện vọng của mình Song song đó, có một bộ phận người
Trang 15nghèo còn có tư tưởng buông xuôi, ngại thay đổi, phó mặc cho số phận của mình và chưa thực sự quyết tâm để vươn lên thoát nghèo [6, tr.97; 36, tr.4]
1.1.3 Nhu cầu của người nghèo
Xét về nhu cầu, người nghèo ngoài những nhu cầu hỗ trợ để tăng cường thu nhập, nâng cao đời sống thì họ cũng có những nhu cầu về tâm lý, tình cảm và xã hội cần được quan tâm, chăm sóc Cụ thể:
- Nhu cầu có việc làm, thu nhập ổn định: Phần lớn lao động là người nghèo sống ở nông thôn có công việc không ổn định, bất bênh, thu nhập thấp Họ mong muốn có công việc ổn định, thu nhập cao để trang trải cuộc sống hàng ngày và đảm bảo các nhu cầu ăn, ở, mặc, học tập, chăm sóc sức khỏe cho bản thân và gia đình…
- Nhu cầu được tiếp cận thông tin: Do những hạn chế về thu nhập thấp, thường sống ở vùng sâu, vùng xa nên người nghèo thường thiếu thông tin Chính vì vậy, họ cũng có nhu cầu được tiếp cận các thông tin về các loại hình thiên tai, hiểm họa tự nhiên, thảm họa, biến đổi khí hậu; thông tin, kiến thức và kỹ năng sản xuất, chăm sóc sức khỏe; thông tin về kinh tế, chính trị, xã hội; thông tin về chính sách, pháp luật, thủ tục hành chính và các loại hồ sơ giấy tờ cần thiết để được nhận hỗ trợ, bảo trợ từ Nhà nước và các tổ chức xã hội…; nhu cầu hỗ trợ các phương tiện thông tin như sách, báo, đài radio…
- Nhu cầu được đào tạo: Đặc biệt là nhu cầu về đào tạo nghề, trang bị kiến thức, kỹ năng, kỹ thuật sản xuất nhất là sản xuất nông nghiệp Ngoài ra, người nghèo còn có nhu cầu về học văn hóa, học phổ thông để nâng cao trình độ dân trí, tiếp cận được các thông tin, dịch vụ xã hội khác
- Nhu cầu được chăm sóc y tế: Đây là nhu cầu có thể nói là rất cần thiết và được đa số người nghèo quan tâm Bởi đa số họ, do sống trong điều kiện thiếu thốn
về vật chất nên dễ ốm đau, bệnh tật, hơn nữa lại thu nhập thấp nên khi mắc bệnh lại không có tiền để chi trả chi phí khám chữa bệnh
- Nhu cầu được sống trong môi trường an toàn, vệ sinh: phần lớn người nghèo sống trong tình trạng thiếu thốn mọi mặt cơ sở vật chất thiết yếu cho cuộc sống Chính vì vậy, họ đều mong muốn được sống, sinh hoạt và sản xuất trong một môi trường an toàn, đảm bảo những nhu cầu căn bản như nhà ở, điện, nước sạch và
Trang 16thức ăn hợp vệ sinh để có thể đảm bảo cho sức khỏe, có khả năng tái sản xuất sức lao động, tránh bị bệnh tật
- Nhu cầu về sự tôn trọng: Họ mong muốn được mọi người xung quanh, hàng xóm tôn trọng mình như bao người khác, không được kỳ thị, được góp tiếng nói của mình vào cộng đồng, được mọi người lắng nghe và tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội [6, tr.97; 35, tr.5]
1.2 Lý luận về công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo
1.2.1 Một số khái niệm
* Khái niệm về công tác xã hội
Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội” [13]
* Khái niệm công tác xã hội cá nhân
Công tác xã hội cá nhân (trong tiếng Anh là Case Work hay Working with individuals) Công tác xã hội cá nhân (CTXHCN) được xem như phương pháp của CTXH thông qua mối quan hệ tương tác 1-1 giữa nhân viên xã hội (NVXH) với
cá nhân thân chủ nhằm trợ giúp họ giải quyết các vấn đề nảy sinh từ sự thay đổi (kinh tế- xã hội) của môi trường, giúp họ điều chỉnh bản thân và cách thức tương tác với môi trường (Charle Zastrow, 2003), Fardey O.W.et la (2000) cũng coi CTXH
cá nhân là phương pháp trợ giúp mà ở đó NVXH sử dụng hệ thống giá trị, kiến thức hành vi con người và các kỹ năng chuyên môn về công tác xã hội để giúp đỡ cá nhân và gia đình giải quyết các vấn đề tâm lý xã hội, xử lý các mối quan hệ giữa con người với môi trường xung quanh thôngqua mối quan hệ tương tác 1-1 [7]
Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp can thiệp của ngành công tác xã hội, thông qua mối quan hệ 1-1 giữa nhân viên xã hội và cá nhân, nhằm giúp cá nhân đang gặp khó khăn bằng cách tăng năng lực để họ có thể tự vươn lên, tự giải quyết các vấn đề nảy sinh từ sự thay đổi của môi trường, giúp họ điều chỉnh bản thân và cách thức tương tác với môi trường [7]
Trang 17* Khái niệm về công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo
Công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo là một phương pháp can thiệp của ngành công tác xã hội, thông qua mối quan hệ 1-1 giữa nhân viên xã hội; người làm công tác giảm nghèo với người nghèo, thành viên trong gia đình của hộ nghèo nhằm giúp họ đang gặp khó khăn bằng cách tăng năng lực để họ có thể tự vươn lên, tự giải quyết các vấn đề nảy sinh từ sự thay đổi của môi trường, hoàn cảnh, điều kiện kinh tế -
xã hội giúp người nghèo điều chỉnh bản thân và vươn lên thoát nghèo [6,7]
1.2.2 Mục đích, đối tượng, phương pháp, nội dung công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo
* Mục đích
CTXH cá nhân là giúp cho người nghèo giải quyết vấn đề nảy sinh từ mối quan hệ, từ những thay đổi của môi trường xung quanh Ví dụ như người nghèo gặp khó khăn về tâm lý, kinh tế, việc làm, vốn sản xuất,…
* Đối tượng
Đối tượng trợ giúp là người nghèo nhưng có khi cần can thiệp với cả gia đình của họ nhằm tạo sự thay đổi của người nghèo và những người liên quan trong gia đình, là những người đang có vấn đề về tâm lý, xã hội, kinh tế
Ví dụ: Học viên phỏng vấn sâu Chị Kim Thị Sol là người nghèo, dân tộc Khmer, 43 tuổi, cư ngụ tại ấp Bãi Sào, xã Kim Sơn, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh; gia đình chị có 5 nhân khẩu, cuộc sống hết sức khó khăn, chỉ có 1.200m2 đất sản xuất nông nghiệp (trồng khoai môn), thu nhập bất bênh, thiếu vốn, thiếu đất sản xuất; thiếu việc làm, đời sống rất khó khăn Hàng ngày chị rất lo lắng, băn khoăn, không biết cuộc sống ngày mai, tháng sau, năm sau như thế nào? Họ rất cần có người chia sẽ, động viên, hỗ trợ giúp đỡ về tâm lý, vật chất, việc làm ổn định,…
Do đó, đưa công tác xã hội cá nhân đối với trường hợp này là rất cần thiết, nhằm trợ giúp tâm lý, tư vấn, kết nối nguồn lực để giúp đỡ gia đình chị vượt qua khó khăn trước mắt và lâu dài, ổn định cuộc sống, vươn lên thoát nghèo, giá trị xã hội đối với chị, gia đình chị được nâng lên
* Phương pháp
Người trợ giúp là nhân viên CTXH, họ sử dụng các công cụ và phương
Trang 18pháp cũng như chuyên môn công tác xã hội trong đánh giá nhu cầu, lập kế hoạch huy động nguồn lực vào tổ chức can thiệp trợ giúp người nghèo
CTXH cá nhân là một phương pháp can thiệp của CTXH quan tâm đến những vấn đề về nhân cách mà một thân chủ trải nghiệm Mục đích của CTXH cá nhân là phục hồi, củng cố và phát triển chức năng xã hội của cá nhân và gia đình Nhân viên CTXH thực hiện điều này bằng cách giúp tiếp cận các tài nguyên cần thiết Phương pháp này tập trung vào vấn đề của cá nhân với mối liên hệ về tâm lý
xã hội, bối cảnh xã hội Các nhà tiên phong trong CTXH cá nhân đã triển khai cách tiếp cận tâm lý xã hội Mối quan tâm chính là thực tiễn tâm lý xã hội nội tâm của con người và bối cảnh xã hội
Phương pháp tiếp cận để giải quyết vấn đề đối với thân chủ là một cách trị liệu Cách tiếp cận tập trung vào việc giúp thân chủ đạt một mục tiêu cụ thể trong thời gian nhất định Thực hiện mục tiêu ấy chính là trị liệu Kế đó là “can thiệp khi khủng khoảng” do nhiều nhân viên CTXH thực hiện, đây là tích cực tác động vào chức năng hoạt động tâm lý xã hội của một cá nhân trong giai đoạn khủng khoảng
Sự lựa chọn phương pháp nào tùy thuộc sự thẩm định về tâm sinh lý của cá nhân trong tình huống xã hội Nhân viên CTXH phải có kiến thức cơ bản về tương tác giữa các ảnh hưởng sinh lý, tâm lý, văn hóa xã hội trên hoạt động của cá nhân Nhân viên CTXH cũng phải biết mối quan hệ giữa con người và môi trường Các học thuyết về tâm lý giúp Nhân viên CTXH hiểu hành vi quá khứ và tương lai của thân chủ và dự báo được những gì sẽ xảy ra Vì chính thân chủ là người phải hành động để giải quyết vấn đề của mình trong khả năng của thân chủ Nhân viên CTXH phải biết tìm hiểu, thảo luận và huy động động cơ của thân chủ và khả năng sẵn có
và còn tiềm tàng của thân chủ Vấn đề mà thân chủ gặp phải có thể thuộc lãnh vực tâm lý xã hội, môi trường hay sự kết hợp cả hai Những vấn đề này cản trở thân chủ trong thực hiện mục đích và do đó ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động tâm lý và xã hội của thân chủ Những vấn đề có thể là những khó khăn về đời sống như sự thiếu
ăn, thiếu tình thương,… Khó khăn của một cá nhân có thể bắt nguồn từ sự thiếu tài nguyên kinh tế hay xã hội, trình độ học vấn thấp, thiếu kỹ năng và kinh nghiệm, mâu thuẫn trong mối quan hệ, cảm xúc trước một thử thách nặng, hay các nhân tố
Trang 19tâm lý xã hội liên quan đến bệnh hoạn, khuyết tật, nghèo đói, sự không thỏa mãn trong các mối quan hệ, mâu thuẫn với cơ quan, tổ chức Hoặc cũng có thể là những rối loạn tâm lý, gia đình không thích nghi Bất cứ khó khăn nào trong số này cũng
có thể làm cho cá nhân bị trục trặc trong chức năng của mình
Phương pháp cung cấp các dịch vụ và tài nguyên cho cá nhân hoặc gia đình không có là đại diện của cơ quan xã hội để giúp cho nhân viên CTXH là người trực tiếp cung cấp dịch vụ cho thân chủ như ngành Lao động – Thương binh và Xã hội là một cơ quan đa chức năng với nhiều loại thân chủ như người nghèo, người cận nghèo, trẻ em, phụ nữ thiệt thòi, người khuyết tật, nạn nhân của thiên tai hay tai họa
do con người,…Đây là cơ quan hỗ trợ cho cho nhân viên CTXH thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình đối với thân chủ
* Nội dung
- Hoạt động tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức cho người nghèo
Công tác tuyên truyền luôn đóng vai trò quan trọng phục vụ phát triển kinh tế
xã hội, thông qua các hình thức truyền thông, làm chuyển biến nhận thức của các cấp, các ngành, của người dân, người nghèo tạo nên phong trào thoát nghèo vươn lên khá rộng khắp Đặc biệt là góp phần không nhỏ đến kết quả giảm tỷ lệ hộ nghèo, giúp người nghèo vươn lên thoát nghèo
Ngoài ra, công tác tuyên truyền, vận động nhằm mục đích giúp cho người dân, người nghèo, nắm bắt được các chủ trương của Đảng, chính sách giảm nghèo của Nhà nước, các chương trình, dự án, đề án, các mô hình, gương điển hình trong công tác giảm nghèo thông qua nhiều hình thức truyền thông trực tiếp, gián tiếp phong phú, đa dạng (xây dựng phim, phóng sự,tin, bài, panô, appich, poster, tờ rơi,
tờ gấp, tài liệu, sách cẩm nang, hội nghị, hội thảo, tập huấn, tuyên truyền nhóm, nói chuyện chuyên đề, hội thi,liên quan,…liên qua đến công tác giảm nghèo, gương điển hình thoát nghèo)… Nhân viên CTXH vận dụng các kiến thức, kỹ năng trong hoạt đông truyền thông để tuyên truyền, vận động người dân nhất là người nghèo nâng cao nhận thức từ đó thay đổi thái độ, hành vi để có những hành động phù hợp với bản thân mình nhằm vươn lên thoát nghèo bền vững
- Hoạt động kết nối nguồn lực cho người nghèo
Trang 20Đây là một trong các vai trò của nhân viên CTXH và là hoạt động không thể thiếu của nhân viên CTXH khi làm việc với người nghèo, nhân viên CTXH phải nắm bắt được các nguồn lực sẵn có của người nghèo và huy động các nguồn lực khác trong cộng đồng (nguồn lực bên trong, nguồn lực bên ngoài) để từ đó kết nối các nguồn lực giúp đỡ người nghèo Thông qua các nguồn lực đó để họ có thể giải quyết được các vấn đề mà họ gặp khó khăn Bên cạnh đó, nhân viên CTXH phối hợp với các ban ngành, đoàn thể, tổ chức, cá nhân để vận động, tìm nguồn lực để hỗ trợ cho người nghèo một cách có hiệu quả để họ vươn lên giải quyết vấn đề nghèo đói của chính mình
- Thực hiện công tác tư vấn, tham vấn về giảm nghèo cho người nghèo
Hoạt động tư vấn, tham vấn cho người nghèo là hết sức cần thiết vì bản thân người nghèo gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống Do đó, nhân viên CTXH đóng vai trò là người tham vấn, tư vấn cho người nghèo tìm các giải pháp phù hợp nhất trong việc lập kế hoạch sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt, tìm kiếm việc làm,…để họ quyết định công việc phù hợp cho bản thân mình, mang lại thu nhập, góp phần ổn định đời sống cho người nghèo
- Hỗ trợ người nghèo tiếp cận các chính sách giảm nghèo
Hoạt động này thực hiện thông qua việc kết nối và thúc đẩy thực hiện hệ thống các chính sách, chương trình, đề án, dự án trợ giúp người nghèo tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản về giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin, Công chức Lao động – Thương binh và Xã hội cấp xã hoặc nhân viên CTXH là người hỗ trợ giúp đỡ người nghèo tiếp cận với các chính sách giảm nghèo trên địa bàn Hỗ trợ người nghèo tiếp cận được các chính sách giảm nghèo cũng như các dịch vụ xã hội
cơ bản nhằm giúp họ có điều kiện thuận lợi để hưởng thụ kịp thời các chính sách của nhà nước theo quy định, đảm bảo quyền lợi của họ
- Hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người nghèo
Đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người nghèo là hoạt động cần thiết nhất trong công tác giảm nghèo hiện nay, nhân viên CTXH cần phối hợp với chính quyền địa phương, các ngành có liên quan, các cơ sở đào tạo nghèo, các tổ chức kinh tế để hỗ trợ người nghèo trong độ tuổi lao động được tham gia học nghề miễn
Trang 21phí và tạo việc làm sau khi học xong nghề Để người nghèo thoát nghèo bền vững thì việc dạy nghề đi đôi với giải quyết việc làm là hoạt động mang tính cốt lõi Do vậy, nhân viên CTXH cần xác định xu hướng nghề nghiệp và thị trường lao động để
có giải pháp hỗ trợ cho người nghèo một cách phù hợp theo từng nguyên nhân nghèo khác nhau tại cộng đồng
1.2.3 Vai trò công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo
Đối với người nghèo thì vai trò của công tác xã hội cá nhân rất quan trọng, nhất là nhân viên công tác xã hội, nhằm nâng cao năng lực cho người nghèo khi phải đối mặt với những rủi ro, thách thức trong cuộc sống
- Vai trò tuyên truyền giáo dục: CTXH cá nhân tuyên truyền, giáo dục và phổ biến các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước về giảm nghèo cho người nghèo, cung cấp kiến thức cho người nghèo về chăm sóc sức khoẻ, kinh nghiệm làm ăn, tổ chức sản xuất, thay đổi hành vi, thái độ của người nghèo, cộng đồng nghèo để thực hiện tốt việc hỗ trợ và trợ giúp cho họ
- Vai trò vận động và kết nối nguồn lực: CTXH cá nhân trợ giúp đối tượng (người nghèo) tìm kiếm nguồn lực (nội lực, ngoại lực) cho giải quyết vấn đề Nguồn lực có thể bao gồm về con người, về cơ sở vật chất, về tài chính, kỹ thuật, thông tin,
sự ủng hộ về chính sách, chính trị và quan điểm
- Vai trò trợ giúp chăm sóc: Xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng (cộng đồng nghèo hay cộng đồng thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc khó khăn), trên cơ sở nhu cầu của cộng đồng đã được cộng đồng xác định, CTXH cá nhân giúp cộng đồng xây dựng kế hoạch hành động phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, tiềm năng của cộng đồng để giải quyết vấn đề của cộng đồng
- Vai trò thúc đẩy, tạo sự thay đổi: CTXH cá nhân nắm vững tình trạng nghèo của cộng đồng, tạo điều kiện và khuyến khích cho mọi người dân, nhóm tích cực tham gia ý kiến, tăng cường khả năng, trách nhiệm, quyền hạn và quan hệ của họ trong công cuộc giảm nghèo
- Vai trò quản lý và giám sát: CTXH cá nhân thực hiện những công việc cần thiết cho việc quản lý các hoạt động, các chương trình, lên kế hoạch và triển khai kế hoạch, các chương trình dịch vụ cho người nghèo Đồng thời, tham gia giám sát,
Trang 22đánh giá kết quả việc thực hiện chính sách, chương trình, kế hoạch giảm nghèo, phát hiện những vấn đề nảy sinh trong quá trình tổ chức thực hiện để kiến nghị các bên có liên quan có những điều chỉnh phù hợp
Thông qua các phương pháp, hoạt động chuyên nghiệp, CTXH cá nhân sẽ trực tiếp giải quyết các vấn đề của người nghèo, hỗ trợ giải quyết các vấn đề về dạy nghề, việc làm, thu nhập, các vấn đề xã hội nảy sinh khác cho người nghèo, hộ nghèo và cộng đồng nghèo [7]
1.2.4 Các nguyên tắc trong công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo
- Chấp nhận thân chủ
Chấp nhận đòi hỏi việc tiếp nhận thân chủ, không tính toán, không thành kiến và không đưa ra phán quyết nào về hành vi của thân chủ Chấp nhận không có nghĩa là tha thứ cho hành vi xã hội không thể chấp nhận, nhưng là quan tâm và có thiện chí với con người phía sau hành vi Chấp nhận thân chủ với tất cả những phẩm chất tốt hoặc xấu, điểm mạnh hay điểm yếu, không xem xét đến hành vi của họ Sự thực hiện nguyên tắc này giúp cho nhân viên CTXH tạo được lòng tin từ thân chủ, qua đó thúc đẩy sự hợp tác và chia sẻ của họ, đó là nền tảng cho thiết lập mối quan
hệ tương tác trong quá trình giúp đỡ
- Tạo điều kiện để người nghèo tham gia giải quyết vấn đề
Nguyên tắc để người nghèo tham gia giải quyết vấn đề là một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của nhân viên CTXH Việc để người nghèo tham gia vào hoạt động giải quyết vấn đề sẽ giúp cho họ học hỏi cách thức từ đó họ tăng cường khả năng đối phó với tình huống có vấn đề Người nhân viên CTXH chỉ đóng vai trò xúc tác, vai trò định hướng trong quá trình trợ giúp người nghèo thực hiện giải pháp cho vấn đề của họ mà không làm thay, làm hộ chủ yếu khích lệ họ có niềm tin để tự giải quyết vấn đề
- Tôn trọng quyền tự quyết của người nghèo
Mỗi cá nhân có quyền quyết định về các vấn đề thuộc về cuộc đời, những quyết định của người khác hướng dẫn họ nhưng không nên áp đặt trên họ Trong các tình huống, nhân viên CTXH không nên quyết định, chọn lựa hay lên kế hoạch cho thân chủ, ngược lại thân chủ có thể được hướng dẫn và họ có khả năng tự quyết
Trang 23định về mình Thực hiện nguyên tắc này cũng là cách mà nhân viên CTXH giúp cho thân chủ trở nên tự tin, nâng cao khả năng đưa ra quyết định đúng đắn trong cuộc sống
- Đảm bảo tính cá nhân hóa
Việc cá biệt hoá trường hợp của thân chủ (cá nhân người nghèo) giúp nhân viên CTXH đưa ra phương pháp giúp đỡ thích hợp với từng trường hợp cụ thể Việc đảm bảo tính khác biệt trong trợ giúp thân chủ thể hiện ở việc tìm hiểu và phát hiện những nét đặc thù của trường hợp đó, không áp dụng cách giải quyết giống nhau cho các trường hợp Giải pháp cho mỗi trường hợp cần được cân nhắc trên cơ
sở nhu cầu, đặc điểm, khả năng và nguồn lực mà họ có Thực hiện nguyên tắc này trong hoạt động của mình sẽ cho phép nhân viên CTXH đảm bảo lợi ích thiết thực của thân chủ, đáp ứng đúng nhu cầu của thân chủ và rèn luyện khả năng ứng phó linh hoạt trong giải quyết vấn đề, khắc phục sự bảo thủ, quan liêu, cứng nhắc trong quá trình trợ giúp
- Đảm bảo tính riêng tư, kín đáo của người nghèo
Kín đáo hay giữ bí mật thông tin là một trong những nguyên tắc cơ bản không chỉ ngành CTXH sử dụng mà nhiều ngành khác cũng áp dụng Nó thể hiện
sự tôn trọng những vấn đề riêng tư của thân chủ và không được chia sẻ những thông tin của thân chủ với người khác khi chưa có sự đồng ý của thân chủ Nếu nhân viên CTXH quán triệt tốt nguyên tắc này sẽ tạo điều kiện để thân chủ chân thành cởi mở, bộc lộ những cảm xúc, tâm trạng và những khó khăn của họ Đảm bảo tính riêng tư của trường hợp còn thể hiện ở việc bảo mật lưu trữ hồ sơ Khi tham vấn hay phỏng vấn cần đảm bảo không gian yên tĩnh và riêng tư cho cuộc trò chuyện, nhân viên CTXH tránh trao đổi hay hỏi chuyện về những vấn đề mang tính tế nhị của thân chủ
ở những chỗ đông người
Việc đảm bảo bí mật thông tin của thân chủ sẽ giúp cho thân chủ tin tưởng vào nhân viên CTXH, từ đó họ sẵn sàng chia sẻ và hợp tác Bên cạnh đó việc đảm bảo bí mật của thân chủ còn là yêu cầu mang tính nhân văn trong quan hệ con người
và quan hệ nghề nghiệp
- Tự ý thức về bản thân
Trang 24Trong khi thực thi nhiệm vụ, với tư cách là người đại diện của cơ quan xã hội nhân viên CTXH cần ý thức rằng vai trò của mình là hỗ trợ thân chủ giải quyết vấn
đề Phục vụ thân chủ là trách nhiệm của nhân viên CTXH, vì vậy cần tránh lạm dụng quyền lực, vị trí công việc để mưu lợi cá nhân
Tự nhận thức về bản thân là một trong những nguyên tắc không thể thiếu được đối với nhân viên CTXH Việc nhận thức về bản thân nhân viên CTXH còn đảm bảo cho lợi ích cũng như quyền lợi của thân chủ trong trường hợp vấn đề vượt quá khả năng của nhân viên CTXH Việc ý thức được yếu tố này giúp cho nhân viên CTXH trung thực trong công việc, trung thực với khả năng của bản thân
- Đảm bảo mối quan hệ nghề nghiệp
Công cụ chính trong các hoạt động công tác xã hội cá nhân là mối quan hệ giữa nhân viên CTXH và thân chủ Do thân chủ tác động của nhân viên CTXH là con người, nhân viên CTXH cần có phẩm chất đạo đức, tác phong nghề nghiệp
Những hành vi thể hiện mối quan hệ nghề nghiệp của nhân viên CTXH như tôn trọng quan điểm giá trị, nguyên tắc nghề nghiệp; không lợi dụng cương vị công tác của mình để đòi hỏi sự cám ơn của thân chủ Mối quan hệ giữa nhân viên CTXH
và thân chủ cần đảm bảo tính thân thiện, tương tác hai chiều, song khách quan và đảm bảo yêu cầu của chuyên môn Để có thể giúp các thân chủ của mình theo các nguyên tắc và đạo đức nghề nghiệp, nhân viên CTXH là người cần có các yếu tố: Thiện chí, quyết tâm, kiến thức và các kỹ năng nghề nghiệp [7]
1.2.5 Lý thuyết tiếp cận trong công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo
Ngành CTXH nói chung và CTXH cá nhân nói riêng tiếp cận và sử dụng một
số lý thuyết khoa học về xã hội thuộc ngành tâm lý học như:
- Thuyết hệ thống
Thuyết hệ thống được phát triển vào những năm 30 và 40 của thế kỷ XX do nhà sinh học Ludvig Von Bertalanffy khởi xướng Thuyết hệ thống bao quát mọi lĩnh vực (tin học, sinh học, kinh tế, xã hội học), một hệ thống được định nghĩa là một tổng thể phức hợp gồm nhiều yếu tố liên quan với nhau và mỗi biến động trong một yếu tố nào đó đều tác động lên những yếu tố khác và cũng tác động lên toàn bộ
hệ thống Một cá nhân được coi là một hệ thống vi mô Hệ thống vi mô có ba tiểu
Trang 25hệ thống: Hệ thống tâm lý, hệ thống sinh học và hệ thống hành vi Các tiểu hệ thống của con người chịu sự tác động của cả hệ thống gia đình, hệ thống xã hội [14, tr.61]
Công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo được vận dụng thuyết này nhằm phức hợp gồm nhiều yếu tố liên quan với nhau (đời sống vật chất lẫn tinh thần của người nghèo) và mỗi biến động trong một yếu tố nào đó đều tác động lên những yếu tố khác và cũng tác động lên toàn bộ hệ thống Do đó, khi làm việc với người nghèo, nhân viên CTXH đòi hỏi phải tích hợp nhiều yếu tố với nhau, để hỗ trợ, giúp đỡ người nghèo thay đổi được hành vi và vượt lên thoát nghèo
- Thuyết gắn bó
Thuyết gắn bó của J Bowlby được phát triển từ những năm 1940 ở Anh để giải thích mối quan hệ giữa cá nhân và nhân viên công tác xã hội Lý thuyết này cho rằng, cá nhân sẽ bị ảnh hưởng về mặt tinh thần nếu không hình hình những quan hệ gắn bó trong môi trường cộng đồng, xã hội hoặc những quan hệ gắn bó bị phá hủy Bowlby cho rằng các mối quan hệ gắn bó không cố định và có thể thay đổi
Bowlby coi sự gắn bó là quan tâm chính của mọi người trong suốt cuộc đời,
sự gắn bó như một nhu cầu sinh học của mọi con người Xác định việc tìm kiếm gắn
bó như là động lực chính của cá nhân với cá nhân sẽ tìm một người để gắn bó, các tổn thương đáng kể sẽ xảy ra cho những cá nhân không có khả năng tìm được một người giúp đỡ, tích cực để gắn bó [14, tr.122]
Áp dụng thuyết này vào trong bản thân người nghèo là cần thiết, thuyết này cho thấy người nghèo sẽ bị ảnh hưởng về mặt tinh thần nếu không gắn bó với môi trường, cộng đồng, xã hội, trong đó có nhân viên công tác xã hội
- Thuyết về quyền con người
Tiếp cận dựa trên quyền con người là một khung lý thuyết có chứa đựng các nguyên tắc, tiêu chuẩn và mục tiêu của hệ thống quyền con người trong quá trình lập kế hoạch và tiến trình thực hiện các hoạt động CTXH cá nhân
Cách tiếp cận dựa trên quyền lấy nền tảng cơ bản chính là hệ thống quyền con người đã được pháp luật quốc tế bảo vệ Với cách tiếp cận theo quyền, nhân viên xã hội cần dựa trên hệ thống quyền con người để xây dựng các phương pháp
và hoạt động của những mô hình phát triển xã hội Quyền con người là được tiếp
Trang 26cận với các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh môi trường, tiếp cận thông tin…, nhưng đối với người nghèo thì phần lớn họ chưa được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ xã hội cơ bản trên nếu không nhận được sự hỗ trợ của nhà nước
Tiếp cận dựa vào quyền không chỉ tạo điều kiện cho chính người nghèo thấy được tầm quan trọng của bản thân trong hệ thống xã hội và cộng đồng nơi mình sinh sống để người nghèo không bị tâm lý mặc cảm, tự ti mà qua đó giúp họ có ý thức vươn lên trong cuộc sống để thoát nghèo bền vững
Vận dụng thuyết này giúp nhân viên CTXH xây dựng công cụ xác định nhu cầu trợ giúp, lập kế hoạch can thiệp và tổ chức các hoạt động trợ giúp Đánh giá mức độ phù hợp trong việc tiếp cận dựa trên quyền của người nghèo, đánh giá những yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận dựa trên quyền Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao việc thực hiện quyền của người nghèo [Nội dung ôn tập thi tuyển cao học ngành công tác xã hội năm 2015]
- Thuyết nhu cầu con người
Theo Abraham Maslow (1908-1970) xây dựng thang bậc nhu cầu của con người từ các nhu cầu cơ bản bậc thấp đến cao Đồng thời, ông cho rằng mỗi nhu cầu con người trong hệ thống thứ bậc phải được thỏa mãn trong mối tương quan với môi trường để con người có thể phát triển khả năng cao nhất của mình Hệ thống lý thuyết về thang bậc nhu cầu của con người, con người là một thực thể sinh - tâm lý
xã hội, do đó con người cần có nhu cầu cho sự sống và nhu cầu xã hội
Bậc thang thứ nhất: Đó là nhu cầu vật chất (sự sinh tồn cơ bản), nếu nhu cầu
cơ bản này không đạt được sẽ bị tắc thì không thể tiến thêm ở bậc nhu cầu tiếp theo
Bậc thang thứ hai: Là nhu cầu về sự an sinh (sự an sinh và an toàn), có nghĩa
là một môi trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh
Bậc thang thứ ba: Là nhu cầu được thừa nhận, được yêu thương và được
chấp nhận
Bậc thang thứ tư: Là nhu cầu về sự tự trọng, cảm thấy tốt về bản thân, trải
nghiệm những ý nghĩa về những giá trị của bản thân và tự hào về những thành quả
cá nhân
Trang 27Bậc thang thứ năm: Đó là nhu cầu về sự phát triển cá nhân (các cơ hội để
phát triển cá nhân)
Thuyết nhu cầu của Maslow đóng góp một phần quan trọng trong việc giải thích các hành vi lệch chuẩn của con người khi tác động vào môi trường và ngược lại Để đạt một nhu cầu nào đó cần có sự kích thích, vận động và qua đó định hướng hành vi của một người, đáp ứng nhu cầu cơ bản trong hệ thống thứ bậc nhu cầu
Lý thuyết này cho thấy trợ giúp người nghèo cần phải bắt đầu từ những nhu cầu cơ bản về vật chất, tinh thần tạo cho họ có niềm tin vào bản thân để họ hướng đến những điều tốt đẹp nhất, tránh sự ỷ lại vào cộng đồng, xã hội Thông qua việc trợ giúp người nghèo tiếp cận được những dịch vụ xã hội cơ bản nhằm thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của mình có thể đánh giá được việc tổ chức thực hiện các chính sách và các dịch vụ xã hội cơ bản cũng như khả năng tiếp cận, thụ hưởng các chính sách của người nghèo [14, tr.115]
1.2.6 Tiến trình công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo
Trên cơ sở vận dụng lý thuyết, xây dựng tiến trình CTXH cá nhân đối với người nghèo gồm 5 bước như sau:
- Bước 1: Xác định nhu cầu
CTXH cá nhân bắt đầu với việc xác định nhu cầu của thân chủ như: Nhu cầu giải quyết vấn đề cho thân chủ nhiều khi khó khăn và sự mất cân bằng trong chức năng tâm lý xã hội; nhu cầu vật chất; nhu cầu về sự an sinh; nhu cầu về sự tự trọng; nhu cầu về sự phát triển cá nhân, của người nghèo Xác định nhu cầu này cho thấy trợ giúp người nghèo cần phải bắt đầu từ những nhu cầu cơ bản về vật chất, tinh thần tạo cho họ có niềm tin vào bản thân để họ hướng đến những điều tốt đẹp nhất
- Bước 2: Xây dựng kế hoạch
Nhân viên CTXH xác định từng loại nhu cầu của người nghèo để xây dựng
kế hoạch can thiệp, hỗ trợ cho thân chủ Bước này gồm việc xác định mục tiêu cụ thể để đạt được; xác định đối tượng, thời gian, địa điểm; nguồn lực; các hoạt động
cụ thể của kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch giúp đỡ thân chủ một cách hiệu quả nhất
- Bước 3: Huy động nguồn lực
Trang 28Nguồn lực là gồm tất cả các lợi thế tiềm năng vật chất và phi vật chất để phục vụ cho mục tiêu phát triển như: Giảm nghèo, an sinh xã hội, do đó nhân viên CTXH cần tìm kiếm nguồn lực có thể bao gồm nhân lực, tài lực, vật lực thông qua các tổ chức, cá nhân, các nhà hảo tâm, kể cả các chương trình, chính sách của nhà nước để giúp đỡ người nghèo vươn lên thoát nghèo bền vững
hộ nghèo vươn lên thoát nghèo thông qua các nguồn lực được trợ giúp
-Bước 5: Giám sát, đánh giá kết quả
Xác định xem sự can thiệp, trợ giúp của nhân viên CTXH thông qua các nguồn lực hỗ trợ có đem lại kết quả mong muốn không, đạt được mục tiêu của kế hoạch hay không, giám sát đánh giá kết quả được thực hiện trong quá trình tổ chức trợ giúp, sau đó đánh giá kết quả như thế nào, có giúp gì cho thân chủ không Kết quả giám sát, đánh giá sẽ điều chỉnh hoặc không điều chỉnh trong kế hoạch trợ giúp cho thân chủ trong thời gian tới Giám sát, đánh giá cũng giúp nhân viên CTXH xác định được mục tiêu đề ra đạt được đến mức nào để điều chỉnh cho phù hợp trong thời gian tới
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo
1.3.1 Yếu tố thuộc điều kiện kinh tế, văn hóa và xã hội
- Trà Vinh có trên 70% người dân sống bằng nghề nông nghiệp; đất sản xuất
và điều kiện tự nhiên có vai trò quan trọng nhưng trên thực tế, nhiều huyện trong tỉnh vẫn còn vùng đất khô cằn, nhiễm phèn, nước mặn xâm nhập sâu vào nội đồng Riêng người nghèo, nhất là người nghèo dân tộc thiểu số sống chủ yếu ở các vùng đất giồng cát, đất đai cằn cỗi, khí hậu khắc nghiệt, điều kiện sản xuất không thuận lợi… do đó việc vượt qua ngưỡng đói nghèo là hết sức khó khăn
Trang 29- Cơ sở hạ tầng và các dịch vụ công ở Trà Vinh trong những năm gần đây đã được cải thiện đáng kể nhưng vẫn chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển so với các tỉnh lân cận trong khu vực… Bộ phận dân cư thiệt thòi nhiều nhất vẫn là người nghèo Một số hộ nghèo ở vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, ấp
cù lao vẫn chưa có điện thắp sáng, giao thông đi lại còn nhiều khó khăn nhất là vào mùa mưa lũ; hệ thống giao thông nông thôn chất lượng kém; vẫn còn nhà tạm, cầu khỉ; cơ sở y tế, giáo dục còn yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu của người dân nói chung và người nghèo nói riêng; việc tiếp cận thông tin về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội vẫn còn thiếu hoặc chậm… điều đó dẫn đến khó khăn trong quá trình giao lưu kinh tế, văn hóa - xã hội và làm tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng miền, giữa nông thôn với thành thị
- Tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường Theo thống kê năm 2016, nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn (trên 30%) trong cơ cấu kinh tế của tỉnh; tỷ lệ dân cư sống ở nông thôn chiếm 80%; cơ cấu lao động chuyển dịch chậm… Trong khi đại bộ phận người nghèo sống ở nông thôn và làm nông nghiệp, nhưng liên tục nhiều năm trở lại đây, thị trường nông sản gặp nhiều khó khăn, liên tục rớt giá và không ổn định; giá cả các yếu tố đầu vào sản xuất tăng cao, làm cho nguồn thu chính của người nông dân, người nghèo giảm sút; nhiều hộ gia đình không có khả năng trả nợ, có nguy cơ lâm vào cảnh đói nghèo
- Trà Vinh là một trong những tỉnh nghèo khu vực đồng bằng sông Cửu Long; nguồn lực đầu tư chưa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Thời gian qua, công tác xóa đói, giảm nghèo vẫn chưa huy động được sự tham gia của nhiều
tổ chức phi chính phủ và phi lợi nhuận trong việc cung cấp các dịch vụ đến với người nghèo tại địa phương; chưa phối hợp chặt chẽ với các nhà tài trợ trong việc xây dựng và thực hiện các dự án giảm nghèo, cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao kỹ năng và các nguồn nhân lực; chưa ưu tiên được việc mở rộng sự tham gia dựa vào cộng đồng và bảo đảm sự tham gia nhiều hơn nữa vào quá trình lập kế hoạch và các quyết định đầu tư ở cấp địa phương
- Một số chính sách giảm nghèo còn bất cập, từ khâu ban hành chính sách đến việc tổ chức thực hiện, làm phân tán nguồn lực, hiệu quả đem lại không cao Ví dụ
Trang 30như chính sách hỗ trợ tiền điện hộ chính sách xã hội theo quyết định số
60 2014 QĐ-TTg, ngày 30 10 2014 của Thủ tướng Chính phủ
- Thiên tai và các rủi ro khác Các hộ gia đình nghèo rất dễ bị tổn thương bởi những khó khăn hằng ngày hay bởi những biến động bất thường xảy ra đối với cá nhân, gia đình và cộng đồng Do nguồn thu nhập của họ rất thấp, bấp bênh, khả năng tích lũy kém… nên họ khó có khả năng chống chọi với những biến cố xảy ra
trong cuộc sống (thiên tai, mất mùa, mất việc làm, mất nguồn lao động, mất sức
khỏe…) Với khả năng kinh tế mong manh của các hộ gia đình nghèo thì những biến
động này sẽ tạo ra những bất ổn lớn trong cuộc sống của họ
- Phong tục tập quán về sinh hoạt: Đây là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng nghèo của người dân cũng như khả năng vươn lên thoát nghèo Những tập tục lạc hậu trong sinh hoạt như cưới hỏi, ma chay, uống bia, rượu… đang là những cản trở rất lớn trong nỗ lực thực hiện các chương trình, chính sách giảm nghèo cho người nghèo
- Tập quán sản xuất: những địa bàn vùng sâu thường có tập quán sản xuất lạc hậu, chủ yếu dựa vào thiên nhiên, sản xuất nhỏ lẻ, sản xuất truyền thống, thủ công, chưa áp dụng nhiều khoa học kỹ thuật, tự cung tự cấp… những yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến những hỗ trợ cho người nghèo phát triển sản xuất, vươn lên thoát nghèo
Muốn trợ giúp người nghèo vươn lên thoát nghèo bền vững, nhân viên CTXH phải hiểu rõ phong tục, tập quán của người dân trong sản xuất, sinh hoạt từ
đó mới có các biện pháp, chương trình, kế hoạch… trợ giúp họ một cách có hiệu quả Ví dụ như hỗ trợ xây dựng nhà ở thì phải phù hợp với lối sống, phong tục của
họ, không thể lấy mô hình nhà ở theo thiết kế ở vùng cao mà áp dụng cho người nghèo ở vùng đồng bằng [30]
1.3.2 Yếu tố thuộc về bản thân người nghèo, hộ nghèo
- Thiếu vốn sản xuất: Đây là một trong những nguyên nhân hàng đầu làm cho các hộ nghèo ở Trà Vinh vẫn mãi lẩn quẩn trong vòng nghèo đói, khó có khả năng vươn lên thoát nghèo Khi không có vốn, người dân không thể đầu tư sản xuất hay
mở rộng sản xuất kinh doanh, áp dụng khoa học công nghệ,… Mặc dù trong khuôn khổ của Dự án tín dụng cho người nghèo thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia
Trang 31giảm nghèo, khả năng tiếp cận tín dụng đã tăng lên rất nhiều, song vẫn còn khá nhiều người nghèo không có khả năng tiếp cận với các nguồn tín dụng Một mặt, do không có tài sản thế chấp, những người nghèo phải dựa vào tín chấp với các khoản vay nhỏ, hiệu quả thấp đã làm giảm khả năng hoàn trả vốn Mặt khác, đa số người nghèo không có phương án, kế hoạch sản xuất cụ thể hoặc sử dụng các nguồn vốn vay không đúng mục đích, do vậy họ càng khó có điều kiện tiếp cận được các nguồn vốn và làm cho họ cứ mãi luẩn quẩn trong vòng nghèo đói, nghèo lại càng nghèo hơn
- Thiếu tư liệu sản xuất: Ở nông thôn người dân sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp và đất là tư liệu sản xuất quan trọng hàng đầu Việc thiếu đất sản xuất ảnh hưởng đến việc bảo đảm nguồn lương thực của người nghèo cũng như khả năng đa dạng hóa sản xuất, để hướng tới sản xuất các loại cây trồng với giá trị cao hơn Không có đất thì không thể trồng trọt hay chăn nuôi, họ buộc phải làm đi làm thuê cho người khác, hay đất sản xuất quá ít, sản xuất không đủ nuôi sống gia đình càng làm cho việc thoát nghèo trở nên khó khăn hơn và tình trạng tái nghèo cũng gia tăng
- Trình độ dân trí thấp, thiếu kiến thức làm ăn: Sản xuất là quá trình kết hợp giữa tư liệu sản xuất và sức lao động Yếu tố quyết định ở đây là trình độ học vấn,
kỹ năng trong hoạt động kinh tế của từng cá nhân Phần lớn người nghèo là những người có trình độ học vấn thấp, khó có cơ hội kiếm được việc làm tốt, ổn định; nhất
là trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ - những công việc đem lại thu nhập cao hơn
và có tính ổn định hơn Đối với các hộ nghèo, do phải tốn nhiều thời gian cho việc chăm lo cái ăn, cái mặc của gia đình, bên cạnh đó việc làm không ổn định, thường hay thay đổi nên yêu cầu về tính tích lũy kinh nghiệm không cao, đồng thời cũng không có cơ hội rèn luyện kỹ năng; hộ nghèo càng không có tiền đầu tư cho việc học để nâng cao trình độ tay nghề Ngoài ra, trình độ học vấn thấp còn ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái… Nó ảnh hưởng không những đến thế hệ hiện tại mà cả thế hệ tương lai
- Không có việc làm và thu nhập không ổn định: Hộ nghèo chủ yếu là hộ thuần nông hay những hộ mà chủ yếu thu nhập dựa vào việc đi làm thuê Lao động
ở lĩnh vực này mang tính thời vụ, nguồn thu nhập của họ thấp hoặc không ổn định,
Trang 32vì vậy dẫn đến dư thừa lao động đặc biệt là ở nông thôn Tác động trực tiếp của thiếu việc làm là dẫn đến nghèo đói, không mang lại thu nhập cho gia đình nhưng vẫn phải chi phí cho các nhu cầu thiết yếu khác Ngoài ra, thiếu việc làm còn dẫn đến mắc tệ nạn xã hội và tiêu cực, tác động gián tiếp đến nghèo đói Bên cạnh đó, thu nhập thấp cũng là nguyên nhân của tình trạng đau ốm, bệnh tật, suy dinh dưỡng
và không đủ sức khỏe để lao động kiếm sống, vươn lên thoát khỏi cảnh nghèo khó,
là nhân tố làm cho việc thoát nghèo bền vững càng trở nên khó khăn hơn
- Những yếu tố nội tại của người nghèo: Đông nhân khẩu nhưng ít người làm; đây vừa là nguyên nhân, vừa là hệ quả của nghèo đói Tỷ lệ sinh cao trong các hộ nghèo là do thiếu kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản cũng như điều kiện tiếp cận với các biện pháp tránh thai chưa cao Ngoài ra, trong xã hội còn không ít người
lười biếng, tiêu xài hoang phí, “bóc ngắn cắn dài”, đua đòi, sa lầy vào các tệ nạn xã
hội, vì vậy nghèo vẫn hoàn nghèo
Tuy nhiên, họ cũng có nguyện vọng vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất, hỗ trợ đất sản xuất, hỗ trợ phương tiện sản xuất, hỗ trợ đào tạo nghề, giới thiệu việc làm, hướng dẫn cách sản xuất, hỗ trợ xuất khẩu lao động và trợ giúp xã hội Họ cũng muốn thoát nghèo, cũng có ý chí phấn đấu cao, chí thú làm ăn, tự lực vươn lên
để thoát nghèo
1.3.3.Yếu tố thuộc về nhận thức
Yếu tố nhận thức của xã hội về CTXH nói chung và CTXH cá nhân nói riêng
là yếu tố tác động không nhỏ đến công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo Có nhận thức đầy đủ ý nghĩa, mục đích, giá trị, vai trò và tính hiệu quả của CTXH cá nhân thì cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên và những người có chức năng mới
có kế hoạch, định hướng và tạo cơ sở pháp lý cho sự hình thành, phát triển của nghề CTXH nói chung, CTXH cá nhân đối với người nghèo nói riêng Đối với người dân
có sự nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí và sự cần thiết cho sự hình thành và phát triển của hoạt động CTXH cá nhân đối với người nghèo thì mới có thể giúp đỡ, hỗ
trợ người nghèo vượt qua khó khăn
Trang 331.3.4 Yếu tố thuộc về người làm công tác xã hội cá nhân, công tác giảm nghèo
Các yếu tố thuộc về người làm công tác xã hội cá nhân và công tác giảm nghèo như: Tính chuyên nghiệp chưa cao; năng lực trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; kỹ năng, phương pháp làm việc với người nghèo; khả năng phối hợp với các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, đồng nghiệp; thái độ với công việc tích cực hay không tích cực; thái độ làm việc với người nghèo niềm nở, vui vẻ hay thờ ơ, lạnh nhạt, biết cảm thông, chia sẻ hay không… có ảnh hưởng lớn đến kết quả
hỗ trợ cho người nghèo Nếu người làm công tác xã hội đối với người nghèo được đào tạo bài bản, tập trung vào ngành công tác xã hội, kỹ năng, chuyên môn, nghiệp
vụ tốt có kỹ năng, phương pháp làm việc hiệu quả, tích cực, chủ động, sáng tạo trong công việc, thái độ với người nghèo phù hợp chắc chắn kết quả hỗ trợ cho người nghèo sẽ cao hơn và ngược lại
Người làm công tác xã hội cá nhân và công tác giảm nghèo quan tâm, ít quan tâm, không quan tâm cũng có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến kết quả hỗ trợ người nghèo như: Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, khả năng, kỹ năng nắm bắt, phối hợp,
tổ chức và triển khai thực hiện các chính sách, chương trình, dự án, đề án, kế hoạch giảm nghèo; khả năng, kỹ năng ra quyết định; khả năng, kỹ năng tổng kết, đánh giá
và thái độ tích cực, chủ động, sáng tạo trong công việc hay không…Các yếu tố trên nếu được triển khai thực hiện tốt thì mang lại kết quả rất tốt cho người nghèo và ngược lại
1.4 Văn bản pháp lý liên quan đến công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo
1.4.1 Nghị quyết của Đảng về giảm nghèo
1.4.1.1 Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về giảm nghèo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI nhiệm kỳ 2011-2015: Tiếp tục
đề ra nhiệm vụ giảm nghèo bền vững, hướng tới an sinh xã hội với mục tiêu cụ thể cho giai đoạn 2011-2020: Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 1,5 – 2% năm (5 năm
2011-2015 tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2% năm) Để thực hiện mục tiêu, nhiệm
vụ giảm nghèo bền vững, hướng tới ASXH cho người nghèo giai đoạn 2011-2020, Đảng ta chủ trương: “Tập trung triển khai có hiệu quả các chương trình xóa đói, giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Đa dạng hóa các nguồn
Trang 34lực và phương thức xóa đói, giảm nghèo gắn với phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển giáo dục, dạy nghề và giải quyết việc làm để xóa đói, giảm nghèo bền vững; tạo điều kiện và khuyến khích người đã thoát nghèo vươn lên làm giàu và giúp đỡ người khác thoát nghèo”
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII nhiệm kỳ 2016-2020: Đề
ra chỉ tiêu về xã hội là đến năm 2020 là tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 65 - 70%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 25%; tỉ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%; tỉ lệ hộ nghèo giảm bình quân khoảng 1,0 - 1,5% năm Tăng cường quản
lý phát triển xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và giảm nghèo bền vững
1.4.1.2 Nghị quyết của Tỉnh ủy Trà Vinh
Nghị quyết Đại hội Đại biểu lần thứ IX Đảng bộ tỉnh Trà Vinh nhiệm kỳ
2011-2015: Đề ra chỉ tiêu cụ thể là giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân 3% năm, vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer giảm trên 4% năm
Nghị quyết đề ra nhiệm vụ và giải pháp là tiếp tục thực hiện chiến lược giảm nghèo bền vững, hạn chế phát sinh hộ nghèo và hộ tái nghèo Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế, văn hóa xã hội các xã vùng sâu, vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer, giảm dần chênh lệch về kinh tế, đời sống của nhân dân giữa các vùng Thực hiện tốt chính sách ưu đãi xã hội
Nghị quyết Đại hội Đại biểu lần thứ X Đảng bộ tỉnh Trà Vinh nhiệm kỳ
2016-2020: Đề ra chỉ tiêu cụ thể là giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân 2-2,5% năm; trong vùng
có đông đồng bào dân tộc Khmer giảm 3% năm
Nghị quyết đề ra nhiệm vụ và giải pháp là nâng cao chất lượng dạy nghề và
tỷ lệ lao động được đào tạo nghề Tích cực huy động các nguồn lực thực hiện chương trình giải quyết việc làm Thực hiện có hiệu quả Đề án “Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012 - 2015 và định hướng đến năm 2020”
1.4.2 Văn bản về công tác xã hội, công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo
- Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 Đề án đã cụ
Trang 35thể hoá quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong việc chăm lo đời sống nhân dân, xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến, góp phần giữ vững
ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội Để cụ thể hóa, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội cùng với các Bộ, ngành liên quan tiến hành cũng cố xây dựng các văn bản hướng dẫn liên quan, tổ chức xây dựng mô hình trung tâm công tác xã hội cho các địa phương, tiến hành đào tạo nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp thông qua các loại hình đào tạo khác nhau[22]
- Thông tư số 11/2011/TTLT/BTC-BLĐTBXH ngày 26/01/2011 của Bộ Tài
chính và Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện Quyết định số 32 2010 QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 quy định về sử dụng và quản lý kinh phí thực hiện Đề án, nhằm đảm bảo triển khai
hiệu quả, đạt được mục tiêu Đề án đề ra
- Thông tư Liên tịch số 09/2013/ TTLT/BLĐTBXH-BNV ngày 10/6/2013 của
Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm cung cấp
dịch vụ công tác xã hội Trong Thông tư hướng dẫn rất cụ thể về các nhóm đối
tượng phục vụ của Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội trong đó có người nghèo [1]
- Thông tư số 07/2013/TT-BLĐTBXH ngày 24/5/2013 của Bộ trưởng Bộ Lao
động Thương binh và Xã hội hướng dẫn tiêu chuẩn cộng tác viên công tác xã hội cấp xã Trong Thông tư đã quy định cụ thể các loại đối tượng phục vụ của cộng tác viên công tác xã hội trong đó có người nghèo [2]
- Thông tư số 01/2017/TT-BLĐTBXH ngày 02/02/2017 của Bộ trưởng Bộ
Lao động Thương binh và Xã hội quy định về tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp đối với người làm công tác xã hội [5]
- Kế hoạch số 12/KH-UBND ngày 24/8/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh về triển khai thực hiện Quyết định số 32 2010 QĐ-TTg ngày 25 3 2010 của
Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề ánphát triển nghề công tác xã hội giai đoạn
2010 – 2020 [28]
Trang 36Mục tiêu của Kế hoạch được xác định: Cùng với cả nước, tỉnh Trà Vinh phát triển công tác xã hội trở thành một nghề chuyên nghiệp; nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề công tác xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên
và cộng tác viên công tác xã hội đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với việc hình thành và phát triển các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại địa phương, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội ngày một tốt hơn trên địa bàn của tỉnh
Tiểu kết chương 1
Trong Chương 1, học viên đã trình bày một cách cơ bản về những vấn đề lý luận về CTXH cá nhân đối với người nghèo như: các khái niệm về nghèo, chuẩn nghèo, hộ nghèo, người nghèo, giảm nghèo; đặc điểm và nhu cầu của người nghèo,…Công tác xã hội, công tác xã hội cá nhân, công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo, nhân viên công tác xã hội Đặc điểm của công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo, vai trò công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo, các yếu tố cấu thành công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo, các nguyên tắc trong công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo Lý thuyết tiếp cận và phương pháp công tác
xã hội cá nhân đối với người nghèo Nội dung công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội cá nhân đối với người nghèovà
các văn bản pháp lý liên quan đến công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo
Các nội dung đã nêu trên, học viên đã phân tích một cách tổng quát các vấn
đề về cơ sở lý luận, nhất là các nội dung của công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo, các lý thuyết tiếp cận, phương pháp tiếp cận, các yếu tố ảnh hưởng, để làm
cơ sở để đánh giá thực trạng CTXH cá nhân đối với người nghèo từ thực tiễn tỉnh Trà Vinh trong chương tiếp theo
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Trà Vinh
Trà Vinh là tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, có 09 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã và thành phố, với 106 xã, phường, thị trấn, trong đó có 57 xã khó
khăn, 22 xã đặc biệt khó khăn, 7 xã bãi ngang ven biển và 6 xã đảo Địa hình Trà
Vinh có dạng như hình tứ giác, được bao bọc bởi sông Tiền, sông Hậu với 02 chia cắt với các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, do vậy không thuận lợi cho giao thông đường bộ Ở vùng đồng bằng ven biển nên có các giồng cát, chạy liên tục theo hình vòng cung và song song với bờ biển Càng về phía biển, các giồng này càng cao và rộng lớn Các vùng trũng xen kẽ với các giồng cao, xu thế độ dốc chỉ thể hiện trên từng cánh đồng Riêng phần phía nam tỉnh là vùng đất thấp, bị các giồng cát hình cánh cung chia cắt thành nhiều vùng trũng cục bộ, nhiều nơi chỉ
ở độ cao 0,5m - 0,8m nên thường bị ngập mặn 0,4m - 0,8m trong thời gian 3 - 5 tháng
Những năm trước đây, Trà Vinh muốn liên kết với các tỉnh, trung tâm kinh tế
của cả nước phải thông qua Quốc lộ 60 và Quốc lộ 54 (đi ngang địa bàn tỉnh Vĩnh
Long), phía sau là 65 km bờ biển có nhiều lợi thế nhưng chỉ nằm ở dạng tiềm năng
do thiếu nguồn lực đầu tư
- Về tài nguyên thiên nhiên tương đối nghèo nàn, chỉ thuận lợi cho phát triển
nông nghiệp, bất lợi cho phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (xa vùng
nguyên liệu, xa thị trường tiêu thụ, cô lập về giao thông), cụ thể:
+ Diện tích đất canh tác ít, cằn cỗi, năng suất cây trồng thấp Tỉnh có 234.115
ha, trong đó đất nông nghiệp 185.868 ha, đất lâm nghiệp 6.745 ha, đất chuyên dùng 12.880 ha, đất ở nông thôn 3.845 ha, đất ở thành thị 566 ha, đất chưa sử dụng 900
ha, trong đó đất cát giồng chiếm 6,62%
+ Diện tích đất và mặt nước nuôi trồng thủy sản khoảng 51.600 ha (diện tích
nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng 29.000 ha)
Trang 38+ Khoáng sản chủ yếu là những loại cát dùng trong công nghiệp và xây dựng, gồm: Cát sông có khả năng khai thác khoản 60.000 m3 năm; đất sét gạch ngói đạt yêu cầu dùng trong xây dựng, phục vụ cho công nghiệp chế biến vật liệu xây dựng, trữ lượng khoản 45,6 triệu m3
Mỏ nước khoáng đạt tiêu chuẩn khoáng cấp quốc gia với nhiệt độ: 38,50C, khả năng khai thác khoản 2.400 m3 ngày tại xã Long Toàn, huyện Duyên Hải
- Thời tiết, khí hậu: Trà Vinh nằm trong vùng nhiệt đới có khí hậu mát mẻ quanh năm, nhiệt độ trung bình từ 26 – 270C, độ ẩm trung bình 83 - 85% năm, lượng mưa trung bình 1.500 mm
- Quy mô nền kinh tế của tỉnh nhỏ, cơ cấu kinh tế còn nặng về nông nghiệp; đầu tư cho giáo dục, chăm sóc sức khỏe ít, chủ yếu trông chờ nguồn lực từ Trung ương; khả năng huy động nguồn lực vật chất cho việc đầu tư về lĩnh vực xã hội rất khó khăn…
2.2 Thực trạng hộ nghèo, người nghèo ở Trà Vinh
Theo kết quả điều tra cuối năm 2016, toàn tỉnh có 271.927 hộ dân cư, có 30.359 hộ nghèo, với 116.950 người nghèo, chiếm tỷ lệ 11,16% so với tổng số hộ dân cư Trong đó 17.946 hộ nghèo dân tộc khmer, với 69.092 người nghèo dân tộc Khmer, chiếm tỷ lệ 20,46% so với tổng số hộ dân tộc khmer (chiếm 59,11% so với tổng số hộ nghèo chung toàn tỉnh)
Bảng 2.1 Số liệu hộ nghèo năm 2016 chia theo huyện, thành phố, thị xã
(hộ)
Số người nghèo (người)
Tỷ lệ hộ nghèo (%)
Trang 397 Huyện Trà Cú 7.267 27.984 17,77
8 Huyện Duyên Hải 4.433 18.061 21,46
9 Thị xã Duyên Hải 338 1.129 2,98
[Nguồn: Theo báo cáo của Sở Lao động – Thương binh và xã hội tỉnh Trà Vinh]
Bảng 2.2 Số liệu hộ nghèo dân tộc Khmer năm 2016 chia theo huyện, thành phố, thị xã
tộc khmer
Tỷ lệ hộ nghèo khmer/ tổng
số hộ Khmer
Tỷ lệ hộ nghèo khmer/ tổng
[Nguồn: Theo báo cáo của Sở Lao động – Thương binh và xã hội tỉnh Trà Vinh]
- Theo số liệu điều tra theo chuẩn tiếp cận nghèo đa chiều cuối năm 2016, số
hộ thiếu hụt các chỉ số đo lường các dịch vụ xã hội cơ bản trong số hộ nghèo theo biểu thống kê sau đây:
Trang 40Bảng 2.3 Số liệu hộ nghèo thiếu hụt các chỉ số đo lường dịch vụ xã hội cơ bản
[Nguồn: Theo báo cáo của Sở Lao động – Thương binh và xã hội tỉnh Trà Vinh]
- Người nghèo đa phần còn thiếu vốn sản xuất 25.478 hộ; thiếu đất canh tác, 7.820 hộ; thiếu phương tiện sản xuất 3.821 hộ; ốm đau nặng, thiếu lao động 4.509 hộ; đông người ăn theo 2.789 hộ; có lao động nhưng không có việc làm hoặc thiếu việc làm 6.366 hộ; không biết cách làm ăn, không có tay nghề 2.446 hộ; tham gia các tệ nạn xã hội 379 hộ; chây lười lao động 1.278 hộ và nguyên nhân khác (rủi ro,
thiên tai) 3.412 hộ
- Từ những nguyên nhân trên, phân chia hộ nghèo theo nguyện vọng hỗ trợ thoát nghèo: Hỗ trợ vay vốn ưu đãi 16.452 hộ; hỗ trợ đất sản xuất 5.657 hộ; hỗ trợ phương tiện sản xuất 1.445 hộ; hỗ trợ đào tạo nghề 6.341 hộ; giới thiệu việc làm 19.557 hộ; hướng dẫn cách sản xuất 7.789 hộ; hỗ trợ xuất khẩu lao động 430 hộ; trợ
giúp xã hội 28.990 hộ
- Trình độ học vấn của người nghèo thấp, người nghèo ít có cơ hội tìm kiếm việc làm ngoài công việc trong nông nghiệp không ổn định và thu nhập thấp; luôn
phụ thuộc vào thời tiết, nếu có rủi ro xảy ra (như hạn hán, lũ lụt, xâm nhập mặn )
thì nguy cơ mất trắng là rất cao Tình trạng thiếu việc làm thường xuyên đã ảnh