VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI LÝ QUỲNH LINH DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤNG DƯỠNG NGƯỜI CÓ CÔN
Trang 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÝ QUỲNH LINH
DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤNG DƯỠNG NGƯỜI CÓ CÔNG CÁCH MẠNG ĐÀ NẴNG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học Xã hội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Hữu Nghị
Phản biện 1: TS Lê Hải Thanh
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Thị Vân Hạnh
Luận văn sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại: Học viện Khoa học Xã hội giờ ngày tháng năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học Xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau những năm tháng tham gia chiến đấu, công tác ở những nơi gian khổ trở về với cuộc sống đời thường, NCCVCM gặp rất nhiều khó khăn do tuổi cao, sức khỏe bị suy giảm, bị thương tật, bệnh tật, không có nguồn vốn để đầu tư, trình độ tay nghề thấp hoặc không có; nhiều người không lập được gia đình, nhiều gia đình có con bị dị tật do cha, mẹ bị ảnh hưởng chất độc hóa học nên cuộc sống của NCCVCM và gia đình gặp rất nhiều khó khăn, mức sống chưa thể ngang bằng với người dân nơi cư trú
Theo thống kê, cả nước hiện có gần 9 triệu người có công với cách mạng, chiếm gần 10% dân số, trong đó có 1.146.250 liệt sĩ, 49.609 Mẹ Việt Nam Anh hùng, 781.021 thương binh và người hưởng chính sách như thương binh, 185.00 bệnh binh, 1.253 Anh hùng Lực lượng Vũ trang, Anh hùng Lao động trong kháng chiến, 101.138 người có công giúp đỡ cách mạng, trên 1,47 triệu đối tượng người có công
CTXH với NCCVVCM là một trong những chính sách được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm, chú trọng để góp phần ổn chăm sóc sức khỏe,
ổn định cuộc sống cho NCCVCM như: chính sách về bảo hiểm y tế, trợ cấp ưu đãi hằng tháng, hỗ trợ sửa chữa nhà ở Cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước, cộng đồng xã hội cũng ngày càng quan tâm, giúp đỡ cho NCCVCM Tuy nhiên, những thành công ấy được xét dưới góc độ chính trị - xã hội, còn dưới góc độ CTXH thì dường như chưa được coi trọng và quan tâm đúng mức; chưa huy động được các nhà khoa học, các nhà chuyên môn trong lĩnh vực CTXH để tham gia xây dựng chính sách; các hoạt động, phong trào còn mang tính hình thức, thiếu chiều sâu, thiếu tính bền vững; nguồn lực đầu tư để thực hiện CTXH và cung cấp DVCTXH còn hạn chế, trong đó có nguồn nhân lực; việc triển khai thực hiện chính sách còn chồng chéo, nhiều cơ quan quản lý, thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp; việc phối hợp giải quyết vấn đề của một số cơ quan và địa phương đôi khi
Trang 4thiếu chặt chẽ, chậm trể Vì vậy chưa thật sự đáp ứng được mong mỏi, yêu cầu của NCCVCM
Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Dịch vụ Công tác xã hội đối với
người có công với cách mạng từ thực tiễn Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng” làm luận văn
thạc sỹ của mình Với đề tài này, tác giả muốn được đóng góp một phần sức lực của mình trong việc đưa ra một số khuyến nghị, giải pháp nhằm cung ứng các loại hình dịch vụ và nâng cao chất lượng dịch vụ CTXH đối với NCCVCM
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Một số nghiên cứu ở nước ngoài
ANN MCDONALD (2010) trong cuốn sách “Social Work with older people”, First published by polyty press, tác giả đã trình bày khung lý thuyết có thể ứng dụng trong thực hành CTXH với người cao tuổi và một
số cách tiếp cận trong thực hành CTXH với người cao tuổi; những khó khăn, những vấn đề phát sinh trong làm việc với người cao tuổi
2.2 Một số nghiên cứu trong nước
Các nhà khoa học, nhà chuyên môn trong nước đã có nhiều nghiên cứu về chính sách đối với NCCVCM Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã tiếp cận, tham khảo một số công trình sau:
- Nguyễn Văn Thành (1994), Luận án Tiến sĩ kinh tế “Đổi mới chính sách kinh tế - xã hội đối với người có công ở Việt Nam”
- Nguyễn Đình Liêu (1996), Luận án Phó Tiến sĩ khoa học luật học
“Hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng ở Việt Nam -
Trang 5- Nguyễn Hiền Phương (2008), “Quan niệm về an sinh xã hội trên thế giới và ở Việt Nam”, Tạp chí Luật học, (số 1), tr 45-54
- Nguyễn Thị Tuyết Mai (2009), Luận văn Thạc sĩ luật học “Hoàn thiện pháp luật ưu đãi xã hội ở Việt Nam”
- Đỗ Thị Dung (2010), “Đối tượng hưởng ưu đãi xã hội và một số kiến nghị”, Tạp chí Luật học (số 8), tr 10-17
- Vũ Thị Vân Anh (2015), “Công tác xã hội đối với thương binh từ thực tiễn xã Pơng Drang, huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk”, Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Công tác xã hội, học viện khoa học xã hội
Nhìn chung, tác giả các bài viết, công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến nhiều góc độ khác nhau của văn bản pháp luật nói chung, quy phạm pháp luật nói riêng và việc triển khai thực hiện; tiếp cận ở khía cạnh ảnh hưởng và tác động của chính sách an sinh xã hội ảnh hưởng đến đời sống của NCCVCM hay đánh giá hiệu quả của việc thực hiện Pháp lệnh
Ưu đãi người có công với cách mạng dưới góc nhìn của người làm chính sách chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu về các dịch vụ CTXH đối với NCCVCM
Luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội “Công tác xã hội đối với thương binh từ thực tiễn xã Pơng Drang, huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk” của Vũ Thị Vân Anh đã phân tích, đánh giá việc thực hiện chính sách đối với thương binh và các hỗ trợ xã hội đối với thương binh dưới góc độ của ngành CTXH Luận văn đã tập trung phân tích, đưa ra được nhu cầu của thương binh và cách hỗ trợ Kết quả nghiên cứu của đề tài này là nguồn tài liệu tham khảo tốt đối với tôi trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn
Đối với thành phố Đà Nẵng, qua tìm hiểu, đến nay chưa có chương trình hay đề tài nào nghiên cứu về dịch vụ CTXH đối với NCCVCM trên
Trang 6địa bàn thành phố để đưa ra những khuyến nghị, giải pháp nhằm định hướng trợ giúp cho NCCVCM Vì vậy, đề tài mà tác giả nghiên cứu hoàn toàn mang tính mới, và mong muốn góp phần tìm ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ CTXH đối với NCCVCM
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề về lý luận và thực tiễn dịch vụ công tác xã hội đối với NCCVCM tại Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng
Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về công tác xã hội đối với NCCVCM
- Đi sâu vào tìm hiểu, đánh giá thực trạng đời sống của NCCVCM; thực trạng DVCTXH đối với NCCVCM cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả cung cấp DVCTXH đối với NCCVCM tại Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng
- Trên cơ sở phân tích đánh giá, tìm hiểu các thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng để đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả DVCTXH đối với NCCCM tại Trung tâm Phụng dưỡng người có công với cách mạng Đà
Nẵng, thành phố Đà Nẵng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- NCCVCM được chăm sóc, phụng dưỡng tại Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng
- Các loại hình dịch vụ CTXH đối với NCCVCM đang được thực hiện tại đây
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 7- Phạm vi nghiên cứu về đối tượng: đề tài tập trung nghiên cứu 3 DVCTXH đối với NCCVCM, đó là: dịch vụ hỗ trợ chăm sóc sức khỏe; dịch vụ hỗ trợ tâm lý; dịch vụ kết nối nguồn lực, hỗ trợ vật chất, tinh thần, vui chơi giải trí, nơi nghỉ dưỡng, ăn ở, hoạt động hỗ trợ xã hội
- Phạm vi nghiên cứu về khách thể:
+ NCCVCM tại Trung tâm Phụng dưỡng người có công với cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng;
+ Nhân viên CTXH trong hỗ trợ DVCTXH đối với NCCVCM
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Trung tâm Phụng dưỡng người
đề xuất về biện pháp để nâng cao hiệu quả DVCTXH đối với NCCVCM tại Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố
Đà Nẵng
- Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: nghiên cứu hệ thống những lý thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quan như dịch vụ hỗ trợ của công tác xã hội đối với NCCVCM
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Là phương pháp sử dụng các kỹ thuật chuyên môn nhằm thu thập thông tin, số liệu, tài liệu từ các nguồn tài liệu đã được công bố hoặc rút ra
Trang 8từ các nguồn tài liệu những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu tôi sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để:
- Đọc và tìm hiểu các giáo trình, tài liệu có liên quan đến CTXH như: Nhập môn CTXH, Phát triển cộng đồng, Lý thuyết CTXH…
- Đọc và phân tích các tài liệu, báo cáo của các cấp chính quyền địa phương, ngành như: „„Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh năm 2016” của UBND thành phố Đà Nẵng; “Báo cáo kết quả thực hiện Pháp lệnh ưu đãi người có công với các mạng những năm vừa qua và nhiệm vụ giải pháp trong thời
gian tới” của Sở Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Đà Nẵng…
5.2.2 Phương pháp điều tra bản hỏi
Là phương pháp dựa trên hình thức hỏi đáp gián tiếp dựa trên bản các câu hỏi được soạn thảo trước, điều tra viên tiến hành phát bản hỏi, hướng dẫn thống nhất cách trả lời các câu hỏi, người được hỏi tự đọc các câu hỏi trong bản hỏi rồi ghi cách trả lời của mình vào phiếu hỏi rồi gửi lại cho điều tra viên
5.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Tác giả sử dụng phương pháp này với mục đích tìm hiểu, thu thập thông tin chuyên sâu từ các ban ngành, địa phương và những người trợ giúp NCCVCM về khả năng, tính hiệu quả của các hoạt động trợ giúp NCCVCM; đồng thời kiểm chứng lại mức độ tin cậy của các thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu qua điều tra, quan sát
5.2.4 Phương pháp quan sát
Trong đề tài này tác giả sử dụng phương pháp này nhằm thu thập, bổ sung thông tin còn thiếu và kiểm tra đối chiếu, so sánh các thông tin từ việc quan sát để đánh giá độ tin cậy của các thông tin thông qua việc quan sát bối cảnh sống, thái độ, thể trạng, sự hài lòng, của NCCVCM Cũng
Trang 9thông qua đó hình thành được câu trả lời đầy đủ và có được những thông tin chính xác cho bảng hỏi cũng như bảng phỏng vấn sâu Cụ thể, đề tài tập trung quan sát các hoạt động công tác xã hội hoặc các hoạt động mang tính chất công tác xã hội Quan sát về môi trường, không gian sống của NCCVCM
luận về chính sách xã hội nói chung
Là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này về lĩnh vực
NCCVCM, cung cấp DVCTXH cho NCCVCM
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu góp phần cung cấp thông tin cho ngành, địa phương, các
tổ chức xã hội; đề xuất phương án cũng như đưa ra những khuyến nghị để
có các chính sách trợ giúp gắn liền với nhu cầu của NCCVCM để họ có cuộc sống tốt hơn
Là cơ sở để ngành, các cấp chính quyền, tổ chức xã hội tham khảo, nghiên cứu trong quá trình hoạch định, xây dựng chính sách hỗ trợ cho NCCVCM có những chính sách phù hợp để hoàn thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ CTXH đối với NCCVCM tại thành phố Đà Nẵng nói chung,
Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng nói riêng
Giúp cho nhà quản lý, NVCTXH thấy được tầm quan trọng của việc cung cấp DVCTXH đối với NCCVCM tại cơ sở chăm sóc; DVCTXH của
cơ sở có đáp ứng được yêu cầu, sự mong muốn của NCCVCM hay chưa;
sự tham gia của NCCVCM vào việc thực hiện DVCTXH
Trang 107 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với NCCVCM
Chương 2: Thực trạng người có công với cách mạng và thực trạng dịch vụ CTXH đối với NCCVCM tại Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Định hướng và các giải nhằm đảm bảo thực hiện dịch vụ công tác xã hội đối với NCCVCM từ thực tiễn Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC
XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG
1.1 Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu của người có công với cách mạng
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của người có công với cách mạng
- Khái niệm người có công với cách mạng
Theo tập bài giảng Ưu đãi xã hội, NCC với nước “là người có cống hiến đặc biệt hoặc hy sinh cao cả cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước bảo vệ hạnh phúc, cuộc sống bình yên của nhân dân”
Cũng theo tài liệu này, NCCVCM là “người có đóng góp công lao hoặc hy sinh tính mạng, hy sinh một phần thân thể trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc giải phóng dân tộc, bảo
vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận”
Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng năm 2005 (sửa đổi năm 2012) có quy định: Người có công với cách mạng, bao gồm:
a) Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945;
Trang 11b) Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng 8 năm 1945;
c) Liệt sĩ;
d) Bà mẹ Việt Nam Anh hùng;
đ) Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân;
e) Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến;
g) Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;
h) Bệnh binh;
i) Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học;
k) Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày;
l) Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế;
m) Người có công giúp đỡ cách mạng
- Đặc điểm của người có công với cách mạng
NCCVCM hầu hết đều trải qua chiến tranh, họ luôn nhớ về những người cùng hoạt động cách mạng, những người cùng một thời “vào sinh ra tử”, những đồng đội đã anh dũng hy sinh; có ý thức tự hào về quá khứ cống hiến của mình cho cách mạng, có tinh thần trách nhiệm giữ gìn những phẩm chất và truyền thống cách mạng; phần lớn họ tuổi đã cao, sức khỏe bị suy giảm nhiều do bị thương tật, bệnh tật; họ có nhiều công lao, đóng góp cho cách mạng, cho đất nước
Khi hòa bình lập lại, NCCVCM tiếp tục có nhiều đóng góp vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, họ luôn trăn trở trước vận mệnh của đất nước; họ tình nguyện tham gia vào các hoạt động đi tìm đồng đội, các hoạt động xã hội ở địa phương; là tấm gương cho gia đình, dòng họ, con cháu noi theo; họ nhạy cảm với các chính sách, chế độ của Đảng và Nhà nước, nhất là những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích của họ; họ thích được quan tâm, chăm sóc hơn những người bình thường
Trang 12Một bộ phận NCCVCM còn khó khăn về đời sống, khó tiếp cận với các nguồn lực xã hội, dịch vụ xã hội, kỹ năng bị hạn chế; có người có tâm
lý cho rằng con cháu, thế hệ trẻ không hiểu mình; có khoảng cách về thế hệ; một số ít có biểu hiện công thần
1.1.2 Nhu cầu của người có công với cách mạng
Nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow được xem là cha đẻ của thuyết nhu cầu Theo A.Maslow, nhu cầu của con người được sắp xếp theo thứ tự bậc thang từ thấp tới cao - từ các nhu cầu thiết yếu nhất tới các nhu cầu thứ yếu, cao hơn Khi con người thoả mãn được nhu cầu cấp thấp rồi thì sẽ tiến tới thoả mãn các nhu cầu cấp cao hơn Theo đó, nhu cầu của con người được chia thành 5 nhu cầu theo bậc thang đó là: nhu cầu được sống; nhu cầu được an toàn; nhu cầu thuộc về một nhóm nào đó; nhu cầu được tôn trọng; nhu cầu hoàn thiện
Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy, hiện nay NCCVCM có những nhu cầu sau:
- Đối với nhu cầu sống: sau nhiều năm tháng tham gia chiến đấu, phục
vụ kháng chiến, công tác nơi chiến trường gian khổ trở về với cuộc sống đời thường, NCCVCM gặp nhiều khó khăn trong việc bắt nhịp với cuộc sống, nhất là ở những khu vực đô thị cuộc sống thay đổi nhanh chóng Vì
số đông NCCVCM tuổi đã cao, sức khỏe bị suy giảm do thương tật, bệnh tật, di chứng của chiến tranh, ít kinh nghiệm, thiếu vốn, trình độ tay nghề thấp hoặc không có nên cuộc sống còn nhiều khó khăn; mức sống của NCCVCM chưa thể ngang bằng với mức sống bình quân của người dân nơi cứ trú; cuộc sống của họ và nhiều gia đình phụ thuộc vào nguồn trợ cấp hằng tháng; nhiều gia đình chưa có nhà ở ổn định Vì vậy NCCVCM rất muốn được hỗ trợ xây dựng nhà ở, miễn giảm thuế, cho vay vốn để đầu
tư kinh doanh, làm ăn tăng thu nhập cho bản thân và gia đình để đảm bảo cuộc sống
- Đối với nhu cầu an toàn: NCCVCM đã trải qua những phút giây sinh tử, lằn ranh giữa sự sống và cái chết, sự tra tấn của quân thù nên họ