1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý GIÁO dục QUẢN lý GIÁO dục PHÁP LUẬT CHO học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG HUYỆN tứ kỳ, TỈNH hải DƯƠNG

112 388 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 789 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, một trong những yêu cầu cấp thiết đặt ra cho đất nước ta là phải tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Để có được Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân ở nước ta, điều quan trọng hàng đầu hiện nay là phải quan tâm làm tốt công tác giáo dục pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là với học sinh, sinh viên, lớp người sẽ kế tục và phát huy những thành tựu lớn lao của đất nước trong tương lai.

Trang 1

LỤC Trang

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÁP

LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 121.1 Các khái niệm cơ bản của đề tài 121.2 Nội dung quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh trung

1.3 Những yếu tố tác động đến quản lý giáo dục pháp luật cho

Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÁP

LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

2.1 Khái quát đặc điểm giáo dục pháp luật cho học sinh trunghọc phổ thông huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương 362.2 Thực trạng quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh trunghọc phổ thông huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương 41

Chương 3 YÊU CẦU VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC

PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ

3.1 Yêu cầu có tính nguyên tắc trong xây dựng biện pháp quản lýgiáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông 573.2 Biện pháp quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh trunghọc phổ thông huyện Tứ Kỳ, Tỉnh Hải Dương 613.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 81

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, một trong những yêu cầu cấp thiết đặt ra cho đất nước ta làphải tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân Để có được Nhà nước pháp quyềncủa dân, do dân và vì dân ở nước ta, điều quan trọng hàng đầu hiện nay làphải quan tâm làm tốt công tác giáo dục pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân,đặc biệt là với học sinh, sinh viên, lớp người sẽ kế tục và phát huy nhữngthành tựu lớn lao của đất nước trong tương lai

Thực tế cho thấy, công tác giáo dục pháp luật nói chung và công tácgiáo dục pháp luật cho học sinh, sinh viên tại các trường giữ một vị trí, mộtvai trò vô cùng quan trọng trong quá trình giáo dục và đào tạo Đảng ta đãkhẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác giáo dục pháp luật,rèn luyện đạo đức, lối sống thể hiện trong các văn kiện của Đảng ta như: Vănkiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI ( năm 2011) đã ghinhận: "Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáodục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả nănglập nghiệp”

Trên tinh thần đó, chính phủ chỉ đạo các bộ, các cấp, các ngành phốihợp thực hiện giáo dục pháp luật cho học sinh, sinh viên Bộ giáo dục và đàotạo đã đưa giáo dục pháp luật vào chương trình học tập chính khoá trong các

cơ sở giáo dục Tuy nhiên, hiệu quả chưa cao, sự hiểu biết pháp luật của họcsinh, sinh viên còn nhiều hạn chế Tình trạng vi phạm pháp luật ở độ tuổi nàycòn xảy ra rất nhiều Đặc biệt là tình trạng vi phạm pháp luật ở độ tuổi 15-18ngày càng gia tăng về số lượng và mức độ Ở lứa tuổi này nhân cách các em

Trang 3

đang trong giai đoạn hình thành và chưa ổn định Các em rất dễ sa ngã, dễ bị

rủ rê, lôi kéo vào các hành vi phạm tội do đặc tính hiếu động, tò mò, thích thểhiện mình của tuổi trẻ nhưng cũng dễ uốn nắn khi được định hướng, đượcgiáo dục và được trang bị một số kiến thức pháp luật ngay từ đầu

Công tác giáo dục pháp luật cho học sinh THPT nói chung, học sinhTHPT huyện Tứ Kỳ nói riêng thời gian qua luôn được các cấp, các ngành,ban giám hiệu quan tâm thực hiện và về cơ bản đã đạt được những mục tiêu,nhiệm vụ đề ra Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế nhất định như: chươngtrình, nội dung chưa có tính hệ thống cao; việc phân bổ thời gian học tập chưathật phù hợp; một số bộ phận giáo viên chưa thật sự nhiệt tình tâm huyết;chưa thực sự đổi mới về phương pháp giảng dạy nhất là những phương phápgiảng dạy tích cực áp dụng trong các tình huống pháp luật; hình thức giáo dụcpháp luật chủ yếu là học tập trên lớp Để khắc phục được những hạn chế trêncần phải có các biện pháp quản lý giáo dục pháp luật trong các nhà trườngchặt chẽ, khoa học

Vấn đề GDPL, quản lý GDPL trong các nhà trường đã được nghiên cứu

ở nhiều góc độ và cấp độ khác nhau nhưng chưa có công trình khoa học nàonghiên cứu một cách chuyên sâu về quản lý GDPL cho học sinh THPT nóichung và quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh các trường THPT huyện

Tứ Kỳ, Tỉnh Hải Dương nói riêng Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn trên

và các yêu cầu của khoa học quản lý giáo dục nên tôi chọn đề tài "Quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phố thông huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương” làm đề tài nghiên cứu.

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước ta luônluôn quan tâm đến việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,đồng thời thường xuyên chăm lo đến việc giáo dục pháp luật cho mọi người

Trang 4

dân Đặc biệt, trong giai đoạn phát triển của đất nước ta hiện nay, việc giáodục pháp luật cho lớp trẻ trong các nhà trường càng quan trọng hơn bao giờhết Vì vậy, giáo dục pháp luật là một trong những nội dung thu hút sự quantâm nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà giáo dục Trong thời gian vừaqua, có thể điểm lại một số công trình nghiên cứu đã được công bố như sau:

Nguyễn Anh Tuấn (1997), qua nghiên cứu đã làm rõ “Những ảnhhưởng của kinh tế thị trường tới đạo đức và ý thức pháp luật của sinh viên sưphạm”, tác giả đã có quá trình khảo sát, phân tích số liệu, đánh giá những ảnhhưởng tích cực và tiêu cực của kinh tế thị trường tới đạo đức và ý thức phápluật của sinh viên sư phạm Từ thực trạng mà tác giả đưa ra sẽ giúp các cơquan quản lý giáo dục, nhà trường, cán bộ quản lý giáo dục đề xuất và ápdụng những biện pháp giáo dục đạo đức và ý thức chấp hành pháp luật chosinh viên nói chung, sinh viên sư phạm nói riêng trong điều kiện xây dựng vàphát triển nền kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta

Các tác giả Trần Ngọc Đường và Dương Thanh Mai (1995) có tác

phẩm: ”Bàn về giáo dục pháp luật” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội), đã làm

rõ những vấn đề cơ bản của giáo dục pháp luật, tác giả đã phân tích làm rõbản chất và mục đích của quá trình giáo dục pháp luật Trong đó, các tác giảchỉ rõ các mục tiêu giáo dục pháp luật cho lớp trẻ, phải bắt đầu từ việc giáodục nâng cao nhận thức đến xây dựng thái độ, niềm tin và rèn luyện hìnhthành hành vi chấp hành pháp luật bền vững cho mỗi người

Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp Có đề tài khoa học:

”Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong thời kỳ đổi mới” (Đề tài khoa học cấp Bộ, mã số 92 - 98 - 223 - ĐT) Các tác giả đã luận

giải làm rõ cơ sở lý luận giáo dục pháp luật, phân tích, đánh giá thực trạng vềgiáo dục pháp luật trong thời kỳ đổi mới ở nước ta

Trang 5

Tác giả Đào Trí Úc ( 1995), với tác phẩm ”Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật” Tác giả chỉ rõ rằng, trong tổ chức giáo dục pháp luật

cho công dân, nhất là cho thanh thiếu niên, cần phải tăng cường giáo dục,làm cho họ hiểu rõ, hiểu sâu về các quy định của pháp luật Đồng thời, các

tổ chức, các đơn vị, các lực lượng phải duy trì nghiêm và khoa học việcthực hành pháp luật, làm cho mỗi người có được thói quen, nếp sống, lốisống theo pháp luật

Tác giả Đinh Xuân Thảo (1996), với công trình luận án Phó tiến sĩ: “Giáo dục pháp luật trong các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề ở nước ta hiện nay” Tác giả đã đi sâu vào việc luận giải làm rõ cơ sở lý luận giáo dục pháp

luật trong các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, đánh giá thực trạng

và đã đề xuất được một số giải pháp quan trọng, có giá trị về giáo dục pháp luật

trong các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề ở nước ta hiện nay

Tác giả, Bạch Đức Thịnh (2014), với luận án thạc sỹ: “Quản lý quá trìnhgiáo dục pháp luật cho học viên ở trường sĩ quan không quân hiện nay” Tác giả

đã đi vào nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng quản lý giáo dục pháp luật chohọc viên ở các trường sĩ quan không quân hiện nay, trên cơ sở đó tác giả đề ra hệthống các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý giáo dục pháp luật chohọc viên ở trường sĩ quan không quân hiện nay Mặc dù, khác nhau về phạm vi

và khách thể nghiên cứu nhưng công trình nghiên cứu đã giúp tác giả tiếp thu, kếthừa một số cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của tác giả

Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp, có công trình: “Một số vấn

đề về giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay’ (Nxb Thanh niên, 1997).

Tác giả Nguyễn Trọng Bích, với công trình nghiên cứu ”Giáo dục ý thức pháp luật, đăng trên Tạp chí Xây Dựng Đảng, số 4/1989 Trong đó tác

giả phân tích, làm rõ tầm quan trọng của việc giáo dục ý thức pháp luật chomọi người hiện nay, coi đó là cơ sở, tiền đề của việc chấp hành nghiêm pháp

Trang 6

luật Đó chính là xây dựng ý thức tự giác của mọi người làm nền tảng cho sựthống nhất giữa ý chí và hành động chấp hành, tuân thủ theo pháp luật.

Tác giả Hồ Hữu Hiệp (2000), với công trình: “Xã hội hoá công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong tình hình mới” (đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 9) Tác giả chỉ ra trong tình hình mới, công tác phổ biến, giáo

dục pháp luật cần có sự tham gia của mọi tổ chức, mọi lực lượng, mọi người;điều đó sẽ mang lại chất lượng và hiệu quả cao trong việc xây dựng ý thức vàhành vi chấp hành pháp luật

Tác giả Nguyễn Đình Đặng Lục, với công trình: Giáo dục pháp luật và quá trình hình thành nhân cách (Nxb pháp lý, Hà Nội) Tác giả đã nêu lên

những vấn đề cơ bản về giáo dục pháp luật và mối liên hệ giữa giáo dục phápluật với sự hình thành và phát triển nhân cách

Tác giả Nguyễn Hữu Phúc (2012), với công trình: Giáo dục ý thức pháp luật cho cán bộ, công chức trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta hiện nay” Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự.

Tác giả Hoàng Thị Kim Quế ( 2015) với bài viết: ”Nội dung, hình thức

và phương pháp giáo dục pháp luật trong nhà trường” Trong bài viết này tác

giả đã đưa ra những nhận định cơ bản về nội dung, hình thức và phương phápgiáo dục pháp luật trong nhà trường hiện nay

Tác giả Phan Chí Hiếu( 2015), với bài viết: ”Vị trí, vai trò, ý nghĩa của công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường và quá trình đưa giáo dục pháp luật vào nhà trường”, đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Trong bài viết

này, tác giả đã khái quát về vị trí, vai trò, ý nghĩa của công tác giáo dục pháp luậttrong nhà trường, chủ trương, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của nhànước về giáo dục pháp luật và quá trình đưa giáo dục pháp luật vào trong trườnghọc thông qua chương trình giáo dục chính khoá và hoạt động giáo dục ngoàigiờ lên lớp cho người học

Trang 7

Tác giả Lê Thị Kim Dung (2015), với bài viết “ Giáo dục pháp luật trong nhà trường những kết quả đạt được và những vấn đề mới đặt ra”, đăng trên Tạp

chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề tháng 3 Tác giả đã chỉ những ưu điểm vàhạn chế cơ bản của công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường những nămqua Trên cơ sở đó tác giả đưa ra những vấn đề mới mang tính cấp bách cần phảigiải quyết nhằm nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật trong các nhà trường

Các công trình nghiên cứu trên đây đã đề cập và giải quyết những vấn

đề về lý luận và thực tiễn trong hoạt động giáo dục pháp luật, quản lý giáodục pháp luật Các tác giả nghiên cứu về giáo dục pháp luật, xây dựng ý thứcpháp luật và hành vi tuân thủ pháp luật cho các đối tượng khác nhau, nhất làcho lớp trẻ trong bối cảnh đất nước đang tập trung xây dựng Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa Đây là một trong những cơ sở lý luận và thực tiễnquan trọng để học viên tiếp tục nghiên cứu, bảo đảm sự kế thừa, bổ sung, pháttriển trong đề tài luận văn đã xác định

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh

- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý giáo dục pháp luật cho học sinhTHPT huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương hiện nay

- Đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh THPThuyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương hiện nay

4 Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu

*Khách thể nghiên cứu

Trang 8

Quản lý giáo dục phẩm chất, nhân cách cho học sinh các trường THPThuyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

*Đối tượng nghiên cứu

Quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông huyện Tứ

Kỳ, tỉnh Hải Dương

*Phạm vi nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở tiếp cận theo quá trình giáo dục(nghĩa hẹp), trong đó tập trung nghiên cứu quá trình giáo dục pháp luật chohọc sinh các trường THPT huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

Luận văn chỉ nghiên cứu những vấn đề lý luận về giáo dục pháp luật

và đánh giá thực trạng giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường THPThuyện Tứ Kỳ, Tỉnh Hải Dương trong thời gian vừa qua và đề xuất biện phápgiáo dục pháp luật cho học sinh THPT huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

Các số liệu khảo sát, điều tra từ năm 2012 đến năm 2015

5 Giả thuyết khoa học

Quản lý giáo dục cho học sinh THPT huyện Tứ Kỳ, Tỉnh Hải Dương, phụthuộc vào nhiều yếu tố Nếu chủ thể quản lý giáo dục ở các trường thực hiện mộtcách khoa học và đồng bộ các biện pháp như: Tổ chức giáo dục xây dựng ýthức, hành vi tuân thủ pháp luật cho học sinh; bồi dưỡng kiến thức và phươngpháp cho các lực lượng tiến hành giáo dục; thực hiện nghiêm túc kế hoạch giáodục; chỉ đạo sử dụng tốt phương pháp, hình thức, quy trình giáo dục pháp luậtphù hợp với lứa tuổi học sinh; duy trì nghiêm các quy định của pháp luật Nhànước, nội quy của Nhà trường; thực hiện kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dụcpháp luật cho học sinh trong Nhà trường một cách liên tục và thường xuyên, thì sẽ nâng cao được hiệu quả quản lý giáo dục pháp luật, góp phần thực hiệnthành công mục tiêu giáo dục phẩm chất nhân cách toàn diện cho học sinh củanhà trường

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Trang 9

*Phương pháp luận

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biệnchứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh,quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục - đào tạo,quản lý giáo dục và giáo dục pháp luật Đồng thời, tác giả vận dụng quanđiểm tiếp cận hệ thống - cấu trúc, quan điểm logic - lịch sử và quan điểm thựctiễn để xem xét, phân tích các vấn đề liên quan

*Phương pháp nghiên cứu

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Thực hiện việc đọc tài liệu, thu thập thông tin, phân tích, tổng hợp, hệthống hoá, mô hình hoá, khái quát hoá; bao gồm, một số công văn chỉ đạothực hiện phối hợp giáo dục pháp luật cho học sinh của bộ tư pháp; các vănkiện, nghị quyết của Đảng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Luật giáo dục; các giáotrình, sách tham khảo, tài liệu về khoa học quản lý và quản lý giáo dục; cáccông trình nghiên cứu, báo khoa học có liên quan đến đề tài đã được công bố

và đăng tải trên các tạp chí, báo, kỷ yếu khoa học, hội thảo

Sử dụng các phương pháp phân tích tổng hợp hệ thống hoá các tài liệuliên quan làm cơ sớ lý luận của đề tài

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp quan sát: Quan sát quá trình dạy học, GDPL cho học sinhTHPT huyện Tứ Kỳ, Tỉnh Hải Dương tại nhiều thời điểm khác nhau

Phương pháp tọa đàm trao đổi: Tọa đàm trao đổi với cán bộ quản lý,các thành phần lực lượng tham gia GDPL và đối tượng học

Phương pháp tổng kết kinh nhiệm: Nghiên cứu những vấn đề đã vàđang diễn ra

Phương pháp điều tra: Điều tra đối với 1120 học sinh, 186 giáo viên và

10 cán bộ quản lý các trường THPT huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

Trang 10

Phương pháp xin ý kiến chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia về phápluật, nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục về nội dung nghiên cứu

- Nhóm các phương pháp hỗ trợ

Phương pháp toán thống kê: Sử dụng toán thống kê để tổng hợp, tínhtoán các số liệu điều tra

7 Ý nghĩa của đề tài

Góp phần làm phong phú về lý luận quản lý GDPL và đề xuất các biệnpháp quản lý GDPL học sinh THPT

Có thể là tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý giáo dục, cho giáoviên và các lực lượng phối hợp hoạt động GDPL cho học sinh

8 Kết cấu của đề tài

Luận văn bao gồm phần mở đầu, 3 chương (8 tiết), kết luận và kiếnnghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.1.1 Giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông

Giáo dục: Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Về bản chất, giáo dục là

hiện tượng truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệcon người Về mục đích, giáo dục là sự định hướng của thế hệ đi trước đối vớisự phát triển của thế hệ tiếo theo Về phương thức đối với mỗi cá nhân, giáodục là cơ hội để học hỏi, tiếp thu và thành đạt, tránh được những mò mẫm, vavấp, đối với nhân loại giáo dục là phương thức bảo tồn và phát triển kho tàngtri thức văn hoá xã hội”

Theo Từ điển Giáo dục học (Nxb Từ điển Bách Khoa - 2001): Giáo dục

là hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tácđộng nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng vàlối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hìnhthành năng lực và phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêuchuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội

Pháp luật: Là hệ thống những qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung

do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chícủa giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triểnphù hợp với lợi ích của giai cấp mình Pháp luật có các thuộc tính cơ bản:

Tính bắt buộc chung (tính qui phạm phổ biến): Trước hết, qui phạmđược hiểu là những qui tắc xử sự chung, được coi là khuôn mẫu, chuẩn mực,mực thước đối với hành vi của một phạm vi cá nhân, tổ chức Pháp luật đượcbiểu hiện cụ thể là những qui phạm pháp luật Do vậy nó cũng là qui tắc xử sựchung cho phạm vi cá nhân hoặc tổ chức nhất định Pháp luật được Nhà nướcban hành hay thừa nhận không chỉ dành riêng cho một cá nhân, tổ chức cụ thể

Trang 13

mà áp dụng cho tất cả các chủ thể Tuy nhiên, điểm khác biệt giữa pháp

luật với các loại qui phạm khác ở chỗ, Pháp luật là qui tắc xử sự mang tính

bắt buộc chung

Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức: Yêu cầu của pháp luật là phảixác định chặt chẽ về mặt hình thức, được diễn đạt bằng lời văn, phải chínhxác, cụ thể, dễ hiểu, không đa nghĩa Nếu không đúng được yêu cầu này, chủthể sẽ hiểu sai, hiểu khác Pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận vàthông qua cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành Tuy nhiên mỗi một cơquan, loại cơ quan chỉ được ban hành những loại văn bản nhất định có tên gọixác định và theo một trình tự, thủ tục nhất định

Tính đảm bảo được thực hiện bằng Nhà nước Pháp luật do Nhà nướcban hành và thừa nhận đồng thời Nhà nước sẽ đảm bảo cho Pháp luật đó đượcthực hiện trong thực tiễn đời sống Nhà nước tạo điều kiện khuyến khích giúp

đỡ để chủ thể thực hiện pháp luật Nhà nước đảm bảo cho Pháp luật đượcthực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước

Tính cưỡng chế là tính không thể tách rời khỏi pháp luật Mục đíchcưỡng chế và cách thức cưỡng chế là tuỳ thuộc bản chất Nhà nước

Giáo dục pháp luật: Giáo dục pháp luật là vấn đề lý luận cơ bản có ý

nghĩa đặc biệt quan trọng trong khoa học giáo dục cũng như trong sự nghiệpgiáo dục của nước ta GDPL gắn liền với việc triển khai thực hiện pháp luậtcũng như trong hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật

Với tư cách là một loại hình giáo dục thì GDPL ở nước ta được hìnhthành và triển khai muộn hơn so với giáo dục chính trị và giáo dục đạo đức.GDPL là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáodục tác động đến đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyênnhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp lý và hành

vi phù hợp với các yêu cầu của pháp luật hiện hành Ý thức pháp luật là sản

Trang 14

phẩm, là kết quả của sự tác động tổng hợp của các yếu tố khách quan và nhân

tố chủ quan nhưng nhân tố chủ quan lại giữ vai trò chủ đạo, quyết định đến sựhình thành ý thức pháp luật

Trong xã hội hiện nay có rất nhiều các yếu tố khách quan mang tínhtiêu cực của cơ chế thi trường như: Tham ô, hối lộ, lối sống hưởng thụ lệchlạc đang tác động đến nhận thức, tư tưởng, niềm tin vào pháp luật, đi ngượclại với mục tiêu của nhà nước pháp quyền Vì vậy chúng ta phải tác động mộtcách có định hướng đến quá trình hình thành ý thức pháp luật cho công dân,tạo thói quen sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật cho mọi tầng lớpnhân dân

Cùng với giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, GDPL tạo ra những điềukiện và nhân tố thuận lợi cho quá trình quản lý nhà nước, quản lý xã hội Đối vớicông dân cần trang bị cho mình những kiến thức cơ bản về pháp luật để có thểhưởng đầy đủ quyền lợi, lợi ích và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân củamình Vì vậy GDPL giữ một vị trí, một vai trò vô cùng quan trọng trong việc tạonên nhân cách con người, là một trong những mục tiêu căn bản của giáo dục

Giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông

Từ cơ sở luận giải như trên, có thể hiểu: Giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, phối hợp thống nhất giữa nhà giáo dục và đối tượng giáo dục, nhằm nâng cao nhận thức, hình thành niềm tin và rèn luyện thói quen hành vi ứng xử cho học sinh theo đúng các quy định của pháp luật, đáp ứng mục tiêu giáo dục của nhà trường.

Mục tiêu giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông: Nhằmhình thành cho các em có kiến thức, hiểu biết, niềm tin vào hệ thống pháp luậtcủa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; trên cơ sở đó hình thành ý thứctự giác chấp hành pháp luật, rèn luyện thói quen, hành vi tuân thủ pháp luật,

Trang 15

Nội dung giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông: Là

giáo dục quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; về nội dung của Hiến pháp và các vănbản luật, các pháp lệnh, nghị định, thông tư, cùng với các quy định, quytắc, chuẩn mức xã hội đã được ban hành; giáo dục những nội dung liênquan đến đạo đức, kinh tế chính trị, xã hội, pháp luật cơ bản Nội dung giáodục pháp luật cho học sinh cần tập trung vào những quy định pháp luật cơbản, cần thiết liên quan đến học sinh như an toàn giao thông, quyền conngười, quyền công dân, pháp luật về thanh thiếu niên, pháp luật về an toàngiao thông, phòng chống các tội phạm các tệ nạn xã hội, luật bảo vệ môitrường, luật biển đảo Việt Nam, pháp luật về lao động và việc làm, hônnhân và gia đình, các quy định về pháp luật có liên quan đến công tác đảmbảo an ninh trật tự, nếp sống văn minh, luật giáo dục có liên quan đến họcsinh, các nội quy của nhà trường

1.1.2 Quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông

Quản lý là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con người xéttrên nhiều phạm vi cá nhân, tập thể, quốc gia hoặc nhóm quốc gia Hoạt độngquản lý xuất hiện khi loài người hình thành hoạt động nhóm Qua lao động, đểduy trì sự sống, đòi hỏi sự phối hợp hoạt động giữa các cá nhân con người.Hoạt động quản lý là một hiện tượng tất yếu phát triển cùng với sự phát triểncủa xã hội loài người nhằm đoàn kết nhau lại tạo nên sức mạnh tập thể, thốngnhất thực hiện một mục đích chung

Theo từ điển Tiếng Việt, quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêucầu nhất định; là tổ chức và điều khiển theo những yêu cầu nhất định

Theo Các Mác: “Bất cứ một lao động mang tính chất xã hội trực tiếphay lao động cùng nhau, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần đếnmức độ nhiều hay ít sự quản lý, nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công

Trang 16

việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ vận động củatoàn bộ cơ chế sản xuất, khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của

nó Một người chơi vĩ cầm riêng lẻ tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cầnngười chỉ huy” [26, tr 38]

Các Mác đã nói lên được bản chất của quản lý là một hoạt động lao động

để điều khiển quá trình lao động, một hoạt động tất yếu của xã hội loài người

Hoạt động lao động là khá phức tạp, phong phú và đa dạng, quản lý làmột hiện tượng lịch sử, xã hội Có nhiều nhà nghiên cứu về quản lý đã nêu lêncác khía cạnh khác nhau của khái niệm “Quản lý”

Theo Ômaror (Liên Xô) - 1983: Quản lý là tính toán sử dụng hợp lý cácnguồn lực nhằm thực hiện các nhiệm vụ của sản xuất và dịch vụ với hiệu quảkinh tế tối ưu

Theo W.Taylor - Người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động trongtừng bộ phận của nó, nêu ra hệ thống tổ chức lao động nhằm khai thác tối đathời gian lao động, sử dụng hợp lý nhất các công cụ và phương tiện lao độngnhằm tăng năng suất lao động thì quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xáccái gì cần làm và làm cái đó như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiềnnhất Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm bảo vệ sự hoàn thànhcông việc qua những nỗ lực của người khác

Ở Việt Nam, cũng đã có rất nhiều tác giả đưa ra những khái niệm về

QL Đó là:

Theo Bùi Trọng Tuân - Nguyễn Kì : “Quản lý là chức năng của những

hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau (kỹ thuật, sinh vật, xã hội),thực hiện những chương trình mục đích hoạt động” [33, tr.19]

Trong sự tác động qua lại giữa hệ thống và môi trường thì quản lý đượchiểu là đảm bảo hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự biến đổi liên tụccủa hệ thống và môi trường, là sự chuyển hệ thống đến trạng thái mới thích

Trang 17

ứng với hoàn cảnh mới “Quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mụcđích đến tập thể người, thành viên của hệ, làm cho hệ vận hành thuận lợi vàđạt mục đích dự kiến”.

Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý nhằm phối hợp sự nỗ lực củanhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựucủa xã hội” [24 tr.32]

Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của những ngườicộng sự khác nhau cùng chung tổ chức

Theo tác giả Phạm Viết Vượng, “ Quản lý là một quá trình tác động cóđịnh hướng, có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên cácthông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hànhcủa đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định”;

“Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thểnhững người lao động nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [40, tr 24]

Như vậy, bản chất của hoạt động quản lý một hệ thống là nhằm làmcho hệ thống đó vận động theo mục tiêu đã đặt ra và tiến đến các trạng thái cótính chất lượng mới Trong quản lý có chăm sóc, giữ gìn sự ổn định, có sửasang, sắp xếp, đổi mới để phát triển; Tuy nhiên hệ thống có sự ổn định màkhông có phát triển thì tất yếu cũng sẽ dẫn đến suy thoái Ngược lại hệ thốngphát triển mà không ổn định ắt sẽ dẫn đến rối ren Như vậy trong quản lý có

cả sự ổn định và sự phát triển

Nói về Nhà nước và quản lý Nhà nước trong tư tưởng của Chủ tịch HồChí Minh ta có thể thấy Người thể hiện một quan điểm khoa học, rõ ràng,minh bạch Người nói: “ Một Nhà nước pháp quyền có hiệu lực mạnh là Nhànước được cai trị bằng pháp luật và phải làm cho pháp luật có hiệu lực trongthực tế” và “Trong một Nhà nước dân chủ, dân chủ và pháp luật phải luônluôn đi đôi với nhau, nương tựa vào nhau ” Đồng thời “xây dựng một nền

Trang 18

pháp chế xã hội chủ nghĩa đảm bảo được việc thực hiện quyền lực của nhândân là mối quan tâm suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh” [27, tr.22].

Như vậy, quản lý là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực củađời sống xã hội, và được hiểu dưới những góc độ, quan điểm khác nhau.nhưng dù ở lĩnh vực hay góc độ nào đi nữa thì quản lý chính là sự tác động cóđịnh hướng, mang tính hệ thống, được thực hiện có ý thức, có tổ chức của chủthể quản lý lên đối tượng quản lý, bằng cách vạch ra mục tiêu của tổ chứcđồng thời tìm kiếm các biện pháp, cách thức tác động vào tổ chức nhằm đạtmục tiêu đề ra Quản lý là sự điều khiển có tổ chức và thoả mãn yêu cầu, mụctiêu đã đề ra, chứ không mang tính áp đặt, cai trị; Nhưng tuỳ theo nhữngtrường hợp cụ thể mà có những chính sách, biện pháp quản lý cứng rắn haymềm mỏng phù hợp nhất để luôn đạt được kết quả như mong muốn đồng thờiphải làm cho tổ chức, bộ máy ngày càng phát triển

Quản lý giáo dục:

Cũng như khái niệm quản lý nói chung, khái niệm quản lý giáo dục cho

đến nay được nhiều tác giả ở trong lẫn ngoài nước nêu ra và bàn luận như:

Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là quá trìnhtruyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người;

Giáo dục có vị trí đặc biệt quan trọng, không chỉ là sản phẩm xã hội màcòn là nhân tố tích cực, động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội

Trong xã hội hiện đại khi các quốc gia đua tranh về khoa học và côngnghệ thì giáo dục có vai trò quyết định giúp các quốc gia thắng lợi trong cuộctranh đua đó Phát triển giáo dục trở thành quốc sách hàng đầu thể hiện trongchiến lược và mọi chính sách của mỗi quốc gia

Trong các nước phát triển người ta vận dụng lý luận quản lý giáo dụcbắt nguồn từ lý luận quản lý xã hội Trong cuốn sách nổi tiếng “Con ngườitrong quản lý xã hội” A.Gafanaxép (Viện sĩ Liên Xô) chia xã hội thành 3 lĩnh

Trang 19

vực: “Chính trị - Xã hội”, “Văn hoá - Tư tưởng” và “Kinh tế” và từ đó có 3loại quản lý: “Quản lý chính trị - xã hội” , “Quản lý văn hoá - tư tưởng” và

“Quản lý kinh tế” Quản lý giáo dục nằm trong quản lý văn hoá - tư tưởng[17, tr97] Trong cuốn “Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục” thìM.I.Kôndakov viết: “Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh thì chúng takhông hiểu quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là hệ thống xã hội - sưphạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có khoahọc và có hướng chủ thể quản lý trên cơ sở các mặt của đời sống nhà trường

để bảo đảm sự vận hành tối ưu xã hội - kinh tế và tổ chức sư phạm của quátrình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên” [25, tr94]

Theo P.V Khuđôminxki (nhà lý luận Xô Viết): Quản lý giáo dục là tácđộng có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản

lý ở các cấp khác nhau đến các khâu của hệ thống (từ Bộ giáo dục đến nhàtrường) nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục Cộng sản chủ nghĩa cho thế hệtrẻ, đảm bảo phát triển toàn diện cho thế hệ trẻ, bảo đảm phát triển toàn diện

và hài hoà của họ

Theo Phó giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là hệ thống nhữngtác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làmcho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiệnđược các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểmhội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dựkiến, tiến lên trạng thái mới về chất”

Tác giả phạm Minh Hạc cho rằng “Quản lý giáo dục là quản lý trườnghọc, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm củamình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tớimục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từnghọc sinh”

Trang 20

Theo tác giả Bùi Trọng Tuân, “QLGD nói chung (và QL trường họcnói riêng) là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quiluật của chủ thể QL (hệ GD) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối vànguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trườngXHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế

hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới

về chất.” [33, tr.12]

Quản lý nhà trường phổ thông là quản lý hoạt động dạy và học tức làđưa hoạt động đó từ trạng thái này đến trạng thái khác để dần tiến tới mụctiêu giáo dục

Như vậy, công tác quản lý trường học bao gồm quản lý các quan hệgiữa trường học và xã hội và quản lý chính nhà trường

Quản lý giáo dục là quá trình tác động có định hướng của nhà quản lýgiáo dục (chủ thể) trong việc vận hành những nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa học quản lý vào lĩnh vực giáo dục nhằm đạt được cácmục tiêu giáo dục đề ra Những tác động đó thực chất là những tác động khoahọc đến nhà trường, làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kếhoạch quá trình dạy học - giáo dục theo mục tiêu đào tạo

Chủ thể quản lý là trung tâm thực hiện các tác động có mục đích củagiáo dục, trung tâm ra quyết định điều hành và kiểm tra các hoạt động của hệthống giáo dục theo mục tiêu đề ra

Đối tượng quản lý giáo dục bao gồm nguồn nhân lực của giáo dục, cơ

sở vật chất kĩ thuật của giáo dục và các hoạt động có liên quan đến việc thựchiện chức năng của giáo dục, đó chính là những đối tượng chịu sự tác độngcủa cán bộ quản lý (chủ thể) để thực hiện và biến đổi phù hợp với ý chí củachủ thể quản lý đã đề ra

Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản của quản lý giáo dục,trong đó đội ngũ giáo viên và học sinh là đối tượng quản lý quan trọng nhất,

Trang 21

nhưng đồng thời cũng là chủ thể trực tiếp thực hiện mục tiêu của quá trìnhquản lý giáo dục.

Có thể nói rằng QLGD chính là một quá trình tác động có định hướng củanhà QLGD (chủ thể) trong việc vận hành những nguyên lý, phương pháp chungnhất của khoa học quản lý vào lĩnh vực giáo dục nhằm đạt được những mục tiêugiáo dục đề ra Thực chất đó là những tác động khoa học đến nhà trường, làmcho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch quá trình dạy học, giáodục theo mục tiêu đào tạo Chủ thể của quản lý giáo dục là trung tâm thực hiệncác tác động có mục đích của giáo dục, ra quyết định, điều hành và kiểm tra cáchoạt động của hệ thống giáo dục theo mục tiêu đề ra Đối tượng của quản lý giáodục bao gồm nguồn nhân lực của giáo dục, cơ sở vật chất, kỹ thuật của giáo dục

và các hoạt động có liên quan đến việc thực hiện chức năng của giáo dục Đóchính là những đối tượng chịu sự tác động của chủ thể quản lý giáo dục để thựchiện và biến đổi phù hợp với ý chí của chủ thể quản lý đã đề ra

Như vậy, quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lựclượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ theoyêu cầu phát triển xã hội Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhấtcủa QLGD, trong đó đội ngũ giáo viên và học sinh là đối tượng quản lý quantrọng nhất nhưng đồng thời là chủ thể trực tiếp quản lý quá trình giáo dục

Quản lý giáo dục pháp luật:

Trên cơ sở những luận giải các khái niệm về Quản lý, Giáo dục pháp luật,quá trình Giáo dục pháp luật và quá trình vận dụng thực tiễn hoạt động giáo dục

và đào tạo ở các trường THPT huyện Tứ Kỳ, Tỉnh Hải Dương , tác giả quan

niệm: Quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông là sự tổ chức, điều khiển của chủ thể quản lý giáo dục đến toàn bộ quá trình giáo dục pháp luật cho học sinh để quá trình giáo dục pháp luật cho học sinh diễn ra theo đúng kế hoạch, đạt được mục tiêu giáo dục pháp luật của nhà trường .

Trang 22

Mục tiêu quản lý GDPL nhằm đảm bảo cho quá trình GDPL diễn ra theo

đúng kế hoạch, từ đó hình thành ý thức và hành vi tuân thủ pháp luật cho họcsinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục của nhà trường

Chủ thể quản lý GDPL bao gồm uỷ ban nhân dân huyện, hội đồng phối

hợp phổ biến GDPL huyện, ban giám hiệu nhà trường, hội đồng phối hợp phổbiến GDPL nhà trường, đoàn thanh niên, giáo viên bộ môn giáo dục công dân.Mỗi chủ thể quản lý GDPL đảm nhiệm những chức năng, nhiệm vụ nhất địnhtrong quá trình GDPL cho học sinh nhằm đảm bảo cho quá trình GDPL diễn

ra theo đúng kế hoạch và đạt được mục tiêu GDPL đề ra

Đối tượng quản lý GDPL là toàn bộ quá trình GDPL của nhà trường

bao gồm mục tiêu GDPL, nội dung, phương pháp, hình thức, thời gian, kếhoạch sử dụng nguồn nhân lực tham gia GDPL, kết quả GDPL và hoạt độngcủa lực lượng tham gia giáo dục pháp luật, học sinh

Phương thức quản lý GDPL rất đa dạng và phong phú Quản lý GDPL

thông qua các nghị quyết hội đồng sư phạm về việc chỉ đạo xây dựng và tổchức thực hiện kế hoạch GDPL, kiểm tra đánh giá kết quả GDPL, kiểm địnhchất lượng Để đạt được mục tiêu quản lý GDPL cần sử dụng các phươngthức quản lý GDPL một cách linh hoạt, phù hợp với nội dung, chủ thể, đốitượng quản lý GDPL trong từng giai đoạn nhất định

1.2 Nội dung quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông

1.2.1 Quản lý mục tiêu giáo dục pháp luật

Mục tiêu giáo dục là một hệ thống các chuẩn mực của một mẫuhình thành nhân cách cần hình thành ở một đối tượng người được giáodục nhất định Đó là một hệ thống các yêu cầu xã hội trong mỗi thời đại,trong từng giai đoạn nhất định, đối với nhân cách một loại đối tượnggiáo dục

Trang 23

Mỗi nội dung giáo dục đều có mục tiêu riêng và giáo dục pháp luậtcũng vậy Mục tiêu giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông làgiúp học sinh nâng cao hiểu biết, có ý thức tôn trọng thực thi pháp luật, gópphần tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật mọi lúc mọi nơi, góp phầnhình thành ý thức và phẩm chất công dân, xây dựng các mối quan hệ lànhmạnh, hoà nhập, yêu thương chia sẻ và giúp đỡ của học sinh với người thân,bạn bè và cộng đồng.

Để hình thành cho học sinh ý thức, lối sống và học tập theo hiến pháp

và pháp luật cần trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về pháp luật,xây dựng cho học sinh niềm tin vào pháp luật Từ đó học sinh sẽ có biện phápphòng và đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật, đấu tranh chống cáchiện tượng tiêu cực trong đời sống xã hội Mục tiêu giáo dục pháp luật đượcxây dựng phải phù hợp với yêu cầu giáo dục và đào tạo trong mỗi thời đại,trong từng giai đoạn với từng đối tượng giáo dục Quản lý mục tiêu giáo dụcpháp luật là quản lý mục tiêu, kế hoạch giáo dục pháp luật của chủ thể giáodục đến đối tượng giáo dục Đối với mỗi đơn vị giáo dục, xây dựng mục tiêugiáo dục, kế hoạch giáo dục mang tính chiến lược, khoa học là một trongnhững yếu tố quyết định đến hiệu quả giáo dục pháp luật

Mục tiêu giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông gồm cácmục tiêu:

Mục tiêu nhận thức: Mục tiêu nhận thức của giáo dục pháp luật cho học

sinh trung học phổ thông là sự phát triển về ý thức và tư duy pháp luật Họcsinh có sự hiểu biết cơ bản về những quy định của pháp luật và vai trò của phápluật trong đời sống xã hội Từ đó học sinh có thể nhận định đúng đắn về cáchiện tượng xã hội, hình thành ý thức về quyền và nghĩa vụ công dân

Mục tiêu thái độ, niềm tin: Là mục tiêu xây dựng cho học sinh niềm tin

vào pháp Đây là mục tiêu quan trọng Để học sinh sống và làm việc theo hiến

Trang 24

pháp luật nếu chỉ trang bị cho học sinh kiến thức pháp luật thôi thì chưa đủ

mà quan trọng nhất là phải xây dựng ở học sinh niềm tin vào pháp luật Từ đó

sẽ nâng cao ý thức trách nhiệm tuân thủ pháp luật, ý thức đấu tranh với cáchành vi vi phạm pháp luật

Mục tiêu hành vi: Khi hình thành ở học sinh được nhận thức và xúc

cảm với pháp luật sẽ hình thành được mục tiêu hành vi Khi các em đã hiểubiết và tin vào pháp luật các em sẽ luôn sống, học tập tuân thủ theo các quyđịnh của pháp luật, sẽ tích cực tham gia vào các mặt đời sống pháp lý, tíchcực đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật và biết cách bảo vệ quyềnlợi hợp pháp của mình

Để quản lý tốt mục tiêu giáo dục pháp luật cho học sinh các trườngtrung học phổ thông huyện Tứ Kỳ, chủ thể giáo dục phải căn cứ trên các luậtgiáo dục, quy chế đào tạo của nhà trường, nội dung chương trình, tình hìnhthực tiễn và các văn bản hướng thực hiện phổ biến giáo dục pháp luật của sởgiáo dục, các cấp các ngành có liên quan và thường xuyên cập nhật các văn bảnpháp luật mới và các văn bản quy phạm pháp luật cần thiết khác trong lĩnh vựcgiáo dục để xây dựng mục tiêu giáo dục pháp luật cho học sinh Đồng thời chủthể giáo dục phải thường xuyên kiểm tra đánh giá quá trình thực hiện, kết quảđạt được so với mục tiêu đề ra để có biện pháp điều chỉnh kịp thời

1.2.2 Quản lý chủ thể giáo dục pháp luật

Lực lượng tham gia giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổthông chủ yếu là giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn giáo dục công dân.Ngoài ra còn có sự tham gia của các báo cáo viên, tuyên truyền viên đến từcông an xã, công an huyện, đoàn thanh niên, hội phụ nữ

Chủ thể GDPL cho học sinh là một trong những nhân tố quan trọngtrực tiếp quyết định kết quả GDPL cho học sinh bởi họ là những người trựctiếp tham gia giảng dạy, rèn luyện ý thức chấp hành pháp luật cho học sinh

Trang 25

Vì vậy ban giám hiệu cần quản lý sâu sát chủ thể giáo dục pháp luật chohọc sinh cả về chuyên môn nghiệp vụ và lối sống Đảm bảo thầy luôn lànhững người chuẩn mực trong lời nói và hành vi, là tấm gương sáng chocác em học tập Quản lý chủ thể GDPL cho học sinh là xây dựng kế hoạch,

tổ chức, điều khiển và kiểm tra các hoạt động của các chủ thể GDPL Bangiám hiệu cần nắm vững trình độ, năng lực, tinh thần trách nhiệm của từng

cá nhân, đoàn thể tham gia vào công tác giáo dục pháp luật cho học sinh đểphân công nhiệm vụ phù hợp và có kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn nghiệp

vụ kịp thời cho lực lượng tham gia giáo dục pháp luật cho học sinh Đồngthời có chế độ chính sách phù hợp, để giáo viên chuyên tâm học hỏi bồidưỡng chuyên môn nghiệp vụ, tích cực tìm tòi đổi mới phương pháp nângcao chất lượng GDPL cho học sinh

1.2.3 Quản lý đối tượng giáo dục pháp luật

Căn cứ vào quyết định số 409/QĐ-TTg ngày 9/4/2012 của thủ tướngchính phủ, đối tượng giáo dục pháp luật là các em học sinh ở các trường trunghọc phổ thông Quản lý đối tượng giáo dục pháp luật là quản lý về số lượng,quản lý về kết quả nhận thức và khả năng vận dụng pháp luật vào học tập vàđời sống, quản lý về ý thức chấp hành pháp luật

Để quản lý tốt đối tượng giáo dục pháp luật, chủ thể quản lý giáo dụcphải nghiên cứu cứu kỹ nội dung chương trình, kế hoạch giáo dục và phối hợptốt với các lực lượng giáo dục trong nhà trường như giáo viên chủ nhiệm, giáoviên bộ môn, bộ phận quản sinh và phối hợp với các ban nhành như đoànthanh niên, hội phụ nữ nắm bắt tình hình rèn luyện, học tập, sinh hoạt củatập thể học sinh và từng học sinh để kịp thời khuyến khích những biểu hiệntích cực, động viên, định hướng cho những trường hợp có biểu hiện tiêu cực,nguy cơ vi phạm nội quy, vi phạm pháp luật cao, xử lý nghiêm những trườnghọp vi phạm nội quy, vi phạm pháp luật

Trang 26

Các em học sinh đang trong tầm tuổi đang lớn, rất dễ bị rủ rê, lôikéo, sa ngã vào những hoạt động không lành mạnh, rất dễ đi sai hướng nếukhông được quan tâm, định hướng trong học tập và cuộc sống xã hội Vìvậy trong hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh, chủ thể quản lý giáodục phải luôn luôn sâu sát, nắm bắt sĩ số học sinh, trình độ nhận thức,phẩm chất đạo đức của từng em để phân loại và có những biện pháp giáodục phù hợp với từng đối tượng học sinh nhằm đạt được hiệu quả quản lý

và giáo dục pháp luật cao nhất

1.2.4 Quản lý nội dung giáo dục pháp luật

Quản lý nội dung giáo dục pháp luật cho học sinh là quản lý hệ thốngkiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cần trang bị cho học sinh Thực chất, quản lý nộidung GDPL là quán triệt mục tiêu, yêu cầu GDPL của nhà trường vào từngnội dung đảm bảo tính nhất quán cao Quản lý nội dung là quản lý việc thiết

kế, xây dựng chương trình, nội dung và quá trình triển khai thực hiện chươngtrình GDPL cho học sinh

Nội dung giáo dục pháp luật cho học sinh THPT là giáo dục những nộidung liên quan đến đạo đức, kinh tế chính trị, xã hội, pháp luật cơ bản Nộidung giáo dục pháp luật cho học sinh cần tập trung vào những quy định phápluật cơ bản, cần thiết liên quan đến học sinh như an toàn giao thông, quyềncon người, quyền công dân, pháp luật về thanh thiếu niên, pháp luật về antoàn giao thông, phòng chống các tội phạm các tệ nạn xã hội, luật bảo vệ môitrường, luật biển đảo Việt Nam, pháp luật về lao động và việc làm, hôn nhân

và gia đình, các quy định về pháp luật có liên quan đến công tác đảm bảo anninh trật tự, nếp sống văn minh, luật giáo dục có liên quan đến học sinh, cácnội quy của nhà trường

Để quản lý tốt nội dung giáo dục pháp luật, chủ thể quản lý giáo dụccần căn cứ vào nội dung chương trình môn giáo dục công dân, các công văn

Trang 27

hướng dẫn giáo dục pháp luật cho học sinh của bộ tư pháp, hội đồng phổ biếnpháp luật của tỉnh, sở giáo dục và đào tạo và căn cứ vào đối tượng phổ biếnpháp luật để xây dựng nội dung Nội dung phổ biến pháp luật phải có trọngtâm trọng điểm

Nội dung GDPL cho học sinh phải đảm bảo tính khoa học, hiện đại,thiết thực, đảm bảo phát huy năng lực người học Ban giám hiệu cần quántriệt sâu sắc mục tiêu GDPL đến toàn bộ hội đồng sư phạm, đặc biệt là nhữngngười trực tiếp quản lý, giáo dục pháp luật cho các em

1.2.5 Quản lý phương pháp giáo dục pháp luật

Phương pháp giáo dục là hệ thống những tác động của nhà giáo dụcđến các đối tượng giáo dục thông qua tổ chức cuộc sống, hoạt động và giaolưu xã hội nhằm giúp họ hình thành ý thức, thái độ và hành vi phù hợp vớicác chuẩn mực xã hội

Phương pháp giáo dục có tính cụ thể và rất đa dạng, có liên quan mậtthiết đến từng nội dung giáo dục Nội dung giáo dục rất phong phú, mỗi nộidung giáo dục cần tìm ra một phương pháp giáo dục đặc thù Phương phápgiáo dục là một trong những thành tố quan trọng của quá trình giáo dục.Trong nhiều trường hợp phương pháp giáo dục quyết định sự thành bại củacác hoạt động giáo dục

Phương pháp giáo dục rất đa dạng và có thể chia thành ba nhóm chính:

Nhóm phương pháp tác động vào ý thức: mục đích là giúp cho học sinh

có những hiểu biết mới hoặc xoá bỏ những nhận thức sai lầm mắc phải Baogồm các phương pháp: Nêu gương,khuyên bảo, thảo luận, tạo dư luận

Nhóm phương pháp tạo lập hành vi, thói quen: Mục đích giúp học sinh

hình thành các thói quen, hành vi có văn hoá cho các đối tượng giáo dục Baogồm các phương pháp: Giao việc, rèn luyện, tổ chức các hoạt động cho học sinh

Trang 28

Nhóm phương pháp điều chỉnh thái độ: Nhằm tạo hưng phấn thúc đẩy

tính tích cực hoạt động của học sinh hoặc điều chỉnh những sai lầm mắc phải.Bao gồm các phương pháp: Thi đua, khen thưởng, trách phạt

Mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm riêng Mỗi phươngpháp giáo dục có tác dụng đối với một hay nhiều khâu, một hay nhiều nộidung, một hay nhiều tình huống cụ thể Hơn thế nữa, đối tượng giáo dục làcon người, mỗi con người là một thế giới, có những đặc điểm tâm lý khácnhau Vì vậy, mỗi phương pháp giáo dục chỉ phát huy được hiệu quả khi nóphù hợp với đối tượng giáo dục Vì vậy trong quá trình tổ chức các hoạt độnggiáo dục, nhà giáo dục cần biết lựa chọn và phối hợp các phương pháp mộtcách linh hoạt để hoạt động giáo dục đạt được kết quả cao nhất, phát huy nănglực người học

Để lựa chọn phương pháp giáo dục phù hợp với nội dung và đối tượnggiáo dục, chủ thể quản lý giáo dục cần căn cứa vào mục tiêu giáo dục, đặcđiểm tâm sinh lý, trình độ nhận thức, thói quen hành vi của các đối tượng giáodục, môi trường nơi diễn ra quá trình giáo dục

Để quản lý tốt phương pháp giáo dục chủ thể quản lý cần thường xuyênkiểm tra để có biện pháp điều chỉnh kịp thời

1.2.6 Quản lý hình thức tổ chức giáo dục pháp luật

Hình thức tổ chức giáo dục là cách thức tổ chức hoạt động phối hợpgiữa chủ thể giáo dục và đối tượng giáo dục Hình thức giáo dục được tổchức theo trật tự và chế độ nhất định nhằm thực hiện các nhiệm vụ giáodục, hình thành ở người được giáo dục ý thức và tình cảm tích cực với cácchuẩn mực xã hội, đặc biệt là hành vi và thói quen hành vi phù hợp với cácchuẩn mực đó Hình thức tổ chức giáo dục cho học sinh có thể là lên lớp (Bộmôn giáo dục công dân), thảo luận, ngoại khoá, tham quan các hình thức tổchức giáo dục pháp luật được thực hiện theo phạm vi toàn trường, lớp, từng

Trang 29

nhóm, từng cá nhân (Thường áp dụng với những đối tượng có nguy cơ cao)với sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của nhà giáo.

Hình thức tổ chức giáo dục chịu sự chi phối của mục tiêu giáo dục vànội dung giáo dục Dù chọn hình thức tổ chức giáo dục nào cũng phải đảmbảo tính khoa học và hiệu quả giáo dục Để hoạt động giáo dục được hiệuquả, chủ thể quản lý giáo dục phải quản lý chặt chẽ hình thức, phương pháp tổchức giáo dục Để quản lý hình thức, phương pháp giáo dục cho học sinh yêucầu trong kế hoạch giáo dục pháp luật cho học sinh cần xác định rõ các hìnhthức, phương pháp tiến hành với từng nội dung cụ thể, các phương pháp giáodục pháp luật phải phù hợp với đối tượng giáo dục và điều kiện thực tiễn củanhà trường, phù hợp với từng giai đoạn, từng thời kỳ

Tích cực bồi dưỡng kiến thức pháp luật, phương pháp tổ chức giảngdạy, cập nhật các thông tin pháp luật cho đội ngũ giáo viên chuyên trách

Thường xuyên kiểm tra đánh giá việc tổ chức các hình thức giáo dụcpháp luật cho học sinh để kịp thời định hướng rút kinh nghiệm cho các lựclượng tham gia giáo dục

1.2.7 Quản lý phương tiện giáo dục pháp luật

Phương tiện giáo dục pháp luật cho học sinh là các phương tiện thôngtin, tranh ảnh, tài liệu, áp phích, tờ rơi, tủ sách pháp luật (Tủ sách pháp luậttrưng bày các văn bản quy phạm pháp luật mới, có liên quan trực tiếp đếncông tác quản lý, giáo dục pháp luật) Bố trí tủ sách pháp luật phù hợp, tiệncho việc tra cứu của giáo viên và học sinh Để bổ sung phương tiện giáo dụcpháp luật, chủ thể quản lý giáo dục có thể phát động phong trào xây dựng tủsách pháp luật, các cuộc thi sáng tác tiểu phẩm có nội dung về thực trạng viphạm pháp luật Quản lý về phương tiện giáo dục pháp luật là quản lý vềchủng loại, số lượng, chất lượng và niên hạn sử dụng các phương tiện vậtchất, quản lý đối tượng khai thác sử dụng và hiệu quả sử dụng

Trang 30

Để quản lý tốt về phương tiện giáo dục pháp luật, chủ thể quản lý giáodục cần giao trách nhiệm chuyên trách cho giáo viên và thường xuyên kiểmtra bảo quản, sử dụng.

1.2.8 Quản lý kết quả giáo dục pháp luật

Kiểm tra là quá trình sử dụng các công cụ để xem xét sự phù hợp giữasản phẩm và các tiêu chí đã đề ra về chất lượng hoặc số lượng của sản phẩm

mà không quan tâm đến quyết định đề ra tiếp theo

Đánh giá là quá trình thu thập thông tin để xác định mức độ đạt đượccủa các mục tiêu giáo dục đề ra và đưa ra quyết định tác động vào quá trìnhgiáo dục, đào tạo nhằm đạt được kết quả cao nhất

Kiểm tra đánh giá bao gồm kiểm tra đánh giá về nhận thức, thái độ,hành vi của tất cả các đối tượng tham gia vào giáo dục pháp luật cho học sinh:Giáo viên tham gia giảng dạy giáo dục, người học, cán bộ quản lý giáo dụcpháp luật, nội dung chương trình, cơ sở vật chất

Hình thức kiểm tra đánh giá:

Kiểm tra đánh giá thường xuyên: Được thực hiện thông qua quan sátmột cách có hệ thống hoạt động dạy và học của giáo viên, của học sinh hìnhthức kiểm tra đánh giá này được thực hiện hàng ngày, hàng tuần

Kiểm tra định kỳ: Hình thức kiểm tra này được thực hiện sau khi họcsinh học song một chương, một phần của chương trình hoặc sau một học kỳ.Thời điểm kiểm tra được quy định trong khung phân phối chương trình Hìnhthức kiểm tra này giúp giáo viên và học sinh, chủ thể quản lý giáo dục nhìnnhận lại kết quả quản lý, kết quả dạy và học sau những kỳ hạn nhất định

Kiểm tra tổng kết : Hình thức kiểm tra này được thực hiện vào cuốichương trình, cuối năm học giúp nhà quản lý nhằm đánh giá kết quả chung,nhìn nhận đánh giá những việc đã là được, những việc chưa làm được, điểmmạnh, điểm yếu để có kế hoạch củng cố mở rộng chương trình toàn năm củamôn học, chuẩn bị điều kiện để tiếp tục học chương trình năm sau

Trang 31

1.3 Những yếu tố tác động đến quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông

1.3.1 Tác động từ điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội

Đất nước ta từ một nền nông nghiệp lạc hậu với số đông dân số làmnông nghiệp, đến nay đã xây dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng kinh tế-xã hội từng bước đáp ứng được cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

và chuyển từ nền nông nghiệp tư cung tự cấp sang nền kinh tế có tư duy côngnghiệp Quy mô nền kinh tế càng ngày càng được mở rộng, chỉ số phát triểnkinh tế tăng cao, thu nhập đầu người đã vượt khỏi ngưỡng thu nhập thấp Kinh

tế Việt Nam đang dần từng bước hoà nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới.Những thành tựu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đưa đất nướcngày càng phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân vàgóp phần đảm bảo an ninh, quốc phòng Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càngsâu rộng và hiệu quả đem lại nhiều nguồn lực bên ngoài cho công cuộc côngnghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước ta Đồng thời, làm cho hệ thống chínhsách pháp luật và thực thi có bước tiến quan trọng và ngày càng hiệu quả Nềnkinh tế hội nhập với khu vực và thế giới đòi hỏi con người phải nhạy bén, thíchnghi với thời cuộc hơn Để làm được điều đó mỗi người cần trang bị cho mìnhkiến thức về xã hội, về khoa học kỹ thuật và đặc biệt là khoa học pháp lý Bêncạnh ấy, những giá trị truyền thống đang dần bị mất đi, sự suy thoái về đạo đứccủa một số cán bộ làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với đảng và nhànước Môi trường sống nhiều nơi đang bị ô nhiễm, tài nguyên thiên nhiên đangdần bị cạn kiệt Các thế hệ thù địch luôn nhòm ngó, chúng nhân danh dân chủ,nhân quyền nhằm chống đối chế độ chính trị của nước ta Điều này đã tác độngrất lớn đến quản lý GDPL cho học sinh THPT

Để đánh giá mức độ ảnh hưởng của điều kiện kinh tế, chính trị, xã hộicủa đất nước đến quản lý GDPL cho học sinh tác giả đã xin ý kiến của 196cán bộ, giáo viên, nhân viên của các trường THPT, có 92,9% cho là ảnhhưởng nhiều; 7,1% cho là ảnh hưởng ít

Trang 32

Bảng 1.1 Mức độ ảnh hưởng của điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước tới quản lý giáo dục pháp luật

Mức độảnhhưởng ảnh hưởng nhiều ảnh hưởng ít Không ảnh hưởng

Số lượng 182 14 0

1.3.2 Tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường

Đất nước ta đang tiến hành đổi mới cơ bản, toàn diện trên mọi lĩnh vựccủa đời sống trong đó có đổi mới nền kinh tế là trọng tâm Nền kinh tế của đấtnước chúng ta chuyển từ mô hình kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa Cơ chế thị trường kích thích sự phát triển củanền kinh tế Con người của nền kinh tế thị trường trở lên năng động, sáng tạo,tự chủ nhưng bên cạnh ấy, nền kinh tế thị trường cũng tác động tiêu cực đếnđời sống xã hội Xã hội ngày càng phân hoá giàu nghèo rõ rệt, làm nảy sinhnhững mâu thuẫn xã hội, nảy sinh các tệ nạn xã hội như tham ô, hối lộ, bạolực xuất hiện lối sống thực dụng chạy theo đồng tiền, tự do buông thả, chủnghĩa cá nhân, coi thường pháp luật và những giá trị truyền thống làm ảnhhưởng đến nhân phẩm, giá trị đạo đức của con người Điều này đã tác độngrất lớn đến quản lý GDPL cho học sinh

Tác giả đã xin ý kiến của 196 cán bộ, giáo viên và nhân viên về mức độảnh hưởng từ mặt trái của nền kinh tế thị trường đến quản lý GDPL cho họcsinh kết quả thu được như sau: 95,4% cho là ảnh hưởng nhiều; 4,6% cho làảnh hưởng ít

Bảng 1.2 Mức độ ảnh hưởng từ mặt trái của nền kinh tế thị trường tới quản lý giáo dục pháp luật

Mức độ ảnh hưởng ảnh hưởng nhiều ảnh hưởng ít Không ảnh hưởng

Số lượng 187 9 0

% 95,6 4,4 0

Từ thực tế GDPL cho học sinh các trường THPT thấy rằng để quá trìnhGDPL cho học sinh đạt kết quả cao cần phải có biện pháp hạn chế đến mức

Trang 33

thấp nhất những tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường đến quản lýGDPL cho học sinh THPT.

1.3.3 Tác động từ yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo của đất nước ta hiện nay

Giáo dục nước ta đang đứng trước một yêu cầu cần phải đổi mới cơ bản,toàn diện đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, xây dựng vàbảo vệ tổ quốc ta trong giai đoạn hiện nay Đổi mới cơ bản toàn diện giáo dụcbao gồm: Đổi mới tư duy, đổi mới mục tiêu giáo dục ( kết quả học tập được mô

tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được, thể hiện được mức độ tiến bộ củahọc sinh một cách liên tục; đồng thời còn thể hiện ở khả năng ứng xử, giảiquyết những tình huống đặt ra một cách phù hợp), hệ thống tổ chức giáo dục,loại hình giáo dục và đào tạo, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, đổimới cơ chế quản lý, đổi mới xây dựng nguồn nhân lực giáo dục đặc biệt là cán

bộ quản lý giáo dục, trong toàn hệ thống giáo dục Trong quá trình đổi mới cần

kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, chấn chỉnhnhững việc làm lệch lạc, học hỏi một cách chọn lọc tinh hoa của nhân loại

Tác giả đã tiến hành xin ý kiến 196 cán bộ, giáo viên, nhân viên vềmức độ ảnh hưởng của yêu cầu đổi mới cơ bản, toàn diện của đất nước ta hiệnnay có 93,4 % cho là ảnh hưởng rất nhiều Như vậy, quản lý GDPL cho họcsinh các trường THPT chịu sự chi phối rất lớn từ yêu cầu chung của sự nghiệpgiáo dục của đất nước

Bảng 1.3 Mức độ ảnh hưởng từ yêu cầu đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục của đất nước ta đến quản lý giáo dục pháp luật

Mức độ ảnh hưởng ảnh hưởng nhiều ảnh hưởng ít Không ảnh hưởng

Trang 34

toàn diện, có đạo đức, có tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trungthành với lý tưởng dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhâncách, phẩm chất và năng lực của công dân đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xâydựng và bảo vệ tổ quốc

Mục tiêu giáo dục của các trường THPT huyện Tứ Kỳ, Tỉnh HảiDương luôn bám sát mục tiêu chung của ngành giáo dục và đào tạo Nhàtrường luôn nỗ lực giúp các học sinh củng cố và phát triển những kết quả củagiáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biếtthông thường về hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựachọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyênnghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động

Bên cạnh đó, nhà trường luôn xác định các em đang ở độ tuổi hìnhthành và phát triển nhân cách, tâm lý chưa ổn định, rất dễ bị tác động khôngtốt từ điều kiện ngoại cảnh nếu không được giáo dục, định hướng phát triểnnhân cách chuẩn mực Vì vậy, nhà trường luôn sát sao trong việc quản lý,giáo dục các em thực hiện tốt nền nếp nội quy của nhà trường và các quy địnhcủa pháp luật Nhờ vậy, chất lượng quản lý giáo dục pháp luật trong nhữngnăm qua của nhà trường đã dần từng bước được cải thiện

Để đánh giá về mức độ ảnh hưởng từ mục tiêu, yêu cầu giáo dục, đào

tạo của các trường THPT đến quản lý GDPL cho học sinh, tác giả đã xin ý

kiến của 196 cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, kết quả thu được như sau:91,3% cho là ảnh hưởng nhiều; 8,7% cho là ảnh hưởng ít Như vậy, đây làmột trong những yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến quản lý GDPL cho học sinh

Bảng 1.4 Mức độ ảnh hưởng từ mục tiêu, yêu cầu của các trường

THPT tới quản lý giáo dục pháp luật

Mức độ ảnh hưởng ảnh hưởng nhiều ảnh hưởng ít Không ảnh hưởng

Số lượng 179 17 0

Trang 35

% 91,3 8,7 0

Rõ ràng, để quản lý GDPL cho học sinh các trường THPT đạt kết quảcao, chủ thể quản lý giáo dục cần nắm bắt chắc chắn những yếu tố tác động vàmức độ tác động của mỗi yếu tố đến quản lý GDPL cho học sinh để thúc đẩynhững yếu tố tích cực và hạn chế những yếu tố tiêu cực

*

* * Pháp luật là phương tiện quan trọng để nhà nước quản lý xã hội, để

công dân thực hiện nghĩa vụ và bảo vệ các quyền lợi ích hợp pháp của mình

Để làm được điều đó mỗi công dân cần có những kiến thức cơ bản về phápluật, đặc biệt là lứa tuổi học sinh THPT, các em đang ở độ tuổi hình thành vàphát triển nhân cách Vì vậy, GDPL là nội dung rất quan trọng trong chươngtrình, kế hoạch giáo dục của các trường THPT Trên đây, tác giả đã tập trungnghiên cứu các khái niệm về GDPL, quản lý GDPL; nghiên cứu nội dungquản lý GDPL và những yếu tố tác động đến quản lý GDPL cho học sinhTHPT, đó là cơ sở nền tảng để tác giả nghiên cứu thực trạng về quản lýGDPL cho học sinh các trường THPT huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

Chương 2

CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG

Trang 36

2.1 Khái quát đặc điểm giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

2.1.1 Đặc điểm về đối tượng giáo dục pháp luật ở các trường trung học phổ thông huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

Huyện Tứ kỳ - cái tên có từ trước đời Lý - Trần, thuộc châu Hạ Hồng,phủ Tân An; đến đời Nguyễn thuộc phủ Ninh Giang, rồi sau đó là phủ Tứ Kỳthuộc tỉnh Hải Dương Huyện Tứ Kỳ nằm về phía Đông Nam tỉnh HảiDương; nằm dọc trục đường 191 nối đường quốc lộ 5 (từ Hà Nội đi HảiPhòng) với đường quốc lộ 10 (từ Hải Phòng đi Thái Bình) Tứ Kỳ là huyện cótruyền thống cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ Ngườidân trong huyện có truyền thống hiếu học lâu đời Hiện tại huyện có 3 trườngTHPT công lập với hơn ba nghìn học sinh Các trường đều được thành lập từnhiều năm nay, có bề dày về thành tích và truyền thống học tập Trong nhiềunăm qua, các trường luôn đạt được rất nhiều thành tích trong học tập: Tỉ lệhọc sinh đỗ tốt nghiệp cao, số lượng học sinh đỗ vào các trường đại học luôn

là một trong các trường cao nhất tỉnh

Học sinh là con em khu vực nông thôn, nhìn chung các em thuần chấtngoan ngoãn, lễ phép, chăm chỉ, cần cù trong lao động và học tập Phần lớncác em xuất thân từ gia đình có bố mẹ làm nông nghiệp, cuộc sống còn gặpnhiều khó khăn Nhưng đây cũng chính là nguồn động lực to lớn giúp các em

có sự phấn đấu cao trong học tập, biết tận dụng mọi thời gian có thể để họctập và rèn luyện bản thân Ngoài thời gian học tập các em còn giúp cha mẹnhững công việc nhỏ trong gia đình, có những em còn tham gia vào việc làmtăng thêm thu nhập cho gia đình mà vẫn đảm bảo được việc học tập của mình.Cha mẹ các em chủ yếu là làm nông nghiệp hết sức vất vả và ít có thời gianquan tâm sát sao tới các em, nhưng vẫn giành cho các em tình thương yêuquan tâm hết sức có thể để các em có được tinh thần và vật chất cao nhất

Trang 37

trong khả năng của mình để giúp các em có thể học tập được tốt nhất

Bên cạnh sự cố gắng phấn đấu của các em, và sự quan tâm của gia đình

là sự nhiệt huyết của các thầy cô trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo Chấtlượng giáo dục ở bậc THPT nói riêng và các cấp nói chung trên địa bàn huyện

Tứ Kỳ được hết sức quan tâm và đã đạt được những thành tích đáng tự hàotrong những năm qua Chất lượng giáo dục có sự chuyển biến tích cực trong

cả giáo dục đại trà và giáo dục mũi nhọn Các năm gần đây huyện đã có họcsinh giỏi đạt giải quốc gia Các thầy cô giáo luôn quan tâm tới đời sống, tìnhcảm của học sinh, tôn trọng, thương yêu học sinh, nâng cao chất lượng giờ

dạy để học sinh học tốt hơn, yêu trường mến lớp

Trong năm học, các nhà trường luôn thực hiện nghiêm túc chương trình,thời khoá biểu, mở rộng và nâng cao kiến thức phù hợp cho các đối tượng họcsinh Đội ngũ giáo viên nhiệt tình, có ý thức trách nhiệm, có kiến thức và trình

độ chuyên môn cao Bên cạnh việc dạy có chất lượng ở các giờ học trên lớp, nhàtrường luôn quan tâm đến chương trình, chất lượng buổi hoạt động ngoại khoácho các em giúp học sinh tích cực hơn, chủ động hơn và sáng tạo hơn trong họctập cũng như trong cuộc sống Chính vì vậy học sinh nhà trường luôn mạnh dạntự tin trong các giờ học trên lớp và các hoạt động giáo dục ngoài giờ Phong trào:

"Xây dựng Trường học thân thiện - Học sinh tích cực" được các nhà trườngTHPT trên địa bàn huyện Tứ Kỳ chú trọng và đẩy mạnh

Ngoài công tác giáo dục văn hoá, công tác thể dục thể thao cũng đượccác nhà trường chú trọng nhằm rèn luyện sức khoẻ, nâng cao thể lực và pháttriển tư duy cho học sinh Vì vậy, học sinh THPT Tứ Kỳ không những học tậptốt mà còn có một sức khoẻ và lối sống văn minh lành mạnh

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đã đạt được, học sinh THPT Tứ

Kỳ còn tồn tại những hạn chế bất cập:

Phần lớn các em có xuất thân từ gia đình làm nông, bố mẹ vất vả hầu

Trang 38

như không có thời gian quan đúng lúc tới con cái, không có trình độ giáo dụccon, cũng như không hiểu được tâm lý lứa tuổi các em nên có một bộ phậnnhỏ học sinh THPT còn lười học, tự ti về hoàn cảnh xuất thân gia đình, sa súttrong học tập Bên cạnh những học sinh biết vươn lên trên hoàn cảnh khókhăn của gia đình, lấy đó làm động lực trong học tập thì có 1 bộ phận họcsinh du nhập những thói hư tật xấu, không chịu học tập mà sa ngã vào các tệnạn học đường như: Vô lễ với thầy cô, gây gổ đánh nhau với bạn bè, tụ tập ănchơi, bỏ học…

Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin còn mang lại nhữngtác động hai mặt tới các em: CNTT là nguồn thông tin dễ truy cập, có nhiềutrang mạng học tập phục vụ cho việc học của các em, thì đây còn là nguyênnhân làm cho các em sa ngã, bỏ bê học hành như: chơi điện tử, chat chít, truycập vào các trang mạng không lành mạnh…

Vị trí địa lý của huyện có nhiều thuận lợi cho việc giao lưu văn hoá,học hỏi với các bạn tỉnh ngoài như: Hải Phòng, Thái Bình, đây cũng là điềukiện cho việc du nhập các nguồn văn hoá, lối sống, các trò chơi không lànhmạnh, làm cho các em với những hiểu biết xã hội còn non nớt đã sa ngã vàonhững thứ đó dẫn tới bỏ học, nghỉ học…

Điều đó đặt ra cho lãnh đạo các trường cần phải sâu sát hơn nữa trongsuốt quá trình giáo dục và đào tạo Nhà trường cần không ngừng nâng caochất lượng đào tạo, đây là mục tiêu, là thước do để khẳng định tên tuổi củanhà trường Do vậy, công tác nâng cao chất lượng giảng dạy là yêu cầu hàngđầu, trong đó chương trình GDPL luôn luôn được chú trọng, nhằm trang bịcho học sinh những kiến thức cơ bản của pháp luật góp phần nâng cao nhậnthức và ý thức chấp hành pháp luật trong lứa tuổi vị thành niên

1.2.2 Đặc điểm giáo dục pháp luật cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

Trang 39

Trung học phổ thông là cấp học cao nhất trong hệ thống giáo dục phổthông có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức cơ bản, toàndiện, hướng nghiệp, phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam về tất cả cáclĩnh vực như: Pháp luật, khoa học, văn học, nghệ thuật Để các em tiếp tụchọc lên ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp dạy nghềhoặc bước vào cuộc sống trực tiếp lao động sản xuất Do vậy, giáo dục nhàtrường luôn mang tính mục đích, phản ánh các chức năng, nhiệm vụ của giáodục và đào tạo GDPL cho học sinh trong các trường THPT mang những đặcđiểm riêng về đối tượng giáo dục, chủ thể giáo dục, hình thức và phương phápgiáo dục, về mục tiêu, nội dung giáo dục pháp luật.

Mục tiêu GDPL cho học sinh bao gồm các mục tiêu về nhận thức, mụctiêu cảm xúc và mục tiêu hành vi Cả ba mục tiêu này đều giữ vai trò quantrọng và có mối liên hệ mật thiết với nhau Nếu chỉ có kiến thức pháp luật màkhông có niềm tin vào pháp luật thì con người dễ hành động sai lệch so vớichuẩn mực của pháp luật, dễ lợi dụng những hiểu biết pháp luật của mình để

tư lợi cá nhân

Chủ thể GDPL bao gồm nhà quản lý giáo dục, cán bộ tư vấn, giáo viên

bộ môn giáo dục công dân, giáo viên một số bộ môn khác, hội đồng phối hợpphổ biến GDPL, đoàn thanh niên Lực lượng GDPL phần lớn đều có trình độ,

có năng lực, nhiệt tình, tâm huyết trong công tác giảng dạy

Nội dung giáo dục pháp luật trong chương trình đào tạo nằm trong bộmôn giáo dục công dân lớp 12

Nội dung giáo dục pháp luật thường xuyên: Nội dung này bám theo kếhoạch GDPL do hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật nhà trườngbiên soạn dựa trên kế hoạch GDPL của hội đồng phối hợp phổ biến giáo dụcpháp luật của uỷ ban nhân dân tỉnh nhằm phổ biến kịp thời, thường xuyên cácluật mới ban hành và các văn bản quy phạm luật cần thiết khác trong lĩnh vực

Trang 40

giáo dục Nội dung trọng tâm phổ biến giáo dục pháp luật là: Luật phổ biếngiáo dục pháp luật, luật giao thông đường bộ, luật lao động, chiến lược pháttriển giáo dục giai đoạn 2011 - 2020, quy chế đánh giá kết quả học tập rènluyện đạo đức

Hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật cho học sinh các trườngTHPT huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương: Nhà trường luôn xác định, GDPL làmột trong những nội dung trọng tâm của năm học Vì vậy, công tác GDPLluôn được quan tâm chỉ đạo tổ chức thực hiện và được quản lý tương đốisát sao

Về hình thức: Hình thức GDPL rất đa dạng Đối với nội dung giáo dụcpháp luật nằm trong bộ môn giáo dục công dân và tích hợp trong một số mônnhư sinh học địa lý, lịch sử được thực hiện dưới hình thức giáo viên lên lớptập trung Đối với các nội dung GDPL do hội đồng phối hợp phổ biến giáodục pháp luật của nhà trường xây dựng được tiến hành với nhiều hình thứckhác nhau như tuyên truyền qua trang web của nhà trường, qua tờ rơi, ápphích, tuyên truyền qua các tiết ra chơi giữa giờ, qua các cuộc thi tìm hiểupháp luật, qua các buổi sinh hoạt ngoại khoá theo chuyên đề

Về phương pháp GDPL: phương pháp GDPL cho học sinh trong trườngTHP được tiếp cận liên ngành khoa học pháp lý và khoa học sư phạm Vì vậyphương pháp GDPL bao gồm hệ thống phương pháp thuyết phục, hệ thốngphương pháp hình thành kỹ năng, kỹ xảo, hành vi và thói quen thực hiện phápluật, hệ thống phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi và hệthống phương pháp dạy học môn giáo dục công dân Phương pháp dạy họcmôn giáo dục công dân chủ yếu là phương pháp thuyết trình, phương phápđàm thoại, phương pháp trực quan, phương pháp nêu tình huống có vấn đề,phương pháp làm việc nhóm, phương pháp dự án

Để quản lý tốt GDPL cho học sinh, chủ thể quản lý giáo dục cần nghiên

Ngày đăng: 07/06/2017, 09:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A.G.Affanaxep (1979), Con người trong quản lý xã hội, Bản tiếng việt, Nxb Khoa học và xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người trong quản lý xã hội
Tác giả: A.G.Affanaxep
Nhà XB: Nxb Khoa học và xã hội
Năm: 1979
11. Nguyễn Cảnh Chất (2004), Tinh hoa quản lý, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa quản lý
Tác giả: Nguyễn Cảnh Chất
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2004
12. Chính phủ (2001), Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010, Ban hành kèm theo quyết định số 201/2001/GD-TTg ngày 25/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2001
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
17. Nguyễn Văn Động (2009), Giáo trình Lý Luận về Nhà nước và Pháp luật, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý Luận về Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Nguyễn Văn Động
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
18. Trần Khánh Đức (2001), Giáo dục và Phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI , Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và Phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
19. Trần Ngọc Đường (1988), Giáo dục ý thức pháp luật với việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục ý thức pháp luật với việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1988
20. Trần Ngọc Đường và Dương Thanh Mai (1995), Bàn về giáo dục pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về giáo dục pháp luật
Tác giả: Trần Ngọc Đường và Dương Thanh Mai
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
21. Phạm Minh Hạc (1986), Một số vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1986
22. Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo (2001), Từ điển Giáo dục học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Giáo dục học
Tác giả: Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2001
23. Bùi Minh Hiền (2006), Quản lý giáo dục, Nxb Đại học Sư Phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục
Tác giả: Bùi Minh Hiền
Nhà XB: Nxb Đại học Sư Phạm
Năm: 2006
24. Trần Kiểm (1997), Quản lý giáo dục và trường học, Viện Khoa học giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục và trường học
Tác giả: Trần Kiểm
Năm: 1997
25. M.I. Kônđacov (1984), Cơ sở lý luận Khoa học quản lý giáo dục, Bản tiếng Việt, Trường cán bộ Quản lý giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận Khoa học quản lý giáo dục
Tác giả: M.I. Kônđacov
Năm: 1984
26. C.Mác, Ph.Ăng-ghen (1993), Toàn tập, Bản tiếng Việt, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăng-ghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
27. Hồ Chí Minh (1948), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1948
28. Lưu Xuân Mới (2000), Lý luận dạy học đại học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học đại học
Tác giả: Lưu Xuân Mới
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
29. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2009), Luật giáo dục năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật giáo dục năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
30. Vũ Văn Tảo (1998), Chính sách và định hướng chiến lược phát triển giáo dục đào tạo ở Việt Nam, Trường cán bộ quản lý Trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách và định hướng chiến lược phát triển giáo dục đào tạo ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Văn Tảo
Năm: 1998
31. Phạm Thị Thu Thanh và Trần Hà (2000), Lý luận cơ bản về Nhà nước và Pháp Luật, Nxb Trường Đại học Tổng hợp, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận cơ bản về Nhà nước và Pháp Luật
Tác giả: Phạm Thị Thu Thanh và Trần Hà
Nhà XB: Nxb Trường Đại học Tổng hợp
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Mức độ quản lý đối tượng giáo dục pháp luật cho học sinh - LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý GIÁO dục   QUẢN lý GIÁO dục PHÁP LUẬT CHO học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG HUYỆN tứ kỳ, TỈNH hải DƯƠNG
Bảng 2.2. Mức độ quản lý đối tượng giáo dục pháp luật cho học sinh (Trang 46)
Bảng 2.3. Mức độ quản lý nội dung giáo dục pháp luật cho học sinh - LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý GIÁO dục   QUẢN lý GIÁO dục PHÁP LUẬT CHO học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG HUYỆN tứ kỳ, TỈNH hải DƯƠNG
Bảng 2.3. Mức độ quản lý nội dung giáo dục pháp luật cho học sinh (Trang 47)
Bảng 3.3. Tổng hợp kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả thi của - LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý GIÁO dục   QUẢN lý GIÁO dục PHÁP LUẬT CHO học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG HUYỆN tứ kỳ, TỈNH hải DƯƠNG
Bảng 3.3. Tổng hợp kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả thi của (Trang 86)
Hình thành thói quen tuân thủ pháp luật trong học - LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý GIÁO dục   QUẢN lý GIÁO dục PHÁP LUẬT CHO học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG HUYỆN tứ kỳ, TỈNH hải DƯƠNG
Hình th ành thói quen tuân thủ pháp luật trong học (Trang 96)
Bảng 2a. Mức độ nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về quản lý giáo dục - LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý GIÁO dục   QUẢN lý GIÁO dục PHÁP LUẬT CHO học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG HUYỆN tứ kỳ, TỈNH hải DƯƠNG
Bảng 2a. Mức độ nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về quản lý giáo dục (Trang 105)
Hình thành thói quen tuân thủ pháp luật trong học - LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý GIÁO dục   QUẢN lý GIÁO dục PHÁP LUẬT CHO học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG HUYỆN tứ kỳ, TỈNH hải DƯƠNG
Hình th ành thói quen tuân thủ pháp luật trong học (Trang 106)
5. Hình thức, phương - LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý GIÁO dục   QUẢN lý GIÁO dục PHÁP LUẬT CHO học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG HUYỆN tứ kỳ, TỈNH hải DƯƠNG
5. Hình thức, phương (Trang 107)
Bảng 3b. Đánh giá các nội dung sau đây đã được thực hiện ở nhà trường. - LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý GIÁO dục   QUẢN lý GIÁO dục PHÁP LUẬT CHO học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG HUYỆN tứ kỳ, TỈNH hải DƯƠNG
Bảng 3b. Đánh giá các nội dung sau đây đã được thực hiện ở nhà trường (Trang 107)
Bảng 4 b. Các yếu tố ảnh hưởng tới giáo dục pháp luật Các yếu tố - LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý GIÁO dục   QUẢN lý GIÁO dục PHÁP LUẬT CHO học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG HUYỆN tứ kỳ, TỈNH hải DƯƠNG
Bảng 4 b. Các yếu tố ảnh hưởng tới giáo dục pháp luật Các yếu tố (Trang 108)
Bảng 5a. Sự cần thiết của các biện pháp quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh. - LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý GIÁO dục   QUẢN lý GIÁO dục PHÁP LUẬT CHO học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG HUYỆN tứ kỳ, TỈNH hải DƯƠNG
Bảng 5a. Sự cần thiết của các biện pháp quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh (Trang 109)
Bảng 5b. Tính khả thi của các biện pháp. - LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý GIÁO dục   QUẢN lý GIÁO dục PHÁP LUẬT CHO học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG HUYỆN tứ kỳ, TỈNH hải DƯƠNG
Bảng 5b. Tính khả thi của các biện pháp (Trang 110)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w