Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, thuế đóng một vai trò hết sức to lớn, là nguồn thu ngân sách chính, đồng thời là công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng của Nhà nước. Trong những năm gần đây số thu về thuế trong phạm vi cả nước chiếm khoảng từ 80% đến 90% tổng thu ngân sách. Nó đã góp phần quan trọng trong quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thực hiện bình đẳng, công bằng xã hội, tạo công ăn việc làm cho người lao động, ổn định chính trị xã hội, quốc phòng an ninh được bảo đảm.
Trang 1MỤC LỤC
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ VAI TRÒ CỦA
THUẾ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở
1.2 Quan niệm, nội dung vai trò của thuế trong phát triển kinh tế - xã
Chương 2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA THUẾ TRONG
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở QUẬN HÀ
2.1 Đặc điểm về địa lý, điều kiện tự nhiên của Hà Đông và tình
hình hoạt động của ngành thuế trên địa bàn quận Hà Đông,
2.2 Đánh giá thực trạng vai trò của thuế trong phát triển kinh tế
- xã hội ở Quận Hà Đông thành phố Hà Nội 38
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ
THUẾ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA
3.1 Quan điểm cơ bản phát huy vai trò thuế trong phát triển
kinh tế -xã hội của Quận Hà Đông, thành phố Hà Nội 593.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò thuế trong
phát triển kinh tế - xã hội của Quận Hà Đông, Thành phố
Trang 2DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, thuế đóng mộtvai trò hết sức to lớn, là nguồn thu ngân sách chính, đồng thời là công cụ điềutiết vĩ mô quan trọng của Nhà nước Trong những năm gần đây số thu về thuếtrong phạm vi cả nước chiếm khoảng từ 80% đến 90% tổng thu ngân sách Nó
đã góp phần quan trọng trong quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thực hiệnbình đẳng, công bằng xã hội, tạo công ăn việc làm cho người lao động, ổnđịnh chính trị xã hội, quốc phòng an ninh được bảo đảm Vì vậy, trong nhữngnăm qua Đảng và Nhà nước đã giành nhiều sự quan tâm đến công tác đổi mới
hệ thống thuế nhằm phát huy vai trò to lớn của thuế đối với phát triển kinh tế
xã hội của đất nước
Phát huy vai trò của thuế cho phát triển kinh tế xã hội là vấn đề cầnthiết và cấp bách đối với sự' nghiệp xây dựng đất nước trong bối cảnh toàncầu hoá và hội nhập quốc tế đang diễn ra sâu rộng, mạnh mẽ và Việt Nam đãtrở thành thành viên chính thức của nhiều tổ chức kinh tế quốc tế Vì vậy,việc sử dụng thuế làm công cụ quản lý, điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tếkhông thể tiếp tục thực hiện theo những nội dung mang tính truyền thốngtrước đây mà cần có những sửa đổi bổ sung và phát huy tác động to lớn củathuế tới mọi mặt của đời sống xã hội cho phù hợp và bảo đảm cho quá trìnhhội nhập kinh tế đạt hiệu quả cao
Trong những năm vừa qua, mặc dù nền kinh tế đất nước gặp nhiều khókhăn do tác động của suy thoái kinh tế thế giới Tuy nhiên, với những lợi thếriêng có của mình, Quận Hà Đông vẫn giữ được sự ổn định và phát triển vềmọi mặt Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thành công đó là Quận
Hà Đông đã phát huy tốt vai trò của thuế trong phát triển kinh tế xã hội trênđịa bàn Quận Song, bên cạnh những thành công thì việc phát huy vai trò củathuế cho phát kinh tế xã hội của Quận trong những năm qua vẫn tồn tại một
Trang 4số hạn chế, yếu kém như: hiện tượng khai man, trốn thuế, lậu thuế vẫn sảy ra;tình trạng nộp thuế chưa phản ánh đúng quy mô hoạt động sản xuất kinhdoanh đã tạo ra sự bất bình đẳng và cạnh tranh không lành mạnh giữa cácdoanh nghiệp, các thành phần kinh tế Do đó, chưa phát huy hết vai trò củathuế để kích thích phát triển kinh tế xã hội, phát triển sản xuất kinh doanh củacác doanh nghiệp và các thành phần kinh tế trên địa bàn Quận.
Vì vậy, việc tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn vềvai trò của thuế đối với phát triển kinh tế xã hội nói chung và nghiên cứu trênđịa bàn Quận Hà Đông nói riêng để có những quan điểm và giải pháp thíchhợp nhằm phát huy vai trò của thuế đối với phát triển kinh tế xã hội trên địabàn Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội hiện nay là vấn đề có ý nghĩa cấp thiết
cả về lý luận và thực tiễn Với lý do đó, tác giả chọn vấn đề "Vai trò của thuế trong phát triển kinh tế - xã hội ở Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội" làm đề
tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Vấn đề thuế và vai trò của thuế trong phát triển kinh tế xã hội ở nước
ta nói chung là vấn đề rất quan trọng và cần thiết đối với sự phát triển kinh tế
xã hội của đất nước Những năm gần đây đã có nhiều tác giả quan tâm nghiêncứu về lĩnh vực này trên các góc độ khác nhau, trong đó đáng chú ý một sốcông trình tiêu biểu sau:
Luận án Tiến sĩ kinh tế “Nâng cao vai trò của thuế - công cụ phục vụ sựnghiệp công nghiệp hóa ở Việt nam”, tác giả: Nguyễn Kim Quyến [35] Luận
án đã đề cập khá toàn diện vai trò của thuế đối với quá trình công nghiệp hóa
ở Việt Nam: Thuế là công cụ huy động nguồn tài chính cho ngân sách Nhànước để thực hiện quá trình công nghiệp hóa; là công cụ thu hút vốn đầu tưtrong và ngoài nước theo hướng chiến lược công nghiệp hóa; là công cụ điềutiết vĩ mô nền kinh tế thị trường theo chiến lược công nghiệp hóa Đồng thờiluận án đã phân tích khái quát một số thành tựu và tồn tại chủ yếu của hệ
Trang 5thống thuế hiện hành trong quá trình phục vụ công nghiệp hóa ở Việt Nam.
Đề xuất một số định hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hơn nữa vaitrò của thuế phục vụ công nghiệp hóa ở nước ta
Luận văn Thạc sĩ kinh tế “Thanh tra, kiểm tra thuế trong điều kiện thựchiện cơ chế sản xuất, kinh doanh tự kê khai, tự nộp thuế ở Việt nam”, tác giả:Thành Xuân Lý [18] Luận văn đã đánh giá được khái quát thực trạng kiểmtra, thanh tra thuế trên các mặt: bộ máy, kết quả thu, quy trình nghiệp vụ, cơ
sở dữ liệu… và chỉ ra tồn tại chủ yếu ở khâu lực lượng kiểm tra, thanh trathuế, công tác lập kế hoạch, chất lượng cuộc kiểm tra, thanh tra thấp và nhữngnguyên nhân từ cơ chế chính sách và đối tượng nộp thuế
Luận văn thạc sĩ kinh tế “Hoàn thiện việc sử dụng công cụ thuế trongquản lý Nhà Nước đối với doanh ngiệp công nghiệp ngoài quốc doanh ở Việtnam”, tác giả: Phạm Thái Hà [11] Luận văn đã luận giải làm rõ cơ sở lý luận
và thực tiễn về sử dụng công cụ thuế trong quản lý Nhà Nước đối với doanhnghiệp ngoài quốc doanh Đề xuất quan điểm, giải pháp về cải tiến phươngpháp tính áp thuế xuất; hoàn thiện cơ chế chính sách, xây dựng đồng bộ hệthống thuế; từng bước đổi mới và cải tiến hệ thống kiểm toán, kế toán; phâncấp quản lý thuế một cách phù hợp; chú trọng khâu bồi dưỡng đào tạo đội ngũcán bộ và thực hiện tốt chế độ đãi ngộ đối với cán bộ ngành thuế nhằm nângcao hiệu quả công cụ thuế trong quản lý Nhà Nước đối với doanh nghiệp côngnghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam
Luận văn thạc sĩ kinh tế “ Hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuếtheo chương trình cải cách hiện đại hóa ngành thuế Việt nam đến năm 2010”,tác giả: Phạm Thúy Hồng [16] Tác giả đã đánh giá thực trạng tổ chức bộ máycủa kiểm tra, thanh tra thuế theo hai giai đoạn từ 1999-2004 và từ 2004-2006qua các mặt: trình độ của cán bộ thanh tra của ngành thuế, việc lập kế hoạchkiểm tra, thanh tra thuế qua các năm
Trang 6Luận văn thạc sĩ kinh tế “ Thanh tra, kiểm tra nhằm nâng cao tính tuânthủ của người nộp thuế trong điều kiện Việt nam hiện nay”, tác giả: NguyễnChí Dũng [9] Đã phân tích kiểm tra, thanh tra thuế dưới giác độ tuân thủ củangười nộp thuế, nêu được một số vai trò của kiểm tra, thanh tra thuế đối với việcnâng cao tính tuân thủ của người nộp thuế Tác giả đã đề cập các giải pháp điềukiện để nâng cao tính tuân thủ như xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quảkiểm tra, thanh tra thuế như tỷ lệ người nộp thuế tiến hành thanh tra, kiểm tratrong vòng một năm Tỷ lệ phần trăm (%) độ chính xác tại khâu phân tích hồ sơ
so với kết quả thanh tra
Luận văn thạc sĩ kinh tế “ Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra đốitượng nộp thuế ở Việt nam hiện nay”, tác giả: Lê Thị Phương Thảo [43] Đãđánh giá thực trạng kiểm tra, thanh tra thuế qua ba nội dung: kiểm tra đăng kýthuế; chấp hành chế độ kế toán sổ sách chứng từ, hóa đơn; kê khai, tính thuế
và nộp thuế Qua đó, luận văn đã phân tích những ưu điểm và hạn chế củakhâu lập kế hoạch kiểm tra, thanh tra thuế các năm từ 2005-2008 Phần giảipháp đổi mới kiểm tra, thanh tra thuế luận văn tập trung vào một số giải phápnhư: phân cấp quản lý doanh nghiệp, xây dựng tiêu chí, đánh giá, lựa chọnxếp loại doanh nghiệp để có chiến lược kiểm tra, thanh tra thuế cụ thể chotừng loại hình doanh nghiệp
Luận văn thạc sĩ kinh tế “Hoàn thiện quản lý thu thuế đối với các doanhnghiệp vừa và nhỏ tại Chi cục thuế huyện Quảng Trạch, Quảng Bình”, tác giả:Phạm Hồng Thắng [44] Luận văn đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thựctiễn về quản lý thuế trong cơ chế thị trường đối với các doanh nghiệp vừa vànhỏ làm cơ sở phân tích đánh giá thực trạng quản lý thu thuế đối với doanhnghiệp vừa và nhỏ tại chi cục thuế huyện Quảng Trạch, Quảng Bình và đã đềxuất một số giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đốidoanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn huyện Quảng Trạch như: Tăng cườngcông tác quản lý các doanh nghiệp đăng ký thuế, kê khai thuế; Quản lý chặt
Trang 7chẽ doanh thu, thuế giá trị gia tăng và hóa đơn chứng từ; Thực hiện tốt côngtác kê khai, quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp và công tác quản lý nộpthuế, quản lý nợ thuế; Thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, xử lý vi phạm
và tuyên truyền giáo dục việc thực hiện nghĩa vụ thuế cho đối tượng ngườinộp thuế
Luận văn thạc sĩ kinh tế “ Hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanhnghiệp ở nước ta hiện nay”, tác giả: Vũ Thị Mai [21] Tác giả đã luận giải làm
rõ các đặc điểm, yêu cầu, nội dung quản lý thu thuế và các cơ chế quản lý,phương thức kê khai nộp thuế đối với các doanh nghiệp Đồng thời tác giả đãtổng quan được kinh nghiệm quản lý thu thuế doanh nghiệp của một số nướctrên thế giới và rút ra bài học tham khảo đối với Việt nam Đề xuất một sốgiải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ở nước tanhư: Tiếp tục hoàn thiện về pháp luật thuế tạo điều kiện để cải cách hiện đạihóa quản lý thu thuế theo hướng tiên tiến hiện đại; Tổng kết và mở rộng cơchế tự khai, tự nộp thuế của người nộp thuế; Từng bước thực hiện áp dụngđăng ký thuế, ke khai thuế qua mạng internet; Cải cách hiện đại hóa hệ thốngquản lý thuế hiện hành đối với doanh nghiệp
Luận văn thạc sĩ kinh tế “ Quản lý thu thuế ngoài quốc doanh trên địabàn tỉnh Quảng Ngãi - thực trạng và giải pháp”, tác giả: Nguyễn HoàngNguyên [22 ] Luận văn đã phân tích làm rõ vai trò của thuế trong nền kinh tế
ở nước ta: Thuế là công cụ chủ yếu huy động tập trung nguồn lực cho Nhànước; Là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế; Góp phần điều hòa thu nhậpthực hiện công bằng xã hội trong phân phối Đề xuất một số giải pháp chủ yếu
để tăng cường quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trênđịa bàn tỉnh Quảng Ngãi như: Đối với các cơ sở thực hiện thu thuế giá trị giatăng thực hiện theo phương thức trực tiếp; Đối với các doanh nghiệp ngoàiquốc doanh và kinh doanh cá thể nộp thuế theo phương thức khấu trừ; Phát
Trang 8huy tác dụng quản lý thu thuế theo quy trình tự tính, tự khai, tự nộp thuế;Hoàn thiện chế độ sổ sách kế toán, chứng từ hóa đơn trong quản lý thu thuế;Tăng cường vai trò lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương trong quản
lý thu thuế; Thực hiện tốt công tác tuyên truyền chính sách thuế; Sử dụng cácbiện pháp đặc thù đối với công tác quản lý thu thuế ngoài quốc doanh
Bên cạnh những công trình được phân tích ở trên, trong quá trình triểnkhai đề tài luận văn tác giả đã nghiên cứu, kế thừa từ một số tài liệu như: Học
viện Tài chính (2005), Giáo trình Lý thuyết Tài chính; Học viện Tài chính (2009), Giáo trình Thuế; Học viện Tài chính (2009), Giáo trình Nghiệp vụ thuế; Học viện Tài chính (2010), Giáo trình Lý thuyết thuế; Học viện Tài chính (2000), Giáo trình Thanh tra tài chính; Trường Cán bộ Thanh tra (2008), Kiểm tra tài chính trong các doanh nghiệp; Quang Anh, Hà Đăng (2002), Những điều cần biết về thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp; Đàm Thị Thu Hương (2005), Đổi mới công tác thanh tra- kiểm tra tại cơ quan thuế địa phương, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội ; Nguyễn Thị Nhung (2006), Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc
sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội; Nguyễn Thị Thanh Minh (2007), Đổi mới thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội; Nguyễn Lan Anh (2009), Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nhằm nâng cao hiệu lực quản lý thuế, Luận văn Thạc
sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội ; Phan Bùi Kim Thoa (2011), Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra trong quản lý thuế ở Cục Thuế Nghệ An,
Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội; Đặng Đình Long
(2012), Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra ở Cục Thuế Nam Định, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội ;
Trang 9Phạm Đức Long (2012), Hoàn thiện công tác kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục Thuế Thái Bình, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội ; Phan Thị Minh Hiền (2012), Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế của Cục Thuế đối với các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận
văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội; PGS.TS Lê Văn Ái (2000),
Những vấn đề lý luận cơ bản về thuế trong nền kinh tế (Viện nghiên cứu tài
chính), NXB Tài chính, Hà Nội; Ths Nguyễn Thị Lệ Thuý (2009) “5 yếu tố
tác động đến sự tuân thủ pháp luật Thuế của Doanh nghiệp”, Tạp chí Thuế nhà nước, Các tài liệu này đặt nền móng cho những lý thuyết về thuế và vai
trò về thuế nói chung mà vấn đề nghiên cứu của tác giả đã đặt ra
Phạm vi vai trò của thuế trong phát triển kinh tế xã hội là một vấn đềrộng lớn, đã được nhiều nhà quản lý, nhà nghiên cứu đề cập ở các khía cạnhkhác nhau Có công trình nghiên cứu phân tích dưới góc độ tổng hợp, có côngtrình nghiên cứu cụ thể về vai trò của thuế Các tác giả đều đã nêu bật nhữngyếu tố khách quan và chủ quan tác động đến vai trò của thuế trong phát triểnkinh tế xã hội, làm rõ những yêu cầu mới về vai trò của thuế đối với phát triểnkinh tế xã hội trong giai đoạn hiện nay và đề xuất một số giải pháp nhằm pháthuy vai trò của thuế trong phát triển kinh tế xã hội nói chung Tuy nhiên chưa
có công trình nào nghiên cứu vấn đề "Vai trò của thuế trong phát triển kinh tế
- xã hội ở Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội" dưới góc độ khoa học kinh tế
chính trị như một công trình nghiên cứu chuyên ngành Chính vì vậy, vấn đềnày đang thực sự là một “khoảng trống” để tôi tập trung nghiên cứu làm sáng
tỏ trong luận văn của mình
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải những vấn đề cơ bản về lý luận và thực trạng vai trò của thuếtrong phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn quận Hà Đông Trên cơ sở đó đề
Trang 10xuất một số quan điểm cơ bản và những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vaitrò của thuế trong phát triển kinh tế - xã hội ở địa bàn quận Hà Đông, Thànhphố Hà Nội trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận về vai trò của thuế trong phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn quận Hà Đông
Phân tích, đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân và những vấn đềđặt ra cần giải quyết từ thực trạng phát huy vai trò của thuế trong phát triểnkinh tế - xã hội ở quận Hà Đông thời gian qua
- Đề xuất những quan điểm cơ bản và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huyvai trò của thuế trong phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn quận Hà Đông trong thờigian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của thuế trong phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn quận Hà Đông
* Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung : Nghiên cứu về vai trò của thuế trên địa bàn quận Hà Đông
- Về thời gian : Số liệu khảo sát thực tế từ năm 2009 đến nay
- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn quận Hà Đông
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tương Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam vềThuế và vai trò của thuế đối với phát triển kinh tế - xã hội
-* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử, luận văn sử dụng phương pháp đặc thù của kinh tế chính trị Mác - Lênin (trừu
Trang 11tượng hoá khoa học) và các phương pháp khác như: Kết hợp lôgíc và lịch sử, phân tích
và tổng hợp, thống kê, so sánh và phương pháp chuyên gia
6 Ý nghĩa của đề tài
- Góp phần làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò củathuế trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển kinh tế - xã hội ở Quận HàĐông nói riêng
- Cung cấp những luận cứ khoa học cho Đảng bộ, chính quyền Quận Hà Đôngtham khảo trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội, trực tiếp là vaitrò của thuế đối với phát triển kinh tế - xã hội
7 Kết cấu của đề tài
Kết cấu luận văn gồm: Phần mở đầu, 3 chương (6 tiết), kết luận, danh mục tàiliệu tham khảo và phụ lục
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ VAI TRÒ CỦA THUẾ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở QUẬN HÀ ĐÔNG,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1.1 Cơ sở lý luận về thuế
1.1.1 Khái niệm
Thuế ra đời và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của Nhà nước, vìNhà nước và do Nhà nước Dưới bất kỳ một hình thái kinh tế - xã hội nào khicòn Nhà nước là còn thuế Thuế là một công cụ quan trọng mà bất kỳ Nhànước nào cũng sử dụng để hoàn thành chức năng của mình Bàn về mối liên hệ
giữa thuế và nhà nước, Mác viết "Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước,
là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêu của nhà nước”[20]
Ănghen cũng viết "Để duy trì quyền lực công cộng đó, cần phải có sự đóng góp của công dân đó là thuế má"
Tuy nhiên, cho đến nay có nhiều cách nhìn nhận khác nhau và người tavẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế cũng như nhìn chungchưa phản ánh đầy đủ bản chất chung của phạm trù thuế
Ở góc độ nghiên cứu về Pháp luật thì thuế được quan niệm là khoảnđóng góp theo quy định của Pháp luật mà Nhà nước bắt buộc các tổ chức và
cá nhân phải nộp vào Ngân sách Nhà nước
Ở góc độ nghiên cứu về Kinh tế Chính trị học thì khái niệm về thuế làhình thức phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để hìnhthành lên các quỹ tiền tệ tập trung nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu theo chứcnăng của Nhà nước
Ở góc độ người thu thuế thì thường hiểu thuế là khoản đóng góp bắt buộctheo nghĩa vụ do Pháp luật quy định Thuế là khoản thu không phải hoàn trảngang giá và trực tiếp
Trang 13Ở góc độ người nộp thuế thì hiểu thuế là khoản bắt buộc phải nộp choNhà nước theo quy định Còn trên góc độ phân phối thu nhập, TS Nguyễn Thị
Bất và TS Vũ Duy Hào đưa ra khái niệm về thuế như sau: "Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành lên qũy tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nước (qũy ngân sách nhà nước) để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng của nhà nước"[1]
Các quan niệm trên có thể đúng nhưng được nghiên cứu ở những góc độkhác nhau Cách hiểu như vậy chưa đầy đủ và chính xác Vì vậy, từ nhữngnghiên cứu trên chúng ta có thể quan niệm về thuế như sau:
Thuế là một khoản thu của Nhà Nước đối với các tổ chức và mọi thành viên trong xã hội Khoản thu này mang tính bắt buộc, không hoàn trả trực tiếp
do Pháp luật của Nhà nước quy định, nhằm sử dụng cho mục đích chung của toàn xã hội
Từ quan niệm về thuế ở trên, cho thấy rằng để phản ánh đầy đủ nội dung
và bản chất của thuế cần phải đạt được các nội dung sau :
Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhànước với các Pháp nhân và các thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách kháchquan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chấtbắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước
Các Pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản thuế đãđược pháp luật quy định
1.1.2 Đặc điểm của thuế
-Thuế luôn luôn gắn liền với quyền lực của Nhà nước :
Thuế là nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được quy định trong Hiếnpháp.Việc ban hành, sửa đổi, bổ sung hay bãi bỏ bất kỳ một sắc thuế nào cũngchỉ do một cơ quan quyền lực duy nhất của Nhà nước có thẩm quyền đó là Quốc
Trang 14hội Mặt khác, tính quyền lực Nhà nước cũng thể hiện ở chỗ Nhà nước khôngthể hiện thu thuế một cách tùy tiện mà phải dựa trên những cơ sở pháp luật nhấtđịnh đã được xác định trong các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành
-Tính bắt buộc phải nộp thuế :
Nhà nước sử dụng quyền lực của mình buộc các thành phần kinh tế cósản xuất kinh doanh đều phải đóng góp một phần thu nhập của mình dướihình thức nộp thuế cho Ngân sách Nhà nước Do vậy, Nhà nước đã ban hànhcác sắc thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, các khoản phí, lệ phí
để buộc người sản xuất kinh doanh, người tiêu dùng dịch vụ, người có thu nhậpcao phải nộp thuế
-Tính không hoàn trả trực tiếp :
Tính không hoàn trả trực tiếp thể hiện trên các khía cạnh : người nộpthuế vào Ngân sách Nhà nước không có quyền đòi hỏi Nhà nước phải cungcấp hàng hóa, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình Người nộp thuế sẽ đượcnhận một phần dịch vụ công cộng mà Nhà nước cung cấp chung cho cả cộngđồng, giá trị phần dịch vụ đó không nhất thiết phải trùng với khoản thuế mà họphải nộp cho Nhà nước
-Tính cố định của thuế :
Nhà nước ban hành các sắc thuế, luật thuế để làm căn cứ, bắt buộc cácthành phần kinh tế trong xã hội phải đóng góp nghĩa vụ thuế Luật thuế banhành một mức thu cố định cho các hàng hóa dịch vụ Do đó, các mức cố địnhnày mà Nhà nước có thể tính trước được nguồn thu của mình Người nộp thuếcũng có thể tính toán được sẽ phải nộp bao nhiêu trong thu nhập của mình choNhà nước Thuế còn có một ưu điểm lớn với Nhà nước là thu một cáchthường xuyên, chỉ cần có hoạt động sản xuất kinh doanh là phải nộp thuế choNhà nước Do đó, Nhà nước có nguồn tài chính để chi trả thường xuyên ổnđịnh cho các nhu cầu của mình
Trang 151.1.3 Bản chất của thuế
Thuế gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước và nền kinh
tế hàng hóa Nhà nước là người đại diện quyền lực cao nhất cho một giai cấpnhất định Do đó, thuế có bản chất kinh tế - chính trị - xã hội sâu sắc
- Bản chất kinh tế của thuế :
Bản chất kinh tế của thuế thể hiện trước hết là một phần thu nhập của xãhội được tập trung để phục vụ nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Kinh tế là cơ sởcủa thuế Không có sản xuất, phát triển sản xuất và sản xuất không có hiệuquả thì nguồn thu từ thuế của Nhà nước không thể tăng nhiều và nhanh được
Vì thế, qua thu thuế phải tác động tới sản xuất kinh doanh, thúc đẩy sản xuấtkinh doanh phát triển, thúc đẩy thực hành tiết kiệm mọi mặt trong sản xuất vàtiêu dùng một cách hợp lý để tạo nguồn thu ngày càng lớn cho Ngân sách.Mức động viên về thuế không hợp lý, chỉ nhằm đáp ứng đơn thuần nhu cầu chitiêu của Nhà nước mà bỏ qua đảm bảo tăng trưởng về kinh tế thì thường là gặpthất bại, dễ dẫn đến hậu quả xấu nhiều mặt cả về kinh tế - chính trị Ngược lại,mức động viên hợp lý sẽ có tác dụng tăng thu cho Ngân Sách và kích thích sảnxuất phát triển
-Về bản chất giai cấp của thuế :
Bản chất giai cấp của Nhà nước quyết định bản chất của thuế Cùng mộthiện tượng Ngân sách thu thuế của dân, nhưng với các Nhà nước khác nhau thìbản chất của thuế khác nhau Điều đó được thể hiện bên trong những nội dungchủ yếu của thuế là : Thuế thu vào ai? Thu như thế nào? Và thu để làm gì? Cóthể nói mục đích của thuế - Thu để làm gì đã thể hiện rõ ràng nhất mục đíchcủa thuế Trong xã hội người bóc lột người, nhân dân lao động đóng thuế choNhà nước để nuôi bộ máy áp bức, bóc lột lại chính mình Còn dưới chế độ xãhội chủ nghĩa, nhân dân đóng thuế để chi tiêu cho những công việc nhằm phục
vụ trở lại nhân dân lao động Đó là điều khác nhau cơ bản về bản chất giai cấp,bản chất chính trị của thuế
Trang 16-Thuế còn thể hiện tính xã hội rộng rãi :
Trước hết, vì thuế thu vào toàn dân, thuế có liên quan đến mọi tổ chức,
cá nhân trong xã hội Thuế điều chỉnh các quan hệ phân phối, phân phối lạithu nhập xã hội giữa các tổ chức kinh tế, giữa các tầng lớp dân cư
1.1.3 Phân loại thuế
Phân loại thuế là việc sắp xếp các sắc thuế trong hệ thống thuế thànhnhững nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định Có các tiêu thức phânloại thuế như sau :
Dựa vào phương thức đánh thuế
Các hình thức thuế đều đánh vào thu nhập của người nộp thuế Người tachia hệ thống thuế thành hai loại :
- Thuế giá trị gia tăng : là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá,
dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng
- Thuế thu nhập doanh nghiệp : là một loại thuế trực thu đánh vào lợi
nhuận của các doanh nghiệp
Dựa vào cơ sở đánh thuế
Cơ sở đánh thuế chỉ rõ thuế đánh trên cái gì Căn cứ vào cơ sở đánh thuế
có thể chia thuế làm ba loại :
- Thuế thu nhập : Bao gồm các sắc thuế có cơ sở đánh thuế là thu nhập
kiếm được Thu nhập kiếm được từ nhiều nguồn; từ lao động dưới dạng tiềnlương, tiền công ; thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh dưới dạng lợinhuận, lợi tức cổ phầndo đó thuế thu nhập cũng có nhiều dạng: Thuế thunhập cá nhân, thuế thu nhập công ty, thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài
- Thuế tiêu dùng : Là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là phần thu nhập của tổ
chức, cá nhân được mang ra tiêu dùng trong hiện tại Trong thực tế loại thuế tiêudùng được thể hiện dưới nhiều dạng như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt
- Thuế tài sản : Là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là giá trị tài sản Tài sản có
nhiều hình thức biểu hiện :
Tài sản tài chính gồm tiền mặt, tiền gửi, chứng khoán, thương phiếu
Trang 17Tài sản cố định gồm nhà cửa, đất đai, máy móc, nhà xưởng
Tài sản vô hình như quyền sử dụng đất, lợi thế thương mại, bằng phátminh Sáng chế…
1.2 Quan niệm, nội dung vai trò của thuế trong phát triển kinh tế
-xã hội ở Quận Hà đông
1.2.1 Quan niệm vai trò của thuế trong phát triển kinh tế - xã hội của Quận
Hà Đông
Vai trò là thuật ngữ dùng để nói về vị trí chức năng, nhiệm vụ của sự vật,hiện tượng trong một hoàn cảnh, mối quan hệ nào đó Vì vậy, để nghiên cứuquan niệm vai trò của thuế trong phát triển kinh tế - xã hội của Quận Hà Đôngcần phải tiếp cận từ chức năng của thuế
Thuế có những chức năng cơ bản sau:
-Chức năng huy động nguồn lực tài chính :
Đây là chức năng cơ bản của thuế, đặc trưng cho thuế ở tất cả các dạngNhà nước trong tiến trình phát triển của xã hội Về mặt lịch sử, chức năng huyđộng nguồn lực tài chính là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân sự ra đờicủa thuế
Thông qua chức năng huy động nguồn lực tài chính của thuế mà các quỹtiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành để đảm bảo cơ sở vật chất cho
sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước Chính chức năng này đã tạo những tiền
đề để Nhà nước tiến hành tham gia phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm
xã hội và thu nhập quốc dân (do đó chức năng này còn được gọi là chức năngphân phối của thuế)
Sự phát triển và mở rộng các chức năng của Nhà nước đòi hỏi phải tăng cườngchi tiêu tài chính, do đó vai trò của chức năng huy động tập trung nguồn lực của thuếngày càng được nâng cao Thông qua thuế một phần đáng kể tổng sản phẩm quốc nộiđược tập trung vào Ngân sách Nhà nước Thuế trở thành nguồn thu có tỷ trọng lớnnhất trong tổng thu Ngân sách Nhà nước của tất cả các nước có nền kinh tế thị
Trang 18trường Hiện nay ở hầu hết các nước trên thế giới, sau khi thực hiện cải cách hệ thốngthuế, số thu từ thuế và phí thường chiếm tới 90% tổng số thu Ngân sách Nhà nước Chức năng huy động nguồn lực tài chính tạo ra những tiền đề kháchquan cho sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế Trong quá trìnhthực hiện chức năng này, thuế đã tự động làm xuất hiện chức năng điềutiết vĩ mô nền kinh tế
-Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế của thuế
Thuế thực hiện chức năng điều chỉnh thông qua việc quy định cáchình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế vànộp thuế, xây dựng chính xác các mức thuế phải nộp có tính đến khảnăng của người nộp thuế Trên cơ sở đó Nhà nước hướng dẫn các hoạtđộng kinh tế đi vào quỹ đạo chung của nền kinh tế quốc dân phù hợp vớilợi ích của xã hội Trong điều kiện chuyển sang cơ chế thị trường, vai tròkích thích kinh tế thông qua thuế ngày càng được nâng cao Với cải cáchthuế, sự can thiệp của Nhà nước không còn mang tính mệnh lệnh bắtbuộc, các cơ sở sản xuất kinh doanh lựa chọn hình thức sản xuất cho phùhợp với nền kinh tế và đẩy mạnh sản xuất kinh doanh phát triển tăng thunhập cho bản thân mình và tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước
Từ nghiên cứu chức năng của thuế cho thấy vai trò của thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách, là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế và đời sống xã hội, góp phần bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội.
Từ vai trò của thuế nói chung, có thể quan niệm: Vai trò của thuế trong phát triển kinh tế xã hội của Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội
là việc thực hiện chức năng của thuế trên địa bàn Quận, là nguồn thu chủ yếu của ngân sách, là công cụ điều tiết đối với phát triển kinh tế -
xã hội, góp phần bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế
và công bằng xã hội trên địa bàn Quận.
1.2.2 Nội dung thể hiện vai trò của thuế trong phát triển kinh tế - xã hội
Trang 19*Thuế là công cụ huy động nguồn tài chính cho ngân sách để thực hiện phát triển kinh tế - xã hội
Đây là vai trò quan trọng nhất của thuế trong phát triển kinh tế - xã hộicủa mỗi quốc gia Việc các chủ thể nộp thuế - thực hiện nghĩa vụ nộp thuếtheo quy định của pháp luật thuế đã tạo ra nguồn tài chính quan trọng, chiếm
tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu nội bộ của nền kinh tế quốc dân, ngânsách Nhà nước Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vàonguồn thu nội bộ của nền kinh tế quốc dân Nhà nước có thể thu ngân sách từnhiều nguồn khác nhau nhưng không có nguồn thu nào ổn định và bền vữngbằng thuế Vì mang tính không hoàn trả trực tiếp nên nhà nước có thể yên tâmdùng thuế làm công cụ chủ yếu để thu ngân sách, phục vụ các chi tiêu củaquốc gia mà không phải lo lắng về nghĩa vụ bồi hoàn hay trả nợ Hàng năm,thuế luôn đóng góp khoảng trên 90% vào tổng thu ngân sách nhà nước
Bất kỳ một quốc gia nào muốn tồn tại và phát triển đều phải tạo chomình một nguồn tài chính vững chắc và lành mạnh, mà trong đó nguồn tàichính chủ yếu được động viên từ thuế và phí của các quốc gia Ở nước ta từkhi có các Luật thuế ra đời nguồn thu từ thuế ngày càng tăng lên, ngày càngchiếm tỷ trọng cao trong tổng số thu ngân sách, năm 2009 đạt 93,5%; năm
2010 đạt 93,7%; năm 2011 đạt 94% [6] Vai trò của thuế thực sự được nânglên và thể hiện rõ trong quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế Trong nền kinh tếhàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước, thuế được
áp dụng thống nhất đối với các thành phần kinh tế, không phân biệt kinh tếnhà nước với các thành phần kinh tế khác, nó bao quát và điều tiết các hoạtđộng kinh doanh, mọi nguồn thu nhập, mọi tài nguyên thiên nhiên và mọi
hoạt động tiêu dùng trong xã hội Với việc đóng góp một tỷ trọng cao và ngày
càng tăng lên trong tổng thu ngân sách nhà nước, thuế đang ngày càng chứng
tỏ vai trò chủ đạo của mình trong việc huy động tài chính công phục vụ chophát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trang 20Hầu hết mọi cá nhân, tổ chức sống, hoạt động và thực hiện các giaodịch trong phạm vi quy định đều phải nộp thuế vào ngân sách nhà nước Các
cá nhân, tổ chức khi thực hiện bất kỳ giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụhay tài sản nào cũng đều phải nộp thuế trên giá trị hàng hóa đó Loại thuếkhông thể tránh được là thuế giá trị gia tăng, ngoài ra còn có thể có thuế xuấtnhập khẩu hay thuế tiêu thụ đặc biệt Khi thực hiện các giao dịch khác liênquan đến tài sản của mình, tổ chức và cá nhân cũng phải nộp thuế vào ngânsách nhà nước Cá nhân có thu nhập cao phải nộp thuế thu nhập cá nhân Mọidoanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh có lãi đều phải nộp thuế thunhập doanh nghiệp Như vậy, hầu như không ai sống trong xã hội mà khôngphải nộp thuế cho nhà nước Từ những người nội trợ, người làm việc vănphòng, doanh nhân cho đến các tổ chức hoạt động vì mục tiêu phi lợi nhuậnhay các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh kiếm lời đều phải thường xuyênđóng thuế vào ngân sách Nhà nước
Đối tượng đánh thuế trong mỗi nền kinh tế rất rộng lớn và gần như baoquát toàn bộ nền kinh tế - xã hội của quốc gia đó như:
Thuế đánh vào tiêu dùng: là loại thuế phổ biến và có tính thường
xuyên, ổn định nhất Không có tổ chức, cá nhân nào có thể tồn tại trong nền
xã hội mà không tiêu dùng Vì vậy, đánh thuế vào tiêu dùng là một chính sáchgiúp ổn định nguồn thu và tạo tính công bằng xã hội Mọi hàng hóa, dịch vụlưu thông trên thị trường đều phải chịu thuế, trong đó, thuế phổ biến nhất làthuế giá trị gia tăng Tiêu dùng ở đây không chỉ nói đến tiêu dùng cho đờisống và sinh hoạt hàng ngày của người dân mà còn nói đến nhu cầu mua sắmnói chung, kể cả mua sắm nguyên vật liệu, trang thiết bị, cơ sở vật chất củacác tổ chức, doanh nghiệp trong cả nước Vì vậy, thuế đánh vào tiêu dùng đãtạo nên nguồn thu ổn định nhất cho ngân sách
Thuế đánh vào tài sản: mọi hoạt động, giao dịch liên quan đến tài sản
của tổ chức, cá nhân đều phải chịu thuế của Nhà nước Ở Việt Nam hiện nay,
Trang 21tài sản bị đánh thuế có rất nhiều chủng loại và giá trị thường cao, thêm vào
đó, các hoạt động, giao dịch liên quan đến tài sản là rất đa dạng như đăng kýtài sản, thừa kế, biếu, tặng, chuyển nhượng tài sản (nhà, đất, vốn, tráiphiếu ), khai thác tài nguyên quốc gia nên nó tạo nên một nguồn thu tươngđối lớn cho ngân sách Nhà nước Đặc biệt, trong những tài sản này, thuế thuđược từ bất động sản chiếm một tỷ trọng rất lớn Hàng năm, lượng bất độngsản được giao dịch với số lượng rất lớn như mua, bán, tặng, thừa kế… thêmvào đó, đây lại là hàng hóa có giá trị cao nên thuế thu được từ tài sản nàychiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu ngân sách Nhà nước
Thuế đánh vào thu nhập: hai loại thuế thu nhập mang tính thường
xuyên và ổn định nhất là thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cánhân Hầu hết các doanh nghiệp tham gia sản xuất, kinh doanh có lãi đều phảitrích nộp 25% lợi nhuận của mình vào ngân sách nhà nước Luật thuế thunhập cá nhân năm 2014 quy định cá nhân có thu nhập trên 5 triệu đồng phảiđóng thuế thu nhập cá nhân
Từ những phân tích trên cho thấy thuế là công cụ huy động nguồn tàichính, là nguồn thu chủ yếu cho ngân sách Nhà nước để thực hiện phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước
*Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế:
Thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước dùng để quản lý điều tiết vĩ mônền kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng lưu thông hàng hóa, nângcao hiệu quả sản xuất kinh doanh Một chính sách thuế đặt ra không chỉ đơnthuần tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, mà quan trọng hơn là thực hiệnchức năng quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế Thông qua pháp lệnh về thuế,Nhà nước chủ động tác động đến cung - cầu của nền kinh tế góp phần phân bổlại nguồn lực nhằm thực hiện tốt chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Thuế có tác động định hướng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế,thông qua tác động trực tiếp tới cung- cầu thị trường Chính sách thuế phải
Trang 22thiết thực, góp phần chuyển được cơ cấu kinh tế cũ, lạc hậu sang cơ cấu kinh
tế mới hiện đại, hợp lý và thay đổi được tỷ lệ tương quan giữa các ngànhtrong GDP, đúng chiến lược phát triển kinh tế của đất nước Quá trình chuyểndịch cơ cấu kinh tế phụ thuộc một phần rất lớn vào mối quan hệ cung cầu củathị trường Có nhu cầu tất yếu đòi hỏi phát triển sản xuất, dịch vụ để đủ cungứng cho nhu cầu và ngược lại
Mục tiêu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là làm tăng tổng cung gắnvới kích cầu để quá trình chuyển dịch cơ cấu đạt hiệu quả tốt Tổng cầu tănghay giảm phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên quan, chủ yếu là thu nhập của cáctầng lớp dân cư, giá cả từng loại sản phẩm, cơ cấu hàng hoá trên thị trường…Ảnh hưởng của chính sách thuế thông qua các mức thuế, các chế độ miễngiảm, các chế độ quản lý thu thuế khác nhau có vai trò quan trọng đến việctạo nên tổng cầu theo hai hướng: khuyến khích phát triển hay hạn chế Thuếcũng có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới cung của thị trường Đó là việcđánh thuế cao hay thấp vào các yếu tố sản xuất, tiêu dùng, thu nhập
Đối với sản xuất:
Nhà nước sử dụng thuế nhằm bảo hộ sản xuất trong nước, khuyếnkhích hoặc hạn chế các ngành sản xuất mong muốn Thực tế, đối với cácngành sản xuất yếu kém trong nước, khả năng cạnh tranh với các sản phẩmnhập khẩu kém cả về giá cả và chất lượng, nếu muốn duy trì và phát huy cácngành này, buộc nhà nước phải có chính sách bảo hộ nhất định để hạn chếđược tính cạnh tranh gay gắt từ các mặt hàng nhập khẩu cùng loại, và hỗ trợcác doanh nghiệp trong nước tăng sản xuất
Nhà nước có thể điều tiết, hướng dẫn tiêu dùng, bảo vệ sản xuất trongnước, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế thay thếnguyên liệu nhập khẩu bằng nguyên liệu sản xuất sẵn có trong nước theo mức
độ tỷ lệ nội địa hoá, góp phần tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá trong
Trang 23nước, đặc biệt trong tiến trình hội nhập hiện nay, làm cho hàng hoá trong nước
có sức cạnh tranh ngay trên thị trường nội địa cũng như thị trường quốc tế Thông qua thuế nhập khẩu, chính sách thuế sẽ tác động đến giá cả hànghóa trên thị trường, là công cụ hữu hiệu để hướng dẫn sản xuất, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế từ lĩnh vực đầu tư kém hiệu quả sang lĩnh vực đầu tư có hiệuquả hơn Đối với những hàng hoá là máy móc, thiết bị, nguyên liệu, vật liệu…phục vụ sản xuất, việc đánh thuế với thuế suất thấp có tác dụng làm giảm chiphí “đầu vào” của sản xuất, giúp doanh nghiệp sản xuất trong nước có điềukiện đổi mới công nghệ, giảm giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm Khiđánh thuế hàng nhập cao, giá hàng nhập đắt sẽ khuyến khích tiêu dùng hàngsản xuất trong nước Với điều kiện đó, hàng sản xuất trong nước có thế cạnhtranh hơn, giá thành hạ so với hàng nhập khẩu
Tuy nhiên, trong hoàn cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực thì vaitrò bảo hộ của thuế nhập khẩu sẽ bị hạn chế do thực hiện các cam kết khu vực
và quốc tế Hơn nữa nếu các quốc gia quá dựa vào vai trò bảo hộ từ thuế nhậpkhẩu, không những làm cho chính sách thuế nhập khẩu ảnh hưởng không lợiđến chính sách kinh tế đối ngoại của Nhà nước trong bối cảnh mới, mà cònlàm cho nền sản xuất trong nước trì trệ, kém phát triển, nhân dân thườngxuyên phải dùng hàng hoá với giá đắt và mẫu mã không được đổi mới theo xuthế phát triển của khu vực và thế giới
Chính sách thuế phân biệt theo thuế suất cao, thấp khác nhau đối vớitừng ngành nghề sản xuất kinh doanh, đối với từng sản phẩm, dịch vụ, tuỳthuộc vào sự cần thiết của sản xuất và đời sống xã hội, tự nó đã có tác dụngđiều chỉnh việc phân bổ lại nguồn vốn đầu tư trong xã hội Việc áp dụng cáchình thức ưu đãi (thuế suất, thời gian miễn giảm thuế…) đối với hàng hoá,dịch vụ phù hợp với hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế thường sẽ làm cho giá
cả hàng hoá dịch vụ đó giảm xuống Khi giá cả hàng hoá, dịch vụ giảm thìlượng cầu sẽ tăng lên Để đáp ứng cho sự gia tăng về cầu hàng hoá, các doanh
Trang 24nghiệp sẽ mở rộng quy mô sản xuất nhằm thu lợi nhuận nhiều hơn Ngượclại, khi áp dụng thuế suất cao, giá tăng sẽ có giảm sút về cầu, thu hẹp quy môsản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp sẽ tìm lĩnh vực đầu tư mới để chuyểndịch cơ cấu kinh tế với mục đích sản xuất mặt hàng khác có thể tạo lợi nhuậnnhiều hơn Với chính sách ưu đãi qua thuế suất, thời gian miễn giảm của thuếthu nhập doanh nghiệp, Nhà nước có thể khuyến khích đầu tư trong nướccũng như đầu tư nước ngoài vào những ngành, những lĩnh vực và những vùngcần khuyến khích đầu tư Áp dụng mức thuế suất thấp và miễn giảm hấp dẫnđối với các dự án đầu tư thuộc các lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn ưu đãi đầu tưnhư các cơ sở sản xuất mới thành lập; đầu tư ở miền núi, hải đảo, các vùng cónhiều khó khăn
Đối với tiêu dùng
Để hạn chế hay khuyến khích tiêu dùng, Nhà nước xây dựng một biểuthuế phù hợp, tác động trực tiếp đến tâm lý tiêu dùng của người dân Khi thuếtăng cao, đồng nghĩa với việc thu nhập giảm, người dân buộc phải có nhữngđiều chỉnh trong chi tiêu thích hợp để hài hòa ngân sách của chính mình và
ngược lại Thuế là công cụ điều chỉnh giá cả thị trường và kiềm chế lạm phát.
Trong điều kiện kinh tế thế giới có nhiều biến động, khủng hoảng, suythoái… và kinh tế trong nước vẫn đang trong giai đoạn phát triền, thị trườngluôn có những biến động khó lường Để kiểm soát được những biến động này,Nhà nước phải sử dụng kết hợp rất nhiều biện pháp và chính sách đồng thời.Trong đó, có sự tham gia của chính sách thuế Hiện nay, nền kinh tế nước ta
đã và đang chuyển sang nền kinh tế thị trường, cùng với sự kích thích sảnxuất phát triển, cơ chế thị trường cũng là môi trường làm nảy sinh nhữngkhuyết tật vốn có của nó Vì vậy, để phát triển nền kinh tế thị trường địnhhướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước, Nhà nước phải sử dụng các công
cụ kinh tế, trong đó đặc biệt là công cụ thuế nhằm tạo lập các cân đối vĩ mô,
Trang 25điều tiết thị trường, đảm bảo sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế và côngbằng xã hội.
Như vậy, sự điều tiết của Nhà nước thông qua thuế gồm hai mặt:khuyến khích và hạn chế Điều đó được thể hiện ra trong việc xây dựng cơcấu các loại thuế và mối quan hệ giữa chúng cũng như việc xác định thuếsuất, chế độ miễn - giảm thuế phù hợp với điều kiện thực tế Khuyến khíchđối với những ngành nghề, hoạt động sản xuất kinh doanh cần thiết cho nềnkinh tế quốc dân hoặc những ngành nghề những hoạt động sản xuất kinhdoanh phục vụ cho đại đa số quần chúng nhân dân thì áp dụng thuế suất thấp.Hạn chế, thu hẹp những ngành nghề không có lợi cho sự phát triển của nềnkinh tế, cho nhu cầu tiêu dùng của nhân dân hoặc những ngành nghề ảnhhưởng đến thuần phong mỹ tục, đến sức khỏe của nhân dân thì áp dụng thuếsuất cao Trong nền kinh tế thị trường, các thành phần kinh tế tự do lựa chọnngành nghề sản xuất, kinh doanh, với mục tiêu đầu tư vào những ngành nghềnào mang lại lợi nhuận cao nhất mà không tính đến hậu quả để lại sau quátrình sản xuất kinh doanh Nhà nước dùng công cụ thuế để điều chỉnh vàhướng các hoạt động sản xuất kinh doanh đi vào con đường phát triển có hiệuquả mang lại nhiều lợi ích cho quốc kế dân sinh
Trong điều kiện nay, hệ thống thuế của Nhà nước Việt Nam thể hiệnrất rõ quan điểm khuyến khích các ngành nghề sản xuất hơn là các hoạt độngthương mại, dịch vụ Sản xuất các mặt hàng thiết yếu được khuyến khích hơnsản xuất các mặt hàng và dịch vụ khác Để khuyến khích các ngành nghề sảnxuất hàng xuất khẩu, sản xuất sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu cần thiết khitrong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất nhưng chưa đáp ứng đủ nhucầu, hay đầu tư vào những vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, vùng khôngthuận lợi cho sức khỏe, sinh hoạt của người dân, Nhà nước thường áp dụngthuế ưu đãi để thúc đẩy kinh tế phát triển một cách có hiệu quả, đồng bộ theohướng có lợi cho quốc kế dân sinh Nhà nước ta đang sử dụng tổng hợp hệ
Trang 26thống chính sách thuế, nhằm: khuyến khích mạnh mẽ các cơ sở sản xuất kinhdoanh thuộc mọi thành phần kinh tế cạnh tranh lành mạnh trên cơ sở bìnhđẳng trước pháp luật; góp phần thúc đẩy việc khai thác vật tư nguyên liệutrong nước, tranh thủ vốn đầu tư nước ngoài để mở rộng sản xuất, phát triểnkinh tế hàng hóa đẩy mạnh xuất nhập khẩu đáp ứng yêu cầu tiêu dùng và tíchlũy; bảo đảm lợi ích giữa Nhà nước và xã hội, lợi ích của các bên hợp tác, vừađảm bảo sản xuất trong nước phát triển nâng cao đời sống của người dân
* Thuế góp phần điều hòa thu nhập thực hiện công bằng xã hội trong
phân phối
Với học thuyết "Bàn tay vô hình" của Adam Smith nền kinh tế thịtrường không có sự điều chỉnh, can thiệp của Nhà nước, thị trường tự điềuchỉnh nền kinh tế Như vậy, thì sự phân phối thu nhập sẽ gây ra sự phân hóagiàu nghèo ngày càng sâu sắc Một bộ phận dân chúng sẽ giàu lên nhanhchóng, đại đa số người nghèo càng khó khăn hơn, đời sống không được cảithiện Tình trạng trên không chỉ liên quan đến vấn đề đạo đức, công bằng xãhội mà còn tạo nên tình trạng lũng đoạn, độc quyền và về lâu dài sẽ không thểđảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng được Trong thực tế, sự phát triển kinh
tế của mỗi quốc gia đều có sự đóng góp của cộng đồng, của toàn xã hội.Chính vì vậy mà thành quả kinh tế đạt được trong hiện tại và tương lai phảiđược phân phối trên cơ sở của cộng đồng Cho nên, cần có sự can thiệp củaNhà nước trong quá trình phân phối thu nhập, sự phân phối này chủ yếu nhờvào công cụ thuế để điều tiết Nền kinh tế của nước ta hiện nay là nền kinh tếthị trường định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước, thì vai trò tạo sựbình đẳng giữa các thành phần kinh tế và người dân trong động viên điều tiếtthuế và công bằng xã hội ngày càng được nâng cao hơn, bao quát hơn
Hiện nay, chúng ta đã xây dựng được hệ thống pháp luật về thuế vàđược áp dụng thống nhất cho các ngành nghề, các thành phần kinh tế, cáctầng lớp dân cư Sự thống nhất trong hệ thống pháp luật về thuế tại Việt Nam
Trang 27được thể hiện rõ từ quá trình ban hành và thực hiện các văn bản pháp luật Đó
là mọi nguồn thu từ thuế, lệ phí đều do Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụQuốc hội đặt ra bằng luật và pháp lệnh, được áp dụng thực hiện thống nhấttrên toàn lãnh thổ Việt Nam Thêm vào đó, tính thống nhất còn được thể hiệnqua việc hệ thống thuế ở nước ta không chia thành các sắc thuế quốc gia vàcác sắc thuế địa phương như ở một số nước
Chính sách động viên giống nhau giữa các đơn vị, cá nhân thuộc mọithành phần kinh tế có cùng một điều kiện hoạt động Để đảm bảo sự bìnhđẳng, công bằng về cạnh tranh, lợi ích cũng như sự phát triển hài hòa giữa cácchủ thể trong xã hội thì mức thuế suất được sử dụng để động viên là như nhauđối với các chủ thể có cùng một điều kiện hoạt động, đi cùng với điều kiệnhoạt động khác nhau là các mức thuế suất khác nhau như: mức thuế suất theoluật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 thì thuế suất chung áp dụng chocác doanh nghiệp là 25%, tuy nhiên đối với tất cả các doanh nghiệp thành lậpmới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn
sẽ được áp dụng thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm Miễn thuế 4năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo, nếu doanh nghiệpthành lập mới trong lĩnh vực xã hội hóa tại địa bàn khó khăn…
Thuế góp phần giảm bớt khoảng cách giàu nghèo thông qua việc điều
tiết thu nhập Trong nền kinh tế thị trường , thu nhập của mỗi cá nhân phụthuộc chủ yếu vào các yếu tố như khả năng và trình độ lao động, vị trí côngtác, quyền sở hữu về tài sản của cá nhân đó Tuy nhiên, các yếu tố nói trêncủa mỗi cá nhân thường không giống nhau nên đã tạo ra sự khác biệt về thunhập của mỗi người Chính sự khác biệt ấy là nguồn gốc tạo ra sự phân cấpgiàu nghèo, là sự bất bình đẳng trong xã hội Và thuế là công cụ chính đượcnhà nước sử dụng để điều hòa vĩ mô thu nhập xã hội
Thuế thu nhập cá nhân với biểu thuế luỹ tiến từng phần đã giúp đảmbảo công bằng xã hội, giảm bớt khoảng cách giàu nghèo thông qua việc điềutiết mạnh thu nhập của những người có thu nhập cao và điều tiết ở mức độ
Trang 28hợp lý đối với các cá nhân có thu nhập trung bình hoặc thấp Thông thường,thuế thu nhập cá nhân chỉ đánh vào thu nhập cao hơn mức khởi điểm thu nhậpchịu thuế, không đánh thuế vào những cá nhân có thu nhập vừa đủ nuôi sốngbản thân và gia đình ở mức cần thiết Thêm vào đó khi thu nhập cá nhân tănglên thì tỷ lệ thu thuế cũng tăng thêm
Thuế thu nhập doanh nghiệp cũng là công cụ quan trọng để thực hiện
chức năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội Trong nền kinh
tế thị trường của nước ta hiện nay, mọi thành phần kinh tế đều có quyền tự dokinh doanh bình đằng Theo đó, doanh nghiệp nào với lực lượng lao động cótay nghề cao, năng lực tài chính mạnh thì doanh nghiệp đó sẽ chiếm ưu thế và
có cơ hội để nhận được thu nhập cao; ngược lại các doanh nghiệp với nănglực tài chính, lực lượng lao động bị hạn chế sẽ nhận được thu nhập thấp, thậmchí không có thu nhập Ðể hạn chế nhược điểm đó, Nhà nước sử dụng thuếthu nhập doanh nghiệp làm công cụ điều tiết thu nhập của các chủ thể có thunhập cao, đảm bảo yêu cầu đóng góp của các chủ thể kinh doanh vào ngânsách Nhà nước được công bằng, hợp lý
Nguồn thuế thu được, một phần được sử dụng để phân phối lại cho cácđối tượng chính sách, khó khăn trong xã hội Thuế là nguồn thu chủ yếu đểhình thành nên ngân sách nhà nước và nhà nước sẽ sử dụng ngân sách đểtrang trải cho các khoản chi tiêu công nhằm thực hiện vai trò và chức năngcủa mình Trong các khoản chi của nhà nước thì khoản chi liên quan đến chiphúc lợi xã hội, an sinh xã hội, chi các chương trình mục tiêu để hỗ trợ chonhững người có thu nhập thấp, những người thuộc diện chính sách, đối tượngkhó khăn… luôn chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng chi ngân sách của nhànước Đặc biệt là đối với Việt Nam là nước đang phấn đấu thực hiện thắng lợimục tiêu dân giàu nước mạnh dân chủ công bằng văn minh thì các khoản chitiêu này là một trong số các ưu tiên hàng đầu trong quá trình phân bổ ngânsách của nhà nước
Trang 29Sự thành công trong việc đổi mới chính sách thuế của Nhà nước tatrong những năm qua là: hệ thống thuế mới được áp dụng chung cho cácngành nghề, hoạt động sản xuất kinh doanh, không phân biệt thành phần kinh
tế cũng như các tầng lớp nhân dân nhằm mục tiêu đảm bảo sự công bằng bìnhđẳng trong điều tiết Sự bình đẳng, công bằng thể hiện thông qua các chínhsách động viên như nhau giữa các thành phần kinh tế, chủ thể sản xuất kinhdoanh và mọi tầng lớp dân cư Thông qua một hệ thống các sắc thuế, Nhànước điều chỉnh mức thu nhập giữa các cá nhân trong xã hội, người có thunhập cao phải đóng thuế cao và ngược lại Tổ chức và cá nhân kinh doanh cólợi nhuận cao phải đóng góp thuế cao hơn những tổ chức và cá nhân kinhdoanh có lợi nhuận thấp
* Thuế góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nướcnhằm mục tiêu đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao đờisống vật chất, tinh thần cho nhân dân Thực hiện chủ trương chuyển dịch cơcấu kinh tế của Đảng và Nhà nước, thuế luôn đóng một vai trò quan trọng gópphần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách có hiệu quả như: Tạo môitrường thông thoáng, ưu đãi thuế thu hút các dự án đầu tư vào những lĩnh vực,ngành nghề, vùng lãnh thổ được Nhà nước khuyến khích đầu tư Thuế cũng
có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới cung của thị trường Đó là việc đánhthuế cao hay thấp vào các yếu tố sản xuất, tiêu dùng, thu nhập Với nhữngchính sách ưu đãi của thuế kết hợp với tăng chi ngân sách vào những ngànhnghề, lĩnh vực cần được khuyến khích đã góp phần tác động đến đầu tư vàosản xuất kinh doanh, giúp cơ cấu lại nền kinh tế và góp phần thúc đẩy chuyểndịch cơ cấu kinh tế một cách nhanh chóng, hiệu quả
*
Phát huy vai trò của thuế trong phát triển kinh tế - xã hội là vấn đề cầnthiết và cấp bách đối với sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra
Trang 30sâu rộng, mạnh mẽ và Việt nam đang trở thành thành viên chính thức củanhiều tổ chức kinh tế quốc tế Thuế là một khoản thu của Nhà Nước đối vớicác tổ chức và mọi thành viên trong xã hội Khoản thu này mang tính bắtbuộc, không hoàn trả trực tiếp do Pháp luật của Nhà nước quy định, nhằm sửdụng cho mục đích chung của toàn xã hội Trong quá trình phát triển kinh tế -
xã hội, thuế đóng một vai trò hết sức to lớn: thuế là nguồn thu chủ yếu củangân sách; là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế và đờisống xã hội; góp phần bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế vàcông bằng xã hội
Từ vai trò của thuế nói chung, luận văn đã đưa ra quan niệm: Vai trò củathuế trong phát triển kinh tế xã hội của Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội làviệc thực hiện chức năng của thuế trên địa bàn Quận, là nguồn thu chủ yếucủa ngân sách, là công cụ điều tiết đối với phát triển kinh tế - xã hội, góp phầnbảo đảm sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội trênđịa bàn Quận Vai trò của thuế trong phát triển kinh tế - xã hội được biểu hiện
ở các nội dung: Thuế là công cụ huy động nguồn tài chính cho ngân sách để
thực hiện phát triển kinh tế - xã hội; Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh
tế; Thuế góp phần điều hòa thu nhập thực hiện công bằng xã hội trong phânphối Đồng thời có tác động đến đầu tư vào sản xuất kinh doanh, giúp cơ cấulại nền kinh tế và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách nhanh chóng,hiệu quả
Trang 31Chương 2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA THUẾ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Tình hình hoạt động của ngành thuế trên địa bàn quận Hà
Đông, TP Hà Nội
2.1.1.Tổ chức bộ máy ngành thuế của Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội
Chi cục thuế quận Hà Đông được thành lập theo quyết định 10 TC/QĐ/TCCBngày 21/1/1989 của Bộ Tài chính Trong những năm gần đây được sự chỉ đạo của Cụcthuế Hà nội và sự nhất trí trong lãnh đạo chi cục và cán bộ nhân viên trong toàn Chi cục,đồng thời cùng với sự thay đổi về việc phân cấp quản lý mới nên bộ máy của cơ quanthuế Hà Đông được tổ chức như sau:
Tổng số cán bộ công nhân viên chi cục là 180 người, trong đó có 170 biên chế,còn lại 10 hợp đồng được sắp xếp :
- Ban lãnh đạo:
1 Chi cục trưởng: Trần Văn Giáp Phụ trách chung 3 Chi cục phó (Tạ HồngTrường Phụ trách khối cá thể; Dư Văn Hiệp Phụ trách về đất + phí; Lê Đức Tài Phụtrách vấn đề nghiệp vụ)
- Các bộ phận trực thuộc chi cục được tổ chức : Phòng thanh tra, kiểm tra: 47người; Phòng ngiệp vụ (tuyên truyền hỗ trợ NNT): 12 người; Phòng hành chính, tổchức; ấn chỉ: 26 người; Đội thuế trước bạ và khu khác: 12 người; Đội thuế chợ HàĐông : 08 người; Đội thuế liên phường số1: 12 người; Đội thuế liên phường số 2: 14người; Đội thuế Liên phường số 3: 12 người; Đội thuế liên phường số 4: 12 người; Độithuế kiểm tra nội bộ: 10 người; Đội cưỡng chế thuế :11 người [8]
2.1.2.Tình hình thu ngân sách từ thuế của Quận Hà Đông trong những năm qua
Thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2009 thu được là 50 tỷ đồng đạt142% doanh thu pháp lệnh; năm 2010 thu được là 72 tỷ đồng đạt 120% doanhthu pháp lệnh; năm 2011 thu được là 100 tỷ đồng đạt 125% doanh thu pháp
Trang 32lệnh; năm 2012 thu được là 440 tỷ đồng đạt 105% doanh thu pháp lệnh; năm
2013 thu được là 600 tỷ đồng đạt 115% doanh thu pháp lệnh
Thuế giá trị gia tăng năm 2009 thu được là 250 tỷ đồng đạt 104%doanh thu pháp lệnh; năm 2010 thu được là 390 tỷ đồng đạt 121% doanh thupháp lệnh; năm 2011 thu được 410 tỷ đồng đạt 110% doanh thu pháp lệnh;năm 2012 thu được là 380 tỷ đồng đạt 97% doanh thu pháp lệnh; năm 2013thu được là 465 tỷ đồng đạt 101% doanh thu pháp lệnh
Thu từ khu vực ngoài quốc doanh: Năm 2009 thu được là 400 tỷ đồngđạt 105% doanh thu pháp lệnh; năm 2010 thu được là 500 tỷ đồng đạt 108%doanh thu pháp lệnh; năm 2011 thực hiện được 664 tỷ đồng, đạt 120% doanhthu pháp lệnh; năm 2012 thu được là 560 tỷ đồng đạt 93% doanh thu pháplệnh; năm 2013 thu được là 690 tỷ đồng đạt 95% doanh thu pháp lệnh
Thuế thu nhập cá nhân: Năm 2011 thực hiện được 12 tỷ đồng, đạt 19%doanh thu pháp lệnh; Năm 2012 thu được là 108 tỷ đồng đạt 84% doanh thupháp lệnh; năm 2013 thu được là 124 tỷ đồng đạt 124% doanh thu pháp lệnh
Thu lệ phí trước bạ:
Năm 2011 thực hiện được 231 tỷ đồng, đạt 130 % doanh thu pháplệnh; Năm 2012 thu được là 105 tỷ đồng đạt 98 % doanh thu pháp lệnh; năm
2013 thu được là 138 tỷ đồng đạt 110 % doanh thu pháp lệnh
Phí và lệ phí: Năm 2011 thực hiện được 12 tỷ đồng, đạt 145% doanhthu pháp lệnh; Năm 2012 thu được là 13 tỷ đồng đạt 93 % doanh thu pháplệnh; năm 2013 thu được là 9 tỷ đồng đạt 94% doanh thu pháp lệnh
Thuế bảo vệ môi trường: Năm 2011 thực hiện được 0.2 tỷ đồng, đạt
101 % doanh thu pháp lệnh; Năm 2012 thu được là 0.9 tỷ đồng đạt 130%
Trang 33doanh thu pháp lệnh; năm 2013 thu được là 124 tỷ đồng đạt 90 % doanh thupháp lệnh.
Các khoản thu về đất: Chi cục Thuế Quận Hà Đông tiếp tục phối hợpchặt chẽ với các ngành có liên quan trong công tác quản lý thu Ngân sách đốivới các khoản thu liên quan đến đất đai kết quả đạt được cụ thể như sau:
Thu tiền sử dụng đất: Năm 2009 thực hiện được 290 tỷ đồng, đạt 72%doanh thu pháp lệnh; Năm 2010 thu được là 310 tỷ đồng đạt 51% doanh thupháp lệnh; năm 2011 thực hiện được 352 tỷ đồng, đạt 55% doanh thu pháplệnh; năm 2012 thu được là 360 tỷ đồng đạt 94% doanh thu pháp lệnh; năm
2013 thu được là 640 tỷ đồng đạt 123% doanh thu pháp lệnh
Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp: Năm 2011 thực hiện được 25 tỷđồng, đạt 283% doanh thu pháp lệnh; Năm 2012 thu được là 20 tỷ đồng đạt98% doanh thu pháp lệnh; năm 2013 thu được là 28 tỷ đồng đạt 115% doanhthu pháp lệnh
Thu tiền cho thuê đất: Năm 2011 thực hiện được 33 tỷ đồng, đạt 22%doanh thu pháp lệnh; Năm 2012 thu được là 33 tỷ đồng đạt 90% doanh thupháp lệnh; năm 2013 thu được là 34 tỷ đồng đạt 71% doanh thu pháplệnh[6,7,8]
2.1.3 Công tác quản lý của ngành thuế trên địa bàn Quận Hà Đông
Trong những năm qua ngành thuế Hà Đông đã triển khai đồng bộ, quyếtliệt các giải pháp quản lý thuế, đặc biệt đã tập trung tăng cường công tác tuyên
Trang 34truyền pháp luật thuế, đôn đốc kê khai, nộp thuế, thanh kiểm tra chống thất thu
và đôn đốc nợ đọng thuế nhằm ngăn chặn và phòng chống các hành vi vi phạmpháp luật thuế, đẩy mạnh công tác cải cách, hiện đại hóa công tác quản lý thuế,
từ đó nâng cao tính tuân thủ pháp luật của Người nộp thuế, góp phần tạo môitrường sản xuất kinh doanh bình đẳng và đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhànước, cụ thể là:
Công tác tuyên truyền hỗ trợ:
Công tác tuyên truyền, hỗ trợ Người nộp thuế luôn được ngành thuế HàĐông coi trọng là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt của ngành Nội dung tuyêntruyền tương đối đa dạng, bao trùm hầu hết các sắc thuế, pháp luật quản lýthuế, nhất là các chính sách mới, các chính sách ưu đãi thuế của Nhà nước.Trong thời gian qua, công tác tuyên truyền đã đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu
đề ra, đã chuyển tải kịp thời nội dung cơ bản của chính sách thuế đến các tầnglớp dân cư và Người nộp thuế, góp phần nâng cao hiểu biết về chính sáchthuế của Người nộp thuế và nhân dân Công tác hỗ trợ Người nộp thuế đãđược ngành thuế Hà Đông thực hiện bằng nhiều hình thức đa dạng, phongphú như: Tổ chức các đợt tập huấn cho người nộp thuế về các chính sách thuếmới; trả lời qua đường dây nóng; cung cấp các ấn phẩm, tờ rơi tuyên truyền vềchính sách thuế Thông qua công tác hỗ trợ, chính sách thuế đã được chuyểntải một cách cụ thể cho Người nộp thuế, giải quyết kịp thời những vướng mắccủa Người nộp thuế trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế Tổ chức tốt cáchội nghị đối thoại nhằm tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, đồng thờinắm bắt phản ánh của Người nộp thuế về tinh thần trách nhiệm, thái độ làmviệc của cán bộ thuế đối với Người nộp thuế, tiếp thu các ý kiến đóng góp củaNgười nộp thuế đối với các chính sách thuế
Công tác kê khai thuế:
Tăng cường công tác kê khai - kế toán thuế nhằm thúc đẩy người nộpthuế chấp hành tốt việc kê khai, nộp thuế, đồng thời góp phần ngăn chặn bước
Trang 35đầu các hành vi vi phạm pháp luật thuế của người nộp thuế Do vậy trongnhững năm qua ngành thuế Hà Đông đã tổ chức thực hiện đúng quy trình kêkhai thuế Tăng cường công tác đôn đốc nộp tờ khai, kiểm tra, kiểm soát việc
kê khai thuế của người nộp thuế, phát hiện ngay các trường hợp kê khaikhông đúng, không đủ, không kịp thời số thuế phải nộp để có các biện phápchấn chỉnh, xử lý kịp thời; cương quyết áp dụng các biện pháp xử lý phạt viphạm hành chính trong kê khai thuế (năm 2013 đã ban hành 40 quyết địnhcảnh cáo, 180 quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kê khaithuế, số tiền xử phạt 0.2 tỷ đồng) Do vậy trong năm qua, đại đa số người nộpthuế chấp hành tốt việc kê khai, nộp thuế kịp thời, sát số phát sinh, tỷ lệ ngườinộp thuế đã nộp tờ khai đúng hạn trên số người nộp thuế phải nộp tờ khailuôn đạt trên 90%, số tờ khai sai lỗi số học, số người nộp thuế nộp chậm(hoặc không nộp tờ khai) ngày càng giảm Kết quả của việc thực hiện tốt côngtác quản lý, kiểm tra, kiểm soát kê khai thuế, nộp thuế đã tác động tích cựcđến số thuế thu được trong kỳ[8]
Công tác hoàn thuế:
Trong năm qua, công tác hoàn thuế của ngành thuế Hà Đông luôn đượcchú trọng thực hiện đúng theo quy định của Luật quản lý thuế, các Luật thuế vàQuy trình hoàn thuế doTổng cục thuế quy định Đã tăng cường công tác kiểmtra hoàn thuế giá trị gia tăng Kiểm tra ngay đối với các hồ sơ thuộc diện hoàntrước, kiểm tra sau đối với các lĩnh vực ngành nghề có dấu hiệu rủi ro theo cáccông văn chỉ đạo của Bộ Tài chính, Tổng Cục Thuế, Cục thuế Hà Nội Bêncạnh việc chấn chỉnh thực hiện các thủ tục hành chính trong công tác hoànthuế, đã kết hợp hoàn thuế với công tác thanh tra, kiểm tra, đôn đốc thu nợ thuếđạt được kết quả tốt
Năm 2013 đã hoàn thuế giá trị gia tăng cho 30 hồ sơ, tổng số thuế đã hoàn
là 120 tỷ đồng, trong đó: Hoàn do xuất khẩu 21 hồ sơ, số tiền hoàn là 80 tỷ; Hoàn
Trang 36cho dự án ODA: 0 hồ sơ, số tiền hoàn là 0 tỷ; Hoàn do đầu tư mới, mở rộng: 0 hồ
sơ, số tiền hoàn là 0 tỷ; Hoàn khác: 9 đối tượng, số tiền hoàn là 40 tỷ[8]
Công tác kiểm tra chống thất thu:
Ngay từ cuối của các năm, ngành thuế của Hà Đông đã xây dựng kếhoạch kiểm tra đối tượng nộp thuế của các năm sau theo đúng quy trình, thôngqua đánh giá rủi ro, phân tích thông tin về đối tượng nộp thuế trên tờ khai thuếhàng tháng, báo cáo tài chính doanh nghiệp và cơ sở dữ liệu của cơ quan thuế,đồng thời thông qua công tác kiểm tra tại cơ quan thuế, lựa chọn các doanhnghiệp có dấu hiệu rủi ro cao về thuế để đưa vào kế hoạch, kiểm tra
Trong thời gian qua công tác kiểm tra của ngành thuế Hà đông đã tiếnthêm một bước trong việc thay đổi từ nhận thức đến phương pháp kiểm tra.Ngoài công tác kiểm tra hồ sơ khai thuế tại cơ quan thuế đã được đổi mới đểđảm bảo đạt hiệu quả hơn, trong đó tập trung kiểm tra những doanh nghiệptrọng điểm, những doanh nghiệp có rủi ro cao, do vậy đã rút ngắn thời giankiểm tra tại doanh nghiệp đẩy nhanh tiến độ, đảm bảo cả số lượng và chấtlượng công tác kiểm tra Năm 2013 đã kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế 41.125
hồ sơ, số hồ sơ chấp nhận là 35.239 hồ sơ; số hồ sơ điều chỉnh là 5.886 (số thuếđiều chỉnh tăng: 5 tỷ, số thuế điều chỉnh giảm: 2tỷ); số hồ sơ đề nghị kiểm tratại doanh nghiệp là 224 hồ sơ
Đã hoàn thành 220 cuộc kiểm tra với số thuế truy thu, truy hoàn và phạt
là 23 tỷ đồng; giảm thuế giá trị gia tăng khấu trừ: 12 tỷ đồng; giảm số thuế giá
gia tăng xin hoàn 0.02 tỷ đồng; giảm lỗ 14 tỷ đồng (so với kết quả năm 2012 tăng 112% về số lượng và tăng180% về số thuế truy thu, truy hoàn và phạt)[8]
Công tác quản lý đôn đốc thu hồi nợ thuế:
Ngành thuế của quận Hà Đông đã xây dựng kế hoạch quản lý nợ; giaochỉ tiêu thu nợ thuế đến các bộ phận trong ngành, chỉ đạo các bộ phận tăngcường áp dụng các biện pháp đôn đốc thu nợ và cưỡng chế nợ thuế theo đúng
Trang 37Quy trình quản lý thu nợ, Luật quản lý thuế và các Pháp luật thuế; Xây dựngquy chế phối hợp giữa các đội có liên quan trong công tác quản lý nợ thuế;Thực hiện việc phân loại và phân tích nguyên nhân nợ đến từng doanh nghiệp
để có biện pháp xử lý phù hợp và kịp thời theo quy định của pháp luật Tậptrung thực hiện có hiệu quả các biện pháp cưỡng chế nợ thuế; Thực hiện tốt
cơ chế phối hợp với các ngành liên quan trong quản lý nợ và cưỡng chế nợthuế Năm 2013 đã thực hiện thông báo nợ thuế được 3.450 lượt; thông báo
áp dụng biện pháp cưỡng chế nợ thuế đối với 160 lượt, đã thu được: 30 tỷ và
đã ban hành 150 quyết định cưỡng chế nợ thuế, thu được 20 tỷ
Kết quả thu nợ năm 2013: đã thu được 180 tỷ đồng, đạt 70,9% chỉ tiêuthu nợ Trong đó: Thu nợ về thuế, phí là 120 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 95% chỉ tiêu;Thu nợ liên quan đến đất là 60 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 98% chỉ tiêu[8]
Công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân:
Chi cục thuế tiếp tục thực hiện tốt công tác quản lý thuế thu nhập cánhân, tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chính sách thuế và quyếttoán thuế thu nhập cá nhân; hướng dẫn, tập huấn cho người nộp thuế; hỗ trợcho người nộp thuế bằng nhiều hình thức với tinh thần tạo điều kiện thuận lợinhất cho người nộp thuế
Trong năm 2013 đã có 5.156 tổ chức nộp quyết toán thuế đạt 96% số tổchức phải nộp Số thuế thu nhập cá nhân phải nộp sau quyết toán là 50 tỷ, đãnộp 42 tỷ, đạt 84% Bên cạnh việc tiếp nhận hồ sơ, đôn đốc thu nộp theoquyết toán thuế, Chi cục thuế Hà Đông đã tăng cường công tác kiểm tra quyếttoán thuế thu nhập cá nhân để chấn chỉnh, xử lý vi phạm, kết quả đã kiểm tratại 1500 đơn vị, truy thu và phạt 8 tỷ đồng [8]
công tác quản lý thuế hộ kinh doanh:
Trong những năm qua ngành thuế Hà Đông đã chỉ đạo các cơ quan củangành thuế phối hợp với Hội đồng tư vấn thuế xã, phường, thị trấn rà soát,
Trang 38điều chỉnh doanh thu, mức thuế của hộ kinh doanh theo quy định của Luậtquản lý thuế và các văn bản pháp luật thuế, thực hiện lập bộ thuế hộ kinhdoanh thu theo phương pháp khoán, công khai thuế theo quy định; rà soát cửahàng, cửa hiệu kinh doanh trên địa bàn; Kết quả: Số hộ đang hoạt động kinhdoanh là 7.420 hộ (gồm 6.450 hộ đang nộp thuế tháng và 970 hộ thu nhậpthấp không phải nộp thuế tháng), trong đó hộ có mã số thuế là 6.380 hộ Việc
rà soát, cấp mã số thuế cho các hộ kinh doanh được triển khai tích cực, hiệnchỉ còn 70 hộ kinh doanh không có mã số thuế[8]
Công tác ủy nhiệm thu thuế đã được triển khai trên địa bàn theo quyếtđịnh số 03/2010/QĐ-UBND ngày 19/01/2010, một số địa bàn triển khai tươngđối tốt, đóng góp quan trọng trong việc quản lý tốt người nộp thuế trên từngđịa bàn
Công tác quản lý các khoản thu từ đất:
Ngành thuế Hà Đông đã chủ động tham mưu cho UBND Quận trongviệc xây dựng, cụ thể hoá để triển khai thực hiện chính sách quản lý cáckhoản thu từ đất trên địa bàn Triển khai thực hiện quản lý các khoản thu từđất theo chức năng, nhiệm vụ được giao: Trong bối cảnh suy thoái kinh tế,ngành thuế Hà Đông đã tích cực chủ động rà soát nguồn thu, triển khai hàngloạt biện pháp đồng bộ để đôn đốc thu, nộp ngân sách Nhà nước; Tham mưuQuận thành lập các tổ công tác đôn đốc nợ, chỉ đạo ngân hàng rà soát tài khoảnngân hàng đối với các chủ đầu tư còn nợ nghĩa vụ tài chính với ngân sách Nhànước; đẩy mạnh công tác tuyên truyển phối hợp báo, đài đăng tin công khai cácchủ đầu tư, các dự án còn nợ tiền sử dụng đất chây ỳ; Phối hợp đồng bộ giữa cácngành trong Quận thực hiện tốt công tác quản lý, đôn đốc thu nộp, tổ chức thutiền sử dụng đất theo đúng quy trình Tổng hợp các nội dung còn vướng mắctrong quá trình quản lý thu để kịp thời báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của cơ quancấp trên; phối hợp với Liên ngành báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của UBND
Trang 39Quận Tiếp tục triển khai thực hiện tốt công tác quản lý thu thuế sử dụng đấtphi nông nghiệp Phối hợp chặt chẽ, thường xuyên với chính quyền địaphương các cấp tiếp tục tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật Thuế sử dụng đấtphi nông nghiệp để mọi người dân hiểu và thực hiện đúng quy định; Thựchiện đồng bộ các giải pháp để đôn đốc thu nộp thuế theo đúng quy định củaLuật và đảm bảo thời gian.
2.2 Đánh giá thực trạng vai trò của thuế trong phát triển kinh tế
-xã hội ở Quận Hà Đông thành phố Hà Nội
Tổng thu thuế và phí luôn hoàn thành vượt mức dự toán thu hàng nămđược hội đồng nhân dân Quận thông qua thông qua, đạt tốc độ tăng trưởngcao Năm 2013, tăng 0,9 lần so với năm 2012 Số thu về thuế và phí trongtổng thu ngân sách nhà nước năm 2009 chỉ chiếm 1,1%, đến năm 2013 đãchiếm 2,7%[8]
Nhờ thu ngân sách nhà nước tăng khá nên Quận và Thành phố Hà Nội
có thêm thực lực để đầy mạnh đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội,giáo dục, văn hóa, y tế, đảm bảo quốc phòng, an ninh, thực hiện xóa đói giảmnghèo, tăng thêm dự trữ Trong thời gian qua cũng đánh dấu một tín hiệuđáng mừng đó là độ nổi của các sắc thuế cơ bản trong nền kinh tế như thuếgiá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp đã có dấu hiệu khả quan Điều đó
Trang 40chứng tỏ chính sách thuế đã và đang từng bước bám sát với thực tế đời sốngkinh tế xã hội của đất nước Hơn nữa, thời gian qua cũng phản ánh sự thay đổitrong cơ cấu thu ngân sách nhà nước
Trong số 2.600 tỷ chỉ tiêu thu ngân sách nhà nước được giao năm 2013đều đạt và vượt kế hoạch Thu nội địa trên địa bàn Quận Hà Đông trong nhữngnăm qua tăng đáng kể trong đó thuế giá trị gia tăng chiếm tỷ trọng khá lớntrong các nguồn thu thường xuyên Nếu năm 2009 tỉ trọng thu nội địa và thukhác 30 % thì đến năm 2013 đạt được 80% Trong đó tỉ trọng thu từ thuế xuấtnhập khẩu trong thu ngân sách Nhà nước đã giảm khá rõ do thư hiện lộ trìnhcắt giảm thuế quan Điều này phản ánh mức độ bền vững của ngân sách củaQuận Hà Đông ngày càng vững chắc hơn trong tiến trình hội nhập kinh tế vàcắt giảm thuế quan đồng thời thuế thu nhập doanh nghiệp cũng tăng lên Sốthu từ thuế vào ngân sách của Quận không ngừng tăng lên qua các năm Số thu
từ thuế vào ngân sách của Quận ngày càng tăng kết hợp với việc kiên quyết cắtgiảm các khoản chi tiêu lãng phí, giảm bớt các khoản chi không thuộc ngânsách nhà nước Đồng thời Quận Hà Đông đã thực hiện tốt nguyên tắc cân đốingân sách bền vững là tổng số thu từ thuế, phí phải lớn hơn tổng chi thườngxuyên, phần còn lại dành cho chi đầu tư phát triển, số bội chi, lạm phát phảinhỏ hơn tổng chi đầu tư phát triển và tiến tới cân bằng thu chi ngân sách nhànước Với nguyên tắc này kết hợp với số tăng thu từ thuế và bội chi được kiểmsoát chặt chẽ nên ngân sách dành cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ngàycàng tăng“ Báo cáo tổng kết công tác thu năm thuế năm 2013” [8]
* Góp phần thu hút các nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội của Quận.
Hiện nay phát triển kinh tế thường được phân chia làm 2 loại:
Thứ nhất, phát triển theo chiều rộng, tức là phát triển chủ yếu dựa vào
tăng vốn đầu tư, tăng số lao động, tăng cường khai thác tài nguyên;
Thứ hai, phát triển theo chiều sâu là phát triển do tăng năng suất lao