1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ KINH tế CHÍNH TRỊ THAM GIA GIẢM NGHÈO TRÊN địa bàn của hội LIÊN HIỆP PHỤ nữ THÀNH PHỐ hà nội

110 266 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 2,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giảm nghèo là một trong những chư¬ơng trình mục tiêu quốc gia quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân nói chung, thành phố Hà Nội nói riêng trong giai đoạn hiện nay. Trong những năm qua, thành phố Hà Nội đã có nhiều chủ trư¬ơng chính sách hỗ trợ hộ nghèo vư¬ơn lên trong sản xuất, đời sống, nên tỷ lệ hộ nghèo liên tục giảm, đư¬ợc công nhận là một trong những địa phương giảm nghèo tốt nhất của cả nước. Cùng với công tác an sinh xã hội và phúc lợi xã hội hoạt động giảm nghèo của Hà Nội thời gian qua đã có những đổi mới và mang lại những kết quả bước đầu rất quan trọng, tuy nhiên thực tiễn quá trình phát triển kinh tế xã hội của Hà Nội đang đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi hoạt động giảm nghèo của thành phố phải được tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hơn nữa.

Trang 1

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Bộ Lao động thương binh và Xã hội BLĐTB&XH

Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá CNH, HĐH

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THAM GIA GIẢM NGHÈO

TRÊN ĐỊA BÀN CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ

Trang 2

1.1 Quan niệm nghèo, giảm nghèo và đặc điểm giảm nghèo trên địa

1.2 Quan niệm, nội dung, các nhân tố tác động và sự cần thiết

phải tham gia giảm nghèo trên địa bàn của Hội liên Hiệp

Chương 2 THỰC TRẠNG THAM GIA GIẢM NGHÈO TRÊN

ĐỊA BÀN CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ THÀNH

Chương 3 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

NÂNG CAO HIỆU QUẢ THAM GIA GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ

3.1 Quan điểm cơ bản nâng cao hiệu quả tham gia giảm nghèo

trên địa bàn của Hội Liên Hiệp Phụ nữ thành phố Hà Nội

3.2 Một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả tham gia giảm

nghèo trên địa bàn của Hội Liên Hiệp Phụ nữ thành phố Hà

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giảm nghèo là một trong những chương trình mục tiêu quốc gia quantrọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân nói chung, thành phố Hà Nội nói riêngtrong giai đoạn hiện nay Trong những năm qua, thành phố Hà Nội đã có nhiềuchủ trương chính sách hỗ trợ hộ nghèo vươn lên trong sản xuất, đời sống, nên tỷ

lệ hộ nghèo liên tục giảm, được công nhận là một trong những địa phương giảmnghèo tốt nhất của cả nước Cùng với công tác an sinh xã hội và phúc lợi xãhội hoạt động giảm nghèo của Hà Nội thời gian qua đã có những đổi mới vàmang lại những kết quả bước đầu rất quan trọng, tuy nhiên thực tiễn quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội của Hà Nội đang đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏihoạt động giảm nghèo của thành phố phải được tiếp tục đổi mới, hoàn thiệnhơn nữa

Hà Nội, trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và là thủ đô của cả nước,trong những năm qua, sự nghiệp xóa đói, giảm nghèo đã đạt được nhiều thànhtựu quan trọng, lá cớ đầu trong sự nghiệp xóa đói, giảm nghèo của cả nước.Cho đến nay, Hà Nội đã hoàn thành mục tiêu xóa đói, mục tiêu giảm nghèođang được đẩy mạnh thực hiện Chính quyền thành phố đã có nhiều chủtrương, chính sách huy động sự đóng góp sức người, sức của của các cấp, cácngành, các đoàn thể, trong đó có Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Cùng vớicác cấp, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn, những năm qua HộiLiên hiệp Phụ nữ thành phố đã có nhiều đóng góp tích cực vào công tác giảmnghèo của Hà Nội, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo ngày một giảm nhất là các quậnnội thành, tỷ lệ người lao động đến độ tuổi có việc làm ngày càng tăng, thu nhậpcủa người dân tăng lên rõ rệt, đời sống văn hóa tinh thần và diện mạo thủ đô ngàycàng khởi sắc góp phần quan trọng vào thực hiện thắng lợi các mục tiêu theo tinhthần nghị quyết đại hội XV của đảng bộ thành phố

Trang 4

Tuy nhiên, quá trình tham gia giảm nghèo của Hội Liên hiệp Phụ nữthành phố cũng đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết như: năng lực hoạtđộng giảm nghèo của các cấp hội còn hạn chế, cơ chế, chính sách chưa hoànthiện, huy động nguồn lực cho hoạt động giảm nghèo của hội còn khiêm tốn dẫn đến kết quả giảm nghèo chưa vững chắc, chênh lệch giàu - nghèo giữa cácvùng, nhóm dân cư chưa được thu hẹp, tỷ lệ hộ nghèo hiện nay vẫn còn cao, đặcbiệt là ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn khácao, cùng với nó công tác giảm nghèo của Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố cũngđang đặt ra khá nhiều nhiều vấn đề bức xúc cần tiếp tục nghiên cứu giải quyết.

Để bảo đảm đầy đủ và hợp lý các nguồn lực cũng như hệ thống chínhsách hỗ trợ cho công tác giảm nghèo, tạo động lực mạnh mẽ, góp phần thựchiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của thành phố trong giaiđoạn 2010 - 2015 và định hướng đến năm 2020 mà Nghị quyết Đại hội XVĐảng bộ thành phố Hà Nội đã đề ra, một trong những vấn đề cần quan tâmgiải quyết đó là xóa đói, giảm nghèo Xuất phát từ lý do đó, tác giả lựa chọn

vấn đề: “ Tham gia giảm nghèo trên địa bàn của Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Hà Nội ” làm đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế.

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Giảm nghèo là vấn đề quan trọng trong các chính sách xã hội của đấtnước nói chung, Hà Nội nói riêng nên trong thời gian qua vấn đề giảm nghèođược nhiều cấp, nhiều ngành và nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, trong đónổi lên một số công trình khoa học tiêu biểu và bài báo khoa học là:

* Sách tham khảo

“Đói nghèo ở Việt Nam” của Bộ lao động Thương binh và xã hội, Nxb Lao

động - Xã hội, Hà Nội, năm 2012 Công trình này đã khái quát toàn cảnh bứctranh hiện thực đói nghèo ở Việt Nam Nhất là các vùng nông thôn, vùng sâu,vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ít người, biên giới, hải đảo, vùng căn

Trang 5

cứ cách mạng; đồng thời tập trung phân tích thực trạng nghèo, đói ở nước ta,nguyên nhân của đói, nghèo Trên cơ sở đó, đề xuất một hệ thống các giảipháp nhằm xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam trong tương lai.

“Tổng kết & đánh giá thực tiễn thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo ở nước ta giai đoạn 2001 - 2010, xây dựng cơ chế chính sách và giải pháp xóa đói, giảm nghèo phục vụ công tác quản lí và điều hành của Đảng trong giai đoạn 2011 - 2020” của tác giả Lê Quốc Lí, Nxb Chính trị Quốc

gia, Hà Nội, năm 2012 Trong công trình này tác giả đã khảo sát, tổng kết kếtquả xóa đói, giảm nghèo của nước ta giai đoạn 2001 - 2010, chỉ rõ thành tựu,hạn chế, nguyên nhân của thành tựu, hạn chế Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất,kiến nghị với Đảng một hệ thống cơ chế, chính sách và giải pháp xóa đói,giảm nghèo giai đoạn 2010 - 2020

“Nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam thực trạng và thách thức tại các xã đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135 - II” của tác giả

Phạm Thái Hưng, Nxb Thống Kê, Hà Nội, năm 2012 Trong công trình nàytác giả đã làm rõ thực trạng đói nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số ở ViệtNam tại các xã đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135 - II Nêu rõ nhữngvấn đề đặt ra cần nghiên cứu, giải quyết Trên cơ sở đó đề xuất phương hướng

và giải pháp xóa đói, giảm nghèo trong thời gian tiếp theo

“Xoá đói, giảm nghèo với tăng trưởng kinh tế” của nhóm tác giả Nguyễn

Thị Hằng, Trần Đình Hoan, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2008 Trongcông trình này các tác giả đã đề cập đến mối quan hệ giữa xoá đói, giảm nghèovới tăng trưởng kinh tế ở nước ta, chỉ rõ thành tựu xóa đói, giảm nghèo, nguyênnhân và những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong mối quan hệ giữa xóa đói, giảmnghèo với tăng trưởng kinh tế; đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh xoáđói, giảm nghèo ở nước ta gắn với tăng trưởng kinh tế

“Nghèo, đói và xoá đói, giảm nghèo ở Việt Nam” của Lê Xuân Bá và

Chu Tiến Quang (đồng chủ biên), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, năm 2001

Trang 6

Trong công trình này, các tác giả đã làm rõ khái niệm nghèo, giảm nghèo, tiêuchí, đặc điểm đói, nghèo; đánh giá thực trạng công tác xóa đói, giảm nghèo ởViệt Nam thời gian qua và đề xuất các giải pháp xóa đói, giảm nghèo ở nước

ta trong thời gian tới cả trước mắt và lâu dài

“Những mô hình, kinh nghiệm giảm nghèo ở Việt Nam” của Bộ Lao

động Thương binh và Xã hội, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội, 2007 Trongcông trình này, các tác giả đã tập trung làm sáng tỏ thực trạng nghèo, phântích nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, đồng thời giới thiệu những mô hìnhgiảm nghèo tốt nhất ở Việt Nam để các địa phương tham khảo Trên cơ sở đóđịnh hướng và đề xuất các giải pháp nhằm góp phần xóa đói, giảm nghèo ởnước ta trong thời gian tới

* Luận án, luận văn

“Giải pháp xóa đói, giảm nghèo nhằm phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam” Nguyễn Thị Nhung, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học

Kinh tế Quốc dân Hà Nội, 2012: Luận án trình bày tổng quan nghiên cứu vềxóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội, lý luận và thực tiễn về xóađói giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội, thực trạng xóa đói giảm nghèo

và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh Tây Bắc ViệtNam Trên cơ sở đó, đề xuất hệ thống giải pháp xóa đói, giảm nghèo ở cáctỉnh Tây Bắc Việt Nam trong thời gian tới

“ Hoàn thiện các chính sách xóa đói, giảm nghèo chủ yếu của Việt Nam đến năm 2015” Nguyễn Thị Hoa, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh

tế Quốc dân Hà Nội, 2012: Luận án trình bày thực trạng đói, nghèo của ViệtNam qua các thời kì, chỉ ra thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của thành tựu,hạn chế trong công tác xóa đói, giảm nghèo Trên cơ sở đó, tác giả đề xuấtcác giải pháp hoàn thiện các chính sách xóa đói, giảm nghèo chủ yếu của ViệtNam đến năm 2015

Trang 7

“Tăng trưởng kinh tế với giảm nghèo trong quá trình đổi mới ở Việt Nam” Vũ Thị Vinh, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân Hà

Nội, 2009: Luận án khái quát bức tranh tăng trưởng kinh tế gắn với giảmnghèo ở Việt Nam trong giai đoạn đổi mới, chỉ ra thành tựu và hạn chế,nguyên nhân của thành tựu, hạn chế, chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiêncứu, giải quyết Đồng thời, đề xuất các giải pháp bảo đảm tăng trưởng kinh tếgắn với xóa đói, giảm nghèo trong thời gian tới

“Nâng cao hiệu quả sử dụng lao động để góp phần xoá đói, giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam” Vũ Thị Hiểu, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học

Kinh tế Quốc dân Hà Nội, 1996: Luận án đã khái quát được các tiêu chí vềnghèo qua các giai đoạn, chỉ ra nguyên nhân dẫn đến nghèo trong đó cónguyên nhân sử dụng lao động không hiệu quả, đi sâu phân tích hiệu quả củaviệc sử dụng hợp lý nguồn lao động để xóa đói, giảm nghèo ở các vùng nôngthôn của Việt Nam Đồng thời, đề xuất hệ thống các quan điểm và giải pháptrong việc nâng cao hiệu quả sử dụng lao động để góp phần xoá đói, giảmnghèo ở nông thôn Việt Nam

“Các giải pháp tín dụng đối với người nghèo ở Việt Nam hiện nay”

Đào Văn Hùng, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội,2001: Luận án đã làm rõ quan niệm về nghèo, đặc điểm của hộ nghèo, xãnghèo, nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, phân tích sâu vai trò của chính sáchtín dụng đối với giảm nghèo ở nước ta; qua đó đề xuất các quan điểm và giảipháp đẩy mạnh tính dụng cho người nghèo vay vốn phát triển kinh tế, giảmnghèo bền vững ở Việt Nam hiện nay

“Quân đội tham gia xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam hiện nay”

Nguyễn Trọng Xuân, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị Quân sự,2004: Luận án đã trình bầy một cách hệ thống các quan niệm về nghèo củacác cá nhân và các tổ chức trên thế giới và trong nước, tập trung phân tích sâunội hàm khái niệm nghèo theo quan niệm của tác giả, nguyên nhân của đói

Trang 8

nghèo và đặc điểm xóa đói, giảm nghèo ở nước ta thời gian qua; trên cơ sở đólàm rõ vai trò của quân đội trong tham gia xóa đói, giảm nghèo, đề xuất hệthống quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả tham gia xóa đói, giảm nghèocủa quân đội trong thời gian tới.

“Hoàn thiện chính sách xoá đói, giảm nghèo đối với tỉnh miền núi”

Nguyễn Trung Hải, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân HàNội, 2006: Luận văn đã đánh giá thực trạng chính sách xóa đói, giảm nghèođối với các tỉnh miền núi, phân tích, làm rõ thành tựu, hạn chế, nguyên nhâncủa thành tựu, hạn chế chỉ ra những bất cập cần phải tiếp tục nghiên cứu giảiquyết, qua đó đề xuất quan điểm và các giải pháp hoàn thiện các chính sáchxóa đói, giảm nghèo đối với các tỉnh miền núi thời gian tới

“Một số giải pháp chủ yếu nhằm xóa đói, giảm nghèo ở vùng Tây Bắc giai đoạn 2006 - 2010” Ngô Xuân Quyết, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học

Kinh tế Quốc dân Hà Nội, 2006: Luận văn phân tích làm rõ cơ sở lý luận vềxóa đói, giảm nghèo, đánh giá thực trạng công tác xóa đói, giảm nghèo ở TâyBắc chỉ rõ thành tựu hạn chế và nguyên nhân cũng như những vấn đề đặt racần giải quyết Đồng thời, đề xuất các quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếunhằm đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo ở Tây Bắc thời gian tới

“Giảm nghèo tại các huyện ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hóa” Nguyễn Công Bằng, Luận văn thạc sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân Hà

Nội, 2009: Luận văn đã phân tích làm rõ nguyên nhân và đặc điểm của các hộnghèo, xã nghèo, đánh giá thực trạng nghèo và giảm nghèo ở các huyện ngoạithành Hà Nội, chỉ rõ thành tựu, hạn chế và nguyên nhân cũng như những vấn

đề đặt ra cần giải quyết Trên cơ sở đó đề xuất hệ thống các giải pháp nhằmđẩy mạnh giảm nghèo của các huyện ngoại thành Hà Nội trong thời gian tới

* Bài báo khoa học

“Công tác xóa đói giảm nghèo tại thành phố Hà Nội - một số kết quả

và giải pháp” Đông Thị Hồng, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 207/2014.

Trang 9

“ Phát huy vai trò các tổ chức xã hội trong giải quyết lao động việc làm, tăng thu nhập cho người nghèo vùng Tây Bắc Việt Nam” Lê Văn Thái,

Quốc phòng toàn dân, số 12/2013

“ Tác động của quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo đối với hộ gia đình tại tỉnh Hải Dương” Đàm Viết Cường, Tạp chí Cộng sản, số 827/ 2012.

“ Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo đối với đời sống kinh tế - xã hội của người Mường ở Phú Thọ” Nguyễn Anh Dũng, Tạp

và đô thị hóa đòi hỏi phải có nhận thức sâu sắc và tổng quát về xóa đói, giảmnghèo, bảo đảm sự phát triển đúng định hướng XHCN, phục vụ có hiệu quảCNH, HĐH và đô thị hóa Đồng thời, góp phần củng cố nền quốc phòng - anninh Tuy nhiên, ở phạm vi địa phương, theo nhận biết của tác giả, đến nay chưa

có đề tài, công trình khoa học nào nghiên cứu vấn đề tham gia giảm nghèo của

Trang 10

Hội liên Hiệp Phụ nữ thành phố Hà Nội dưới dạng một luận văn khoa học kinh

tế chính trị Để thực hiện đề tài này, tác giả có lựa chọn và kế thừa một số kếtquả nghiên cứu đã được công bố, kết hợp khảo sát thực tiễn giảm nghèo thànhphố Hà Nội trong những năm qua để phân tích, từ đó đưa ra các giải pháp phùhợp với tình hình thực tế của địa phương trên cơ sở đường lối, quan điểm, chủtrương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội nói chung, chính sách giảm nghèonói riêng của Đảng, Nhà nước và của thành phố Hà Nội Do đó, đề tài tác giả lựachọn không trùng lặp với các công trình nghiên cứu khác

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

* Mục đích nghiên cứu

Luận giải những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn tham gia giảm

nghèo trên địa bàn của Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Hà Nội trên cơ sở đó

đề xuất quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả tham gia giảm nghèo trênđịa bàn của Hội liên hiệp Phụ nữ thành phố Hà Nội trong thời gian tới

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích làm rõ lý luận cơ bản và thực tiễn về giảm nghèo dưới góc

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài.

* Đối tượng nghiên cứu

Tham gia giảm nghèo trên địa bàn của Hội liên hiệp Phụ nữ thành phố

Hà Nội

* Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Đối tượng nghèo trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay

gồm có cả hộ nghèo, xã nghèo Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động tham

Trang 11

gia giảm nghèo của Hội liên hiệp Phụ nữ thành phố cho hộ nghèo trên địa bàn,không nghiên cứu đối tượng nghèo là xã nghèo

- Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động tham gia

giảm nghèo của Hội liên hiệp Phụ nữ thành phố trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Về thời gian: Luận văn tập trung phân tích, nghiên cứu, khảo sát số

liệu, tư liệu từ năm 2008 đến nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

* Phương pháp luận

Đề tài dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí

Minh và đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Đạihội đại biểu Đảng bộ và của Ban chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội về xóađói, giảm nghèo và kế thừa kết quả các công trình khoa học đã công bố cũngnhư tư liệu, tài liệu của các cơ quan chức năng có liên quan

* Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duyvật lịch sử, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù của kinh tếchính trị Mác - Lênin: trừu tượng hóa khoa học, kết hợp lôgíc và lịch sử, phântích, tổng hợp, thống kê, so sánh và phương pháp chuyên gia

6 Ý nghĩa của luận văn

- Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận và thực tiễn vềtham gia giảm nghèo trên địa bàn của Hội liên hiệp Phụ nữ thành phố Hà Nội

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trongnghiên cứu và giảng dạy môn Kinh tế chính trị Mác - Lênin; tài liệu thamkhảo để Hà Nội và các địa phương xây dựng, hoạch định cơ chế, chính sách

và có giải pháp giảm nghèo trên địa bàn phù hợp với thực tiễn địa phương

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu luận văn gồm 03 chương (6 tiết), kết luận, danh mụctài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THAM GIA GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN

CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ THÀNH PHỐ HÀ NỘI

1.1 Quan niệm nghèo, giảm nghèo và đặc điểm giảm nghèo trên địa bàn thành phố Hà Nội

1.1.1 Quan niệm về nghèo và giảm nghèo

* Quan niệm về nghèo

Nghèo hiện nay là một mục tiêu thiên nhiên kỷ được thế giới nói chung,từng quốc gia nói riêng đặc biệt quan tâm, nghiên cứu, giải quyết Hiện cónhiều quan niệm khác nhau về nghèo, được tiếp cận dưới nhiều góc độ khácnhau, tựu chung có các quan niệm tiêu biểu sau:

Uỷ ban Kinh tế và Xã hội của Liên hợp quốc về châu Á - Thái Bình

Dương (ESCAP) đưa ra định nghĩa về vấn đề nghèo: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục, tập quán của địa phương”.

Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về phát triển xã hội tổ chức tạiCopenhagen (Đan Mạch) năm 1995 đã đưa ra định nghĩa về nghèo như sau:

“Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 USD (đô la) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”.

Ngân hàng thế giới (WB) cũng đưa ra định nghĩa: “Nghèo là một khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất Nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức khoẻ, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực”.

Như vậy, có thể hiểu nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư yếu thếcủa một quốc gia không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản về vật

Trang 13

vật chất và tinh thần của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hộithừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế, xã hội và phong tục tập quáncủa địa phương, của quốc gia Nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phươngdiện, đó là thu nhập hạn chế, hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản đểbảo đảm tiêu dùng ở mức độ tối thiểu, đặc biệt là những lúc khó khăn, dễ bịtổn thương trước những đột biến bất lợi của điều kiện khách quan; ít có khảnăng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới những người có khả năng giảiquyết; ít được tham gia vào quá trình ra các quyết định chung, có cảm giáckhông được người khác tôn trọng Nghèo phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của

xã hội nhất định, nghèo không chỉ đơn giản là mức thu nhập thấp mà cònthiếu thốn trong việc tiếp cận dịch vụ công như giáo dục - đào tạo, văn hóa -nghệ thuật, chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh, chỗ ở, phương tiện đi lại nghèo còn là tình trạng đe dọa bị mất những phẩm chất quý giá, đó là lòng tựtin, lòng tự trọng vào chính bản thân mình và những người xung quanh

* Ngưỡng nghèo

Để xác định nghèo khổ, cần phải xác định ngưỡng nghèo (chuẩn nghèo).Nghĩa là những người có mức thu nhập dành cho chi tiêu vật chất dưới ngưỡngnày được coi là những người nghèo Theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cậnnghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 như sau:

Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống

Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống

Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000đồng đến 520.000 đồng/người/tháng

Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000đồng đến 650.000 đồng/người/tháng [40, tr.7]

Trang 14

Chuẩn nghèo, cận nghèo của Thành phố Hà Nội giai đoạn 2011 - 2015 qui định theo thu nhập bình quân/người/tháng cụ thể như sau:

Thành thị Từ 750.000 đồng trở xuống Từ 751.000 đến 1.000.000 đồngNông thôn Từ 550.000 đồng trở xuống Trên 551.000 đến 750.000 đồng

Ngoài khái niệm, chuẩn mực người nghèo, hộ nghèo, người ta còn đưa

ra khái niệm, chuẩn mực vùng nghèo (vệt nghèo): Vùng nghèo, là một miềnliên tục gồm nhiều làng, xã, huyện, hoặc một làng, một xã, một huyện mà tại

đó chứa đựng nhiều khó khăn, bất lợi cho sự phát triển của cộng đồng (nhưđất đai khô cằn, thời tiết khí hậu khắc nghiệt, địa hình phức tạp, trình độ dântrí thấp ) và có mức sống dân cư trong vùng rất thấp so với mức sống chungcủa cả nước xét trong cùng một thời điểm

Ngày 22 tháng 05 năm 2012, Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH đã ký quyết địnhban hành tiêu chí xã nghèo giai đoạn 2011 - 2015 Theo đó, các xã nghèo lànhững xã có 25% hộ nghèo trở lên và chưa đủ 3 trong 6 hạng mục cơ sở hạ tầngthiết yếu, bao gồm đường giao thông, trường học, trạm y tế, nước sinh hoạt, điệnsinh hoạt và chợ Cụ thể, xã có dưới 30% số hộ dân sử dụng nước sạch; dưới50% số hộ sử dụng điện sinh hoạt; chưa có đường ôtô đến trung tâm xã hoặc ôtôkhông đi lại được; số phòng học chỉ đáp ứng được dưới 70% nhu cầu học sinh;chưa có trạm y tế xã hoặc có nhưng là nhà tạm; chưa có chợ hoặc chợ tạm

* Giảm nghèo

Giảm nghèo là mục tiêu chung của thế giới (mục tiêu thiên nhiên kỷ),mục tiêu của mỗi quốc gia hiện nay Hiện có nhiều quan niệm giảm nghèo tiếpcận từ nhiều góc độ khác nhau Song, tựu chung lại có thể hiểu giảm nghèo nhưsau:

Ở góc độ chung nhất, giảm nghèo chính là quá trình Nhà nước, cộng đồng

hỗ trợ, tạo điều kiện thuận tiện cho đối tượng nghèo vươn lên trong sản xuất,

Trang 15

cuộc sống từ đó mà thoát khỏi nghèo Nói một cách khác, giảm nghèo chính làquá trình chuyển một bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn Giảmnghèo, là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao thu nhập, nâng cao mứcsống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và sốlượng người nghèo giảm xuống theo thời gian.

* Nguyên nhân của nghèo ở thành phố Hà Nội hiện nay

Mặc dù còn nhiều ý kiến khác nhau về nguyên nhân của nghèo ở Hà Nội hiệnnay, nhưng các ý kiến đều thống nhất ở chỗ xác định nghèo là sự tác động tổng hợpcủa nhiều nguyên nhân Tựu trung lại có các nhóm nguyên nhân sau:

Một là, nhóm nguyên nhân chung Đây là nhóm nguyên nhân gây nên

nghèo trên diện rộng, bao gồm các nguyên nhân thuộc về lực lượng sản xuất,quan hệ sản xuất và môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố

Nghèo ở Hà Nội trước hết là do trình độ phát triển thấp kém củaLLSX Trước hết là người lao động không có hoặc có nhưng không thể đápứng yêu cầu về thể lực, tri thức, kỹ năng trong quá trình lao động Tiếp theo làTLSX, cụ thể là công cụ lao động và phương tiện lao động ở trình độ thấp,thô sơ, thủ công cùng với đối tượng lao động nghèo nàn, không phát triển dẫnđến năng suất lao động thấp, thu nhập bình quân đầu người thấp Đây lànguyên nhân trực tiếp, quan trọng nhất dẫn đến nghèo, trong đó con người làthành tố quan trọng nhất Bởi vì, con người là LLSX hàng đầu Lênin đã chỉ ra:

“ LLSX hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động” [25,

tr.430]

Nghèo do mặt trái của QHSX trong nền KTTT Thực hiện kinh tếhàng hóa nhiều thành phần cũng có nghĩa là chúng ta thừa nhận ở mộtchừng mực nào đó còn tồn tại trong xã hội sự bất bình đẳng về tài sản, vềđiều kiện sản xuất của các thành viên trong xã hội do lịch sử để lại Trongnền KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay nói chung, Hà Nội nói

Trang 16

riêng, đối tượng sở hữu là rất đa dạng, phong phú: sở hữu tư liệu sản xuất,

sở hữu vốn, sở hữu lao động, sở hữu trí tuệ vì vậy, quan hệ phân phốicũng đa dạng nên thu nhập của các thành viên trong xã hội cũng khác nhau

Sự chênh lệch về thu nhập, dẫn đến sự phân hoá giàu, nghèo còn tồn tạigiữa các tầng lớp dân cư là một điều khó tránh trong nền KTTT

Nghèo còn là hệ quả của chính sách phân phối và phân phối lại thunhập quốc dân bất hợp lý của Nhà nước và thành phố trong một thời giandài Bên cạnh đó, nghèo còn do LLSX phát triển, song, QHSX lạc hậu, lỗithời không theo kịp sự phát triển của LLSX dẫn đến kìm hãm sự phát triểncủa LLSX Nghèo ở Hà Nội hiện nay tập trung nhiều ở các huyện ngoạithành, vùng sâu, vùng xa, vùng đồi núi, vùng có đồng bào dân tộc củathành phố

Nghèo ở các xã, huyện ngoại thành còn do môi trường tự nhiên, môitrường kinh tế - xã hội, môi trường tự nhiên không thuận lợi bao gồm: Đất đai ítmàu mỡ, cằn cỗi, độ dốc lớn, bị xói mòn, bị ảnh hưởng của bom mìn, của chấtđiôxin Vị trí địa lý không thuận lợi, xa các trung tâm kinh tế, văn hoá, giaothông cách trở, đi lại khó khăn cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đếnđói, nghèo Khí hậu thời tiết khắc nghiệt, hạn hán, bão lũ, lốc xoáy, lở đất, mưađá cũng là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng nghèo tình thế trêndiện rộng

Nghèo do môi trường kinh tế không thuận lợi: Hệ thống kết cấu hạtầng kinh tế - kỹ thuật không phát triển, thiếu đồng bộ như giao thông,năng lượng, bưu chính viễn thông… nên nhân dân không có điều kiện pháttriển kinh tế Cùng với kinh tế hàng hoá kém phát triển, đặc biệt ở vùngsâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người Điều này có nghĩa là đồngbào phải ở vào tình trạng sản xuất tự cấp tự túc, không có quan hệ nhiềuvới kinh tế hàng hóa, KTTT

Trang 17

Nghèo do môi trường xã hội không thuận lợi; Địa phương còn tồn tạinhiều hủ tục lạc hậu như ma chay, cưới xin, cúng bái dẫn đến chi phí nhiềutrong khi thu nhập lại thấp; các vấn đề y tế, văn hoá, giáo dục kém pháttriển làm cho người dân không tiếp cận được các dịch vụ công như chămsóc sức khỏe, học hành nâng cao kiến thức, điều này cũng đồng nghĩa với sựgiảm sút chất lượng nguồn nhân lực dẫn đến nghèo.

Nghèo ở Hà Nội hiện nay còn do sự tác động của mặt trái KTTT:khủng hoảng, thất nghiệp, lạm phát, khoảng cách giàu nghèo, tệ nạn xã hội

và các vấn đề môi trường Cùng với hậu quả nặng nề của chiến tranh đểlại mà chúng ta chưa khắc phục được Bên cạnh đó, hệ quả của cơ chế tậptrung quan liêu bao cấp trước đây để lại cũng làm tăng tỷ lệ nghèo

* Hai là, nhóm nguyên nhân trực tiếp:

Đây là nhóm nguyên nhân trực tiếp dẫn tới nghèo của cá nhân, hộ vàcộng đồng, nhóm này gồm các nguyên nhân do chính người nghèo, hoặcchính quyền các cấp gây nên, có thể do một hoặc nhiều nguyên nhân sau: Nhóm nguyên nhân của chính người nghèo Đây là những nguyên nhânthuộc bản thân người lao động, phổ biến là: Không có kinh nghiệm làm ăn,không biết cách sản xuất kinh doanh, gặp chăng hay chớ, tâm lý chạy theo đámđông, sản xuất - kinh doanh chụp giật dựa trên tư duy tiểu nông, manh mún, nhỏ

lẻ không tuân theo các quy luật của KTTT do đó hiệu quả lao động sản xuất thấp,

luôn trong tình trạng bấp bênh, thiếu bền vững; thiếu hoặc không có vốn, đây là

nguyên nhân quan trọng đứng thứ hai Vốn là thành tố quan trọng trong cơcấu nguồn lực, thiếu vốn người lao động không có điều kiện tham gia vàoKTTT Ông cha ta đã từng có câu “giỏi buôn không bằng trường vốn”; thiếu

lao động, đây là nguyên nhân thường rơi vào những gia đình đông con, nhưng

con còn nhỏ, do đó “người làm thì ít, người ăn thì nhiều” Lao động ít nên thunhập không đủ đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng cho số đông người trong gia

Trang 18

đình, vì vậy họ rơi vào cảnh đói, nghèo; không có việc làm, kéo theo không

có thu nhập dẫn đến đói, nghèo là một lẽ đương nhiên; nghèo do rủi ro, ốmđau, bệnh tật, nguyên nhân này thường dẫn đến nghèo ở dạng đột xuất, diện hẹp(cá nhân, hộ hoặc một nhóm nhỏ trong xã hội); nghèo do chây lười lao động, chỉmuốn hưởng thụ không muốn lao động “miệng ăn núi lở” cũng dẫn đến nghèo;nghèo do mất đất, với nông dân, ruộng đất là tư liệu sản xuất chính, nhưng donhiều nguyên nhân khác nhau mà hiện nay ở Hà Nội có một bộ phân nôngdân mất đất sản xuất dẫn đến đói nghèo; nghèo do không có phương tiện sảnxuất hoặc có nhưng ở dạng thô sơ, thủ công làm cho người dân không có thunhập hoặc thu nhập thấp dẫn đến nghèo

(so với tổng số hộ nghèo)

2 Thiếu đất canh tác, phương tiện sản xuất 10,38%

3 Thiếu lao động chính, đông người ăn theo 23,65%

4 Không có việc làm, không có tay nghề 13,88%

5 Ốm đau, mắc tệ nạn xã hội, chây lười lao động 25,1%

[4, tr.6]

Ba là, nhóm nguyên nhân thuộc về chính quyền địa phương:

Đây là nhóm nguyên nhân có tác động rất mạnh đến nghèo trên diện rộng.Thể hiện ở các chủ trương, chính sách sai lầm, lỗi thời, hoặc thiếu đồng bộ củachính quyền các cấp; hệ thống chính trị ở cơ sở yếu kém, cồng kềnh, quan liêu,chạy theo lợi ích nhóm hay tư duy nhiệm kì không đủ năng lực lãnh đạo, tậphợp nhân dân khai thác tiềm năng thế mạnh của địa phương

Mỗi đối tượng nghèo có nguyên nhân riêng, có thể có một hoặc nhiềunguyên nhân, việc phân loại chúng chỉ là tương đối, thông thường các nguyênnhân đan xen, tác động lẫn nhau Do đó, để giảm nghèo có hiệu quả phải tìmhiểu nhận định, phân tích, đánh giá khách quan, chính xác chỉ ra đúng nguyên

Trang 19

nhân, đặc biệt là nguyên nhân cơ bản đối với từng đối tượng cụ thể từ đó mà cógiải pháp phù hợp.

1.1.2 Đặc điểm giảm nghèo trên địa bàn thành phố Hà Nội

Thứ nhất, tỷ lệ hộ nghèo liên tục giảm và giảm với tốc độ nhanh cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố.

Sự nghiệp CNH, HĐH của thành phố đã mang lại những thành tựu hếtsức khả quan Trong những năm qua cơ cấu kinh tế thành phố đang chuyểndịch mạnh theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp Cùng với quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, cơcấu ngành nghề, kéo theo đó là tỷ lệ người lao động đến độ tuổi có việc làmngày càng tăng, thu nhập bình quân đầu người từng bước được nâng lên rõ rệt.Thu bình quân thu nhập đầu người năm 2008 là 1.697 USD Năm 2012 là 2.257USD tăng 1,3 lần so với năm 2008 Năm 2014 là 2500 USD Cùng với nó, tỷ lệ

hộ nghèo của thành phố liên tục giảm và giảm với tốc độ nhanh Tại thời điểmtháng 01/2008, toàn thành phố có 117.825 hộ nghèo, với 406.232 nhân khẩu,chiếm 8,43% tổng số hộ toàn thành phố [29, tr.4] Năm 2012 toàn Thành phố có39.543 hộ nghèo, với 147.219 nhân khẩu, chiếm 2,83% so với tổng số hộ dân cư[31, tr.5] Năm 2014 số hộ nghèo là 34.409 hộ, chiếm tỷ lệ 1,91% tổng số hộ dâncư; số hộ cận nghèo 44.639 hộ, chiếm tỷ lệ 2,48% tổng số hộ dân cư Như vậy,

Hà Nội còn 4,39% số hộ nghèo và hộ cận nghèo[33, tr.5]

Thứ hai, hoạt động giảm nghèo ở thành phố Hà Nội hiện nay tập trung chủ yếu ở các huyện ngoại thành, nông thôn, miền núi và ở các vùng sâu, vùng xa.

Một trong những mặt trái của KTTT, chính là khoảng cách giầu, nghèongày càng gia tăng Nhất là giữa nội thành và ngoại thành, giữa nông thôn vàthành thị, giữa vùng đồng bằng và vùng đồi núi, giữa người kinh và người dân

Trang 20

tộc Theo báo cáo của Sở Lao động Thương binh và xã hội thành phố: Năm

2008, thành phố có 12/29 quận, huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao trên 10% trởlên, trong đó một số huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao như huyện Mỹ Đức22,65%, Ba Vì 19,64%, Sóc Sơn 17,7%, Ứng Hoà 16,6%, Chương Mỹ 16,3

% Toàn thành phố có 43/577 xã, phường có tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên,tập trung ở 9 huyện: Ba Vì, Mỹ Đức, Sóc Sơn, Chương Mỹ, Thạch Thất,Ứng Hoà, Phú Xuyên, Quốc Oai, Thanh Oai Thành phố có 108 xã có tỷ lệ

hộ nghèo từ 15% đến dưới 25% trong đó An Phú (huyện Mỹ Đức), và 5 thôn(thuộc huyện Ba Vì, Thạch Thất, Quốc Oai là đơn vị khó khăn thuộc chươngtrình 135) [29, tr.6]

Cuối năm 2010, số hộ nghèo khu vực các huyện chiếm 91,87% tổng

số hộ nghèo toàn thành phố Có 9 quận cơ bản không còn hộ nghèo (tỷ lệ

hộ nghèo dưới 2,5%) Về tỷ lệ hộ nghèo của các xã, phường, thị trấn: 38 xã

có tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên (xã nghèo), tập trung ở 9 huyện: PhúXuyên, Thạch Thất, Quốc Oai, Mỹ Đức, Sóc Sơn, Thanh Oai, Thường Tín,

Gia Lâm, Hoài Đức; 141 xã, thị trấn có tỷ lệ hộ nghèo từ 15 % đến dưới 25%; 110 xã, phường, thị trấn có tỷ lệ hộ nghèo dưới 2% (xã phường cơ

bản không còn hộ nghèo) [30, tr.5]

Tính đến thời điểm tháng 01/2013, toàn thành phố Hà Nội có 59.365

hộ nghèo với 189.418 nhân khẩu, chiếm 3,6% tổng số hộ dân cư Trong đó,khu vực thành thị có 7.456 hộ nghèo (tỷ lệ 1,1%), khu vực nông thôn có51.909 hộ nghèo (tỷ lệ 5,3%) Đơn vị có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất là huyện Ba

Vì 9,79%, thấp nhất là quận Thanh Xuân 0,28% Có 3 phường, thị trấn không

có hộ nghèo, đó là: Phú La (quận Hà Đông), Quảng An (quận Tây Hồ), thịtrấn Sóc Sơn (huyện Sóc Sơn); 2 xã có hộ nghèo từ 25% trở lên là xã Ba Vì(huyện Ba Vì), tỷ lệ 39,13% và An Phú (huyện Mỹ Đức), tỷ lệ 25,1% [31,

Trang 21

tr.5] Như vậy, số hộ nghèo tập trung nhiều nhất ở các xã, huyện thuộc HàTây cũ Vì vậy, hoạt động giảm nghèo ở thành phố Hà Nội hiện nay tập trungchủ yếu ở các huyện ngoại thành, nông thôn, miền núi và ở các vùng sâu,vùng xa Trong đó, trọng tâm là các xã, huyện thuộc Hà Tây cũ.

Thứ ba, hoạt động giảm nghèo ở thành phố Hà Nội hiện nay tập trung chủ yếu ở những hộ đông con, gia đình neo đơn, gia đình chính sách, đồng bào dân tộc có hoàn cảnh khó khăn, trình độ học vấn thấp, đời sống vật chất

và điều kiện sinh hoạt thiếu thốn.

Cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình đô thị hóacủa thành phố, đi cùng với đời sống vật chất, tinh thần của đại bộ phận cáctầng lớp dân cư ngày càng nâng lên Song, bên cạnh đó một bộ phận hộnghèo: Hộ đông con chưa đến tuổi lao động, gia đình neo đơn, chính sách,dân tộc có hoàn cảnh khó khăn, trình độ học vấn thấp có thể xếp vào nhómyếu thế của xã hội là những hộ nghèo Đặc biệt là sau khi Hà Nội sát nhập vào

Hà Tây thì số lượng các hộ này ngày càng tăng Đây là đặc điểm giảm nghèonổi bật của thành phố Hà Nội hiện nay Năm 2008, số hộ nghèo là 117.825

hộ, chiếm 9,6% tổng số hộ chung toàn thành phố (trong đó có 2.008 hộ nghèothuộc diện chính sách người có công, 21.831 hộ nghèo có thành viên đanghưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, có 11.250 hộ có người già yếu, người bịbệnh hiểm nghèo, gia đình không có khả năng thoát nghèo, 2.826 hộ nghèo cóthành viên là người dân tộc thiểu số, 49.257 hộ nghèo có chủ hộ là nữ).[29,tr.5] Năm 2014, trong tổng số 34.409 hộ nghèo có 5.035 hộ nghèo do giađình có người già yếu, tàn tật, ốm đau.[33, tr.4] Thực tế việc giảm nghèo đốivới số hộ này rất khó khăn Vì vậy, hoạt động giảm nghèo ở thành phố HàNội hiện nay cơ bản tập trung vào những hộ đông con, gia đình neo đơn, giađình chính sách, hộ đồng bào dân tộc có hoàn cảnh khó khăn, trình độ họcvấn thấp, đời sống vật chất còn nhiều thiếu thốn

Trang 22

1.2 Quan niệm, nội dung, các nhân tố tác động và sự cần thiết phải tham gia giảm nghèo trên địa bàn của Hội liên Hiệp Phụ nữ Hà Nội

1.2.1 Quan niệm về tham gia giảm nghèo của Hội liên hiệp Phụ nữ thành phố Hà Nội.

Giảm nghèo là quá trình tạo điều kiện cho bộ phận dân cư nghèo đượctiếp cận với các nguồn lực (lao động, vốn, công nghệ - kĩ thuật, tài nguyên)cần thiết để họ tự tạo nghề, việc làm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần,từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo Kết quả giảm nghèo biểu hiện ở sựgiảm xuống về số lượng người nghèo, xã nghèo hoặc sự giảm xuống của tỷ lệphần trăm số hộ nghèo, xã nghèo trong tổng số hộ, tổng số xã Giảm nghèocòn được thể hiện ở mức sống chung của toàn bộ cộng đồng được nâng lên.Nói cách khác, giảm nghèo là quá trình chuyển một bộ phận dân cư nghèo lênmức sống cao hơn hay thoát nghèo nhờ sự hỗ trợ của Nhà nước, cộng đồng và

sự nỗ lực vươn lên của bản thân các hộ nghèo Từ đó, có thể khẳng định giảmnghèo trên địa bàn thành phố Hà Nội là trách nhiệm của Đảng bộ, chínhquyền, đoàn thể và của chính đối tượng nghèo Hội LHPHHN chỉ là một lựclượng tham gia và chỉ tham gia một số nội dung phù hợp với chức năng,nhiệm vụ và điều kiện cụ thể của Hội

Từ sự tiếp cận trên, dưới góc độ kinh tế chính trị, tác giả cho rằng:

Tham gia giảm nghèo của Hội liên hiệp Phụ nữ Hà Nội là hoạt động của các cấp Hội thuộc Hội liên hiệp Phụ nữ Hà Nội hỗ trợ, tạo điều kiện thuận tiện cho hộ nghèo vươn lên trong sản xuất, cuộc sống từ đó mà thoát khỏi nghèo, đó chính là quá trình chuyển một bộ phận hộ nghèo của thành phố lên một mức sống cao hơn.

Nội hàm của khái niệm trên gồm:

Một là, mục đích tham gia giảm nghèo của HLHPNHN là làm cho một bộ

phận hộ nghèo vươn lên thoát khỏi nghèo Cụ thể là giúp các hộ nghèo được

Trang 23

tiếp cận, tiến tới được sở hữu các nguồn lực: lao động, vốn, công nghệ - kĩthuật, tư liệu sản xuất, tài nguyên; cơ chế, chính sách, các dịch vụ công… mộtcách thuận lợi nhất trên cơ sở đó, họ biết cách tổ chức các hoạt động sản xuất,kinh doanh, dịch vụ hiệu quả góp phần tạo việc làm, ổn định cuộc sống, nângcao thu nhập, giảm nghèo Đây chính là tiền đề, cơ sở để thúc đẩy thực hiện kếhoạch giảm nghèo của thành phố cả hiện tại và tương lai một cách có hiệu quả.

Hai là, chủ thể tham gia giảm nghèo của HLHPNHN là cán bộ, hội viên

các cấp Hội từ Chi hội phụ nữ cơ sở đến Hội phụ nữ các xã, phường, thị trấn;quận, huyện, thị xã; thành phố Cán bộ, hội viên tham gia hoạt động giảmnghèo đặt dưới sự quản lý, điều hành của hệ thống tổ chức Hội Phụ nữ cáccấp, đồng thời đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của hệ thống tổ chức Đảng, hệthống quản lý của Chính quyền cùng cấp Định kỳ, hàng tháng, quý, năm cấphội trực tiếp làm nhiệm vụ giảm nghèo tổng hợp, báo cáo kết quả giảm nghèovới cơ quan quản lý hội cấp trên trực tiếp và tổ chức Đảng, UBND cùng cấp

Ba là, phương thức tham gia giảm nghèo của HLHPNHN Trên cơ sở

các mục tiêu giảm nghèo và kế hoạch giảm nghèo HLHPNHN xác địnhphương thức, cách thức tiến hành sao cho phù hợp với từng nội dung mục tiêu,từng đối tượng, từng địa bàn, trong từng thời kỳ và mỗi giai đoạn nhất định Cụthể: HLHPNHN trực tiếp tổ chức tiến hành các hoạt động giảm nghèo; tổ chứccác hoạt động phối hợp với các cơ quan, đơn vị, các doanh nghiệp đứng chântrên địa bàn cùng tham gia hoạt động giảm nghèo Với mục đích cuối cùng làthực hiện thắng lợi kế hoạch giảm nghèo đã xác định Phương thức tham giagiảm nghèo của HLHPNHN bao gồm: xây dựng kế hoạch hoạt động giảmnghèo; triển khai, tổ chức thực hiện theo kế hoạch đã xác định; kiểm tra, đánhgiá, điều chỉnh, sơ tổng kết công tác giảm nghèo theo kế hoạch đã xác định

Xây dựng kế hoạch hoạt động giảm nghèo Trên cơ sở nghị quyết của

Thành ủy, HĐND và kế hoạch giảm nghèo của UBND thành phố

Trang 24

HLHPNHN, với chức năng, nhiệm vụ của mình tiến hành nghiên cứu, khảosát, đánh giá thực trạng công tác giảm nghèo thời gian trước, năm trước, đặcđiểm, điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội của thành phố, các nhân

tố tác động, những thuận lợi, khó khăn, cùng với nhiệm vụ, chỉ tiêu cụ thể đãđược UBND thành phố giao cho Từ đó, tiến hành xây dựng kế hoạch hoạtđộng giảm nghèo sao cho phù hợp với thực tiễn và mang tính khả thi cao Sau

đó, báo cáo Thành ủy, UBND thành phố thông qua và phê chuẩn Trong kếhoạch hoạt động giảm nghèo phải xác định rõ: mục đích, yêu cầu, nội dung,thời gian, tổ chức và phương pháp, địa điểm, người phụ trách, công tác bảođảm Đặc biệt, phải có sự phân công nhiệm vụ, trách nhiệm rõ ràng, cụ thểcho từng cá nhân và tổ chức

Triển khai, tổ chức thực hiện theo kế hoạch hoạt động giảm nghèo Đây

là nội dung quan trọng nhất trong thực hiện kế hoạch giảm nghèo Kết quảhoạt động giảm nghèo của HLHPNHN phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả thựchiện kế hoạch giảm nghèo đã xác định Do đó, kế hoạch giảm nghèo phảiđược tuyên truyền, quán triệt sâu, rộng trong toàn hệ thống tổ chức các cấpcủa HLHPNHN Đồng thời, triển khai kế hoạch cụ thể, chi tiết đến mọi cánhân và tổ chức, nhất là các chủ thể trực tiếp tổ chức thực hiện kế hoạch.Trong đó, trọng tâm là đội ngũ cán bộ hội làm nhiệm vụ tham gia giảmnghèo, các lực lượng này phải nắm chắc kế hoạch, nắm chắc địa bàn, nắmchắc thực trạng giảm nghèo của địa phương mà mình được phân công, theodõi, đảm nhiệm, để thực hiện nhiệm vụ giảm nghèo một cách có hiệu quả

Kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh, sơ tổng kết công tác giảm nghèo theo kế hoạch đã xác định Hàng tháng, hàng quý, hàng năm HLHPNHN chủ trì, phối

hợp với Sở Lao động Thương binh và Xã hội tổ chức tiến hành kiểm tra, đánhgiá, sơ, tổng kết công tác giảm nghèo theo kế hoạch đã xác định Quá trình kiểmtra phải kịp thời phát hiện những cá nhân, tập thể có thành tích tốt để biểu

Trang 25

dương, khen thưởng hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền biểu dương khen thưởng.

Từ đó nhân rộng điển hình, tiên tiến trong phong trào thi đua Cùng với nó, pháthiện những sai sót, lệch lạc Từ đó, điều chỉnh, bổ sung những chỉ tiêu, nội dungbiện pháp trong kế hoạch giảm nghèo sao cho phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi củathực tiễn đang đặt ra Trên cơ sở đó, tiến hành sơ, tổng kết công tác giảm nghèo.Khi thực hiện sơ, tổng kết phải chỉ rõ thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của thànhtựu, hạn chế, bài học kinh nghiệm và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục giải quyết.Đồng thời, xác định phương hướng, mục tiêu, nội dung biện pháp giảm nghèotrong thời gian tiếp theo

1.2.2 Nội dung tham gia giảm nghèo trên địa bàn của Hội liên Hiệp Phụ nữ Hà Nội.

Căn cứ vào mục tiêu giảm nghèo của thành phố, căn cứ vào chứcnăng, nhiệm vụ và điều kiện khả năng hiện có của Hội liên Hiệp Phụ nữ HàNội; nội dung tham gia giảm nghèo của HLHPN thành phố Hà Nội như sau:

Một là, Hội liên Hiệp Phụ nữ Hà Nội tham gia tuyên truyền vận động các hộ nghèo thực hiện đường lối chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, thành phố Hà Nội về giảm nghèo.

Đây là một trong những nội dung thuộc nhiệm vụ của hội, căn cứ vào

kế hoạch công tác hàng tháng, hàng quý, hàng năm nhất là kế hoạch giảmnghèo đã được phê duyệt các cấp hội của thành phố cử cán bộ làm nhiệm vụtuyên truyền (Báo cáo viên, tuyên truyền viên) trước hết đến các hội viên vàgia đình của từng hội viên sau đó mở rộng ra các hộ nghèo khác của thànhphố Mục đích, làm cho cán bộ, hội viên các cấp hội và các hộ được tuyêntruyền có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về đường lối, chủ trương, chính sáchcủa Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước liên quan trực tiếp, gián tiếpđến công tác giảm nghèo, trên cơ sở đó thống nhất về hành động trên thựctiễn Nội dung tuyên truyền cụ thể tập trung vào kế hoạch giảm nghèo của

Trang 26

HLHPNHN; Sở Lao động thương binh và xã hội thành phố; UBND thànhphố, các chính sách hỗ trợ của thành phố về vay vốn, tín dụng, cây trồng, vậtnuôi, đào tạo nghề, tạo việc làm, chuyển giao khoa học - kỹ thuật, liên kết bốnnhà để hình thành chuỗi cung ứng dịch vụ khép kín từ cung ứng đầu vào đếnthu mua tiêu thụ nông phẩm đầu ra cho hội viên… hình thức tuyên truyềnphong phú, đa dạng phù hợp với từng nội dung, từng đối tượng và từng địabàn cụ thể.

Hai là, Hội liên Hiệp Phụ nữ Hà Nội đại diện bảo vệ quyền lợi và trợ giúp cho hộ nghèo trên địa bàn thành phố.

Nhằm mục đích nâng cao trình độ nhận thức về pháp luật cho các đốitượng nghèo của thành phố, các cấp hội của thành phố chủ động phối hợp vớicác ngành như Sở Tư pháp, Sở Công an, Tòa án, Viện kiểm sát… tập trungxây dựng và nâng cao trình độ cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viênpháp luật Đồng thời, triển khai thực hiện tiểu đề án “Tuyên truyền, phổ biếnpháp luật cho phụ nữ nông thôn và phụ nữ dân tộc thiểu số”, cùng với việcxây dựng các mô hình phổ biến pháp luật, trung tâm tư vấn pháp luật Nộidung tư vấn trợ giúp cụ thể tập trung vào Luật bình đẳng giới, Luật Dân sự,Luật hình sự, Luật thuế, Luật đất đai… Đây chính là cơ sở để các đối tượngnghèo vươn lên thoát nghèo mà không vi phạm pháp luật

Bên cạnh đó, Hội liên Hiệp Phụ nữ Hà Nội tham gia tư vấn, giới thiệuviệc làm, tập huấn chuyển đổi nghề, dạy nghề, khuyến công, khuyến nông,khuyến lâm, khuyến ngư cho hộ nghèo trên địa bàn thành phố Căn cứ vào kếhoạch hoạt động giảm nghèo đã được phê duyệt HLHPNHN chỉ đạo tổ chứchội các cấp trực tiếp tổ chức hoặc tổ chức các hoạt động phối hợp với các trungtâm dạy nghề và giới thiệu việc làm; trung tâm khuyến nông, khuyến lâm,khuyến ngư tổ chức các lớp tập huấn để đào tạo, dạy nghề, chuyển giao khoahọc - kỹ thuật cho các hộ nghèo trên địa bàn thành phố, từ đó trang bị kiến

Trang 27

thức, kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động thuộc các hộ nghèo Về hìnhthức có thể thông qua học tập, nghiên cứu, tham quan, trình diễn mô hình…Trên cơ sở đó, hộ nghèo tự xác định phương hướng, mục tiêu giảm nghèothông qua tạo dựng nghề nghiệp phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của gia đìnhmình, hộ mình

Mặt khác, Hội liên Hiệp Phụ nữ Hà Nội tham gia vận động quyên gópxây dựng quỹ tình thương cho phụ nữ nghèo; phụng dưỡng các Bà mẹ ViệtNam anh Hùng, gia đình thương binh, liệt sĩ, người có công với cách mạng,trợ giúp các đối tượng yếu thế trong xã hội Đây là một trong những nội dunghoạt động thể hiện rõ nét việc phát huy truyền thống của các cấp hội thuộcHLHPNHN với mục đích tham gia có hiệu quả công tác an sinh xã hội, phúclợi xã hội của thành phố góp phần phát huy truyền thống, đạo lý tốt đẹp củangười Việt Nam đó là uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây, tươngthân, tương ái giúp nhau lập thân, lập nghiệp vươn lên thoát nghèo Về cáchthức các cấp hội có thể trực tiếp tiến hành hoặc thông qua các hoạt động phốihợp với các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp… đứng chân trên địa bàn cùngtham gia với nhiều hình thức khác nhau sao cho phù hợp với từng nội dung vàtừng đối tượng cụ thể

Ba là, Hội liên Hiệp Phụ nữ thành phố Hà Nội phối hợp với các cơ quan, các đơn vị, các tổ chức, các doanh nghiệp đứng chân trên địa bàn cùng tổ chức các hoạt động giảm nghèo của thành phố.

Giảm nghèo là một trong những mục tiêu quan trọng trong chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội của thành phố cùng với tăng trưởng kinh tế nhanh

và bền vững phải thực hiện có hiệu quả, tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm

an sinh xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển Do vậy, giảmnghèo trên địa bàn thành phố Hà Nội không phải là nhiệm vụ của riêng bất cứ

cá nhân và tổ chức nào mà đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị thành

Trang 28

phố trong đó có HLHPNHN Song, công tác giảm nghèo không thể thànhcông nếu chỉ có sự tham gia của một mình HLHPNHN Vấn đề đặt ra ở đây làphải huy động được sự chung tay, chung sức vào cuộc, cùng đồng hành củatoàn hệ thống chính trị thành phố Vì vậy, HLHPNHN với chức năng, nhiệm

vụ của mình không những trực tiếp tổ chức các hoạt động giảm nghèo mà còn

là cầu nối của tất cả các lực lượng, các thành phần, các cơ quan, các đơn vị,các tổ chức, các doanh nghiệp… đứng chân trên địa bàn với các hộ nghèo đểcùng nhau tổ chức các hoạt động giảm nghèo nhằm thực hiện thắng lợi kếhoạch giảm nghèo của hội nói riêng, thành phố nói chung góp phần thực hiệnthắng lợi các mục tiêu theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phốlần thứ XV (nhiệm kì 2010 - 2015) đã xác định

Đồng thời, Hội liên Hiệp Phụ nữ Hà Nội giúp đỡ hộ nghèo trên địa bànthành phố nhận được các chương trình vay vốn phát triển kinh tế, nâng caothu nhập Đây là một trong những nội dung quan trọng trong kế hoạch hoạtđộng giảm nghèo của HLHPNHN Mục đích, tăng cường tiến tới được sở hữunguồn lực về vốn làm cơ sở để tăng cường tiến tới được sở hữu nguồn lực vềchất lượng nhân lực, khoa học - công nghệ, tài nguyên cho các hộ nghèo Vềphương thức tổ chức, hội các cấp ký kết các văn bản liên tịch thỏa thuận vớiNgân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nôngthôn, các Quỹ tín dụng… đồng thời đứng ra bảo lãnh, tín chấp cho các hộnghèo được vay vốn tạo tiền đề, cơ sở cho các hộ nghèo tổ chức các hoạtđộng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, mang lại thu nhập, ổn định cuộc sốngvươn lên thoát nghèo

1.2.3 Các nhân tố tác động đến tham gia giảm nghèo của Hội liên hiệp Phụ nữ thành phố Hà Nội.

Hoạt động giảm nghèo của Hội liên hiệp Phụ nữ thành phố Hà Nộithường bị tác động bởi các nhân tố sau:

Trang 29

Một là, cơ chế, chính sách giảm nghèo của thành phố:

Hoạt động giảm nghèo của HLHPNHN chịu sự tác động trực tiếp của

cơ chế, chính sách giảm nghèo của thành phố Với một hệ thống cơ chế, chínhsách giảm nghèo đầy đủ, đồng bộ, nhất quán, phù hợp với yêu cầu, đòi hỏicủa thực tiễn sẽ là chìa khóa để tháo gỡ khó khăn, tạo cơ sở pháp lý, tạo tiền

đề, động lực, phát huy mọi tiềm năng thế mạnh của Hà Nội nói chung,HLHPNHN nói riêng trong hoạt động giảm nghèo Cơ chế, chính sách phùhợp sẽ cho phép phát huy và khai thác tối đa nội lực, nhất là phát huy nguồnlực (vốn, lao động, khoa học - công nghệ, các nguồn tài nguyên…) của thànhphố phục vụ có hiệu quả công tác giảm nghèo Đồng thời, cho phép tranh thủngoại lực của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài thành phố tham gia hoạtđộng phối hợp với HLHPNHN trong công tác giảm nghèo Hiệu quả của cơchế, chính sách phù hợp sẽ góp phần tạo ra nhiều việc làm mới, nâng cao thunhập, tiếp đến nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho các hộ nghèo, xa hơnnữa sẽ giúp cho các hộ nghèo tiếp cận tiến tới sở hữu các nguồn lực Đâychính là cơ sở để thúc đẩy tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng cho các hộnghèo Mặt khác, góp phần phát triển LLSX cùng với củng cố QHSX XHCNtrong quá trình xây dựng và phát triển nền KTTT định hướng XHCN của HàNội Ngược lại, nếu cơ chế, chính sách giảm nghèo của thành phố không đồng

bộ, thiếu phù hợp không những không góp phần đẩy nhanh công tác giảmnghèo mà còn trở thành lực cản, điểm nghẽn đối với công tác giảm nghèo củaHLHPNHN

Hai là, năng lực của đội ngũ cán bộ các cấp hội trực tiếp tham gia hoạt động giảm nghèo

Năng lực của đội ngũ cán bộ các cấp hội trực tiếp tham gia hoạt độnggiảm nghèo là thành tố quan trọng bậc nhất quyết định đến số lượng, chấtlượng, cơ cấu giảm nghèo Bởi vì, họ là những người trực tiếp đồng hành

Trang 30

cùng với các hộ nghèo, trực tiếp dắt tay, chỉ việc cho các hộ nghèo Thực tiễn

đã chứng minh rằng nếu đội ngũ cán bộ các cấp của HLHPNHN trực tiếptham gia hoạt động giảm nghèo nhiệt tình, trách nhiệm cao với cộng đồng,năng động, sáng tạo, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng công tác hội cùngvới hiểu biết sâu sắc về các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học kĩ thuật,khoa học xã hội cũng như quy trình, kỹ thuật, công nghệ trong sản xuất, kinhdoanh trong các ngành Công nghiệp, Nông nghiệp, Dịch vụ thì đây sẽ là mộttrong những lời giải hữu hiệu nhất trong bài toán giảm nghèo hiện nay củaHLHPNHN Ngược lại, với một đội ngũ cán bộ hội trực tiếp tham gia hoạtđộng giảm nghèo yếu cả về năng lực và phẩm chất không những góp phầnkìm hãm tiến độ thực hiện kế hoạch giảm nghèo mà còn góp phần gia tăng số

hộ tái nghèo hàng năm của thành phố

Ba là, khả năng tự vươn lên thoát nghèo của bản thân hộ nghèo

Bài toán giảm nghèo của HLHPNHN có nhiều cách giải khác nhau để

đi đến cùng một đáp số Song, suy đến cùng lại được quyết định bởi khả năng

tự vươn lên thoát nghèo của chính bản thân các hộ nghèo Quá trình thực hiện

kế hoạch giảm nghèo của HLHPNHN chịu sự tác động, chi phối mạnh mẽ củacác hộ nghèo Nếu các hộ nghèo nỗ lực, cố gắng tranh thủ được sự giúp đỡcủa HLHPNHN và các lực lượng khác cùng với phát huy khả năng độc lập,sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, quyết tâm vươn lên thoát nghèo thì chắc chắn

họ sẽ thoát nghèo Ngược lại, các hộ nghèo có thể được tạo điều kiện thuậnlợi nhất, được hậu thuẫn kịp thời, hiệu quả của HLHPNHN và các lực lượngkhác đến đâu chăng nữa mà các hộ nghèo không cố gắng phát huy khả năngđộc lập, tự chủ, tự đứng dậy, vươn lên thoát nghèo chỉ trông chờ vào chínhsách đãi ngộ của thành phố và sự chi viện của HLHPNHN và các lực lượngkhác thì chính các hộ đã nghèo lại càng nghèo thêm, thậm chí còn tái nghèosau khi đã thoát nghèo Vì vậy, vấn đề đặt ra ở đây là phải làm thay đổi nhậnthức dẫn đến thay đổi hành động trên thực tiễn của các hộ nghèo

Trang 31

Bốn là, hoạt động phối hợp HLHPNHN với các tổ chức và cá nhân trong công tác giảm nghèo.

Các tổ chức và cá nhân là lực lượng quan trọng cùng với HLHPNHN tổchức thực hiện thắng lợi kế hoạch giảm nghèo của thành phố Tham gia giảmnghèo trên địa bàn của HLHPNHN chỉ thật sự hiệu quả khi nhận được sự phốihợp, liên kết, hợp tác nhiệt tình, đầy trách nhiệm của các tổ chức, cá nhântrong và ngoài thành phố Ngược lại, nếu các tổ chức và cá nhân thờ ơ, vôcảm thậm chí nếu có phối hợp tham gia cũng chỉ là miễn cưỡng, ép buộc, hìnhthức, được chăng, hay chớ thì kế hoạch giảm nghèo của thành phố nói chung,HLHPNHN nói riêng sẽ không bao giờ thực hiện được Vì vậy, rất cần một cơchế đặc thù cho các lực lượng này bảo đảm cho họ không những phối hợptham gia giảm nghèo cùng với HLHPNHN một cách hiệu quả mà còn tạo lậpmôi trường thuận lợi nhất về kinh tế, chính trị, kỹ thuật, pháp lý hậu thuẫn kịpthời cho phép họ khai thác và phát huy tối đa nội lực của bản thân và mọinguồn lực trên địa bàn thành phố trực tiếp góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm

vụ chính trị trung tâm của mình

1.2.4 Sự cần thiết phải tham gia giảm nghèo trên địa bàn của Hội liên Hiệp Phụ nữ Hà Nội.

Thứ nhất, giảm nghèo trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay là nhiệm vụ của các cấp bộ đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân, Hội liên Hiệp Phụ nữ Hà Nội là một lực lượng tham gia:

Tham gia giảm nghèo hiện nay là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, các

tổ chức chính trị, xã hội, trong đó có HLHPNHN HLHPNHN là tổ chức chínhtrị - xã hội trong hệ thống chính trị của thành phố, đại diện cho quyền và lợi íchhợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ Hà Nội; phấn đấu vì sự phát triểncủa phụ nữ và bình đẳng giới Hội là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Namthành phố Hà Nội, thành viên của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam

Trang 32

HLHPNHN là một tổ chức chính trị - xã hội cùng với Đoàn Thanh niênCộng sản Hồ Chí Minh thành phố, Liên đoàn lao động thành phố, Hội cựuchiến binh thành phố, Hội Nông Dân, Hội chữ thập đỏ thành phố, Mặt trận Tổquốc Việt Nam thành phố Hà Nội tạo thành khối đoàn thể trực thuộc Thành

ủy và nằm trong hệ thống chính trị của thành phố Chức năng, nhiệm vụ được

cụ thể hóa phù hợp với đặc điểm, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội củathành phố dựa trên cơ sở điều lệ của Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Hoạtđộng của hội chủ yếu là hoạt động phong trào với nhiều nội dung khác nhau.Trong đó, hội có nhiệm vụ cùng các tổ chức chính trị - xã hội khác hoạt độngtham gia giảm nghèo trên địa bàn thành phố là một nội dung quan trọng đượcđặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Thành ủy và Hội liên hiệp Phụ nữViệt Nam Vì vậy, định kỳ hàng quý, hàng năm hội phải tiến hành đánh giá

sơ, tổng kết công tác hội và công tác xóa đói, giảm nghèo, trong đó chỉ rõthành tựu, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra cần giải quyết trên cơ

sở đó xác định phương hướng, mục tiêu, nội dung biện pháp tiến hành trongthời gian tiếp theo Đồng thời, báo cáo và chịu trách nhiệm về kết quả côngtác giảm nghèo trước Thành ủy và Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

Thứ hai, Tham gia giảm nghèo của Hội liên hiệp Phụ nữ thành phố Hà Nội trên địa bàn là xuất phát từ bản chất, chức năng, nhiệm vụ và khả năng hiện có của Hội.

* Bản chất của Hội liên Hiệp Phụ nữ Hà Nội

HLHPNHN là tổ chức chính trị - xã hội nằm trong hệ thống chính trịcủa thành phố hoạt động dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Thành ủy và Hội liênhiệp Phụ nữ Việt Nam Bản chất của Hội mang bản chất của Hội liên hiệpPhụ nữ Việt Nam Nghĩa là, thể hiện bản chất của Đảng, bản chất giai cấpcông nhân, đồng thời thể hiện tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, hội lấytập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản trong hoạt động của mình

Trang 33

* Chức năng của Hội liên Hiệp Phụ nữ Hà Nội

Một là, đại diện chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng

của các tầng lớp phụ nữ Hà Nội, tham gia xây dựng Đảng, tham gia quản lýNhà nước trên địa bàn thành phố

Hai là, đoàn kết, vận động phụ nữ thực hiện đường lối, chủ trương của

Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của thủ đô Hà Nội, vận động xãhội thực hiện bình đẳng giới

* Nhiệm vụ của Hội liên Hiệp Phụ nữ Hà Nội

Một là, tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, lý tưởng cách mạng,

phẩm chất đạo đức, lối sống; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước, của Thành phố Hà Nội đối với cán bộ, hội viên cáccấp của thành phố và các tầng lớp, lực lượng, thành phần khác trên địa bànthành phố

Ba là, tham mưu đề xuất, tham gia xây dựng, phản biện xã hội và giám

sát việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật củaNhà nước có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ,gia đình và trẻ em trên địa bàn Hà Nội

Bốn là, xây dựng, phát triển tổ chức các cấp Hội thuộc Hội liên Hiệp Phụ nữ Hà Nội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, sẵn sàng nhận và

hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Thành ủy và Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Namgiao cho

Trang 34

Năm là, đoàn kết, hợp tác với phụ nữ các nước, các tổ chức, cá nhân tiến

bộ trong khu vực và thế giới vì bình đẳng, hòa bình, hữu nghị và phát triển

* Truyền thống của Hội liên Hiệp Phụ nữ Hà Nội

Từ những tổ chức tiền thân cho đến ngày nay, dưới sự lãnh đạo củaThành ủy, Hội đoàn kết, vận động, tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ, pháthuy truyền thống của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam yêu nước, anh hùng, bấtkhuất, trung hậu, đảm đang, đã có những đóng góp to lớn trên các lĩnh vựcphát triển kinh tế - xã hội góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ

Tổ quốc Việt Nam XHCN của thành phố vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh,dân chủ, công bằng, văn minh Bên cạnh đó, phát huy truyền thống trung hậu,đảm đang, thanh lịch, sáng tạo của phụ nữ thủ đô, HLHPNHN với nhữnghoạt động cụ thể, thiết thực, hiệu quả đã có bề dày thành tích trong thamgia phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo trên địa bàn thành phố

* Khả năng hiện có của Hội liên Hiệp Phụ nữ Hà Nội

Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Thành ủy Hà Nội vàHội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Cùng với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

và các nguồn lực sẵn có của thành phố và của Hội Với bản chất, chức năng,nhiệm vụ, truyền thống của mình HLHPNHN có thể tham gia giảm nghèo

trực tiếp, gián tiếp thông qua các hoạt động của hội: Một là, tuyên truyền,

vận động hội viên tích cực tham gia các hoạt động nhân đạo, từ thiện, đónggóp tiền, ngày công ủng hộ xây, sửa “Mái ấm tình thương”, tặng quà cho

phụ nữ và trẻ em nghèo có hoàn cảnh khó khăn; Hai là, tuyên truyền, vận

động hội viên phụ nữ tiết kiệm để khai thác các nguồn lực hỗ trợ hội viên

nghèo; Ba là, hoạt động phối hợp với các ngân hàng để bảo lãnh, tín chấp

cho các gia đình hội viên nghèo được vay vốn phát triển kinh tế vươn lên

thoát nghèo; Bốn là, tổ chức dạy nghề và giới thiệu việc làm cho phụ nữ

nghèo, đề xuất trợ cấp khó khăn, xây mới, sửa chữa hư hỏng nhà dột nát

Trang 35

đối với phụ nữ nghèo, tặng quà trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; Năm

là, tập huấn chuyển giao khoa học - kỹ thuật để giúp cho hộ nghèo phát triển

kinh tế, hỗ trợ phụ nữ nghèo tiếp cận với các nguồn vốn ưu đãi của Ngânhàng Chính sách xã hội, Sở Nông nghiệp & phát triển Nông thôn tổ chức tậphuấn về công tác quản lý nguồn vốn, chuyển giao khoa học - kỹ thuật, tư vấn,hướng dẫn giúp đỡ phụ nữ thoát nghèo bằng các biện pháp từng bước nâng

cao mức sống cho phụ nữ nghèo

Thứ ba, Hội liên hiệp Phụ nữ thành phố Hà Nội trực tiếp tham gia các hoạt động giảm nghèo góp phần thực hiện thắng lợi kế hoạh giảm nghèo của thành phố:

Để thực hiện kế hoạch giảm nghèo của thành phố Hà Nội, đòi hỏi phải

có sự đóng góp của các tổ chức chính trị, xã hội, cá nhân, doanh nghiệp.HLHPNHN phải là một lực lượng tham gia tích cực Trên cơ sở kế hoạchgiảm nghèo của UBND thành phố, với chức năng, nhiệm vụ của mìnhHLHPNHN trực tiếp tham gia các hoạt động giảm nghèo thông qua việc chủđộng lập kế hoạch hoạt động giảm nghèo với những nội dung, mục tiêu, biệnpháp cụ thể của tổ chức hội các cấp Quá trình thực hiện kế hoạch được tổchức dưới nhiều hình thức khác nhau nhất là thông qua các hoạt động phongtrào như: Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế; Giúp phụ nữ nghèo có địa chỉ;Mái ấm tình thương; Thực hành tiết kiệm theo gương Bác; Hũ gạo tiết kiệm;Nuôi heo đất về phương thức tiến hành căn cứ vào đặc điểm, điều kiện củatừng quận, huyện, thị xã để xác định nội dung, phương pháp cho phù hợp.Thông qua các hoạt động giảm nghèo trực tiếp của hội sẽ góp phần thực hiệnthắng lợi kế hoạch giảm nghèo nói riêng, các mục tiêu kinh tế - xã hội củathành phố nói chung, đồng thời thúc đẩy phát triển LLSX cùng với củng cố,hoàn thiện QHSX xã hội chủ nghĩa trên địa bàn thành phố hiện nay

Trang 36

Xuất phát từ quan niệm, tiêu chí, nguyên nhân, vai trò, ý nghĩa, tầmquan trọng của giảm nghèo; cũng như nội dung giảm nghèo và những đặcđiểm giảm nghèo; có thể khẳng định rằng giảm nghèo không những là chứcnăng, nhiệm vụ, mà còn là quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của HLHPNHN.Giảm nghèo không những là mục tiêu xuyên suốt trong chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội của thành phố mà còn là nguyện vọng, ước mơ của các thế hệtrong các gia đình nghèo, hộ nghèo Mục tiêu của giảm nghèo, trước hết làmcho các hộ nghèo có việc làm; có nghề nghiệp ổn định; có thu nhập ngày càngcao; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần Tiếp theo đó, gópphần chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội trongquá trình CNH, HĐH của thành phố; từ đó góp phần thúc đẩy phát triểnLLSX, cùng với củng cố, hoàn thiện QHSX trong quá trình xây dựng và pháttriển nền KTTT định hướng XHCN của thành phố Trên cơ sở quan điểm,đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và kế hoạch giảmnghèo của thành phố Trong thời gian qua, HLHPNHN đã xây dựng kế hoạchgiảm nghèo và cụ thể hóa thành những nội dung, mục tiêu, chỉ tiêu, giải phápphù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố, đồng thời tổchức thực hiện thắng lợi kế hoạch giảm nghèo góp phần thực hiện thành côngcác mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Nghị quyết Đại hội XV (nhiệm kỳ

2010 - 2015) Đảng bộ thành phố đã xác định

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG THAM GIA GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 Tổng quan tình hình nghèo ở thành phố Hà Nội thời gian qua

Giảm nghèo là mục tiêu quốc gia, chính sách xã hội rộng lớn nằm trongchiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước, Nhân dân ta Giảmnghèo của Hà Nội, trước hết phải dựa trên đường lối, chủ trương, chính sáchcủa Đảng, pháp luật của nhà nước, của thành phố Hà Nội Song, quan trọnghơn cả là dựa vào thực trạng nghèo đang đặt ra hiện nay và đặc điểm, điềukiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố để có tiêu chí, mục tiêu, giảipháp, lộ trình, cơ chế, chính sách, bước đi phù hợp

Về những định hướng lớn, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần

thứ XI ĐCSVN khẳng định: “Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ; đa dạng hóa nguồn lực và phương thức để đảm bảo giảm nghèo bền vững, nhất là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn, khuyến khích làm giàu theo pháp luật, tăng nhanh số hộ có thu nhập trung bình khá trở lên Có các chính sách và giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hóa giàu nghèo, giảm chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị” [15, tr.86].

Trên cơ sở nghị quyết đại hội XI, Thủ tướng Chính phủ ban hànhQuyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 trong đó xác định tiêu chíchuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 Căn cứthực tế tình hình kinh tế - xã hội của Thủ đô sau khi mở rộng địa giới hànhchính và thực trạng hộ nghèo trên địa bàn, ngày 07/4/2009 UBND thành phố

Hà Nội đã ban hành Quyết định số 1592/QĐ-UBND về chuẩn nghèo, cậnnghèo của Thành phố giai đoạn 2009 - 2013 Theo đó chuẩn nghèo, cậnnghèo của thành phố quy định thu nhập bình quân/người/tháng như sau :

Trang 38

Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000đồng/người/tháng (4,8 triệu đồng/người/năm) trở xuống Hộ nghèo ở thành thị

là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (6 triệuđồng/người/năm) trở xuống Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhậpbình quân từ 401.000 - 520.000 đồng/người/tháng Hộ cận nghèo ở thành thị

là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 - 650.000 đồng/người/tháng.Mức chuẩn nghèo quy định nêu trên là căn cứ để thực hiện các chính sách ansinh xã hội, phúc lợi xã hội, chính sách giảm nghèo và chính sách phát triểnkinh tế - xã hội khác [45, tr.4]

Kể từ sau ngày điều chỉnh địa giới hành chính thủ đô ngày 01/08/2008,công tác giảm nghèo trên địa bàn Thành phố tiếp tục được quan tâm Ngày 31tháng 10 năm 2008 Thành ủy đã xây dựng và triển khai thực hiện Chươngtrình hành động số 02-CTr/TU của Thành ủy về “Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (khóa X) vềnông nghiệp, nông dân, nông thôn” Với mục tiêu cao nhất là CNH, HĐHnông nghiệp, nông thôn, trong đó có mục tiêu về giảm nghèo với những giảipháp cụ thể Thành phố đã và đang triển khai 4 chương trình, đề án vùng sảnxuất nông nghiệp tập trung bước đầu đạt hiệu quả Đó là Chương trình pháttriển sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao tại Hà Nội giai đoạn 2010-2015;

Đề án phát triển sản xuất hoa, cây cảnh giai đoạn 2011-2016; Đề án phát triểncây ăn quả giá trị kinh tế cao giai đoạn 2012-2016; Chương trình phát triểnchăn nuôi theo vùng, xã trọng điểm và chăn nuôi quy mô lớn ngoài khu dân

cư giai đoạn 2011-2015 [14, tr.8] Bên cạnh đó, công tác an sinh xã hội vàphúc lợi xã hội cũng được hết sức quan tâm Đơn cử như: Quyết định số 171/

QĐ - UB của Uỷ ban nhân dân thành phố về miễn giảm học phí và 100% cáckhoản đóng góp đối với học sinh nghèo, các chính sách về vay vốn, đất đai,thuế hậu thuẫn, hỗ trợ hộ nghèo vươn lên thoát nghèo

Trang 39

Gần đây nhất, Nghị quyết đại hội XV (nhiệm kì 2010 - 2015) xác địnhnội dung, nhiệm vụ, mục tiêu, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội Trong đó,xác định trong nhiệm kì giảm hộ nghèo bình quân 1,5-1,8%/năm Quyết định

số 01/2011/QĐ-UBND ngày 10/01/2011 của UBND Thành phố về việc banhành chuẩn nghèo, cận nghèo của Thành phố Hà Nội giai đoạn 2011-2015 quiđịnh theo thu nhập bình quân/người/tháng cụ thể như sau:

Thành thị Từ 750.000 đồng trở xuống Từ 751.000 đến 1.000.000 đồngNông thôn Từ 550.000 đồng trở xuống Trên 551.000 đến 750.000 đồngThực hiện Quyết định số 01/2011/QĐ-UBND ngày 10/01/2011 củaUBND Thành phố về việc ban hành Chuẩn nghèo, cận nghèo của Thành phố

Hà Nội giai đoạn 2011-2015, UBND thành phố Hà Nội đã xây dựng kế hoạch

số 24 /KH-UBND về thực hiện mục tiêu giảm nghèo thành phố Hà Nội giaiđoạn 2011 - 2015 với những mục tiêu tổng quát: Giảm tỷ lệ hộ nghèo chungtoàn thành phố từ 1,5% đến 1,8%/năm, hạn chế thấp nhất số hộ tái nghèo;Phấn đấu đến cuối năm 2015 tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 2% và không còn xãnghèo (xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên); Năm 2011-2015, tập trung giảipháp hỗ trợ hộ chính sách có công thoát nghèo; Thực hiện đồng bộ các giải pháp

để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, chỉ tiêu giảm nghèo bền vững, tácđộng chung vào phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Trên cơ sở mục tiêutổng quát, thành phố xác định các chỉ tiêu chủ yếu thực hiện giảm nghèo nhưsau: Giảm tỷ lệ hộ nghèo chung toàn thành phố từ 1% đến 2%/năm, hạn chếthấp nhất số hộ tái nghèo; Phấn đấu đến cuối năm 2020 tỷ lệ hộ nghèo còndưới 2,5%, thành phố không còn phường, xã nghèo và xã, thôn thuộc Chươngtrình 135; Năm 2013 - 2015, tập trung giải pháp hỗ trợ toàn bộ hộ chính sách

có công thoát nghèo và hỗ trợ, giải quyết cơ bản số hộ có nhà ở hư hỏng nặng,gia đình không có khả năng tự xây dựng, sửa chữa [47, tr.9]

Trang 40

Quá trình thực hiện kế hoạch giảm nghèo của thành phố đã đạt đượcnhững thành tựu hết sức quan trọng và đáng tự hào: Theo báo cáo của Sở Laođộng - Thương binh & Xã hội thành phố: Kết quả điều tra đầu năm 2008,thành phố có 12/29 quận, huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao trên 10% trở lên, toànthành phố có 12/18 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao trên 10%, trong đó có một sốhuyện nghèo cao như: Mỹ Đức 22,65%, Ba Vì 19,64%, Sóc Sơn 17,7%, ứngHoà 16,6%, Chương Mỹ 16,3 % Tại thời điểm tháng 12/2008, toàn thành phốcòn 117.825 hộ nghèo, với 406.232 nhân khẩu, chiếm 8,43% tổng số hộ toànthành phố [29, tr.3].

Cuối năm 2010, số hộ nghèo khu vực các huyện chiếm 91,87% tổng

số hộ nghèo toàn thành phố Có 9 quận cơ bản không còn hộ nghèo (tỷ lệ

hộ nghèo dưới 2,5%) [30, tr.4] Năm 2012 toàn thành phố có 39.543 hộnghèo, với 147.219 nhân khẩu, chiếm 2,83% so với tổng số hộ dân cư [31,tr.5] Tính đến thời điểm tháng 12/2013, toàn thành phố Hà Nội có 59.365 hộnghèo với 189.418 nhân khẩu, chiếm 3,6% tổng số hộ dân cư Trong đó, khuvực thành thị có 7.456 hộ nghèo (tỷ lệ 1,1%), khu vực nông thôn có 51.900 hộnghèo (tỷ lệ 5,3%) [32, tr.5]

Kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn TP Hà Nội năm

2014 cho thấy: Số hộ nghèo là 34.409 hộ, chiếm tỷ lệ 1,91% tổng số hộ dâncư; số hộ cận nghèo 44.639 hộ, chiếm tỷ lệ 2,48% tổng số hộ dân cư Nhưvậy, Hà Nội còn 4,39% số hộ nghèo và hộ cận nghèo Trong đó, 12 quận có3.993 hộ nghèo, 4 quận nội thành có tới 1.775 hộ nghèo [33, tr.6] Căn cứmục tiêu giảm nghèo từ nay đến 2020, thành phố xác định tập trung đẩy mạnhcác biện pháp giảm nghèo tại 43 xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên

Kết quả giảm nghèo giai đoạn 2008 - 2014 cho thấy, tỷ lệ hộ nghèo và

số hộ nghèo ngày càng giảm ở các quận nội thành trong tổng số hộ nghèo của

Ngày đăng: 07/06/2017, 09:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Xuân Bá, Chu Tiến Quang (chủ biên), (2001), Nghèo đói và xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghèo đói và xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam
Tác giả: Lê Xuân Bá, Chu Tiến Quang (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
2. Nguyễn Công Bằng (2009), Giảm nghèo tại các huyện ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hóa, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn Thạc sĩ
Tác giả: Nguyễn Công Bằng
Năm: 2009
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2005), Báo cáo các dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo và việc làm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo các dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo và việc làm
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2005
4. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2010), Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện các chương trình giảm nghèo 4 năm (2010 - 2014), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện các chương trình giảm nghèo 4 năm (2010 - 2014)
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Năm: 2010
5. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2007), Tài liệu tham khảo “Những mô hình, kinh nghiệm giảm nghèo ở Việt Nam”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo “Những mô hình, kinh nghiệm giảm nghèo ở Việt Nam”
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Năm: 2007
10. Cục Thống kê Hà Nội (2012), Niên giám thống kê 2011, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2011
Tác giả: Cục Thống kê Hà Nội
Năm: 2012
11. Cục Thống kê Hà Nội (2013), Niên giám thống kê 2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2012
Tác giả: Cục Thống kê Hà Nội
Năm: 2013
12. Trần Tuấn Cường (2008), Hoàn thiện chính sách giảm nghèo theo hướng bền vững ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn Thạc sĩ
Tác giả: Trần Tuấn Cường
Năm: 2008
14. Đảng bộ thành phố Hà Nội (2008), Chương trình hành động số 02- CTr/TU về “Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình hành động số 02-CTr/TU về “Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Tác giả: Đảng bộ thành phố Hà Nội
Năm: 2008
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2011
16. Nguyễn Tấn Dũng (2013), “Nhân loại cần một thế giới không có chiến tranh, không có đói nghèo”, Tạp chí Cộng sản, (số 852), tr.12 - 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân loại cần một thế giới không có chiến tranh, không có đói nghèo”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Tấn Dũng
Năm: 2013
17. Nguyễn Trung Hải (2006), Hoàn thiện chính sách xoá đói giảm nghèo đối với tỉnh miền núi, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn Thạc sĩ
Tác giả: Nguyễn Trung Hải
Năm: 2006
18. Vũ Thị Hiểu (1996), Nâng cao hiệu quả sử dụng lao động để góp phần xoá đói giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án Tiến sĩ
Tác giả: Vũ Thị Hiểu
Năm: 1996
19. Đông Thị Hồng (2014), “Công tác xóa đói giảm nghèo tại thành phố Hà Nội - một số kết quả và giải pháp”, Tạp chí Giáo dục lý luận, (số 207), tr.69 - 73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xóa đói giảm nghèo tại thành phố Hà Nội - một số kết quả và giải pháp”, "Tạp chí Giáo dục lý luận
Tác giả: Đông Thị Hồng
Năm: 2014
20. Đào Văn Hùng (2001), Các giải pháp tín dụng đối với người nghèo ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án Tiến sĩ
Tác giả: Đào Văn Hùng
Năm: 2001
26. Trần Thị Xuân Lan (2014), “Hoạt động của một số tổ chức xã hội trong xóa đói giảm nghèo ở Tây Bắc nước ta”, Tạp chí Giáo dục lý luận, (số 214), tr.32 - 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động của một số tổ chức xã hội trong xóa đói giảm nghèo ở Tây Bắc nước ta”, "Tạp chí Giáo dục lý luận
Tác giả: Trần Thị Xuân Lan
Năm: 2014
27. Nguyễn Thị Kim Ngân (2011), “Bước ngoặt mới trong nỗ lực xóa đói, giảm nghèo”, Tạp chí Cộng sản, (số 821), tr.3 - 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước ngoặt mới trong nỗ lực xóa đói, giảm nghèo”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Ngân
Năm: 2011
28. Lê Thị Nghệ (1995), Những giải pháp nhằm nâng cao thu nhập của hộ nông dân nghèo vùng đồng bằng Sông Hồng, Luận án Tiến sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án Tiến sĩ
Tác giả: Lê Thị Nghệ
Năm: 1995
34. Trần Quang Phương (2013), “Làm theo lời Bác, lực lượng vũ trang Quân khu 5 thực hiện tốt mô hình “xóa một hộ đói, giảm một hộ nghèo”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, (số 12), tr.32 - 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm theo lời Bác, lực lượng vũ trang Quân khu 5 thực hiện tốt mô hình “xóa một hộ đói, giảm một hộ nghèo”, "Tạp chí Quốc phòng toàn dân
Tác giả: Trần Quang Phương
Năm: 2013
35. Nguyễn Quang Quý (2013), Giảm nghèo trong quá trình đô thị hóa ở Hà Nội hiện nay, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn Thạc sĩ
Tác giả: Nguyễn Quang Quý
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w