1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tình hình mắc một số bệnh sản khoa trên đàn lợn nái nuôi tại trại ngô thị hồng gấm huyện lương sơn tỉnh hòa bình và biện pháp điều trị

69 303 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 824,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, lợn nái thường mắc một số bệnh đường sinh sản như: viêm tử cung, viêm vú, đẻ khó, bại liệt sau đẻ… gây thiệt hại lớn do làm giảm năng suất sinh sản, mất khả năng sinh sản, chế

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

CHU THỊ PHƯƠNG THẢO Tên đề tài:

“ TÌNH HÌNH MẮC MỘT SỐ BỆNH SẢN KHOA TRÊN ĐÀN LỢN

NÁI NUÔI TẠI TRẠI NGÔ THỊ HỒNG GẤM HUYỆN LƯƠNG SƠN

TỈNH HÕA BÌNH VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa : Chăn nuôi thú y Khóa học : 2012 - 2017

Thái Nguyên, năm 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

CHU THỊ PHƯƠNG THẢO Tên đề tài:

“ TÌNH HÌNH MẮC MỘT SỐ BỆNH SẢN KHOA TRÊN ĐÀN LỢN

NÁI NUÔI TẠI TRẠI NGÔ THỊ HỒNG GẤM HUYỆN LƯƠNG SƠN

TỈNH HÒA BÌNH VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp : K44 -TY Khoa : Chăn nuôi thú y Khóa học : 2012 – 2017 Giảng viên hướng dẫn: ThS Đặng Thị Mai Lan

Thái Nguyên, năm 2016

Trang 3

Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của cô giáo ThS Đặng Thị Mai Lan người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt thời gian thực tập, giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Cũng qua đây cho em gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban Giám đốc, toàn thể cán bộ và công nhân của trại Ngô Thị Hồng Gấm - huyện Lương Sơn - tỉnh Hòa Bình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp và học hỏi nâng cao tay nghề

Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành tốt quá trình thực tập tốt nghiệp

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016

Sinh viên

Chu Thị Phương Thảo

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Biểu hiện lâm sàng của bệnh viêm tử cung 18

Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 34

Bảng 4.1 Lịch tiêm phòng vaccine cho đàn lợn nái 40

Bảng 4.2 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 44

Bảng 4.3 Cơ cấu đàn lợn nái nuôi tại trại trong 3 năm gần đây 46

Bảng 4.4 Tình hình mắc một số bệnh sản khoa trên đàn lợn nái nuôi tại trại 46 Bảng 4.5 Tỷ lệ mắc bệnh sản khoa trên đàn lợn nái theo lứa đẻ 48

Bảng 4.6 Tỷ lệ mắc bệnh sản khoa theo các tháng theo dõi 50

Bảng 4.7 Những triệu chứng chính của lợn nái mắc một số bệnh sản khoa 51 Bảng 4.8 Kết quả điều trị bệnh viêm vú, viêm tử cung tại trại 52

Bảng 4.9 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau khi điều trị 53

Trang 5

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

ACTH: Adreno Cortico Tropin Hormone

C.P: Charoen Pokphand Group

Cs: Cộng sự

˚C: Độ C

E coli: Escherichia Coli

FSH: Folliculo Stimulin Hormone

GSH: Gonado Stimulin Hormone

LH: Lutein Stimulin Hormone

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1 1

MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu của đề tài 2

1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

Phần 2 3

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của trại 3

2.1.2 Đánh giá chung 6

2.2 Cơ sở khoa học của đề tài 7

2.2.1 Đặc điểm về sinh lý, sinh dục và sinh sản của lợn nái 7

2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự nhiễm bệnh của lợn nái 15

2.2.3 Một số bệnh sản khoa thường gặp ở lợn nái sinh sản 16

2.2.4 Một số hiểu biết về thuốc phòng và trị bệnh sử dụng trong đề tài 27

2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 29

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 29

Trang 7

2.3.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 31

Phần 3 33

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 33

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 33

3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 33

3.3.1 Nội dung nghiên cứu 33

3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi 33

3.4 Phương pháp nghiên cứu 33

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 33

3.4.2 Phương pháp theo dõi, thu thập thông tin 34

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 36

Phần 4 37

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37

4.1 Công tác phục vụ sản xuất 37

4.1.1 Công tác chăn nuôi tại cơ sở 37

4.1.2 Công tác phòng và trị bệnh 39

4.1.3 Công tác khác 42

4.2 Kết quả nghiên cứu 46

4.2.1 Cơ cấu đàn lợn nái nuôi tại cơ sở trong 3 năm gần đây 46

4.2.3 Tình hình mắc bệnh sản khoa theo lứa đẻ 48

4.2.4 Tình hình mắc bệnh sản khoa theo tháng theo dõi 49

4.2.6 Triệu chứng chính của lợn nái mắc bệnh sản khoa 50

4.2.7 Kết quả điều trị bệnh viêm vú, viêm tử cung của lợn nái tại trại 52

Phần 5 55

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 55

Trang 8

5.1 Kết luận 55

5.2 Đề nghị 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I Tiếng việt

II.Tiếng Anh

II Tài liệu trên internet

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ Song song với sự phát triển đó, ngành chăn nuôi nước ta cũng tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng Nhiều giống gia súc, gia cầm được lai tạo, du nhập vào sản xuất đã đem lại nhiều lợi nhuận Chăn nuôi đã thực sự trở thành nguồn thu nhập chính cho nhiều hộ gia đình đồng thời đã thúc đẩy sự phát triển của một số ngành công nghiệp liên quan như chế biến thực phẩm, sản xuất thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, công nghiệp thuộc da, lông vũ…

Chăn nuôi lợn là một trong những mũi nhọn của ngành chăn nuôi nước

ta, đóng một vị trí quan trọng và đem lại hiệu quả kinh tế cao Thịt lợn là nguồn Protein động vật có giá trị phục vụ cho nhu cầu của con người, nó không chỉ cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho xã hội mà còn là nguồn thu nhập đáng kể cho người chăn nuôi Ngoài ra, chăn nuôi lợn còn cung cấp một lượng lớn phân bón cho trồng trọt

và thủy sản Có thể nói ngành chăn nuôi lợn đã đóng góp một phần đáng kể vào công tác xóa đói giảm nghèo, ổn định đời sống xã hội và thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung của đất nước

Trong chăn nuôi lợn thì lợn nái có vai trò quan trọng làm tăng số lượng cũng như chất lượng của đàn lợn Tuy nhiên, lợn nái thường mắc một số bệnh đường sinh sản như: viêm tử cung, viêm vú, đẻ khó, bại liệt sau đẻ… gây thiệt hại lớn do làm giảm năng suất sinh sản, mất khả năng sinh sản, chết thai, tiêu thai, tỷ lệ thụ thai thấp và là nguồn kế phát các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho đàn lợn ở trại

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của sản xuất, đồng thời để thấy rõ hơn

về tình hình nhiễm, triệu chứng của lợn nái mắc bệnh đường sinh sản góp phần khống chế bệnh và làm giảm bớt thiệt hại về kinh tế, tôi tiến hành thực

hiện đề tài: “Tình hình mắc một số bệnh sản khoa trên đàn lợn nái nuôi tại trại Ngô Thị Hồng Gấm huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình và biện pháp điều trị’’

Trang 10

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu của đề tài

- Xác định được tình trạng mắc một số bệnh sản khoa ở đàn lợn nái nuôi tại trại chăn nuôi Lương Sơn - Hòa Bình

- Tìm ra biện pháp tốt nhất để phòng và điều trị một số bệnh sản khoa ở đàn lợn nái nuôi tại trại chăn nuôi Lương Sơn - Hòa Bình

- Hoàn thiện thêm kỹ năng, tay nghề trong thời gian thực tập

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

- Nắm được tình hình và tỷ lệ mắc một số bệnh sản khoa trên đàn lợn nái nuôi tại trại chăn nuôi Lương Sơn - Hòa Bình

- Xây dựng được phác đồ điều trị một số bệnh sản khoa trên đàn lợn

- Nâng cao kiến thức thực tiễn, tăng khả năng tiếp xúc với thực tế chăn nuôi, điều trị bệnh cho lợn từ đó nâng cao và củng cố kiến thức của bản thân

- Từ kết quả của đề tài đưa ra những khuyến cáo giúp cho người chăn nuôi hạn chế được những thiệt hại do bệnh gây ra

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của trại

2.1.1.1 Quá trình thành lập

Trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm nằm trên địa phận thôn Dẻ Cau - xã Hợp Thanh - huyện Lương Sơn - tỉnh Hòa Bình Là trại lợn gia công của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam, hoạt động theo phương thức: chủ trại xây dựng cơ

sở vật chất, thuê công nhân, công ty cung cấp giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật Hiện nay, trang trại do bà Ngô Thị Hồng Gấm làm chủ, cán

bộ kỹ thuật của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trại

2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại

Cơ cấu tổ chức: gồm 3 nhóm

+ Nhóm quản lý: 1 chủ trại giám sát mọi hoạt động của trại

1 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung

+ Nhóm kỹ thuật: 2 kỹ sư, 1 kỹ thuật điện, 1 kế toán

+ Nhóm công nhân: 10 công nhân, 6 sinh viên thực tập

Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng bầu Có bảng chấm công riêng cho từng công nhân trong tổ, ngoài ra các tổ trưởng có nhiệm vụ đôn đốc quản lý chung các thành viên trong tổ nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trang trại

2.1.1.3 Cơ sở vật chất của trại

Trại Ngô Thị Hồng Gấm nằm trên địa bàn xã Hợp Thanh, chủ yếu là núi đá vôi nhưng đường giao thông đã được nâng cấp, thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển

Để đảm bảo công tác chăn nuôi và sinh hoạt của công nhân trại được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật gồm:

Trang 12

Khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại

Khu chăn nuôi xung quanh có hàng rào bao bọc và có cổng vào riêng Chuồng trại được quy hoạch bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi

công nghiệp, hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn

đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn

Chuồng nuôi được xây dựng đảm bảo đủ cho 1200 nái cơ bản bao gồm:

+ 3 chuồng nái đẻ: mỗi chuồng chia làm 2 khu A và khu B, mỗi khu có

2 dãy, mỗi dãy có 29 ô chuồng được thiết kế sàn nhựa cho lợn con và sàn bê tông cho lợn mẹ

+ 2 chuồng nái chửa: chuồng 1 và chuồng 2, mỗi chuồng gồm 8 dãy mỗi dãy có 75 ô để nuôi và chăm sóc lợn nái trong thời gian mang thai được sắp xếp theo các kỳ mang thai khác nhau Riêng chuồng 1 dãy 1 được thiết kế

để cho lợn nái chờ phối, có khu thử lợn, ép lợn và dãy 2 có khu để làm nơi thụ tinh nhân tạo cho lợn nái

+ 1 chuồng đực giống: bao gồm 24 ô để nuôi lợn đực và 1 ô để khai thác tinh

+ 2 chuồng cách ly: dùng để nuôi lợn hậu bị được nhập từ các trại gia công lợn hậu bị của Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam, trong thời gian

3 tháng sau khi đã làm vaccine đầy đủ và trước khi được đưa lên giống mỗi

chuồng có thể nuôi được từ 30 - 40 lợn hậu bị

Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ

thống giàn mát, cuối chuồng được thiết kế quạt hút gió, có hệ thống điện

chiếu sáng và bóng đèn hồng ngoại để sưởi ấm, úm lợn con, đảm bảo thoáng mát về mùa Hè ấm áp vào mùa Đông bằng cách điều chỉnh quạt, giàn mát và bóng đèn sưởi ấm trong chuồng Mỗi chuồng được lắp đặt máy bơm nước để tắm cho lợn và vệ sinh chuồng trại hằng ngày, cuối chuồng mỗi ô đều có hệ thống thoát phân và nước thải Bên cạnh chuồng đực có xây dựng phòng làm tinh lợn, với đầy đủ các dụng cụ như: kính hiển vi, nhiệt kế, đèn cồn, máy ép ống tinh, tủ lạnh bảo quản tinh, nồi hấp, panh, kéo… Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các

Trang 13

chậu nước sát trùng Nhìn chung khu vực chuồng nuôi được xây dựng khá hợp lý, thuận lợi cho việc chăm sóc, đi lại, đuổi lợn cho các dãy chuồng

Ngay tại cổng vào khu chăn nuôi trại có xây dựng 5 phòng tắm sát trùng cho công nhân trước khi ra, vào chuồng chăm sóc lợn, 1 kho thuốc, 1 kho cám, 1 phòng ăn và 2 phòng nghỉ trưa cho công nhân

Một số thiết bị khác cũng được trang bị đầy đủ: tủ lạnh bảo quản

vaccine, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở cám từ nhà kho

xuống chuồng, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực trong và ngoài chuồng nuôi

2.1.1.4 Tình hình sản xuất của trang trại

* Công tác chăn nuôi

Nhiệm vụ chính của trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 - 2,47 lứa/năm Số con sơ sinh là 11,23 con/đàn; số con cai sữa là 10,7 con/đàn; lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại chăn nuôi lợn giống của Công ty Theo đánh giá của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam thì trại hoạt động vào mức khá

Trong trại có 24 con lợn đực giống được chuyển về cùng một đợt, các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái

và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Tinh lợn được khai thác từ 2 giống lợn Pietrain và Duroc Lợn nái được phối 3 lần và được luân chuyển giống cũng như con đực

Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam cấp cho từng đối tượng lợn của trại

* Công tác vệ sinh thú y của trại

Vệ sinh phòng bệnh là công tác rất quan trọng Nó có tác dụng tăng sức

đề kháng cho vật nuôi, giảm nguy cơ xảy ra dịch bệnh, hạn chế những bệnh

có tính chất lây lan từ đó phát huy tốt tiềm năng của giống

- Công tác vệ sinh: chuồng trại được xây dựng thoáng mát về mùa Hè,

mùa Đông được che chắn cẩn thận, xung quanh các dãy chuồng nuôi đều trồng cây xanh tạo độ thông thoáng và mát tự nhiên Trước cửa vào các khu

Trang 14

có rắc vôi bột từ đó hạn chế được rất nhiều tác động của mầm bệnh bên ngoài đối với lợn nuôi trong chuồng Hàng ngày, luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, phun thuốc sát trùng và rắc vôi theo quy định Công nhân, kỹ sư, khách tham quan trước khi vào khu chăn nuôi đều phải sát trùng, tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo bảo

hộ lao động

- Công tác phòng bệnh: trong khu vực chăn nuôi hạn chế đi lại giữa

các chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại được sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào Quy trình phòng bệnh bằng vaccine luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng Lợn được tiêm vaccine phòng phải ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng vaccine cho đàn lợn luôn đạt 100%

- Công tác trị bệnh: cán bộ kỹ thuật có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn

lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trại luôn được phát hiện sớm, cách ly, điều trị ở ngay giai đoạn đầu, nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 - 90% trong một thời gian ngắn Vì vậy, không gây thiệt hại lớn về số lượng đàn gia súc

2.1.2 Đánh giá chung

2.1.2.1 Thuận lợi

Được sự quan tâm tạo điều kiện và có các chính sách hỗ trợ đúng đắn của các ngành, các cấp có liên quan như UBND xã Hợp Thanh, Trạm thú y huyện Lương Sơn tạo điều kiện cho sự phát triển của trại

Được Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam cung cấp về con giống, thức ăn, thuốc thú y có chất lượng tốt

Chuồng trại được trang thiết bị hiện đại, điện lưới và hệ thống nước sạch luôn cung cấp đầy đủ cho sinh hoạt và chăn nuôi

Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn

quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân

Trang 15

Kèm theo đó là đội ngũ kỹ thuật với chuyên môn vững vàng, công nhân nhiệt tình, năng động và có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc

được đẩy mạnh

2.2 Cơ sở khoa học của đề tài

2.2.1 Đặc điểm về sinh lý, sinh dục và sinh sản của lợn nái

2.2.1.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục lợn cái

Cơ quan sinh dục lợn cái cấu tạo gồm các bộ phận sau: Buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo (bộ phận sinh dục bên trong) âm môn, âm vật, tiền đình (bộ phận sinh dục bên ngoài)

* Bộ phận sinh dục bên trong

- Buồng trứng (Ovarium)

Buồng trứng của lợn gồm một cặp treo ở cạnh trước dây chằng rộng, nằm trong xoang chậu Hình dạng của buồng trứng rất đa dạng nhưng phần lớn có hình bầu dục hoặc hình ovan dẹt, không có lõm rụng trứng Kích thước dài 1,5 - 2,5 cm; khối lượng khoảng 3 - 5 gram (Đặng Quang Nam và Phạm

Đức Chương, 2002) [18]

Buồng trứng có hai chức năng: nội tiết (tiết ra hormone sinh sinh dục

cái Estrogen) và ngoại tiết (bài noãn) Các hormone sinh dục cái: Estrogen, Progesteron , Oxytocine, Relaxin và Inhibin tham gia vào việc điều khiển chu

kỳ sinh sản của lợn cái Estrogen cần thiết cho sự phát triển của tử cung và hệ thống dẫn của tuyến vú Progesteron do thể vàng tiết ra kích thích sự phân tiết

của tử cung để nuôi dưỡng thai, ức chế sự co thắt của tử cung và phát triển nang tạo sữa của tuyến vú

Oxytocin được tiết ra chủ yếu bởi phần sau của tuyến yên và cũng được

tiết bởi thể vàng của buồng trứng khi con vật gần sinh, nó làm co thắt cơ tử

Trang 16

cung trong lúc sinh đẻ và cũng làm co thắt cơ trơn tuyến vú để thải sữa

Relaxin do thể vàng tiết ra gây dãn nở xương chậu, làm dãn và mềm cổ tử cung, do đó mở rộng đường sinh dục khi lợn sắp sinh Inhibin có tác dụng ức

chế sự phân tiết kích tố noãn (FSH) từ tuyến yên, do đó ức chế sự phát triển noãn nang theo chu kì (Trần Thị Dân, 2004) [3]

Trong buồng trứng chia làm hai miền Miền tủy: nằm ở giữa gồm nhiều mạch máu, dây thần kinh, mạch bạch huyết và tổ chức liên kết dày đặc đảm bảo nhiệm vụ nuôi dưỡng và bảo vệ trứng Miền vỏ: đặc biệt quan trọng với chức năng sinh dục, đảm bảo quá trình phát triển của trứng cho đến khi trứng chín và rụng Trên buồng trứng có từ 70.000 - 100.000 noãn bào ở các giai đoạn khác nhau, tầng ngoài cùng là những noãn bào sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng trong là những noãn bào thứ cấp đang sinh trường, khi noãn bao chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng (Khuất Văn Dũng, 2005) [9]

- Ống dẫn trứng (Oviductus)

Còn gọi là vòi Fallop, được treo bởi màng treo ống dẫn trứng, đó là một nếp gấp màng bụng bắt nguồn từ lớp bên của dây chằng rộng Căn cứ vào chức năng có thể chia ống dẫn trứng thành 4 đoạn:

+ Tua diềm: có hình răng cưa giống như tua diềm ôm xung quanh cuống buồng trứng

+ Phễu: có hình phễu, miệng phễu nằm gần buồng trứng

+ Phồng ống dẫn trứng: là phần tiếp nối sau phần phễu Phần này còn được gọi là đoạn ống giãn rộng xa tâm

+ Eo: là doạn ống hẹp gần tâm, nối ống dẫn trứng với sừng tử cung Chức năng của ống dẫn trứng: là nơi để tế bào sinh dục đực (tinh trùng)

và tế bào sinh dục cái (trứng) gặp nhau, ống dẫn trứng có khả năng co bóp

dưới ảnh hưởng của hormon Oxytocin nhằm giúp cho tinh trùng thuận lợi hơn

trong việc thụ tinh (Đặng Quang Nam và Phạm Đức Chương, 2002) [18]

- Tử cung (Uterus)

Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và niệu đạo, hai sừng tử cung ở phía trước xoang chậu Tử cung được giữ lại tại

Trang 17

chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung và được giữ bởi các dây chằng

Tử cung gồm các phần: sừng, thân và cổ tử cung

Tử cung lợn thuộc loại sừng tử cung kép, gồm hai sừng thông với một thân và cổ tử cung Sừng tử cung dài 50 - 100cm, hình ruột non thông với ống dẫn trứng Thân tử cung dài 3 - 5cm Cổ tử cung dài 10 - 18cm, có thành dày, hình trụ, có các cột thịt xếp theo chiều cài răng lược, thông với âm đạo Vách

tử cung gồm ba lớp được cấu tạo từ ngoài vào trong: lớp tương mạc, lớp cơ trơn và lớp nội mạc

Theo Trần Thị Dân (2004) [3], trương lực cơ càng cao (tử cung trở nên

cứng) khi có nhiều Estrogen trong máu và trương lực cơ giảm (tử cung mềm) khi có nhiều Progesterone trong máu Vai trò của cơ tử cung là góp phần cho

sự di chuyển của tinh trùng và chất nhày trong tử cung, đồng thời đẩy thai ra ngoài khi sinh đẻ Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác

dụng Progesterone, nhờ vậy phôi thai có thể bám chắc vào tử cung

Lớp nội mạc tử cung có nhiệm vụ tiết ra các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển và duy trì sự sống của tinh trùng trong thời gian di

chuyển đến ống dẫn trứng Dưới ảnh hưởng của Estrogen, các tuyến tử cung

phát triển từ lớp màng nhày, xâm nhập vào lớp dưới màng nhày và cuộn lại Tuy nhiên, các tuyến chỉ đạt được khả năng phân tiết tối đa khi có tác dụng

của Progesterone Sự phân tiết của tuyến tử cung thay đổi tùy theo giai đoạn

của chu kỳ động dục

- Âm đạo (Vigina)

Theo Đặng Quang Nam và Phạm Đức Chương (2002) [18], âm đạo là ống đi từ cổ tử cung đến âm hộ Đầu trước âm đạo dính vào cổ tử cung, đầu sau thông ra tiền đình, có màng trinh đậy ở lỗ âm đạo

Trang 18

Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối, âm đạo của lợn dài 10 - 12 cm (Trần Tiến Dũng và cs 2002) [8]

Ngoài ra, âm đạo còn là bộ phận thải thai ra bên ngoài khi sinh đẻ và là ống thải các chất dịch từ trong tử cung

* Bộ phận sinh dục bên ngoài

- Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogentalis)

Là giới hạn giữa âm đạo và âm hộ Tiền đình bao gồm:

+ Màng trinh: là một nếp gấp gồm hai lá, phía trước thông với âm đạo, phía sau thông với âm hộ Màng trinh gồm các sợi cơ đàn hồi ở giữa và do hai

lá niêm mạc gấp lại thành một nếp

+ Lỗ niệu đạo: ở sau và dưới màng trinh

+ Hành tiền đình: là hai tạng cương ở hai bên lỗ niệu đạo Cấu tạo giống thể hổng ở bao dương vật của con đực

Tiền đình có một số tuyến, các tuyến này xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật

- Âm môn (Vulva)

Âm môn hay còn gọi là âm hộ, nằm dưới hậu môn và ngăn cách với nó

bởi vùng hồi âm Bên ngoài có hai môi (Labia pudendi), hai môi được nối với nhau bởi hai mép (Rima vulva)

Trang 19

Trên hai môi của âm môn có sắc tố màu đen và có nhiều tuyến tiết chất nhờn và tuyến mồ hôi

* Đặc điểm cấu tạo tuyến vú

Theo Đặng Quang Nam và Phạm Đức Chương (2002) [18] thì tuyến vú

có hình chùm nho phức tạp và có nguồn gốc từ ngoại bì Ở động vật, con đực con cái đều có tuyến vú Vị trí, số lượng của tuyến vú ở mỗi loài động vật khác nhau là khác nhau: có loài tuyến vú ở ngực, có loài lại ở vùng bẹn, có loài có nhiều hoặc có loài lại chỉ có 1 - 2 đôi vú Tuyến vú phát triển mạnh ở con cái khi đến tuổi thành thục về tính và phát triển to nhất ở thời kì chửa đẻ

Gia súc còn non thì tuyến vú của con đực và con cái đều giống nhau Theo Trần Thị Dân (2004) [3] khi có chửa: Hệ thống ống dẫn tiếp tục phát triển nhanh, gia tăng số lượng ống dẫn, bao tuyến bắt đầu hình thành và phát triển mô tuyến thay dần mô liên kết, mô mỡ chiếm ưu thế Hoạt động tiết sữa xuất hiện vào cuối thời kỳ có chửa, sữa được hình thành gọi là sữa non Sự phát dục của tuyến vú hoàn tất khi kết thúc giai đoạn chửa, ngay sau khi đẻ gia súc bắt đầu tiết sữa để nuôi con non

2.2.1.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn cái

Đặc điểm sinh lý sinh dục của gia súc nói chung và loài lợn nói riêng đặc trưng cho loài, có tính ổn định với từng giống vật nuôi Nó được duy trì qua các thế hệ và luôn củng cố, hoàn thiện qua quá trình chọn lọc Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của một số yếu tố như: ngoại cảnh, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, sử dụng… Để đánh giá đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái người

ta thường tập trung nghiên cứu, theo dõi các chỉ tiêu sau đây:

* Tuổi động dục lần đầu

Tính từ lúc sơ sinh cho đến lợn nái hậu bị lần đầu tiên động dục Các

giống lợn khác nhau có tuổi động dục lần đầu khác nhau

Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [4] thì: tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng, khi khối lượng đạt từ 20 -

25 kg; ở lợn nái lai F1 lúc 6 tháng tuổi, đạt 50 - 55 kg Lợn ngoại động dục

muộn hơn (6 - 7 tháng) khi đạt 65 - 80 kg

Trần Văn Phùng và cs (2004) [22] cho biết: tuỳ theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn Ỉ,

Trang 20

Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi), các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi

Còn Nguyễn Văn Trí (2008) [29] cho rằng: tuổi động dục đầu tiên ở lợn nái ngoại Yorkshire, Landrace là 6 - 7 tháng tuổi tương ứng với trọng lượng 65 -70 kg và lợn nái lai F1 là 6 tháng tuổi tương ứng với trọng lượng 50

- 55 kg Tuổi động dục lần đầu phụ thuộc vào mùa vụ Lợn nái hậu bị được sinh vào mùa Thu sẽ động dục sớm hơn so với sinh vào mùa Xuân

* Tuổi phối giống lần đầu

Tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc, nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớn lên Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi

Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [4] thì không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy

đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần

bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục lần đầu rồi mới cho phối giống

Đối với lợn nội (Ỉ, Móng Cái) thường phối giống lần đầu lúc 7 tháng tuổi, khi lợn đạt khối lượng 45 - 50 kg Lợn lai phối giống lúc 8 tháng tuổi với khối lượng 65 - 70 kg, nái ngoại cho phối giống lúc 9 tháng tuổi, khối lượng

cơ thể đạt 80 - 90 kg

Thường cho phối giống vào lần động dục thứ 2 - 3 trở đi Nếu phối giống quá sớm sẽ ảnh hưởng đến tầm vóc và sức khỏe của lợn mẹ Nhưng nếu phối giống quá muộn sẽ lãng phí về kinh tế, ảnh hưởng đến sinh sản của lợn

* Tuổi đẻ lứa đầu

Theo Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng (2004) [17] thì lợn Ỉ, Móng Cái cho đẻ lứa đầu vào 11 - 12 tháng tuổi, lợn nái lai, ngoại cho đẻ vào lúc 12

tháng tuổi, không nên để quá 14 tháng tuổi

* Chu kỳ động dục của lợn nái và động dục trở lại sau khi đẻ

Chu kỳ tính dục của lợn nái thường khoảng 19 - 21 ngày Thời gian động dục thường kéo dài 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại)

Trang 21

Lê Hồng Mận (2006) [16] cho biết: thường sau khi cai sữa lợn con 3 - 5 ngày, lợn mẹ sẽ động dục trở lại

* Chu kỳ sinh dục và thời điểm phối giống thích hợp

- Chu kỳ tính

Sau khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của lợn được diễn

ra liên tục và có tính chu kỳ Các noãn bào trên buồng trứng phát triển, lớn dần, chín và nổi cộm trên bề mặt buồng trứng Khi vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng Mỗi lần trứng rụng con cái có những biểu hiện ra bên ngoài gọi là động dục Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng theo chu kỳ (Khuất Văn Dũng, 2005) [9]

Chu kỳ động dục của gia súc chia làm 4 giai đoạn:

+ Giai đoạn trước động dục: đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục lúc này buồng trứng to hơn bình thường Các tế bào của vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lông nhung tăng lên Đường sinh dục xung huyết, nhu động sừng tử cung tăng lên, dịch nhầy ở âm đạo tăng nhiều Giai đoạn này tính hưng phấn chưa cao Khi noãn bào chín, tế bào trứng được tách

ra, sừng tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung mở hoàn toàn Niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều lúc này con vật bắt đầu xuất hiện tính dục

+ Giai đoạn động dục: lúc này cơ thể gia súc cái và cơ quan sinh dục có biểu hiện hàng loạt những biến đổi sinh lý Bên ngoài âm hộ phù thũng, niêm mạc xung huyết Niêm dịch trong suốt từ trong chảy ra nhiều con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ, gia súc không yên tĩnh, ăn uống giảm, kêu giống, phá chuồng, nhảy lên lưng con khác, thích gần con đực Giai đoạn này tế bào trứng ra khỏi buồng trứng gặp tinh trùng sẽ được thụ thai thì chu kỳ sẽ dừng lại Gia súc cái trong giai đoạn có thai đến khi đẻ xong thì chu kỳ tính không xuất hiện

Trang 22

+ Giai đoạn sau động dục: giai đoạn này cơ thể gia súc và cơ quan sinh dục dần dần trở lại bình thường Các phản xạ động dục, tính hưng phấn dần mất hẳn, con vật chuyển sang thời kỳ yên tĩnh hoàn toàn

+ Giai đoạn nghỉ ngơi: đây là giai đoạn dài nhất, các biểu hiện về tính của gia súc ở thời kỳ này yên tĩnh hoàn toàn Thời kỳ này cơ quan sinh dục không có biểu hiện hoạt động, trong buồng trứng thể vàng teo đi, noãn trong buồng trứng bắt đầu phát dục và lớn lên, các cơ quan sinh dục đều ở trạng thái sinh lý

Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, nắm được chu kỳ và các giai đoạn của quá trình động dục sẽ giúp cho người chăn nuôi có chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc cho phù hợp và phối giống kịp thời, đúng thời điểm, từ đó góp phần nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái

- Thời điểm phối giống thích hợp

Đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3

và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục Đối với lợn nái nội, sớm hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3

Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2002) [19] cho biết: thời điểm phối giống ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối muộn đều cho kết quả kém, nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu

* Sinh lý mang thai và đẻ

- Quá trình mang thai

Thời gian mang thai của lợn trung bình là 114 ngày (113 - 116 ngày),

khi mang thai thì thể vàng tồn tại và tiết ra kích tố Progesteron ức chế sự phát

triển của noãn bao Do đó con vật có chửa sẽ không động dục và không rụng trứng Nguyễn Văn Trí (2008) [29] cho rằng: thời gian chửa của lợn nái được chia làm hai thời kì:

+ Chửa kỳ I: là thời gian lợn có chửa từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 84 + Chửa kỳ II: là thời gian lợn chửa từ ngày 85 đến khi đẻ

Trang 23

- Quá trình đẻ

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [8] thì gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tùy theo loài gia súc, khi nào bào thai phát triển đầy

đủ dưới tác động của thần kinh - thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn

đẻ để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài, quá trình này gọi là quá trình sinh đẻ

Khi gần đẻ con cái sẽ có những biểu hiện: trước khi đẻ 1 - 2 tuần nút niêm dịch cổ tử cung, đường sinh dục lỏng, sánh và dính chảy ra ngoài Trước khi đẻ 1 - 2 ngày, cơ quan sinh dục bên ngoài bắt đầu có những thay đổi: âm môn phù to, nhão ra và xung huyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu vú căng to, sữa bắt đầu tiết

Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định thời gian gia súc đẻ:

+ Trước khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra nước trong

+ Trước khi đẻ 1 ngày, hàng vú giữa vắt ra sữa đầu

+ Trước khi đẻ 12 giờ, hàng vú trước vắt ra sữa đầu

+ Trước khi đẻ 2 - 3 giờ, hàng vú sau vắt ra sữa đầu

2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự nhiễm bệnh của lợn nái

2.2.2.1 Thiếu sót về dinh dưỡng

Khẩu phần thiếu hay thừa protein trước, trong thời kỳ mang thai có ảnh

hưởng đến viêm tử cung

Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bột, gây đẻ khó, gây viêm tử cung Ngược lại thiếu dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm không chống lại vi trùng xâm nhập cũng gây viêm tử cung

Khoáng chất, vitamin ảnh hưởng đến viêm tử cung Thiếu vitamin A sẽ gây sừng hóa niêm mạc, sót nhau

2.2.2.2 Chăm sóc quản lý

- Thường xuyên vệ sinh chuồng trại, tắm rửa giữ sạch sẽ thân thể lợn nái, thụt rửa tử cung khi sinh, sử dụng nước sạch làm giảm tỷ lệ viêm tử cung

Trang 24

- Viêm tử cung: vi khuẩn từ môi trường xâm nhập vào cơ quan sinh dục của lợn nái trong quá trình sinh đẻ (nhất là khi thời gian đẻ của lợn nái kéo dài trên 4 giờ) hoặc do người dùng can thiệp trong quá trình đỡ đẻ gây trầy xước bên trong đường sinh dục của lợn nái Hiện tượng sót nhau hay sót con nếu không can thiệp kịp thời cũng sẽ gây bệnh viêm tử cung gia súc

- Viêm vú: trong điều kiện chuồng trại, vệ sinh môi trường khu vực chăn nuôi kém, vi khuẩn có thể xâm nhập trực tiếp qua ống dẫn sữa ở bầu vú, hoặc theo đường máu từ các vết trầy, vết thương bị nhiễm trùng khác trên cơ thể gia súc để gây viêm

2.2.2.3 Tiểu khí hậu chuồng nuôi

- Nhiệt độ và độ ẩm môi trường chuồng nuôi có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản của gia súc, liên quan trực tiếp đến sức khỏe, khả năng rụng trứng của lợn nái Do đó, việc tạo bầu tiểu khí hậu thích hợp trong chuồng nuôi là yêu cầu cần thiết

- Thời tiết khí hậu quá nóng hay quá lạnh trong thời gian đẻ dễ đưa đến viêm tử cung

Ngoài ra còn do các yếu tố khác như: tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe; nhiễm trùng sau khi sinh; đường xâm nhiễm; kích dục tố

2.2.3 Một số bệnh sản khoa thường gặp ở lợn nái sinh sản

2.2.3.1 Bệnh viêm tử cung (Metritis)

* Đặc điểm

Bệnh viêm tử cung xảy ra trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau Lợn nái đẻ ít lứa, nhiều lứa hay đang nuôi con đều có thể mắc bệnh song tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào yếu tố vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng, các khu động thực vật ở mỗi vùng là khác nhau, đặc biệt là công tác vệ sinh thú y

* Nguyên nhân

Bệnh thường xảy ra sau khi đẻ, có thể xảy ra ở những lợn nái sau khi phối giống, xảy ra cả với những lợn nái hậu bị Do những nguyên nhân chính sau:

+ Trong quá trình chửa, lợn nái ăn khẩu phần nhiều chất dinh dưỡng, ít

vận động hoặc nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như: Leptospirosis (lợn

Trang 25

nghệ), Brucellosis (sảy thai truyền nhiễm), Parvovirus và một số bệnh nhiễm

khuẩn khác… làm cho cơ thể lợn nái yếu dẫn đến việc đẻ khó, hay sảy thai, thai chết lưu gây viêm tử cung Trong quá trình đẻ, điều kiện vệ sinh kém, sự can thiệp đỡ đẻ không đúng kỹ thuật, nhau thai bị sót lại là nguyên nhân dẫn đến lợn nái bị viêm dạ con (Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ, 2004) [15]

+ Trương Lăng (2000) [13] cho biết: Streptococcus và Colibacillus

nhiễm qua cuống rốn, đẻ khó, sảy thai, sót nhau hay qua dụng cụ thụ tinh nhân tạo cũng gây xây sát, tạo các ổ viêm nhiễm trong âm đạo và tử cung Trong tinh dịch bị nhiễm khuẩn và dụng cụ thụ tinh không vô trùng đã đưa các vi khuẩn gây viêm nhiễm vào bộ phận sinh dục của lợn nái, do lợn đực nhảy trực tiếp mà niệu quản và dương vật bị viêm cũng là nguyên nhân dẫn đến viêm tử cung của lợn nái

+ Đoàn Thị Kim Dung và cs (2002) [6] còn cho biết: nguyên nhân gây

viêm tử cung chủ yếu do tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết (Staphylococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebsiella, E.coli dung huyết, trùng roi (Trichomonas) và do nấm Candida albicans

+ Theo Lê Hồng Mận (2006) [16] thì khi lợn đẻ, cổ tử cung, mép âm hộ

bị rách, bị nhiễm trùng kế phát gây viêm Chuồng đẻ nền bẩn, dây rốn lợn con

và nhau thai nhiễm trùng rồi co thụt vào gây viêm tử cung

+ Nguyễn Văn Thanh (2007) [24] khẳng định rằng việc dùng tay móc thai khi lợn đang đẻ nhằm rút ngắn thời gian xổ thai của lợn mẹ là nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm tử cung ở đàn nái nuôi theo mô hình trang trại hiện nay

40 - 41C Con vật ăn kém, sản lượng sữa giảm, có khi cong lưng rặn như rặn đái, từ cơ quan sinh dục chảy ra niêm dịch lẫn nhiều lợn cợn, mùi hôi tanh, có

Trang 26

màu trắng đục, hồng hay nâu đỏ Khi nằm lượng niêm dịch chảy ra nhiều hơn Trong trường hợp thai chết lưu, âm đạo sưng tấy, đỏ, có chứa dịch tiết màu vàng sẫm, nâu và có mùi hôi thối Xung quanh âm hộ và mép đuôi dính bết niêm dịch, có khi niêm dịch khô đóng thành vẩy trắng, lợn nái mệt mỏi, đi lại

khó khăn

Triệu chứng viêm tử cung thể hiện qua 3 thể: viêm nội mạc tử cung (thể nhẹ), viêm cơ tử cung (thể trung bình), viêm tương mạc tử cung (thể nặng) với các biểu hiện cụ thể được trình bày trong bảng 2.1

Bảng 2.1 Biểu hiện lâm sàng của bệnh viêm tử cung

Dịch

viêm

Màu Trắng xám, trắng sữa Hồng, nâu đỏ Nâu rỉ sắt

hoặc hoàn toàn

Bỏ ăn hoàn toàn

* Hậu quả

Bệnh viêm tử cung ở lợn nái là một trong những tổn thương đường sinh dục của lợn nái sau khi sinh, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa, lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng, chậm phát triển

Lê Thị Tài và cs (2002) [23] cho rằng: đây là một bệnh khá phổ biến ở gia súc cái Nếu không được chữa trị kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng thụ thai và sinh sản của gia súc cái

Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức năng cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở trong dạ con cản trở sự di chuyển của tinh trùng tạo độc tố có hại cho tinh trùng như: Spermiolisin (độc

tố làm tiêu tinh trùng) Các độc tố của vi khuẩn, vi trùng và các đại thực bào

Trang 27

tích tụ gây bất lợi với tinh trùng, ngoài ra nếu có thụ thai được thì phôi ở trong môi trường dại con bất lợi cũng dễ bị chết non

Quá trình viêm xảy ra trong giai đoạn có chửa là do biến đổi bệnh lý trong cấu trúc của niêm mạc (teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hóa niêm mạc…) dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ giữa bào thai và dạ con nên qua các chỗ tổn thương, vi khuẩn cũng như các độc tố do chúng tiết ra làm cho bào thai phát triển không bình thường

Theo Trần Thị Dân (2004) [3], Trần Tiến Dũng và cs (2002) [8], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới những hậu quả chính như: Sẩy thai, bào thai phát triển kém hoặc thai chết lưu, giảm sức đề kháng và khả năng sinh trưởng của lợn con theo mẹ, ảnh hưởng đến khả năng động dục trở lại

* Chẩn đoán viêm tử cung

Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [15]: dựa vào những triệu chứng lâm sàng để chẩn đoán bệnh, ngoài ra ta thấy lợn nái có những biểu hiện mất sữa, âm đạo có những dịch tiết không bình thường, ở tử cung mùi hôi thối đặc biệt khi kiểm tra qua trực tràng có thể cảm thấy một hoặc hai sừng tử cung sưng to, thành tử cung dày, khi sờ vào phản ứng co của sừng tử cung yếu Nếu trong tử cung có tích nước thẩm xuất thì sờ vào thấy có vỗ sóng

Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối đa hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm, từ đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhất, thời gian điều trị ngắn, chi phí điều trị thấp nhất nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất

* Phòng và điều trị bệnh viêm tử cung

- Phòng bệnh viêm tử cung

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [22] thì công tác phòng bệnh cần phải tiến hành: vệ sinh chuồng nái đẻ sạch sẽ 1 tuần trước khi đẻ Tắm cho lợn nái trước khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục và bầu vú

Trang 28

Trong khi đỡ đẻ bằng tay phải sát trùng kĩ bằng cồn hoặc rượu và được bôi trơn bằng Vazơlin hoặc dầu lạc Trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng dụng cụ trợ sản thì dụng cụ phải sạch sẽ và phải được vô trùng

Can thiệp đẻ khó, thao tác phải nhẹ nhàng và đúng kỹ thuật Khi lợn đẻ xong nên dùng dung dịch nước muối sinh lý 0,5% để rửa sạch bộ phận sinh dục của lợn Sau đó bơm hoặc đặt thuốc kháng sinh như: Penicillin 2 - 3 triệu

UI, Tetramycine hay Sulfanilamid 2 - 5g vào tử cung để chống viêm

Nên tiêm một mũi Oxytocin liều 3ml/ con sau khi đẻ xong để kích thích

tử cung co bóp đẩy hết nhau thai và sản dịch ra ngoài tử cung, âm đạo Đồng thời tiêm một liều kháng sinh loại không ảnh hưởng đến sữa như: Tetramycin Trong thời gian dùng kháng sinh nên tiêm kèm theo thuốc bổ trợ như: VTM B1, B.complex, VTM B12, Gluconatcanxi để trợ sức, kích thích lợn nái ăn khoẻ để có sữa cho con bú

Phối giống: đảm bảo phối giống đúng kĩ thuật, vô trùng

- Điều trị bệnh viêm tử cung

Để điều trị bệnh viêm tử cung đạt hiệu quả cao cần phải theo dõi sát đàn lợn để chẩn đoán chính xác thể bệnh và từ đó đưa ra biện pháp điều trị sớm sẽ rút ngắn được thời gian điều trị, lợn mau hồi phục và giảm chi phí điều trị

Việc điều trị bệnh cần đạt được hai mục đích: phục hồi nguyên vẹn niêm mạc tử cung và phục hồi chức năng co bóp của cơ tử cung

Tử cung có liên quan mật thiết với các cơ quan khác, trong đó có các

bộ máy nội tiết và thần kinh, bởi vậy điều trị bệnh viêm tử cung bao gồm gây tác động cục bộ và tác động lên toàn thân, thường dùng phương pháp thụt rửa sau đó can thiệp bằng các loại kháng sinh và thuốc bổ bằng cách tiêm, cho uống hay bơm vào tử cung

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2003) [11] thì sử dụng kháng sinh tổng hợp

có tác dụng cao Oxytetracylin có tác dụng rộng với cả vi khuẩn Gram (-) và

vi khuẩn Gram (+), đặc biệt là có tác dụng mạnh với nhóm vi khuẩn: E coli,

tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn, xoắn khuẩn, phẩy khuẩn…

Trang 29

Ngoài Oxytetracylin thì Penicillin bán tổng hợp cũng có tác dụng với hầu hết với các vi khuẩn Gram (-) và Gram (+)

Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [12] cho biết hiệu quả điều trị bệnh viêm

+ Tiêm Oxytocin để đẩy các niêm dịch và dịch viêm ra ngoài

+ Dùng thuốc trợ sức, trợ lực như: ADE B.complex, Calci - B12, Calci – fort…

Còn Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [15] đã dùng Oxytocin với liều 20 - 40IU/con/ngày, để làm cho tử cung co bóp tống các chất, dịch viêm ra ngoài Sau đó thụt rửa bằng Han - iodine 5%, tiêm kháng sinh như: Gentamicin 4% 1ml/6kg thể trọng hoặc Lincomycin 10% 1ml/10kg thể trọng liên tục trong 3 đến 5 ngày

ở từng cá thể hoặc cả đàn Bệnh thường xuất hiện tập trung từ khi lợn đẻ đến

12 giờ sau đó, vi khuẩn xâm nhập vào một hay nhiều bầu vú thông qua núm

vú do trầy xước Trong đó vi khuẩn Staphylococcus và Streptococcus chỉ gây viêm từng tuyến vú, Klebsiella spp gây viêm cấp tính và nhóm vi khuẩn E coli với nhiều type khác nhau đã được phân lập, độc tố của E coli sinh ra là

nguyên nhân gây viêm vú, mất sữa

Trang 30

Theo White (2013) [37] thì nguyên nhân chủ yếu gây viêm vú cấp tính

là do các loại vi khuẩn: E coli, Klebsiella, đôi khi Pseudomonas nhiễm qua

núm vú từ phân và nền chuồng Vì vậy, việc vệ sinh chuồng trại và núm vú

đóng vai trò quan trọng trong phòng bệnh

Khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn,

Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột xâm nhập gây ra viêm vú

Một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần thức ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày

đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập

gây viêm như: E coli, Staphylococcus, Klebsiella spp (Nguyễn Như Pho,

2002) [21]

Theo Christensen R.V và cs (2007) [33], khi nghiên cứu về mô học và

vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho thấy, vi khuẩn chính gây viêm vú là

Staphylococcus spp và Arcanobacterium pyogenes

Còn Trương Lăng (2000) [13] cho biết: lợn con mới đẻ có răng nanh

mà không bấm khi bú làm xây sát vú mẹ tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập tạo ra các ổ viêm nhiễm trên bầu vú Lợn nái ăn thức ăn nhiều đạm sinh nhiều sữa, lợn con bú không hết sữa ứ đọng tạo thành môi trường cho vi trùng sinh sản nhiều Lợn chỉ cho con bú một hàng vú, hàng còn lại căng sữa quá nên viêm Hoặc do thời tiết thay đổi đột ngột, lạnh quá hoặc nóng quá, thức ăn khó tiêu hoặc cũng ảnh hưởng đến cảm nhiễm vi trùng

* Triệu chứng

Sau khi đẻ 1 - 2 ngày thấy vú sưng đỏ, lợn mẹ ăn ít hoặc bỏ ăn Vú viêm không cho sữa, đầu vú sưng nóng, sờ lợn có phản ứng đau, không cho con bú, đàn con thiếu sữa gầy yếu nhanh chóng và kêu rít nhiều Sốt cao 40 - 42C, sữa vú viêm chứa mủ màu xanh, lợn cợn, lắc thấy vẩn đục, để ra gió có mùi hôi Nếu không điều trị kịp thời vú sẽ cứng gây viêm kinh niên không cho sữa Khi viêm ban đầu chỉ một vú viêm, không chữa trị sẽ lây sang vú khác (Trương Lăng, 2000) [13]

Trang 31

Bình thường viêm vú thường xảy ra ngay sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 7

- 10 ngày, có con đến một tháng Theo Ngô Nhật Thắng (2006) [25], viêm vú thường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú, vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng, ấn vào có cảm giác đau

Viêm vú được chia thành các thể: viêm thanh dịch, viêm cata, viêm Fibrin, viêm cata có mủ, viêm áp xe, viêm thể plegemol, viêm có máu

Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2002) [19] thì khi con vật bị viêm vú sẽ dẫn đến các biến chứng sau:

- Teo đầu vú: phần lớn tế bào tuyến vú bị tổn thương, cơ năng tiết sữa

không thể hồi phục được Thể tích thùy vú bị bệnh nhỏ hơn vú bình thường Tuy các tuyến vú không nhất thiết phải có hiện tượng xơ cứng rõ rệt, nhưng khả năng tiết sữa của chúng đã giảm, thậm chí là mất hẳn Hiện tượng này chính là hiện tượng teo đầu vú Sau khi bị teo, các thùy vú lành phải tiết sữa bù cho thùy vú bệnh nên chúng phát triển nhiều hơn

- Bầu vú bị xơ cứng: tổ chức liên kết tăng sinh và trở thành rắn, còn tổ

chức của bản thân tuyến vú lại teo đi

- Bầu vú bị hoại tử: các tổ chức của bầu vú bị thối loét và phân giải

Trang 32

* Chẩn đoán bệnh viêm vú

- Dựa vào triệu chứng lâm sàng: bằng mắt thường quan sát thấy bầu vú

sưng đỏ, khi xoa bầu vú thấy có cảm giác nóng và hơi cứng, khi vắt thấy không có sữa, lợn nái có cảm giác đau và chỉ thấy nhiều dịch trong hay sữa đặc như bã đậu Một số trường hợp bầu vú chuyển sang thâm đen rất nguy hiểm cho con vật, đó là viêm thối rữa rất khó điều trị Lợn nái thường nằm úp

và cho con bú ít, lợn con bú ít sẽ kêu la, gầy yếu, ỉa chảy…

- Chẩn đoán phi lâm sàng: lấy mẫu sữa để kiểm tra sự có mặt các tế

bào thể với sữa lợn bình thường tế bào thể đếm được là 1x106 tế bào/ml, đối với sữa của bệnh viêm vú số lượng tế bào thể tăng gấp đôi là 1x108

tế bào/ml; lấy các chất từ bầu vú để kiểm tra vi khuẩn gây bệnh Việc kiểm tra này cũng

có ý nghĩa rất lớn trong điều trị (Anonymous, 2012) [35]

* Phòng và điều trị bệnh viêm vú

- Phòng bệnh: vệ sinh sát trùng chuồng đẻ, đảm bảo đủ diện tích và nền

chuồng khô ráo, bằng phẳng, mài răng nanh cho lợn con trong vòng 24 giờ sau đẻ; cung cấp nước uống sạch Có thể trộn một số loại kháng sinh khác nhau vào trong thức ăn để phòng bệnh

Ngoài ra, những biện pháp phòng bệnh viêm tử cung cũng có thể áp dụng cho phòng bệnh viêm vú Trong thực tế người ta thường làm công tác phòng bệnh cho cả hai bệnh trên khi có lợn nái sắp đẻ

- Trị bệnh: trong nhiều trường hợp viêm vú do nhiều nguyên nhân gây

ra nên việc điều trị cần phải tiến hành kết hợp giữa kháng sinh và phong bế giảm đau

Theo Trương Lăng (2003) [14], điều trị viêm vú bằng cách: Rửa và chườm đá vào đầu vú viêm để giảm sưng, giảm sốt Ngày hai lần xoa bóp nhẹ cho vú mềm dần, mỗi ngày vắt cạn sữa vú 4 - 5 lần để tránh lây lan sang vú khác Cho lợn uống Sulphat Magie với liều nhẹ 20 - 30g/con Vú bị viêm chưa có mủ chỉ điều trị 2 - 3 ngày sẽ mềm trở lại, lợn khỏi bệnh và cho sữa bình thường Nếu 2 - 3 ngày không khỏi phải dùng:

Penicillin: 10.000UI/kg TT

Streptomycin: 10mg/kg TT

Trang 33

Mỗi ngày tiêm một lần, tiêm quanh vú bị viêm cho đến khi hết Tiêm dung dịch Tetramycin vào vú viêm theo lỗ sữa sau khi đã vắt cạn sữa

2.2.3.3 Bệnh đẻ khó

* Đặc điểm

Lợn đẻ mà thời gian sổ thai kéo dài nhưng thai vẫn không được đẩy ra

ngoài Bệnh biểu hiện dưới nhiều hình thức, diễn biến khác nhau Nó không những gây bệnh cho cơ quan sinh dục mà còn dẫn đến hiện tượng vô sinh, thậm chí cả mẹ lẫn con có thể chết Do đó đẻ khó gây thiệt về kinh tế cho

ngành chăn nuôi

* Nguyên nhân

Thai quá to không phù hợp với xoang chậu và đường sinh dục của lợn mẹ; chiều hướng tư thế của thai không bình thường; thai dị hình hay quái thai Những nguyên nhân và loại hình đẻ khó có thể xảy ra đơn độc mà cũng có thể kết với nhau Có trường hợp không những đầu thai đã quay sang một bên mà chân trước thì một chân thẳng một chân gấp khúc Các trường hợp lợn con nằm không đúng tư thế

Nguyễn Văn Thanh (2007) [24] cho rằng: lợn ăn quá nhiều tinh bột, protein dẫn đến béo cũng gây ra đẻ khó

Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [15]: lợn nái không được chăm sóc tốt trong suốt quá trình từ hậu bị đến chửa, đẻ như: ít vận động, cơ bụng và cơ hoành, cơ liên sườn yếu, xương chậu hẹp Những trường hợp xương chậu hẹp do bẩm sinh, thai quá to, thời tiết nóng bức, cơ thể mẹ yếu do ăn uống, chăm sóc nuôi dưỡng kém, lợn chửa hay sốt cao, mắc một số bệnh truyền nhiễm và đã được điều trị, lợn nái quá già, nội tiết tố mất cân

bằng hay nồng độ hormone kích đẻ (Oxytoxin và Prostagladin F2) quá thấp

trong thời gian đẻ, lợn nái bị liệt 1/3 thân sau, nơi đẻ không phù hợp, cách đỡ

đẻ không đúng kỹ thuật

* Triệu chứng

Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [15]: lợn nái rặn nhiều lần, thời gian lâu mà không đẻ được, cơn co bóp rặn đẻ thưa dần, lợn nái mệt mỏi, khó chịu, nước ối tiết ra nhiều có lẫn cả máu (màu hồng nhạt),

Trang 34

có những trường hợp lợn nái đã đẻ được một con rồi nhưng vẫn khó đẻ con tiếp sau Khi kiểm tra thấy thai vướng ngay ở khung xương chậu không qua được

* Hậu quả

- Tử cung co bóp mạnh mà thai không ra, thai bị chèn dẫn đến lợn con

bị chết

- Nếu mổ để lấy bào thai ra ngoài thì lợn mẹ hay bị chết

- Gây ra hiện tượng sót con, sót nhau dẫn đến viêm đường sinh dục

- Khi dùng biện pháp can thiệp không đúng cách, gây xây xát niêm mạc

tử cung hoặc dụng cụ thủ thuật không đảm bảo vệ sinh làm lợn nhiễm một số bệnh: Viêm tử cung, viêm vú, sẩy thai truyền nhiễm khi niêm mạc có những vết sẹo sẽ gây cản trở cho quá trình thụ thai, thai làm tổ dẫn đến sảy thai, đẻ non thậm chí là vô sinh

* Chẩn đoán

Theo dõi chặt chẽ ngày phối giống, ngày đẻ, cơn co thắt, rặn đẻ, nếu

1-2 giờ lợn nái rặn đẻ liên tục mà không đẻ được, cơn rặn thưa dần, lợn nái mệt, uống nhiều nước, nhịp thở, nhịp tim tăng hơn bình thường

* Phòng và điều trị bệnh đẻ khó

Cần phải chẩn đoán chính xác, can thiệp sớm và kịp thời Trước tiên phải rửa bộ phận ngoài của lợn nái, lau khô, cắt móng tay, rửa sạch bằng xà phòng hoặc cồn, bôi trơn tay thuận nhất từ cùi chỏ trở xuống; chụm các ngón tay lại, ngón út nằm giữa để tránh lọt vào lỗ tiêu gây viêm đường tiểu Khi lợn nái rặn đẻ ngừng đẩy tay vào, chờ ngừng rặn đẩy tay từ từ vào, đến khi đụng vào lợn con, sửa lại cho đúng tư thế Nắm hai nanh lợn con kéo ra hoặc nắm hàm dưới má kéo ra theo nhịp rặn của lợn mẹ Trường hợp thò tay vào đụng đuôi lợn con phải cố gắng tìm cho được hai chân sau, kẹp hai chân sau lợn con giữa các ngón tay kéo ra

Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [15] cho biết: những trường hợp đã vượt quá thời gian rặn đẻ cho phép, cần phải tiêm Oxytoxin 20

- 40 - 50 UI/nái Nếu cần có thể tiêm nhắc lại sau 30 phút và tiêm tĩnh mạch là tốt nhất Trong trường hợp không có kết quả cần phải can thiệp bằng tay hoặc

Ngày đăng: 07/06/2017, 09:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Bình (2000), Kinh nghiệm chăn nuôi lợn thịt, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm chăn nuôi lợn thịt
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
2. Nguyễn Xuân Bình (2005), Phòng trị bệnh lợn nái, lợn con, lợn thịt, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trị bệnh lợn nái, lợn con, lợn th"ị"t
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
3. Trần Thị Dân (2004), Sinh sản heo nái và sinh lý heo con, Nxb Nông nghiệp TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản heo nái và sinh lý heo con
Tác giả: Trần Thị Dân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp TP HCM
Năm: 2004
4. Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2003), Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con
Tác giả: Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
5. Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài (2001), Phòng và trị bệnh lợn nái để sản xuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị bệnh lợn nái để sản xuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu
Tác giả: Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
6. Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài, Phương Song Liên (2002), Phòng và trị một số bê ̣nh trong thú y bằng thuốc nam , Nxb Nông nghiê ̣p, Hà Nội, tr.23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị một số bê ̣nh trong thú y bằng thuốc nam
Tác giả: Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài, Phương Song Liên
Nhà XB: Nxb Nông nghiê ̣p
Năm: 2002
7. Trần Tiến Dũng (2004), “Kết quả ứng dụng Hormone sinh sản điều trị hiện tƣợng chậm động dục lại sau đẻ ở lợn nái”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông Nghiệp, tập 2, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả ứng dụng Hormone sinh sản điều trị hiện tƣợng chậm động dục lại sau đẻ ở lợn nái”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông Nghiệp
Tác giả: Trần Tiến Dũng
Năm: 2004
8. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Giáo trình sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
10. Văn Lệ Hằng, Đào Đức Thà, Chu Đình Tới (2008), Sinh sản vật nuôi, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản vật nuôi
Tác giả: Văn Lệ Hằng, Đào Đức Thà, Chu Đình Tới
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
11. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (2003), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
12. Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Hữu Quán, Hoàng Văn Hoan, Trần Đức Hạnh, Nguyễn Huy Đăng và Đỗ Ngọc Thúy (2011), Bệnh sinh sản ở vật nuôi, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sinh sản ở vật nuôi
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Hữu Quán, Hoàng Văn Hoan, Trần Đức Hạnh, Nguyễn Huy Đăng và Đỗ Ngọc Thúy
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2011
13. Trương Lăng (2000), Hướng dẫn điều trị các bệnh ở lợn, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội, tr. 77 - 91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều trị các bệnh ở lợn
Tác giả: Trương Lăng
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2000
14. Trương Lăng (2003), Nuôi lợn gia đình, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi lợn gia đình
Tác giả: Trương Lăng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
15. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), Một số bệnh quan trọng ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở lợn
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
16. Lê Hồng Mận (2006), Kỹ thuật mới về chăn nuôi lợn ở nông hộ, trang trại và phòng chữa bệnh thường gặp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật mới về chăn nuôi lợn ở nông hộ, trang trại và phòng chữa bệnh thường gặp
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
17. Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng (2004), Kỹ thuật chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi lợn
Tác giả: Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
18. Đặng Quang Nam, Phạm Đức Chương (2002), Giáo trình giải phẫu vật nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giải phẫu vật nuôi
Tác giả: Đặng Quang Nam, Phạm Đức Chương
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
19. Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (2002), Bệnh sản khoa gia súc, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sản khoa gia súc
Tác giả: Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2002
20. Nguyễn Hùng Nguyệt (2007), Châm cứu chữa bệnh vật nuôi, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châm cứu chữa bệnh vật nuôi
Tác giả: Nguyễn Hùng Nguyệt
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2007
35. Anonyumous (2012), Mastitis - inflammation of the mamnary glands, http://www.thepisite.com Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w