Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của hai giống lợn nái ngoại nuôi tại trại Yorkshire = 48, Landrace = 48 .... Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của các dòng lợn nái ng
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2012 - 2016
Thái Nguyên, 2016
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian học tập và rèn luyện tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên và sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, nhờ sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ của thầy cô, gia đình, bạn bè, tôi đã hoàn thành tốt đợt thực tập tốt nghiệp
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban giám hiệu Nhà trường, các phòng ban, các thầy cô giáo trong nhà trường, các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn cô giáo GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực tập, và hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp này
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cán bộ và công nhân trong trại lợn công
ty CP Bình Minh - Mỹ Đức - Hà Nội, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài tốt nghiệp và học hỏi nâng cao tay nghề
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt chương trình học tập tại trường
Thái Nguyên, tháng năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Thị Quyên
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Sơ đồ sử dụng phác đồ điều trị bệnh cho lợn nái 32
Bảng 4.1: Lịch sát trùng trại lợn nái 39
Bảng 4.2: Lịch phòng bệnh của trại lợn nái 40
Bảng 4.3: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 45
Bảng 4.4 Cơ cấu đàn lợn nái của trại lợn Công ty CP Bình Minh (giai đoạn 2014 - 2016) 46
Bảng 4.5 Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của hai giống lợn nái ngoại nuôi tại trại (Yorkshire = 48, Landrace = 48) 47
Bảng 4.6 Các chỉ tiêu chất lượng đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái (Yorkshire = 48, Landrace = 48) 50
Bảng 4.7 Tỷ lệ mắc một số bệnh thường gặp sau khi đẻ ở đàn lợn nái sinh sản tại trại 53
Bảng 4.8 Tỷ lệ mắc bệnh theo lứa đẻ 54
Bảng 4.9 Tỷ lệ mắc bệnh theo các tháng trong năm 56
Bảng 4.10 Tỷ lệ mắc bệnh theo giống lợn 57
Bảng 4.11 Kết quả ứng dụng phác đồ điều trị bệnh cho lợn nái 58
Trang 5Khoa học kỹ thuật Nghiên cứu khoa học Nhà xuất bản
Tiêu chuẩn Việt Nam Trách nhiệm hữu hạng
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu của đề tài 2
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của công ty CP Bình Minh 3
2.1.2 Thuận lợi và khó khăn 6
2.2 Cơ sở khoa học của đề tài 7
2.2.1 Đặc điểm của một số giống lợn ngoại 7
2.2.2 Đặc điểm sinh lý của lợn nái 8
2.2.3 Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái 12
2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái 14
2.2.5 Một số bệnh thường gặp sau khi đẻ của lợn nái 17
2.2.6 Một số hiểu biết về thuốc điều trị bệnh thường gặp sau khi đẻ dùng trong đề tài 22
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 25
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 25
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 27
Trang 7PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 29
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 29
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 29
3.3 Nội dung nghiên cứu 29
3.4 Phương pháp nghiên cứu 29
3.4.1 Các chỉ tiêu về khả năng sinh sản của lợn nái 29
3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi một số bệnh sản khoa trên đàn lợn nái 30
3.4.3 Phương pháp tính và phương pháp xử lý số liệu 32
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 Công tác phục vụ sản xuất 34
4.1.1 Công tác chăn nuôi 34
4.1.2 Công tác thú y 34
4.1.3 Biện pháp thực hiện 34
4.1.4 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 35
4.2 Kết quả nghiên cứu 46
4.2.1 Điều tra cơ cấu đàn lợn nái của trại trong 3 năm gần đây 46
4.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của các dòng lợn nái ngoại nuôi tại trại 46
4.2.3 Các chỉ tiêu chất lượng đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái 50
4.2.4 Các chỉ tiêu theo dõi về bệnh thường gặp sau khi đẻ ở lợn nái tại trại 53 PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 60
5.1 Kết luận 60
5.2 Đề nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
I TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 62
II TÀI LIỆU TIẾNG ANH 64
PHỤ LỤC
Trang 8ta có tới hơn 70% dân số làm nông nghiệp
Trong chăn nuôi, chăn nuôi lợn giữ một vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước Chăn nuôi lợn theo quy mô hộ gia đình từ lâu đã gắn bó với người nông dân Việt Nam Tuy nhiên, do nhu cầu tiêu thụ thịt tăng nhanh, những năm gần đây, các trung tâm giống và các doanh nghiệp, đã nhập khẩu các giống lợn ngoại có năng suất cao để cải thiện chất lượng đàn lợn hiện có ở nước ta Rất nhiều trại chăn nuôi lợn theo hướng chăn nuôi công nghiệp đã được hình thành, tạo nên các vùng chăn nuôi thâm canh lớn Nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật về thức ăn, giống, chăm sóc quản lý, chuồng trại đã được áp dụng thành công
Trong chăn nuôi lợn, chăn nuôi lợn nái có vai trò quan trọng Nước ta
đã nhập một số giống lợn nái ngoại như Yorkshire, Landrace… để nuôi sinh sản, nhằm nâng cao số lượng cũng như chất lượng đàn lợn của nước ta và đã thu được các kết quả tốt
Tuy nhiên, các giống lợn nái nuôi tại các trang trại của nước ta chủ yếu
là nuôi sinh sản để sản xuất lợn thương phẩm, do đó việc kiểm tra năng suất sinh sản của lợn chưa được chú trọng Mặt khác, lợn nái rất dễ mắc các bệnh sau đẻ như: viêm tử cung, sát nhau, tử cung lộn bít tất… Những bệnh này làm giảm sức đề kháng và khả năng sinh sản của lợn nái, làm giảm tỷ lệ thụ thai,
Trang 9mất sữa, ảnh hưởng đến đàn con Nếu bệnh nặng có thể làm mất khả năng sinh sản, làm tăng tỷ lệ loại thải, dẫn đến giảm số lượng đàn lợn nái, gây thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi
Từ yêu cầu cấp thiết của thực tiễn sản xuất, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Theo dõi khả năng sinh sản và một số bệnh thường gặp sau khi
đẻ của đàn lợn nái nuôi tại công ty CP Bình Minh - Mỹ Đức - Hà Nội”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu của đề tài
- Xác định được khả năng sinh sản của đàn lợn nái
- Xác định tỷ lệ mắc một số bệnh thường gặp sau khi đẻ của đàn lợn nái
và biện pháp điều trị
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Làm rõ được các thông tin về khả năng sinh sản của lợn nái
- Đưa ra kết quả về tỷ lệ mắc bệnh thường gặp sau khi đẻ trên đàn lợn nái và phác đồ điều trị bệnh hiệu quả
1.3 Ý nghĩa đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả đề tài là những thông tin về khả năng sinh sản của đàn lợn nái
- Phát hiện và điều trị kịp thời một số bệnh thường gặp sau khi đẻ của đàn lợn nái nuôi tại công ty CP - Mỹ Đức - Hà Nội
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để đề xuất các biện pháp nhằm tăng khả năng sinh sản, phòng trị được một số bệnh thường gặp sau khi đẻ của đàn lợn nái, góp phần tăng năng suất chăn nuôi, giảm thiểu thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi
Trang 10PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của công ty CP Bình Minh
2.1.1.1 Quá trình thành lập
Trang trại sản xuất lợn giống siêu nạc của ông Nguyễn Sỹ Bình nằm trên địa phận xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội Trại được thành lập năm 2008, là trại lợn gia công của công ty chăn nuôi CP Việt Nam (Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam) Hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đưa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật Hiện nay, trang trại do ông Nguyễn Sỹ Bình làm chủ trại, cán bộ kỹ thuật của công ty chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trại
2.1.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại
- Trại lợn có khoảng 0,5 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà cho công nhân, bếp ăn các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại
- Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 1200 nái bao gồm: 6 chuồng đẻ mỗi chuồng có 56 ô kích thước 2,4 m × 1,6 m/ô, 2 chuồng bầu mỗi chuồng có 560 ô kích thước 2,4 m × 0,65 m/ô, 3 chuồng cách ly, 1 chuồng đực giống cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc…
Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, 8 quạt thông gió đối với các chuồng bầu, 2 quạt đối với chuồng cách ly, và 2 quạt đối với chuồng đực Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện
Trang 11tích 1,5 m², cách nền 1,2 m, mỗi cửa sổ cách nhau 40 cm Trên trần được lắp
hệ thống chống nóng bằng nhựa
Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác
Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng
Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái đẻ 6 và chuồng bầu
2 Nước tắm, nước xả gầm, nước phục vụ cho công tác khác được bố trí từ bể lọc
và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng
2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:
01 chủ trại
01 quản lý trại
03 quản lý kỹ thuật
01 kế toán
01 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại
7 công nhân và 20 sinh viên thực tập
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa, nhà bếp Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại
2.1.1.4 Tình hình sản xuất của trang trại
* Công tác chăn nuôi
Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến
bộ khoa học kỹ thuật
Trang 12Hiện nay trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 - 2,5 lứa/năm
Số con sơ sinh là 11,23 con/đàn, số con cai sữa: 9,86 con/đàn Trại hoạt động vào mức khá theo đánh giá của công ty chăn nuôi CP Việt Nam
Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại lợn giống của công ty
Trong trại có 23 con lợn đực giống được chuyển về cùng một đợt, các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái
và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Tinh lợn được khai thác từ hai giống lợn Landrace và Yorshire Lợn nái được phối 3 lần và được luân chuyển giống như con đực
Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được công ty chăn nuôi CP Việt Nam cấp cho từng đối tượng lợn của trại
* Công tác thú y:
Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn giống luôn thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên công ty chăn nuôi CP Việt Nam
- Công tác vệ sinh: Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, thu gom cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn và rắc vôi theo quy định
Công nhân, kỹ sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động
- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi, hạn chế đi lại giữa các chuồng Hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào Với phương châm phòng bệnh là chính nên tất cả lợn ở đây đều được cho uống thuốc, tiêm phòng vắc xin đầy đủ
Trang 13Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn
Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100%
- Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được
kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách li, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnh nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 - 90% trong một thời gian ngắn Vì vậy, không
gây thiệt hại lớn về số lượng đàn lợn
2.1.2 Thuận lợi và khó khăn
Trang 14Trang thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi đã cũ, có phần bị hư hỏng ảnh hưởng đến công tác sản xuất
Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử lý nước thải của trại còn nhiều khó khăn
2.2 Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1 Đặc điểm của một số giống lợn ngoại
2.2.1.1 Giống lợn Yorkshire
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [15], giống lợn này được hình thành
ở vùng Yorkshire của nước Anh
Lợn Yorkshire có lông trắng ánh vàng (cũng có một số con đốm đen), đầu cổ hơi nhỏ và dài, mõm thẳng, mặt rộng, tai to trung bình và hướng về phía trước, mình dài, lưng hơi cong, bụng gọn, chân dài chắc chắn, có 14 vú
Lợn Yorkshire có tốc độ sinh trưởng, phát dục nhanh, khối lượng khi trưởng thành lên tới 300 kg (con đực), 250 kg (con cái)
Lợn Yorkshire có mức tăng khối lượng bình quân 700 g/con/ngày, tiêu tốn thức ăn trung bình khoảng 3,0 kg/kg tăng khối lượng, tỷ lệ nạc 56%
Lợn có khả năng sinh sản cao, trung bình 10 - 12 con/lứa, khối lượng
sơ sinh trung bình 1,2 kg/con
Lợn Landrace có khả năng sinh sản khá cao và nuôi con khéo
Đây là giống lợn chuyên hướng nạc và dùng để lai kinh tế
Trang 152.2.2 Đặc điểm sinh lý của lợn nái
2.2.2.1 Đại cương về cơ quan sinh dục lợn nái
a) Bộ phận sinh dục bên ngoài
* Âm môn hay còn được gọi là âm hộ, nằm ở dưới hậu môn Phía ngoài
âm môn có 2 môi, nối liền 2 môi là 2 mép Trên 2 môi âm môn có sắc tố đen
và nhiều tuyến tiết Tuyến tiết chất nhờn trắng và tuyến mồ hôi
* Âm vật giống như dương vật được thu nhỏ lại Cấu tạo cũng có thể hổng như con đực Trên âm vật có nếp da tạo mũ âm vật Phần dưới âm vật bẻ gập xuống dưới
* Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo Trong tiền đình có màng trinh Phía trước màng trinh là âm đạo Phía sau là âm môn Sau màng trinh là lỗ niệu đạo Tiền đình có một số tuyến hướng quay về âm vật
b) Bộ phận sinh dục bên trong
* Âm đạo
Phía trước âm đạo là cổ tử cung Phía sau là tiền đình có màng trinh che lỗ âm đạo Âm đạo là lỗ tròn để chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối Đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ, kích thước
âm đạo của lợn là 10 - 12 cm
* Tử cung
Tử cung là nơi làm tổ, cung cấp chất dinh dưỡng cho sự phát triển của bào thai Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bóng đái Tử cung gồm 3 phần: sừng, thân, cổ tử cung
- Ngoài cùng là lớp tương mạc được nối với dây chằng rộng Lớp cơ:
cơ trơn rất phát triển dày, khỏe có cấu tạo với chức năng chứa thai phát triển
và đẩy thai khi đẻ Niêm mạc đến cổ tử cung thì thắt tùy thuộc vào từng loại gia súc
Trang 16- Mạch quản thần kinh: Động mạch đến từ động mạch tử cung - buồng trứng và động mạch tử cung Thần kinh đến từ đám rối treo đằng sau và đám rối hạ vị
* Buồng trứng
Có hai buồng trứng treo ở cạnh trước dây chằng rộng và nằm trong xoang chậu Bên ngoài là một màng liên kết sợi chắc như màng bao dịch hoàn Bên trong buồng trứng chia làm hai miền: miền vỏ và miền tủy, được cấu tạo bởi lớp mô liên kết sợi xốp tạo cho buồng trứng một chất đệm
* Ống dẫn trứng
Là một ống nhỏ ngoằn ngoèo nằm ở màng treo buồng trứng
Cấu tạo gồm 3 phần: ngoài cùng là sợi liên kết được kéo dài từ màng treo buồng trứng Giữa là lớp cơ trơn Trong cùng là niêm mạc được cấu tạo bằng tế bào hình trụ, hình vuông làm nhiệm vụ tiết dịch Bề ngoài niêm mạc được phủ một lớp nhung mao, luôn rung động để đẩy tế bào trứng hoặc hợp
tử xuống tử cung làm tổ
Thời gian trứng di chuyển trong ống dẫn trứng từ 3 - 10 ngày Ống dẫn trứng được chia làm hai đoạn: đoạn ở phía trước buồng trứng và đoạn ở gần sừng tử cung
2.2.2.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái
* Sự thành thục về tính
Một cơ thể được gọi là thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ thể phát triển căn bản đã hoàn thiện Dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết tố (các phản xạ về sinh dục) Khi có các noãn bào chín và tế bào trứng rụng
- Hiện tượng rụng trứng:
Noãn bào dần dần lớn lên, nổi rõ trên bề mặt của buồng trứng Dưới tác dụng của thần kinh, hormone, áp suất Noãn bào vỡ giải phóng ra tế bào
Trang 17trứng, đồng thời thải ra dịch folliculin Hiện tượng giải phóng tế bào trứng ra khỏi noãn bào ở từng loài gia súc khác nhau
Lợn: 20 - 30 tế bào trứng 1 lần
- Sự hình thành thể vàng:
Sau khi noãn bào vỡ ra và dịch nang chảy ra Màng trên bị xẹp xuống đường kính ngắn lại bằng nửa xoang trứng Tạo nên những nếp nhăn trên vách xoang ăn sâu vào trong làm thu hẹp xoang tế bào trứng Xoang chứa đầy dịch và một ít máu chảy ra từ vách xoang ra Dịch và máu đọng lại và lấp đầy xoang của tế bào trứng Các nếp nhăn gồm nhiều lớp nhăn ăn sâu vào và lấp đầy xoang gồm nhiều tế bào hạt, những tế bào hạt này tuy số lượng không tăng nhưng kích thước lại tăng rất nhanh Trong các tế bào hạt có chứa lipoit
và sắc tố màu vàng, tế bào trứng chứa đầy tế bào hạt (gọi là tế bào lutein) Như vậy, do sự phát triển của tế bào hạt mang sắc tố đã hình thành nên thể vàng Đây chính là nơi đã tạo ra hormone progesterone
- Niêm dịch:
Trong đường sinh dục của gia súc cái có niêm dịch chảy ra cũng là do kết quả của quá trình tế bào trứng rụng Do sự thay đổi hàm lượng các kích tố trong máu, từ ống dẫn trứng đến mút sừng tử cung, tiết ra niêm dịch Đồng thời ở âm đạo, âm môn cũng có niêm dịch chảy ra
- Tính dục:
Do kết quả của quá trình rụng trứng hàm lượng oestrogen tăng lên ở trong máu nên có một loạt biến đổi về bên ngoài khác với bình thường, đứng nằm không yên, kém ăn, kêu rống, thích gần con đực, phá chuồng, sản lượng sữa giảm, chăm chú tới xung quanh Gặp con đực không kháng cự, tăng lên
về cường độ cho đến khi tế bào trứng rụng
- Tính hưng phấn:
Thường kết hợp song song với tính dục, con vật có một loạt biến đổi về bên ngoài, thường không yên, chủ động đi tìm con đực, kêu rống, kém ăn, đuôi
Trang 18cong và chịu đực, hai chân sau thường ở tư thế giao phối Cao độ nhất là lúc tế bào trứng rụng Khi đã rụng tế bào trứng thì tính hưng phấn giảm đi rõ rệt
* Chu kỳ động dục:
Theo Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [20]: Chu kỳ động dục của gia súc chia làm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn trước động dục
Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục lúc này buồng trứng to hơn bình thường
Các tế bào của vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lông nhung tăng lên Đường sinh dục xung huyết, nhu động sừng tử cung tăng lên, dịch nhầy ở âm đạo tăng nhiều Giai đoạn này tính hưng phấn chưa cao Khi noãn bào chín, tế bào trứng được tách ra, sừng tử cung co bóp mạnh, cổ
tử cung mở hoàn toàn Niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều lúc này con vật bắt đầu xuất hiện tính dục
- Giai đoạn động dục
Lúc này cơ thể gia súc cái và cơ quan sinh dục có biểu hiện hàng loạt những biến đổi sinh lý Bên ngoài âm hộ phù thũng, niêm mạc xung huyết Niêm dịch trong suốt từ trong chảy ra nhiều con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ, gia súc không yên tĩnh, ăn uống giảm, kêu rống, phá chuồng, nhảy lên lưng con khác, thích gần con đực Giai đoạn này tế bào trứng ra khỏi buồng trứng gặp tinh trùng sẽ được thụ thai thì chu kỳ sẽ dừng lại Gia súc cái trong giai đoạn có thai đến khi đẻ xong thì chu kỳ tính không xuất hiện
- Giai đoạn sau động dục
Giai đoạn này cơ thể gia súc và cơ quan sinh dục dần dần trở lại bình thường Các phản xạ động dục, tính hưng phấn dần mất hẳn, con vật chuyển sang thời kỳ yên tĩnh hoàn toàn
Trang 19- Giai đoạn nghỉ ngơi
Đây là giai đoạn dài nhất, các biểu hiện về tính của gia súc ở thời kỳ này yên tĩnh hoàn toàn Thời kỳ này cơ quan sinh dục không có biểu hiện hoạt động, trong buồng trứng thể vàng teo đi, noãn trong buồng trứng bắt đầu phát dục và lớn lên, các cơ quan sinh dục đều ở trạng thái sinh lý
* Sinh lý quá trình mang thai và đẻ:
Sau thời gian lưu lại ở ống dẫn trứng khoảng 3 ngày để tự dưỡng (noãn hoàng và dịch thể do ống dẫn trứng tiết) hợp tử bắt đầu di chuyển xuống tử cung, tìm vị trí thích hợp để làm tổ, hình thành bào thai Sự biến đổi nội tiết tố trong cơ thể mẹ trong thời gian có chửa như sau: Progesterone trong 10 ngày đầu có chửa tăng rất nhanh, cao nhất vào ngày chửa thứ 20, rồi hơi giảm xuống một chút ở 3 tuần đầu, sau đó duy trì ổn định trong thời gian có chửa
để an thai, ức chế động dục 1 - 2 ngày trước khi đẻ Progesterone giảm đột ngột Estrogen trong suốt thời kỳ có chửa duy trì ở mức độ thấp, cuối thời kỳ
có chửa khoảng 2 tuần thì bắt đầu tăng dần, đến khi đẻ thì tăng cao nhất Thời gian có chửa của lợn nái bình quân là 114 ngày
2.2.3 Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái
Để đánh giá một cách đúng đắn năng suất sinh sản của lợn nái cần phải xác định được các chỉ tiêu cơ bản, quan trọng, lấy đó làm cơ sở, thước
đo để định ra thời gian sử dụng lợn nái hiệu quả Các chỉ tiêu này cần phải được tính chung trong toàn bộ thời gian sử dụng lợn nái từ lứa đẻ đầu đến lứa đẻ cuối cùng
Nguyễn Thiện và cs (2005) [23] cho rằng, khi khảo sát và đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái cần chú ý các chỉ tiêu: tuổi thành thục sinh dục, chu kỳ động dục, tuổi có khả năng sinh sản, thời gian mang thai và số con đẻ ra/lứa Kết quả nghiên cứu của Harmond (1994) (dẫn theo Đỗ Thị Thoa (1998) [25] cho
Trang 20thấy, các chỉ tiêu quan trọng với lợn nái sinh sản bao gồm: tuổi đẻ lứa đầu, số con đẻ ra còn sống/ổ, khoảng cách lứa đẻ, thời gian cai sữa
Theo Nguyễn Khắc Tích (2002) [26], khả năng sản xuất của lợn nái chủ yếu được đánh giá dựa vào chỉ tiêu số lợn con cai sữa/nái/năm Từ đó cho thấy số lợn con cai sữa/nái/năm phụ thuộc vào 2 yếu tố là số con đẻ ra và số lứa đẻ/nái/năm
Ngoài các chỉ tiêu quan trọng trên thì chỉ tiêu về số con đẻ ra còn sống cũng là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng chăn nuôi lợn nái Chỉ tiêu này được tính cho số con còn sống sau khi lợn mẹ đẻ xong con cuối cùng, không tính những con có khối lượng những con có khối lượng dưới 0,2 kg đối với lợn nội; 0,5 kg đối với lợn lai và lợn ngoại
Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng đàn con: chất lượng của đàn lợn con nói lên chất lượng của lợn nái đồng thời phản ánh trình độ chăn nuôi của cơ
sở hoặc người chăn nuôi Các chỉ tiêu đó bao gồm:
+ Khối lượng sơ sinh toàn ổ: Khối lượng đàn con cân được sau khi đỡ
đẻ xong, chưa cho con bú sữa đầu Đây là khối lượng của tất cả lợn con đẻ ra còn sống, phát dục bình thường Chỉ tiêu này ảnh hưởng rất lớn tới quá trình phát triển sau này của đàn con
+ Khối lượng 21 ngày toàn ổ: Chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ và khả năng tiết sữa của đàn con Tại 21 ngày sau đẻ, khả năng tiết sữa của lợn mẹ đạt đỉnh cao về số lượng và chất lượng sau đó giảm dần Đây chính là cơ sở của việc vận dụng để cai sữa sớm cho lợn con ở ngày tuổi thứ 21
+ Khối lượng cai sữa toàn ổ: Khối lượng cai sữa toàn đàn còn có quan hệ khăng khít với khối lượng sơ sinh và đây chính là cơ sở cho khối lượng xuất chuồng sau này
Trang 21+ Độ đồng đều của đàn lợn con: Được thể hiện qua tỷ lệ đồng đều, cho phép đánh gía được khả năng nuôi con của lợn mẹ, kỹ thuật chăm sóc phòng bệnh cho lợn con Nếu sự chênh lệch giữa cá thể có khối lượng nhỏ nhất trong đàn so với cá thể có khối lượng lớn nhất càng thấp thì độ đồng đều càng cao
+ Tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ: Sau khi mang thai, đẻ, nuôi con, lợn mẹ có
sự thay đổi về khối lượng, nếu gầy sút quá sẽ ảnh hưởng tới thời gian động dục trở lại sau cai sữa và ảnh hưởng đến năng suất của lứa tiếp theo Nếu lợn nái có chất lượng, số lượng sữa tốt thì nhất định sẽ bị hao mòn thể trạng Tỷ lệ hao mòn trung bình là 15 - 16% Sự hao mòn lợn mẹ thay đổi theo các lứa, lớn nhất ở lứa đẻ thứ 5 tới 4 kg So với lứa 1, lứa 2 là 29 và 33 kg; sau đó giảm dần ở các lứa thứ 6, thứ 7 (42 và 31 kg)
+ Khoảng cách lứa đẻ: là số ngày tính từ ngày đẻ lứa trước đến ngày đẻ lứa tiếp theo gồm: thời gian chờ động dục trở lại sau cai sữa và phối giống có chửa; thời gian chửa; thời gian nuôi con Nếu khoảng cách lứa đẻ ngắn thì số lứa đẻ của nái/năm tăng lên
Như vậy các tác giả nghiên cứu về năng suất sinh sản của lợn nái đều thống nhất rằng hiệu quả của chăn nuôi lợn nái sinh sản được đánh giá bằng
số lợn cai sữa (số lợn con có khả năng chăn nuôi/nái/năm) Chỉ tiêu này lại phụ thuộc vào tuổi thành thục về tính, tỷ lệ thụ thai, tổng số lợn con đẻ ra, số lứa đẻ/năm, tỷ lệ nuôi sống Giữa các chỉ tiêu trên có mối quan hệ với nhau (Đinh Văn Chỉnh (2006) [3])
2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái
Năng suất sinh sản của lợn nái có mối liên quan chặt chẽ và phụ thuộc vào 2 yếu tố: di truyền và ngoại cảnh Yếu tố di truyền phụ thuộc vào đặc tính con giống, các giống lợn khác nhau thì thì có tính năng sản xuất khác nhau Yếu tố ngoại cảnh bao gồm thức ăn dinh dưỡng, vệ sinh thú y, chuồng trại Mặt khác năng suất sinh sản của lợn nái được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu: số
Trang 22trứng rụng, tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra còn sống, số con cai sữa/lứa, thời gian chờ phối Các chỉ tiêu này có hệ số di truyền thấp nên chúng chịu sự tác động mạnh mẽ của các điều kiện ngoại cảnh
+ Yếu tố di truyền: Ở lợn nái các tính trạng năng suất sinh sản của lợn nái đều có hệ số số di truyền thấp Với những tính trạng có hệ số di truyền thấp để cái tiến năng suất có hiệu quả cần sử dụng phương pháp lai (Đặng Vũ Bình (2002) [1]) Số trứng rụng/chu kỳ đây là chỉ tiêu có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá năng suất của lợn nái Nó chịu ảnh hưởng của 3 yếu tố là di truyền, tuổi nái và chế độ dinh dưỡng
+ Phương thức chăn nuôi và trình độ kỹ thuật: có ảnh hưởng tới quá trình phát triển sinh dục của lợn nái Ở lợn hậu bị nếu nuôi nhốt và cách ly lợn đực thì tuổi thành thục sinh dục sẽ dài hơn Trong quy trình chăn nuôi lợn nái hậu bị đã đặt vấn đề tiếp xúc với lợn đực giống hàng ngày Theo Hughes và Jemmes (1996) [36] thì có đến 83% lợn nái hậu bị có khối lượng cơ thể trên
90 kg động dục lúc 165 ngày tuổi nếu được tiếp xúc với đực giống 2 lần/ngày,
20 - 25 phút/lần
+ Khẩu phần ăn và quy trình kỹ thuật nuôi dưỡng: nhu cầu dinh dưỡng của lợn nái khác nhau tùy thuộc giống, tuổi, trạng thái sinh lý Đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất sinh sản Việc xác định chế độ nuôi dưỡng thích hợp với lợn nái cần đảm bảo làm tăng số trứng rụng, từ đó tăng các chỉ tiêu số con đẻ ra, số con cai sữa, khối lượng sơ sinh, để mang lại hiệu quả trong chăn nuôi
+ Tuổi của lợn nái: có liên quan chặt chẽ với khối lượng phối giống Để đảm bảo điều kiện cho phối giống lần đầu lợn nái cần thành thục về tính và thể vóc Nếu phối giống lần đầu quá sớm hoặc quá muộn, khối lượng khi đó quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng tới hiệu quả
Trang 23+ Lứa đẻ: trên cơ sở số trứng rụng/chu kỳ, thứ tự các lứa đẻ cũng có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của chúng Theo Hughes, Varley (1980) [37] , lứa 1 có số con/ổ thấp nhất vì số trứng rụng ở lần đầu tiên là 11,3 Sau
đó tăng dần tới lứa 6, từ lứa 7 trở đi bắt đầu giảm dần hoặc sẽ giữ được ở mức
độ ổn định
+ Tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ thụ thai: trứng rụng nếu gặp tinh trùng đúng thời điểm thích hợp sẽ được thụ tinh và phát triển thành hợp tử Vì vậy, việc xác định được thời điểm phối giống thích hợp cho lợn nái có vai trò quyết định tới tỷ lệ thụ tinh số trứng rụng/chu kỳ Nếu số trứng rụng ở mức bình thường (15 - 20 trứng) và ở các điều kiện bình thường không có yếu tố đặc biệt thì tỷ lệ thụ tinh đạt 100%, các trứng đã thụ tinh phát triển tốt (Hancock, 1941) [35]
+ Khí hậu thời tiết, mùa vụ: ảnh hưởng tới các chỉ tiêu năng suất sinh sản với các mức độ khác nhau Có ý kiến cho rằng mùa vụ không có ảnh hưởng gì tới tỷ lệ thụ thai Tuy nhiên nghiên cứu của Adlovic và cs (1983) [32] cho thấy mùa vụ liên quan tới tỷ lệ thụ thai thể hiện ở sự giảm sụt 10% khi phối giống lợn ở các tháng 6,7,8 so với tháng 11, 12 trong năm
+ Thời gian cai sữa và thời gian động dục trở lại: một số tác giả kết luận rằng thời gian cai sữa và thời gian động dục trở lại ở lợn có mối tương quan không thuận Thời gian cho con bú càng dài thì thời gian động dục trở lại càng ngắn
+ Khoảng cách lứa đẻ: là yếu tố quan trọng cấu thành năng suất sinh sản của lợn nái Đây là thời gian tính từ lứa đẻ trước tới lứa đẻ sau, gồm thời gian mang thai, nuôi con, chờ phối Trong đó chỉ có thể tác động đến thời gian nuôi con và chờ phối để rút ngắn khoảng cách lứa đẻ từ đó nâng số lứa đẻ/nái/năm Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào chăn nuôi lợn nái sinh sản ở giai đoạn nuôi con, và chờ phối để có thể nâng cao hiệu quả sinh sản
Trang 242.2.5 Một số bệnh thường gặp sau khi đẻ của lợn nái
2.2.5.1 Bệnh viêm tử cung
Lợn là loài sinh sản đa thai, khả năng sinh sản ngày càng cao nên bộ phận sinh dục hoạt động nhiều tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập nhất là trong điều kiện dinh dưỡng không phù hợp, điều kiện chăm sóc vệ sinh kém thì bệnh dễ sảy ra
Viêm tử cung thường xuất hiện trên nái sau khi sinh từ 2 - 3 ngày Trong quá trình đẻ, dịch và các chất trong tử cung chảy ra, cổ tử cung mở, niêm mạc tử cung xây sát, vi khuẩn xâm nhập gây viêm tử cung (Đặng Thanh Tùng, 1999) [28]
* Nguyên nhân:
Cơ quan sinh dục lợn nái phát triển không bình thường gây khó đẻ hoặc lợn nái khó đẻ do thai quá to, thai ra ngược, thai phát triển không bình thường Phối giống quá sớm lợn nái tơ, nái già mang nhiều thai Khi đẻ tử cung co bóp yếu, do lứa đẻ trước đã bị viêm tử cung làm cho niêm mạc tử cung biến đổi nên nhau thai không ra gây sát nhau, thối rữa tạo điều kiện cho
sự phát triển của vi khuẩn
Theo Nguyễn Hữu Phước (1982) [16], lợn nái sinh ra đều mang vi khuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh, chỉ khi cổ tử cung mở, chất tiết chảy ra tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn
Theo Đặng Thanh Tùng (1999) [28], mầm bệnh có mặt trong một tuyến qua niêm mạc đi vào máu, xâm nhập vào tử cung, nguyên nhân chính là sự kém nhu động của ruột nhất là táo bón Vi khuẩn xâm nhập từ ngoài vào do vi khuẩn hiện diện trong phân và nước tiểu
Kết quả của Nguyễn Hữu Phước (1982) [16], tỷ lệ các loại vi khuẩn
gây viêm tử cung ở lợn như sau: E coli chiếm 27%; Proteus valgaris chiếm 16%; Klebsielle chiếm 10,2%; Steptococus chiếm 34,5%; Staphylococus chiếm 11,2%; Còn lại các loài vi khuẩn khác chiếm 2 - 7%
Trang 25Các kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học cho biết: Viêm tử cung
thường xảy ra trong lúc sinh do nhiễm khuẩn E.coli dung huyết, Staphylococus spp và Staphylococus aureus, đó là nguyên nhân chính gây
bệnh (Nguyễn Như Pho, 2002) [14]
Trong quá trình có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, tinh bột, protein và ít vận động cơ thể nên cơ thể béo dẫn đến khó đẻ Hoặc do thiếu dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm nên không chống lại
vi trùng xâm nhập cũng gây viêm
Do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây sát sẽ tạo ra các ổ viêm nhiễm trong âm đạo hoặc tử cung hoặc do tinh dịch bị nhiễm khuẩn
Lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền bệnh sang lợn nái
Bệnh còn xảy ra khi chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý kém hoặc do thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt kéo dài
* Triệu chứng:
Triệu chứng viêm tử cung thể hiện qua 3 thể viêm:
Viêm nội mạc: lợn có biểu hiện sốt nhẹ, dịch viêm có mầu trắng hoặc xám và có mùi tanh Con vật có phản ứng đau nhẹ, phản ứng co bóp tử cung giảm nhẹ
Viêm cơ: lợn có biểu hiện sốt cao, dịch viêm có mầu hồng hoặc nâu đỏ
và có mùi tanh thối Con vật có phản ứng đau rõ rệt, phản ứng co bóp tử cung yếu ớt Theo Nguyễn Hữu Ninh và cs (1994) [13], viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung , niêm ma ̣c tử cung bi ̣ thấm di ̣ch thẩm xuất , vi khuẩn xâm nhâ ̣p và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm ma ̣c bi ̣ phân giải , thối rữa gây tổn thương cho ma ̣ch quản và lâm ba quản , từ đó làm lớp cơ và mô ̣t ít lớp tương ma ̣c của tử cung bi ̣ hoa ̣i tử
Trang 26Viêm tương mạc: lợn có biểu hiện sốt rất cao, dịch viêm có màu nâu rỉ sắt và có mùi thối khắm Con vật rất đau kèm theo triệu chứng viêm phúc mạc, phản ứng co bóp tử cung mất hẳn
* Hậu quả của bệnh viêm tử cung:
Theo Lê Thị Tài và cs (2002) [17] cho rằng: đây là một bệnh khá phổ biến ở gia súc cái Nếu không được chữa trị kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của gia súc cái
Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức năng
cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở trong dạ con cản trở sự di chuyển của tinh trùng tạo độc tố có hại cho tinh trùng như: spermiolisin (độc tố làm tiêu tinh trùng) Các độc tố của vi khuẩn, vi trùng và các đại thực bào tích tụ gây bất lợi với tinh trùng, ngoài ra nếu có thụ thai được thì phôi ở trong môi trường dại con bất lợi cũng dễ bị chết non (Lê Văn Năm và cs 1999) [12]
Quá trình viêm xảy ra trong giai đoạn có chửa là do biến đổi bệnh lý trong cấu trúc của niêm mạc (teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hóa niêm mạc…) dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ giữa bào thai và dạ con nên qua các chỗ tổn thương, vi khuẩn cũng như các độc tố do chúng tiết ra làm cho bào thai phát triển không bình thường
2.2.5.2 Bệnh viêm vú
* Nguyên nhân:
Nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú là các hệ vi khuẩn gây bệnh như: trực khuẩn đường ruột, liên cầu khuẩn dung huyết và các loại trực khuẩn gây thối khác Chúng xâm nhập vào tuyến vú qua vết thương, vết xây sát trên bầu vú hoặc qua lỗ núm vú
Theo White (1991) [38], nguyên nhân chủ yếu gây viêm vú cấp tính do
các loại vi khuẩn: E coli, Klebsiella, đôi khi Pseudomonas nhiễm qua núm
vú từ phân và nền chuồng Vì vậy, việc vệ sinh chuồng trại và núm vú đóng vai trò quan trọng trong phòng bệnh
Trang 27Theo Phạm Tiến Dân (1998) [4], nghiên cứu xác định vi khuẩn gây
viêm vú ở lợn nái sinh sản gồm: E coli chiếm 18,2%; Staphylococcus chiếm 19%; Streptococcus chiếm 27,18%; Klebsiella chiếm 14,7%
Theo Christensen và cs (2007) [33], khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho thấy, vi khuẩn chính gây viêm vú là
Staphylococcus spp và Arcanobacterium pyogenes
Theo Nguyễn Hữu Ninh và cs (1994) [13], vi khuẩn gây bệnh viêm vú thường là: liên cầu trùng: 86%; tụ cầu trùng: 5,4%; trực trùng sinh mủ: 2,7%;
E coli: 1,2%; các loại vi khuẩn khác: 3,7% Loại gây bệnh phổ biến nhất là liên cầu trùng Agalactiac
- Corynebacterium chiếm: 12,2%
- Pseudomonas alruginosa chiếm: 9,5%
- Các loại vi khuẩn khác chiếm: 3 - 5%
Do kế phát từ một số bệnh: sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau khi đẻ, viêm bàng quang, viêm thận Khi lợn nái bị bệnh này vi khuẩn theo máu về tuyến vú, cư trú tại đây và gây bệnh
Lợn nái tốt sữa, lợn con bú sữa không hết hoặc lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng vú còn lại căng sữa, lợn con bú làm sây sát bầu vú hoặc lợn con
bị bệnh không bú, sữa xuống nhiều, bầu vú căng dễ dẫn đến viêm vú (Trương Lăng, 2000) [10]
Do quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng kém, chất độn chuồng và ổ đẻ bẩn Sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu vú Thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn tới viêm vú
Trang 28* Triệu chứng:
Viêm vú chia thành các thể như sau:
- Viêm vú thể thanh dịch: Tuyến vú bị sung huyết, dịch viêm tiết ra nhiều Nước viêm thải ra thấm vào các nang sữa làm quá trình lưu thông mạch máu và mạch lâm ba bị trở ngại Lá vú sưng to, có khi cả bầu vú sưng Lúc đầu sữa biến đổi không rõ về sau sữa loãng, chất lượng sữa giảm, sờ tay vào con vật cảm giác đau
- Viêm vú thể cata: Trong nang sữa chứa rất nhiều dịch rỉ viêm, tế bào biểu bì phình to ra, bị thoái hóa và bong ra Cơ thể bình thường không có triệu chứng toàn thân, lúc đầu sữa loãng, có nhiều gạch vón, lượng sữa giảm vắt sữa có những cục nhỏ màu xanh hay vàng nhạt, sờ bầu vú thấy nóng
- Viêm vú thể Fibrin: Lúc đầu lá vú chứa nhiều nước vàng Fibrinogen
và tế bào chết Fibrinogen dưới tác dụng của men do tế bào bị tổn thương tiết ra sẽ biến thành Fibrin Khi vắt sữa có một ít dịch màu vàng chứa Fibrin
và cục Casein bị đóng vón Nhiệt độ cơ thể 40 - 410C, vú viêm cứng, sưng
to, sờ thấy đau
- Viêm vú thể cata có mủ: Trong nang sữa và ống dẫn có hồng cầu, bạch cầu, mủ và tế bào hoại tử Sữa mất hẳn, thể tích vú tăng, màu đỏ Sờ con vật thấy đau, vắt sữa thấy loãng, sữa đóng vón, có mủ, máu Con vật có triệu chứng toàn thân: Sốt cao, kém ăn, hô hấp và tuần hoàn tăng
- Viêm vú thể áp xe: Trong tuyến vú xuất hiện một hay nhiều bọc áp
xe to hay nhỏ nằm sát dưới da hay ở sâu bên trong Sau đó bọc mủ phát triển
to nổi rõ ở dưới da Vật ngừng tiết sữa và trong sữa vắt ra có đầy mủ và máu, casein
- Viêm vú thể plegemol: Là loại viêm tích mủ dưới da và tổ chức liên kết của lá vú Thường do kế phát từ viêm cata và viêm có mủ Lượng sữa ít có nhiều gạch nhỏ, sờ bầu vú thấy nóng, con vật sốt, tim mạch rối loạn
Trang 2922
- Viêm vú thể có màu: Là loại viêm cấp tính Thường kế phát từ viêm thanh dịch, cata hoặc do viêm phúc mạc Tuyến vú bị chấn thương, các tế bào tuyến sữa bị thấm dịch và hồng cầu Da vú có đám đỏ, vắt sữa con vật thấy đau Sữa loãng màu hồng hay đỏ, con vật sốt cao 40 - 410
C, bỏ ăn
- Theo White (1991) [38], Biểu hiện rõ tại vú viêm với các đặc điểm:
vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa, nếu vắt mạnh sữa chảy ra có nhiều lợn cợn lẫn máu; sau 1 - 2 ngày thấy có mủ, lợn
mẹ giảm ăn hay bỏ ăn, sốt cao 40 - 41,50C
* Hậu quả:
Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới cơ thể lợn mẹ, đồng thời ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của lợn con theo mẹ
Theo Nguyễn Hữu Vũ và cs (1999) [31], bệnh viêm tử cung và viêm
vú là hai nguyên nhân chính, trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợn nái nuôi con
Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa có nhiều chất độc Sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con
bú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh và trọng lượng cai sữa thấp
Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khó chữa, lợn nái sẽ bị chết
Viêm vú kéo dài dẫn đến teo bầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnh hưởng tới khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa sau
Nếu phát hiện và điều trị kịp thời sẽ giảm thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi
2.2.6 Một số hiểu biết về thuốc điều trị bệnh thường gặp sau khi đẻ dùng trong đề tài
* Thuốc kháng sinh
- Vetrimoxin LA
Trang 30Công dụng: đặc trị viêm vú, viêm tử cung, mất sữa
Dùng cho trâu bò, lợn, chó, mèo trong các bệnh sau:
+ Bệnh đường hô hấp: viêm phổi, viêm mũi, viêm thanh khí quản + Bệnh đường tiêu hóa: tiêu chảy, viêm ruột, dạ dày, bệnh thương hàn + Bệnh đường sinh dục - tiết niệu: viêm vú, viêm tử cung (hội chứng MMA)
Cách dùng:
Tiêm bắp 3 - 5 ngày
Trâu, bò: 1 ml/ 10 - 20 kg TT cơ thể, 2 ngày/lần
Lợn: 1 ml/ 10 - 20 kg TT cơ thể, 2 ngày/lần
Gia cầm: 0,1 ml/kg TT cơ thể, 2 ngày/lần
Cơ chế tác dụng của Amoxicillin:
Amoxicillin là kháng sinh thuộc nhóm - lactam nên có cơ chế tác dụng giống với các kháng sinh trong nhóm
Amoxicillin có tác dụng diệt khuẩn bằng cách ngăn ngừa sự tổng hợp vách tế bào vi khuẩn, phá vỡ tình trạng nguyên vẹn của vách tế bào, nó gắn vào enzym ái penicillin tham gia vào giai đoạn cuối cùng trong tổng hợp vách
tế bào vi khuẩn, làm cho sự tạo vách tế bào vi khuẩn không đầy đủ, không ổn định về tính thẩm thấu, tế bào vi khuẩn thường bị chết do sự tự phân hủy
- Pendistrep: Quy cách đóng lọ 20 ml Thuốc do công ty Thuốc Thú y Thủy Sản Minh Dũng sản xuất
Trang 31Thành phần:
Procaine Penicillin G: 20 triệu UI
Dihydrostreptomycin: 20.000 mg
Công dụng: Điều trị nhiễm trùng vết thương, viêm phổi, tụ huyết trùng,
lepto, viêm tử cung, đau móng, viêm vú
Cách dùng và liều dùng:
Cách dùng: tiêm bắp thịt, lắc kỹ trước khi sử dụng
Liều chung: 1 ml/10 - 12 kg TT, ngày tiêm 1 lần, tiêm trong 3 - 5 ngày liên tục
Trường hợp nặng có thể sử dụng liều gấp đôi
Cơ chế tác dụng của streptomycin và penicillin
Penicillin có cơ chế tác dụng gần như amoxicillin
Streptomycin là kháng sinh thuộc nhóm Aminoglycosid (AG - amonosid) là thuốc kháng sinh có tác dụng diệt khuẩn, ức chế sự tổng hợp protein của vi khuẩn ở mức ribosome Streptomycin gắn đặc hiệu vào tiểu phần 30s của ribosome Do vậy mã bị đọc sai, gây tổng hợp và tích lũy các protein sai lạc kìm hãm hãm vi khuẩn phát triển Streptomycin còn gây rối loạn cả giai đoạn tổng hợp protein từ khâu khởi đầu, kéo dài đến kết thúc Ngoài ra, còn các cơ chế khác như: thay đổi tính thấm màng, hô hấp tế bào, thay đổi ADN của vi khuẩn Một số AG khác còn gắn vào tiểu phần 50s (Bùi Thị Tho, 2005 [24])
* Các thuốc khác:
- Anagin: Quy cách đóng lọ 20 ml Thuốc do công ty Thuốc Thú y Thủy Sản Minh Dũng sản xuất
Thành phần: anagin: 250 mg
Công dụng: anagin có tác dụng giảm sốt, giảm đau, an thần, kháng
viêm, cảm cúm, cảm nắng, tăng sức kháng bệnh Đặc biệt khi phối với các kháng sinh làm tăng hiệu quả điều trị
Trang 32- Oxytocin: Quy cách lọ 20 ml Thuốc do công ty Thuốc Thú y Thủy Sản Minh Dũng sản xuất
Thành phần: oxytocin: 10 UI; tá dược vừa đủ
Công dụng: tăng co bóp tử cung khi đẻ, chống sót nhau, kích thích tiết sữa Cách dùng và liều dùng: Tiêm bắp thịt, tiêm dưới da hoặc tiêm chậm vào tĩnh mạch
Sinh sản: trâu cái, bò cái: 10 ml/con, heo nái: 6 ml/con, cừu cái, dê cái: 5ml/con, chó cái, mèo cái: 1 ml/con
Kích thích tiết sữa: trâu cái, bò cái: 3 ml/con, lợn nái: 2 ml/con, cừu cái,
dê cái: 1 ml/con, chó cái, mèo cái: 1 ml/con
Cơ chế tác dụng của oxytocin:
Oxytocin tác dụng gây co bóp cơ trơn tử cung có tác dụng đẩy thai ra ngoài trong quá trình đẻ
Một tác dụng khác không kém phần quan trọng của oxytocin là kích thích bài tiết sữa
Nó cũng có ảnh hưởng nhẹ lên sự co bóp của cơ trơn bóng đái và cơ trơn ruột Oxytocin còn gây co mạch máu tử cung (Hoàng Toàn Thắng,
2006) [20]
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu năng suất sinh sản của hai giống lợn Landrace và Yorkshire của Nguyễn Thiện và cs (1992) [22] cho biết số con sinh ra/ổ của lợn nái Landrace và Yorkshire là 9,57 và 8,40 con/lứa, khối lượng sơ sinh/ổ là 11,89 và 11,30 kg, khối lượng 21 ngày tuổi/ổ là 31,30 và 33,67 kg Nghiên cứu của ĐinhVăn Chỉnh và cs (1995) [2] về năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire ở Trung tâm giống gia súc Phú Lãm, Hà Tây cho thấy: tuổi phối giống lần đầu của Landrace và Yorkshire là 254,1 và 282,0 ngày; khối lượng khi phối giống lần đầu là 99,3 - 100,2 kg; tuổi đẻ lứa đầu ở lợn
Trang 33Landrace và Yorkshire là 367 và 396,3 ngày Các chỉ tiêu số con đẻ ra/ổ, khối lượng sơ sinh/ổ, khối lượng 21 ngày/ổ ở lợn Landrace là 8,2 con; 9,12 kg và 40,7 kg; trong khi đó ở lợn Yorkshire chỉ tiêu tương ứng là 8,3 con; 10,89 kg
và 42,1 kg
Theo Nguyễn Thị Viễn (2004) [30] thì nái lai Yorkshire × Landrace có
số con sơ sinh/ổ tăng lên 0,24 - 0,62 con và có thể đẻ lứa đầu sớm hơn 4 - 11 ngày Nái lai Landrace × Yorkshire tăng khối lượng sơ sinh/ổ là 0,65 - 3,29
kg Cả hai nhóm nái lai đã giảm được 0,25 - 0,42 ngày chờ phối, tăng trọng giai đoạn 90 - 150 ngày tuổi tăng lên 2,03 - 3,29 kg Cả 2 nhóm nái lai đã giảm được 0,25 - 0,42 ngày chờ phối, tăng trọng giai đoạn 90 - 150 ngày tuổi tăng lên 2,03 - 3,48% so với nái thuần
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [9], dụng cụ thụ tinh nhân tạo quá cứng sẽ gây xây sát và tạo ra các ổ viêm trong âm đạo, tử cung Tinh dịch bị nhiễm khuẩn, lợn đực giống bị viêm niệu quản và dương vật nên khi nhảy trực tiếp hoặc khai thác tinh nhân tạo sẽ truyền lây mầm bệnh cho lợn nái Rối loạn sinh sản do nhiều nguyên nhân gây ra Ngoài các nguyên nhân cơ học, hóa học, sinh học thông thường như vận động, hormone, dinh dưỡng, ký sinh trùng phải kể đến các nguyên nhân do vi rút và vi khuẩn
Theo Nguyễn Quang Linh (2005) [11], bệnh viêm vú thường xảy ra sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 7 - 10 ngày, có trường hợp đến một tháng
Theo Bùi Thị Tho và cs (2005) [24]: phần lớn những trường hợp lợn đẻ khó đều dẫn tới viêm tử cung
Nguyễn Như Pho (2002) [14], đã dùng kháng sinh streptomycin phối hợp với penicillin và chloramphenicol tiêm một lần ngay trước khi đẻ, hoặc tetracycline cho ăn liên tục 3 ngày trước khi đẻ hoặc đặt viên kháng sinh vào
tử cung trong 3 ngày sau khi đẻ đã cho kết quả tốt trong việc phòng ngừa hội chứng viêm tử cung - viêm vú - mất sữa
Trang 34Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [15]: bơm rửa tử cung ngày 1 - 2 lần, mỗi lần từ 2 - 4 lít nước đun sôi để nguội pha với thuốc tím 1/1000 hoặc nước muối sinh lý 9/1000 Dùng 2 - 3 triệu UI penicillin G pha với 200 ml hoặc dùng sulfanilamid 5 - 10 g pha với 20 ml nước bơm vào tử cung để phòng và điều trị bệnh viêm tử cung
Theo Nguyễn Văn Thanh (2000) [18], dùng PGF2 với liều 25 mg tiêm dưới da 1 lần sau đó thụt dung dịch lugol 200 ml vào tử cung lợn
Đoàn Thị Kim Dung và cs ( 2002) [7] đã dùng thuốc nam để điều tri ̣
bê ̣nh viêm tử cung và cho hiê ̣u quả tốt : nước sắc vỏ xoan , lá bạch đàn đồng nữ 500 g, nước sa ̣ch 3000 ml Các nguyên liệu này cho vào ấm đun trong 30 phút, chắt lấy nước để nguô ̣i rồi dùng nước đó thu ̣t rửa tử cung , âm đạo bi ̣ viêm ngày 1 lần, rử a liên tu ̣c 7 - 10 ngày
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Các giống lợn Yorkshire, Landrace được nuôi phổ biến ở tất cả các nước có nghề chăn nuôi lợn hướng nạc phát triển và nhân ra khắp thế giới bởi các ưu điểm của nó là khối lượng cơ thể lớn, tăng trọng nhanh, tỷ lệ nạc cao, năng suất sinh sản khá, khả năng thích nghi tốt Chính vì vậy mà cho đến nay
có rất nhiều nghiên cứu và thông báo về khả năng sinh sản của 2 giống lợn này White và cs (1991) [38] cho biết lợn Yorkshire có tuổi động dục lần đầu
là 201 ngày, số con đẻ ra còn sống/ổ là 7,2 con ở lứa 1 Các giống có nguồn gốc khác nhau cho năng suất sinh sản khác nhau Số con đẻ ra/ổ của Yorkshire Thụy Điển, Anh, và Ba Lan lần lượt là 10,6; 9,7 và 10,5; còn Landrace của Bỉ, Bungary lần lượt là 8,5 và 10 con/ổ
Jose Bento (2006) [34] cho biết năng suất sinh sản của đàn lợn Landrace và Yorkshire Thụy Điển thu được từ 19 đàn hạt nhân bao gồm 20.275 lứa đẻ và 6.986 nái thuần từ giai đoạn 1994 - 1997 như sau: số con sơ sinh/ổ lần lượt là 11,61 và 11,54; số con sơ sinh còn sống/ổ: 10,94 và 10,58
Trang 35con; thời gian từ cai sữa đến phối giống: 5,6 và 5,4 ngày; tỷ lệ đẻ là 82,8 và 80,9%; tuổi đẻ lứa đầu là 355,6 và 368 ngày
John (1992) [8] đã nghiên cứu về tuổi phối giống lần đầu thích hợp cho thấy, nên để đến lần động dục thứ hai rồi mới phối giống, sẽ làm tăng số lượng trứng rụng Việc quyết định phối giống vào chu kỳ đầu tiên hay chu kỳ thứ hai nên dựa vào nhiều yếu tố như: giá cả thức ăn, triển vọng xuất chuồng
và các giá trị của đàn gia súc
Nghiên cứu về bệnh sinh sản của lợn nái, Trekaxova A.V (1983) [27] cho biết: trong số các nguyên nhân dẫn tới sinh đẻ kém và vô sinh của lợn thì các bệnh ở cơ quan sinh dục chiếm 5 - 15%
Dixenciviridep (1977) [5] đã dùng rivanol 1% để thụt rửa chữa viêm tử cung đạt kết quả cao và không ảnh hưởng tới gia súc
Trang 36PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Lợn nái nuôi tại trại chăn nuôi lợn của Công ty Bình Minh - Mỹ Đức -
Hà Nội
- Khả năng sinh sản và một số bệnh thường gặp sau khi đẻ của đàn lợn nái
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Trại chăn nuôi lợn của công ty CP Bình Minh - Mỹ Đức -
Hà Nội
- Thời gian tiến hành: Từ 18/11/2015 - 18/05/2016
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Cơ cấu đàn lợn nái sinh sản của trại
- Các chỉ tiêu số lượng đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái
- Các chỉ tiêu chất lượng đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái
- Các chỉ tiêu theo dõi về bệnh thường gặp sau khi đẻ của lợn nái
- Kết quả điều trị bệnh thường gặp sau khi đẻ của đàn lợn nái bằng một
số phác đồ điều trị
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Các chỉ tiêu về khả năng sinh sản của lợn nái
- Số con đẻ ra/ổ (con): Đếm số con đẻ ra của các ổ đẻ Tính trung bình
số con đẻ ra của cả lô thí nghiệm
- Số con sống đến 24 giờ (con): Là tất cả số lợn con còn sống đến 24 giờ Tiến hành theo dõi và đếm trực tiếp trên từng lứa đẻ sau 24 giờ Tính trung bình số con còn sống đối với cả lô thí nghiệm
Trang 37- Số con cai sữa: Là tất cả số con còn sống đến cai sữa của đàn Đếm số con cai sữa của các ổ đẻ, tính trung bình số con cai sữa của cả lô thí nghiệm
- Tuổi cai sữa: Là thời gian tính từ khi lợn con đẻ ra đến khi cai sữa Lấy số liệu thông qua sổ sách ghi chép
- Khối lượng sơ sinh: Là khối lượng sơ sinh sau khi hoàn thành các thao tác đỡ đẻ lợn con trước khi cho lợn con bú sữa mẹ lần đầu Tiến hành cân khối lượng lợn con của các lợn nái đã được chọn trong từng ổ đẻ Tính trung bình khối lượng của cả lô thí nghiệm
- Khối lượng cai sữa: Là khối lượng lợn con ngay trước khi cai sữa Tiến hành cân khối lượng lợn con của các lợn nái đã được chọn trong từng ổ
đẻ Tính trung bình khối lượng của cả lô thí nghiệm
3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi một số bệnh sản khoa trên đàn lợn nái
* Tỷ lệ mắc bệnh sản khoa trên toàn đàn lợn nái
- Hàng ngày theo dõi sức khỏe, ghi chép những lợn có biểu hiện lâm sàng và triệu chứng của bệnh sinh sản
- Tính tỷ lệ lợn mắc bệnh
* Biểu hiện lâm sàng của bệnh sản khoa trên đàn lợn nái
- Quan sát trực tiếp đàn lợn nái hàng ngày
- Chẩn đoán lâm sàng thông qua quan sát hàng ngày, theo dõi ghi chép quá trình điều trị và kết quả điều trị, từ đó tính tỷ lệ mắc bệnh và hiệu quả điều trị của phác đồ
* Phương pháp điều trị bệnh sản khoa trên đàn lợn nái
Sau khi chẩn đoán lợn mắc bệnh, tiến hành điều trị bằng các phương pháp như sau:
- Bệnh viêm tử cung:
Để hạn chế quá trình viêm lan rộng, kích thích tử cung co bóp thải hết dịch viêm ra ngoài và đề phòng hiện tượng nhiễm trùng toàn thân, chúng tôi tiến hành điều trị như sau:
Trang 38+ Điều trị cục bộ: Thụt rửa đường sinh dục bằng dung dịch vệ sinh gynopic (pha 1 gói 5 g thuốc với 1 lít nước đun sôi để ấm), mỗi ngày thụt rửa
1 lần cho đến khi khỏi bệnh
+ Điều trị toàn thân: Tiêm 1 liều duy nhất oxytocin 2 ml/con và điều trị theo phác đồ sau:
Phác đồ 1:
Thuốc trợ sức: Tiêm B - complex: 1 ml/10 kgTT/lần/ngày
Thuốc kháng sinh: Tiêm vetrimoxin: 1 ml/10 kgTT/lần/2 ngày
Phác đồ 2:
Thuốc trợ sức: Tiêm B - complex: 1 ml/10 kgTT/lần/ngày
Thuốc kháng sinh: Tiêm pendistrep: 1 ml/10 kgTT/lần/ngày
Cả hai phác đồ điều trị liên tục trong 3 - 6 ngày Nếu không khỏi điều trị thêm 2 ngày
- Bệnh viêm vú:
+ Điều trị cục bộ: Vắt cạn sữa ở vú bị viêm, chườm nóng kết hợp xoa bóp nhẹ vài lần/ngày cho vú mềm dần
Tiêm analgin 1 ml/10 kgTT xung quanh bầu vú bị viêm
+ Điều trị toàn thân theo phác đồ sau:
Phác đồ 1:
Tiêm B - complex: 1 ml/10 kgTT/lần/ngày
Tiêm vetrimoxin: 1 ml/10 kgTT/lần/2 ngày
Phác đồ 2:
Tiêm B - complex: 1 ml/10 kgTT/lần/ngày
Tiêm pendistrep: 1 ml/10 kgTT/lần/ngày
Cả hai phác đồ điều trị liên tục trong 4 - 6 ngày Nếu không khỏi điều trị thêm 2 ngày
Trang 39Bảng 3.1: Sơ đồ sử dụng phác đồ điều trị bệnh cho lợn nái
Số con điều trị (con)
Số lợn con còn sống để nuôi (con)
Số lợn con sống đến cai sữa (con)
Trang 40- Khối lượng trung bình lợn con sơ sinh:
Khối lượng trung bình lợn con sơ sinh (kg) =
- Khối lượng trung bình lợn con cai sữa:
Khối lượng trung bình lợn con cai sữa (kg) =
số lợn con sơ sinh (con)
KL lợn con sơ sinh (kg)
KL lợn con cai sữa (kg)
con nái theo dõi (con)
con nái mắc bệnh (con)
con nái khỏi bệnh (con) con nái theo dõi (con)
KL số lợn con cai sữa (kg)