1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ KINH tế CHÍNH TRỊ PHÁT TRIỂN KINH tế DU LỊCH BIỂN ở QUẬN đồ sơn, THÀNH PHỐ hải PHÒNG

97 479 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong xu thế phát triển chung của các nước trên thế giới hiện nay, kinh tế biển nói chung, kinh tế du lịch biển nói riêng là một hướng quan trọng trong thu hút sự quan tâm của các quốc gia có biển và các nhà kinh doanh du lịch. Một số quốc gia có thế mạnh về biển coi DLB là ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần quan trọng vào thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và củng cố quốc phòng – an ninh của mình.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU

LỊCH BIỂN Ở QUẬN ĐỒ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

3

1.1 Quan niệm về phát triển kinh tế du lịch biển và nội dung

phát triển kinh tế du lịch biển ở quận Đồ Sơn, thành phố

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng và sự cần thiết phát triển kinh tế du

lịch biển ở quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng 211.3 Kinh nghiệm của một số địa phương về phát triển kinh tế

du lịch biển và bài học rút ra cho quận Đồ Sơn, thành phố

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH

2.1 Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế du lịch biển ở quận

Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng từ năm 2006 đến nay 472.2 Hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra trong phát triển

kinh tế du lịch biển ở quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng 59

ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH BIỂN Ở QUẬN

ĐỒ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TRONG THỜI

3.1 Quan điểm cơ bản phát triển kinh tế du lịch biển ở quận Đồ

3.2 Một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế du lịch biển ở

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong xu thế phát triển chung của các nước trên thế giới hiện nay, kinh

tế biển nói chung, kinh tế du lịch biển nói riêng là một hướng quan trọngtrong thu hút sự quan tâm của các quốc gia có biển và các nhà kinh doanh dulịch Một số quốc gia có thế mạnh về biển coi DLB là ngành kinh tế mũinhọn, góp phần quan trọng vào thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và củng cốquốc phòng – an ninh của mình

Việt Nam có bờ biển dài 3260 km, diện tích mặt nước biển trên 1 triệu

km2 với hàng ngàn đảo lớn nhỏ ở ven bờ và ngoài khơi Tài nguyên thiênnhiên và tài nguyên nhân văn thuận lợi đã mang lại cho nước ta lợi thế đặcbiệt để phát triển kinh tế DLB Bước vào thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH,HĐH, đánh giá được tầm quan trọng của kinh tế du lịch đối với sự phát triểnkinh tế xã hội và củng cố QP – AN, Đảng ta chỉ rõ: “phát triển du lịch thật sựtrở thành một ngành kinh tế mũi nhọn” [26, trang 178] Trong chiến lược pháttriển của kinh tế du lịch nói chung, kinh tế DLB luôn là một hướng được quantâm hàng đầu

Góp sức phát triển ngành du lịch biển Việt Nam, trong đó phải kể đến

du lịch biển thành phố Hải Phòng Với lợi thế là thành phố Cảng, là cửa chính

ra biển của vùng châu thổ sông Hồng và các tỉnh phía Bắc, Hải Phòng cónhiều tiềm năng đa dạng, phong phú để phát triển kinh tế biển Thời gian gầnđây, kinh tế biển Hải Phòng phát triển khá nhanh, một số ngành, lĩnh vực tăngtrưởng cao đã góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảoquốc phòng - an ninh, chủ quyền biển, đảo của thành phố và đất nước

Đồ Sơn là một vùng đất cửa biển của thành phố Hải Phòng, cách trungtâm thành phố khoảng 20 km về hướng Đông Nam Thời gian qua, du lịchbiển Đồ Sơn đã đóng góp không nhỏ trong tổng doanh thu từ kinh doanh dulịch của thành phố Hải Phòng Đồ Sơn có một khu nghỉ mát gồm nhiều bãi

Trang 3

biển có phong cảnh đẹp ở miền bắc Việt Nam Đến nơi đây, du khách khôngchỉ được thỏa sức vẫy vùng trong sóng biển, mà còn thưởng ngoạn một “ĐàLạt thu nhỏ” ở khu du lịch quốc tế Hòn Dáu, thăm nhiều điểm du lịch tâmlinh nổi tiếng như đền Bà Đế, nhiều cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ như núiđá, rừng thông, các di chỉ, di tích lịch sử nổi tiếng, các lễ hội truyền thống củadân vùng biển như chọi Trâu, đua thuyền, đấu vật … Theo tinh thần Nghịquyết 32/NQ-TW ngày 5/8/2003 của Bộ Chính trị định hướng phát triển dulịch Hải Phòng đến năm 2020: “Phát triển du lịch Hải Phòng thành trung tâm

du lịch của vùng, trong đó xây dựng đảo Cát Bà cùng với Đồ Sơn, Hạ Longtrở thành một trong những trung tâm du lịch quốc tế của cả nước”

Trong những năm qua, du lịch biển ở quận Đồ Sơn đã có những bướcphát triển đáng khích lệ, tăng trưởng du lịch đã có những đóng góp quan trọngvào công cuộc CNH, HĐH của vùng nói riêng, của đất nước nói chung, thểhiện ở đóng góp của ngành trong giá trị tổng sản phẩm kinh tế vùng Hoạtđộng du lịch đã góp phần tạo nhiều cơ hội việc làm và thu nhập cho cộngđồng, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, giữ vững QP - AN cho thành phố HảiPhòng Tuy nhiên, sự phát triển hiện nay của kinh tế du lịch biển ở quận ĐồSơn hiện còn nhiều hạn chế Du lịch biển chưa thực sự trở thành ngành kinh

tế mũi nhọn như đã được xác định trong Nghị quyết của các cấp ủy Đảng củatỉnh, chưa có bước phát triển đột phá và khai thác có hiệu quả tiềm năng vàlợi thế về du lịch của tỉnh Chất lượng sản phẩm du lịch chưa cao, loại hìnhchưa thật sự phong phú, đặc sắc với bản sắc văn hoá riêng, chưa có đượcnhững sản phẩm du lịch có giá trị gia tăng cao Giá cả so sánh trong một sốkhâu dịch vụ còn cao dẫn tới kém sức cạnh tranh quốc tế Chương trình dulịch còn đơn điệu, trùng lặp, chưa đáp ứng nhu cầu của từng đối tượng khách,của mỗi thị trường Việc bảo tồn, tôn tạo và nâng cấp các di tích lịch sử vănhoá, cũng như giữ gìn cảnh quan môi trường chưa thực sự được chú trọng đầu

tư, thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành Hoạt động tuyên

Trang 4

truyền quảng bá du lịch trong nước, khu vực và quốc tế còn nhiều hạn chế,tính chuyên nghiệp chưa cao, cung cấp chưa đủ và kịp thời thông tin cho dukhách và các nhà đầu tư… Vấn đề đặt ra hiện nay là làm như thế nào để pháthuy tiềm năng, lợi thế của vùng đất cửa biển Đồ Sơn trước yêu cầu hội nhậpkinh tế quốc tế sâu rộng đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao Trong bối cảnh

đó, học viên lựa chọn đề tài: “Phát triển kinh tế du lịch biển ở Quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng” không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa

thực tiễn góp phần phát triển kinh tế du lịch biển ở Đồ Sơn nói riêng và dulịch Hải Phòng nói chung trong thời gian tới

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Hiện nay đã có nhiều công trình khoa học được nghiên cứu liên quanđến đề tài dưới các góc độ khác nhau, trong số đó tiêu biểu là:

Tạp chí “Một số vấn đề về tiềm năng và thực trạng thu hút du khách du lịch quốc tế đến thành phố Đà Nẵng” của Tạp chí Kinh tế Phát triển, Đại học

Kinh tế Quốc dân, năm 2005 Trên cơ sở chỉ ra các ưu thế phát triển du lịchcũng như thực trạng thu hút du khách của thành phố Đà Nẵng, tác giả đã đềxuất các giải pháp nhằm phát triển và cải thiện ngành du lịch của Đà Nẵng

Lê Trọng Bình, “Một số giải pháp đột phá phát triển du lịch vùng biển

và ven biển Việt Nam”, Tổng cục Du lịch Việt Nam, năm 2007 Tác giả chỉ ra

các lợi thế phát triển du lịch biển ở Việt Nam cũng như hiện trạng phát triển

du lịch vùng biển Việt Nam tập trung vào các nhân tố như thị trường khách

du lịch, thu nhập du lịch, sản phẩm du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật, lao động

và không gian du lịch, công tác quảng bá du lịch Qua đó, tác giả đưa ra một

số giải pháp có tính thuyết phục cao để phát triển du lịch biển Việt Nam

Đổng Ngọc Minh - Vương Lôi Đình, “Kinh tế du lịch và du lịch học",

Nhà xuất bản trẻ thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001 Tác giả đưa ra khái niệmtổng quát về du lịch và kinh tế du lịch, đồng thời chỉ ra các tiềm năng, lợi thế,tình hình phát triển của du lịch Việt Nam thời gian qua, từ đó khẳng định đầu

Trang 5

tư cho kinh tế du lịch đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh

tế nói chung của nước ta

Dương Vũ, “Phát triển du lịch trong tầm nhìn mới”, Tạp chí Cộng sản

số 20, năm 2000 Bài viết đã hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịchViệt Nam và đưa ra những ý tưởng ban đầu về cung đối với loại hình du lịchmới Đề tài cũng tập trung đánh giá thực trạng của du lịch Việt Nam vớinhững điểm mạnh, điểm yếu, tìm hiểu nguyên nhân để đưa ra các giải pháp vàkiến nghị nhằm phát triển du lịch nước ta trong tương lai

Mai Văn Điệp, “Phát triển kinh tế du lịch biển và tác động của nó đến củng cố quốc phòng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa hiện nay”, Luận văn thạc sỹ

kinh tế, Hà Nội, năm 2006 Tác giả phân tích tình hình phát triển kinh tế dulịch biển của tỉnh Khánh Hòa trong thời gian gần đây, từ đó khẳng định pháttriển kinh tế du lịch biển ngày càng tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đờisống xã hội trong đó có lĩnh vực quốc phòng Luận văn chỉ ra tính bức thiếttrong giai đoạn hiện nay là cần phải nghiên cứu quá trình phát triển của kinh

tế du lịch biển và tác động của nói đến củng cố quốc phòng trên địa bàn tỉnhnói riêng và cả nước nói chung

Th.s Trần Xuân Cảnh, “Bàn về thu hút vốn cho đầu tư phát triển ngành

du lịch tại Việt Nam”, Tạp chí phát triển kinh tế, số 123, tháng 1 năm 2001.

Tác giả đề cập đến vấn đề thu hút vốn cho ngành du lịch có thể thông quanhiều hình thức, trong đó cần đẩy mạnh thu hút nguồn vốn xã hội hóa trên cơ

sở đẩy mạnh triển khai hình thức hợp tác công tư (PPP), tập trung và ưu tiênphát triển các dự án kết cấu hạ tầng, phục vụ kinh tế xã hội nói chung vàngành du lịch nói riêng Tiếp đó, nguồn vốn tư nhân sẽ đóng vai trò quantrọng Muốn thu hút được nguồn vốn này, cần cải cách thủ tục hành chính, có

cơ chế, chính sách đầy đủ, ổn định Cam kết hỗ trợ giải phóng mặt bằng, giaođất sạch đúng thời hạn cho nhà đầu tư triển khai dự án Nghiên cứu chínhsách ưu đãi trong thu hút đầu tư các dự án phát triển du lịch

Trang 6

Đỗ Quang Trung, “ Phát triển nhanh, bền vững du lịch Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, số 4, năm1996 Học viên đã tham khảo và tiếp thu có chọn lọc

một số luận điểm của tác giả về quan niệm phát triển du lịch bền vững như lýluận: Du lịch bền vững là du lịch giảm thiểu các chi phí và nâng cao tối đa cáclợi ích của du lịch cho môi trường thiên nhiên và cộng đồng địa phương, và

có thể được thực hiện lâu dài nhưng không ảnh hưởng xấu đến nguồn sinhthái mà du lịch phụ thuộc vào Phát triển du lịch bền vững còn đảm bảo cácvấn đề về xã hội, như việc giảm bớt các tệ nạn xã hội bằng việc cung cấpcông ăn việc làm cho người dân trong vùng Ở một cái nhìn sâu và xa hơn, dulịch bền vững giúp khai thác nguồn tài nguyên một cách có ý thức và khoahọc, đảm bào cho các nguồn tài nguyên này sinh sôi và phát triển để thế hệsau, thế hệ tương lai có thể được tiếp nối và tận dụng

Hoàng Đức Cường, Phát triển kinh tế Du lịch ở Nghệ An, Luận văn Thạc

sỹ (1999), Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 1999 Hoạt động kinh doanh du lịchtrên địa bàn tỉnh Nghệ An ngày càng tăng trưởng nhanh và hiệu quả ngày càng

rõ Tác giả khái quát một số kết quả hoạt động du lịch ở Nghệ An từ đó chỉ raphương hướng và giả pháp phát triển du lịch Nghệ An Một trong các giải phápđược học viên tham khảo và liên hệ vào phát triển kinh tế du lịch Đồ Sơn, đó làphát triển du lịch phải gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ phát triển văn hoá, nhất làbảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, giáo dục truyền thống, bảo vệ môitrường, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ chủ quyềnbiên giới và biển đảo Mở rộng và kết hợp các loại hình du lịch (sinh thái, vănhoá lịch sử, tâm linh, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, vui chơi giải trí,…) nhằm tạo sự đadạng trong hoạt động du lịch; tập trung xây dựng một số sản phẩm du lịch độcđáo, hấp dẫn, tạo dựng thương hiệu du lịch

Nguyễn Thị Hoá, Tiềm năng và xu hướng phát triển du lịch - Thừa Thiên - Huế, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 1997.

Luận văn chỉ ra lợi thế của thành phố Huế là những di sản và lễ hội - nguồn

Trang 7

tài nguyên quý giá của du lịch, ngành kinh tế - du lịch kết hợp với những tiềmnăng khác của tỉnh đã có những bưgớc phát triển khá toàn diện và bền vững,trở thành một trong những trung tâm văn hóa, du lịch lớn của cả nước, thựchiện sự liên kết về du lịch với các tour du lịch trong tuyến Hành lang kinh tếĐông - Tây với các điểm du lịch ở Quảng Bình, Quảng Trị, Đà Nẵng, QuảngNam, hình thành nên “Con đường di sản miền Trung” Luận văn cũng chỉ ramột số giải pháp để bảo tồn các giá trị truyền thống của Tỉnh, trong đó vai tròkhông nhỏ từ trách nhiệm của nhân dân địa phương và các cấp chính quyền.

Trần Quốc Luật, Phát triển kinh tế du lịch ở Bà Rịa, Vũng Tàu, Luận

văn Thạc sỹ Kinh tế, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 1996 Tác giả nghiêncứu tiềm năng phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu Di tích lịch sử, văn hóa

là một trong những lợi thế của Bà Rịa-Vũng Tàu chịu ảnh hưởng những mức

độ khác nhau của các nền văn hóa lâu đời gắn với biển: Đông Sơn, Sa Huỳnh,Đồng Nai Một phần trong số các di tích lịch sử, văn hóa đều có khả năngkhai thác phục vụ du lịch Nhóm di tích lịch sử, kiến trúc tôn giáo bao gồmcác kiến trúc đình, miếu, chùa chiền, nhà thờ là các địa điểm tốt để có thể pháttriển thành các điểm du lịch lễ hội, tâm linh, nhóm di tích lịch sử, cách mạng

và kháng chiến phản ánh quá trình đấu tranh bảo vệ tổ quốc của nhân dânvùng biển Tác giả đề xuất các giải pháp xuất phát từ thực trạng phát triển dulịch ở Bà Rịa – Vũng tàu

Tiến sỹ Đinh Trung Kiên, “Hà Tây - Điểm du lịch cuối tuần của người

Hà Nội”, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 6, 2003 Tác giả nhắc đến du lịch Hà

Tây như một điểm đến lý tưởng cho du khách Hà Nội vào dịp nghỉ cuối tuần

Ở Hà Tây có nhiều điểm tham quan du lịch khá lý tưởng như khu du lịch tựnhiên Bằng Tạ, khu du lịch sinh thái Quan Sơn, sân golf Đồng Mô, núi TửTrầm, núi Ba Vì, thắng cảnh Hương Sơn… đó là những nơi có điều kiện tựnhiên và hệ sinh thái khá phong phú Tác giả nhấn mạnh xây dựng thành cônghình ảnh du lịch Hà Tây không thể tách rời các biện pháp bảo vệ và tôn tạocác giá trị nhân văn và tài nguyên thiên nhiên ở nơi đây

Trang 8

Lê Thành Công “Hoạt động xúc tiến của du lịch Hải Phòng nhằm thu hút khách du lịch Trung Quốc - Thực trạng và giải pháp”, Luận văn thạc sỹ,

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, 2011 Đây là đề tài có ý nghĩa thựctiễn, khi mà hoạt động xúc tiến của du lịch Hải Phòng những năm gần đâycòn một số hạn chế, đặc biệt là với thị trường khách du lịch Trung Quốc - thịtrường du lịch quốc tế trọng điểm của Hải Phòng cũng như Việt Nam đang có

xu hướng suy giảm Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về xúc tiến du lịch

và xúc tiến điểm đến, trên cơ sở đó tìm hiểu thực trạng, phân tích để đánh giánhững điểm mạnh, điểm yếu của hoạt động xúc tiến nhằm thu hút khách dulịch Trung Quốc tại Hải Phòng và đưa ra những gải pháp nhằm thúc đẩy hoạtđộng xúc tiến đối với thị trường khách này

Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luậnvăn, song cho đến nay vấn đề phát triển kinh tế du lịch biển ở quận Đồ Sơn,thành phố Hải Phòng chưa có công trình nào được công bố Do vậy, đề tài tácgiả lựa chọn không trùng lặp với các công trình đã công bố khác

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế du lịch biển và thực trạng tácđộng của kinh tế du lịch biển Đồ Sơn tới phát triển kinh tế Quận Đồ Sơn

- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế dulịch biển Đồ Sơn – thành phố Hải Phòng

Trang 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu

Phát triển kinh tế du lịch biển tại Quận Đồ Sơn thành phố Hải Phòng

- Về thời gian: Các số liệu từ năm 2006 đến nay

5 Phương pháp luận nghiên cứu

Để thực hiện luận văn tác giả sử dụng kết hợp nhiều phương phápnghiên cứu, trong đó phương pháp chủ đạo là phương pháp duy vật biệnchứng, trừu tượng hóa khoa học, logic – lịch sử

Ngoài ra đề tài sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích vàđối chiếu, so sánh, khảo sát kinh nghiệm thực tế… để phân tích thực trạng vàqua đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện phù hợp

6 Ý nghĩa của đề tài

Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận và thực tiễnphát triển kinh tế du lịch biển ở quận Đồ Sơn, TP Hải Phòng, cho thấy vai trò

và tầm quan trọng của kinh tế biển trong thời đại ngày nay Kết quả nghiêncứu luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạyKinh tế Chính trị Mác – Lê nin, Địa lý kinh tế … ở các học viên, trường đạihọc trong và ngoài quân đội

7 Kết cấu của luận văn

Đề tài gồm phần mở đầu, 3 chương, 7 tiết, kết luận, danh mục tài liệutham khảo, bảng viết tắt và phụ lục

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH BIỂN

Ở QUẬN ĐỒ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 1.1 Quan niệm về phát triển kinh tế du lịch biển và nội dung phát triển kinh tế du lịch biển ở quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng

triển kinh tế du lịch biển

Thuật ngữ "Du lịch" bắt nguồn từ gốc tiếng Latinh "Turnus" có nghĩa là

đi chơi, đi dã ngoại Theo tiếng Pháp "tour" có nghĩa là vận động ngoài trời,dạo chơi, leo núi Theo tiếng Anh "To tour" có nghĩa là đi dã ngoại (ở một nơinào đó) Theo nghĩa Hán - Việt du lịch có thể coi là từ ghép của "Du" là đichơi với "Lịch" là sự lịch lãm, hiểu biết

Khi du lịch phát triển mạnh mẽ và trở thành một lĩnh vực không thểthiếu trong đời sống con người nói chung và trong hoạt động kinh doanh nóiriêng (từ những năm đầu của thế kỷ XX) người ta đưa ra được những kháiniệm cụ thể hơn về du lịch Có người cho rằng: "Du lịch là tổng hợp các tổ

Trang 11

chức và chức năng của nó không chỉ về phương diện khách vãng lai mà chính

là về phương diện giá trị mà khách du lịch chỉ ra (Giáo sư Bỉ - Edmod đưa ra 1910) [12- 8]

Piraca-Có quan điểm lại cho rằng: "Du lịch là tổng hợp những quan hệ và cáchiện tượng nảy sinh từ việc di chuyển và dừng lại của con người ra khỏi chỗ ởcủa chính mình Thời gian dừng lại cũng như di chuyển không phải là lý dophục vụ cho việc sinh sống hay tìm hiểu việc làm lâu dài của họ" (Giáo sưThuỵ Sỹ - W.Hun Ziker đưa ra năm 1942) [12–8] Hoặc "Du lịch là tổng hợpnhững mối quan hệ và hoạt động tạo ra do sự di chuyển và dừng lại củanhững người mà vị trí của những nơi dừng lại không phải là nơi cư trú vàcũng không phải là nơi hành nghề của chính họ Claude kaspas và St gallen -Các nhà kinh tế Thuỵ Sĩ đưa ra 1992 [23- 12] Sau khi hội nghị Manila năm

1980 của tổ chức du lịch quốc tế, du lịch được hiểu là: "Việc lữ hành của mọingười bắt đầu từ mục đích không phải di cư một cách hoà bình, hoặc xuấtphát từ mục đích phát triển cá nhân về các phương diện kinh tế, xã hội, vănhoá và tinh thần cùng với việc đẩy mạnh sự hiểu biết và hợp tác với mọingười" [23-12] Ưu điểm chủ yếu của định nghĩa trên là nhấn mạnh mục đíchhoà bình của việc du lịch, đồng thời nó cũng bao quát cả việc du lịch để vuichơi tiêu khiển, cũng như du lịch về công việc Nhưng khiếm khuyết của nó làchưa nhấn mạnh tới tính chất đất lạ của việc du lịch, cũng chưa thể phản ánhđặc đặc điểm tổng hợp khách quan của hoạt động du lịch, của người du lịch

Giới du lịch phương Tây thường công nhận định nghĩa của AIEST (HộiLiên hợp các chuyên gia quốc tế về du lịch học): “Du lịch là sự tổng hoà cáchiện tượng và quan hệ do việc lữ hành và tạm thời cư trú của những ngườikhông định cư dẫn đến Số người này không định cư lâu dài, vả lại cũng khônglàm bất kỳ hoạt động nào để kiếm tiền” [23-12]

Quan niệm về du lịch ngắn gọn nhất phải kể đến Ausher và NguyễnKhắc Viện Theo Ausher thì “Du lịch là nghệ thuật đi chơi của cá nhân” Viện

Trang 12

sỹ Nguyễn Khắc Viện lại quan niệm rằng: “Du lịch là sự mở rộng không gianvăn hoá của con người” Trong từ điển tiếng Việt du lịch được giải thích là:

“Đi chơi cho biết xứ người” [8-8]

Từ những quan niệm nêu trên, có thể thấy rằng du lịch là một khái niệmbao hàm nội dung kép Một mặt nó mang ý nghĩa thông thường là việc đi lạicủa con người với mục đích thăm quan, nghỉ ngơi, giải trí Mặt khác, du lịchcòn được nhìn nhận dưới một góc độ khác như là hoạt động gắn chặt vớinhững kết quả kinh tế (sản xuất, tiêu dùng) do chính nó tạo ra Du lịch mangbản chất kinh tế riêng biệt, thể hiện ở chỗ nó sản xuất và cung cấp hàng hoáphục vụ việc thoả mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của khách du lịch

Và để đáp ứng nhu cầu đó đã từng bước hình thành một ngành nghề mới làngành du lịch, với một thị trường mới là thị trường du lịch Cùng với sự pháttriển của các ngành kinh tế khác du lịch dần dần trở thành một ngành kinh tếđộc lập, chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của nhiều nước

Với cách tiếp cận đó có thể rút ra đặc trưng của du lịch là:

- Dưới góc độ khách du lịch: Là sự di chuyển và lưu trú tạm thời trongthời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú thường xuyên đểthoả mãn nghỉ ngơi, giải trí nhằm tái tạo sức lao động

- Dưới góc độ người kinh doanh du lịch: Du lịch được hiểu là việc sảnxuất, bán và trao đổi cho khách các dịch vụ và hàng hoá nhằm đảm bảo việc

đi lại, lưu trú, ăn uống, giải trí, thông tin đem lại lợi ích kinh tế cho quốc gia

và các tổ chức kinh doanh đó

Dưới góc độ lý luận của khoa học kinh tế chính trị có thể hiểu: Du lịch

là một phạm trù kinh tế, phản ánh mối quan hệ qua lại giữa người với ngườitrong việc sản xuất, cải tạo, phát triển việc cung ứng các sản phẩm tự nhiên và

xã hội nhằm thoả mãn những nhu cầu hưởng thụ về vật chất và tinh thần của

du khách trong lĩnh vực du lịch và hoạt động kinh doanh du lịch

- Quan niệm về kinh tế du lịch biển

Trang 13

Khi đề cập đến hoạt động du lịch biển, một số tác giả Trung Quốc đưa

ra quan niệm: “Gọi du lịch biển là chỉ tổng hòa hiện tượng và quan hệ của cáchoạt động du ngoạn, vui chơi, nghỉ ngơi tiến hành ở biển, sinh ra lấy biển làmchỗ dựa nhằm mục đích thỏa mãn yêu cầu về vật chất và tinh thần của mọingười dưới điều kiện kinh tế - xã hội nhất định” [31, tr.173]

Đây là khái niệm kinh tế biển dưới góc độ kinh tế ngành Một số nhànghiên cứu lại gộp du lịch biển vào lĩnh vực kinh tế biển Họ quan niệm thủysản, dầu khí, vận tải biển và du lịch biển hợp thành kinh tế biển Quan niệmnày thường thấy ở các quốc gia có thế mạnh về biển Theo đó, có thể thấygiữa kinh tế du lịch và kinh tế biển có sự giao thao với nhau, khoảng giaothoa ấy chính là là kinh tế du lịch biển Tuy nhiên, quan niệm này mới chỉphần nào phản ánh nội hàm của khái niệm kinh tế biển

Đề có quan niệm đầy đủ về kinh tế du lịch biển, yêu cầu đặt ra là phảiphản ánh được cơ sở tồn tại và phát triển của ngành kinh tế này Đối vớingành kinh tế du lịch nói chung, kinh tế du lịch biển nói riêng, nhu cầu chỉ trởthành cầu trong những điều kiện nhất định Điều kiện đó là thu nhập củangười có nhu cầu phải đủ lớn, đáp ứng đươc những yêu cầu tối thiểu của mộtcuộc viễn du xa nơi cư trú thường xuyên của họ, khi thu nhập càng cao thìnhu cầu về du lịch càng lớn Ngoài ra, để nhu cầu trở thành cầu còn phụ thuộcnhiều yếu tố như điều kiện chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh ởđịa điểm du lịch

Cơ sở để ngành kinh tế du lịch biển phát triển còn dựa vào việc khaithác tài nguyên du lịch biển và khả năng cung cấp các sản phẩm du lịch biển.Cung về du lịch biển phụ thuộc vào cầu và ý muốn chủ quan của người kinhdoanh Cũng như cầu, cung về du lịch biển cũng phụ thuộc vào hàng loạt cácyêu tố khác như điều kiện kinh tế, chính trị khi những điều kiện này thuậnlợi sẽ tạo điều kiện cho cung về du lịch biển được mở rộng Ngược lại sẽ làcho nó có xu hướng bị thu hẹp

Trang 14

Mặt khác, khi đề cập đến khái niệm du lịch biển cần chỉ ra được nhữngmối liên hệ kinh tế nảy sinh và vận hành trong lĩnh vực du lịch biển ở nội hàmcủa khái niệm, bao gồm cả mối quan hệ giữa con người với tự nhiên (Lựclượng sản xuất) và mối quan hệ giữa con người với con người (Quan hệ sảnxuất) Lực lượng sản xuất trong ngành kinh tế du lich biển biểu hiện ở khảnăng nhận thúc, đánh giá về tài nguyên du lịch biển cùng khả năng cải tạo,khai thác những tài nguyên ấy phục vụ cho mục đích kinh tế Kinh tế du lịchbiển là ngành kinh tế mang định hướng tài nguyên khá rõ rệt, không có tàinguyên biển thì không thể có cơ sở để ngành kinh tế này tồn tại và phát triển.Trong lưc lượng sản xuất, con người chính là lực lượng sản xuất hàng đầu, làyếu tố cơ bản quan trọng nhất, còn tài nguyên du lịch biển là cơ sở sự tồn tại

và phát triển của nó Con người với khả năng và trình độ của mình có thể cảitạo tự nhiên, biến tiềm năng du lịch biển thành những sản phẩm du lịch đểthỏa mãn nhu cầu của mình

Bên cạnh đó khi đề cập đến khái niệm kinh tế du lịch biển phải chỉ rađược vị trí, vai trò, xu hướng vận động cùng những mối liên hệ của nó đối vớingành kinh tế khác trong cơ cấu của một nền kinh tế Đồng thời, trong điềukiện kinh tế thị trường phải xác định được định hướng phát triển của nó mộtcách cụ thể

Từ cách tiếp cận trên, ta có thể hiểu khái niệm kinh tế du lịch biển mộtcách khái quát như sau: Kinh tế du lịch biển là một phạm trù kinh tế chỉ mốiquan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi vàtiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ du lịch biển, nhằm thỏa mãn nhu cầu của dukhách và người kinh doanh du lịch trên cơ sở khai thác tài nguyên thiên nhiên

và tài nguyên nhân văn gắn liền với biển, trong những điều kiện kinh tế - xãhội nhất định

Trang 15

Cũng như kinh tế du lịch nói chung, kinh tế du lịch biển là ngành mangtính dịch vụ, về cơ bản đây là ngành phi sản xuất vật chất, là một bộ phận cấuthành của nền kinh tế ở những vùng có tài nguyên du lịch biển Quá trình vậnhành của kinh tế du lịch biển phản ánh mối quan hệ giữa người với ngườitrong sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng các sản phẩm du lịch biển.

Trong kinh tế du lịch biển cũng tồn tại thị trường du lịch biển chịu sựtác động của các quy luật kinh tế khách quan như: quy luật giá trị, quy luậtcung cầu, quy luật cạnh tranh

Thị trường du lịch biển là nơi gặp gỡ giữa cung (người bán) và cầu(người tiêu dùng) các sản phẩm du lịch biển Đây là loại thị trường mang tínhthời vụ khá rõ rệt, thị trường này thường sôi động vào kỳ nghỉ hè, khi dukhách có thời gian và nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí Tuy nhiên, ở một số trườnghợp đặc thù, du khách cũng có thể tìm đến những vùng biển lạnh lẽo hoặc vàonhững thời điểm bất kỳ để du lịch theo mục đích cụ thể

Thị trường du lịch biển chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố như: thunhập của du khách, môi trường kinh tế, chính trị, quốc phòng – an ninh Sựthay đổi của các yếu tố nói trên đều trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến sựvận hành của nó theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực Nếu các yếu tốthuận lợi sẽ góp phần làm cho thị trường du lịch biển được mở rộng, ngượclại sẽ làm cho nó bị thu hẹp

Sự khác biệt của thị trường du lịch biển so với thị trường hàng hóa nóichung thể hiện ở chỗ: nếu như ở thị trường hàng hóa thông thường, bao giờngười bán cũng tìm đến chỗ người mua để bán hàng Ở thị trường du lịch biểnthì ngược lại, người mua tìm đến nới có các sản phẩm du lịch để mua và tiêuthụ Người tiêu dùng biết đến các sản phẩm du lịch biển qua các thông tin màcác nhà cung cấp đưa đến Vì vậy, việc quảng bá, xúc tiến du lịch nhằm cung

Trang 16

cấp thông tin về sản phẩm cho khách hàng rất quan trọng Đôi khi nó làmđịnh hướng nhu cầu nảy sinh của du khách.

Sản phẩm du lịch biển cũng giống như các sản phẩm dịch vụ nói chung,

đa số là sản phẩm phi vật thể Người ta tiêu dùng và đánh giá mức độ tốt, xấucủa nó thông qua chất lượng phục vụ của người bán, qua mức độ thỏa mãncác nhu cầu vui chơi, giải trí, tìm hiểu, bổ sung kiến thức của người mua

- Quan niệm về phát triển kinh tế du lịch biển

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, phát triển là một quá trìnhvận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đếnhoàn thiện hơn Vì vậy, có thể tiếp cận khái niệm phát triển kinh tế du lịchbiển trên cơ sở sự hoàn thiện không ngừng cả về lực lượng sản xuất và quan

hệ sản xuất Các mối liên hệ kinh tế nảy sinh và vận hanh trong kinh tế du lịchbiển thể hiện trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất, bao gồm: quan hệ giữangười với người trong sở hữu về tư liệu sản xuất để sản xuất và cung ứng cácdịch vụ du lịch biển; quan hệ giữa người với người trong quá trình tổ chứcđiều hành, quản lý việc sản xuất, cung ứng các dịch vụ du lịch biển và quan

hệ trong tổ chức phân phối các sản phẩm, dịch vụ du lịch biển Các quan hệtrên diễn ra ở cả bốn khâu của quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêudùng các sản phẩm, dịch vụ du lịch biển

Như vậy, hiểu một cách khái quát, phát triển kinh tế du lịch biển là quátrình vận động, hoàn thiện không ngừng cả về lực lượng sản xuất và quan hệsản xuất, thông qua việc khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch biển gắn vớibảo vệ môi trường, nâng cao số lượng và chất lượng các sản phẩm, dịch vụ;không ngừng mở rộng thị trường, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của dukhách, trên cơ sở đó đạt được hiệu quả kinh tế xã hội cao và bền vững

1.1.2 Nội dung và tiêu chí phát triển kinh tế du lịch biển ở quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng

Trang 17

Phát triển kinh tế du lịch biển ở quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng làquá trình khai thác du lịch có chiến lược và kế hoạch cụ thể đòi hỏi phải đượctiến hành một cách toàn diện, bền vững cả về lực lượng sản xuất và quan hệsản xuất ; sự chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành cùng mối liên hệ củakinh tế du lịch biển với các ngành kinh tế khác ; khai thác có hiệu quả nguồntài nguyên du lịch Từ đó, xây dựng du lịch thực sự trở thành ngành côngnghiệp không khói mang lại lợi ích to lớn cho quá trình phát triển kinh tế, gópphần cải thiện đời sống và tạo công ăn việc làm cho nhân dân Nội dung củaquá trình này bao gồm:

Một là, phát triển kinh tế du lịch biển ở Đồ Sơn bao gồm quá trình khai

thác tiềm năng, lợi thế về tài nguyên du lịch, thị trường du lịch, các nguồn lựcphát triển du lịch của địa phương Tiềm năng du lịch là những thế mạnh chưađược khai thác hoặc chưa được biết đến trong lĩnh vực du lịch Lợi thế (baogồm lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh) của kinh tế du lịch biển Đồ Sơn cóthể hiểu là những giá trị du lịch mà quận Đồ Sơn sở hữu mang tính đặc thù,

có thể sử dụng được để “nắm bắt cơ hội” kinh doanh và cạnh tranh có lãi Cụthể, kinh tế Đồ Sơn mang đậm chất biển do đó có nhiều lợi thế phát triển nghềcá, nghề muối và dịch vụ du lịch Hiện nay, Đồ Sơn xác định kinh doanh dịch

vụ du lịch cùng với ngành ngư nghiệp là một trong những mũi nhọn thực sựtạo đà cho Đồ Sơn phát triển và làm thay đổi bộ mặt của địa phương này

Hai là, phát triển kinh tế du lịch thể hiện ở quá trình tổ chức không

gian du lịch; kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch để hỗ trợ pháttriển kinh tế du lịch biển Đồ Sơn Nói cách khác đây là quá trình thúc đẩy sựphát triển của lực lượng sản xuất thể hiện tăng cường cả về số lượng và chấtlượng các cơ sở kinh doanh và cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đáp ứng cho nhucầu phát triển kinh tế du lịch biển

Phát triển cơ sở hạ tầng du lịch biển là một trong những nhân tố quantrọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh Nó là yếu tố đảm bảo về điều

Trang 18

kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh được thực hiện Phát triển cơ sở hạtầng du lịch biển bao gồm: phát triển hệ thống cơ sở lưu trú gần khu du lịch;phát triển hệ thống nhà hàng; phát triển các trung tâm mua sắm, các khu bánhàng lưu niệm, các khu vui chơi, giải trí gắn với biển, phát triển các công tykinh doanh du lịch.

Tiêu chí phản ánh phát triển về cơ sở hạ tầng du lịch biển: số lượng cơ

sở lưu trú, số cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn xếp hạng cao; số nhà hàng, số nhàhàng đạt tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế; số trung tâm mua sắm, các khu vui chơigiải trí; số các cơ sở, doanh nghiệp tham gia kinh doanh du lịch; vốn đầu tưphát triển du lịch biển

Phát triển số lượng sản phẩm du lịch biển: Gia tăng số lượng các sản

phẩm riêng rẽ bằng cách tạo ra sản phẩm mới hoặc bổ sung hoàn thiện sảnphẩm hiện có; Liên kết nhiều dịch vụ thành sản phẩm trọn gói mới như: nghỉ

dưỡng – tắm biển – thể thao – mua sắm; nghỉ dưỡng – thể thao – hội thảo …;

Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, bao gồm phát triển cả du lịch biển, du lịchsinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch văn hóa và du lịch công vụ tạo nên sự hấp dẫnvới du khách

Nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch biển: Chất lượng sản phẩm dulịch được thể hiện qua những thuộc tính độc đáo, đặc thù, sự thân thiện, bầukhông khí trong lành, sự hoang sơ của thiên nhiên … mang lại sự hài lòng,thích thú cho khách hàng khi hưởng thụ Việc nâng cao chất lượng sản phẩm

du lịch biển được thể hiện thông qua: nâng cao mức độ hài lòng, thỏa mãn của

du khách, gia tăng khả năng thu hút khách hàng Nhóm chỉ tiêu phản ánh pháttriển sản phẩm du lịch biển thể hiện ở sự gia tăng số lượng các dịch vụ du lịchbiển và gia tăng mức độ hài lòng của khách du lịch biển

Ba là, phát triển kinh tế du lịch biển bao gồm quá trình thu hút và triển

khai các dự án ưu tiên đầu tư; phân bổ sử dụng đất cho du lịch, vốn đầu tư, vàphát triển nguồn nhân lực cho du lịch Đây là một nội dung quan trọng trong

Trang 19

quá trình phát triển kinh tế du lịch biển ở Đồ Sơn Bởi hiện nay, số dự án vàvốn đầu tư tại khu du lịch Đồ Sơn còn hạn chế, một số dự án khác đã hoạchđịnh và đi vào triển khai song khá dàn trải, hiệu quả đầu tư thấp Phát triểnnguồn nhân lực du lịch biển bao gồm cả phát triển về số lượng và nâng caochất lượng nguồn nhân lực du lịch biển Nhóm chỉ tiêu đánh giá phát triểnnguồn nhân lực du lịch biển: gia tăng số lao động ngành du lịch biển; trình độnguồn nhân lực du lịch biển và chất lượng phục vụ ngày càng nâng cao.

Bốn là, phát triển kinh tế du lịch biển bao gồm cả nội dung về phát triển

bền vững tài nguyên du lịch và môi trường Phát triển kinh tế du lịch biểntrước hết phải là sự phát triển bền vững Phát triển kinh tế du lịch biển bềnvững ở quận Đồ Sơn, TP Hải Phòng được hiểu là hoạt động kinh tế nhằm đápứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứngcác nhu cầu của thế hệ mai sau Kinh tế du lịch biển là ngành kinh tế đặc thù,sự phát triển của nó gắn liền với môi trường, có nghĩa là nó dựa vào nguồn tàinguyên đặc biệt, đó là tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn gắn liềnvới biển Phát triển kinh tế du lịch biển nếu không tính đến việc khai thác hợp

lý, bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn thì bản thân kinh

tế du lịch biển không thể phát triển bền vững, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến sựphát triển bền vững nói chung của xã hội

Năm là, trong chiến lược phát triển kinh tế du lịch biển có quá trình đẩy

mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao tỷ trọng của các ngànhcông nghiệp – xây dựng và dịch vụ, xác định du lịch là ngành kinh tế mũinhọn, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo quốcphòng, an ninh của quận và thành phố Quá trình phát triển kinh tế du lịchbiển cần hướng đến tăng dần tỷ trọng của khu vực kinh tế ngoài Nhà nước,kinh tế Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo Sự phát triển của kinh tế du lịchbiển còn biểu hiện ra ở sự phân công lao động diễn ra ngày càng sâu sắc, cảtheo chiều rộng và chiều sâu Cơ sở vật chất kỹ thuật sử dụng vào việc khai

Trang 20

thác các tài nguyên du lịch biển ngày càng hiện đại, cơ cấu hợp lý, cho ra đờinhững sản phẩm du lịch đa dạng với chất lượng, hiệu quả ngày càng cao.

Sáu là, sự phát triển của kinh tế du lịch biển ở quận Đồ Sơn còn được

xem xét ở khía cạnh về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất Biểu hiện của sự phù hợp ở hiệu quảkinh tế - xã hội thu được từ quá trình kinh doanh du lịch biển ngày càng cao,môi trường được bảo vệ, người lao động tích cực trong quá trình lao động.Ngoài ra, trong quá trình phát triển của kinh tế du lịch biển, mối liên hệ củangành này với các ngành kinh tế khác như giao thông vận tải, xây dựng cơ sở

hạ tầng, bưu chính viễn thông, thông tin liên lạc, ngân hàng… diễn ra ngàycàng sâu sắc Tác động ảnh hưởng và vị trí vai trò của nó đối với đời sốngkinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh ngày càng lớn, kinh tế du lịchbiển trở thành một trong những yếu tố thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng và sự cần thiết phát triển kinh tế du lịch biển ở quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng

biển ở Quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng

1.2.1.1 Nhóm nhân tố tác động đến cầu du lịch

- Yếu tố tự nhiên

Yếu tố tự nhiên như đất, nước, khí hậu, địa hình, địa mạo, động thựcvật, tài nguyên biển, … tác động chủ yếu đến việc hình thành cầu du lịch vàlượng cầu du lịch Các yếu tố tự nhiên ở cả 2 địa điểm, một là nơi thường trúcủa khách và hai là tại điểm tham quan du lịch, đều tác động đến cầu du lịch,nhưng cơ chế tác động khác nhau, thường là trái ngược nhau Điều kiện tựnhiên tại địa điểm du lịch càng thuận lợi càng khơi dậy và hình thành nhanhcầu du lịch và quyết định đến lượng cầu Những yếu tố tự nhiên thường đượccoi là những hấp dẫn ban đầu của các điểm tham quan du lịch

Trang 21

Xét về yếu tố tự nhiên, du lịch biển Đồ Sơn là thế mạnh của phát triểnkinh tế nơi đây Là một bán đảo với ba mặt giáp biển Đông, thiên nhiên đã ưuđãi cho Đồ Sơn những bãi biển đẹp, rộng và dài, phong cảnh sơn thủy hữutình có đầy đủ biển, đảo, núi rừng, tài nguyên sinh vật phong phú ….Khí hậu

Đồ Sơn khá ôn hòa, mang đặc điểm chung của miền biển vịnh Bắc Bộ nhưngvới vị trí là một bán đảo nên mùa đông thường ấm, mùa hè thường mát hơn.Ngay từ thế kỷ XX,người Pháp đã phát hiện ra tiềm năng du lịch Đồ Sơn vàxây dựng nơi đây thành thị trấn, biến các bãi biển thành bãi tắm để Đồ Sơnthành một trong những trung tâm du lịch tầm cỡ quốc tế, thu hút ngày càngđông đảo du khách

- Các yếu tố kinh tế

Đây là nhóm quyết định, tác động trực tiếp và nhiều chiều lên cầu dulịch, cả về sự hình thành cầu du lịch đến khối lượng và cơ cấu của nó trên thịtrường du lịch Trong nhóm yếu tố kinh tế thì thu nhập, giá cả và tỷ giá hốiđoái đóng vai trò đặc biệt quan trọng

Thu nhập của dân cư: Để có cầu trong du lịch thì thu nhập của dân cưphải đạt đến mức độ nhất định vượt mức cân đối đáp ứng các nhu cầu thiếtyếu, hoặc phải có nguồn thu nhập bổ sung đủ để bù đắp cho những chi phí củachuyến đi du lịch

Giá cả hàng hóa: Trên thị trường chung, giá cả hàng hóa biến động sẽgây nên sự biến động của cầu du lịch Giá cả hàng hóa giảm xuống, sức mua

sẽ tăng lên, việc lưu thông hàng hóa thuận lợi sẽ tác động trực tiếp đến ngườitiêu dùng Thu nhập của họ ngoài việc được sử dụng đáp ứng các nhu cầuthiết yếu sẽ còn một khoản dôi ra có thể dành để tích lũy hoặc đi du lịch Theo

đó nhu cầu du lịch sẽ hình thành nhanh chóng và lượng cầu du lịch tăng lên

Tỷ giá trao đổi ngoại tệ: Yếu tố này tác động chủ yếu đến sự hình thànhcầu, đến khối lượng và cơ cấu của cầu du lịch quốc tế Trong điều kiện giữnguyên giá cả của hàng hóa du lịch, tỷ giá hối đoái tác độn trực tiếp đến cầu

Trang 22

trong du lịch quốc tế Khách du lich sẽ quyết định đến những nơi mà tỷ giáhối đoái cao nhất giữa đồng tiên của nơi mà ho mang quốc tịch, làm việc vànhận thu thập với nước nhận khách.

Yếu tố chính trị mang tính quyết định đến việc hình thành cầu trong dulịch Điều kiện ổn định chính trị, hòa bình sẽ làm tăng khối lượng khách dulịch giữa các nước Đường lối đối ngoại, chính sách phát triển kinh tế - xã hộicủa một Đảng cầm quyển, của nhà nước, trong đó có chính sách phát triển dulịch tác động trực tiếp đến sự hình thành cầu, cơ cấu, số lượng cầu du lịch

Yếu tố cách mạng khoa học công nghệ và quá trình đô thị hóa: Cuộccách mạng khoa học kỹ thuật, công nghệ và quá trình đô thị hóa tác động sâusắc đến toàn bộ các hoạt động kinh tế và xã hội trong đó có du lịch Một mặt

nó tạo điều kiện cần thiết để hình thành các nhu cầu du lịch và chuyển hóanhu cầu du lịch thành cầu du lịch

- Yếu tố văn hóa

Yếu tố văn hóa – xã hội tác động đến việc hình thành cầu du lịch lẫnkhối lượng và cơ cấu của nó Nhóm yếu tố này bao gồm những thành tố cơbản như: tâm trạng, sinh lý con người, độ tuổi và giới tính của khách, thờigian nhàn rỗi, trình độ văn hóa, thị hiếu và các kỳ vọng của mỗi cá nhân vàtừng nhóm người trong xã hội

Tâm trạng, sinh lý con người: Đây là yếu tố đặc thù tác động lên cầu dulịch Tâm lý thư giãn, sảng khoái, sức khỏe tốt thường nảy sinh nhu cầu dulịch và tạo điều kiện để thúc đẩy cầu du lịch thành thực hiện cầu du lịch

Độ tuổi và giới tính của khách: Yếu tố này tác động đến cầu du lịch rấtnhiều Tuổi trẻ thường hay đi du lịch và ưu mạo hiểm nhưng giới hạn bởi tàichính, tuổi già có tài chính song sức khỏe nhiều khi không cho phép, nam giớithường đi du lịch nhiều hơn nữ …

Thời gian rỗi: là phần thời gian ngoài giờ làm việc, học tập, con ngườithường sử dụng để phục hồi và phát triển sức lực, trí tuệ và tinh thần

Trang 23

Dân cư: Dân cư là lực lượng tham gia vào các hoạt động kinh tế - xãhội Sự tập trung dân cư vào các đô thị, sự gia tăng dân số, tăng mật độ dân

số, tuổi thọ, nghề nghiệp … liên quan trực tiếp đến nhu cầu du lịch và cầu dulịch Các yếu tố khác như số dân, thành phần dân tộc, mật độ … tác động trựctiếp đến việc hình thành cầu du lịch, tần suất hình thành cầu và khối lượngcầu du lịch

Bản sắc văn hóa và tài nguyên nhân văn khác: Trong xu thế toàn cầuhóa, khu vực hóa như hiện nay, quốc gia nào giữ được bản sắc văn hóa dântộc sẽ có sức hấp dẫn du lịch lâu dài Bản sắc văn hóa và tài nguyên nhân vănđóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bổ sung cầu lịch ở ngoài mùa

du lịch bởi hầu hết các bộ phận của yếu tố này không mang tính thời vụ

Trình độ văn hóa: Khi trình độ văn hóa được nâng cao thì động cơ dulịch tăng lên, những người có trình độ văn hóa thấp thường ít có nhu cầu dulịch Yếu tố này tác động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm du lịch và thôngqua nó tác động đến việc hình thành cầu, khối lượng và cơ cấu du lịch

Nghề nghiệp: Là những hoạt động phục vụ cho mục đích kiếm sống,dưới nhiều hình thức, được lặp đi lặp lại trong một khoảng thời gian dài hoặc

cả cuộc đời con người Tùy theo đặc thù của mỗi nghề, con người sẽ phảidịch chuyển, phải đi du lịch nhiều hay ít

Thị hiếu và các kỳ vọng: Các thị hiếu và kỳ vọng tác động trực tiếp đếnviệc hình thành cầu du lịch, đến cơ cấu và lượng cầu du lịch

- Yếu tố giao thông vận tải:

Yếu tố giao thông vận tải là tiền đề cho sự phát triển du lịch, không cógiao thông, con người sẽ không đến được nơi du lịch Nhóm yếu tố tác độnggồm: mạng lưới giao thông, phương tiện giao thông vận tải, việc điều hànhgiao thông

Mạng lưới giao thông: Cả đường bộ, đường thuỷ và đường không dẫnkhách du lịch từ nơi cư trú thường xuyên của họ đến được nơi du lịch Mạng

Trang 24

lưới giao thông hoàn thiện chất lượng cao, an toàn về kỹ thuật thúc đẩy việchình thành và phát triển cầu du lịch làm cho quy mô cầu về du lịch tăng lên.

Phương tiện giao thông vận tải: Thúc đẩy việc hình thành các chủngloại cầu du lịch, tần suất hình thành cầu du lịch và số lượng, cơ cấu của nó

Việc điều hành giao thông: Đảm bảo an toàn và sự thông thoáng trongvận chuyển khách du lịch và hành lý của họ góp phần đáp ứng việc vậnchuyển khách tốt hơn và tạo cơ sở đáp ứng cầu du lịch khác

- Mạng lưới thông tin liên lạc và internet

Giúp trao đổi thông tin, tìm kiếm dễ dàng các điểm du lịch mà mìnhthích từ đó lên kế hoạch cho chuyến đi giúp chuyến đi được thuận lợi Mặtkhác nhờ có mạng lưới thông tin và internet sẽ giúp liên kết trong các doanhnghiệp du lịch với nhau, trao đổi kinh nghiệm và cùng nhau phát triển

- Các yếu tố khác:

Những hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch: thường là những tác nhânhình thành cầu du lịch, hiệu ứng xúc tiến quảng bá, quảng cáo giúp thôi thúccon người đi du lịch lần đầu và tái hình thành nhu cầu du lịch với sản phẩm

du lịch cụ thể

Mức độ ô nhiễm môi trường: là nhân tố ảnh hưởng đến hình thành cầutrong du lịch Sự ồn ào, ô nhiễm môi trường, nguồn nước nhiễm bẩn… làmcho nhiều người từ bỏ các nhu cầu cần thiết khác để đi du lịch đến những nơiyên tĩnh, có môi trường trong sạch hơn

Các yếu tố bất thường : như thiên tai, xung đột chính trị, chiến tranh,dịch bệnh … làm giảm hoặc triệt tiêu nhu cầu du lịch Vấn đề mấu chốt là làmthế nào biết được tác động của các yếu tố bất thường và ngăn chặn được tácđộng của nó trong khi rủi ro, khủng hoảng xảy ra

1.2.1.2 Nhóm nhân tố tác động đến cung du lịch

Cung du lịch được hình thành bởi cung của các doanh nghiệp và bộ tưnhân tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm và hàng hóa đem bán trên thị

Trang 25

trường du lịch, là tổng mức cung của toàn bộ người bán trên thị trường Cácnhóm yếu tố tác động gồm: sự phát triển của LLSX, QHSX và các thành tựukhoa học kỹ thuật và công nghệ, cầu du lịch, các yếu tố đầu vào, số lượngngười sản xuất, các kỳ vọng, mức độ tập trung hóa của cung, chính sách thuế,chính sách du lịch của từng quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa phương và các sựkiện bất thường.

- Sự phát triển của LLSX, QHSX và các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ

Đây là yếu tố cơ bản tác động đến việc hình thành cung du lịch biển,đến lượng cung và cơ cấu của nó Một mặt, sự phát triển của LLSX, QHSXtạo ra nhu cầu và cầu du lịch Mặt khác, do LLSX và QHSX phát triển sẽ tạo

ra các điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng, sự phát triển giao thông, thông tinliên lạc, ngoại giao và thương mại, phát triển khả năng giao lưu kinh tế, vănhóa xã hội sẽ thúc đẩy du lịch phát triển, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch nhờthế được đầu tư ngày càng hoàn thiện, các yếu tố khác tạo cung du lịch nhưtài nguyên, dịch vụ, hàng hóa vật chất cũng được quan tâm phát triển

Các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ là yếu tố trực tiếp tácđộng đến cung du lịch Các yếu tố này góp phần tạo ra các dịch vụ du lịch vàhàng hóa vật chất phục vụ du lịch có giá trị sử dụng với chất lượng cao, ngàycàng đáp ứng tốt hơn nhu cầu du lịch

- Cầu du lịch

Khối lượng tiền để thỏa mãn cầu du lịch có tác dụng quyết định dịch

vụ, hàng hóa vật chất bán trên thị trường du lịch Tình trạng của cầu du lịchtác động đồng thời đến số lượng hàng hóa vật chất và dịch vụ du lịch bán ratrên thực tế, quá trình chuyên môn hóa của cung du lịch và đặc điểm của cáchoạt động trung gian Số lượng cầu, cơ cấu và chất lượng của cầu du lịch tácđộng trực tiếp đến cung du lịch Sự thay đổi cơ cấu, số lượng và chất lượngcầu làm cho nhiều loại hình du lịch mới hình thành và phát triển

Trang 26

- Các yếu tố đầu vào (các yếu tố sản xuất)

Các yếu tố đầu vào như: vốn, đất đai với giá của nó và lao động haynguồn nhân lực với số lượng và chất lượng của nó ảnh hưởng đến khả năngcung cấp sản phẩm du lịch trên thị trường Nếu các yếu tố này có lợi cho cácnhà sản xuất du lịch sẽ dẫn đến giá thành sản xuất, phục vụ du lịch giảmxuống, cơ hội kiếm lợi nhuận tăng lên, làm cho các nhà sản xuất du lịch tăngcung du lịch của mình

- Số lượng người sản xuất

Số lượng người sản xuất trong du lịch thường được coi là quy mô củathị trường du lịch dưới góc độ cung du lịch Số lượng người sản xuất càngnhiều thì cung du lịch càng lớn và ngược lại Tuy nhiên, khi số người sản xuấttăng đến tới hạn làm cho cung du lịch tăng lên vượt xa cầu du lịch sẽ dẫn đếnthừa cung du lịch Tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến khủng hoảng thừa hànghóa vật chất phục vụ du lịch và dịch vụ du lịch, sản xuất du lịch bị đình đốn,buộc người sản xuất phải chuyển hướng đầu tư hoặc bị phá sản, kéo theo việcgiảm cung du lịch

- Các kỳ vọng

Mọi mong đợi của người bán về sự thay đổi giá cả của hàng hóa bán ra,

cả các yếu tố đầu vào, của chính sách thuế… đều ảnh hưởng trực tiếp đếncung du lịch Những kỳ vọng của người bán thuận lợi cho sản xuất du lịch thìcung du lịch được hình thành nhanh chóng và lượng cung sẽ phát triển nhanh

và ngược lại

- Mức độ tập trung hóa của cung

Nhóm yếu tố này tác động đến lượng của cung tham gia trên thị trường

du lịch Tập trung hóa càng cao thì càng mở rộng lượng cung trên thị trường

du lịch, nâng cao khả năng cạnh tranh của người bán trên thị trường du lịch,thu được lợi nhuận cao nhờ giảm một số chi phí, bổ sung thế mạnh cho nhau

Trang 27

Sự tập trung hóa của cung du lịch có thể diễn ra theo hai hướng: tập trung hóatheo chiều ngang và tập trung hóa theo chiều dọc.

- Chính sách phát triển du lịch

Là nhân tố ảnh hưởng lớn đến việc phát triển du lịch, với một đường lốichính sách nhất định có thể kìm hãm hay thúc đẩy du lịch phát triển Đườnglối phát triển du lịch nằm trong đường lối phát triển chung, đường lối pháttriển kinh tế - xã hội vì vậy phát triển du lịch cũng là đang thực hiện sự pháttriển chung của xã hội Chính sách du lịch gồm: Chính sách đào tạo và pháttriển nguồn nhân lực du lịch, chính sách xã hội hóa, chính sách vốn …

Sơn, thành phố Hải Phòng.

- Xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế biển của nước ta nói chung

và của thành phố Hải Phòng nói riêng trong tình hình mới hiện nay

Trước yêu cầu bức thiết của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,lần đầu tiên tại Đại hội lần thứ VIII của Đảng (6/1996), Đảng ta tập trung bàn

về phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển, đặc biệt là các biện pháp đẩymạnh phát triển kinh tế biển gắn với đảm bảo an ninh quốc phòng, bảo vệvững chắc chủ quyền biển, đảo của nước ta Nghị quyết Đại hội VIII nhấnmạnh: “Vùng biển và ven biển là địa bàn chiến lược về kinh tế và an ninh,quốc phòng, có nhiều lợi thế phát triển và là cửa mở lớn của cả nước để đẩymạnh giao lưu quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài Khai thác tối đa tiềm năng

Trang 28

và các lợi thế của vùng biển và ven biển, kết hợp với an ninh, quốc phòng, tạothế và lực để phát triển mạnh kinh tế - xã hội (KT-XH) bảo vệ và làm chủvùng biển của Tổ quốc” [38, trang 76].

Tiếp đó, tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 4 (khóa X) Đảng đã banhành Nghị quyết số 09-NQ/TƯ ngày 9/2/2007 về “Chiến lược biển Việt Namđến năm 2020” Chiến lược biển ra đời đáp ứng được sự mong đợi của toànĐảng, toàn quân và nhân dân ta Một lần nữa cho thấy, tiếp nối liên tục quanhiều thế hê, từ bao đời nay, vùng biển, ven biển và hải đảo đã gắn bó chặtchẽ với mọi hoạt động sản xuất và đời sống của dân tộc Việt Nam Ông cha ta

đã đổ biết bao công sức và cả xương máu giữ gìn, bảo vệ các vùng biển và hảiđảo thiêng liêng để có được đến ngày hôm nay Thực hiện các nghị quyết củaÐảng về phát triển kinh tế biển, ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng đã raNghị quyết số 27-NQ/T.U ngày 6/8/2008 về Chương trình hành động cụ thểphát triển kinh tế biển Trong đó, xác định năm vấn đề cơ bản của thành phốlà: Phát triển hệ thống cảng, dịch vụ cảng và vận tải biển; phát triển côngnghiệp biển, các khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển; kinh tế thủy sản; dulịch biển; khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực Cùng với yêu cầuphát triển kinh tế biển của nước ta nói chung và của thành phố Hải Phòng nóiriêng trong tình hình mới hiện nay, quận Đồ Sơn tất yếu phát triển kinh tế dulịch biển là phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước Mặt khác, hoạtđộng kinh tế biển của Đồ Sơn mới bước đầu phát triển còn nhiều thách thức,nhất là trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay Tiềm lực kinh tế,trình độ khoa học - công nghệ nói chung và công nghệ khai thác biển nóiriêng còn hạn chế, cơ sở hạ tầng các vùng biển, ven biển và hải đảo còn nhiềuyếu kém, lạc hậu; thiếu hệ thống đường bộ cao tốc chạy dọc theo bờ biển, nốiliền các thành phố, các khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển thành mộtchuỗi kinh tế biển liên hoàn… càng thúc đẩy Đồ Sơn phát huy hơn nữa lợi thế

về biển của mình trong xây dựng kinh tế

Trang 29

- Thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch biển nhằm khai thác điều kiện thuận lợi về tự nhiện và tài nguyên thiên nhiên cũng như tiềm năng và lợi thế

về của du lịch biển Đồ Sơn

 Địa hình

Quận Đồ Sơn có thể coi là một bán đảo nhỏ do dãy núi Rồng vươn dài

ra biển tới 5 km, với hàng chục mỏm đồi cao từ 25 đến 130 m Địa hình của

Đồ Sơn chủ yếu là đồi núi gồm nhiều ngọn núi nối tiếp nhau chạy dài tới tậnbiển, điểm cuối cùng là đảo Dáu cách đất liền 1km Ở trên những ngọn đồi làrừng thông được trồng cách đây hàng trăm năm Đồi Đồ Sơn tuy không cao(dưới 130m) nhưng kéo dài theo phương Tây Bắc nằm vuông với các hướnggió mùa Đông Bắc và Tây Nam Ba khu bãi tắm đều có đồi núi rừng cây hòaquyện Vẻ đẹp sơn thủy hữu tình, trên có non xanh, dưới có nước biếc nằm kềbãi cát dài uốn lượn là những biệt thự khách sạn có kiến trúc đẹp sang trọng

và các nhà nghỉ muôn hình muôn vẻ Khu I có bãi tắm lớn, dọc bờ biển làhàng ghế đặt dưới hàng dừa, phi lao và các khách sạn lớn, hàng ngày có thểđón khách du lịch nghỉ lại qua đêm để thưởng thức vẻ đẹp tuyệt vời của bìnhminh trên mặt biển và khi hoàng hôn buôn xuống Qua bến Thốc, theo đườngnúi có con đường đôi đưa du khách tới khu II, nơi đây có bãi cát mịn phẳngthuận lợi cho du khách nghỉ ngơi, hóng mát và ngắm vẻ đẹp của biển

Bãi biển đồ Sơn chia làm 3 khu mỗi khu đều có bãi tắm và đồi núi,rừng cây yên tĩnh Khu 1 chạy dài với bãi tắm và dịch vụ ven biển Khu 2 có

Trang 30

toà biệt thự từng là nơi nghỉ mát của vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng của triềuNguyễn Khu 3 có công trình kiến trúc nhỏ dáng dấp như ngôi chùa nên từ lâu

có tên gọi là Pagodon Đặc biệt cuối bán đảo là đồi đất cao trên đó có Toà nhàVạn Hoa đuợc xây dựng theo kiến trúc gô tích rất đẹp Khu này còn có những

di tích Công trình dịch vụ đạt tiêu chuẩn quốc tế như Di tích bến tầu không

số, Resort Hon Dáu, Casino Đồ Sơn Đồ Sơn còn nổi tiếng với khu du lịchđảo Dáu có bể bơi nhân tạo thuộc hàng lớn nhất Châu Á, có vườn chim, vườnthú, khu vui chơi giải trí, các khách sạn đẳng cấp 3 đến 5 sao, đặc biệt khôngthể thiếu ngọn hải đăng cổ kính hơn trăm năm tuổi Kể từ khi được tu sửa

khang trang, nơi đây còn có thêm khu " Đà Lạt thu nhỏ", hằng năm được rất

đông du khách đến vui chơi giải trí vào ngày hè

* Khí hậu, thủy văn và tài nguyên sinh vật biển

Khí hậu Đồ Sơn mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnhhưởng của biển có hai mùa rõ rệt, mùa hè thì nóng ẩm, mưa nhiều, thườnghay có bão vào tháng 5 và tháng 10, mùa đông khô hanh từ tháng 4 đến tháng

11 năm sau Nền nhiệt độ trung bình năm từ 22-23 độ, cao nhất vào tháng 6

và tháng 7, thấp nhất là vào tháng 12 và tháng 1 Lượng mưa trung bình năm

từ 1500-2000mm, độ ẩm tương đối cao trung bình năm là 82-85% Chế độ gióthay đổi theo mùa: mùa đông là gió Đông Bắc, mùa hè là gió Tây và TâyNam thường kéo theo bão và giông, mỗi năm chịu ảnh hưởng trực tiếp từ 2đến 3 cơn bão và chịu ảnh hưởng gián tiếp từ 3 đến 4 cơn bão đổ bộ từ biểnĐông Với tính chất khí hậu như vậy đã tạo nên tính thời vụ rõ rệt cho du lịchbiển ở quận Đồ Sơn

Quận Đồ Sơn có số giờ nắng trung bình khá cao, chế độ gió phù hợp vớisự phát triển của du lịch biển, cùng với độ ẩm tương đối hài hòa là những điềukiện tốt cho phát triển loại hình du lịch nghỉ biển Lượng mưa, độ ẩm và sốgiờ nắng được thể hiện ở hai bảng dưới đây:

Trang 32

Bảng 2.1: Thể hiện lượng mưa, độ ẩm ở quận Đồ Sơn (%)

Tần suất ngập úng (%)

Trang 33

kéo dài từ 11 – 13 ngày Giữa các kỳ nước lớn là các kỳ nước kém với độ daođộng mực nước 0,5m, mỗi kỳ kéo dài từ 2-3 ngày

Mùa hè từ tháng 5 đến tháng 9 hướng song chính ngoài khơi là hướngNam với tần suất cao ổn định từ 37 – 60% và ven bờ là các hướng song ĐôngNan (27%), Nam (22%) mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau hướngsóng Bắc, Đông Bắc ở ngoài khơi có tần xuất là 51-71%, trung bình là 64%

Những điều kiện tự nhiên ở trên đã tạo cho Đồ Sơn có thể tổ chức cácloại hình vui chơi giải trí lý tưởng trên biển như lướt sóng, đua thuyền, … thuhút rất nhiều khách tham gia

Về sinh vật, quận Đồ Sơn có một hệ thống động thực vật phong phú và

đa dạng bao gồm cả ở trên cạn và dưới biển có giá trị cảnh quan, sinh thái, dulịch nghỉ dưỡng Nơi đây có nhiều loài hải sản biể như tôm, cua, ghẹ, các loàicá như cá Chim, cá Thu, cá Hồng, cá Kép … Các loài hải sản có chất lượngtốt có thể phát triển thành khu riêng biệt cho việc thưởng thức và ăn uống của

du khách Bên cạnh đó, quận Đồ Sơn còn là vùng đất thíc hợp với nhiều loạicây ngập mặn như Vẹt, Phi Lao, Sú, Thông, Chè, Chay, Ổi, … Các loài câynày đều đem lại giá trị kinh tế nhất định cho du lịch biển của Đồ Sơn

Có thể khẳng định, du lịch biển là thế mạnh của Đồ Sơn, bởi nơi đây cónhiều điều kiện thuận lợi để phát triển loại hình du lịch này Là một vùng biểnxinh đẹp với ba mặt giáp biển Đông, thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất nàynhững bãi biển đẹp, rộng và dài, phong cảnh sơn thủy hữu tình có đầy đủbiển, đảo, rừng, có các điểm du lịch tín ngưỡng… hấp dẫn du khách Khí hậuSơn khá ôn hòa, mùa đông thì ấm, mùa hè mát mẻ do tính chất của bán đảo.Đến với Đồ Sơn du khách sẽ có nhiều lựa chọn cho chuyến đi của mình thêmphong phú Ngay từ đầu thể kỷ XX, người Pháp đã phát hiện ra tiềm năng dulịch Đồ Sơn và xâydựng nơi đây thành thị trấn, biến các bãi biển thành bãitắm để Đồ Sơn trở thành một trong những trung tâm du lịch tầm cỡ quốc tế,thu hút ngày càng đông đảo du khách

Trang 34

Như vậy, quận Đồ Sơn là một lãnh hải bán sơn địa, có non nước hư

ảo tựa chốn bồng lai, là trung tâm nghỉ ngơi du lịch của kỳ thú từ xa xưa Đồ

Sơn quyến rũ du khách bởi khí trời trong sạch của gió, cái mặn mà của biển

và một cảnh sắc thiên nhiên sơn thuỷ hữu tình Đó là những ưu đãi của tựnhiên cho Đồ Sơn tạo nên lợi thế tự nhiên để nơi đây có thể phát triển mạnh

mẽ ngành kinh tế du lịch biển và tạo thương hiệu quảng bá hình ảnh của ĐồSơn đến với du khách từ khắp nơi

- Quận Đồ Sơn là nơi mang đậm di tích lịch sử có giá trị nhăn văn sâu sắc, bản sắc văn hóa đa dạng và phong phú sẽ là nhân tố quan trọng thúc đẩy kinh tế du lịch biển Đồ Sơn phát triển

Đến với Đồ Sơn du khách không chỉ được thưởng thức những khungcảnh thơ mộng trữ tình nơi đây, được ngâm mình trong làn nước trong mátcủa biển xanh Mà đến đây du khách còn được khám phá những công trìnhkiến trúc, những di tích lịch sử văn hóa quý giá như: đền Nghè, đền Bà Đế,biệt thự Bảo Đại, tháp Tường Long…Bên cạnh đó người dân Đồ Sơn quanhnăm có cuộc sống gắn bó với sông nước biển cả đã tạo nên những sinh hoạtvăn hóa tín ngưỡng mang đặc trưng của cư dân miền biển, thể hiện qua các lễhội độc đáo như: lễ hội chọi trâu, lễ hội đảo Dáu để ngày nay trở thành nhữngtài nguyên nhân văn vô giá phục vụ du lịch

Một số điểm tham quan và lễ hội nổi tiếng được coi tài nguyên du lịchnhân văn của du lịch biển Đồ Sơn:

Đền Bà Đế -điểm du lịch văn hóa tín ngưỡng

Đến Đồ Sơn, theo tuyến đường mới vòng ra phía biển, đường vào đền

Bà Đế quanh co uốn lượn theo con đê dài Từ xa du khách dễ dàng nhìn thấyngọn núi Độc nằm tách nghiêng ra khỏi dãy Cửu Long Sơn Dưới chân núi làmột ngôi đền quay ra biển đó chính là đền Bà Đế

Đền Bà Đế được xây dựng năm 1763, theo nhiều người cao tuổi ở ĐồSơn thì trước đây đền Bà Đế trông như một ngôi miếu nhỏ, ngư dân quanh

Trang 35

vùng mỗi lần đi đánh cá qua đây thường ghé vào thắp hương cầu nguyện chomưa thuận gió hòa, người đi biển gặp nhiều may mắn Ngày nay, ngôi đềnđược trùng tu, mở rộng dần ra phía biển, từ biển nhìn vào ngôi đền ẩn mìnhvào vách núi, ngay phía mặt biển là hình ảnh một con thuyền trên đó có tượng

Bồ Tát Chung quanh hình tượng rồng phượng uốn quanh như tô thêm vẻ linhthiêng chốn này Không ồn ào và tránh xa cuộc sống thường nhật, đến đền Bà

Đế du khách được sống trong không khí tĩnh mịch với tiếng sóng vỗ vào bờđá rì rầm như kể về nỗi oan khuất của một người con gái vùng đất Đồ Sơn tàisắc nhưng bạc mệnh

Lễ hội chính của đền Bà Đế diễn ra vào các ngày 24,25,26 tháng 2 âmlịch hằng năm, nhưng đối với người dân Hải Phòng thì cứ vào sau dịp TếtNguyên đán, đền Bà Đế lại là một địa chỉ tín ngưỡng không thể thiếu Ngàynay người Hải Phòng và những vùng lân cận, ai cũng xem đó là điểm đến củanhững ngày đầu năm mới Lễ hội đền Bà Đế đã góp phần làm sôi động hơncác hoạt động lễ hội ở Đồ Sơn

Đền Nghè - không gian văn hoá đậm bản sắc dân tộc

Nói đến đền Nghè, người Hải Phòng ai cũng biết đó là một ngôi đền có

từ lâu đời ở quận Lê Chân, nhưng Hải Phòng vẫn còn một ngôi đền Nghèkhác ở vùng đất Đồ Sơn Đây là ngôi đền mang ý nghĩa lịch sử và tâm linhcủa người dân Đồ Sơn.Từ ngã ba đường Lý Thánh Tông theo đường SuốiRồng vòng về phía Vạn Hương, ngay cạnh UBND phường, mọi người có thể

dễ dàng nhận ra đền Nghè Đền được xây dựng ở lưng chừng núi, nơi đất biển - trời giao hoà Đền Nghè là nơi được người dân Đồ Sơn coi trọng vì nơiđây thơ “lục vị tiên công” – 6 dòng họ đầu tiên đã đến đây lập nên đất ĐồSơn Đây cũng là nơi thờ cúng các vị thần hoàng của Đồ Sơn, trước và sau lễhội chọi trâu, đền là nơi nhân dân và các giáp, các phường tập trung về để tế

-lễ Ngược theo dòng lịch sử mới thấy được hết sự độc đáo và tâm linh của

Trang 36

ngôi đền này, trước năm 1945 tổng Đồ Sơn có 2 xã, 5 làng, làng nào cũng cóđình, đền riêng song hầu như tất cả chỉ có duy nhất một vị thành hoàng

Di tích đền Nghè hội tụ đủ cả hai yếu tố vật thể và phi vật thể để trởthành một di sản văn hoá rất có giá trị, được xây dựng và tồn tại trong mộtkhông gian văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc

Lễ hội chọi trâu

Theo nghiên cứu đánh giá ở nước ta có tới hàng nghìn lễ hội độc đáo,trong đó phần lớn chủ yếu tập chung ở miền Bắc Tại Hải Phòng cũng có rấtnhiều lễ hội nhưng tiêu biểu nhất là lễ hội chọi trâu Đồ Sơn, hàng năm lễ hộiđược tổ chức vào ngày 9/8 âm lịch hàng năm Từ lâu nơi đây đã nổi tiếng vớicâu ca dao:

“Dù ai buôn đâu bán đâuMùng chín tháng tám chọi trâu thì về

Dù ai buôn bán trăm nghềMùng chín tháng tám thì về chọi trâu”

Đây là một lễ hội truyền thống của người dân Đồ Sơn- Hải Phòng Sựhình thành khó xác định cho đến nay vẫn chưa ai khẳng định chắc chắn cũngnhư có bằng chứng chứng minh về sự ra đời của lễ hội này Lễ hội chọi trâu là

mỹ tục hào hùng mang đậm tính thượng võ, tính táo bạo và lòng quả cảm rấtđộc đáo Để chuẩn bị người ta lựa chọn rất công phu trong khoảng một năm.Điều quan trọng là việc tìm và nuôi dưỡng trâu Thông thường, sau TếtNguyên Đán, các sới chọi đều cử người có nhiều kinh nghiệm đi khắp nơi đểmua trâu, có khi họ phải lặn lội hàng tháng trời vào các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ

An, Nam Định, Thái Bình, thậm chí lên tận Tuyên Quang, Bắc Cạn để tìmđược con trâu vừa ý Có người cho rằng xem chọi trâu hay như xem đấu bòtót ở Tây Ban Nha Kết thúc lễ hội chọi trâu con thắng làm một cuộc rước giải

về đình làm lễ tế thần Truyền rằng, sau khi ăn thịt con trâu thắng cuộc, mọingười sẽ gặp được may mắn, đặc biệt là những người dân đi biển

Trang 37

Đảo Dấu- món quà thiên nhiên ban tặng

Núi Đồ Sơn chạy dọc theo bán đảo đến đồi Vạn Hoa thì đột ngột dừnglại rồi cách bờ biển chừng 1km lại nhô lên một hòn đảo nhỏ cách biệt với đấtliền được gọi là đảo Dáu hay hòn Dáu)

Hòn Dáu có phong cảnh đẹp, ở đây có khu rừng nguyên sinh, danhthắng thiên nhiên rất hoang sơ, cổ kính với hàng nghìn cây đa, si và nhiều loại

cổ thụ có cách đây hàng trăm năm Đó là tài sản quý giá thiên nhiên ban tặng

Đồ Sơn Giá trị cảnh quan này được quận bảo tồn nguyên vẹn, chưa bị conngười tác động hoặc làm biến dạng Trên đảo có cây đa cổ thụ hàng trăm nămtuổi, thân xù xì, rễ tua tủa, cành đâm xuống đất Sâu hơn là những thảm thựcvật được coi như khu rừng nguyên sinh với những loài gỗ quý như kim giaoNgười Đồ Sơn coi đảo Dấu là hòn đảo thiêng nên không ai nghĩ đến chuyện

ra đảo khai thác, vụ lợi Đảo Dấu nổi tiếng với lễ hội truyền thống vào ngàymồng 8, 9, 10 tháng 2 hàng năm, thu hút hàng vạn lượt du khách đến tham dự.Nhưng sức hút của hòn đảo không chỉ đến từ các hoạt động của lễ hội này màcòn chính từ truyền thống tín ngưỡng của ngư dân miền biển được bảo tồnqua ngôi đềnthờ Nam Hải thần vương, một trong những điểm linh thiêng theoquan niệm của người Đồ Sơn, nhất là với những ngư dân Trước mỗi lần đibiển, ngư dân nơi đây không quên đến thắp hương, trở thành tập tục lâu đời,nét đẹp văn hoá tâm linh nơi cửa biển này

Bến tàu Không số -K15

Bến tàu không số- K15 dưới chân đồi Nghinh Phong thuộc khu 3 Đồsơn, nơi xuất phát của những con tàu không số chở hàng hóa, vũ khí chi việncho chiến trường miền Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ, vừađược Bộ văn hóa – Thể thao và Du lịch công nhận là di tích lịch sử cấp quốcgia Ngày nay những ai có dịp đến Đồ Sơn, khi đến thung lũng Xanh dướichân đồi Nghinh Phong đều thấy tượng đài kỷ niệm di tích lịch sử đường HồChí Minh trên biển lồng lộng và trang trọng giữa mây trời Đây là công trình

Trang 38

được xây dựng và hoàn thành đúng dịp kỷ niệm 50 năm giải phóng HảiPhòng Giữa màu xanh của núi đồi Đồ Sơn trong tiếng rì rào của sóng biển, ditích K15 là biểu tượng anh hùng ca ngợi lòng quả cảm, sẵn sàng chiến đấu hysinh vì Tổ quốc của cán bộ chiến sỹ trên những con tàu không số năm xưa.Hiện nay K15 còn lại những cột bê tông trường tồn như nốt nhạc của bài ca điHiện, K15 còn lại những cột bê tông trường tồn như nốt nhạc của bài ca đicủa quân đội ta.

Tượng đài kỷ niệm đường Hồ Chí Minh trên biển và di tích bến tàukhông số K15 trong những năm gần đây đón hàng nghìn lượt du khách đếntham quan, không những mở hướng phát triển du lịch mà còn trở thành địachỉ giáo dục truyền thống lịch sử cho các thế hệ trẻ hôm nay, nhớ về nhữngchiến công chói lọi của quân và dân ta, chung sức đồng lòng phấn đấu xâydựng Đồ Sơn ngày càng phát triển, xứng đáng là trọng điểm du lịch quốc gia

Bến Nghiêng- biểu tượng chiến thắng

Bến Nghiêng toạ lạc giữa phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, sau lưng làngọn núi thuộc dải Cửu Long, phía trước là bãi tắm khu 2 trông ra cửa biển

“Ba Lộ”, nơi thế kỷ 11 vua Lý Thánh Tông từng ngự du thị sát để bảo vệ bờcõi, rồi cho xây dựng tháp Tường Long Trong cuộc kháng chiến chống Mỹcứu nước, bến Nghiêng trở thành bến tàu phục vụ vận tải tiếp tế hàng hoá chocuộc chiến đấu bảo vệ đảo đèn Hòn Dấu, nơi được coi là mắt ngọc của Tổquốc có nhiệm vụ soi sáng, dẫn đường cho các chuyến tàu biển ra vào, cậpbến cảng Hải Phòng

Năm 2005, biểu tượng của bến Nghiêng được thành phố xây dựng vàhoàn thành đúng vào dịp kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng Hải Phòng(13/5/1955 – 13/5/2005) Hằng ngày, nhất là vào dịp khai hội đảo Dấu và mùa

du lịch, hàng nghìn lượt người đến thăm và xuống tàu ra đảo Dấu và đến cácvùng lân cận Đây là dịp để mỗi người dân thành phố, khách du lịch trong và

Trang 39

ngoài nước hiểu hơn địa danh lịch sử này, góp phần tuyên truyền, gìn giữ ditích bến Nghiêng.

Biệt thự Bảo Đại

Biệt thự nằm trên đỉnh đồi Vung cao 36 m so với mặt nước biển, thuộckhu II Đồ Sơn Biệt thự được xây từ năm 1928 của Toàn quyền Đông Dương.Ngày 16/ 6 /1949, Toàn quyền Đông Dương tặng cho vua Bảo Đại Từ đóngôi nhà này được gọi là biệt thự Bảo Đại Du khách đến đây tham quan cóthể mặc triều phục, thưởng thức các loại bánh Huế, dự ngự thiện và mua đồlưu niệm về biệt thự này

Ngoài ra, Đồ Sơn còn có các di tích lịch sử văn hoá như đình Ngọc,suối Rồng, tháp Tường Long tạo ra một quần thể du lịch sinh thái - lịch sử -văn hoá nổi tiếng của miền sóng, miền gió Đồ Sơn- Hải Phòng

Như vậy, Đồ Sơn là nói ghi dấu nhiều di tích lịch trong quá trình đấutranh chống ngoại xâm của dân tộc Bên cạnh đó, do cuộc sống quanh nămgắn bó với biển cả đã tạo nên những sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng mang đậmbản sắc của cư dân miền sông nước đa dạng và hấp dẫn để ngày nay trở thànhnhững tài nguyên nhân văn vô giá phục vụ du lịch

Đồ Sơn là địa phương có cơ sở hạ tầng và điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi cho phát triển kinh tế du lịch biển

Về cơ sở hạ tầng, quận Đồ Sơn năm ở vị trí thuận lợi về giao thôngđường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không Đồ Sơn nằm trên trụcđường 353 tuyến đường huyết mạnh nối Đồ Sơn với khu vực nội thành Hảiphòng, con đường được nâng cấp và mở rộng thành đường 2 chiều phục vụnhu cầu đi lại của nhân dân đến với khu du lịch Do Đồ Sơn giáp biển nên rấtthuận lợi cho việc phát triển giao thông đường thủy Hệ thống lưới điện đãđược nâng cấp phục vụ cho nhân dân, hệ thống cấp thoát nước ở đây cũng đãđược đầu tư nâng cấp nhưng quy mô nhỏ lẻ không đồng bộ Đặc biệt là hệthống xử lý nước thải và nước sinh hoạt vẫn chưa được xử lý triệt để gây ô

Trang 40

nhiễm môi trường Hệ thống thông tin liên lạc đã được phổ biến rộng rãi khắpcác phường trong quận Nhìn chung, nơi đây có cơ sở hạ tầng phụ vụ du lịchkhá đồng bộ Đảng bộ, chính quyền địa phương cũng hết sức chú trọng đếnphát triển du lịch biển Những năm gần đây, thu nhập và đời sống của đại bộphận dân cư không ngừng được cải thiện Tình hình chính trị, xã hội, quốcphòng và an ninh khá ổn định nên đã thu hút một lượng lớn khách du lịchtrong và ngoài nước đến Đồ sơn.

Về kinh tế – xã hội, qu ận Đồ Sơn có nhiều điều kiện thuận lợi để pháttriển kinh tế du lịch biển Thực hiện các nghị quyết của Ðảng, Ban Thường vụThành ủy Hải Phòng đã ra Nghị quyết số 27-NQ/T.U ngày 13 tháng 4 năm

2009 về chương trình hành động cụ thể phát triển kinh tế biển Trong đó, xácđịnh năm vấn đề cơ bản: Phát triển hệ thống cảng, dịch vụ cảng và vận tảibiển; phát triển công nghiệp biển, các khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển;kinh tế thủy sản; du lịch biển; khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhânlực phục vụ du lịch biển

Đặc thù kinh tế Đồ Sơn gắn liền với các hoạt động khai thác tài nguyên

và lợi thế từ biển Dù trải qua nhiều biến thiên lịch sử, cơ cấu, vị trí của ngànhnghề có thay đổi nhưng nghề chính vẫn là nghề cá, nghề muối, và kinh doanh

du lịch biển Phương tiện tàu, thuyền đánh cá (phần lớn là gắn máy) tăngnhanh, năm 1991 có 300 phương tiện, năm 1995 tăng lên 750 phương tiện vàchueyenr hướng vươn khơi Nuôi trồng thủy sản tập trung chủ yếu nuôi tôm,cua , rau câu vói diện tích nuôi trồng được mở rộng, thu hút khoảng 2000 laođộng và nhiều vật tư, tiên vốn, sản lượng bình quân hàng năm đạt khoảng

3000 tấn Do tập trung khai thác, nuôi trồng những sản phẩm có giá trị kinh tếcao nên hiệu quả kinh tế tăng nhanh, năm 1991 đạt 6 tỷ 678 triệu đồng, năm

1995 đạt 11 tỷ 812 triệu đồng Kinh tế du lịch biển là ưu thế lớn của Đồ Sơnnhờ lợi thế mà thiên nhiên ban tặng, nhưng cũng chỉ từ ngày đổi mới đến nay

Ngày đăng: 07/06/2017, 07:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Đức An, Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và kinh tế - xã hội của hệ thống đảo bờ Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội biển, Đề tài khoa học cấp nhà nước, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và kinh tế - xã hội của hệ thống đảo bờ Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội biển
2. Phạm Huy An, “Một số vấn đề về quân sự biển hiện nay”, Giáo dục lý luận chính trị quân sự, Tr.28-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quân sự biển hiện nay”, "Giáo dục lý luậnchính trị quân sự
3. Trần Xuân Cảnh, “Bàn về thu hút vốn đầu tự cho phát triển ngành du lịch tại Việt Nam”, Phát triển kinh tế, Tr.30-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về thu hút vốn đầu tự cho phát triển ngành du lịch tại Việt Nam”, "Phát triển kinh tế
4. Trân Xuân Cảnh (2000), "Vấn đề thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài trong ngành du lịch", Tạp chí phát triển kinh tế, (số 113), tháng 3/2000, Tr 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoàitrong ngành du lịch
Tác giả: Trân Xuân Cảnh
Năm: 2000
5. Trần Xuân Cảnh (2001), "Bàn về thu hút vốn đầu tư cho phát triển ngành du lịch tại Việt Nam", Tạp chí phát triển kinh tế, (số 123) tháng 1/2001, trang (30-31) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về thu hút vốn đầu tư cho phát triển ngànhdu lịch tại Việt Nam
Tác giả: Trần Xuân Cảnh
Năm: 2001
6. Nguyễn Sinh Cúc (2003), "Tổng quan kinh tế xã hội Việt Nam 2002", Tạp chí Cộng sản (số 1,2), 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan kinh tế xã hội Việt Nam 2002
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Năm: 2003
7. Hoàng Đức Cường, Phát triển kinh tế Du lịch ở Nghệ An, Luận văn Thạc sỹ (1999), Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế Du lịch ở Nghệ An
Tác giả: Hoàng Đức Cường, Phát triển kinh tế Du lịch ở Nghệ An, Luận văn Thạc sỹ
Năm: 1999
8. Nguyễn Thị Chiến, Văn hóa trong phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam, Nxb Trẻ, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa trong phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Trẻ
9. Trần Thanh Chuyền, Phát triển du lịch ở tỉnh Hà Tây thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch ở tỉnh Hà Tây thực trạng và giải pháp
10. Nguyễn Minh Đức, Tiếp tục đổi mới quản lý Nhà nước phát triển thương mại du lịch tỉnh Sơn La trong quá trình CNH- HĐH, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện CTQG - Hồ Chí Minh, năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đổi mới quản lý Nhà nước phát triển thươngmại du lịch tỉnh Sơn La trong quá trình CNH- HĐH
11.Nguyễn Văn Đính, TS Trần Thị Minh Hòa, Kinh tế du lịch, NXB Lao Động – Xã hôi, Hà Nội, năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế du lịch
Nhà XB: NXB LaoĐộng – Xã hôi
12. Nguyễn Hồng Giáp, Kinh tế du lịch, NXB trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế du lịch
Nhà XB: NXB trẻ
13. Nguyễn Thị Hoá, Tiềm năng và xu hướng phát triển du lịch - Thừa Thiên - Huế, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiềm năng và xu hướng phát triển du lịch - Thừa Thiên -Huế
14. Nguyễn Mạnh Hưởng, “Tư duy mới về Quốc phòng - An ninh bảo vệ Tổ quốc”, Tạp chí Quốc phòng số 3, năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy mới về Quốc phòng - An ninh bảo vệ Tổquốc”, "Tạp chí Quốc phòng
15. Đinh Trung Kiên: “Hà Tây - Điểm du lịch cuối tuần của người Hà Nội”, Tạp chí Du lịch Việt Nam số 6/2003, Tr 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Tây - Điểm du lịch cuối tuần của người Hà Nội”,"Tạp chí Du lịch Việt Nam
16. Lại Hồng Khánh (2001), Xác định những luận cứ để phát triển du lịch Hà Tây, Đề tài khoa học Sở du lịch Hà Tây, năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định những luận cứ để phát triển du lịchHà Tây
Tác giả: Lại Hồng Khánh
Năm: 2001
17. Lại Hồng Khánh (2003), Báo cáo kỷ niệm 43 năm ngày thành lập ngành du lịch Việt Nam 9/7/1960 á 9/7/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kỷ niệm 43 năm ngày thành lập ngànhdu lịch Việt Nam 9/7/1960 "á
Tác giả: Lại Hồng Khánh
Năm: 2003
18. Đổng Ngọc Minh, Vương Lôi Đình, “Kinh tế du lịch và du lịch học”, NXB trẻ thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế du lịch và du lịch học
Nhà XB: NXB trẻ thành phố Hồ Chí Minh
19. Trần Quốc Luật, Phát triển kinh tế du lịch ở Bà Rịa, Vũng Tàu, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, năm 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế du lịch ở Bà Rịa, Vũng Tàu
20. Luật du lịch Việt Nam, NXB Chính Trị Quốc Gia, năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật du lịch Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính Trị Quốc Gia

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w