Chăm sóc sức khỏe nói chung và CSSKSS nói riêng luôn được xã hội đặc biệt quan tâm chú trọng. Việc chăm sóc sức khỏe và SKSS đã trở thành sự nghiệp chung của toàn xã hội, là trách nhiệm của mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng và của các cấp ủy Đảng, chính quyền. Với mỗi quốc gia chăm sóc sức cho người dân nói chung và CSSKSS nói riêng là một trong những nhiệm vụ xã hội cơ bản, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng của lực lượng lao động thông qua nâng cao thể trạng, sức khỏe, chiều cao, cân nặng, trí tuệ của người dân.
Trang 1MỤC LỤC
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CHĂM
SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN Ở CÁC HUYỆN PHÍA TÂY THÀNH PHỐ HÀ NỘI
111.1 Những vấn đề chung về dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản 111.2 Quan niệm, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triểndịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản ở các huyện phía Tâythành phố Hà Nội
22
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CHĂM SÓC
SỨC KHỎE SINH SẢN Ở CÁC HUYỆN PHÍA TÂY
2.1 Tổng quan tình hình cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
ở các huyện phía Tây thành phố Hà Nội thời gian qua 352.2 Thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra về phát triểndịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản ở các huyện phía Tây thành phố
Hà Nội
41
Chương 3 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN Ở CÁC HUYỆN PHÍA TÂY
3.1 Quan điểm cơ bản đẩy mạnh phát triển dịch vụ chăm sóc sức khỏesinh sản các huyện phía Tây thành phố Hà Nội
593.2 Các giải pháp chủ yếu đẩy mạnh phát triển dịch vụ chăm sóc sức khỏesinh sản các huyện phía Tây thành phố Hà Nội
68
Trang 2đề đó, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định:
“Tập trung phát triển mạnh hệ thống chăm sóc sức khỏe và nâng cao chấtlượng dịch vụ y tế…Thực hiện tốt chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe,tầm vóc con người Việt Nam… Thực hiện tốt các chính sách dân số và kếhoạch hóa gia đình…” [21]
Phía Tây thành phố Hà Nội gồm 14 quận, huyện, thị xã của Hà Tây cũ
là nơi có tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa nhanh, nhiều khucông nghiệp, khu đô thị, du lịch và dịch vụ đã và đang phát triển mạnh Bêncạnh dân số của từng địa phương, tốc độ tăng dân số cơ học đang có xu hướngngày càng tăng Chính vì vậy, nhu cầu khám chữa bệnh nói chung vàCSSKSS ở khu vực này rất lớn Trên cơ sở nhận thức đúng vị trí, vai trò quantrọng của công tác chăm sóc sức khỏe nói chung và CSSKSS nói riêng chongười dân, thời gian qua lãnh đạo, chính quyền Thành phố và các quận,huyện, thị xã trên địa bàn phía Tây thành phố Hà Nội đã ban hành nhiều chủtrương, chính sách đồng thời tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động
Trang 3chăm sóc sức khỏe và CSSKSS cho người dân thành phố nói chung và ở phíaTây thành phố Hà Nội nói riêng Đặc biệt, ngành y tế đã rất quan tâm triểnkhai nhiều biện pháp, đầu tư kinh phí cũng như mở rộng xã hội hóa dịch vụCSSKSS, do đó, công tác này đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng
và đáp ứng khá kịp thời nhu cầu của xã hội Tuy nhiên, quá trình phát triểndịch vụ CSSKSS cho người dân Thành phố nói chung và ở các quận, huyện,thị xã phía Tây thành phố Hà Nội nói riêng đã và đang còn bộc lộ những hạnchế, yếu kém, bất cập
Nhằm góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu tổng quát: Phát triển thểlực, tầm vóc người Việt Nam trong 20 năm tới vấn đề nâng cao chất lượngnguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; từng bước nâng caochất lượng giống nòi và tăng tuổi thọ khỏe mạnh của người Việt Nam và mụctiêu cụ thể: “Tăng cường công tác chăm sóc SKSS, sức khỏe bà mẹ và trẻ sơsinh, giảm mạnh tỷ lệ suy dinh dưỡng để cải thiện các chỉ số cơ bản của trẻ em
5 tuổi và đảm bảo các tiêu chí đánh giá thể lực, tầm vóc thân thể của thanh niênViệt Nam lứa tuổi trưởng thành” đã xác định tại “Đề án tổng thể phát triển thể
lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011 - 2030” theo quyết định số
641/QĐ-TTg ngày 28 tháng 4 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ, công tácphát triển dịch vụ CSSKSS ở các huyện phía Tây thành phố Hà Nội đã và đangđặt ra những vấn đề lý luận và thực tiễn cần phải được nghiên cứu giải quyết
Xuất phát từ những lý do đó, tác giả chọn đề tài: “Phát triển dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản ở các huyện phía Tây thành phố Hà Nội” làm đề
tài luận văn thạc sỹ kinh tế chuyên ngành kinh tế chính trị
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Hiện nay, ở Việt Nam đã có nhiều công trình của các tác giả tập trungnghiên cứu về phát triển dịch vụ y tế nói chung và dịch vụ CSSKSS nói riêngCác công trình đó, trên các mức độ khác nhau đã góp phần phân tích nhữngvấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ y tế và dịch vụ CSSKSS
Trang 4* Các sách chuyên khảo và tham khảo
Trong cuốn "Sự lựa chọn hợp lý: Nâng cao năng lực cho quá trình
chính sách y tế dựa trên bằng chứng" (2009) do Liên minh Nghiên cứu chính
sách và hệ thống y tế, Tổ chức Y tế thế giới và Trường Đại học Y tế Côngcộng hợp tác xuất bản năm 2009 Cuốn sách này chỉ ra sự không tương xứnggiữa những gì được biết về làm thế nào để ứng phó với các vấn đề sức khỏe
cụ thể ở những quốc gia kinh tế còn nghèo và thực tế những gì đã được làm
để giải quyết các vấn đề sức khỏe đó Cuốn sách tập trung phân tích nguyênnhân của sự không tương xứng này, đó là những hạn chế về năng lực Nănglực yếu trong các cơ quan và khoảng cách giữa việc tạo ra kiến thức và việc
sử dụng kiến thức trong hoạch định chính sách đang được Liên minh nghiêncứu chính sách và hệ thống y tế xác định là một vấn đề chiến lược quantrọng trong việc cải thiện công tác chăm sóc sức khỏe ở những quốc gia cóthu nhập thấp
Báo cáo nghiên cứu “Thực trạng quản lý dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà
mẹ tại Việt Nam” (2014) hay nghiên cứu HESVIC là một nghiên cứu phối
hợp đa phương với sự tham gia của nhiều đối tác, được triển khai trong vòng
3 năm (từ tháng 7/2009 đến tháng 6/2012) dưới sự tài trợ của Uỷ ban Châu
Âu theo chương trình khung số 7 Báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu tổngthể tại Việt Nam với mục tiêu nhằm tìm hiểu thực trạng quản lý và triển khaicác chính sách trong lĩnh vực sức khoẻ bà mẹ Nghiên cứu áp dụng phươngpháp tiếp cận tổng hợp để đánh giá được thực trạng thực hiện chính sáchtrong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe bà mẹ (CSSKBM), qua đó, sẽ đánh giáđược tác động của các chính sách đến khả năng tiếp cận công bằng với cácdịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ Nghiên cứu cũng tìm hiểu tác động của cácyếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận dịch vụ y tế thông qua phân tích bối cảnh
và môi trường chính sách nói chung, cung cấp bằng chứng cho các nhà hoạchđịnh chính sách trong việc đưa ra các chính sách tăng cường khả năng tiếp
Trang 5cận công bằng đối với các dịch vụ y tế tại Việt Nam Nghiên cứu đã đưa rakhuyến nghị: Tăng cường thực hiện chính sách Một số chiến lược nhằm tăngcường tiếp cận công bằng dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ có chất lượng đãđược đề xuất Các chiến lược này bao gồm cải thiện hệ thống thông tin, cácquy chuẩn, trách nhiệm giải trình và cơ chế thưởng, phạt Công tác vận độngthực hiện chiến lược để tăng cường vai trò của các bên liên quan trong quátrình thực hiện chính sách [41].
"Báo cáo kết quả khảo sát thực trạng mạng lưới và năng lực cung cấp dịch
vụ CSSKSS Việt Nam 2010" (2012) do Vụ Sức khỏe Bà mẹ trẻ em, Bộ Y tế thực
hiện là cuộc điều tra trên quy mô toàn quốc về mạng lưới CSSKSS Cuốn sách
đã đưa ra một bức tranh toàn cảnh về tình trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị,nhân lực và khả năng cung cấp dịch vụ CSSKSS của mạng lưới cung cấp dịch
vụ CSSKSS ở tuyến xã, TTYT huyện, TTCSSKSS tỉnh Cuộc điều tra cũngcung cấp một số thông tin quan trọng về tình hình nhân lực và khả năng cungcấp dịch vụ CSSKSS của các bệnh viện từ tuyến huyện đến Trung ương Từ đórút ra một số nhận xét chính và đưa ra khuyến nghị: Kết quả cuộc điều tra nênđược sử dụng làm cơ sở thực tế trong kế hoạch hành động quốc gia về CSSKSSgiai đoạn 2011 - 2015 đang được xây dựng Trước thực tế là sản phụ đến đẻ tạicác bệnh viện có xu hướng tăng, nhiều TYT không có phụ nữ đến đẻ, cần tiếnhành một điều tra nghiên cứu xác định nhu cầu đỡ đẻ của các TYT và xây dựngcác tiêu chí xác định loại TYT không đỡ đẻ để trách lãng phí trong đầu tư phòngdịch vụ và trang thiết bị [45]
Nhóm tác giả James C Knowles, Nguyễn Thị Hồng Hà, Đặng BộiHương với cuốn sách "Tài chính y tế ở Việt Nam: Tạo điều kiện cho ngườinghèo có khả năng chi trả cho dịch vụ y tế" (2005) đã phân tích về nguồn lựctài chính cho phát triển dịch vụ y tế nói chung đồng thời đưa ra bản báo cáotổng hợp về chi tiêu công cho y tế trong giai đoạn 1991 - 2000 Tổng kết nhữngkinh nghiệm của Việt Nam trong việc thực hiện chế độ thu viện phí và các mô
Trang 6hình tài chính y tế cho người nghèo Đồng thời đưa ra phương án mở rộngBHYT trong năm 2010 [27].
* Dưới góc độ luận văn, luận án
Luận văn thạc sỹ kinh tế: “Phát triển dịch vụ y tế thành phố Đà Nẵng”
(2013) của Hoàng Thị Thu Hương, trường Đại học Đà Nẵng năm 2013 Trên
cơ sở lý luận về dịch vụ y tế và phát triển dịch vụ y tế, tác giả đã đánh giáthành tựu, hạn chế, chỉ rõ những nguyên nhân của phát triển dịch vụ y tế ởthành phố Đà Nẵng và đề xuất một số giải pháp, biện pháp tiếp tục phát triểnloiạ hình dịch vụ này trên địa bàn Thành phố thời gian tới [28]
Luận văn thạc sỹ: "Phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh Hải Dương"
(2013) của Hoàng Tuấn Anh, trường Đại học Y Hải phòng năm 2013 Căn cứvào những đặc thù của địa phương, dưới góc độ chuyên ngành y tế cộng đồng,tác giả luận văn đã đánh giá những kết quả và hạn chế của phát triển dịch vụ y
tế ở tỉnh Hải Dương đồng thời đề ra những giải pháp, biện pháp chuyên ngành
y tế cộng đồng nhằm góp phần tiếp tục phát triển dịch vụ y tế trên địa bànTỉnh những năm tiếp theo [28]
* Các bài báo khoa học
Có rất nhiều bài viết nội dung xoay quanh các vấn đề về CSSKSS đăngtrên các tạp chí nghiên cứu Y học Trên tạp chí Y học Việt Nam (Dân số vàsức khỏe nông thôn) năm 2005 có bài: "Đánh giá cơ sở vật chất, trang thiết bị
và thuốc thiết yếu phục vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản theo chuẩn quốc giatại một số trạm y tế xã" của nhóm tác giả Phạm Văn Tám, Lương Xuân Hiến,Đinh Phương Hòa, "Nhận thức và thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sảncủa phụ nữ 15 - 49 tuổi đang nuôi con dưới 24 tháng tuổi" của Nguyễn Thu
Trang 7Nghiên cứu về "Nhận thức về một số nội dung chăm sóc sức khỏe sinhsản/ kế hoạch hóa gia đình của cộng đồng tại các địa bàn triển khai mô hìnhnâng cao chất lượng dân số" của Đỗ Ngọc Tấn đăng trên tạp chí Tạp chí Yhọc thực hành năm 2005 Cũng trên tạp chí Y học thực hành năm 2009,Nguyễn Viết Tiến lại đi sâu tìm hiểu: "Hiểu biết về quyền của khách hàngtrong chăm sóc sức khỏe sinh sản".
Về CSSKSS cho phụ nữ độ tuổi tiền mãn kinh, Đoàn Kim Thắng cóbài: "Hiểu biết về chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ quanh tuổi mãnkinh tại cộng đồng: Nghiên cứu trường hợp Hà Nội" đăng trên tạp chí Nghiêncứu Gia đình và Giới năm 2009
Bài viết "Dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản - Giải pháp nâng cao chấtlượng dân số" (2010) của tác giả Thúy Ngọc, Báo điện tử Đảng Cộng sản ViệtNam ngày 29 tháng 12 năm 2010 nhấn mạnh: “Nâng cao chất lượng dịch vụchăm sóc sức khỏe sinh sản là cách trực tiếp nhất để nâng cao chất lượng dânsố” Bài báo cho biết: Thời gian qua, ngành y tế đã rất quan tâm triển khainhiều biện pháp, đầu tư kinh phí cũng như mở rộng xã hội hóa dịch vụCSSKSS, do đó, công tác này đã đáp ứng khá kịp thời nhu cầu của xã hội.Tuy nhiên, tác giả cũng đã chỉ rõ một số hạn chế, bất cập của công tácCSSKSS như: đến nay một số dịch vụ vẫn chưa được cung cấp đầy đủ, đặcbiệt ở hệ thống chăm sóc sơ; CSSKSS người cao tuổi, SKSS vị thành niên vàcung cấp dịch vụ có tính đến yếu tố giới còn hạn chế; y tế tư nhân có tham giavào cung cấp dịch vụ, nhưng chưa được tham gia vào đào tạo cập nhật, chưađược giám sát, chất lượng dịch vụ và thông tin của y tế tư nhân chưa được cậpnhật vào hệ thống thông tin chung của ngành y tế; tình trạng sử dụng dịch vụ
y tế ở tuyến cơ sở rất thấp Ngược lại, cơ sở y tế tuyến trên ngày càng quá tải
Cũng trong bài viết của mình, tác giả đã tổng hợp ý kiến của giáo sưNguyễn Duy Khê về một số giải pháp chủ yếu, quan trọng góp phần nâng caochất lượng dịch vụ CSSKSS trong thời gian tới ở nước ta
Trang 8Kết quả nghiên cứu của các tác giả nói trên là những tài liệu quý giá màluận văn này có thể kế thừa Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nàonghiên cứu một cách có hệ thống và tương đối toàn diện về phát triển dịch vụCSSKSS ở các huyện phía Tây thành phố Hà Nội dưới góc độ bộ môn kinh tế
chính trị Đề tài luận văn:“Phát triển dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản ở các huyện phía Tây thành phố Hà Nội” của học viên không trùng với các
công trình khoa học của các tác giả khác đã được công bố
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển dịch vụ CSSKSS ở cáchuyện phía Tây thành phố Hà Nội; trên cơ sở đó đề xuất quan điểm và một sốgiải pháp đẩy mạnh phát triển dịch vụ CSSKSS trên địa bàn trong thời gian tới
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển dịch vụ CSSKSS cáchuyện phía Tây thành phô Hà Nội
Đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ CSSKSS ở các huyện phía Tâythành phố Hà Nội trong thời gian qua; chỉ rõ nguyên nhân của những thànhtựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra
Đề xuất một số quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu góp phần đẩy mạnhphát triển dịch vụ CSSKSS ở các huyện phía Tây thành phô Hà Nội trong thờigian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Phát triển dịch vụ CSSKSS dưới góc độ kinh tế chính trị
* Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Phát triển dịch vụ CSSKSS
Về không gian: Phát triển dịch vụ CSSKSS ở huyện phía Tây thành phố
Hà Nội
Trang 9Về thời gian: từ năm 2008 khi tỉnh Hà Tây cũ sáp nhập vào thành phố
Hà Nội đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vậtmácxít; tác giả đứng trên lập trường, quan điểm duy vật để luận giải, phântích cơ sở lý luận phát triển dịch vụ CSSKSS cũng như đánh giá, chứng minhthực trạng phát triển dịch vụ CSSKSS ở các quận, huyện phía Tây thành phố
Hà nội và đề xuất quan điểm, giải pháp phát triển dịch vụ CSSKSS trên địabàn thời gian tới
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kếthợp phương pháp lôgíc và lịch sử, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, trừutượng hóa khoa học đang được vận dụng trong nghiên cứu kinh tế chính trị.Luận văn cũng chú trọng nghiên cứu, phân tích các tư liệu, dữ liệu, số liệu báocáo về công tác quản lý và cung cấp dịch vụ CSSKBM của 14 quận, huyện, thị
xã, về SKSS từ 2008 đến nay được gửi về Trung tâm CSSKSS Hà Đông
6 Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho cácđịa phương, Sở Y tế thành phố Hà Nội trong việc hoạch định cơ chế, chủtrương, chính sách phát triển dịch vụ CSSKSS trên địa bàn Thành phố và cácđịa phương phía Tây thành phố Hà Nội
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy Kinh tế chínhtrị trong các trường đại học, cao đẳng
7 Kết cấu của đề tài
Gồm có: Phần mở đầu, 3 chương (6 tiết), kết luận, danh mục tài liệutham khảo và phụ lục
Trang 10Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤCHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN Ở CÁC HUYỆN PHÍA TÂY THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1 Những vấn đề chung về dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
1.1.1 Khái niệm dịch vụ và dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
Khái niệm về dịch vụ
Theo từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp chonhững nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công [23,tr.256] Theo C.Mác thì nhu cầu là đòi hỏi khách quan của mỗi con ngườitrong những điều kiện nhất định, đảm bảo cho sự sống và sự phát triển củamình C.Mác cho rằng: “Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa,khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông, thôngsuốt, trôi chảy, liên tục để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao đó của con ngườithì dịch vụ ngày càng phát triển” [14]
Như vậy, với quan niệm trên C.Mác đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và sựphát triển của dịch vụ là do sự phát triển kinh tế hàng hóa, đồng thời C.Máccũng nhấn mạnh một đặc tính của dịch vụ, đó là: “Trong những trường hợp
mà tiền được trực tiếp trao đổi lấy một lao động không sản xuất ra tư bản, tức
là trao đổi lấy một lao động không sản xuất, thì lao động đó được mua với tưcách là một sự phục vụ lao động đó cung cấp những sự phục vụ không phảivới tư cách là một đồ vật, mà với tư cách là một sự hoạt động” [14]
Dịch vụ theo nghĩa rộng là khái niệm chỉ toàn bộ các hoạt động mà kếtquả của chúng không tồn tại dưới hình dạng vật thể Hoạt động dịch vụ baotrùm lên tất cả các lĩnh vực với trình độ cao, chi phối rất lớn đến quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội, môi trường của từng quốc gia, khu vực nói riêng vàtoàn thế giới nói chung Ở đây dịch vụ không chỉ bao gồm những ngànhtruyền thống như: giao thông vận tải, ngân hàng, du lịch, thương mại, bảohiểm, bưu chính viễn thông mà còn lan tỏa tới các lĩnh vực rất mới như: dịch
Trang 11vụ văn hóa; hành chính, bảo vệ môi trường, dịch vụ tư vấn Như vậy, dịch vụ
là những dạng hoạt động thuộc lĩnh vực, một ngành kinh tế
Từ những phân tích trên có thể hiểu dịch vụ là hoạt động lao động xã hội, tạo ra sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới dạng vật chất (sản phẩm vô hình) nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống thuận lợi và hiệu quả hơn
Như vậy, dịch vụ là một lĩnh vực rộng lớn, xuất hiện ở mọi mặt của đờisống kinh tế - xã hội, trong đó có lĩnh vực Y tế, bởi vì:
Sức khỏe là nhân tố đặc biệt quan trọng hình thành thể chất của conngười, theo WHO, sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái cả về thểchất, tâm thần và xã hội chứ không phải chỉ là không có bệnh Sức khỏe vừa
là phương tiện, vừa là mục tiêu của mọi quá trình phát triển Đã từ lâu chămsóc sức khỏe là một trong các yếu tố cấu thành cơ bản của hai chỉ tiêu quantrọng phản ánh sự phát triển của quốc gia: chỉ số phát triển con người HDI vàchỉ số nghèo khổ HPI HDI được UNDP sử dụng để đo lường chất lượng sốngcủa con người ở các quốc gia Chỉ số này dựa trên 3 tiêu chí: tuổi thọ mong
đợi; trình độ học vấn; điều kiện kinh tế (thu nhập bình quân đầu người) [35]
Khái niệm dịch vụ y tế
Dịch vụ y tế là hoạt động lao động tương tác giữa người cung cấp dịch
vụ và khách hàng để đáp ứng nhu cầu về sức khỏe như: Khám chữa bệnh, phòng bệnh, giáo dục sức khỏe, tư vấn sức khỏe do trạm xá các cơ quan, trạm
y tế xã, trung tâm y tế huyện/quận, các cơ sở y tế tuyến tỉnh và Trung ương vàcác cơ sở YTTN ( phòng khám, bệnh viện tư, hiệu thuốc) cung cấp
Dịch vụ y tế là một ngành dịch vụ trong đó người cung ứng và người sửdụng quan hệ với nhau thông qua giá dịch vụ
Dịch vụ y tế là tất cả các loại hình dịch vụ chăm sóc, tư vấn liên quanđến sức khỏe con người Các loại hình dịch vụ phổ biến như là: Dịch vụkhám, phòng chống và chữa bệnh, dịch vụ bảo hiểm y tế, hệ thống hành nghềdược, y học cổ truyền
Trang 12Các dịch vụ y tế mang tính chất của hàng hóa vì có nhu cầu, có ngườicung cấp và có người sử dụng thì phải trả tiền (có thể người trả tiền là cánhân, có thể là tập thể, Nhà nước) Dịch vụ y tế mang tính chuyên môn caonên người tiêu dùng hoàn toàn bất lợi về mặt thông tin so với người bán (bệnhnhân và bác sỹ) Với một số hàng hóa khác, người tiêu dùng có thể có hiểubiết nhất định về sản phẩm hoặc có được thông tin về sản phẩm bằng kinhnghiệm Nhưng đối với dịch vụ y tế, người bệnh biết rất ít về hiệu quả hayhậu quả của điều trị, thậm chí người ta còn không biết mình bị ốm Chính vìthế, dịch vụ y tế là loại hàng hóa mà người sử dụng (người bệnh) thườngkhông tự mình lựa chọn được mà chủ yếu do bên cung ứng (cơ sở y tế) quyếtđịnh Nói cách khác, ngược lại với thông lệ “cầu quyết định cung”, trong dịch
vụ y tế “cung quyết định cầu” Người bệnh có nhu cầu KCB nhưng điều trịbằng phương pháp nào, dùng loại thuốc hay dịch vụ gì và thời gian bao lâu lại
do bác sĩ quyết định Như vậy, người bệnh chỉ có thể lựa chọn nơi điều trị, ởmột chừng mực nào đó, bác sĩ điều trị chứ không được chủ động chọn phươngpháp điều trị
Tuy nhiên, cũng giống như các lại hình dịch vụ khác, thì dịch vụ y tế làmột ngành kinh tế Nhưng ngành dịch vụ này có điều kiện, tức là có sự hạnchế nhất địch đối với sự gia nhập thị trường của các nhà cung ứng dịch vụ y
tế Cụ thể, muốn cung ứng dịch vụ y tế cần được cấp phép hành nghề và cầnđảm bảo những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất Nói một cách khác,trong thị trường dịch vụ y tế không có sự cạnh tranh hoàn hảo Dịch vụ y tế làmột ngành dịch vụ trong đó người cung ứng và người sử dụng quan hệ vớinhau thông qua giá dịch vụ
Trang 13cũng như các công việc có tinh chất riêng tư Do vậy mà có nhiều cách phânloại dịch vụ theo các tiêu thức khác nhau Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù củamỗi ngành dịch vụ, người ta chia dịch vụ thành các nhóm ngành sau (1) dịch
vụ kinh doanh, (2) dịch vụ thông tin liên lạc, (3) dịch vụ xây dựng và kỹ thuật
có liên quan, (4) dịch vụ phân phối, (5) dịch vụ giáo dục, (6) dịch vụ môitrường, (7) dịch vụ tài chính, (8) dịch vụ y tế, (9) dịch vụ du lịch, (10) dịch vụgiải trí, văn hóa và thể thao và (11) các dịch vụ khác [23]
* Chăm sóc sức khỏe sinh sản và dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã định nghĩa “Chăm sóc SKSS là mộttập hợp các phương pháp, kỹ thuật và dịch vụ nhằm giúp cho con người cótình trạng SKSS khỏe mạnh thông qua việc phòng chống và giải quyết nhữngvấn đề liên quan đến SKSS Điều này cũng bao gồm cả sức khỏe tình dục vớimục đích nâng cao chất lượng cuộc sống và mối quan hệ giữa con người vớicon người mà không chỉ dừng lại ở chăm sóc y tế và tư vấn một cách đơnthuần cho việc sinh sản và những nhiễm trùng qua đường tình dục” Chăm sócsức khỏe sinh sản giúp cho con người có được trạng thái tinh thần thoải mái
và hòa hợp với xã hội CSSKSS không chỉ có nghĩa là giúp cho người bệnhkhỏi được những căn bệnh thực thể mà còn có nghĩa là giúp họ thoát khỏinhững bế tắc về mặt tinh thần và có được những mối quan hệ lành mạnh, baogồm cả những mối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội
Dịch vụ CSSKSS là tổng thể các biện pháp kỹ thuật do bác sĩ chuyênkhoa thực hiện góp phần nâng cao sức khỏe và hạnh phúc cho người sử dụngdịch vụ bằng cách phòng ngừa và giải quyết các vấn đề về SKSS Nó cũngbao gồm cả sức khỏe tình dục với mục đích là đề cao cuộc sống và các mốiquan hệ riêng tư, chứ không chỉ là việc tư vấn và chăm sóc liên quan đến sinhsản và các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Điều kiện này khẳng định về quyền của phụ nữ và nam giới được thôngtin và tiếp cận các biện pháp kế hoạch hóa gia đình an toàn, hiệu quả, dễ dàng
Trang 14và thích hợp nhằm điều hoà việc sinh đẻ không trái với pháp luật, quyền đượctiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thích hợp giúp cho người phụ nữtrải qua thai nghén và sinh đẻ an toàn và tạo cho các cặp vợ chồng những điềukiện tốt nhất để có đứa con khỏe mạnh.
Từ những phân tích trên có thể quan niệm: Chăm sóc sức khỏe sinh sản
và dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản là hoạt động lao động của đội ngũ cán
bộ, nhân viên y tế cung cấp dịch vụ phòng chống và giải quyết những vấn đề
có liên quan đến sức khỏe sinh sản, giúp cho con người có sức khỏe tốt, tham gia phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.1.2 Vai trò của dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
Dịch vụ CSSKSS có vai trò rất quan trọng, bởi trong điều kiện pháttriển nền kinh tế thị trường, khi mà đời sống của nhân dân đã được nâng caothì nhu cầu về sức khỏe là rất lớn Các dịch vụ CSSKSS ra đời đã đáp ứngđược nhu cầu của nhân dân (nhất là lao động nữ) góp phần nâng cao năng lực,hiệu quả công tác, hoạt động SX – KD Vai trò của việc phát triển dịch vụCSSKSS được biểu hiện:
Thứ nhất, dịch vụ CSSKSS góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho phát triển KT – XH và sự nghiệp CNH, HĐH
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, gồm có thể lực và trí lực Thểlực phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của con người, mức sống, thu nhập, chế
độ ăn uống, chế độ làm việc, nghỉ ngơi v.v Trí lực là nguồn tiềm tàng to lớncủa con người, đó là tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhâncách v.v
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): Nguồn nhân lực của một quốc gia
là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động Tiếp cậndưới góc độ của Kinh tế chính trị có thể hiểu: nguồn nhân lực là tổng hoà thểlực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc
Trang 15gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của mộtdân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinhthần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước Như vậy, nguồnnhân lực ở nước ta là bộ phận những người trong độ tuổi lao động (theo quyđịnh của Luật lao động hiện hành: nam từ 15 đến 60 tuổi; nữ từ 15 đến 55tuổi), có khả năng lao động, hiện đang làm việc hoặc đang tìm kiếm việclàm…
Để tham gia có hiệu quả vào quá trình phát triển KT- XH, thực hiệnthành công nhiệm vụ đẩy mạnh CNH, HĐH, lực lượng lao động ở nước takhông chỉ cần có trí lực, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, màcòn rất cần có một thể lực mạnh khỏe, đáp ứng yêu cầu của công việc vànhiệm vụ đảm trách Dịch vụ CSSKSS thông qua các hoạt động và các loạihình dịch vụ đa dạng, phong phú của mình sẽ trực tiếp góp phần nâng caochất lượng nguồn nhân lực - lực lượng lao động xã hội-về mặt thể lực, trí lực
Thứ hai, cùng với phát triển kinh tế, dịch vụ CSSKSS góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và cộng đồng
Nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân luôn là mục tiêu hướngtới của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Chất lượng cuộc sống của conngười ngoài việc được đáp ứng đầy đủ nhu cầu về vật chất còn phải được thỏamãn đầy đủ các nhu cầu về tinh thần Một cơ thể ốm yếu, trạng thái tinh thần,tâm sinh lý mệt mỏi sẽ không thể hưởng thụ đầy đủ, trọn vẹn các giá trị vậtchất và tinh thần ấy Bởi thế, con người cần có sức khỏe, có sức khỏe conngười mới cảm nhận một cách chọn vẹn và đầy đủ các giá trị vật chất và tinhthần nhờ quá trình lao động không ngừng nỗ lực sáng tạo của bản thân cũngnhư của cộng đồng Để có một cơ thể khỏe mạnh, tinh thần lành mạnh conngười cần được chăm sóc sức khoẻ đúng cách, đúng khoa học, trong đó cóCSSKSS Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường, người lao động
Trang 16tham gia vào các hoạt động lao động sản xuất khác nhau và do vậy cũng thamgia vào các hình thức phân phối thu nhập cá nhân khác nhau nên mức thunhập của mỗi người không hoàn toàn giống nhau Thậm chí do tác động củacác quy luật kinh tế, có một bộ phận người lao động rơi vào tình trạng phásản, thất nghiệp, nghèo đói, ngược lại có một bộ phận người lao động trở nêngiàu có với thu nhập cao Trong điều kiện đó, dich vụ y tế nói chung và dịch
vụ CSSKSS nói riêng phát triển sẽ làm tăng nguồn cung đáp ứng nhu cầuquan trọng của người lao động, cho mọi đối tượng; đồng thời bảo đảm an sinh
xã hội, quyền về sự công bằng trong tiếp cận dịch vụ CSSKSS được đáp ứngđầy đủ góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ nhân dân nói chung vàngười lao động nói riêng Bảo đảm đáp ứng yêu cầu cung cấp đầy đủ, đồng bộ
số lượng, chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hộiđất nước
Thứ ba, dịch vụ CSSKSS góp phần nâng cao chất lượng dân số, cải tạo nòi giống, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của các thế hệ kế tiếp và tương lai
Chất lượng dân số là sự phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ vàtinh thần của toàn bộ dân số Chất lượng dân số là tập hợp những đặc điểm vềnăng lực của một quần thể dân cư, một cộng đồng, một đất nước được thựchiện qua hệ thống các chỉ báo: Cơ cấu tuổi, thể lực, trí lực, mức sống và ýthức xã hội… trong việc thực hiện những chức năng xã hội nhất định nhằmđáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH của toàn bộ dân số nói chung và sự pháttriển của chính bản thân mỗi gia đình, mỗi người dân nói riêng
Trang 17Ở nước ta, chất lượng dân số được hiểu cụ thể hơn, đó là về cơ cấutuổi, giới tính, sức khỏe sinh sản, tình trạng sức khỏe trẻ em, trình trạng thểlực, trình độ học vấn nghề nghiệp của toàn bộ dân cư một vùng lãnh thổ nhấtđịnh hay của cả nước nói chung với một cơ cấu dân số hợp lý Vì vậy, cơ cấudân số phù hợp sẽ tạo kiều kiện thuận lợi cho phát triển KT - XH, không gây
ra những khó khăn, không là gánh nặng đối với sự phát triển KT - XH và tạotiền đề cho sự phát triển bền vững của đất nước [44]
Nâng cao chất lượng dân số có vai trò to lớn trong sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc, trong đó nâng cao sức khỏe, tầm vóc
- thể lực con người góp phần chuẩn bị nguồn nhân lực tốt nhất cho sự phát triển trong tương lai luôn giành được sự quan tâm đặc biệt của các quốc gia Chính vì vậy, nhiều quốc gia ở Châu Âu, một số quốc gia châu Á,
đặc biệt Nhật Bản đã rất chú trọng tới vấn đề này
Ở Việt Nam, tuy có chậm hơn các quốc gia khác trong khu vực, songĐảng và Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm tới vấn đề này Tuy nhiên, theobáo cáo thống kê mà tiến sỹ Đàm Quốc Chính - Chủ nhiệm chương trìnhnghiên cứu số 4 (Cấp Nhà nước) - Giám đốc Trung tâm Thông tin thể dục thểthao đưa ra: chiều cao thân thể trung bình của người Việt Nam hiện nay là163,7 cm (nam) và 153,0 cm (nữ) chênh lệnh rất cao so với 172,0 cm (nam –Nhật Bản) và 157,0 (nữ Nhật Bản); khoảng cách này còn cách biệt hơn vớicác nước Châu Âu (13,1 cm với nam và 10,7 cm với nữ); qua đó cho thấy, thểlực và tầm vóc của người Việt Nam còn thua kém rõ rệt Bên cạnh đó, điềuđặc biệt có thể nhận thấy là thể lực người Việt Nam nói chung hiện nay khôngđáp ứng cường độ làm việc hiện đại, yêu cầu của quá trình đẩy mạnh CNH,HĐH và mở cửa, hội nhập quốc tế [46]
Trong “Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục” đăng trên báo Cứu quốc số
199, ngày 27 tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Giữ gìn dân
Trang 18chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mớithành công Mỗi một người dân yếu, tức là cả nước yếu, mỗi một người dânmạnh khỏe, tức là cả nước mạnh khỏe…Dân cường nước thịnh…”.
Như vậy, nâng cao chất lượng dân số, cải tạo nòi giống, trong đó cónâng cao thể lực và tầm vóc cho những thế hệ kế tiếp, những thế hệ tương lai
là một yêu cầu cấp thiết, một nhiệm vụ hết sức quan trọng Trong đó, dịch vụ
tế nói chung và dịch vụ CSSKSS nói riêng có vai trò hết sức quan trọng (đặcbiệt là các dịch vụ như: chăm sóc sức khỏe bà mẹ - trẻ em; dịch vụ DS –KHHGĐ, chăm sóc SKSS vị thành niên…) Cũng chính vì vậy,“Đề ánchương trình tổng thể nâng cao thể lực và tầm vóc người Việt Nam giai đoạn
2010 – 2030” Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã xác định mục tiêu: “Nângcao tầm vóc và thể trạng người Việt Nam, góp phần phát triển giống nòi, phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” [2].
Mặt khác, nâng cao chất lượng dân số luôn đặt ra yêu cầu phải ổn địnhdân số, hay nói một cách khác: sự ổn định về dân số là một trong những tiêuchí đánh giá kết quả của nâng cao chất lượng dân số Nếu một quốc gia có tỷ
lệ sinh quá thấp, tình trạng già hóa dân số sẽ gây nhiều khó khăn cho việchuy động nhân lực, huy động lực lượng lao động cho phát triển KT – XH,củng cố quốc phòng…; ngược lại một quốc gia có tốc độ tăng dân số quácao, tỷ lệ trẻ sơ sinh giữa nam và nữ quá chênh lệch sẽ dẫn đến những hệ lụykhó lường cho sự phát triển bền vững và sự ổn định xã hội Dịch vụCSSKSS - bằng các dịch vụ cung cấp cho người dân và cộng đồng – luôn cóvai trò hết sức quan trọng trong việc tham gia ổn định dân số, góp phần xâydựng một xã hội ổn định và phát triển bền vững
Thứ tư, dịch vụ CSSKSS góp phần thực hiện và duy trì kết quả thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ, nâng cao khả năng cạnh tranh của nhân lực Việt Nam trong điều kiện mở cửa, hội nhập quốc tế
Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, còn gọi là Mục tiêu Thiên niên kỷ là
8 mục tiêu được 189 quốc gia thành viên Liên hợp quốc nhất trí phấn đấu đạt
Trang 19được vào năm 2015 Những mục tiêu này được ghi trong bản Tuyên ngônThiên niên kỷ của Liên hợp quốc tại Hội nghị thượng đỉnh Thiên niên kỷ diễn
ra từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 9 năm 2000 tại trụ sở Đại hội đồng Liên hợpquốc ở New York, Mỹ
Những năm vừa qua, nhờ có hệ thống chính sách tương đối hoàn thiện
và sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, sự cố gắng, nỗ lực của ngành y
tế nói chung, của lĩnh vực dịch vụ CSSKSS nói riêng công tác CSSKSS vàdịch vụ CSSKSS ở nước ta đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắnglợi mục tiêu thiên niên kỷ và được cộng đồng quốc tế đánh giá cao Cụ thể:công tác CSSKSS và dịch vụ CSSKSS đã trực tiếp góp phần thực hiện thànhcông mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ số 1- giảm suy dinh dưỡng trẻ em dưới
5 tuổi; Mục tiêu thiên niên kỷ số 4 - giảm tử vong trẻ em và Mục tiêu thiênniên kỷ số 5 - giảm tử vong mẹ Hiện nay và những năm tiếp theo, dịch vụCSSKSS tiếp tục có vai trò quan trọng góp phần duy trì và phát huy kết quảthực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ mà chúng ta đã đạt được thời gian qua
Quá trình hội nhập quốc tế, đặc biệt là hội nhập kinh tế quốc tế đã vàđang đặt ra đòi hỏi rất cao đối với chất lượng nhân lực, chất lượng của lựclượng lao động nước ta cả về trí lực và thể lực Đặc biệt, cạnh tranh về nhânlực, về lực lượng lao động trên thị trường sức lao động trong nước, thị trườngsức lao động quốc tế và khu vực sẽ trở nên gay gắt và quyết liệt hơn vào cuốinăm 2015 khi Cộng đồng ASEAN chính thức ra đời và khi Việt Nam chínhthức gia nhập Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương(TPP) Phát triển ngành y tế nói chung, dịch vụ CSSKSS và nâng cao thể lực,tầm vóc của người Việt nam… không chỉ góp phần nâng cao chất lượngnguồn nhân lực, chất lượng lực lượng lao động trong cạnh tranh, phát triểnkinh tế, đảm bảo an sinh xã hội mà còn góp phần thiết thực giúp cho các lĩnhvực hoạt động khác như thể thao nước nhà vươn tới tầm cao của khu vực và
Trang 20quốc tế như các môn: bóng đá, bóng chuyền, quần vợt, cầu lông và các mônđiền kinh khác…
Để nâng cao chất lượng nhân lực, chất lượng lực lượng lao động, nângcao thể lực và tầm vóc của người Việt Nam đòi hỏi sự vào cuộc của cả cộngđồng, của hệ thống chính trị, trong đó, dịch vụ CSSKSS luôn có vai trò và vịtrí đặc biệt quan trọng “Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ
2010 - 2020” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã xác định mục tiêu tổngquát: “Đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng nhất
để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội, nângtrình độ năng lực cạnh tranh của nhân lực nước ta lên mức tương đương cácnước tiên tiến trong khu vực, trong đó một số mặt tiếp cận trình độ các nướcphát triển trên thế giới”[17]
Thứ năm, dịch vụ CSSKSS góp phần giữ vững ổn định xã hội, củng cố hạnh phúc gia đình và thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Quá trình phát triển kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập quốc tế và khuvực bên cạnh những tác động tích cực, luôn kèm theo những tác động tiêucực, trong đó có các vấn đề như sinh con trước tuổi thành niên, mang thaingoài ý muốn ở vị thành niên; đặc biệt là các hủ tục như: tảo hôn, kết hôn cậnhuyết thống và các tệ nạn xã hội: mại dâm, môi giới mại dâm…đã và đang lànhững nhân tố ảnh hưởng đến sự ổn định xã hội và chất lượng của nòi giống.Dịch vụ CSSKSS với các hoạt động tuyên truyền, vận động, CSSK vị thànhniên và các dịch vụ khám chữa bệnh… sẽ góp phần phòng ngừa, ngăn chặn và
xử lý có hiệu quả các bệnh lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt là ngănchặn, đẩy lùi và khắc phục hậu quả của đại dịch HIV/AIDS
Với các gia đình, dịch vụ CSSKSS tổ chức cung cấp các dịch vụ sànglọc bệnh, tật trước sinh và sơ sinh; tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ SKSS
và KHHGĐ cho người dân, đặc biệt là các gói dịch vụ thiết yếu như: Làm mẹ
Trang 21an toàn và chăm sóc sơ sinh; KHHGĐ; dự phòng nạo phá thai và quản lý biếnchứng; dự phòng và điều trị nhiễm khuẩn đường sinh sản, vô sinh, hiếmmuộn…sẽ góp phần củng cố hạnh phúc gia đình và thông qua đó, góp phầnphát triển một xã hội phồn vinh, hạnh phúc Thực tế những năm qua, dịch vụCSSKSS thông qua việc cung cấp các phương pháp điều trị hiếm muộn… đãmang lại hạnh phúc cho rất nhiều gia đình, nhiều cặp bố - mẹ trên khắp cácvùng miền của Tổ quốc và đó cũng là sự thể hiện sinh động nhất tính nhânvăn, tính ưu việt của xã hội ta trong điều kiện phát triển kinh tế thị trườngđịnh hướng XHCN và mở cửa, hội nhập quốc tế.
1.2 Quan niệm, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản ở các huyện phía Tây thành phố Hà Nội
1.2.1 Quan niệm, nội dung phát triển dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
* Quan niệm phát triển dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
Phát triển dịch vụ CSSKSS là tất yếu khách quan ở nước ta trong giaiđoạn hiện nay, bởi sự phát triển của các dịch vụ này một mặt vừa bảo đảmcho việc nâng cao sức khỏe cho người dân, mặt khác vừa bảo đảm cho sựphát triển kinh tế - xã hội ổn định của đất nước Các dịch vụ CSSKSS pháttriển mạnh và bền vững sẽ là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Chăm sóc SKSS là một trong những nội dung quan trọng trong côngtác chăm sóc sức khỏe nhân dân, vì vậy, việc định hướng và đầu tư cho sựphát triển của các dịch vụ này cần phải đặt trong mối quan hệ tổng thể với cácnhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Từ những phân tích trên có thể hiểu: Phát triển dịch vụ CSSKSS là tổng thể các kế hoạch, chương trình, biện pháp, cách thức do các chủ thể tổ chức thực hiện để cung cấp các loại hình dịch vụ CSSKSS cho nhân dân nhằm phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng dân số, phát triển giống nòi; góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH và xây dựng xã hội “Dân
Trang 22giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Dịch vụ CSSKSS là một loại hình dịch vụ đặc thù Phát triển dịch vụCSSKSS ở nước ta là một hoạt động có tổ chức, có định hướng, đặt dưới sựlãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN
XHCN, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, xây dựng một xã hội “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Chủ thể phát triển dịch vụ CSSKSS:
Chủ thể phát triển dịch vụ CSSKSS là Đảng và Nhà nước, lãnh đạochính quyền các cấp ở địa phương, các đoàn thể nhân dân Trong đó, chủ thểtrực tiếp, nòng cốt và quan trọng nhất ngành y tế, các cơ sở y tế và đội ngũ y,bác sỹ thuộc các thành phần kinh tế; đội ngũ hộ sinh, đội ngũ cộng tác viên
DS – KHHGĐ ở các tỉnh thành, địa phương (đặc biệt là ở tuyến cơ sở)
Đối tượng tiếp nhận và thụ hưởng dịch vụ CSSKSS:
Đối tượng tiếp nhận và thụ hưởng dịch vụ CSSKSS là người dân, đặcbiệt và chủ yếu là bộ phận người dân trong tuổi sinh đẻ (từ 15 đến 49 tuổi).Mặc dù vậy, người dân không chỉ là đối tượng tiếp nhận, sử dụng dịch vụCSSKSS một cách thụ động, họ còn có trách nhiệm và nghĩa vụ nâng cao
Trang 23nhận thức, hiểu biết về SKSS, tích cực, chủ động tham gia chăm sóc SKSScho bản thân, gia đình, con cháu và cộng đồng Xét ở góc độ đó, người dânvừa là đối tượng, đồng thời cũng là một chủ thể quan trọng của phát triển dịch
vụ CSSKSS
Phương thức huy động các nguồn lực cho phát triển dịch vụ CSSKSS:
Phương thức huy động nguồn lực cho phát triển dịch vụ CSSKSSthông qua: Đầu tư của Nhà nước, đầu tư của địa phương, đầu tư của cácthành phần kinh tế (cơ sở khám chữa bệnh tư nhân), của các cá nhân, đầu tưcủa các tổ chức phi chính phủ (NGO) trong và ngoài nước, của các nhà hảotâm, các “mạnh thường quân” và sự hỗ trợ, giúp đỡ (thường theo các Dự án,Chương trình) của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), cơ quan y tế của các nước,vùng lãnh thổ
Hình thức, con đường, biện pháp để phát triển dịch vụ CSSKSS là bằngnhiều hình thức, con đường, biện pháp để thu hút và sử dụng có hiệu quả cácnguồn lực để phát triển dịch vụ CSSKSS về số lượng, quy mô, chất lượng và
cơ cấu các loại hình dịch vụ từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, kếthợp truyền thống với hiện đại, đi tắt đón đầu đi hướng vào hiện đại ở nhữngloại hình dịch vụ CSSKSS mà Việt Nam có lợi thế tiềm năng về đội ngũ y,bác sĩ, cán bộ y tế, cơ sở vật chất kỹ thuật
* Nội dung phát triển dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản ở các huyện phía Tây, thành phố Hà Nội
Cũng như các loại dịch vụ khác, dịch vụ CSSKSS có nội dung pháttriển tương đối toàn diện cả về số lượng, quy mô; chất lượng và cơ cấu để đápứng yêu cầu nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho người dân nói chung và chămsóc SKSS nói riêng Theo đó, nội dung phát triển dịch vụ CSSKSS bao gồm:
Thứ nhất, phát triển dịch vụ CSSKSS về số lượng, quy mô
Phát triển dịch vụ CSSKSS về số lượng trước hết là sự gia tăng về sốlượng các cơ sở y tế nói chung và các cơ sở y tế thực hiện dịch vụ CSSKSS
Trang 24nói riêng ở tất cả các tuyến: ở tuyến tỉnh (thành phố) và Trung ương là cácbệnh viện trong đó có các bệnh viện đa khoa, hoặc chuyên khoa như: bệnhviện phụ sản, bệnh viện nhi (hoặc bệnh viện Sản-Nhi) và các trung tâmCSSKSS….Các bệnh viện đa khoa tuyến Trung ương và tuyển tỉnh (thànhphố) được quan tâm, đầu tư phát triển các khoa chuyên ngành, liên quan trựctiếp đến cung cấp dịch vụ CSSKSS như: khoa phụ sản, khoa nhi, khoa sơsinh, khoa hiếm muộn, khoa nam học Ở tuyến huyện có: các bệnh việnhuyện, trung tâm y tế, trung tâm y tế dự phòng…; ở tuyến xã là các trạm y tế,nhà hộ sinh Quá trình phát triển KT- XH của đất nước, thực trạng của ngành
y tế và nhu cầu khám chữa bệnh của người dân, trong đó có nhu cầu vềCSSKSS đã và đang đặt ra yêu cầu lớn về phát triển số lượng các cơ sở y tếnói chung và các cơ sở y tế thực hiện CSSKSS nói riêng Để phát triển các cơ
sở y tế, bên cạnh sự quan tâm, đầu tư của Nhà nước, cần phải khuyến khích,tạo điều kiện cho sự tham gia của các thành phần kinh tế, của các nhà đầu tưtrong, ngoài nước và của các cá nhân
Nhu cầu về chăm sóc SKSS đang có xu hướng tăng, vì vậy, mà việc mởrộng phát triển các cơ sở đó cả về số lượng và quy mô là rất quan trọng Pháttriển về số lượng là phát triển về quy mô, số lượng dịch vụ y tế CSSKSS Một
số xã miền núi huyện Ba Vì đã đẩy mạnh các chiến dịch chăm sóc sức khỏesinh sản - kế hoạch hóa gia đình đạt và vượt các chỉ tiêu đề ra, nhiều xã có chỉtiêu đạt cao là Ba Trại, Minh Quang, Tản Lĩnh, Khánh Thượng Thành phố
Hà Nội đã triển khai đồng loạt nhiều hoạt động chăm sóc sức khỏe sinh sảnthông qua việc cung cấp kiến thức và dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản,góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân trong thời gian vừaqua Bên cạnh các chương trình giảng dạy giới tính ở sách giáo khoa, Trungtâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình quận Hà Đông đã tư vấn, khám, siêu âmmiễn phí, chăm sóc sức khỏe sinh sản cho các bạn trẻ trên địa bàn Quận
Các huyện phía Tây thành phố Hà nội đã có 17 Câu lạc bộ chăm sóc
Trang 25sức khỏe sinh sản đã được thành lập ở các xã, thị trấn như: Hoàng Văn Thụ,Trung Hòa, Xuân Mai, Chúc Sơn, Đông Sơn, Thanh Bình, Hợp Đồng, ĐồngPhú,… ở huyện Chương Mỹ, với các hoạt động chăm sóc sức khỏe phụ nữ,sức khỏe bà mẹ; kế hoạch hóa gia đình, phá thai an toàn; phòng, chống cácbệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục; chămsóc SKSS vị thành niên; dự phòng điều trị vô sinh, điều trị sớm ung thưđường sinh sản…nhờ có những dịch vụ như trên mà trung tâm đã trở thànhđịa chỉ đáng tin cậy của nhiều chị em phụ nữ, nơi đây thực sự đem đến sự yêntâm và tin cậy cho chị em phụ nữ trong CSSKSS Trong năm 2014 Trung tâmphối hợp với Trung tâm DS-KHHGĐ với huyện Chương Mỹ thực hiện hiệu quảchiến dịch truyền thông lồng ghép cung cấp dịch vụ SKSS-KHHGĐ tại 15 xãtrong huyện Công tác quản lý thai nghén được duy trì thường xuyên ở tất cả các
xã, phường, thị trấn trên địa bàn huyện Khám, chăm sóc thai cho các bà mẹ cóthai, phát hiện sớm và tư vấn chăm sóc thai nghén, kịp thời nắm bắt nhữngtrường hợp thai nguy cơ cao để có biện pháp ngăn ngừa và gửi tuyến trên kịpthời Công tác chăm sóc sức khỏe vị thành niên cũng được Trung tâm duy trì,triển khai các chương trình mục tiêu Y tế Quốc gia một cách hiệu quả HuyệnThanh Oai đã tổ chức khám và chăm sóc sức khỏe sinh sản cho trên 10 nghìnlượt phụ nữ, trong đó phát hiện và điều trị cho gần 6.000 phụ nữ viêm nhiễmđường sinh sản Các xã miền núi huyện Ba Vì cũng đẩy mạnh các chiến dịchCSSKSS Khám và cấp thuốc miễn phí cho 2.800 phụ nữ thuộc các xã miềnnúi, các xã khó khăn và có tỷ lệ viêm nhiễm phụ khoa cao
Phát triển dịch vụ CSSKSS còn được thể hiện ở số lượng các loại hìnhdịch vụ có và sẵn sàng cung cấp cho người dân Hiện nay ở nước ta, việc tổchức cung cấp các loại hình dịch vụ CSSKSS được thực hiện theo phươngthức phân cấp, phân tuyến kỹ thuật, kết hợp với ưu tiên xây dựng và hỗ trợ hệthống chuyển tuyến thích hợp Đảm bảo cung cấp các gói dịch vụ DS -KHHGĐ và SKSS thiết yếu ở tất cả các tuyến, đặc biệt là tuyến cơ sở Tuyến
Trang 26huyện tập trung tăng cường các loại hình dịch vụ cấp cứu sản khoa, nhi khoa,
hỗ trợ kỹ thuật cho tuyến xã bằng nhiều hình thức bao gồm cả đội lưu động.Tuyến tỉnh tập trung tăng cường các dịch vụ sàng lọc, chẩn đoán ung thư,chẩn đoán và điều trị vô sinh, hỗ trợ kỹ thuật cho tuyến huyện và xã Tuyếntrung ương tập trung tăng cường nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ mới,tiên tiến, cung cấp các dịch vụ kỹ thuật cao, hỗ trợ kỹ thuật và chuyển giaocông nghệ cho tuyến tỉnh Yêu cầu CSSKSS của người dân và quá trình mởcửa, hội nhập quốc tế đặt ra nhu cầu đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việcđầu tư tăng số lượng các loại hình dịch vụ CSSKSS ở tất cả các tuyến, đặcbiệt là ở tuyến cơ sở trong những năm tiếp theo
Dịch vụ CSSKSS là một lĩnh vực đặc thù, nên phát triển dịch vụ này về
số lượng còn là sự gia tăng về số lượng của đội ngũ y, bác sỹ, lực lượng nữ hộsinh và đội ngũ tình nguyện viên DS – KHHGĐ Bởi nếu số lượng các cơ sở y
tế tăng lên, số lượng các loại hình dịch vụ CSSKSS phát triển nhưng sự thiếuhụt về đội ngũ thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ CSSKSS sẽ gây rất nhiềukhó khăn công tác quan trọng này
Hai là, phát triển dịch vụ CSSKSS về chất lượng
Chất lượng dịch vụ CSSKSS cung ứng cho người dân luôn có vị trí vàvai trò đặc biệt đồng thời cũng là một tiêu chí quan trọng đánh giá kết quảdịch vụ CSSKSS, chính vì vậy, phát triển dịch vụ CSSKSS là một nội dungđược quan tâm, đầu tư của mọi chủ thể, trước hết là Nhà nước
Phát triển dịch vụ CSSKSS về chất lượng trước hết là nâng cao chấtlượng của các loại hình dịch vụ cung cấp cho người dân Thực hiện tốt yêucầu: nhanh chóng, tiện lợi và an toàn Nâng cao chất lượng dịch vụ CSSKSScòn thể hiện ở việc nâng cao chất lượng các loại thuốc điều trị; chất lượng cácdụng cụ liên quan đến SKSS, KHHGĐ cung cấp cho người sử dụng Chấtlượng dịch vụ CSSKSS được đánh giá thông qua các tiêu chí định lượng vàđịnh tính Một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng dịch vụ
Trang 27CSSKSS chính là mức độ hài lòng của người dân với những dịch vụ mà họđược tiếp cận và hưởng thụ Một cơ sở y tế nói chung và cơ sở dịch vụCSSKSS nói riêng không thể có chất lượng dịch vụ cao, nếu cơ sở đó bịngười dân quay lưng, chối bỏ!
Phát triển dịch vụ CSSKSS về chất lượng còn là nâng cao chất lượngdịch vụ ở tất cả các tuyến, đặc biệt là tuyến cơ sở Hiện nay, tình trạng sửdụng dịch vụ y tế nói chung và dịch vụ CSSKSS ở tuyến cơ sở rất thấp.Ngược lại, cơ sở y tế tuyến trên ngày càng quá tải Người dân có tình trạng bỏqua dịch vụ ở tuyến dưới, và đi thẳng lên tuyến trên do không tin tưởng vàochất lượng dịch vụ ở tuyến dưới, dẫn đến tình trạng quá tải ở tuyến trên Nhưvậy chất lượng dịch vụ ở tuyến trên sẽ có nguy cơ bị giảm sút do quá tải vàchất lượng ở tuyến dưới sẽ không thể cải thiện được do không có bệnh nhân
Phát triển dịch vụ CSSKSS về chất lượng phụ thuộc một phần rất lớnvào chất lượng cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế phục vụ chẩn đoán, điều trịbệnh nhân, sự tiến bộ của các phương pháp điều trị; áp dụng các tiến bộ khoahọc nhất là các tiến bộ về y học trong CSSKSS Đặc biệt, chất lượng dịch vụCSSKSS được quyết định bởi chất lượng chất lượng nhân lực của dịch vụnày Chất lượng nguồn nhân lực của dịch vụ CSSKSS bao gồm thể lực, trílực, lòng yêu nghề, ý thức trách nhiệm, ý thức kỷ luật và y đức của cán bộ y
tế, đội ngũ các y bác sĩ, hộ sinh và đội ngũ tình nguyện viên DS – KHHGĐ…Chất lượng đó thể hiện rõ ở tình trạng sức khỏe, thể chất, sức chịu đựng áplực công việc, cách xử lý các tình huống trong điều kiện làm việc căng thẳngcủa mỗi cá nhân Trong đó, đặc biệt quan trọng là đạo đức của đội ngũ y, bác
sĩ nó thể hiện tư tưởng tình cảm, lối sống, hành động, phong cách đối xử với
bệnh nhân, với đồng nghiệp, đây cũng là cơ sở, điều kiện để xây dựng tìnhcảm thân thiện, gần gũi giữa bệnh nhân với bác sĩ, góp phần vào việc nângcao chất lượng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đổi mới phong cách phục vụ
Trang 28tăng cường sự hài lòng của người bệnh, trong đó có dịch vụ chăm sóc SKSScho chị em phụ nữ
Chất lượng cán bộ, nhân viên y tế, đội ngũ y bác sĩ, nhân lực trong lĩnhvực dịch vụ này là y thuật và y đức “ lương y như từ mẫu” Chất lượng độingũ y bác sĩ được đánh giá thông qua các tiêu chí về đào tạo như điều dưỡng,bác sỹ, chuyên khoa cấp I, cấp II, thạc sĩ, tiến sĩ, học hàm phó giáo sư, giáo
sư Y đức thể hiện ở phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, quan hệ ứng xửvới bệnh nhân
Ba là, phát triển dịch vụ CSSKSS về cơ cấu
Phát triển cơ cấu dịch vụ CSSKSS trước hết là phát triển về cơ cấu vốnđầu tư để phát triển hệ thống mạng lưới y tế và các cơ sở y tế; phát triển cácloại hình DVCSSKSS như các loại hình dịch vụ CSSKSS chất lượng cao Đadạng hóa, không ngừng làm phong phú nội dung và hình thức tuyên truyền,các hoạt động tư vấn CSSKSS.Thực hiện đa dạng hoá các biện pháp tránhthai Phát triển đa dạng các hình thức phục vụ như: khám, chữa bệnh theo yêucầu, cung cấp các tiện nghi theo yêu cầu; điều trị cố định tại các cơ sở y tế, cơ
sở dịch vụ CSSKSS, tổ chức các đội, đợt điều trị lưu động; điều trị tại nhà;yêu cầu thêm chăm sóc của Bác sỹ hay y tá Đa dạng hóa cơ cấu các loạithuốc, các dụng cụ, các gói dịch vụ có thể thay thế cho nhau…
Cơ cấu dịch vụ CSSKSS là cách thức tổ chức các thành phần nhằmthực hiện các chức năng của chính thể các loại hình dịch vụ mà nó cung cấpcho người tiêu dùng Cơ cấu dịch vụ CSSKSS là tổng thể các loại hình dịch
vụ hợp thành được thể hiện thông qua quan hệ tỷ lệ giữa chúng với nhau Nóicách khác, phát triển dịch vụ CSSKSS về cơ cấu là tạo ra sự thay đổi cấu trúcnội tình hiện có theo hướng tiên tiến
Những dịch vụ đó hoạt động thông qua công tác lãnh đạo của đảng bộ,chính quyền địa phương, của ngành y tế (sở, phòng y tế) đến các đối tượng cụ
Trang 29thể đang hoạt động cung cấp dịch vụ CSSKSS bằng nhiều biện pháp, cáchthức trực tiếp, gián tiếp tác động vào lợi ích của các chủ thể trên về cung cấpdịch vụ này Phát triển dịch vụ CSSKSS về cơ cấu được đánh giá thông quacác tiêu chí như cơ cấu vốn đầu tư (nhà nước, tư nhân, các tổ chức chính phủ,phi chính phủ); cơ cấu hệ thống mạng lưới y tế, cơ cấu cung cấp dịch vụ , cơcấu các loại hình dịch vụ CSSKSS Đa dạng các hoạt động tư vấn; các biệnpháp điều trị, đa dạng các hình thức phục vụ
1.2.2 Các nhân tố ảnh hướng đến phát triển dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
Một là, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước liên quan đến phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe của nhân dân trong đó có sức khỏe sinh sản
Đây là nhân tố cơ bản, rất quan trọng tác động trực tiếp đến sự pháttriển của các dịch vụ CSSKSS, nó là tổng thể những cách thức, biện pháp màĐảng, Nhà nước, Lãnh đạo chính quyền thành phố Hà Nội và các cơ quanchức năng có liên quan cùng tiến hành để làm cho dịch vụ đó được tốt hơn,phục vụ có hiệu quả nhu cầu của nhân dân về khám, chữa bệnh nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước Với đường lối, chính sách tiến bộ vì con người Đảng, Nhà nước ta
đã có những chủ trương, biện pháp sát hợp để đảm bảo cho những dịch vụCSSKSS phát triển thực sự là địa chỉ tin cậy để cho mỗi người dân đến khámchữa bệnh, không chỉ có vậy, mà còn chỉ đạo sở Y tế tiến hành mở rộngnhững cơ sở CSSKSS bảo đảm cho mọi người tiếp cận thuận lợi, nâng caochất lượng khám chữa bệnh
Đặc biệt, UBND thành phố Hà Nội và Sở Y tế Thành phố đóng vai tròquan trọng trong định hướng cho phát triển các dịch vụ CSSKSS thông quaviệc ban hành các cơ chế, chính sách, định hướng cho các cơ sở dịch vụ đóphát triển theo đúng tôn chỉ, mục đích trên cơ sở những quy định của pháp luật
Trang 30Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 – 2020, Đảng ta chủ trươngtập trung phát triển một số ngành dịch vụ có lợi thế, có hàm lượng tri thức vàcông nghệ cao, trong đó có dịch vụ y tế CSSKSS là một loại hình dịch vụ đòihỏi phải đầu tư hàm lượng tri thức và công nghệ cao, nên phải có sự quan tâmđầu tư rất lớn của nhà nước, của xã hội vì nó trực tiếp liên quan đến chấtlượng dân số, chất lượng nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội củađất nước và mỗi địa phương Vì vậy, chính sách đúng đắn, nhất quán và đồng
bộ của Đảng, Nhà nước là một trong những nhân tố tác động trực tiếp đến sựphát triển của dịch vụ này Các chính sách như bảo hiểm y tế, khám, chữabệnh, viện phí… được thực hiện đồng bộ, phù hợp là cơ sở tốt để bảo đảm sựcông bằng xã hội, quan tâm đầy đủ hơn, tạo điều kiện tốt hơn trong chínhsách khác, chữa bệnh với các đối tượng chính sách, người nghèo, phụ nữ, trẻ
em, người dân tộc thiểu số…
Hai là, nguồn nhân lực, lực lượng lao động trực tiếp trong lĩnh vực dịch vụ CSSKSS (đội ngũ y bác sĩ, nhân viên y tế, người phục vụ)
Nguồn nhân lực chính là nhân tố cơ bản quyết định đến sự phát triển củacác dịch vụ CSSKSS Chất lượng nguồn nhân lực trong ngành y ảnh hưởngtrực tiếp đến chất lượng khám và điều trị bệnh Vì vậy chất lượng đội ngũ y,bác sĩ, cán bộ y tế phải được quan tâm, hướng dẫn Nước ta có nguồn lao độngtương đối dồi dào, lao động trẻ, khỏe có trình độ, vì vậy, việc lựa chọn nhữngcán bộ y tế để phục vụ cho việc phát triển các dịch vụ CSSKSS cần phải đượcquan tâm hàng đầu, đây sẽ là đội ngũ thường xuyên khám, chữa bệnh chongười dân, hơn lúc nào hết phải đào tạo cho được đội ngũ bác sĩ không chỉ cótrình độ chuyên môn mà cần phải nâng cao đạo đức của ngành y
Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập mở cửa vào nền kinh tếthế giới thì việc xắp xếp, bố trí, lựa chọn và sử dụng những cán bộ y tế tâmhuyết với nghề là rất cần thiết, đặc biệt với đội ngũ y bác sĩ làm công tácCSSKSS cần phải làm tốt công tác tư vấn cho người bệnh để họ hiểu được
Trang 31những việc gì cần làm và không nên làm trong sinh hoạt đời sống cũng nhưsinh hoạt ngoài xã hội
Việc phát huy nguồn nhân lực phục vụ cho việc phát triển các dịch vụCSSKSS không chỉ thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước mà còn nói lêntinh thần thái độ trách nhiệm của đội ngũ này với công việc mà mình đảmnhận, do vậy, việc thu hút người tài và có những cơ chế, chính sách đúng đắn,kịp thời, hiệu quả sẽ là động lực để phát triển các dịch vụ CSSKSS nói riêng
và phát triển ngành y tế nói chung
Ba là, trình độ phát triển của y học, sự phát triển của khoa học công nghệ, nhất là khoa học công nghệ trong y học
Việc phát triển của bất kỳ ngành nào, lĩnh vực nào cũng cần đến khoahọc công nghệ hiện đại, đối với các dịch vụ CSSKSS của người dân lại càngcần thiết hơn bao giờ hết, bởi đây sẽ là điều kiện bảo đảm cho các dịch vụ đótồn tại và phát triển Nhờ việc áp dụng những tiến bộ của khoa học công nghệhiện đại vào việc thăm khám, chữa bệnh cho người dân mà chất lượng đãđược bảo đảm Sở Y tế Hà Nội và các trung tâm đã tiến hành mua sắm trangthiết bị y tế hiện đại và thay thế những trang thiết bị y tế đã lỗi thời lạc hậu,không đủ tiêu chuẩn
Nhiều công nghệ khoa học tiên tiến đã được áp dụng vào trong dịch vụCSSKSS như xét nghiệm, điều trị bệnh, với khoa học - kỹ thuật hiện đại đãgóp phần quan trọng vào việc giảm thiểu số người mắc bệnh và ngược lại
Bốn là, trình độ dân trí, phong tục tập quán, văn hóa truyền thống của địa phương, tác dụng của các phương tiện truyền thông về CSSKSS
Các nhân tố này tuy không giữ vai trò quyết định nhưng có ảnh hưởngkhông nhỏ đến sự phát triển của dịch vụ CSSKSS, sự hiểu biết của người dân
về sức khỏe sinh sản sẽ có nhiều lựa chọn đúng đắn để sử dụng các loại hình
Trang 32dịch vụ như các biện pháp tranh thai an toàn Các huyện phía Tây thành phố
Hà Nội là nơi sinh sông của đồng bào nhiều dân tộc khác nhau, chính vì vậy,việc phá bỏ những mặc cảm, phong tục tập quán lạc hậu của địa phương sẽtạo điều kiện cho người dân cởi mở hơn trong tiếp cận các dịch vụ CSSKSS,nâng cao chất lượng dân số Điều này lại phụ thuộc vào việc tuyên truyền,giáo dục thông qua các phương tiện truyền thông, Sự hiểu biết của người dân
về SKSS phần lớn được thực hiện bởi các phương tiện truyền thông Đặc biệt,với các địa phương phía Tây Hà Nội, nhiều nơi trình độ dân trí còn khá thấpthì việc phổ biến để nâng cao hiểu biết của người dân về SKSS qua cácphương tiện truyền thông có hiệu quả tốt
Năm là, giá cả dịch vụ, cung - cầu, cạnh tranh trong thị trường dịch
vụ y tế nói chung và CSSKSS nói riêng có tác động lớn đến sự phát triển của loại hình dịch vụ này
Dịch vụ CSSKSS trong điều kiện kinh tế thị trường không thể khôngtính đến sự tác động của các yếu tố giá cả dịch vụ, cung-cầu, cạnh tranh….Trên thị trường dịch vụ này sự thay đổi của giá cả dịch vụ CSSKSS là tín hiệu
để các cơ sở y tế thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển dịch vụ nào,hạn chế đầu tư phát triển dịch vụ nào; đồng thời giá cả cũng là tín hiệu tốt đểngười dân lựa chọn các cơ sở y tế cung cấp dịch vụ phù hợp với yêu cầukhám, điều trị bệnh, thu nhập của cá nhân Giá cả lại phụ thuộc vào chi phísản xuất dịch vụ, phụ thuộc vào cung-cầu về dịch vụ, sự cạnh tranh giữa các
cơ sở y tế cung cấp dịch vụ Vì vậy, các nhân tố giá cả, cung – cầu, cạnh tranhtrong dịch vụ CSSKSS có tác động lớn đến sự phát triển hay thu hẹp, các loạihình dịch vụ CSSKSS ở mỗi địa phương nói chung và các địa phương phíaTây thành phố nói riêng trong một thời gian nhất định
*
Trang 33* *Phát triển dịch vụ CSSKSS có vai trò quan trọng nâng cao chất lượngcuộc sống của nhân dân bảo đảm cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước; góp phần vào việc huy động các nguồn lực từ bên ngoài vào làm việc;góp phần giảm tải ở các bệnh viện lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho người bệnhtrong quá trình khám, chữa bệnh; tạo ra khả năng cạnh tranh cho các dịch vụtrong công tác phát triển các dịch vụ CSSKSS.
Phát triển dịch vụ CSSKSS ở các huyện phía tây thành phố Hà Nội làmột nội dung quan trọng của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước Phát triển dịch
vụ CSSKSS là tổng thể các biện pháp, cách thức do các chủ thể mà nòng cốt
là các cơ sở y tế, đội ngũ y, bác sĩ tổ chức thực hiện nhằm cung cấp các lọaihình dịch vụ CSSKSS cho nhân dân nâng cao chất lượng dân số và nguồn
nhân lực góp phần phát triển kinh tế - xã hội
Phát triển dịch vụ CSSKSS bao gồm những nội dung: phát triển về sốlượng, quy mô cơ sở dịch vụ CSSKSS; chất lượng dịch vụ phải đảm bảo tínhtiện ích, tính an toàn; bảo đảm sức khỏe cho người sử dụng, đồng thời nângcao chất lượng phục vụ đáp ứng nhu cầu đa dạng của nhân dân; trình độ pháttriển của y học, sự phát triển của khoa học công nghệ, nhất là khoa học côngnghệ trong y học
Phát triển dịch vụ CSSKSS chịu sự chi phối tác động bởi các nhân tố:Đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà Nước liên quan đến phát triển y
tế, chăm sóc sức khỏe của nhân dân trong đó có sức khỏe sinh sản; nguồn nhânlực, lực lượng lao động trực tiếp trong lĩnh vực dịch vụ CSSKSS (đội ngũ ybác sĩ, nhân viên y tế, người phục vụ); trình độ phát triển của y học, sự pháttriển của khoa học công nghệ, nhất là khoa học công nghệ trong y học;trình
độ dân trí, phong tục tập quán, văn bản truyền thông của địa phương, tác dụng
Trang 34của các phương tiện truyền thông về CSSKSS; giá cả dịch vụ, cung - cầu,cạnh tranh trong thị trường dịch vụ y tế nói chung và CSSKSS nói riêng cótác động lớn đến sự phát triển của loại hình dịch vụ này.
Trang 35Khu vực phía Tây Hà Nội thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng là mộtđịa bàn tương đối phức tạp, gồm có 14 quận, huyện, thị xã; 327 xã, phường, thịtrấn Địa hình 3 vùng: Đồng bằng, Trung du, Miền núi (14 xã miền núi).
Đặc điểm về tự nhiên
Với diện tích khoảng 1000 km2 Theo số liệu thống kê chính thức, dân
số khu vực phía Tây thành phố Hà Nội có có khoảng 2,99 triệu người sinhsống với mật độ dân số 1.250 người/km2, có nơi lên đến 2.700 người/km2 nhưquận Hà Đông Gồm 06 dân tộc: Kinh, Dao, Mường, Tày, Thái, Hoa Dân tộcKinh chiếm trên 98 %
Các huyện phía Tây Hà Nội nông nghiệp chiếm 60-75 %, có nhiều làngnghề, nhiều khu công nghiệp và du lịch đã và đang phát triển Địa hình vừa cóvùng núi lại có đồng bằng chiêm trũng và đồi gò sản xuất nông nghiệp làchính nên thu nhập thấp, môi trường và đặc biệt nguồn nước bị ô nhiễm dẫntới tỷ lệ phụ nữ mắc bệnh phụ khoa cao, bệnh lây truyền qua đường tình dục.Nhu cầu về Chăm sóc sức khỏe sinh sản toàn diện và chất lượng đòi hỏi ngàycàng cao, có nhiều vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa cần được ưu tiên nhằmgiảm các tai biến sản khoa, tử vong mẹ, tử vong sơ sinh và giảm tỷ lệ suydinh dưỡng trẻ em
Đặc điểm về kinh tế
Trang 36Là khu vực mới được sát nhập vào thành phố Hà Nội, nhưng kinh tế khuvực phía tây thành phố Hà Hội phát triển khá ổn định với tốc độ tăng trưởng cao,theo báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội tháng 10 năm 2012 thì tốc độtăng trường GDP hàng năm đạt 5,5% Đầu tư ngân sách vào các ngành kinh tếtiếp tục tăng, đồng thời tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài đã tạo cơ hội việclàm cho người dân Trong lĩnh vực công nghiệp, Thành phố đã từng bước xâydựng, sắp xếp lại sản xuất, đổi mới cơ chế quản lý theo hướng đề cao vai trò tựchủ của doanh nghiệp; đổi mới trang thiết bị công nghệ, tăng năng suất và chấtlượng sản phẩm, mở rộng thị trường nhiều doanh nghiệp đã trụ vững trướcnhững biến động của tình hình thế giới và trong nước
Theo báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội tháng 8.2008 đến nay,tổng sản phẩm nội địa (GDP) tăng 7,9% Trong đó: Giá trị tăng thêm ngànhnông - lâm nghiệp - thủy sản tăng 0,6%; giá trị tăng thêm ngành xây dựng6,6%; giá trị tăng thêm ngành dịch vụ 1,3%
Trong những năm gần đây, khu vực đã có những bước phát triển vượtbậc về kinh tế và xã hội Kinh tế khu vực liên tục tăng trưởng với tốc độ khácao Quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng nôngthôn mới tại các địa phương phía Tây thành phố Hà Nội đã thúc đẩy quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, phân bố lao động giữa các vùng;trình độ dân trí và đời sống của người dân dần được nâng cao (thu nhập thực
tế của dân cư gấp khoảng 3,5 lần so với năm 2008) như Huyện: Đan Phượng,Hoài Đức, Quốc Oai, Thường Tín, Thị xã Sơn Tây, Hà Đông
Bên cạnh đó, có một số huyện tốc độ phát triển kinh tế chậm nhất là cáchuyện vùng sâu, xa như : huyện Ba Vì, Mỹ Đức, Thạch Thất, Phú Xuyên
Đặc điểm về xã hội (năm 2014)
Dân số : 2.998.335 người
Phụ nữ trên và bằng 15 tuổi: 1.085.506 người; chiếm tỷ lệ 36,2%
Trang 37Phụ nữ 15 đến 49 tuổi : 755.435 người tỷ lệ 25 %; phụ nữ 15 đến 49 tuổi có chống: 542.085 người tỷ lệ 18% ; trẻ em dưới 5 tuổi: 295.505 trẻ; Trẻ
em dưới 2 tuổi: 118.005; Số đẻ năm 2014: 52.984
Trang 38Từ những đặc điểm trên, công tác phát triển dịch vụ CSSKSS ở các huyệnphía Tây thành phố Hà Nội có những thuận lợi, khó khăn cơ bản sau đây:
* Thuận lợi
Một là, sau khi sáp nhập về Thủ đô Hà Nội – Trung tâm kinh tế, chính
trị, văn hóa của cả nước – các huyện phía Tây Thành phố có điều kiện trựctiếp nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ của Trung ương và của Thành phố, đặc biệt
là sự giúp đỡ của các cơ sở y tế, các trường đào tạo của ngành y, các trungtâm nghiên cứu y học quốc gia… cũng như sự giúp đỡ quốc tế trong phát triểndịch vụ CSSKSS cho người dân trên địa bàn
Hai là, mặc dù còn có những khó khăn nhất định, nhưng những năm
gần đây tiềm lực kinh tế ở các huyện phía Tây Thành phố đã từng bước đượctăng cường; nhận thức của lãnh đạo chính quyền các cấp và của người dân,của cộng đồng về CSSK nói chung và CSSKSS nói riêng đã được nâng lênchính là điều kiện thuận lợi trong huy động các nguồn lực cho phát triển dịch
vụ CSSKSS
Ba là, địa bàn các huyện phía Tây Thành phố (đặc biệt là ở 14 xã miền
núi) có thể phát triển nhiều loại cây dược liệu, là nơi có nhiều bài thuốc giatruyền quý và đội ngũ lương y chữa trị bệnh theo phương pháp cổ truyền đôngđảo đây điều kiện rất quan trọng để có thể kết hợp giữa y học hiện đại với yhọc cổ truyền trong phát triển dịch vụ khám chữa bệnh nói chung và pháttriển dich vụ CSSKSS nói riêng
* Khó khăn
Một là, một bộ phận dân cư (đặc biệt là người dân tộc thiểu số) trình
độ dân trí còn thấp, lại bị tác động bởi những hủ tục văn hóa lạc hậu…đã vàđang là cản trở không nhỏ tới sự tiếp cận của người dân với dịch vụ CSSKSS
Hai là, thu nhập của người dân ở các huyện phía Tây thành phố Hà Nội
nhìn chung còn thấp so với mặt bằng thu nhập chung của Thành phố, đặc biệt
Trang 39là so với các quận nội thành và các huyện ven Thành phố nên khả năng chi trảcho các dịch vụ CSSKSS luôn là một vấn đề đặt ra trong quá trình phát triểndịch vụ CSSKSS trên địa bàn.
Ba là, ở địa bàn trung du, miền núi (đặc biệt là ở 14 xã miền núi), do kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa thực sự phát triển, đời sống và điều kiện côngtác, làm việc còn khó khăn, nên việc thu hút đội ngũ y bác sỹ, điều dưỡng, nhânviên y tế giỏi, có tay nghề cao… cho phát triển dịch vụ khám chữa bệnh, chămsóc sức khỏe cho người dân, cho cộng đồng nói chung và phát triển dịch vụCSSKSS nói riêng đã và đang gặp không ít khó khăn
2.1.2 Tình hình phát triển dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản ở các huyện phía Tây thành phố Hà Nội thời gian qua
Từ khi chính thức sáp nhập về thành phố Hà Nội đến nay, hoạt độngchăm sóc SKSS tại các quận, huyện trong khu vực đã phát triển vượt bậc,tạo thành một mạng lưới CSSKSS thống nhất từ Trung ương, đến địaphương Trong đó trung tâm CSSKSS Hà Đông được giao nhiệm vụ triểnkhai thực hiện các hoạt động chuyên môn, kỹ thuật về chăm sóc sức khỏesinh sản, CSSKBM theo Quyết định số 23/2006/QĐ-BYT ngày 08 tháng 08năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế Trung tâm CSSKSS Hà Đông quản lý 14quận huyện, thị xã, 3 BVĐK thành phố, 11 BVĐK huyện, 14 Trung tâm y tế(TTYT), 18 PKĐKKV, 327 TYT xã, phường, thị trấn Ngoài ra còn rấtnhiều bệnh viện và phòng khám tư nhân lớn, nhỏ trên địa bàn cũng triển khaicác dịch vụ CSSKSS [37, 38]
* Các loại hình dịch vụ CSSKSS
Việc cung cấp dịch vụ CSSKSS ở các địa phương phía Tây Hà Nộiđược thực hiện phân cấp, phân tuyến kỹ thuật theo Quyết định 385/2001/QĐ-BYT (quy định những kỹ thuật tiên tiến trong lĩnh vực CSSKSS tạiCSYT có cung cấp dịch vụ CSSKSS theo phân tuyến kỹ thuật) [5]
Trang 40Tuyến tỉnh triển khai thực hiện cung cấp các dịch vụ CSSKSS cơ bảntheo tuyến kỹ thuật như: Đặt, tháo dụng cụ tử cung, tiêm, cấy thuốc tránhthai, hút thai đến 12 tuần tuổi thai, khám và điều trị viêm nhiễm đường sinhsản, khám chữa bệnh thông thường của trẻ em, xử trí các tai biến/tác dụngphụ của các BPTT, điều trị rối loạn tiền mãn kinh và mãn kinh bao gồm cảloãng xương Về cận lâm sàng cung cấp dịch vụ siêu âm chẩn đoán, soi tươitìm ký sinh trùng, nấm
Các bệnh viện tuyến huyện phía Tây thành phố Hà Nội đã triển khaiđược kỹ thuật mổ nội soi, mổ lấy thai cắt tử cung theo kỹ thuật mới, mổ sasinh dục Các BVĐK thành phố: cung cấp dịch vụ CCSKTY toàn diện (có
mổ đẻ và truyền máu) Bệnh viện có trách nhiệm hỗ trợ kỹ thuật và thựchiện giám sát CSYT tuyến dưới [37, 38] Đặc biệt, các phẫu thuật cấp cứuđược triển khai ở tuyến huyện phía Tây Thành phố đã góp phần tích cực giảiquyết kịp thời các cấp cứu sản khoa, góp phần giảm tỷ lệ TBSK cũng như tửvong mẹ do TBSK
Tuyến xã, phường, thị trấn đã triển khai công tác chăm sóc sức khỏe bàmẹ:100 % số xã thực hiện quản lý thai theo Hướng dẫn quốc gia; 86% số xã
đã thực hiện có nền nếp thực hiện theo dõi chuyển dạ bằng biểu đồ chuyển dạ,
xử trí tích cực giai đoạn III của chuyển dạ, đỡ đẻ an toàn; 100 % trạm y tếchăm sóc sơ sinh thiết yếu, cân đo trẻ dưới 5 tuổi; cung cấp các biện pháptránh thai