1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo dục và phân phối thu nhập nghiên cứu trường hợp các quốc gia có thu nhập trung bình thấp giai đọan 1990 2015

111 298 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 2,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về mặt thực tiễn, nghiên cứu đã cung cấp thêm bằng chứng về mối quan hệ giữa giáo dục và bất bình đẳng thu nhập và gợi ý các giải pháp cho các nhà làm chính sách với mục tiêu giảm bất bì

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

ĐẶNG HOÀNG MINH QUÂN

GIÁO DỤC VÀ PHÂN PHỐI THU NHẬP:

NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÁC QUỐC GIA

CÓ THU NHẬP TRUNG BÌNH THẤP

GIAI ĐOẠN 1990-2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh - 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

ĐẶNG HOÀNG MINH QUÂN

GIÁO DỤC VÀ PHÂN PHỐI THU NHẬP:

NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÁC QUỐC GIA

TS NGUYỄN QUỲNH HOA

Tp Hồ Chí Minh - 2016

Trang 3

cứu trường hợp các quốc gia có thu nhập trung bình thấp giai đoạn 1990-2015” là bài nghiên cứu của chính tôi

Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn, toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

TÓM TẮT

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1

1.1.Đặt vấn đề 1

1.2.Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3.Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4.Phạm vi nghiên cứu 3

1.5.Phương pháp nghiên cứu 4

1.6.Ý nghĩa nghiên cứu 4

1.7.Cấu trúc luận văn 4

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6

2.1.Các khái niệm liên quan 6

2.2.Mối quan hệ giữa giáo dục và bất bình đẳng thu nhập 13

2.3.Lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan 16

2.4.Khung phân tích 24

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

3.1.Quy trình nghiên cứu 28

Trang 5

3.4.Phương pháp nghiên cứu 34

3.5.Dữ liệu 38

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41

4.1.Tổng quan về tình hình các quốc gia thu nhập trung bình thấp 41

4.2.Thống kê mô tả 42

4.3.Mối quan hệ giữa các biến trong mô hình 47

4.4.Kết quả ước lượng tác động giáo dục đến bất bình đẳng thu nhập 54

4.5.Phân tích kết quả nghiên cứu 60

4.6.Kiểm tra tính vững của kết quả 64

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67

5.1.Kết luận 67

5.2.Khuyến nghị từ kết quả nghiên cứu 67

5.3.Hạn chế đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

REM Random Effect Model Mô hình tác động ngẫu nhiên

Trang 7

Bảng 3.1: Biến số và nguồn dữ liệu 34

Bảng 4.1: Kết quả thống kê mô tả cho mẫu nghiên cứu 42

Bảng 4.2: Tính toán hệ số bất bình đẳng giáo dục 44

Bảng 4.3: Kết quả hồi quy ban đầu 54

Bảng 4.4: Nhân tử phóng đại phương sai 57

Bảng 4.5: Kiểm định hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi 58

Bảng 4.6: Mô hình tác động cố định với ước lượng vững 59

Bảng 4.7: Tổng hợp kết quả kỳ vọng và mức ý nghĩa thống kê 60

Bảng 4.8: Kiểm tra tính vững của mô hình 65

Trang 8

Hình 2.2: Mối quan hệ nhân quả giữa giáo dục và bất bình đẳng thu nhập 15Hình 2.3: Khung phân tích của nghiên cứu 25Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 29Hình 4.1: Phân bố giá trị bất bình đẳng giáo dục của các quốc gia trong mẫu nghiên cứu giai đoạn 1990-2015 45Hình 4.2: Phân bố giá trị bất bình đẳng thu nhập của các quốc gia trong mẫu nghiên cứu giai đoạn 1990-2015 46Hình 4.3: Mối quan hệ giữa bất bình đẳng giáo dục và bất bình đẳng thu nhập trong mẫu nghiên cứu giai đoạn 1990-2015 48Hình 4.4: Mối quan hệ giữa trung bình số năm đi học và bất bình đẳng thu nhập trong mẫu nghiên cứu giai đoạn 1990-2015 49Hình 4.5: Mối quan hệ giữa thu nhập bình quân đầu người và bất bình đẳng thu nhập trong mẫu nghiên cứu giai đoạn 1990-2015 50Hình 4.6: Mối quan hệ giữa chi tiêu giáo dục của chính phủ và bất bình đẳng thu nhập trong mẫu nghiên cứu giai đoạn 1990-2015 51Hình 4.7: Mối quan hệ giữa tỷ lệ dân số thành thị và bất bình đẳng thu nhập trong mẫu nghiên cứu giai đoạn 1990-2015 52Hình 4.8: Mối quan hệ giữa chỉ số tự do hóa kinh tế và bất bình đẳng thu nhập trong mẫu nghiên cứu giai đoạn 1990-2015 53

Trang 9

nhập thông qua hai biến số bất bình đẳng giáo dục và trung bình số năm đi học dựa trên mô hình phân tích trong nghiên cứu của Gregorio và Lee (2002), Tselios (2008)

và Petcu (2014) Các mô hình được sử dụng gồm có OLS gộp, tác động cố định (FEM) và tác động ngẫu nhiên (REM) thông qua bộ số liệu của World Bank, ADB, Barro-Lee và Fraser Institute Bên cạnh đó, các phân tích đều được dựa trên hai bộ

dữ liệu theo giai đoạn (cỡ mẫu nhỏ) và dữ liệu theo năm (cỡ mẫu lớn) của 18 nước thuộc nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình thấp trong giai đoạn 1990-2015 nhằm gia tăng mức độ tin cậy của kết quả nghiên cứu Các kết quả thu được từ phân tích về quy mô, xu hướng tác động của các biến số cho thấy giáo dục có tác động đến bất bình đẳng thu nhập Cụ thể với mức độ bất bình đẳng trong giáo dục càng cao sẽ dẫn đến sự gia tăng bất bình đẳng thu nhập và trung bình số năm đi học càng lớn cũng thúc đẩy bất bình đẳng thu nhập cao hơn Ngoài ra, tác giả cũng phát hiện mối quan hệ giữa thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ chi tiêu giáo dục trong tổng GDP, tỷ lệ dân số thành thị, chỉ số tự do kinh tế và bất bình đẳng thu nhập Trong

đó, thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục của chính phủ và chỉ

số tự do hóa kinh tế có xu hướng làm giảm bất bình đẳng thu nhập Tuy nhiên, tỷ lệ dân số thành thị càng gia tăng sẽ dẫn đến phân hóa thu nhập ở các quốc gia càng cao Mặc dù vẫn còn tồn tại hạn chế tuy nhiên nghiên cứu này đã có những đóng góp quan trọng Về mặt lý luận, nghiên cứu phần nào đã hệ thống hóa lại những phương pháp đo lường bất bình đẳng giáo dục và bất bình đẳng thu nhập, xây dựng

cơ sở lý luận cho các nghiên sau về mối quan hệ này Về mặt thực tiễn, nghiên cứu

đã cung cấp thêm bằng chứng về mối quan hệ giữa giáo dục và bất bình đẳng thu nhập và gợi ý các giải pháp cho các nhà làm chính sách với mục tiêu giảm bất bình đẳng thu nhập cho nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình thấp và trong đó có Việt Nam

Trang 10

CHƯƠNG 1

GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

Chương này tác giả sẽ giới thiệu sơ lược về nghiên cứu được thực hiện bao gồm đặt vấn đề, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu cũng như là phương pháp, phạm vi tiếp cận, kết cấu và ý nghĩa của nghiên cứu mang lại

1.1 Đặt vấn đề

Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập là mối quan tâm của nhiều người, nhiều quốc gia ở các mức độ khác nhau Một số tác giả cho rằng bất bình đẳng không mấy quan trọng, ví dụ theo Feldstein (1999) chẳng có gì sai khi phúc lợi của người giàu tăng lên hay hệ quả bất bình đẳng tăng lên do sự gia tăng của nhóm thu nhập cao Tuy nhiên, các nghiên cứu tâm lý lại cho thấy điều ngược lại Đa số mọi người đều mong muốn có sự công bằng ở mức độ nào đó và phụ thuộc vào nền văn hóa thay đổi theo thời gian (Nguyễn Thanh Hằng, 2015) Như vậy tồn tại mức độ bất bình đẳng thu nhập được xem là cần thiết cho hoạt động kinh tế bởi vì nó tạo động lực để vươn lên cho nhóm thu nhập thấp Tuy nhiên bất bình đẳng cực đoan thường là một mối quan tâm đến các nhà kinh tế do tác động ngược chiều của nó có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng (Champernowne và Cowell, 1998) Bên cạnh đó, khi

xã hội ngày càng phát triển, người ta càng quan tâm nhiều hơn đến vấn đề công bằng Tăng trưởng kinh tế ngoạn mục nhưng phải đi đôi với công bằng xã hội, đó là yêu cầu của một xã hội phát triển toàn diện, mục tiêu mà nhiều quốc gia đang hướng đến (Nguyễn Thanh Hằng, 2015)

Hiện nay, bất bình đẳng đang gây nên sự bất ổn trong xã hội ở nhiều quốc gia Trong đó, giáo dục là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến bất bình đẳng thu nhập Để có một cơ hội giáo dục tốt có nghĩa là phải có một mức thu nhập cao hơn Đồng thời chi tiêu giáo dục cũng có thể vượt ra ngoài tầm với những người

có mức thu nhập thấp Do đó, nghèo có nghĩa là cơ hội tiếp cận giáo dục có thể ít hiệu quả, hoặc thậm chí không có được bất kỳ mức giáo dục nào Điều này sẽ dẫn

Trang 11

đến giảm thiểu các cơ hội có được một công việc với mức lương tốt và khoảng cách thu nhập sẽ lớn hơn giữa các khu vực giàu và nghèo trong cộng đồng (Abdelbaki, 2012) Cho đến nay, mối quan hệ giữa giáo dục và bất bình đẳng thu nhập là chủ đề được quan tâm nhiều trong nghiên cứu chính sách trên thế giới Tuy nhiên, ước tính thực nghiệm qua những tác động của nó và các biến số kinh tế thường mâu thuẫn hoặc không thể kết luận được vì tính phức tạp của các mối quan hệ

Bằng chứng từ các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy mối quan hệ trực tiếp giữa giáo dục và bất bình đẳng thu nhập không đồng nhất với nhau Một số nghiên cứu cho rằng bất bình đẳng thu nhập và giáo dục có mối quan hệ cùng chiều (Psacharopoulos, 1977; Winegarden, 1979; Gregorio và Lee, 2002; Tselios, 2008; Rodríguez‐Pose và Tselios, 2009; Kanwal và Munir, 2015) Ngược lại, một số nghiên cứu khác với kết luận giáo dục và bất bình đẳng thu nhập tồn tại mối quan

hệ ngược chiều (Barro, 2000; Checchi, 2003; Castelló-Climent và Domenech, 2014) Riêng Ram (1984), Yang và cộng sự (2009), Földvári và Leeuwen (2011) xác định mối quan hệ này rất yếu hoặc chưa thấy rõ mối quan hệ giữa giáo dục và bất bình đẳng thu nhập Bên cạnh đó, các nghiên cứu trên thế giới phần lớn tiếp cận mối quan hệ này theo nhóm các quốc gia phát triển và đang phát triển hoặc một khu vực, một nước Tuy nhiên, nghiên cứu với cách tiếp cận theo một nhóm các quốc gia có thu nhập tương đồng với nhau để xác định mối quan hệ này vẫn chưa nhiều Mục tiêu chính của nghiên cứu này nhằm xét tác động của giáo dục đến bất bình đẳng thu nhập thông qua hai biến số liên quan đến giáo dục: (i) tác động của bất bình đẳng giáo dục đến bất bình đẳng thu nhập; và (ii) tác động số năm đi học đến bất bình đẳng thu nhập Ngoài ra, nghiên cứu này sẽ tiếp cận với nhóm các quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp1 trong giai đoạn 1990-2015 với hai lí do: (i) bất bình đẳng vẫn đang diễn ra ở các nước nhưng điều đáng quan tâm hiện nay là

ở nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình thấp và thu nhập thấp, tuy nhiên nhóm

1 Theo cách xác định của nhóm Ngân hàng Thế giới năm 2015, các quốc gia có thu nhập trung bình thấp là những nước có tổng thu nhập quốc gia bình quân đầu người từ 1.026 đến 4.035 Dollar Mỹ (USD) một năm (danh sách các nước được đính kèm ở phụ lục).

Trang 12

các nước thu nhập trung bình thấp sẽ được chọn để tiếp cận trong nghiên cứu vì các nước này vẫn còn những nguồn lực để san lấp khoảng cách bất bình đẳng cao hơn

so với nhóm thu nhập thấp; (ii) trong nhóm nước thu nhập trung bình thấp có Việt Nam Dựa trên kết quả phân tích, nghiên cứu này hi vọng cung cấp một số thông tin hữu ích cho các quốc gia có thu nhập trung bình thấp, đặc biệt là Việt Nam trong quá trình xây dựng chính sách liên quan đến vấn đề công bằng xã hội, hướng đến xây dựng nhà nước phúc lợi

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nhằm xem xét tác động của bất bình đẳng giáo dục và trung bình số năm đi học đến bất bình đẳng thu nhập Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả sẽ cung cấp một số thông tin hữu ích cho các quốc gia có thu nhập trung bình thấp, đặc biệt là Việt Nam trong quá trình xây dựng chính sách liên quan đến vấn đề công bằng xã hội, hướng đến xây dựng nhà nước phúc lợi nhằm nâng cao vai trò của Chính phủ và các tổ chức xã hội trong việc giảm bất bình đẳng

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

(i) Bất bình đẳng giáo dục có tác động đến bất bình đẳng thu nhập tại các quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp hay không?

(ii) Số năm đi học có tác động đến bất bình đẳng thu nhập tại các quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp hay không?

(iii) Chính phủ và các tổ chức xã hội cần làm gì để giảm bất bình đẳng ?

1.4 Phạm vi nghiên cứu

Đối tượng trong nghiên cứu của tác giả là các yếu tố tác động đến bất bình đẳng thu nhập, trong đó hai biến số bất bình đẳng giáo dục và trung bình số năm đi học giữ vai trò quan trọng Bên cạnh đó, nghiên cứu này được thực hiện cho 18 quốc gia thuộc nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp trong giai đoạn 1990-

Trang 13

2015 và phạm vi các biến số trong nghiên cứu này phần lớn liên quan đến ảnh hưởng của giáo dục đến bất bình đẳng thu nhập

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp chính được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm:

(i) Phương pháp phân tích và tổng hợp: nhằm tổng quan các khái niệm, lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm Phương pháp này được tác giả vận dụng trong Chương 2

(ii) Phương pháp thống kê mô tả: nhằm mô tả những đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập được từ nghiên cứu thực nghiệm qua các cách thức khác nhau Phương pháp này được tác giả vận dụng trong Chương 4

(iii) Phương pháp định lượng: mô hình Pooled OLS, mô hình tác động cố định (FEM), mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) Phương pháp này được tác giả sử dụng trong Chương 4

1.6 Ý nghĩa nghiên cứu

(i) Hệ thống hóa lại những phương pháp đo lường bất bình đẳng giáo dục và bất bình đẳng thu nhập Xây dựng cơ sở lý luận cho các nghiên sau về mối quan hệ này

(ii) Cung cấp thêm bằng chứng về mối quan hệ giữa giáo dục và bất bình đẳng thu nhập Gợi ý các giải pháp cho các nhà làm chính sách với mục tiêu giảm bất bình đẳng thu nhập

1.7 Cấu trúc luận văn

Kết cấu luận văn gồm 5 chương:

Trang 14

Chương 1 Giới thiệu

Tác giả trình bày khái quát các nội dung chính của nghiên cứu bao gồm đặt vấn đề, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, phương pháp và phạm vi tiếp cận, ý nghĩa

và kết cấu của nghiên cứu

Chương 2 Cơ sở lý thuyết

Tác giả tổng quan các cơ sở lý thuyết bao gồm: các khái niệm liên quan, lý thuyết về mối quan hệ giữa giáo dục và bất bình đẳng thu nhập cùng với các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan Bên cạnh đó, thông qua khung lý thuyết và thực nghiệm đã được chứng minh có cơ sở khoa học, tác giả sẽ đưa ra khung phân tích cho đề tài

Chương 3 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả giới thiệu về quy trình thực hiện nghiên cứu, mô hình, phương pháp nghiên cứu, dữ liệu sẽ được sử dụng cho đề tài

Chương 4 Kết quả nghiên cứu

Tác giả thực hiện các thao tác thống kê mô tả nhằm thể hiện những đặc trưng của bộ dữ liệu Trong phần kết quả hồi quy và thảo luận: các kết quả nghiên cứu sẽ được tóm lược và đối chiếu với các nghiên cứu trước để tìm ra điểm giống và khác nhau bằng hình thức so sánh hoặc xác nhận có điểm mới

Chương 5 Kết luận và kiến nghị

Tác giả tóm lược lại toàn bộ nghiên cứu từ lý do chọn đề tài cho đến phương pháp và thảo luận kết quả của nghiên cứu Dựa trên kết quả, tác giả kiến nghị và đề xuất những giải pháp về mặt chính sách có liên quan trong đề tài Bên cạnh đó sẽ nêu những hạn chế của đề tài và đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 15

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Dựa trên các tiếp cận về mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu đã trình bày trong chương 1, trong chương này tác giả sẽ tổng quan các cơ sở lý thuyết bao gồm: các khái niệm liên quan, lý thuyết về mối quan hệ giữa giáo dục và bất bình đẳng thu nhập cũng như các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan Bên cạnh đó, thông qua khung lý thuyết và thực nghiệm đã được chứng minh có cơ sở khoa học, tác giả sẽ đưa ra khung phân tích cho đề tài

2.1 Các khái niệm liên quan

2.1.1 Bất bình đẳng xã hội

Có nhiều quan điểm khác nhau khi định nghĩa về bất bình đẳng xã hội Theo

Kerbo (1996) “Bất bình đẳng xã hội là tình huống mà ở đó mọi người có sự tiếp cận

không bình đẳng về các nguồn lực có giá trị, các dịch vụ và những vị trí trong xã hội” Với cách tiếp cận đơn giản hơn, Sernau (2013) cho rằng “Bất bình đẳng xã hội xảy ra khi các nguồn lực trong xã hội được phân bổ không đồng đều” Gần đây hơn,

Schaefer (2015) với cách tiếp cận “Bất bình đẳng xã hội là tình huống mà các thành

viên trong xã hội khác nhau về sự giàu có (wealth), uy tín (prestige), quyền lực (power)” Như vậy các khái niệm trên đều có giá trị làm rõ nội dung của bất bình

đẳng xã hội Tuy nhiên, sự đa dạng của các khái niệm cho thấy bất bình đẳng xã hội được đánh giá trên cơ sở các yếu tố định tính từ nhiều góc độ khác nhau Các tiêu chí định tính này chịu ảnh hưởng lớn của các yếu tố tập quán, tâm lý xã hội và có thể đưa tới các kết quả rất khác biệt từ các đối tượng đánh giá

Bên cạnh đó, người ta có thể phân loại bất bình đẳng xã hội thành (i) bất bình

đẳng cơ hội (ví dụ như tiếp cận giáo dục); và (ii) bất bình đẳng kết quả (ví dụ như

mức thu nhập) (UNDP, 2013) Ngoài ra, bất bình đẳng còn có thể được chia thành:

(i) bất bình đẳng mang tính tự nhiên (đó là sự khác biệt của cá nhân về một hoặc một số đặc điểm sẵn có như giới, tuổi, chủng tộc, trí lực,…) (ii) bất bình đẳng mang

tính xã hội (đó là sự phân công lao động dẫn đến phân tầng, tạo ra lợi ích khác nhau

Trang 16

giữa các cá nhân) (Nguyễn Thị Hương Trà, 2007) Như vậy, trong nghiên cứu này tác giả sẽ tiếp cận theo cách phân chia thứ nhất mà cụ thể sẽ tập trung vào hai khái niệm bất bình đẳng thu nhập và bất bình đẳng giáo dục

2.1.2 Bất bình đẳng thu nhập

Cũng như khái niệm bất bình đẳng xã hội, bất bình đẳng thu nhập cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, tác giả sẽ chọn hai cách tiếp cận sau

trong nghiên cứu của mình Theo Fletcher (2013) “Bất bình đẳng kinh tế (còn được

gọi là khoảng cách giàu nghèo, bất bình đẳng thu nhập) là chênh lệch giữa các cá nhân, các nhóm trong xã hội hay giữa các quốc gia trong việc phân phối các tài sản, sự giàu có, hay thu nhập” Tác giả Đinh Phi Hổ và cộng sự (2009) cũng có

cách tiếp cận tương tự “Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập là sự khác biệt lớn

về tình trạng thu nhập giữa các nhóm dân cư khác nhau trong xã hội” Như vậy, bất

bình đẳng trong phân phối thu nhập biểu hiện với những mức độ khác nhau ở các quốc gia và ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế Bên cạnh đó, để lượng hóa giá trị bất bình đẳng các nhà kinh tế và tổ chức trên thế giới đã sử dụng khá nhiều cách đo lường cho bất bình đẳng thu nhập Tuy nhiên, các thước đo sử dụng phổ biến trong phân tích và nghiên cứu hiện nay bao gồm đường cong Lorenz2, hệ số Gini, tiêu chuẩn Ngân hàng thế giới và hệ số chênh lệch thu nhập

2.1.2.1 Đường cong Lorenz

Đường cong Lorenz thể hiện mối quan hệ giữa tỷ lệ phần trăm dân số và tỷ lệ phần trăm trong tổng thu nhập nhận được trong khoảng thời gian nhất định (thường

là một năm)

2 Đường cong Lorenz được lấy theo tên của Conrad Lorenz, một nhà thống kê người Mỹ năm 1905

đã nghĩ ra biểu đồ thuân tiện và sử dụng rộng rãi này để biểu thị quan hệ giữa các nhóm dân số và

tỷ lệ thu nhập tương ứng của họ.

Trang 17

Hình 2.1: Đường cong Lorenz

Nguồn: Đinh Phi Hổ và cộng sự (2009)

Trong hình 2.1, trục hoành thể hiện tỷ lệ phần trăm cộng dồn của dân số và được sắp xếp theo thứ tự tăng dần, trục tung biểu thị tỷ lệ phần trăm cộng dồn của thu nhập mà mỗi phần trăm dân số nhận được Đường 45o trong hình vẽ cho biết ở bất kỳ điểm nào trên đường này đều phản ánh tỷ lệ phần trăm thu nhập nhận được đúng bằng tỷ lệ phần trăm dân số Khoảng cách giữa đường 45o và đường Lorenz cho biết mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập (Đinh Phi Hổ và cộng sự,

2009) Như vậy, đường cong Lorenz có thể xảy ra các trường hợp sau: (i) Bất bình

đẳng không xảy ra (công bằng tuyệt đối) trong phân phối thu nhập khi đường Lorenz ở dạng đường 45 o ; (ii) Bất bình đẳng tuyệt đối trong phân phối thu nhập khi

đường Lorenz ở dạng đường OCD; (iii) Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập khi đường Lorenz ở dạng như hình vẽ và nằm trong khu vực giữa đường 45 o và đường OCD

Trang 18

Ngoài ra, vị trí của đường Lorenz cũng có những ý nghĩa kinh tế quan trọng:

(i) Khi đường Lorenz dịch chuyển về đường 45 o , tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập có xu hướng giảm; (ii) Khi đường Lorenz dịch chuyển ra xa đường 45 o , tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập có xu hướng tăng

Tuy nhiên do đường Lorenz thể hiện tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập bằng hình vẽ nên không lượng hóa được mức độ cụ thể của tình trạng bất bình đẳng (Đinh Phi Hổ và cộng sự, 2009)

2.1.2.2 Hệ số Gini

Một cách thường được sử dụng rộng rãi nhất để đo lường mức độ bất bình đẳng là hệ số Gini3 Hệ số Gini được tính toán dựa trên đường cong Lorenz Như vậy theo hình 2.1, hệ số Gini được xác định bằng cách lấy diện tích giới hạn bởi đường 45o và đường cong Lorenz (diện tích A) chia cho diện tích nằm dưới đường

45o (diện tích A+B) Đường cong Lorenz càng nằm xa về bên phải của đường 45othì mức độ bất bình đẳng càng lớn Khi đó, hệ số Gini sẽ càng tiến gần về giá trị 1 Bên cạnh đó, người ta còn sử dụng công thức sau để tính toán hệ số Gini:

trong đó n là số hộ; Yi là mức chi tiêu (thu nhập) bình quân đầu người tương ứng hạng thứ i; M là chi tiêu (thu nhập mẫu bình quân); Ri là thứ tự thứ i của hộ gia đình có mức chi tiêu (thu nhập) bình quân đầu người Yi xếp hạng theo thứ tự giảm

dần Như vậy, giá trị của chỉ số Gini có thể xảy ra các trường hợp: (i) Gini = 0

nghĩa là hoàn toàn bình đẳng trong phân phối thu nhập; (ii) Gini = 1 nghĩa là hoàn toàn bất bình đẳng trong phân phối thu nhập; (iii) 0< Gini < 1 có xuất hiện tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập Mặc dù có thể lượng hóa được hệ số

bất bình đẳng thu nhập nhưng hệ số Gini chỉ là thước đo về quy mô tương đối cho nên trong nhiều trường hợp có cùng một giá trị Gini nhưng trên thực tế thì mức độ

Trang 19

công bằng trong xã hội không giống nhau (Đinh Phi Hổ và cộng sự, 2009; Nguyễn Trọng Hoài và cộng sự, 2010)

2.1.2.3 Tiêu chuẩn “40” của Ngân hàng thế giới

Ngân hàng thế giới cũng đề xuất các chỉ tiêu đánh giá tình trạng bất bình đẳng thông qua tỷ lệ thu nhập chiếm trong tổng thu nhập dân cư của 40% dân số có mức thu nhập thấp nhất trong xã hội Theo chỉ tiêu này sẽ có 3 mức độ bất bình đẳng cụ

thể như sau: (i) Khi thu nhập của 40% dân số có mức thu nhập thấp nhất trong xã

hội chiếm tỷ lệ lớn hơn 17% của tổng thu nhập thì tình trạng bất bình đẳng thấp;

(ii) Khi thu nhập của 40% dân số có mức thu nhập thấp nhất trong xã hội có tỷ lệ từ

12% đến 17% của tổng thu nhập thì tình trạng bất bình đẳng tương đối; (iii) Khi thu nhập của 40% dân số có mức thu nhập thấp trong xã hội có tỷ lệ nhỏ hơn 12% của tổng thu nhập thì tình trạng bất bình đẳng cao (Đinh Phi Hổ và cộng sự, 2009)

2.1.2.4 Hệ số giãn cách thu nhập

Ngoài ra, trong nhiều công trình nghiên cứu, chỉ tiêu hệ số giãn cách thu nhập được sử dụng để đánh giá tình trạng bất bình đẳng thu nhập Chỉ tiêu này được xác định bởi mức chênh lệch thu nhập của 20% dân số có thu nhập cao nhất và 20% dân

số có thu nhập thấp nhất Hệ số giãn cách (chênh lệch) càng lớn, tình trạng bất bình đẳng càng cao (Đinh Phi Hổ và cộng sự, 2009)

Tóm lại, mỗi cách đo lường hệ số bất bình đẳng thu nhập đều có những ưu và nhược điểm riêng Mỗi tác giả sẽ lựa chọn cách đo lường thích hợp nhất cho mình dựa trên đặc điểm các quốc gia, tính thuận tiện trong tiếp cận dữ liệu, mục tiêu nghiên cứu…Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ tiếp cận bất bình đẳng thu nhập thông qua hệ số Gini được thu thập từ nguồn dữ liệu có sẵn của Ngân hàng thế giới

3 Hệ số Gini được đặt theo tên một nhà thống kê người Ý C.Gini, người đầu tiên phát minh ra hệ số này vào năm 1912.

Trang 20

2.1.3 Bất bình đẳng giáo dục

Giáo dục với các cơ hội và các điều kiện của nó cũng thuộc về tài sản và nguồn vốn cơ bản trong xã hội Do vậy, cần phải phân chia bình đẳng các cơ hội giáo dục cho mọi người, đặc biệt là cơ hội đến trường Tồn tại tình trạng bất bình đẳng giáo dục sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy cho xã hội Theo Lê Ngọc Hùng (2015), bất bình đẳng xã hội trong giáo dục sẽ làm giảm hiệu quả và lợi ích mà giáo dục có thể đem đến cho cuộc sống của con người và xã hội Đối với cá nhân, việc bị tước bỏ

cơ hội đi học gây ra hậu quả xấu trực tiếp trước mắt và lâu dài đối với cuộc sống của họ Đối với cộng đồng xã hội, sự bất bình đẳng xã hội trong giáo dục là nguyên nhân của những bất ổn định, mâu thuẫn, xung đột, nghèo nàn, tụt hậu, chậm phát triển và phát triển thiếu bền vững

Về khái niệm, theo Đỗ Thiên Kính (2015) bất bình đẳng giáo dục có thể tiếp cận với hai góc độ Thứ nhất, bất bình đẳng về giáo dục được xem xét như sự phân chia những thành tựu giáo dục đạt được cho các thành viên trong xã hội Theo góc

độ này, bất bình đẳng về giáo dục được so sánh tương tự như bất bình đẳng về thu nhập (hoặc chi tiêu) và ta có thể đo lường nó thông qua hệ số Gini Thứ hai, bất bình đẳng về giáo dục là sự phân phối những thành tựu giáo dục đạt được cho các thành viên theo những cơ sở xã hội khác nhau sẽ nhận được những mức độ giáo dục cũng khác nhau Ta có thể đo lường sự bất bình đẳng theo góc độ này thông qua chỉ

số phân hóa (chỉ số chênh lệch) giữa các nhóm cơ sở xã hội khác nhau

Như vậy cũng tương tự như bất bình đẳng thu nhập, bất bình đẳng giáo dục cũng có các cách tiếp cận và đo lường khác nhau Tuy nhiên, các chỉ số đo lường cho bất bình đẳng giáo dục rất đa dạng và không có cách đo lường nào được xem là tối ưu

2.1.3.1 Tỷ lệ nhập học

Tỷ lệ nhập học ở các cấp được sử dụng như các chỉ số phát triển con người Thông thường người ta sử dụng tỷ lệ nhập học cấp tiểu học, tỷ lệ nhập học

Trang 21

cấp trung học cơ sở và tỷ lệ nhập học trung học phổ thông Tuy nhiên, tỷ lệ nhập học chỉ cho biết việc tiếp cận giáo dục và nó không biểu hiện được tích lũy trình độ học vấn và không phản ánh nguồn vốn con người Vì vậy, nó ít được sử dụng (Thomas và cộng sự, 2001)

2.1.3.2 Số năm đi học trung bình

Ngoài ra, người ta còn sử dụng số năm đi học để đo lường bất bình đẳng Các thông tin về phân phối giáo dục của mỗi nước được tính toán như sau:

Trong đó Li là tỷ lệ lực lượng lao động ở mức giáo dục thứ i, và Si là số năm

đi học tương ứng cho mức giáo dục thứ i Tuy nhiên, số năm đi học không mô tả các đặc điểm của khoảng cách vốn con người về tuyệt đối và tương đối (Thomas và

cộng sự, 2001)

2.1.3.3 Chất lượng giáo dục

Behrman và Birdsall (1983) cho rằng chất lượng giáo dục nên được đưa vào xem xét khi đo lường mức độ phát triển con người thay vì sử dụng số lượng trường học Có hai phương pháp điển hình được sử dụng để đo lường chất lượng giáo

dục Cách tiếp cận thứ nhất là theo hướng đầu vào Người ta xem xét quốc gia cung

cấp thêm nguồn lực cho giáo dục như thế nào so với các ngành khác Các chỉ tiêu tỷ

lệ học sinh/giáo viên, chi tiêu cho lương giáo viên, sách và các tài liệu đọc khác có thể dùng để đo lường các nguồn lực đầu vào cho giáo dục Tuy nhiên, khối lượng đầu vào cao không làm cho năng suất chất lượng học cải thiện Đây cũng là hạn chế

của cách đo lường này Cách tiếp cận thứ hai là theo hướng đầu ra thông qua đo

lường trực tiếp các thành tích học tập Các sinh viên của cùng một nhóm độ tuổi ở

các nước khác nhau sẽ được so sánh ở cùng môn học bao gồm toán học và khoa học (Thomas và cộng sự, 2001) Tuy nhiên, cách đo lường này chỉ có thể dùng cho các nước công nghiệp và không thể so sánh theo thời gian nên dẫn đến nhiều hạn chế

Trang 22

2.1.3.4 Độ lệch chuẩn của giáo dục

Độ lệch chuẩn cũng được sử dụng để đo lường sự phân tán tuyệt đối của bất bình đẳng giáo dục:

Trong đó Li là tỷ lệ lực lượng lao động ở mức giáo dục thứ i, và Si là số năm

đi học tương ứng cho mức giáo dục thứ i Tuy nhiên, độ lệch chuẩn của giáo dục chỉ

đo lường độ phân tán tuyệt đối của phân phối giáo dục

2.1.3.5 Hệ số Gini cho giáo dục

Gini4 cho giáo dục là thuật ngữ được sử dụng để đo lường cho bất bình đẳng giáo dục theo thuật ngữ tương đối Hệ số Gini giáo dục có khái niệm tương tự như

hệ số Gini thu nhập

Như vậy, khái niệm bất bình đẳng giáo dục và cách đo lường của nó cũng với nhiều cách tiếp cận khác nhau Để mô hình có tính đồng nhất trong đo lường các biến số, tác giả sẽ sử dụng hệ số Gini để ước tính hệ số bất bình đẳng giáo dục trong nghiên cứu này và cụ thể hơn sẽ được trình bày trong Chương 3

2.2 Mối quan hệ giữa giáo dục và bất bình đẳng thu nhập

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến xuất hiện khoảng cách thu nhập, trong đó giáo dục là một yếu tố giữ vai trò quan trọng trong việc xác định mức lương và góp phần rất lớn vào phân phối thu nhập ban đầu cho xã hội Phân phối thu nhập có liên quan đến trung bình số năm đi học và sự phân tán của giáo dục Theo Gregorio và Lee (2002) để minh họa điều này, các mô hình truyền thống của lý thuyết vốn con người - Mincer (1974) đã đề nghị các biểu thức sau đây cho mức thu nhập (Y) của một cá nhân với (S) là số năm đi học:

4 Hệ số này sẽ được trình bày cụ thể hơn trong Chương 3

Trang 23

Trong đó rj là suất sinh lợi với năm đi học thứ j và u phản ánh các yếu tố khác ảnh hưởng đến thu nhập Như vậy, biểu thức trên có thể xấp xỉ bằng:

Để biểu thị ý nghĩa của các biến, chúng ta có thể viết lại phương trình trên dưới dạng phân phối thu nhập như sau:

Khi đó, Var (log Ys), Var (S) sẽ lần lượt đại diện cho sự phân tán (hay bất bình đẳng) thu nhập và giáo dục Do đó, sự gia tăng bất bình đẳng giáo dục (Var (S)) sẽ dẫn đến bất bình đẳng thu nhập Var (log Ys) cao hơn, với điều kiện các biến số khác không thay đổi Nếu suất sinh lợi (r) và mức giáo dục (S) là độc lập hoặc có mối quan hệ cùng chiều, sự gia tăng mức giáo dục rõ ràng sẽ dẫn đến phân phối thu nhập không đồng đều hơn Tuy nhiên, nếu hiệp phương sai giữa suất sinh lợi giáo dục và mức giáo dục là ngược chiều, việc tăng giáo dục có thể làm giảm bất bình đẳng thu nhập Như vậy, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến nghiên cứu có nhiều kết quả khác nhau khi lượng hóa mối quan hệ giữa giáo dục và bất bình đẳng thu nhập Ngoài ra theo quan điểm về chi phí giáo dục và đào tạo, Abdelbaki (2012) cho rằng các gia đình nghèo sẽ không đủ khả năng để dành chi phí cho giáo dục và đào tạo Như vậy, con cái của họ sẽ có mức đầu tư cho giáo dục thấp hơn so với các đứa con ở gia đình giàu có Thế nên, giáo dục sẽ là một yếu tố quan trọng để quyết định mức tiền lương hoặc thu nhập, sự khác biệt này sẽ dẫn đến khoảng cách thu nhập giữa các gia đình giàu và nghèo ở các vùng, các quốc gia Về phía cầu, các gia đình nghèo (đặc biệt là ở khu vực nông thôn) với nhu cầu về số lượng và chất lượng giáo dục thấp hơn so với gia đình giàu (đặc biệt là ở khu vực thành thị) Về phía cung, hầu hết các chính phủ có xu hướng cung cấp dịch vụ giáo dục theo yêu cầu của người giàu và người dân đô thị, do đó lợi ích giáo dục tiếp cận người nghèo và người dân khu vực nông thôn là ít hơn so với những người đến các khu vực giàu có

và thành thị

Trang 24

Như vậy, giáo dục có ảnh hưởng rõ ràng đến cơ hội tìm kiếm được việc làm, cũng như tiền lương và mức thu nhập Thu nhập của người dân thành phố và những người giàu sẽ tăng với tốc độ lớn hơn tốc độ tăng thu nhập của người người nghèo

và người dân ở khu vực nông thôn Từ đó sẽ làm tăng khoảng cách thu nhập giữa hai nhóm Ở đây chúng ta sẽ nhận được vào một vòng tròn lẩn quẩn với giáo dục tốt hơn sẽ dẫn đến thu nhập cao hơn và thu nhập cao hơn lại dẫn đến giáo dục tốt hơn Cuối cùng, người giàu trở nên giàu hơn và người nghèo càng nghèo hơn nhiều; theo thời gian khoảng cách này sẽ gia tăng

Hình 2.2: Mối quan hệ nhân quả giữa giáo dục và bất bình đẳng thu nhập

Mức

Tăng thu nhập trong tương lai

Giảm thu nhập trong tương lai

Giảm nhu cầu

Giảm cơ hội tìm kiếm

việc làm thích hợp

Tăng cơ hội tìm kiếm việc làm thích hợp Tăng khoảng cách thu nhập

trong tương lai

Trang 25

người lao động có trình độ và do đó sẽ làm tăng sự khác biệt về thu nhập giữa người

có trình độ giáo dục cao và người có trình độ giáo dục thấp (Tinbergen, 1975) Ngược lại với tác động “nén”, thời gian dành cho giáo dục nhiều sẽ dẫn đến giảm sự bất bình đẳng thu nhập Sự gia tăng trong giáo dục đại học làm giảm tiền lương của người lao động có trình độ cao bởi vì nguồn cung của họ đi lên; và đồng thời làm tăng tiền lương của người lao động chưa được đào tạo bởi vì nguồn cung của họ đi xuống Từ đó, khoảng cách thu nhập sẽ dần được thu hẹp lại

Tóm lại, do tính phức tạp của các mối quan hệ giữa giáo dục và thu nhập nên rất khó để dự đoán kết quả Phần lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan

sẽ minh chứng cho điều này

2.3 Lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan

2.3.1 Mối quan hệ giữa bất bình đẳng giáo dục và bất bình đẳng thu nhập

Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu cho thấy tồn tại mối quan hệ giữa giáo dục và bất bình đẳng thu nhập Tuy nhiên, các nghiên cứu này đã đưa ra các bằng chứng khác nhau giữa bất bình đẳng giáo dục và bất bình đẳng thu nhập Lí do là bất bình đẳng giáo dục và bất bình đẳng thu nhập với khá nhiều cách đo lường; bên cạnh đó cũng do các ảnh hưởng về phạm vi không gian và thời gian khi tiếp cận nghiên cứu Vì thế dẫn đến các kết quả nghiên cứu có nhiều điểm khác biệt

Một số nghiên cứu của Psacharopoulos (1977), Winegarden (1979), Gregorio

và Lee (2002), Tselios (2008), Rodríguez‐Pose và Tselios (2009), Kanwal và Munir (2015), các tác giả này đều cho rằng bất bình đẳng giáo dục cao hơn sẽ dẫn đến mức

độ cao hơn trong bất bình đẳng thu nhập Cụ thể với cách đo lường bất bình đẳng giáo dục thông qua phương sai số năm đi học ở các cấp học và bất bình đẳng thu nhập thông qua hệ số Gini, Psacharopoulos (1977) và Winegarden (1979) sử dụng

dữ liệu chéo các quốc, cả hai nghiên cứu đều cho thấy bất bình đẳng giáo dục có tác động cùng chiều với bất bình đẳng thu nhập Bên cạnh đó, Gregorio và Lee (2002) tác giả đo lường bất bình đẳng giáo dục bằng độ lệch chuẩn của giáo dục và bất

Trang 26

bình đẳng thu nhập bằng hệ số Gini thông qua dữ liệu bảng bao gồm 49 nước trong giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1990 Những phát hiện trong nghiên cứu cũng chỉ

ra rằng trình độ học vấn (trung bình số năm đi học) càng cao và phân phối giáo dục công bằng hơn sẽ đóng vai trò quan trọng bình đẳng hơn trong phân phối thu nhập Ngoài ra, với cách đo lường chỉ số bất bình đẳng giáo dục và bất bình đẳng thu nhập bằng hệ số Gini, Tselios (2008), Rodríguez‐Pose và Tselios (2009), Kanwal và Munir (2015) bằng cách tiếp cận dữ liệu bảng ở nhiều quốc gia và các khoảng thời gian mở rộng hơn, nghiên cứu cũng cho các kết quả tương tự với nhau về mối quan

hệ cùng chiều giữa giáo dục và bất bình đẳng thu nhập

Ngược lại, các tác giả Barro (2000), Checchi (2003), Castelló-Climent và Domenech (2014) lại tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa hai biến số này Cụ thể, Barro (2000) tìm thấy một mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ nhập học tiểu học và bất bình đẳng thu nhập, nhưng một mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ nhập học bậc cao hơn và bất bình đẳng thu nhập Với Checchi (2003) bằng phương pháp Pooled OLS, FEM, REM, tác giả phân tích dựa trên dữ liệu bảng không cân bằng cho 108 quốc gia trong giai đoạn 1960-1995 và kết quả nghiên cứu cũng cho thấy

có mối quan hệ ngược chiều giữa bất bình đẳng thu nhập và tỷ lệ nhập học ở bậc trung học Mở rộng hơn về phạm vi không gian và thời gian, Castelló-Climent và Domenech (2014) sử dụng dữ liệu cho 146 quốc gia giai đoạn 1950-2010, tác giả đo lường bất bình đẳng thu nhập và bất bình đẳng giáo dục thông qua hệ số Gini, nghiên cứu cũng cho thấy mặc dù giảm mạnh trong bất bình đẳng vốn con người nhưng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập hầu như không thay đổi Tác giả lý giải rằng suất sinh lợi từ giáo dục bị ảnh hưởng bởi tiến trình toàn cầu hóa và công nghệ nên sự sụt giảm trong bất bình đẳng giáo dục đã được bù đắp

Khác biệt hơn, một số nghiên cứu lại cho rằng mối quan hệ này tồn tại yếu hoặc không tồn tại Ram (1984) đo lường bất bình đẳng thu nhập thông qua dữ liệu của mức chênh lệch thu nhập của 80% dân số có thu nhập cao nhất và 40% dân số

có thu nhập thấp nhất, bất bình đẳng về giáo dục được đo lường thông qua phương

Trang 27

sai của mức giáo dục ở các cấp học của người trưởng thành Dựa trên dữ liệu từ 28 quốc gia, kết quả nghiên cứu cho thấy không tồn tại mối quan hệ giữa bất bình đẳng giáo dục và bất bình đẳng thu nhập Với cách tiếp cận ở phạm vi quốc gia, Yang và cộng sự (2009) dựa trên lý thuyết tăng trưởng nội sinh, nghiên cứu sử dụng hệ số Gini để đo lường sự bất bình đẳng giáo dục Thông qua dữ liệu thống kê ở Trung Quốc giai đoạn 1997-2005, kết quả nghiên cứu cho thấy bất bình đẳng thu nhập dẫn đến bất bình đẳng giáo dục trong khi giảm bất bình đẳng giáo dục không góp phần vào việc giảm bất bình đẳng thu nhập Tuy nhiên việc mở rộng giáo dục thông qua

số năm đi học là có lợi để giảm bất bình đẳng giáo dục và bất bình đẳng thu nhập Gần đây hơn, Földvári và Leeuwen (2011) với nghiên cứu về bất bình đẳng giáo dục Bằng cách lượng hóa chỉ số bất bình đẳng thông qua hệ số Gini với dữ liệu các quốc gia trong giai đoạn 1960-2000, kết quả nghiên cứu cũng một lần nữa cho thấy tồn tại mối quan hệ rất yếu giữa bất bình đẳng giáo dục và bất bình đẳng thu nhập, thậm chí không có ý nghĩa kinh tế

Như vậy có khá nhiều lập luận khác nhau về mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và bất bình đẳng giáo dục Trong nghiên cứu này, với cách tiếp cận cho trường hợp cho nhóm các quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp trong giai đoạn 1990-2015 Với kỳ vọng tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa hai biến số này theo một số nghiên cứu của Psacharopoulos (1977), Winegarden (1979), Gregorio và Lee (2002), Tselios (2008), Rodríguez‐Pose và Tselios (2009), Kanwal và Munir

(2015); giả thuyết được đặt ra với H 1 : Bất bình đẳng giáo dục có tác động cùng chiều đến bất bình đẳng thu nhập

2.3.2 Mối quan hệ giữa trung bình số năm đi học và bất bình đẳng thu nhập Một số các nghiên cứu cho thấy tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa bất bình đẳng thu nhập và trung bình số năm đi học (Ram, 1984; Park, 1996; Gregorio và Lee, 2002), có nghĩa là khi trình độ học vấn (trung bình số năm đi học) của dân số tăng thì bất bình đẳng thu nhập có xu hướng giảm Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại tìm thấy một mối tương quan cùng chiều giữa hai yếu tố này (Deininger và

Trang 28

Squire, 1998) Barro (1999) cho rằng tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa trình độ học vấn tiểu học và bất bình đẳng thu nhập nhưng một mối quan hệ cùng chiều ở các mức độ học vấn cao hơn Thế nên có nhiều lý do khác nhau để giải thích cho trường hợp này Theo Wolf (2004), trình độ học vấn của cá nhân có liên quan chặt chẽ hơn với khả năng bẩm sinh, tâm lý và đặc điểm tính cách (chẳng hạn như cần cù); và không phải phụ thuộc vào hoàn toàn giáo dục Theo Galor và Tsiddon (1997), đặc điểm di truyền liên quan chặt chẽ với giáo dục mà trẻ em tiếp cận được

Do đó, sự khác biệt về giáo dục đạt được có thể phát sinh do hậu quả của sự không đồng nhất trong khả năng của mỗi người

Như vậy để đơn giản hóa trong nghiên cứu này tác giả chỉ xem xét tác động giáo dục thông qua trung bình số năm đi học - là một kênh quan trọng tác động đến bất bình đẳng thu nhập Với kỳ vọng trung bình số năm đi học có tác động ngược chiều đến bất bình đẳng thu nhập theo các nghiên cứu của Ram (1984), Park (1996),

Gregorio và Lee (2002), giả thuyết H 2 : Trung bình số năm đi học có tác động ngược chiều đến bất bình đẳng thu nhập

2.3.3 Mối quan hệ giữa thu nhập bình quân đầu người và bất bình đẳng thu nhập Kuznets (1955) người thừa nhận rằng thu nhập bình quân đầu người có ảnh hưởng bất bình đẳng thu nhập Bất bình đẳng thu nhập tăng lên khi các quốc gia bắt đầu công nghiệp hóa và cải thiện khi các nước trở nên giàu hơn Mối quan hệ này được biết đến thông qua đường cong Kuznets Đường cong Kuznets cho thấy, trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, lực lượng lao động chủ yếu làm nông nghiệp Quá trình công nghiệp hóa xảy ra, nhiều công nhân di chuyển từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và mức tiền lương của họ cũng tăng lên, sự chuyển đổi này làm tăng thêm sự bất bình đẳng thu nhập (Firebaugh, 2003) Bên cạnh đó, sự phân phối lao động như thế sẽ làm bất bình đẳng cao hơn khi thu nhập tăng Hơn thế nữa, cơ cấu kinh tế sẽ chuyển dịch từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp

Trang 29

Để kiểm định cho lý thuyết trên, các kết quả nghiên cứu thực nghiệm đã cho các kết quả khác nhau (Ahluwalia, 1976; Anand và Kanbur, 1993; Checchi, 2003; Gregorio và Lee, 2002) Ví dụ, Ahluwalia (1976) trong nghiên cứu của mình, tác giả đã phát hiện sự tồn tại đường cong chữ U ngược giữa thu nhập và bất bình đẳng Tuy nhiên, Anand và Kanbur (1993) với kết quả nghiên cứu lại cho rằng không tồn tại đường cong này Theo Checchi (2003), các kết quả thực nghiệm về mối liên hệ giữa bất bình đẳng và bất bình đẳng giáo dục không thống nhất bởi vì cấu trúc xã hội khác nhau ở các quốc gia như tài sản thừa kế (historical heritage), tôn giáo (religion), thành phần dân tộc (ethnic composition), truyền thống văn hóa (cultural traditions), tình hình phát triển ở các quốc gia Vì vậy nghiên cứu của tác giả sẽ không kỳ vọng tồn tại đường cong Kuznet bởi vì dữ liệu được thu thập từ các quốc gia khác nhau Tuy nhiên tác giả cũng kỳ vọng tồn tại mối quan hệ tuyến tính giữa thu nhập bình quân đầu người và bất bình đẳng thu nhập theo kết quả nghiên cứu của Rodríguez‐Pose và Tselios (2009) Tác giả tiến hành sử dụng biến số này trong

nghiên cứu của mình với giả thuyết H 3 : Thu nhập bình quân đầu người có tác động ngược chiều đến bất bình đẳng thu nhập

2.3.4 Mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và bất bình đẳng thu nhập

Tương tự với mối quan hệ của các biến số khác, ảnh hưởng của chi tiêu chính phủ đến bất bình đẳng thu nhập cũng dẫn đến nhiều kết quả khác nhau Sử dụng dữ liệu chéo của các quốc gia, Gregorio và Lee (2002) xem xét tác động chi tiêu giáo dục đến phân phối thu nhập (được đo lường bằng hệ số Gini) Kết quả nghiên cứu cho thấy chi tiêu chính phủ dành cho giáo dục góp phần làm giảm mức độ bất bình đẳng thu nhập và tác động lớn hơn ở các quốc gia có thu nhập cao Tuy nhiên một

số tác giả khác tìm thấy chi tiêu giáo dục hoặc phát triển giáo dục có mối quan hệ cùng chiều với bất bình đẳng (Deininger và Squire, 1998; Checchi, 2003; Jiminez, 1986) Ví dụ, Jiminez (1986) cho rằng chi phí giáo dục công không có lợi cho người nghèo, và do đó không làm giảm sự bất bình đẳng thu nhập Chi tiêu công trong giáo dục có thể làm tăng khoảng cách thu nhập giữa người giàu và người nghèo,

Trang 30

mặc dù mọi người đều có quyền bình đẳng về giáo dục Bên cạnh đó, việc mở rộng đầu tư giáo dục sẽ không có lợi cho người nghèo nếu họ không có đủ nguồn lực để

đi học, đặc biệt nếu họ đang bị đánh thuế để tăng thu ngân sách nhằm tài trợ cho giáo dục (Sylwester, 2002)

Như vậy, chi tiêu của chính phủ cũng có khả năng tác động đến bất bình đẳng thu nhập Dựa vào mô hình Gregorio và Lee (2002), tác giả sử dụng biến chi tiêu giáo dục của chính phủ trễ một kỳ làm biến kiểm soát với giả định chi tiêu giáo dục kỳ trước có tác động không ngay lập tức mà sẽ ảnh hưởng đến bất bình đẳng thu nhập

trong kì sau (hiệu quả đầu tư có độ trễ) Do đó giả thuyết được tác giả đặt ra là H 4 : Chi tiêu cho giáo dục trễ một kỳ có tác động ngược chiều đến bất bình đẳng thu nhập

2.3.5 Mối quan hệ giữa tỷ lệ dân số thành thị và bất bình đẳng thu nhập

Đô thị hóa cũng là kênh quan trọng ảnh hưởng đến bất bình đẳng thu nhập Rodríguez‐Pose và Tselios (2009) cung cấp một nghiên cứu thực nghiệm cho thấy

đô thị hóa có tác động ngược chiều đến bất bình đẳng thu nhập Tuy nhiên nghiên cứu của Sicular và cộng sự (2008) cho thấy tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ

lệ đô thị hóa và bất bình đẳng thu nhập Ngược lại, nghiên cứu của Yang (2009), Petcu (2014) cho thấy không tồn tại mối quan hệ giữa tỷ lệ đô thị hóa và bất bình đẳng thu nhập Với kỳ vọng tỷ lệ dân số thành thị cũng có khả năng tác động đến bất bình đẳng thu nhập Tác giả sử dụng tỷ lệ dân số thành thị trong nhóm biến kiểm

soát của mình với giả thuyết H 5 : Tỷ lệ dân số thành thị có tác động cùng chiều đến bất bình đẳng thu nhập

2.3.6 Mối quan hệ giữa mở cửa thương mại, tự do hóa kinh tế và bất bình đẳng thu nhập

Mở cửa thương mại, tự do hóa kinh tế cũng có tác động đến bất bình đẳng thu nhập Wells (2006) tận dụng bối cảnh toàn cầu hóa trong nghiên cứu liên quan đến bất bình đẳng giáo dục và phát triển kinh tế Bằng cách kiểm tra tác động của các biến giáo dục và kinh tế đến bất bình đẳng thu nhập, nghiên cứu này cho thấy

Trang 31

những ảnh hưởng của giáo dục đến bất bình đẳng thu nhập có thể bị ảnh hưởng bởi mức độ tự do kinh tế trong một quốc gia Thế nên, mức độ tự do hóa nền kinh tế phải được xem xét khi tạo ra các chính sách để giảm bất bình đẳng Tuy nhiên, mối quan hệ này cũng tồn tại các kết quả khác nhau

Một số nghiên cứu phát hiện ra rằng mở cửa thương mại, chính sách không bảo hộ hoặc các chính sách mở cửa khác có liên quan đều dẫn đến bất bình đẳng thu nhập cao hơn (Edwards, 1997; Barro, 2000; Dollar và Kraay, 2002; Petcu, 2014) Tuy nhiên theo Palma (2011) nguyên nhân gây bất bình đẳng khác nhau ở các nơi

và không thể dựa vào toàn cầu hóa để giảm bất bình đẳng một cách tự động và có bằng chứng cho thấy toàn cầu hóa làm tăng bất bình đẳng Ngược lại, Berggren (1999) và Scully (2002) kết luận rằng một sự thay đổi trong tự do kinh tế đòi hỏi mức thuế thấp hơn và giảm các quy định của chính phủ về đặc trưng nền kinh tế Từ

đó dẫn đến bình đẳng hơn trong phân phối thu nhập và tăng trưởng thu nhập trong nước Tuy nhiên theo Carter (2007), tác giả cho rằng mối quan hệ giữa tự do kinh tế

và bất bình đẳng thu nhập là cùng chiều, có ý nghĩa thống kê và tương đối không co giãn; trong ngắn hạn tự do hóa kinh tế sẽ thúc đẩy bình đẳng hơn trong phân phối thu nhập; trong dài hạn, tự do hóa kinh tế cuối cùng sẽ dẫn đến bất bình đẳng thu nhập lớn hơn Chẳng những vậy, nhiều nghiên cứu khác lại không tìm thấy mối quan hệ này (Li và Zou, 2002) hoặc kết quả không tương đồng giữa các nhóm Ví

dụ Milanovic và Squire (2005), tác giả nhận thấy rằng chính sách tự do hóa làm tăng sự bất bình đẳng trong các nước nghèo hơn nhưng lại giảm bất bình đẳng trong các nước giàu

Thế nên, tự do hóa trong kinh tế cũng là một kênh tác động đến bất bình đẳng thu nhập và có nhiều chỉ tiêu để đo lường cho tự do hóa thương mại Tuy nhiên nhằm hạn chế sử dụng nhiều biến vì sẽ ảnh hưởng đến kết quả ước lượng Tác giả

sử dụng chỉ số tổng hợp EFI5 đại diện cho mức độ tự do hóa kinh tế của các quốc

5 Chỉ số này sẽ được tác giả trình bày rõ hơn trong Chương 3

Trang 32

gia với giả thuyết H 6 : Chỉ số tự do hóa kinh tế có tác động ngược chiều đến bất bình đẳng thu nhập

Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu chính liên quan

Tác giả Dữ liệu Biến Phương pháp

nghiên cứu Kết quả nghiên cứu

Psacharopoulos

(1977)

49 quốc gia, 1973

Edu: Phương sai số năm đi học ở các cấp Inc: hệ số Gini

OLS

Bất bình đẳng giáo dục có mối quan hệ cùng chiều với bất bình đẳng thu nhập

Winegarden

(1979)

Các quốc gia năm

1960

Edu: Phương sai số năm đi học ở các cấp Inc: hệ số Gini

OLS, 2SLS

Bất bình đẳng giáo dục có mối quan hệ cùng chiều với bất bình đẳng thu nhập

Ram (1984) 28 quốc

gia

Edu: phương sai của mức giáo dục Inc: chênh lệch thu nhập

OLS

Không tồn tại mối quan hệ giữa bất bình đẳng giáo dục

và bất bình đẳng thu nhập Trung bình số năm đi học

có mối quan hệ ngược chiều với bất bình đẳng thu nhập

Barro (2000)

76 nước, 1960-

1990

Edu: Tỷ lệ nhập học ở các cấp Inc: hệ số Gini

FEM, REM

Mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ nhập học tiểu học

và bất bình đẳng thu nhập, nhưng mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ nhập học bậc cao hơn và bất bình đẳng thu nhập

Gregorio và Lee

(2002)

49 nước 1960-

1990

Edu: độ lệch chuẩn của giáo dục

Inc: hệ số Gini

SUR

Trung bình số năm đi học

và phân phối giáo dục công bằng hơn sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc phân phối thu nhập bình đẳng hơn

Checchi (2003)

108 quốc gia; 1960-

1995

Edu: tỷ lệ nhập học ở bậc trung học

Inc: hệ số Gini

Pooled OLS, FEM, REM

Mối quan hệ ngược chiều giữa bất bình đẳng thu nhập

và tỷ lệ nhập học ở bậc trung học

Tselios (2008) 94 khu

vực giai

Edu: hệ số Gini Inc: hệ số Gini SUR, SEM

Tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa bất bình đẳng thu

Trang 33

Tác giả Dữ liệu Biến Phương pháp

nghiên cứu Kết quả nghiên cứu

đoạn 1995-

2000

nhập và bất bình đẳng giáo dục

FEM, REM, GMM

Trung bình số năm đi học

2005

Edu: hệ số Gini Inc: hệ số Gini SEM

Bình đẳng giáo dục không góp phần vào việc giảm bất bình đẳng thu nhập

Földvári và

Leeuwen (2011)

Các quốc gia 1960-

2000

Edu: hệ số Gini Inc: hệ số Gini FEM, REM

Tồn tại mối quan hệ rất yếu giữa bất bình đẳng giáo dục

và bất bình đẳng thu nhập Trung bình số năm đi học

có mối quan hệ ngược chiều với bất bình đẳng thu nhập

Castelló-Climent

và Domenech

(2014)

146 quốc gia, 1950-

2010

Edu: hệ số Gini Inc: hệ số Gini FEM, REM

Mối quan hệ yếu và ngược chiều giữa bất bình đẳng giáo dục và bất bình đẳng thu nhập Trung bình số năm đi học có mối quan hệ cùng chiều với bất bình đẳng thu nhập

Bất bình đẳng giáo dục có mối quan hệ cùng chiều với bất bình đẳng thu nhập

Ghi chú: Edu-các biến dùng để đo lường bất bình đẳng giáo dục

Inc-các biến dùng để đo lường bất bình đẳng thu nhập

Nguồn: Tác giả tổng hợp

2.4 Khung phân tích

Từ lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm đã được đề cập, các kết quả cho thấy tồn tại mối quan hệ phức tạp giữa giáo dục và bất bình đẳng thu nhập Nghiên cứu này dựa trên khung phân tích của Gregorio và Lee (2002), Tselios (2008), Petcu

Trang 34

(2014) và kết quả của nhiều nghiên cứu thực nghiệm có liên quan như Psacharopoulos (1977), Edwards (1997), Winegarden (1979), Savvides (1998), Barro (2000), Dollar và Kraay (2002), Sylwester (2002), Checchi (2003), Rodríguez‐Pose và Tselios (2009), Castelló-Climent và Domenech (2014), Kanwal

và Munir (2015) Cụ thể như sau:

Hình 2.3: Khung phân tích của nghiên cứu

Nguồn: Tác giả tổng hợp

BẤT BÌNH ĐẲNG GIÁO DỤC

(EduGini)

BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP

(IncGini)

Phương pháp nghiên cứu định lượng với

Mô hình dữ liệu bảng (Pooled OLS, FEM, REM)

H1 (+)

TRUNG BÌNH SỐ NĂM ĐI HỌC

(Yschool)

THU NHẬP BÌNH QUÂN

ĐẦU NGƯỜI (Gdpper)

CHI TIÊU GIÁO DỤC TRỄ 1 KỲ

Trang 35

A Mối quan hệ giữa bất bình đẳng giáo dục và bất bình đẳng thu nhập

Nghiên cứu của Psacharopoulos (1977), Winegarden (1979), Gregorio và Lee (2002), Tselios (2008), Rodríguez‐Pose và Tselios (2009), Kanwal và Munir (2015)

H1: Bất bình đẳng giáo dục tác động cùng chiều đến bất bình đẳng thu nhập

B Mối quan hệ giữa trung bình số năm đi học và bất bình đẳng thu nhập

Nghiên cứu của Ram (1984), Park (1996), Gregorio và Lee (2002)

H2: Trung bình số năm đi học tác động ngược chiều đến bất bình đẳng thu nhập

C Mối quan hệ giữa thu nhập bình quân đầu người và bất bình đẳng thu nhập

Nghiên cứu của Psacharopoulos (1977), Winegarden (1979), Barro (2000), Gregorio và Lee (2002), Checchi (2003), Tselios (2008), Rodríguez‐Pose và Tselios (2009), Castelló-Climent và Domenech (2014), Kanwal và Munir (2015)

H3: Thu nhập bình quân đầu người tác động ngược chiều đến bất bình đẳng thu nhập

D Mối quan hệ giữa chi tiêu cho giáo dục và bất bình đẳng thu nhập

Nghiên cứu của Sylwester (2002); Deininger và Squire (1998); Checchi (2000)

H4: Chi tiêu cho giáo dục trễ một kỳ có tác động ngược chiều đến bất bình đẳng thu nhập

E Mối quan hệ giữa tỷ lệ dân số thành thị và bất bình đẳng thu nhập

Nghiên cứu của Rodríguez‐Pose và Tselios (2009), Sicular và cộng sự (2008)

H5: Tỷ lệ dân số thành thị tác động cùng chiều đến bất bình đẳng thu nhập

Trang 36

F Mối quan hệ giữa chỉ số tự do hóa kinh tế và bất bình đẳng thu nhập

Nghiên cứu của Edwards (1997), Barro (2000), Dollar và Kraay (2002), Petcu (2014)

H6: Chỉ số tự do hóa kinh tế tác động ngược chiều đến bất bình đẳng thu nhập

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Như vậy trong chương 2, tác giả đã trình bày các lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan Bên cạnh đó, khung phân tích và các biến đưa vào mô hình cũng được đề xuất thông qua cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm Trong Chương 3, tác giả sẽ trình bày cụ thể hơn về quy trình thực hiện nghiên cứu cũng như phương pháp, công cụ và dữ liệu được tác giả sử dụng trong nghiên cứu này

Trang 37

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Ở chương 2, tác giả đã tiến hành tổng quan các lý thuyết cũng như các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của giáo dục đến bất bình đẳng thu nhập Trong chương 3, tác giả sẽ giới thiệu về quy trình thực hiện, mô hình, phương pháp và dữ liệu nghiên cứu sẽ được sử dụng cho đề tài

3.1 Quy trình nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện theo phương pháp qui nạp với tuần tự theo hai bước

Bước 1: tác giả tiến hành kỹ thuật tổng hợp các lý thuyết và phân tích các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa các yếu tố đến bất bình đẳng thu nhập đặc biệt là tác động của giáo dục đến bất bình đẳng thu nhập, kết hợp với phân tích tình hình thực tiễn của các quốc gia được nghiên cứu, mô hình nghiên cứu lý thuyết

đề xuất được xây dựng

Bước 2: phân tích dữ liệu nhằm kiểm chứng mô hình lý thuyết đã xây dựng ở Bước 1 Trên cơ sở mô hình nghiên cứu lý thuyết đề xuất, tác giả tiến hành thu thập thông tin và dữ liệu; dữ liệu thu thập về được tổng hợp, làm sạch và xử lý trước khi phân tích Bằng phương pháp POOLED OLS, FEM, REM, tác giả sẽ tiến hành sử dụng phần mềm STATA 12 để kiểm chứng mối quan hệ giữa các biến số đến bất bình đẳng thu thập trong trường hợp các quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp giai đoạn 1990-2015 Cuối cùng, tác giả tiến hành các kiểm định đánh giá mô hình phù hợp và phân tích kết quả

Trang 38

Mục tiêu Lý thuyết Phân tích Kết quả Thảo luận

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu

Nguồn: Tác giả tổng hợp

3.2 Mô hình nghiên cứu

Từ khung phân tích, mô hình kinh tế lượng được đề xuất trong nghiên cứu như

sau:

IncGini i,t = 0 + 1 EduGini i,t + 2 Yschool i,t + 3 Gdpper i,t

+ 4 Expenditure i,t-1 + 5 Urban i,t + 6 EFI i,t + u i,t

Trong đó:

IncGinii,t : bất bình đẳng về thu nhập

EduGinii,t : bất bình đẳng về giáo dục

Yschooli,t : trung bình số năm đi học

Gdpperi,t : thu nhập bình quân đầu người

Expenditurei,t-1 : chi tiêu của chính phủ cho giáo dục trễ 1 kỳ

Tổng hợp

lý thuyết

Thu thập dữ liệu từ các nguồn

Phân tích

Ước lượng tác động giáo dục đến bất bình đẳng thu nhập

Hàm ý chính sách và hướng nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu liên quan

Xây dựng mô hình nghiên cứu lý thuyết

Phân tích, kiểm định

mô hình

Trang 39

Urbani,t : tỷ lệ dân số thành thị

EFIi,t : chỉ số tự do hóa kinh tế

ui,t : các phần dư của mô hình

3.3 Mô tả biến số

3.3.1 Bất bình đẳng thu nhập

Biến phụ thuộc bất bình đẳng thu nhập (IncGini) được đo lường bằng cách sử

dụng hệ số Gini được lấy từ cơ sở dữ liệu bất bình đẳng thu nhập của công cụ chỉ báo phát triển thế giới (WDI), Ngân hàng thế giới (World Bank) trong giai đoạn 1990-2015 với dữ liệu theo năm với đơn vị tính là phần trăm Đây là thước đo được

sử dụng phổ biến nhất trong kinh tế và nghiên cứu về bất bình đẳng vì thế có thể tiếp cận và so sánh dễ dàng hơn với các nghiên cứu trước (Psacharopoulos, 1977; Winegarden, 1979; Barro, 2000; Gregorio và Lee, 2002; Checchi, 2003; Tselios, 2008; Rodríguez‐Pose và Tselios, 2009; Yang và cộng sự, 2009; Földvári và Leeuwen, 2011; Castelló-Climent và Domenech, 2014; Kanwal và Munir, 2015) 3.3.2 Bất bình đẳng giáo dục

Biến bất bình đẳng giáo dục (EduGini) được đo lường bằng cách sử dụng hệ

số Gini Các hệ số Gini giáo dục được xây dựng theo phương pháp Barro và Lee (2001) Tác giả sử dụng công thức như đề nghị của Castelló và Domenech (2002), Thomas và cộng sự (2001) như sau:

(1) Trong đó là trung bình số năm đi học của dân số từ 15 tuổi trở lên, i và j là các mức độ khác nhau của giáo dục, ni và nj là tỷ lệ dân số ở từng mức giáo dục, và

và là số năm đi học trung bình tích lũy của từng cấp học Theo Barro và Lee (2001), giáo dục sẽ được xem xét với bốn cấp độ: không đi học (0), tiểu học (1),

Trang 40

trung học (2) và giáo dục đại học (3) Với là số năm học trung bình của mỗi cấp giáo dục i, ta có:

(2)

Mở rộng biểu thức (1) và sử dụng (2), hệ số Gini có thể được tính như sau:

Như vậy, hệ số Gini được tác giả tính toán thông qua các biến thành phần với nguồn dữ liệu từ Barro và Lee, công cụ chỉ báo phát triển thế giới (WDI), Ngân hàng thế giới (World Bank) giai đoạn 1990-20156 cho nhóm dân số có độ tuổi từ 15 trở lên bao gồm: tỷ lệ dân số không đi học (n0), tỷ lệ dân số hoàn thành mức giáo dục cao nhất là tiểu học (n1), tỷ lệ dân số hoàn thành mức giáo dục cao nhất là trung học (n2), tỷ lệ dân số hoàn thành mức giáo dục cao nhất là cao đẳng, đại học (n3), trung bình số năm đi học ở bậc tiểu học (x1), trung bình số năm đi học ở bậc trung học (x2), trung bình số năm đi học ở bậc cao đẳng, đại học (x3) Ngoài ra, chỉ số bất bình đẳng giáo dục được tính toán theo Barro và Lee (2001) đã giải quyết hầu hết các nhược điểm góp phần giảm sai số đo lường và cải thiện tình trạng chính xác của các ước tính bằng cách sử dụng thông tin từ dữ liệu điều tra dân số và một phương pháp mới sử dụng các dữ liệu tách biệt theo nhóm tuổi Thế nên nó cũng được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về bất bình đẳng (Tselios, 2008; Rodríguez‐Pose và Tselios, 2009; Yang và cộng sự, 2009; Földvári và Leeuwen, 2011; Castelló-Climent và Domenech, 2014; Kanwal và Munir, 2015)

3.3.3 Trung bình số năm đi học

Trung bình số năm đi học (Yschool) được tính toán dựa trên nhóm dân số từ

15 tuổi trở lên và là biến đại diện cho mở rộng giáo dục ở các quốc gia (Barro và Lee, 2001) Biến số này được thu thập từ nguồn dữ liệu của Barro và Lee, công cụ

6 Các quan sát bị thiếu dữ liệu được bổ sung từ trang web http://www.barrolee.com/

Ngày đăng: 07/06/2017, 00:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Phi Hổ và cộng sự, 2009. Kinh tế phát triển. Hồ Chí minh: nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế phát triển
Nhà XB: nhà xuất bản Thống kê
2. Đỗ Thiên Kính, 2015. Bất bình đẳng về giáo dục ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí xã hội học, số 1, trang 89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí xã hội học
3. Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008. Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS. Nhà xuất bản Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức
5. Nguyễn Thanh Hằng, 2015. Ảnh hưởng của bất bình đẳng trong phân phối thu nhập đến tăng trưởng kinh tế. Tạp chí Kinh tế phát triển, số 216, trang 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Kinh tế phát triển
6. Nguyễn Thị Hương Trà, 2007. Giáo trình Xã hội học đại cương. Khoa Công tác Xã hội &amp; Phát triển công cộng – Đại học Đà Lạt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Xã hội học đại cương
7. Nguyễn Trọng Hoài và cộng sự, 2010. Kinh tế phát triển. Hồ Chí Minh: nhà xuất bản Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế phát triển
Nhà XB: nhà xuất bản Lao động
8. Nguyễn Trọng Hoài, 2001. Mô hình hóa và dự báo chuỗi thời gian trong kinh doanh. Hồ Chí Minh: nhà xuất bản Đại học quốc gia.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình hóa và dự báo chuỗi thời gian trong kinh doanh
Nhà XB: nhà xuất bản Đại học quốc gia. Tài liệu tiếng Anh
9. Abdelbaki, H. H., 2012. An analysis of income inequality and education inequality in Bahrain. Modern Economy, 3(05):675 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Modern Economy, 3
10. Ahluwalia, Montek S., 1976. Inequality, Poverty and Development. Journal of Development Economics, 3:307–342 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Development Economics, 3
11. Anand, S., &amp; Kanbur, S. R., 1993. The Kuznets process and the inequality—development relationship. Journal of development economics, 40(1): 25-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of development economics, 40
12. Barro, R. J., &amp; Lee, J. W., 2001. International data on educational attainment: updates and implications. oxford Economic papers, 53(3): 541-563 Sách, tạp chí
Tiêu đề: oxford Economic papers, 53
13. Barro, R. J., 1999. Inequality, growth, and investment (No. w7038). National bureau of economic research Sách, tạp chí
Tiêu đề: Inequality, growth, and investment
14. Barro, R. J., 2000. Inequality and Growth in a Panel of Countries. Journal of economic growth, 5(1): 5-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of economic growth, 5
15. Behrman, J. R., &amp; Birdsall, N., 1983. The quality of schooling: quantity alone is misleading. The American Economic Review, 73(5): 928-946 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The American Economic Review, 73
16. Berggren, N., 1999. Economic freedom and equality: Friends or foes?. Public choice, 100(3-4): 203-223 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Public choice, 100
17. Carter, J. R., 2007. An empirical note on economic freedom and income inequality. Public Choice, 130(1-2):163-177 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Public Choice, 130
19. Champernowne, D. G., &amp; Cowell, F. A., 1998. Economic inequality and income distribution. Cambridge University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economic inequality and income distribution
20. Checchi, D., 2003. Inequality in incomes and access to education: a cross‐country analysis (1960–95). Labour, 17(2):153-201 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Labour, 17
21. Deininger, K., &amp; Squire, L., 1998. New ways of looking at old issues: inequality and growth. Journal of development economics, 57(2):259-287 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of development economics, 57
22. Edwards, S., 1997. Trade policy, growth, and income distribution. The American Economic Review, 87(2): 205-210 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The American Economic Review, 87

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1:  Đường cong Lorenz - Giáo dục và phân phối thu nhập nghiên cứu trường hợp các quốc gia có thu nhập trung bình thấp giai đọan 1990   2015
Hình 2.1 Đường cong Lorenz (Trang 17)
Hình 2.2:  Mối quan hệ nhân quả giữa giáo dục và bất bình đẳng thu nhập - Giáo dục và phân phối thu nhập nghiên cứu trường hợp các quốc gia có thu nhập trung bình thấp giai đọan 1990   2015
Hình 2.2 Mối quan hệ nhân quả giữa giáo dục và bất bình đẳng thu nhập (Trang 24)
Bảng 2.1:  Tổng hợp các nghiên cứu chính liên quan - Giáo dục và phân phối thu nhập nghiên cứu trường hợp các quốc gia có thu nhập trung bình thấp giai đọan 1990   2015
Bảng 2.1 Tổng hợp các nghiên cứu chính liên quan (Trang 32)
Hình 2.3:  Khung phân tích của nghiên cứu - Giáo dục và phân phối thu nhập nghiên cứu trường hợp các quốc gia có thu nhập trung bình thấp giai đọan 1990   2015
Hình 2.3 Khung phân tích của nghiên cứu (Trang 34)
Hình 3.1:  Quy trình nghiên cứu - Giáo dục và phân phối thu nhập nghiên cứu trường hợp các quốc gia có thu nhập trung bình thấp giai đọan 1990   2015
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu (Trang 38)
Bảng 4.1:  Kết quả thống kê mô tả cho mẫu nghiên cứu - Giáo dục và phân phối thu nhập nghiên cứu trường hợp các quốc gia có thu nhập trung bình thấp giai đọan 1990   2015
Bảng 4.1 Kết quả thống kê mô tả cho mẫu nghiên cứu (Trang 51)
Hình 4.1:  Phân bố giá trị bất bình đẳng giáo dục của các quốc gia trong mẫu - Giáo dục và phân phối thu nhập nghiên cứu trường hợp các quốc gia có thu nhập trung bình thấp giai đọan 1990   2015
Hình 4.1 Phân bố giá trị bất bình đẳng giáo dục của các quốc gia trong mẫu (Trang 54)
Hình 4.2:  Phân bố giá trị bất bình đẳng thu nhập của các quốc gia trong mẫu - Giáo dục và phân phối thu nhập nghiên cứu trường hợp các quốc gia có thu nhập trung bình thấp giai đọan 1990   2015
Hình 4.2 Phân bố giá trị bất bình đẳng thu nhập của các quốc gia trong mẫu (Trang 55)
Hình 4.3:  Mối quan hệ giữa bất bình đẳng giáo dục và bất bình đẳng thu nhập - Giáo dục và phân phối thu nhập nghiên cứu trường hợp các quốc gia có thu nhập trung bình thấp giai đọan 1990   2015
Hình 4.3 Mối quan hệ giữa bất bình đẳng giáo dục và bất bình đẳng thu nhập (Trang 57)
Hình 4.4:  Mối quan hệ giữa trung bình số năm đi học và bất bình đẳng thu nhập - Giáo dục và phân phối thu nhập nghiên cứu trường hợp các quốc gia có thu nhập trung bình thấp giai đọan 1990   2015
Hình 4.4 Mối quan hệ giữa trung bình số năm đi học và bất bình đẳng thu nhập (Trang 58)
Hình 4.5:  Mối quan hệ giữa thu nhập bình quân đầu người và bất bình đẳng thu - Giáo dục và phân phối thu nhập nghiên cứu trường hợp các quốc gia có thu nhập trung bình thấp giai đọan 1990   2015
Hình 4.5 Mối quan hệ giữa thu nhập bình quân đầu người và bất bình đẳng thu (Trang 59)
Hình 4.6:  Mối quan hệ giữa chi tiêu giáo dục của chính phủ và bất bình đẳng thu - Giáo dục và phân phối thu nhập nghiên cứu trường hợp các quốc gia có thu nhập trung bình thấp giai đọan 1990   2015
Hình 4.6 Mối quan hệ giữa chi tiêu giáo dục của chính phủ và bất bình đẳng thu (Trang 60)
Hình 4.7:  Mối quan hệ giữa tỷ lệ dân số thành thị và bất bình đẳng thu nhập - Giáo dục và phân phối thu nhập nghiên cứu trường hợp các quốc gia có thu nhập trung bình thấp giai đọan 1990   2015
Hình 4.7 Mối quan hệ giữa tỷ lệ dân số thành thị và bất bình đẳng thu nhập (Trang 61)
Hình 4.8:  Mối quan hệ giữa chỉ số tự do hóa kinh tế và bất bình đẳng thu nhập - Giáo dục và phân phối thu nhập nghiên cứu trường hợp các quốc gia có thu nhập trung bình thấp giai đọan 1990   2015
Hình 4.8 Mối quan hệ giữa chỉ số tự do hóa kinh tế và bất bình đẳng thu nhập (Trang 62)
Bảng 4.8:  Kiểm tra tính vững của mô hình - Giáo dục và phân phối thu nhập nghiên cứu trường hợp các quốc gia có thu nhập trung bình thấp giai đọan 1990   2015
Bảng 4.8 Kiểm tra tính vững của mô hình (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w