Bên cạnh rủi ro tín dụng, trong các nghiên cứu gần đây của Laetitia, Strobel và Frank 2013, Mohamed Aymen Ben Moussa 2015 đã cho thấy rủi ro mất khả năng thanh toán giữ một vị trí quan t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LƯU THỊ THUẬN
VỐN CHỦ SỞ HỮU VÀ RỦI RO MẤT KHẢ NĂNG
THANH TOÁN CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LƯU THỊ THUẬN
VỐN CHỦ SỞ HỮU VÀ RỦI RO MẤT KHẢ NĂNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ "Vốn chủ sở hữu và rủi ro mất khả năng thanh toán của các ngân hàng thương mại Việt Nam" là kết quả của quá
trình học tập, nghiên cứu khoa học độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS Trầm Thị Xuân Hương
Các số liệu được nêu trong luận văn được trích dẫn nguồn rõ ràng và được thu thập từ thực tế, đáng tin cậy, được xử lý trung thực và khách quan
Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
TPHCM, ngày 20 tháng 3 năm 2017
Tác giả
Lưu Thị Thuận
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG 1
1.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.6 Phương pháp nghiên cứu 4
1.7 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 5
1.8 Kết cấu của luận văn 7
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VỐN CHỦ SỞ HỮU VÀ RỦI RO MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN 8
2.1 Giới thiệu chương 8
2.2 Vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại 8
2.2.1 Khái niệm vốn chủ sở hữu của Ngân hàng Thương mại 8
2.2.2 Thành phần vốn chủ sở hữu của Ngân hàng Thương mại 9
2.2.2.1 Nguồn hình thành vốn chủ sỡ hữu 9
2.2.2.2 Phân loại theo Hiệp ước Basel 11
2.2.3 Vai trò của vốn chủ sở hữu đối với hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Thương mại 12
2.3 Lý thuyết về rủi ro mất khả năng thanh toán của Ngân hàng Thương mại 15
2.3.1 Khái niệm rủi ro mất khả năng thanh toán 15
2.3.2 Đo lường rủi ro mất khả năng thanh toán 16
2.3.3 Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro mất khả năng thanh toán 16
Trang 52.4 Lược khảo các nghiên cứu liên quan: 20
2.4.1.Nghiên cứu nước ngoài: 20
2.4.2.Nghiên cứu trong nước 23
Tóm tắt chương 2 29
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ VỐN CHỦ SỞ HỮU VÀ RỦI RO MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 30
3.1 Giới thiệu chương 30
3.2 Thực trạng hoạt động của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2013-2015: 30
3.2.1 Tình hình Tổng tài sản: 30
3.2.2 Tình hình Vốn chủ sở hữu: 31
3.2.3 Tình hình lợi nhuận ròng: 32
3.2.4 Tình hình Chi phí hoạt động: 33
Tóm tắt chương 3 34
CHƯƠNG 4: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 35
4.1 Giới thiệu chương 35
4.2 Thiết kế nghiên cứu 35
4.3 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu 36
4.4.Thu thập và xử lý dữ liệu 45
4.5 Phương pháp ước lượng: 46
4.6 Các kiểm định: 49
4.7 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu và tương quan giữa các biến: 50
4.8 Kết quả ước lượng mô hình: 54
Tóm tắt chương 4 64
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GÓP Ý 66
5.1 Các góp ý nhằm hạn chế rủi ro mất khả năng thanh toán cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam 66
5.2.1 Góp ý nhằm gia tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản tại Ngân hàng thương mại: 66
Trang 65.2.2 Góp ý về tỷ lệ dư nợ trên tổng tài sản tại Ngân hàng thương mại: 68
5.2.3 Góp ý nhằm tăng nguồn vốn huy động tại Ngân hàng thương mại: 69
5.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 71
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 72
5.4 Kết luận chung 73 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1: THỐNG KÊ MÔ TẢ VÀ MA TRẬN HỆ SỐ TƯƠNG QUAN
PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ HỒI QUY MÔ HÌNH
PHỤ LỤC 3: CÁC KIỂM ĐỊNH
PHỤ LỤC 4: KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH BẰNG PHƯƠNG PHÁP BÌNH PHƯƠNG TỐI THIỂU TỔNG QUÁT KHẢ THI
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
viết tắt
Bank
2 Agribank Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt Nam
Vietnam bank for Agriculture and Rural Development
3 BIDV Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển
Việt Nam
Joint Stock Commercial Bank for Investment and Development of Viet Nam
8 FGLS Phương pháp bình phương tối thiểu
Viet Nam
11 HDBank Ngân hàng TMCP Phát triển Nhà TP
Trang 815 REM Mô hình tác động ngẫu nhiên Random Effects Model
16 Sacombank Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương
18 SHB Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội Saigon Hanoi Commercial
Joint Stock Bank
19 Techcombank Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt
Nam
Vietnam Technological and Commercial Joint Stock Bank
Commercial Joint Stock Bank
23 Vietcombank Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tổng hợp các nghiên cứu liên quan 25
Biểu đồ 3.1 Tổng tài sản bình quân của các NHTM trong giai đoạn 2013 – 2015 30 Biểu đồ 3.2 Vốn chủ sở hữu bình quân của các NHTM trong giai đoạn 2013 – 2015 31
Biểu đồ 3.3 Lợi nhuận ròng bình quân của các NHTM trong giai đoạn 2013 – 2015 32
Biểu đồ 3.4 Chi phí hoạt động bình quân của các NHTM trong giai đoạn 2013 – 2015 33
Bảng 4.1 Tổng hợp các biến trong mô hình nghiên cứu 44
Bảng 4.2 Thống kê các ngân hàng và nguồn dữ liệu nghiên cứu: 46
Bảng 4.3 Kết quả thống kê mô tả 50
Bảng 4.4: Ma trận hệ số tương quan 52
Bảng 4.5: Kiểm tra đa cộng tuyến giữa các biến độc lập 53
Bảng 4.6 Kết quả ước lượng mô hình (1) bằng phương pháp fixed effects: 54
Bảng 4.7 Kết quả ước lượng mô hình (1) bằng phương pháp random effects: 55
Bảng 4.8 Kết quả kiểm định Hausman Test: 56
Bảng 4.9 Kết quả kiểm định Modified Wald: 56
Bảng 4.10 Kết quả kiểm định Wooldridge: 57
Bảng 4.11 Kết quả ước lượng mô hình (1) bằng phương pháp Feasible General Least Square – FGLS 57
Bảng 4.12 Kết quả ước lượng mô hình (2) bằng phương pháp Feasible General Least Square – FGLS 61
Bảng 4.13 Kết quả ước lượng mô hình (3) bằng phương pháp Feasible General Least Square – FGLS 63
Trang 10CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG
1.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu
Bên cạnh rủi ro tín dụng, trong các nghiên cứu gần đây của Laetitia, Strobel
và Frank (2013), Mohamed Aymen Ben Moussa (2015) đã cho thấy rủi ro mất khả năng thanh toán giữ một vị trí quan trọng trong các loại rủi ro do có liên quan đến
sự tồn tại của một ngân hàng và đôi khi là cả hệ thống tài chính của một quốc gia.Rủi ro mất khả năng thanh toán là một trong những rủi ro được đề cập trong giai đoạn gần đây đặc biệt khi các cuộc khủng hoảng trên phạm vi toàn cầu nói chung và từng khu vực nói riêng liên tiếp xảy ra
Mục tiêu chính của luận văn này là đánh giá tác động của vốn chủ sở hữu đến rủi ro mất khả năng thanh toán, qua kết quả ước lượng các hệ số hồi quy của mô hình tác giả đề ra các giải pháp nhằmgiảm thiểu rủi ro mất khả năng thanh toán cho các NHTM tại Việt Nam
Nghiên cứu được thực hiện qua hai bước Bước đầu tiên, dựa vào phương pháp nghiên cứu được đề xuất bởiMohamed Aymen Ben Moussa (2015) để xây dựng mô hình thể hiện mối quan hệ giữa vốn chủ sở hữu và rủi ro mất khả năng thanh toán Bước tiếp theo, ước lượng mô hình với dữ liệu bảng bằng các phương pháp tác động cố định (Fixed Effects), tác động ngẫu nhiên (Random Effects).Kiểm định Hausman được thực hiện để lựa chọn giữa random effects hay fixed effects và các kiểm định khác nhằm kiểm tra các hiện tượng đa cộng tuyến, tự tương quan và phương sai thay đổi đối với dữ liệu bảng Kết quả thu được từ mô hình hồi quy sẽ được phân tích để đưa ra các hàm ý chính sách cho các nhà quản trị ngân hàng
Nghiên cứu sử dụng mẫu bao gồm 15 NHTM chiếm trên 80% thị phần ngân hàng tại Việt Nam (Báo cáo ngành ngân hàng Việt Nam, 2014).Dữ liệu được thu thập từ các nguồn đáng tin cậy như: Ngân hàng nhà nước (SBV), Tổng cục thống kê (GSO), Báo cáo tài chính năm 2010- 2015 của 15 NHTM: Agribank, Eximbank, Vietinbank, Vietcombank, BIDV, Sacombank, SCB, VIB, MB, Techcombank, VPBank, ACB, EAB, HDBank, SHB
Trang 111.2 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Theo Nguyễn Văn Lê (2014), hệ thống NHTM đóng vai trò rất quan trọng đối với mỗi quốc gia, góp phần thu hút vốn và cung ứng các khoản tín dụng cho nền kinh tế Hoạt động kinh doanh của NHTM phải luôn đảm bảo khả năng thanh toán,
an toàn và sinh lợi Trong đó vấn đề đảm bảo khả năng thanh toán rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng Khả năng thanh toán dưới góc độ ngân hàng được hiểu là khả năng đáp ứng tức thời nhu cầu rút tiền của khách hàng tại mọi thời điểm phát sinh Khi ngân hàng mất khả năng thanh toán sẽ khiến cho nền kinh tế rơi vào ảm đạm Thực tế điều này đã được kiểm chứng qua cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2007 – 2008 vừa qua, rủi ro của các khoản tín dụng dưới chuẩn kéo theo tình trạng mất khả năng thanh toán và phá sản của những tập đoàn, công ty lớn trong ngành ngân hàng như Lehman Brothers, Merrill Lynch đã đẩy nền kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái
Trong những năm gần đây, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2007 – 2008, các nghiên cứu trong và ngoài nước không ngừng tìm kiếm các nguyên nhân dẫn đến rủi ro mất khả năng thanh toán của các NHTM nhằm phát triển các công cụ quản lý rủi ro này Nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước chỉ ra
Tuy nhiên, vấn đề đang được tranh luận là tác động của vốn đến rủi ro mất khả năng thanh toán của các NHTM Vốn chủ sở hữu là hết sức quan trọng đối với một ngân hàng Vốn chủ sở hữu không chỉ tài trợ cho các khoản đầu tư của ngân hàng mà còn giúp các ngân hàng chủ động trong hoạt động kinh doanh, gia tăng năng lực canh tranh và đảm bảo uy tín của ngân hàng Tuy nhiên mối quan hệ giữa vốn chủ sở hữu và rủi ro mất khả năng thanh toán của ngân hàng khá phức tạp Một
số nghiên cứu của Godlewski (2004), Abba và cộng sự (2013), Mohamed Aymen Ben Moussa (2015) thấy rằng vốn chủ sở hữu giúp giảm thiểu rủi ro Vốn được xem như một bộ đệm hạn chế thiệt hại cho ngân hàng Hơn nữa, do sử dụng vốn của chủ
sở hữu, nên ngân hàng có thể giảm bớt các khuynh hướng tham gia vào các hoạt động có nguy cơ cao (Ben Bouheni, 2014) Nhưng một số nghiên cứu khác của
Trang 12Aggrawal và Jacques (2001), Shu Ling Lin và cộng sự (2005), Dao và Ankinbrand (2014) lại tìm thấy bằng chứng cho rằng đây là mối quan hệ cùng chiều, tức là vốn gia tăng rủi ro Vốn và rủi ro ngân hàng có thể diễn ra mối quan hệ cùng chiều do những rủi ro về đạo đức, theo đó các ngân hàng có thể trục lợi từ hệ thống bảo hiểm tiền gửi (Demirguc-Kunt và Kane, 2002) Tuy nhiên, Rime (2001) lại cho rằng không có mối quan hệ giữa rủi ro và vốn trong ngân hàng
Tại Việt Nam, hoạt động tài chính ngân hàng đang từng bước mở cửa sâu rộng với hệ thống tài chính ngân hàng khu vực và thế giới, hệ thống ngân hàng sẽ phát triển nhanh cả theo chiều sâu và chiều rộng Sự phát triển đa dạng các công cụ tài chính và hoạt động ngân hàng cũng đưa các ngân hàng đối mặt với nhiều rủi ro, trong đó có rủi ro mất khả năng thanh toán Mặt khác, tại một số NHTM Việt Nam, vốn chủ sở hữu lại chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng Do đó, có thể nói trong bối cảnh Việt Nam hiện nay việc xem xét mối quan hệ giữa vốn chủ sở hữu và rủi ro mất khả năng thanh toán là cần thiết Bởi vì, việc xác định mức độ và chiều hướng tác động vốn chủ sở hữu đến rủi ro mất khả năng thanh toán của ngân hàng sẽ giúp cho việc xây dựng các chính sách quản lý phù hợp Xuất phát từ lý do
trên, đề tài “Vốn chủ sở hữu và rủi ro mất khả năng thanh toán của các ngân hàng thương mại Việt Nam” là cần thiết và phù hợp
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu các vấn đề sau:
- Nghiên cứu tác động của vốn chủ sở hữu đến rủi ro mất khả năng thanh toán
- Kiểm định mô hình đánh giá tác động của vốn chủ sở hữu đến rủi ro mất khả năng thanh toán của các NHTM tại Việt Nam
- Đề xuất các giải pháp giảm rủi ro mất khả năng thanh toán cho các NHTM tại Việt Nam
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn trả lời các câu hỏi sau:
Trang 13- Mô hình nào phù hợp để đánh giá rủi ro mất khả năng thanh toán tại các NHTM Việt Nam?
- Mức độ ảnh hưởng của vốn chủ sở hữu đến rủi ro mất khả năng thanh toán tại các NHTM Việt Nam như thế nào?
- Đề xuất để giảm rủi ro mất khả năng thanh toán tại các NHTM Việt Nam?
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: mối quan hệ giữavốn chủ sở hữu và rủi ro mất khả
năng thanh toán của các NHTM Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Do giới hạn về thời gian nghiên cứu cũng như tiềm
lực tài chínhnênnghiên cứu dự kiến tiến hành tại 15 NHTM: Agribank, Eximbank, Vietinbank, Vietcombank, BIDV, Sacombank, SCB, VIB, MB, Techcombank, VPBank, ACB, EAB, HDBank, SHB Mặt khác, tính đến cuối năm 2012, 15 NHTM trong mẫu nghiên cứu đã chiếm trên 80% thị phần ngân hàng tại Việt Nam (Báo cáo ngành ngân hàng Việt Nam, 2014)
Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán của các ngân hàng trên từ năm 2010 đến năm 2015
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp định lượng dựa trên nghiên cứu của Mohamed Aymen Ben Moussa (2015) nhằm xây dựng mô hình thể hiện mối quan
hệ giữa vốn chủ sở hữu và rủi ro mất khả năng thanh toán bằng phần mềm Stata với
dữ liệu Panel Data Mô hình nghiên cứu cụ thể như sau:
𝑍 − 𝑐𝑜𝑟𝑒𝑖,𝑡 = 𝛽0+ 𝛽1𝑆𝐼𝑍𝐸𝑖,𝑡 + 𝛽2𝐶𝐴𝑃𝑖,𝑡 + 𝛽3𝑇𝐿𝐴𝑖,𝑡 + 𝛽4𝑅𝑂𝐴𝑖,𝑡 +
𝛽 𝑅𝑂𝐸𝑖,𝑡+ 𝛽6𝐶𝐸𝐴𝑖,𝑡 + 𝛽7𝐷𝐸𝑃𝑂𝑖,𝑡+ 𝛽8𝐶𝑃𝐶𝑖,𝑡+ 𝛽9𝐶𝐹𝐶𝑖,𝑡 + 𝛽10𝑇𝑃𝐼𝐵𝑖,𝑡+
𝛽11𝑇𝐼𝑁𝐹𝑖,𝑡 + 𝜖𝑖 (1) Trong đó Z-core là biến phụ thuộc đại diện cho rủi ro mất khả năng thanh toán của NHTM Chỉ số này được tính toán theo đề xuất của Mohamed Aymen Ben Moussa (2015) do có nhiều cải tiến hơn so với Boyd và Graham (1986) Cụ thể:
Trang 14𝑍 − 𝑐𝑜𝑟𝑒 = ( 𝜎(𝑅𝑂𝐴)
𝐸(𝑅𝑂𝐴) + 𝐶𝐴𝑃)
2
Các biến độc lập như: Quy mô ngân hàng (SIZE) được tính bằng Logarithm
tự nhiên của tổng tài sản, Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (CAP), Tỷ lệ tổng
dư nợ trên tổng tài sản (TLA), Lợi nhuận ròng trên tổng tài sản bình quân (ROA), Lợi nhuận ròng trên tổng vốn chủ sở hữu (ROE); Chi phí hoạt động trên tổng tài sản (CEA), Tổng tiền gửi trên tổng tài sản (DEPO), Vốn chủ sở hữu trên tổng dư nợ (CPC); Chi phí lãi trên tổng dư nợ (CFC), Tốc độ tăng trưởng GDP (TPIB), Tỷ lệ lạm phát (TINF)
Mô hình nghiên cứu đươc tác giả đề xuất trên cơ sở các nghiên cứu đã thực hiện tại các quốc gia trên thế giới Tác giả sử dụng các phương pháp ước lượng dành cho dữ liệu bảng như tác động cố định (Fixed Effects), tác động ngẫu nhiên (Random Effects), Kiểm định Hausman là một trong những phương pháp để lựa chọn giữa random effects hay fixed effects; Nếu mô hình được chọn có xảy ra hiện tượng tự tương quan hay phương sai thay đổi qua các thực thể, tác giả sử dụng phương pháp ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (Feasible General Least Square – FGLS) để khắc phục hiện tượng này Mô hình đo tác động của vốn chủ sở hữu lên rủi ro mất khả năng thanh toán tại NHTM Việt Nam bằng phần mềm Stata với dữ liệu bảng (Panel Data)
Nguồn dữ liệu: dữ liệu được thu thập từ các nguồn đáng tin cậy như: Ngân hàng Nhà nước, Tổng cục thống kê (GSO), Báo cáo tài chính năm của 15NHTM: Agribank, Eximbank, Vietinbank, Vietcombank, BIDV, Sacombank, SCB, VIB,
MB, Techcombank, VPBank, ACB, EAB, HDBank, SHB
1.7 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu
Về mặt lý luận:
Kết quả nghiên cứu tổng kết các lý thuyết về vốn chủ sở hữu và rủi ro thanh toán tại NHTM về khái niệm, mục đích, nội dung, tiêu chí đo lường… Đồng thời cung cấp cơ sở lý thuyết về phương pháp nghiên cứu để đánh giáảnh hưởng của vốn chủ sở hữu tới rủi ro mất khả năng thanh toán của các NHTM Việt Nam
Trang 15 Về mặt phương pháp:
Thứ nhất, dựa vào nguồn dữ liệu nêu trên, tác giả đã đánh giá ảnh hưởng của
vốn chủ sở hữu đến rủi ro mất khả năng thanh toán của các NHTM Việt Nam bằng phương pháp nghiên cứu định lượng cùng với sự hỗ trợ của phần mềm Stata 12.0
Sử dụng dữ liệu bảng với phương pháp ước lượng tác động ngẫu nhiên(Random Effects)vàtác động cố định (Fixed Effects).Kiểm định Hausman để lựa chọn giữa Random Effects và Fixed Effects Tác giả sử dụng phương pháp ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (Feasible General Least Square – FGLS) để khắc phục hiện tượng tự tương quan hay phương sai thay đổi qua các thực thể nếu có
Thứ hai, nghiên cứu cũng mở ra định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo
Nghiên cứu của tác giả sử dựng mô hình định lượng tác động của vốn chủ sở hữu đến rủi ro mất khả năng thanh toán của các NHTM tại Việt Nam Các nghiên cứu tiếp theo có thể tiếp tục mở rộng nghiên cứu này cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Về chiều rộng, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng việc xây dựng mô hình tác động của vốn chủ sở hữu đối với các loại rủi ro khác của hệ thống ngân hàng Về chiều sâu, các nghiên cứu khác có thể mở rộng kích thước mẫu với các công cụ định lượng đo lường khác
Ý nghĩa về mặt thực tiễn:
Thứ nhất, sử dụng mô hình định lượng đo lường mức độ ảnh hưởng của vốn
chủ sở hữu đến rủi ro mất khả năng thanh toán của các NHTM Việt Nam nhằm cung cấp một bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ này Bài nghiên cứu lượng hóa tác động của vốn chủ sở hữu đến rủi ro mất khả năng thanh toán của các NHTM tại Việt Nam qua đó cho thấy sự biến động vốn chủ sở hữu cũng dẫn đến rủi ro mất khả năng thanh toán trong hoạt động kinh doanh của NHTM như thế nào?
Thứ hai, thông qua kết quả ước lượng của mô hình hồi quy, tác giả đã đề ra
những kiến nghị về vốn chủ sở hữu trong việc gia tăng khả năng quản trị rủi ro thanh toán Từ việc nhận biết các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến rủi ro mất khả năng thanh toán, tác giả đưa ra một số góp ý nhằm nâng cao khả năng quản trị rủi ro mất khả năng thanh toán đối với các nhà quản lý ngân hàng
Trang 161.8 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 5 chương:
- Chương 1: Giới thiệu chung
Trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết về vốn chủ sở hữu và rủi ro mất khả năng thanh toán
Đưa ra các lý thuyết liên quan và các nghiên cứu đã được thực hiện để hình thành mô hình nghiên cứu và các giả thiết nghiên cứu
- Chương 3: Thực trạng về vốn chủ sở hữu và rủi ro mất khả năng thanh toán của các NHTM Việt Nam
Nêu tóm tắt thực trạng vốn chủ sở hữu và một số chỉ tiêu hoạt động cơ bản của các NHTM Việt Nam những năm gần đây
- Chương 4: Mô hình nghiên cứu và Kết quả nghiên cứu thực nghiệm
Nêu lên trình tự các bước và phương pháp thực hiện nghiên cứu Ước tính số lượng mẫu cần thu thập
Trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa vốn chủ sở hữu và rủi ro mất khả năng thanh toán tại các NHTMViệt Nam
- Chương 5: Kết luận và góp ý
Đưa ra các góp ý để phòng ngừa với rủi ro mất khả năng thanh toán có thể xảy ra trong tương lai và kết luận chung
Trang 17CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VỐN CHỦ SỞ HỮU VÀ RỦI RO
MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN
2.1 Giới thiệu chương
Chương 2 nhằm mục đích giới thiệu các lý thuyết về vốn chủ sở hữu và rủi
ro mất khả năng thanh toán tại NHTM và giới thiệu mô hình nghiên cứu Chương này gồm các phần chính sau: (1): Lý thuyết vốn chủ sở hữu tại NHTM; (2): Lý thuyết về rủi ro mất khả năng thanh toán tại NHTM; (3) Tác động của vốn chủ sở hữu tới rủi ro mất khả năng thanh toán; (4) Lược khảo các nghiên cứu liên quan
2.2 Vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại
2.2.1 Khái niệm vốn chủ sở hữu của Ngân hàng Thương mại
Theo Peter S.Rose (2012), đối với người làm ngân hàng và các đối thủ của
họ vốn chủ sở hữu có một ý nghĩa đặc biệt Vốn chủ sở hữu là nguồn tiền được đóng góp bởi những người chủ ngân hàng, bao gồm chủ yếu là cổ phiếu, các khoản
dự trữ và lợi nhuận không chia
Cũng theo Peter S Rose (2012), vốn chủ sở hữu đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động kinh doanh hằng ngày và đảm bảo cho hoạt động trong dài hạn của một tổ chức tài chính
Vốn chủ sở hữu của NHTM là nguồn vốn riêng của Ngân hàng do chủ sở hữu đóng góp ban đầu và được bổ sung trong quá trình kinh doanh (Trần Huy Hoàng, 2011)
Đối với các NHTM, về cơ bản, theo nghĩa hẹp, vốn chủ sở hữu là khoản tiền
mà các cổ đông, các chủ sởhữu đóng góp (vốn thực góp) để được hưởng các thu nhập của ngân hàng trong tương lai Theo nghĩa rộng, vốn chủ sở hữu ngân hàng được nhìn nhận như các khoản nguồn vốn của chủ ngân hàng dành cho việc hỗ trợ các hoạt động ngân hàng Định nghĩa như vậy bao gồm các quỹ dự trữ của ngân hàng và được gọi là nguồn vốn của các cổ đông Trải qua quá trình hoạt động, vốn chủ sởhữu có thể tích tụ tăng lên hoặc giảm xuống Tuy nhiên đối với các nhà quản
lý Nhà nước, vấn đề về tính đầy đủ của vốn ngân hàng là trọng yếu, đặc biệt sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu khiến một trong những giải pháp mà
Trang 18chính phủ một số nước hay sử dụng để cứu vãn hệ thống ngân hàng là cứu trợ và quốc hữu hóa, sử dụng nguồn vốn của chính phủ để cứu vãn sự sụp đổ của các ngân hàng
2.2.2 Thành phần vốn chủ sở hữu của Ngân hàng Thương mại
2.2.2.1 Nguồn hình thành vốn chủ sỡ hữu
Vốn điều lệ
Vốn ban đầu hình thành khi ngân hàng được thành lập, còn gọi là vốn điều
lệ, được ghi rõ trong điều lệ hoạt động của tổ chức Nguồn vốn này có thể được tạo
ra bằng nhiều cách, tùy thuộc vào tính chất sở hữu của ngân hàng: Vốn của NHTM Nhà nước do Nhà nước cấp từ ngân sách bằng tiền hoặc trái phiếu chính phủ; của NHTM tư nhân do cá nhân tự đóng góp; của NHTM Liên doanh do các bên tham gia liên doanh đóng góp; của NHTM cổ phần do các cổ đông góp thông qua việc mua cổ phiếu, và được tính theo mệnh giá cổ phiếu
Một số trường hợp, mức vốn điều lệ của mỗi ngân hàng phải tuân thủ theo quy định của các cơ quan quản lý Nhà nước về mức vốn tối thiểu cần đáp ứng đó được gọi là Vốn pháp định Vốn điều lệ chủ yếu được dùng để mua sắm Tài sản cố định, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động của ngân hàng bên cạnh đó còn dùng để góp vốn liên doanh, cho vay, mua cổ phần của các công ty khác, Khi ngân hàng đi vào hoạt động, nguồn vốn này có thể đã nằm dưới dạng trụ sở, văn phòng, kho bãi,
dự trữ hay ký quỹ tại Ngân hàng Trung ương của các quốc gia Ngoài ra, vốn điều
lệ có thể được tăng thêm, và ngược lại, cũng có thể bị buộc phải điều chỉnh giảm
Vốn hình thành trong quá trình hoạt động
Theo Edward (2004), ngân hàng có thể được hưởng thặng dư vốn, phát hành thêm cổ phần, để lại những khoản lợi nhuận tích lũy, các quỹ để bổ sung vốn trong quá trình hoạt động:
Thặng dư vốn là phần giá trị thị trường của các cổ phiếu vượt quá mệnh giá
mà các cổ đông sẵn sàng trả cho ngân hàng, nguồn vốn này có thể được hình thành khi ngân hàng mới thành lập, hoặc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO),
Trang 19và tiếp tục có khả năng tăng lên khi ngân hàng phát hành cổ phiếu mới ở những lần tiếp theo, hoặc trong quá trình chuyển đổi cổ phiếu ưu đãi thành cổ phiếu thường
Vốn bổ sung là nguồn vốn được cấp từ ngân sách Nhà nước hoặc thông qua phát hành cổ phần nhằm mở rộng quy mô hoạt động hoặc tăng cường khả năng chống đỡ với rủi ro Ngân hàng có thể xin (hoặc được) cấp thêm vốn ngân sách (còn gọi là tái cấp vốn), hay phát hành thêm cổ phần
Lợi nhuận không chia là vốn của các cổ đông, chủ sở hữu ngân hàng, nhưng
đã được vốn hóa để mở rộng quy mô cho vốn chủ sở hữu ngân hàng, tái đầu tư, và trích lập các quỹ Lợi nhuận không chia được hình thành khi kết thúc mỗi kỳ kinh doanh của ngân hàng, phần lợi nhuận sau thuế sau khi đã bù đắp các khoản chi phí đặc biệt, thường được chia làm hai phần: một phần để chi trả cổ tức cho các cổ đông nắm giữ cổ phiếu của ngân hàng, phần còn lại được bổ sung vào nguồn vốn chủ sở hữu dưới tên gọi Lợi nhuận giữ lại
Các quỹ và khoản dự trữ, trong quá trình hoạt động, các ngân hàng hoặc do tuân theo quy định của Nhà nước, hoặc để đảm bảo hoạt động và đề phòng rủi ro, đều tiến hành trích lập các quỹ dự trữ Do quỹ này được trích từ lợi nhuận trước thuế tính chất như một khoản chi phí, nên một số ngân hàng không hạch toán nó vào vốn chủ sở hữu mà vào các khoản nợ Nếu được liệt kê vào vốn chủ sở hữu, khi tổn thất thực của ngân hàng nhỏ hơn số trích lập, vốn chủ sở hữu của ngân hàng sẽ gia tăng, và ngược lại Quy mô các quỹ và khoản dự trữ phụ thuộc vào tổn thất ròng, thu nhập của ngân hàng, và tỷ lệ trích lập quỹ
Cổ phần ưu đãi có thời hạn và giấy nợ có khả năng chuyển đổi, một số công
cụ nợ mang tính chất lưỡng tính như cổ phần ưu đãi có thời hạn, giấy nợ thứ cấp có khả năng chuyển đổi, tín phiếu vốn (khoản chứng khoán nợ chỉ có thể được thanh toán khi phát hành được cổ phiếu mới) Những công cụ nợ bổ sung này có chung một số đặc điểm với của các công cụ nợ thuộc loại tiết kiệm với kỳ hạn dài, đồng thời lại mang một số đặc điểm của cổ phiếu thường Việc gia tăng loại vốn này có nhiều ưu điểm đối với quản lý ngân hàng như không làm thay đổi quyền kiểm soát, hạn chế giảm cổ tức,… Chính vì vậy, những công cụ này là một nguồn vốn ổn định
Trang 20trong một khoản thời gian dài cho các ngân hàng, được một số ngân hàng liệt kê vào thành phần của vốn chủ sở hữu
2.2.2.2 Phân loại theo Hiệp ước Basel
Năm 1987, Uỷ ban giám sát ngân hàng Basel (BaselCommittee on Banking Supervision - BCBS) đã soạn thảo những đề xuất cho tiêu chuẩn mới về vốn, áp dụng cho các ngân hàng, tổ chức tài chính nhằm khuyến khích các ngân hàng lớn củng cố trạng thái vốn, hạn chế sự không bình đẳng trong quy định giữa các quốc gia khác nhau và xem xét những rủi ro đối với hoạt động ngoài bảng cân đối kế toán
mà các ngân hàng thực hiện trong thời gian gần đó Năm 1988, đề xuất này chính thức được thông qua dưới cái tên Hiệp ước Basel 1988 Hiện nay được biết đến như
là Basel I, nhằm phân biệt với bản sửa đổi bổ sung Basel II năm 1999 Hiệp ước này được cưỡng chế thi hành theo luật quốc gia của các nước G10 từ năm 1992 và đến nay, hơn 100 nước trên thế giới cũng đã áp dụng những nguyên tắc cơ bản của các
đề xuất này
Cũng với những thành phần tương tự như trên, trụ cột thứ 1 của Hiệp ước Basel II, về yêu cầu vốn tối thiểu, phân loại vốn chủ sở hữu của NHTM thành hai lớp phù hợp cho việc đánh giá được tính ổn định và an toàn của nguồn vốn này tại NHTM Theo đó, vốn chủ sở hữu của NHTM gồm:
- Vốn cơ sở hay vốn cấp 1 (Core Capital, hay Tier 1 Capital): là chỉ tiêu cơ bản để đo lường sức mạnh tài chính của ngân hàng nhìn nhận dưới góc độ của các nhà quản lý Nguồn vốn này bao gồm những loại vốn tài chính được xem là đáng tin cậy nhất và có tính lỏng cao nhất, thực sự tồn tại, và tương đối ổn định trong suốt quá trình hoạt động của ngân hàng, đảm bảo cho ngân hàng vận hành bình thường Trọng tâm của phần vốn này bao gồm vốn điều lệ, các quỹ dự trữ bổ sung vốn điều
lệ và lợi nhuận giữ lại
- Vốn bổ sung hay Vốn cấp 2 (Supplemental Capital, hay Tier 2 Capital):
là bộ phận vốn chủ sở hữu tăng thêm trong quá trình hoạt động nhằm mở rộng hay đảm bảo an toàn cho các hoạt động của ngân hàng trong quá trình kinh doanh, nhưng chúng ít ổn định hơn vốn cơ sở Lớp vốn này gồm các khoản có thể được sử
Trang 21dụng như vốn cơ sở trong thời gian tương đối dài và có thể bị loại khỏi vốn chủ sở hữu khi đáo hạn hay bị đem ra sử dụng hết (trường hợp các quỹ dự phòng) Theo Basel II, Vốn bổ sung được phân loại thành: Các quỹ đánh giá lại tài sản (Revaluation Reserves), Các quỹ dự phòng (General Provisions), Các công cụ nợ lưỡng tính (Hybrid instruments), Các khoản nợ dài hạn không được hoàn trả trong một khoảng thời gian nhất định (thường là dài) và có thứ tự ưu tiên thanh toán sau những người gửi tiền (Subordinated term debt), Các khoản dự trữ không được tiết lộ (Undisclosed Reserves): những khoản này tuy không phổ biến, nhưng vẫn được chấp nhận bởi một số nhà quản lý khi một ngân hàng kinh doanh có lãi nhưng điều này không được thể hiện rõ trong các khoản lợi nhuận giữ lại hoặc các quỹ dự trữ thông thường Những khoản này ở các nước không thống nhất với nhau phụ thuộc vào quy định của mỗi quốc gia Khi tính toán, phải loại từ vốn cơ sở và bổ sung một
số khoản như: lợi thế thương mại (chênh lệch giá mua lớn hơn so với giá trị ghi sổ của tài sản khi ngân hàng mua tài sản tài chính), vốn góp vào các công ty con, tổ chức tín dụng khác, một phần của quỹ đánh giá lại tài sản, …
2.2.3 Vai trò của vốn chủ sở hữu đối với hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Thương mại
Theo Lê Thị Lợi (2013), vai trò của vốn chủ sở hữu đối với hoạt động kinh doanh tại NHTM bao gồm:
Vai trò quan trọng trong việc hình thành NHTM
Đối với NHTM, vốn chủ sở hữu là nhân tố không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Vốn chủ sở hữu là cơ sở để NHTM tổ chức hoạt động kinh doanh, ngân hàng không thể thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh nếu không có vốn chủ sở hữu Ngân hàng là tổ chức kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt trên thị trường tiền tệvà thị trường chứng khoán Những ngân hàng có vốn chủ sở hữu lớn là ngân hàng có nhiều thế mạnh trong kinh doanh Hơn nữa, vốn chủ sở hữu lớn là lợi thế đầu tiên trong việc chấp hành pháp luật trước hết là luật ngân hàng trung ương, luật các tổ chức tín dụng, tạo thế mạnh và thuận lợi trong kinh doanh tiền tệ Chính
vì thế, có thể nói vốn chủ sở hữu là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của ngân
Trang 22hàng Do đó, ngân hàng phải thường xuyên chú ý tới việc tăng trưởng vốn chủ sở hữu trong suốt quá trình hoạt động Vì vậy, ngoài vốn chủ sở hữu ban đầu khi thành lập theo quy định của pháp luật, các ngân hàng phải thường xuyên tìm biện pháp để tăng trưởng vốn chủ sở hữu trong quá trình hoạt động kinh doanh
Vai trò quyết định khả năng thanh toán và năng lực cạnh tranh của Ngân hàng:
Theo Lê Thị Lợi (2013), trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và mở rộng quy mô hoạt động đòi hỏi các ngân hàng phải có uy tín lớn trên thị trường Uy tín
đó phải được thể hiện trước hết ở khả năng sẵn sàng thanh toán, chi trả cho khách hàng của ngân hàng Phần lớn vốn của ngân hàng hình thành từ nguồn tiền gửi của khách hàng và đi vay, do vậy ngân hàng phải đáp ứng nhu cầu chi trả khi khách hàng có yêu cầu rút tiền Đối với ngân hàng có quy mô vốn chủ sở hữu nhỏ sẽ không đáp ứng đủ nhu cầu vay khi nhu cầu vay vốn trên thị trường lớn, mặt khác với quy mô nhỏ, dự trữ ít, ngân hàng dễ mất khả năng thanh toánnếu cho vay tối đa nguồn vốn huy động đuợc Ngược lại, với lượngvốn chủ sở hữu lớn, ngân hàng thực hiện dự trữ đủ khả năng thanh toán đồng thời vẫn thỏa mãn được nhu cầu vay vốn của nền kinh tế, do đó sẽ tạo được uy tín ngày càng cao Khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn Với tiềm năng vốn chủ sở hữu lớn, ngân hàng có thể hoạt động kinh doanh với quy mô ngày càng mở rộng, tiến hành các hoạt động cạnh tranh có hiệu quả nhằm giữ chữ tín, vừa nâng cao vị thế của ngân hàng Vì vậy nếu loại trừ các nhân tố khác, khả năng thanh toán của ngân hàng tỷ lệ thuận với vốn chủ sở hữu của ngân hàng nói chung và với vốn chủ sở hữu khả dụng của ngân hàng nói riêng
Vai trò quyết định trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
Thực tế đã chứng minh: quy mô, trình độ nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuật của ngân hàng là tiền đề cho việc thu hút nguồn vốn (Lê Thị Lợi, 2013) Tuy nhiên, nguồn vốn chủ sở hữu lớn tạo ra nhiều lợi thế cạnh tranh cho các NHTM trong việc
mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế xét cả về quy mô, khối lượng tín dụng, chủ động về thời gian, thời hạn cho vay, hay quyết định mức lãi suất phù
Trang 23hợp cho khách hàng Điều đó sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng, doanh số hoạt động của ngân hàng sẽ tăng lên nhanh chóng và tạo ra nhiều nhiều thuận lợi hơn trong kinh doanh Đây cũng là điều kiện để bổ sung thêm vốn chủ sở hữu của ngân hàng, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và quy mô hoạt động của ngân hàng trên mọi lĩnh vực Đồng thời vốn chủ sở hữu của ngân hàng lớn sẽ tạo ra thuận lợi cho việc sử dụng tổng hòa các nguồn vốn khác Trên cơ sở đó sẽ giúp ngân hàng có đủ khả năng tài chính để kinh doanh đa năng trên thị trường, không chỉ đơn thuần là cho vay mà còn mở rộng các hình thức liên doanh liên kết, kinh doanh dịch vụ thuê mua, mua bán nợ, kinh doanh trên thị trường tài chính Đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh này sẽ góp phần phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh và tạo thêm vốn chủ sở hữu cho ngân hàng, đồng thời tăng sức cạnh tranh trên thị trường
Xuất phát từ vai trò của nguồn vốn chủ sở hữu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng và tầm quan trọng đối với nền kinh tế nên nguồn vốn chủ sở hữu phải thường xuyên được bảo toàn và không ngừng mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu là tiền đề quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của hoạt động kinh doanh ngân hàng, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế Ngoài
ra, vốn chủ sở hữu của ngân hàng dồi dào sẽ tạo điều kiện cho NHNN đảm bảo khả năng thực thi chính sách tiền tệ, góp phần ổn định lưu thông tiền tệ, đảm bảo cân đối tiền – hàng trong nền kinh tế.Vì vậy, nâng cao hiệu quả huy động vốn chủ sở hữu là sự cần thiết trong quá trình hoạt động của NHTM ở tất cả các quốc gia
Giúp ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh
Vốn chủ sở hữu của Ngân hàng quyết định việc mở rộng hay thu hẹp khối lượng tín dụng Trên thực tế, ở các NHTM có quy mô vốn nhỏ thường có phạm vi hoạt động kinh doanh, khoản mục đầu tư, khối lượng cho vay ít và kém đa dạng hơn Do đó, ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn của các tổ chức kinh tế và tầng lớp dân cưvà kém đáp ứng được nhu cầu vốn vay của doanh nhiệp Họ sẽ mất khách hàng và không tận dụng được cơ hội kinh doanh Trong khi tại các ngân hàng có nguồn vốn chủ sở hữu dồi dào sẽ đáp ứng được nhu cầu về vốn lớn, có điều kiện để
mở rộng quan hệ tín dụng với nhiều doanh nghiệp và thị trường tín dụng Nguồn
Trang 24vốn chủ sở hữu lớn còn giúp Ngân hàng hoạt động kinh doanh với nhiều loại hình khác nhau như: liên doanh liên kết, dịch vụ thuê mua tài chính, kinh doanh chứng khoán… Các hình thức kinh doanh này không những giúp phân tán rủi ro và tạo thêm vốn chủ sở hữu cho Ngân hàng mà còn nâng cao uy tín và tăng sức cạnh tranh trên thị trường Vì vậy, vốn chủ sở hữu có vai trò quyết định trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
2.3 Lý thuyết về rủi ro mất khả năng thanh toán của Ngân hàng Thương mại 2.3.1 Khái niệm rủi ro mất khả năng thanh toán
Rủi ro mất khả năng thanh toán (insolvency risk) là một trong những rủi ro được đề cập trong giai đoạn gần đây đặc biệt khi các cuộc khủng hoảng trên phạm
vi toàn cầu nói chung và từng khu vực nói riêng liên tiếp xảy ra Tuy nhiên khái niệm về rủi ro mất khả năng thanh toán vẫn chưa được đề cập phổ biến trong các nghiên cứu
Theo Lastra và Schiffman (1999), tình trạng mất khả năng thanh toán có thể được định nghĩa bằng hai cách Thứ nhất, đó là sự thất bại trong việc hoàn trả những nghĩa vụ tài chính khi đến hạn Thứ hai, đó là tình trạng khoản mục nợ phải trả vượt quá tài sản trên bảng cân đối kế toán Như vậy có thể hiểu rằng rủi ro mất khả năng thanh toán là một biến cố bất ngờ xảy ra khi một cá nhân hoặc một tổ chức không thể thực hiện nghĩa vụ tài chính của mình đối với bên cho vay khi đến hạn thanh toán Rủi ro này thường có thể dẫn đến việc phá sản của tổ chức
Đối với ngành ngân hàng, rủi ro mất khả năng thanh toán xuất hiện khi ngân hàng mất khả năng chi trả các khoản nợ khi đến ngày đáo hạn Các ngân hàng lúc này sẽ rơi vào tình trạng kiệt quệ về tài chính và đi đến việc phá sản hoặc hợp nhất, sáp nhập với ngân hàng khác nhằm tạo ra một ngân hàng mới vững mạnh hơn và bảo vệ quyền lợi của người cho vay Rủi ro mất khả năng thanh toán khác với rủi ro thanh khoản bởi rủi ro thanh khoản chỉ tình trạng nhất thời ngân hàng thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các tài sản ra tiền để đáp ứng nghĩa vụ nợ Rủi
ro thanh khoản không dẫn đến việc phá sản hay hợp nhất, sáp nhập ngân hàng
Trang 252.3.2 Đo lường rủi ro mất khả năng thanh toán
Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu đã đưa ra các phương pháp đo lường rủi ro mất khả năng thanh toán Đa phần các nghiên cứu sử dụng chỉ số Z để
đo lường rủi ro mất khả năng thanh toán
Chúng ta thường nghe đến phương pháp chỉ số Z dùng để đánh giá rủi ro phá sản của các doanh nghiệp Cha đẻ của phương pháp nghiên cứu này chính là E I Altman (1968) Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy xác suất (logit) với 5 biến để
dự báo việc phá sản Chỉ số Z nằm trong khoảng cụ thể sẽ kết luận doanh nghiệp đó phá sản hay không
Tuy nhiên, trong bài nghiên cứu này chúng tôi muốn đề cập đó là chỉ sốZ được tạo ra bởi hai nhà nghiên cứu Boyd và Graham (1986), chỉsố này chuyên sửdụng cho việc đánh giá nguy cơ xảy ra mất khả năng thanh toán tại các hệthống tín dụng nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng Và trong bài nghiên cứu này, khi sửdụng chỉ số Z đây là chỉ số Z của Boyd và Graham (1986) ChỉsốZ được tính như sau:
𝑍 − 𝑐𝑜𝑟𝑒 = ( Độ 𝑙ệ𝑐ℎ 𝑐ℎ𝑢ẩ𝑛(Lợi nhuận ròng trên tổng tài sản)
𝑇𝑟𝑢𝑛𝑔 𝑏ì𝑛ℎ(LN ròng trên tổng TS) + Tỷ lệ VCSH trên tổng TS )
2
Chỉ số Z được tạo ra nhằm đánh giá rủi ro mất khả năng thanh toán của các ngân hàng Và chỉ số Z càng thấp thì mức độ rủi ro mất khả năng thanh toán của ngân hàng càng thấp Chỉ số Z thể hiện việc giảm thu nhập sẽ làm thâm hụt vốn, từ đó khiến ngân hàng lâm vào trạng thái kiệt quệ và đứng trước nguy cơ phá sản Chỉ số này nhằm đo lường sự ổn định của ngân hàng và có tỷ lệ thuận với khả năng vỡ nợ của ngân hàng, tức là giá trị Z càng cao thì rủi ro mất khả năng thanh toán càng cao
2.3.3 Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro mất khả năng thanh toán
Nguyên nhân khách quan:
Thứ nhất, do lãi suất biến động Do các tài sản tài chính có tính nhạy cảm với
sự biến động của lãi suất Lãi suất thay đổi ảnh hưởng lớn đến tâm lý của người gửi tiền Trường hợp lãi suất tăng, khách hàng sẽ rút tiền để gửi vào nơi có lãi suất cao hơn còn các khách hàng vay giảm tối đa việc vay mới để hạn chế trả lãi nhiều hơn
Trang 26Khi lãi suất giảm thì phản ứng ngược lại Trong cả hai trường hợp, biến động lãi suất ảnh hưởng đến cả dòng tiền gửi lẫn cho vay, cuối cùng ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng Ngoài ra, việc thay đổi lãi suất sẽ ảnh hưởng đến thị giá của tài sản tài chính đem bán và ảnh hưởng đến chi phí đi vay trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng
Thứ hai, do mục tiêu chính sách tiền tệ của NHTW Để thực hiện chức năng
của mình trong điều hành chính sách tiền tệ, NHTW sử dụng các công cụ bao gồm: nghiệp vụ thị trường mở, quy định về dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu các giấy tờ có giá Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động của NHTW mua hoặc bán cho NHTM trái phiếu chính phủ, trái phiếu kho bạc Nhà nước Khi muốn tăng cung tiền, NHTW mua trái phiếu từ các NHTM, số tiền NHTW trả cho NHTM làm tăng cung tiền cho nền kinh tế đồng thời cũng làm tăng cung thanh khoản cho NHTM Ngược lại, khi muốn giảm cung tiền, NHTW bán trái phiếu cho các NHTM, số tiền NHTW thu về làm giảm cung ứng tiền tệ của nền kinh tế đồng thời cũng làm giảm cung thanh khoản của NHTM Quy định về tỷ lệdự trữ bắt buộc là biện pháp điều chỉnh mà NHTW bắt buộc các NHTM phải duy trì một tỷ lệ dự trữ tiền gửi tối thiểu tại NHTW Nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao thì sẽ làm cho nguồn cung thanh khoản của NHTM tăng và ngược lại Lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu là lãi suất NHTW sử dụng trong chiết khấu hoặc tái chiết khấu các giấy tờ có giá của NHTM Nếu lãi suất này thấp, tức chi phí vay tiền từ NHTW thấp, đây sẽ là nguồn vốn với chi phí sử dụng thấp mà các NHTM có thể dễ dàng huy động để đáp ứng cầu thanh khoản
Thứ ba, Các cơ chế chính sách, văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động của ngân hàng được ban hành một cách rõ ràng, cụ thể cũng như cách thức tổ chức hoạt động của cơ quan giám sát ngân hàng, sự phối hợp chặt chẽ giữa công tác giám sát
từ xa và thanh tra tại chỗ sẽ góp phần đảm bảo an toàn cho hoạt động của hệthống ngân hàng
Thứtư, do chu kỳ kinh doanh của khách hàng Theo thời vụ ở những tháng
cuối năm các doanh nghiệp thường đẩy mạnh hoạt động kinh doanh, quyết toán
Trang 27công nợ cho những doanh nghiệp khác, chi trả lương thưởng cho cán bộ nhân viên, thực hiện cam kết giải ngân cho các đối tác, giải quyết hàng tồn kho, nhập khẩu hàng hóa tạo nên nhu cầu tiền nhiều vào những tháng cuối năm làm tăng cầu về thanh toán cho NHTM
Thứ năm, do tính chất đặc biệt của ngành kinh doanh tiền tệ đòi hỏi NHTM
phải luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu chi trả tức thì Đối với lĩnh vực kinh doanh khác, các doanh nghiệp có thể trì hoãn nợ với khách hàng, chậm thanh toán với đối tác, thậm chí chủ động chiếm dụng vốn của đối tác kinh doanh…Nhưng với NHTM kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ hết sức nhạy cảm, NHTM không thể trì hoãn chi trả Bất kỳ một sự chậm trễ thanh toán nào đều có thể gây tâm lý lo lắng trong công chúng, và nếu NHTM không giải quyết ngay khó khăn này, khách hàng có thể rút tiền ồ ạt, khó khăn thanh toán sẽ trở nên trầm trọng và NHTM có thể bị phá sản Mặt khác, trên bảng cân đối kế toán của NHTM, bên tài sản nợ luôn có một tỷ lệ nhất định các khoản tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn nhưng có thể rút trước hạn Đây là những tài sản nợ mà NHTM có nghĩa vụ phải trả ngay lập tức nếu khách hàng có nhu cầu rút, vì thế NHTM luôn luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thanh toán
Thứ sáu, do khủng hoảng kinh tế hoặc khủng hoảng tài chính Khủng hoảng
kinh tế hoặc tài chính dẫn tới chi phí huy động tăng cao, hiệu quả hoạt động cho vay
và đầu tư giảm sút Xét ở một khía cạnh khác, khủng hoảng xảy ra có thể làm giảm sút niềm tin vào hệ thống tài chính, và các tổ chức và dân cư sẽ rút tiền khỏi các NHTM gây ra áp lực về thanh toán cho NHTM
Thứ bảy, do khủng hoảng thông tin Thông tin thất thiệt sẽ gây mất lòng tin
cá biệt vào một tổ chức tín dụng Cơ chế mất cân đối giữa giá trị phải trả và giá trị thu được từ hoạt động đầu tư và cho vay sẽ xảy ra và NHTM đối mặt với rủi ro mất khả năng thanh toán
Nguyên nhân chủquan
Thứ nhất, do kì hạn của TSC và TSN có sự bất cân xứng, bắt nguồn từ chính chức năng chuyển hóa kì hạn của NH: huy động các khoản tiền gửi ngắn hạn từ dân
Trang 28chúng để cho vay các khoản tín dụng dài hạn Như vậy kì hạn của TSC dài hơn kì hạn của TSN khiến dòng tiền của TSC không cân xứng với dòng tiền cần để đáp ứng việc thanh toán khi đến hạn của các TSN, gây khó khăn cho NH phải lo tìm nguồn bù đắp
Thứ hai, rủi ro mất cân đối trong cơ cấu tài sản Điều này xuất phát hầu hết
từ áp lực lợi nhuận ngắn hạn của cổ đông lên ban điều hành mà quên mất những nguyên tắc trong trong quản trị TSN và TSC Trong danh mục tài sản của mình, NHTM đầu tư vào cổ phiếu và trái phiếu, trong đó quan trọng nhất là trái phiếu chính phủ và/hoặc tín phiếu kho bạc Trái phiếu chính phủ hoặc tín phiếu kho bạc mặc dù lãi suất không hấp dẫn nhưng nó lại dễ dàng cho NHTM đem đi chiết khấu tại NHTW một khi thanh toán có vấn đề Bất cứ NHTM nào, đặc biệt là ngân hàng nhỏ, đều hiểu điều này nhưng với tiềm lực tài chính yếu thì khó có thể cạnh tranh với các ngân hàng lớn trong việc đấu thầu các trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc
Thứ ba, cơ cấu khách hàng không hợp lý Ngân hàng tập trung tín dụng vào một số khách hàng lớn hoặc tỷ trọng tín dụng cho một ngành, một địa phương nào
đó chiếm phần lớn trong tổng dư nợ hoặc trong tổng huy động có một khách hàng chiếm tỷ trọng lớn, khi những khách hàng này gặp khó khăn không trảnợ đúng hạn hoặc rút một cách bất ngờ thì dẫn đến rủi ro mất khả năng thanh toán
Thứtư, do các NH chạy theo mục tiêu lợi nhuận trước mắt nên có những chính sách cho vay quá cởi mở, dẫn đến hạ thấp các điều kiện cho vay, cho vay các khách hàng vay có điều kiện kém, hệ quả tất yếu là rủi ro tín dụng và sau rủi ro tín dụng là rủi ro mất khả năng thanh toán
Thứ năm, do các NH không dự tính trước nhu cầu rút tiền và các nghĩa vụ phải trả tiền Khi nhu cầu rút tiền và thực hiện nghĩa vụ vượt quá mức dự tính, các
NH này sẽ gặp khó khăn về thanh toán
Thứ sáu, do tiềm lực tài chính của các NH còn hạn chế Vốn điều lệ là số vốn thuộc sở hữu của NH, ghi trong điều lệ của NH, được hình thành khi NHTM mới được thành lập Vốn điều lệ phản ánh quy mô hay thực lực tài chính của NHTM
Trang 29Nếu vốn điều lệ của NHTM càng cao, chứng tỏ NH càng có tiềm lực tài chính, ngược lại, nếu vốn điều lệ của NHTM càng ít thì quy mô hoạt động của NH càng nhỏ Các NH nhỏ thường khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn, hoặc chỉ vay được với lãi suất cao, đặc biệt là đối với nguồn vốn vay Có thể nói áp lực rất lớn khi các NH này phải gánh chịu chi phí cao để có thể khắc phục khó khăn trong việc giải quyết vấn đề thanh toán Quy mô vốn điều lệ nhỏ có thể là một trong những nguyên nhân đẩy NHTM đến tình trạng mất khả năng chi trả và phá sản khi nhu cầu thanh toán tăng đột ngột
Thứ bảy, do kinh doanh nhiều loại tiền tệ, tạo nên rủi ro mất khả năng thanh
toán và yêu cầu tài trợ trong từng loại tiền tệ
Thứ tám, do uy tín của NH bị giảm khiến khách hàng gửi tiền nhanh chóng rút các khoản tiền gửi gây nên rủi ro mất khả năng thanh toán Đây là hệ quả của việc kinh doanh yếu kém, công tác marketing chưa được đầu tư thỏa đáng
2.4 Lược khảo các nghiên cứu liên quan:
2.4.1.Nghiên cứu nước ngoài:
Nghiên cứu của Aggrawal và Jacques (2001) được thực hiện đối với mẫu các ngân hàng Mỹ theo đạo luật FDICIA (tạm dịch là Đạo luật công ty bảo hiểm tiền gửi liên bang sửa đổi) nhằm xác định ảnh hưởng của các quy định tăng vốn đến rủi
ro của các ngân hàng Mỹ Bằng cách sử dụng hệ hai phương trình với các biến phụ thuộc là thay đổi tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản và thay đổi rủi ro của ngân hàng, các biến độc lập bao gồm quy mô ngân hàng, thu nhập ròng, tỷ lệ nắm giữ trái phiếu Chính phủ, tỷ lệ tiền mặt trên tổng tài sản, chất lượng tài sản, tỷ lệ số lượng khu vực nông thôn so với thành thị Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy đạo luật FDICIA đã thực sự làm gia tăng vốn chủ sở hữu của các ngân hàng nhưng việc gia tăng vốn chủ sở hữu lại kéo theo sự gia tăng của rủi ro ngân hàng
Tuy nhiên, Rime(2001) lại cho rằng không có mối quan hệ giữa rủi ro và vốn trong ngân hàng Ông tiến hành nghiên cứu bằng cách xem xét các mối quan hệ giữa rủi ro và vốn trong các NHTM trong giai đoạn 1989-1995, ông đã sử dụng một
mô hình hệ phương trình để phân tích việc điều chỉnh vốn và rủi ro tại các ngân
Trang 30hàng Thụy Sĩ Kết quả phân tích cho thấy trong những năm gần đây, các nhà quản
lý đã bắt đầu tập trung nhiều hơn vào tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng để tăng cường sự ổn định của hệ thống tài chính Rime phân tích các ngân hàng Thụy Sĩ đã phản ứng thế nào với những quy định trên Đồng thời ông cũng sử dụng số liệu và
mô hình kinh tế lượng để phân tích mối quan hệ giữa việc điều chỉnh vốn và rủi ro tại các ngân hàng Thụy Sĩ, khi họ buộc phải tuân theo mức vốn quy định tối thiểu Kết quả chỉ ra áp lực điều tiết và những quy định của chính phủ khiến cho các ngân hàng phải tăng vốn, nhưng điều này lại không cải thiện mức độ rủi ro của các ngân hàng
Nghiên cứu của Godlewski (2004) nhằm xác định ảnh hưởng của vốn đến rủi
ro của các NHTM ở ba khu vực: Trung Đông, Đông Nam Á, và Nam Mỹ Dữ liệu được thu thập từ cơ sở dữ liệu Bankscope trong giai đoạn 1996 – 2001 Bằng cách
sử dụng hệ hai phương trình với các biến phụ thuộc là thay đổi tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản và thay đổi rủi ro của ngân hàng, các biến độc lập bao gồm quy mô ngân hàng, ROA, và các biến giả Kết quả nghiên cứu của Godlewski (2004) cho thấy việc gia tăng vốn chủ sở hữu làm giảm thiểu rủi ro của ngân hàng
Nghiên cứu tác động của quyđịnh về an toàn vốn đến rủi ro mất khả năng thanh toán của các ngân hàng, Shu Ling Lin và cộng sự (2005) sử dụng mẫu 40 ngân hàng ở Trung Quốc đã nhận thấy rằng trước khi ban hành những qui định mới
về an toàn vốn (trước năm 1998) tỷ lệ an toàn vốn và rủi ro mất khả năng thanh toán
ở các ngân hàng có mối quan hệ ngược chiều, trong khi đó, mối quan hệ này thay đổi khi các qui định mới ban hành Kết quả thực nghiệm đã cho thấy rằng yêu cầu
an toàn vốn càng cao thì rủi ro mất khả năng thanh toán cũng càng cao Hay nói cách khác khi những qui định quản lý an toàn vốn càng khắt khe thì ngân hàng sẽ có
xu hướng chấp nhận rủi ro nhiều hơn và cũng đồng nghĩa với việc dễ dàng bị tổn thương hơn
Kết quả tương tự cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Abba và cộng sự (2013) Nghiên cứu này tập trung vào mối quan hệ giữa vốn và rủi ro mất khả năng thanh toán của các ngân hàng tại Nigeria trong giai đoạn 2007-2011 Dữ liệu được
Trang 31thu thập từ báo cáo tài chính của các ngân hàng này Bằng cách sử dụng phương pháp bình phương bé nhất (OLS) với biến phụ thuộc CAR đại diện cho vốn và các biến độc lập là tỷ trọng tài sản có rủi ro trên tổng tài sản RWA, tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản DAR và tỷ lệ lạm phát hằng năm được công bố bởi ngân hàng trung ương Nigeria Kết quả nghiên cứu cho thấy việc gia tăng vốn chủ sở hữu làm giảm thiểu rủi ro của ngân hàng
Tương tự với kết quả nghiên cứu của Aggrawal và Jacques (2001), Shu Ling Lin và cộng sự (2005), nghiên cứu của Dao và Ankinbrand (2014) nhằm xác định mối quan hệ giữa vốn và rủi ro của 11 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008 –
2013 Bằng cách sử dụng phương pháp tác động cố định (Fixed effects) và phương pháp tác động ngẫu nhiên (Random effects) cho dữ liệu bảng để xây dựng phương trình hồi quy với biến phụ thuộc đại diện cho vốn ngân hàng là hệ số CAR, các biến độc lập bao gồm rủi ro vốn, rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro mất khả năng thanh toán, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, tỷ lệ tổng tài sản trên doanh thu, ROE, ROA Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa hệ số CAR và rủi ro mất khả năng thanh toán của các NHTM trong mẫu nghiên cứu
Gần đây nhất là nghiên cứu của Mohamed Aymen Ben Moussa (2015) Nghiên cứu được thực hiện với mẫu 18 ngân hàng tại Tunisia trong giai đoạn 2000 – 2010 nhằm xác định mối quan hệ giữa vốn và rủi ro mất khả năng thanh toán của các ngân hàng tại Tunisia Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính của các ngân hàng này Bằng cách sử dụng phương pháp tác động cố định (Fixed effects) và phương pháp tác động ngẫu nhiên (Random effects) cho dữ liệu bảng để xây dựng phương trình hồi quy với biến phụ thuộc đại diện cho rủi ro mất khả năng thanh toán là chỉ số Z-score được đề xuất bởi Laetitiavà cộng sự (2013), Srairi (2013), các biến độc lập bao gồm quy mô ngân hàng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, tỷ
lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản, ROA, ROE, doanh thu hoạt động trên tổng tài sản, tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên dư nợ cho vay, tài sản lưu động trên tổng tài sản, tỷ lệ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy việc gia tăng vốn chủ sở hữu làm giảm thiểu rủi ro mất khả năng
Trang 32thanh toán của ngân hàng
Xét một cách tổng thể, đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới xem xét mối quan hệ giữa vốn chủ sở hữu và khả năng thanh toán của các NHTM Các nghiên cứu nhìn chung chỉ ra hai hướng kết quả chính: hướng thứ nhất khẳng định ý nghĩa
và tầm quan trọng của việc nâng cao nguồn vốn chủ sở hữu có tác động giảm thiểu rủi ro mất khả năng thanh toán của khu vực ngân hàng.Ngược lại, hướng kết quả nghiên cứu thứ hai chỉ ra không ít các mẫu nghiên cứu chứng minh tỷ lệ an toàn vốn
và rủi ro mất khả năng thanh toán ở các ngân hàng có mối quan hệ ngược chiều Sự mâu thuẫn trong các kết quả nghiên cứu chứng minh tồn tại mối quan hệ phi tuyến giữa lượng vốn chủ sở hứu và khả năng thanh toán tại các NHTM Đầu tiên, khi gia tăng vốn chủ sở hữu sẽ giảm thiểu rủi ro mất khả năng thanh toán của các NH, tuy nhiên, khi vượt qua một mức tối ưu vốn chủ sở hữu nào đó NH sẽ có xu hướng chấp nhận rủi ro nhiều hơn và cũng đồng nghĩa với việc dễ dàng bị tổn thương hơn, rủi ro mất khả năng thanh toán bắt đầu có xu hướng tăng lên Nhìn chung, các nghiên cứu còn nhiều hạn chế tuy nhiên đã đề ra được các giải pháp, hướng đi mới trong công tác nâng cao khả năng thanh toán của các NHTM tại thời điểm nghiên cứu
2.4.2.Nghiên cứu trong nước
Phạm Minh Tiến và cộng sự (2014) sử dụng dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 29 NHTM cổ phần tại Việt Nam trong giai đoạn 2002 - 2012 Kết quả ước lượng các mô hình bằng phương pháp GMM sai phân cho thấy rủi ro thanh khoản ngân hàng phụ thuộc vào các yếu tố bên trong hệ thống ngân hàng như tổng tài sản, quy mô vay nợ và vốn tự có của ngân hàng Đặc biệt, tổng tài sản của ngân hàng có tác động phi tuyến đến rủi ro thanh khoản ngân hàng, trong giai đoạn đầu, quy mô tài sản tăng sẽ làm giảm rủi ro thanh khoản ngân hàng nhưng tổng tài sản tăng vượt ngưỡng khả năng quản lý sẽ làm tăng rủi ro thanh khoản
Nghiên cứu của Vũ Thị Hồng (2015) sử dụng mẫu 37 NHTM Việt Nam với phương pháp nghiên cứu đi ̣nh lượng trong giai đoa ̣n 2006-2011 Qua phân tích thống kê, tương quan và hồi quy dữ liê ̣u bảng không cân xứng với phương pháp tác động cố định(Fixed Effects), nghiên cứu đã tìm thấy tỷ lê ̣ vốn chủ sở hữu trên tổng
Trang 33tài sản có mối tương quan cùng chiều với khả năng thanh toán của các ngân hàng thương ma ̣i ta ̣i Viê ̣t Nam Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra Tỷ lê ̣ cho vay trên huy
đô ̣ng có mối tương quan nghi ̣ch với khả năng thanh toán của các NHTM Viê ̣t Nam Kết quả nghiên cứu không tìm thấy ảnh hưởng của Tỷ lê ̣ dự phòng rủi ro tín du ̣ng, Quy mô ngân hàng đối với khả năng thanh toán của các ngân hàng thương ma ̣i Viê ̣t Nam
Lê Thanh Ngọc và cộng sự (2015) nghiên cứu về mối quan hệ giữa tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản và rủi ro của NHTM trong đó bao gồm rủi ro mất khả năng thanh toánphân tích ảnh hưởng củ a áp lực gia tăng hệ số CAR đến thay đổi vốn chủsở hữu của ngân hàng, và ảnh hưởng của thay đổi vốn chủsở hữu ngân hàng đến rủi ro của NHTM Sử dụng dữ liệu bảng không cân từ mẫu 15 NHTM, giai đoạn
2009 – 2014, thông qua phương pháp phân tích tác động ngẫu nhiên (REM) kết hợp phương pháp phân tích tác động cố định (FEM), kết quả nghiên cứu cho thấy các ngân hàng với hệ số CAR thấp hơn mức quy định 9% cóxu hướng cơ cấu lại tài sản bằng cách giảm tài sản cóhệ số rủi ro cao, thay vì gia tăng vốn chủ sở hữu Sựgia tăng vốn chủsở hữu của các ngân hàng chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố: quy mô tài sản, tỷ suất sinh lợi của tài sản và mức độ thay đổi vốn chủsở hữu của kỳ trước
Đa số các nghiên cứu trong nước đã khẳng địnhtầm quan trọng của yêu cầu phát triển nguồn vốn chủ sở hữu nhằm nâng cao khả năng thanh toán tại các NTHM Mặc dù các nghiên cứu sử dụng những phương pháp định lượng cũng như công cụ đo lường khác nhau về các chỉ tiêu của tổng tài sản trong có có vốn chủ sở hữu và khả năng thanh toán của NHTM, song tựu chung, họ đều thống nhất rằngvốn chủ sở hữu có mối tương quan cùng chiều với khả năng thanh toán của các NHTM
ta ̣i Viê ̣t Nam.Tuy nhiên, các nghiên cứu còn nhiều hạn chế như: (1) các nghiên cứu
đo lường tác động của các khoản mục trong tổng tài sản trong đó có vốn chủ sở hữu, hiện nay chưa có nghiên cứu nào đo lường tác động riêng của vốn chủ sở hữu tới khả năng thanh toán của các NHTM tại Việt Nam; (2) Nghiên cứu đề ra các giải pháp mang tính định hướng tổng thể, chưa đi vào giải pháp cụ thể Vì vây, việc sử dụng kết quả nghiên cứu trên cũng chỉ mang tính tham khảo, cần một nghiên cứu cụ
Trang 34thể để làm rõ tác động của vốn chủ sở hữu tới khả năng thanh toán của các NTHM tại Việt Nam
Bảng 2.1 Tổng hợp các nghiên cứu liên quan
Nghiên cứu nước ngoài
Kết quả nghiên cứu: Sự gia tăng vốn chủ sở hữu làm gia tăng rủi ro ngân hàng:
Aggrawal và Jacques
(2001)
Nghiên cứu được thực hiện đối với mẫu các ngân hàng Mỹ theo đạo luật FDICIA nhằm xác định ảnh hưởng của các quy định tăng vốn đến rủi ro của các ngân hàng Mỹ
Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy đạo luật FDICIA đã thực sự làm gia tăng vốn chủ sở hữu của các ngân hàng nhưng việc gia tăng vốn chủ sở hữu lại kéo theo sự gia tăng của rủi ro ngân hàng Shu Ling Lin và cộng sự
(2005)
Nghiên cứu tác động của quy định về an toàn vốn đến rủi ro mất khả năng thanh toán của các ngân hàng với mẫu 40 ngân hàng ở Trung Quốc
Kết quả thực nghiệm đã cho thấy rằng yêu cầu an toàn vốn càng cao thì rủi
ro mất khả năng thanh toán cũng càng cao.Hay nói cách khác khi những qui định quản lý an toàn vốn càng khắt khe thì ngân hàng sẽ có xu hướng chấp nhận rủi ro nhiều hơn và cũng đồng nghĩa với việc dễ dàng bị tổn thương hơn
Trang 35Kết quả nghiên cứu: Sự gia tăng vốn chủ sở hữu làm giảm rủi ro ngân hàng:
Godlewski (2004) Nghiên cứu nhằm xác
định ảnh hưởng của vốn đến rủi ro của các NHTM
ở ba khu vực: Trung Đông, Đông Nam Á, và Nam Mỹ trong giai đoạn
1996 – 2001
Kết quả nghiên cứu của Godlewski (2004) cho thấy việc gia tăng vốn chủ
sở hữu làm giảm thiểu rủi
ro của ngân hàng
Abba và cộng sự (2013) Nghiên cứu này tập trung
vào mối quan hệ giữa vốn
và rủi ro mất khả năng thanh toán của các ngân hàng tại Nigeria trong giai đoạn 2007-2011
Kết quả nghiên cứu cho thấy việc gia tăng vốn chủ
sở hữu làm giảm thiểu rủi
ro của ngân hàng
Dao và Ankinbrand
(2014)
Nghiên cứu nhằm xác định mối quan hệ giữa vốn và rủi ro của 11 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2013
Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy mối quan
hệ cùng chiều giữa hệ số CAR và rủi ro mất khả năng thanh toán của các NHTM trong mẫu nghiên cứu
Mohamed Aymen Ben
Moussa (2015)
Nghiên cứu được thực hiện với mẫu 18 ngân hàng tại Tunisia trong giai đoạn 2000 – 2010 nhằm xác định mối quan hệ giữa vốn và rủi ro mất khả năng thanh toán của các ngân hàng tại Tunisia
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy việc gia tăng vốn chủ sở hữu làm giảm thiểu rủi ro mất khả năng thanh toán của ngân hàng
Trang 36Kết quả nghiên cứu: Sự gia tăng vốn chủ sở hữu không ảnh hưởng đến rủi ro ngân hàng:
quan hệ giữa rủi ro và vốn trong các NHTM Thụy Sĩ giai đoạn 1989-1995
Kết quả phân tích cho thấy trong những năm gần đây, các nhà quản lý đã bắt đầu tập trung nhiều hơn vào tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng để tăng cường sự ổn định của hệ thống tài chính Kết quả cho thấy áp lực điều tiết
và những quy định của chính phủ khiến cho các ngân hàng phải tăng vốn, nhưng điều này lại không ảnh hưởng đến mức độ rủi
Kết quả ước lượng các mô hình bằng phương pháp GMM sai phân cho thấy rủi ro thanh khoản ngân hàng phụ thuộc vào các yếu tố bên trong hệ thống ngân hàng như tổng tài sản, quy mô vay nợ và vốn tự có của ngân hàng Đặc biệt, tổng tài sản của ngân hàng có tác động phi
Trang 37tuyến đến rủi ro thanh khoản ngân hàng, trong giai đoạn đầu, quy mô tài sản tăng sẽ làm giảm rủi
ro thanh khoản ngân hàng nhưng tổng tài sản tăng vượt ngưỡng khả năng quản lý sẽ làm tăng rủi ro thanh khoản
Vũ Thị Hồng (2015) Nghiên cứu được thực
hiện với mẫu 37 NHTM Viê ̣t Nam trong giai đoa ̣n 2006-2011 nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của các ngân hàng
Qua phân tích thống kê, tương quan và hồi quy dữ liê ̣u bảng không cân xứng với phương pháp tác động
cố định (Fixed Effects), nghiên cứu đã tìm thấy tỷ
lê ̣ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có mối tương quan cùng chiều với khả năng thanh toán của các ngân hàng thương ma ̣i ta ̣i Viê ̣t Nam Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra Tỷ
lê ̣ cho vay trên huy đô ̣ng có mối tương quan nghi ̣ch với khả năng thanh toán của các NHTM Viê ̣t Nam
Lê Thanh Ngọc và cộng
sự (2015)
Nghiên cứu về mối quan
hệ giữa tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản và rủ i ro
Kết quả nghiên cứu cho thấy các ngân hàng với hệ
số CAR thấp hơn mức quy
Trang 38của NHTM trong đó bao gồm rủi ro mất khả năng thanh toán Sử dụng dữ liệu bảng không cân từ mẫu 15 NHTM, giai đoạn
2009 – 2014
định 9% có xu hướng cơ cấu lại tài sản bằng cách giảm tài sản có hệ số rủi
ro cao, thay vì gia tăng vốn chủ sở hữu Sự gia tăng vốn chủ sở hữu của các ngân hàng chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố: quy mô tài sản, tỷ suất sinh lợi của tài sản và mức
độ thay đổi vốn chủ sở hữu củ a kỳ trước
Nguồn: tổng hợp của tác giả từ các nghiên cứu
Tóm tắt chương 2
Trong chương 2, tác giả đã trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến vốn chủ
sở hữu như khái niệm, thành phần và vai trò Cơ sở lý thuyết về rủi ro mất khả năng thanh toán cũng được tác giả đề cập đến như: khái niệm, cách thức đo lường, nguyên nhân dẫn đến rủi ro mất khả năng thanh toán
Bên cạnh việc trình bày cơ sở lý thuyết, tác giả cũng tiến hành lược khảo các nghiên cứu liên quan đến tác động của vốn chủ sở hữu đến rủi ro mất khả năng thanh toán
Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước, trong các chương tiếp theo tác giả
sẽ lần lượt trình bày về thực trạng, phương pháp nghiên cứu của đề tài và kết quả nghiên cứu thực nghiệm
Trang 39CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ VỐN CHỦ SỞ HỮU VÀ RỦI RO MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM
3.1 Giới thiệu chương
Trong chương 2, tác giả đã trình bày các vấn đề liên quan đến cơ sở lý thuyết
về vốn chủ sở hữu và rủi ro mất khả năng thanh toán của các NHTM
Trong chương 3, tác giả tiến hành trình bày thực trạng tổng quan về các NHTM Việt Nam Các vấn đề được trình bày trong chương 3 liên quan đến thực trạng hoạt động của các NHTM Việt Nam như tình hình tổng tài sản, tình hình vốn chủ sở hữu, lợi nhuận ròng, chi phí hoạt động trong giai đoạn 2013 – 2015
3.2 Thực trạng hoạt động của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2013-2015:
3.2.1 Tình hình Tổng tài sản:
Biểu đồ 3.1 Tổng tài sản bình quân của các NHTM trong giai đoạn 2013 –
2015
Nguồn: Báo cáo tài chính của các ngân hàng
Tổng tài sản bình quân của 15 NHTM năm 2014 là 347 nghìn tỷ đồng, tăng hơn gần 15% so với năm 2013 (302 nghìn tỷ đồng) Qua năm 2015, tổng tài sản bình quân các NHTM này tăng hơn 16,13% so với 2014, đạt mức 403 nghìn tỷ đồng, trong đó tăng mạnh nhất thuộc về các NHTM CP Nhà nước như Vietin bank,
50,000,000
Trang 40Vietcombank, Eximbank, Agribank, BIDV Tỷ lệ tăng của tổng tài sản bình quân 15 NHTM này phù hợp mới xu thế tăng trưởng chung của nền kinh tế
3.2.2 Tình hình Vốn chủ sở hữu:
Biểu đồ 3.2 Vốn chủ sở hữu bình quân của các NHTM trong giai đoạn 2013 –
2015
Nguồn: Báo cáo tài chính của các ngân hàng
Vốn chủ sở hữu bình quân của 15 NHTM năm năm 2014 là 24.769 tỷ đồng, tăng hơn gần 4% so với năm 2013 (23.816 tỷ đồng) Đến thời điểm năm 2015, các NHTM đều đã vượt mức yêu cầu về quy định vốn tối thiểu, tuy nhiên do áp lực gia tăng năng lực cạnh tranh, các NHTM đã nỗ lực gia tăng vốn chủ sở hữu Qua năm
2015, vốn chủ sở hữu bình quân các NHTM này tăng hơn 15% so với 2014, đạt mức 28.521 tỷ đồng