Đô thị hóa là quá trình tất yếu đối với các quốc gia chậm phát triển khi bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập. Đô thị hóa có tác động tích cực, sâu sắc tới mọi mặt đời sống kinh tế xã hội nói chung, tới khu vực nông thôn nói riêng. Bên cạnh những tác động tích cực, quá trình đô thị hóa cũng phát sinh những vấn đề mới liên quan chặt chẽ với khu vực nông nghiệp, nông thôn, trực tiếp là vấn đề lao động, việc làm và an ninh xã hội cần được nhận thức và giải quyết do quy mô của sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, lao động nông nghiệp và nông thôn vốn đã luôn thiếu việc làm, nay càng khó khăn hơn về việc làm trong tiến trình CNH, HĐH đất nước. Nếu không có một chiến lược giải pháp cụ thể, sẽ nảy sinh tiếp những vấn đề xã hội phức tạp.
Trang 1MỤC LỤC
Tran g
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ
THỊ HÓA ĐẾN LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM TRÊN ĐỊA BÀN
1.1 Những vấn đề chung về đô thị hóa, lao động và việc làm 111.2 Tác động của quá trình đô thị hóa đến lao động và việc làm
Chương 2 THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN LAO
ĐỘNG, VIỆC LÀM TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG,
Chương 3 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP PHÁT HUY TÁC ĐỘNG TÍCH
CỰC, HẠN CHẾ TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HÀ
3.1 Những quan điểm cơ bản phát huy tác động tích cực, hạn chế
tác động tiêu cực từ quá trình đô thị hóa đến lao động và việclàm trên địa bàn quận Hà Đông thời gian tới 633.2 Những giải pháp chủ yếu phát huy tác động tích cực, hạn chế
tác động tiêu cực từ quá trình đô thị hóa đến lao động và việclàm trên địa bàn quận Hà Đông thời gian tới 71
Trang 2đã luôn thiếu việc làm, nay càng khó khăn hơn về việc làm trong tiến trìnhCNH, HĐH đất nước Nếu không có một chiến lược giải pháp cụ thể, sẽ nảysinh tiếp những vấn đề xã hội phức tạp.
Hà Đông là một quận của thành phố Hà Nội từ tỉnh Hà Tây được sápnhập vào Thủ đô Là một quận lớn, với diện tích gần 5.000 ha, Hà Đông là địabàn có tốc độ đô thị hóa nhanh Về hình thức, cấp quận đơn vị hành chính nộithành, nhưng Hà Đông vẫn chưa thoát khỏi những dấu ấn của kinh tế ngoạithành Hà Nội
Trong khoảng năm năm gần đây, trên địa bàn Quận Hà Đông đã cónhiều khu đô thị mới, các chung cư và khu nhà ở mới được triển khai xâydựng Tuy nhiên, do tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh, đã phát sinh một số vấnđề “nóng” Việc thu hẹp qũy đất nông nghiệp vừa làm gia tăng áp lực về laođộng, việc làm cho số lao động đôi dư và lao động gia tăng hàng năm, đồngthời cũng đặt các ngành công nghiệp, tiểu công nghiệp và các ngành dịch vụtrước cả cơ hội phát triển và áp lực mới Thời gian qua, Quận Hà Đông đãtích cực chủ động giải quyết các vấn đề trên và đạt được những kết quả quantrọng Tuy nhiên, do chính sách giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống chongười dân có đất bị Nhà nước thu hồi còn những bất cập; công tác quy hoạch
Trang 3khu đô thị thiếu đồng bộ; còn tồn tại những yếu kém trong quy hoạch tổngthể, chưa có cơ cấu đào tạo nghề phù hợp để đáp ứng nhu cầu bức thiết của xãhội dẫn đến những tồn tại trong giải quyết thấu tình, đạt lý vấn đề việc làm vàbảo đảm đời sống cho người lao động khi thu hồi đất, làm nảy sinh những vấn đề
xã hội phức tạp
Như vậy, vấn đề đô thị hóa trên địa bàn Quận Hà Đông, Hà Nội thực sự
đã có những tác động tới lao động và việc làm và các vấn đề xã hội trên địabàn Quận, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu, giải đáp thấu đáo, cung cấp cơ sởkhoa học cho lãnh đạo và chính quyền và các cơ quan chức năng của Quận cónhững động thái tích cực để giải quyết nhằm phát huy mặt tác động tích cực,hạn chế tác động tiêu cực từ quá trình đô thị hóa đến lao động và việc làm
trên địa bàn Quận Hà Đông Với lý do đó, đề tài nghiên cứu: “Tác động của
đô thị hóa đến lao động, việc làm trên địa bàn Quận Hà Đông, thành phố Hà
Nội” được học viên lựa chọn làm đề tài Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ kinh tế.
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về tác động của quá trình đô thị hóa đến lao động và việc
làm cho đến nay đã có nhiều nhà khoa học, các bài viết và các tác giả quantâm, cụ thể:
- “Bàn về công nghiệp hóa, đô thị hóa nông thôn”, Đào Thế Tuấn, Kỷ
yếu hội thảo Hậu GPMB, Hà Nội, 2009
Tác giả nghiên cứu một số mô hình CNH- HĐH nông nghiệp trên thếgiới và Trung Quốc tại khu vực sông Châu Giang Chỉ ra rằng thế giới đi theocon đường hình thành các siêu thị đô thị và tạo nên sự đối lập nông thôn -thành thị Còn Trung Quốc thì theo con đường khác, đó là phi tập trung hóa
và phát triển các khu cụm công nghiệp vừa và nhỏ xen lẫn trong nông thôn,tạo nên sự hài hoà giữa hai khu vực nông thôn và thành thị Từ đây, đề xuất
mô hình CNH- HĐH nông thôn Hà Nội nên đi theo hướng phi tập trung đểhạn chế lấy đất nông nghiệp và giảm thiểu mâu thuẫn giữa hai khu vực, gắn
Trang 4kết giữa hai quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa với phát triển bền vữngnông nghiệp, nông thôn Theo tác giả, Hà Nội dựa vào thế mạnh các làngnghề và truyền thống thâm canh lâu đời, với các sản phẩm và ngành nghềđộc đáo, có thể đi theo hướng phát triển các khu cụm hay vành đai làng nghề
- du lịch sinh thái gắn với thâm canh nông nghiệp công nghệ cao
- “Việc làm của nông dân sau khi thu hồi đất”, Nguyễn Văn Nam, Kỷ
yếu Hội thảo đề tài Hậu GPMB, Hà Nội, 2009
Tác giả phân tích các bức xúc về giải quyết lao động việc làm chongười nông dân ven đô bị mất nông nghiệp Chỉ ra rằng, công nghiệp hóa và
đô thị hóa chỉ thành công khi chuyển đổi được người nông dân thành mộtcông dân đô thị, giúp cho họ tránh được các “cú sốc” để hội nhập vào đờisống đô thị và văn minh thị trường - công nghiệp Một trong những khả năngnày là tạo cho họ quỹ đất dịch vụ và giúp cho người dân có tổ chức kinh tếđộc lập của mình Ví dụ, như các hợp tác xã mua bán hay kinh doanh ngànhnghề dịch vụ nhằm đáp ứng cho chính ngay các nhu cầu dân sinh thiết yếuvùng đô thị hóa Đây cũng chính là giải pháp cải thiện chất lượng sống vàchất lượng đô thị hóa
- “Mối quan hệ giữa nâng cao chất lượng lao động với giải quyết việc làm trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, do PGS.TS
Trần Văn Chử làm chủ nhiệm đề tài, 2001
Các tác giả của đề tài đã phân tích làm rõ mối quan hệ giữa nâng caochất lượng lao động với giải quyết việc làm trong quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước và cho rằng: Việc nâng cao chất lượng nguồn lao độngkhông chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu của phát triển, mà còn góp phần giải quyếtviệc làm, giảm thất nghiệp Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chấtlượng đội ngũ lao động và giải quyết việc làm ở nước ta trong thời gian tới
- “Việc làm ở nông thôn, thực trạng và giải pháp”, Chu Tiến Quang,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội (2001)
Trang 5Tác giả đã phân tích làm rõ vấn đề việc làm ở nông thôn Việt Nam vàcho rằng, việc làm cho người lao động và thất nghiệp là một trong những vấn đềtoàn cầu Từ đó đưa ra phương pháp tiếp cận tổng quát về chính sách việc làm,
hệ thống khái niệm về lao động, việc làm, đánh giá thực trạng vấn đề việc làm ởViệt Nam Nội dung của công trình đã đề xuất hệ thống các quan điểm, giải phápgiải quyết việc làm và khuyến nghị một số chính sách cụ thể về việc làm, chốngthất nghiệp trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay
- “Những vấn đề KT - XH ở nông thôn trong quá trình CNH-HĐH”,
Kỷ yếu hội thảo khoa học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, (2010)
Nội dung đề cập toàn diện các vấn đề “tam nông” trong giai đoạn đẩymạnh CNH - HĐH hiện nay ở nước ta Đó là các vấn đề xã hội nảy sinh từchính sách thu hồi đất đai nông nghiệp, sự phân hóa giàu nghèo trong nôngthôn, các thách thức xóa đói giảm nghèo ở nông thôn; sự biến đổi lợi ích kinh
tế của nông dân do tác động của CNH - HĐH, vấn đề đào tạo nghề, đảm bảoviệc làm và thu nhập cho nông dân; vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngthôn, ảnh hưởng của di chuyển lao động tới cơ cấu kinh tế hộ gia đình nôngdân; vấn đề thu hẹp đất canh tác và đảm bảo an ninh lương thực, vấn đề pháttriển thị trường đất đai và chuyển đổi mục đích sử dụng đất hiện nay; các vấnđề bức xúc về ô nhiễm môi trường, xuống cấp về văn hóa, lối sống và pháttriển bền vững nông thôn nước ta; vấn đề phát triển các KCN - KCX, pháttriển làng nghề, CNH - HĐH nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới; một sốnghiên cứu các thay đổi trong nông thôn tại một số địa phương điển hình như
Hà Nội, Thanh Hóa, Thái Bình , các kinh nghiệm và bài học của quốc tế, cóTrung Quốc và phát triển nông nghiệp, nông thôn
- “Đô thị hóa và lao động việc làm ở Hà Nội”, Hoàng Văn Hoa, Nxb
Lao động Xã hội, Hà Nội, (2007)
Tác giả nêu lên các khái niệm và lý thuyết về ĐTH, lao động việc làm.Đánh giá tình hình đô thị hóa nhanh ở Hà Nội thời gian qua, cho thấy bức tranh
Trang 6có cả mặt tích cực và tiêu cực Theo kết quả điều tra, chiếm tỷ lệ lớn người dânbị thu hồi đất không được học nghề và chuyển đổi nghề; trong số được học nghềthì tỷ lệ người tìm được việc làm cũng rất thấp Nguyên nhân là, giữa đào tạonghề trong nhà trường và thực tế nhu cầu công việc không ăn khớp; không có sựgắn kết, chia sẻ trách nhiệm giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp Có tình hìnhđào tạo ra không bố trí được việc làm; trong khi doanh nghiệp lại thiếu hụt trầmtrọng nguồn nhân lực, thậm chí là thiếu cả lao động phổ thông.
- “Nguồn nhân lực nông thôn ngoại thành trong quá trình ĐTH trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Nguyễn Tiệp, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội,
2005
Các tác giả nghiên cứu các khái niệm và lý thuyết về nguồn nhân lựcnói chung, nguồn nhân lực nông thôn, nguồn nhân lực nông thôn cho CNH-HĐH Đánh giá tình hình nguồn nhân lực nông thôn ngoại thành Hà Nội, chothấy tình trạng yếu kém, nhất là về chất lượng, Hà Nội đang thiếu nhân lựcchất lượng cao phục vụ cho CNH- HĐH Từ đây, các tác giả đề xuất cácphương án đào tạo nghề cho những địa bàn ngoại thành khác nhau, để phùhợp với hoàn cảnh, yêu cầu và khả năng của các địa phương
- “Đô thị hóa ở Việt Nam - từ góc nhìn nông nghiệp, nông thôn, nông dân”, GS TS Phùng Hữu Phú, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009.
Tác giả cho rằng đô thị hóa đã làm cho địa bàn nông thôn xuất hiệnnhững khu công nghiệp, khu chế xuất, trung tâm dịch vụ từ đó tạo nhiều cơhội cho người nông dân có thêm ngành nghề mới, tạo thêm việc làm, đời sốngvăn hóa tinh thần được nâng lên rõ rệt Song quá trình đô thị hóa vẫn cònnhiều mâu thuẫn, thách thức, nhất là vấn đề về quy hoạch, quản lý, sử dụngđất, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sự ùn tắc lao động nông nghiệp, văn hóa,môi trường suy thoái Từ những vấn đề trên, tác giả đã đề xuất một số giảipháp mang tính khái quát nhằm đảm bảo cho quá trình đô thị hóa ở khu vựcnông thôn đi đúng quy luật khách quan của nó
- “Tác động của CNH - ĐTH tới cộng đồng dân cư nông thôn và chính
Trang 7sách sử dụng đất”, Đặng Ngọc Dinh, Kỷ yếu Hội thảo Hậu GPMB, Hà Nội, 2009.
Công trình điều tra đánh giá các tác động tích cực và tiêu cực tới đời sống, kinh tế,
xã hội nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng trong quá trình CNH - ĐTH nhanh;đề xuất các kiến nghị và giải pháp đồng bộ nhằm giảm thiểu tác động tiêu cựcphát triển KT - XH nông thôn nước ta trong giai đoạn mới
Những công trình nghiên cứu về lĩnh vực công nghiệp hóa, hiện đại hóarất nhiều và đã đề cập đến tác động của nó tới lao động và việc làm nóichung, tuy nhiên, nghiên cứu về tác động của đô thị hóa đến lao động và việclàm trên địa bàn quận Hà Đông thì đến nay chưa có tác giả nào đề cập đến Vì
vậy, đề tài nghiên cứu “Tác động của quá trình đô thị hóa đến lao động và
việc làm trên địa bàn Quận Hà Đông” được học viên lựa chọn làm đề tài luận
văn tốt nghiệp thạc sĩ kinh tế là không trùng lắp với các công trình khoa học
đã được công bố
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của quá trình đô thị hóađến lao động và việc làm trên địa bàn Quận Hà Đông; trên cơ sở đó đề xuấtquan điểm và giải pháp nhằm phát huy những tác động tích cực, hạn chếnhững tác động tiêu cực đối với lao động và việc làm tại Quận Hà Đông thờigian tới
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận giải cơ sở lý luận về tác động của quá trình đô thị hóa tới laođộng và việc làm
- Đánh giá thực trạng tác động của quá trình đô thị hóa đến lao động
và việc làm trên địa bàn Quận Hà Đông, chỉ rõ nguyên nhân của những tácđộng đó
- Đề xuất những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm pháthuy tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của quá trình đô thị hóa đến
Trang 8lao động và việc làm trên địa bàn Quận Hà Đông thời gian tới.
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Tác động của quá trình đô thị hóa đến lao
động và việc làm
* Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi nghiên cứu về nội dung, luận văn nghiên cứu tác động của
quá trình đô thị hóa tới lao động, việc làm theo hai chiều hướng tích cực vàtiêu cực
+ Phạm vi nghiên cứu về không gian: địa bàn quận Hà Đông.
+ Phạm vi nghiên cứu về không gian: từ năm 2008 (từ khi Hà Đông
được sát nhập vào Hà Nội) đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Đề tài luận văn được tiến hành trên cơ sở sử dụng phương pháp của chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu về tácđộng của quá trình đô thị hóa đến lao động và việc làm trên địa bàn Quận HàĐông trong điều kiện của kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ởnước ta Từ đó có cách nhìn nhận đánh giá khách quan về những tác động củaquá trình đó đến lao động và việc làm trên một địa bàn cụ thể là Quận HàĐông thành phố Hà Nội dưới góc độ của kinh tế chính trị học
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đềtài sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù của kinh tế chính trị Mác –Lênin: trừu tượng hóa khoa học, kết hợp lôgíc và lịch sử, phân tích, tổng hợp,thống kê, so sánh và phương pháp chuyên gia
6 Ý nghĩa của đề tài
- Góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận chung và thực tiễn tácđộng của quá trình đô thị hóa tới lao động và việc làm
Trang 9- Cung cấp thêm luận cứ khoa học làm cơ sở để Đảng bộ, chính quyềnQuận Hà Đông đề ra chủ chương, chính sách nhằm phát huy những tác độngtích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của quá trình đô thị hóa tới lao độngviệc làm thời gian tới.
- Luận văn có thể làm tài liệu nghiên cứu, vận dụng vào quá trình giảng dạy
và học tập bộ môn Kinh tế chính trị ở các nhà trường trong và ngoài quân đội
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,đề tài kết cấu thành 3 chương (6 tiết)
Trang 10Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN
LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1 Những vấn đề chung về đô thị hóa, lao động và việc làm
1.1.1 Đô thị hóa, đặc trưng và vai trò của đô thị trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội
Đô thị là một không gian kinh tế - xã hội phức tạp, có nhiều đặc trưngphong phú, vì vậy có thể tiếp cận nghiên cứu về đô thị theo nhiều góc độ khácnhau Để có quan niệm đúng và đầy đủ đối với vấn đề đô thị hóa, cũng nhưnhững tác động của đô thị đối với lao động, việc làm, cần bắt đầu từ quan
niệm về đô thị.
* Đô thị.
Trong từ điển Tiếng Việt, đô thị được quan niệm là nơi dân cư đông
đúc, là trung tâm thương nghiệp và có thể cả công nghiệp, thành phố hoặc thịtrấn [44, tr 322] Còn theo từ điển Bách khoa Việt Nam, đô thị là một khônggian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khuvực kinh tế phi nông nghiệp [43, tr 836] Trong văn bản quản lý Nhà nướccủa các cơ quan của Chính phủ về đô thị, đô thị được xác định là điểm tậptrung dân cư với mật độ, chủ yếu là lao động nông nghiệp, cơ sở hạ tầng thíchhợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sựphát triển kinh tế - xã hội của cả nước, hoặc của một vùng
Tuy nhiên, dù tiếp cận từ khía cạnh nào thì đô thị cũng là sự biểu hiện
tập trung ở những đặc trưng về kinh tế xã hội sau đây:
Thứ nhất, sự xuất hiện của đô thị và xu hướng gia tăng của nó (đô thị
hóa) là vấn đề có tính toàn cầu, sự gia tăng của đô thị làm nảy sinh và tậptrung nhiều vấn đề kinh tế xã hội mới Nói đô thị hóa là vấn đề có tính toàn cầu
Trang 11là nói đến vấn đề mang tính quy luật trong quá trình phát triển kinh tế, trực tiếp
là quá trình CNH, HĐH làm nảy sinh Còn nói đô thị và sự phát triển của đô thị(đô thị hóa) làm nảy sinh các vấn kinh tế xã hội mới về môi trường, dân số vàvấn đề tổ chức không gian và môi trường là nói đến tốc độ tăng quá nhanh vềcông nghiệp hoá và đô thị hoá dẫn đến phá huỷ một phần môi trường sinh thái,gây ô nhiễm môi trường, trong khi khắc phục các sự cố đó rất chậm chạp, khôngđầy đủ vì nhiều nguyên nhân Trong đó có nguyên nhân quan trọng là tài chínhhạn chế, nhận thức chưa đầy đủ, về vấn đề dân số, tốc độ gia tăng quá nhanh vềdân số và dân số đô thị, hai hướng chuyển dịch dân cư là chuyển dịch theo chiềurộng và theo chiều sâu diễn ra song song sẽ làm gia tăng áp lực về lao động việclàm ở cả hai khu vực, khu vực đô thị mới ra đời và không gian nông nghiệp nôngthôn còn lại sau sự phát triển của đô thị Về vấn đề tổ chức không gian và môitrường, quy mô dân số đô thị tập trung quá lớn so với trình độ quản lý, dẫn đếnkhông điều hoà gây bế tắc trong tổ chức môi trường sống đô thị
Thứ hai, hệ thống thị trường đô thị có những đặc trưng riêng biệt Thị
trường đô thị là một hệ thống hoặc địa điểm, ở đó diễn ra việc mua bán, traođổi hàng hoá và dịch vụ Những thị trường chủ yếu của đô thị bao gồm: Thịtrường lao động, thị trường đất và bất động sản, thị trường giao thông, thịtrường hạ tầng đô thị, thị trường dịch vụ, thị trường tài chính
Các đặc trưng khác như quan hệ thành thị và nông thôn luôn tồn tại, ngày
càng trở nên quan trọng Về mặt không gian kinh tế của đô thị có đặc điểm giốngnhư một nền kinh tế quốc dân: Vì đô thị cũng được giới hạn về mặt hành chính,hoạt động của nó có tính độc lập tương đối Về tính kế thừa về kinh tế và vănhóa, đô thị mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất, kinh tế, vănhóa Nền văn hoá được kế thừa và phát triển với bản sắc dân tộc
- Vai trò của đô thị đối với sự phát triển kinh tế, xã hội:
Sự xuất hiện của đô thị dù với tính chất nhỏ lẻ về quy mô (ban đầu) vàgia tăng sau đó (đô thị hóa) có vai trò nhất định đối với sự phát triển kinh tế -
Trang 12xã hội Nói đến điều này đồng nghĩa với việc nói đến tác động tích cực từ quátrình đô thị hóa đem lại cho đời sống KT-XH Theo đó có thể dẫn ra các vấnđề sau:
+ Một là: đô thị đóng vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị, thương
mại, văn hóa của xã hội; là sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cảvề cơ sở vật chất kỹ thuật và văn hóa
+ Hai là: đô thị có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển
kinh tế, là điều kiện cho giao thương và sản xuất phát triển, tối ưu hóa việc sửdụng năng lượng, con người và máy móc, tạo ra thị trường linh hoạt có năngsuất lao động cao; tạo điều kiện thuận lợi phân phối sản phẩm và phân bốnguồn nhân lực giữa không gian đô thị, ven đô, ngoại thành và nông thôn
+ Ba là: đô thị giữ vai trò đầu tàu cho sự phát triển, dẫn dắt các cộng
đồng nông thôn đi trên con đường tiến bộ và văn minh
Như vậy, đô thị có vai trò hết sức quan trọng, thúc đẩy sự phát triển KT
-XH của cả nước, của một vùng lãnh thổ hay một địa bàn của một địa phương
Do có vai trò quan trọng như vậy nên các quốc gia trên con đường pháttriển của mình, đặc biệt là trong thời kỳ tiến hành công nghiệp hóa đất nướcđều có những việc làm vừa thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa vừa thúc đẩy
sự ra đời của hệ thống các đô thị, tình hình đó làm xuất hiện một quá trìnhbiến đổi kinh tế xã hội mang tính xu hướng, đó là quá trình đô thị hóa
* Đô thị hóa:
Đô thị hóa là quá trình gia tăng của đô thị về mặt dân cư, mở rộng vềquy mô các thành phố, thị xã và lan tỏa phương thức sản xuất, văn hóa, lốisống đô thị về khu vực nông thôn, tạo ra những biến đổi về các mặt kinh tế, vănhóa xã hội và thu hẹp không gian sống của cư dân nông thôn Đồng thời đó làquá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất nông nghiệp giảm,sản xuất phi nông nghiệp tăng Theo nghĩa rộng, bộ mặt đô thị ngày càng hiệnđại, không gian đô thị mở rộng, đô thị hóa còn có thể được quan niệm là quá
Trang 13trình phát triển đô thị về các mặt kinh tế, dân số, không gian và kết cấu hạ tầng
kỹ thuật đô thị làm biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh
tế quốc dân theo hướng công nghiệp hóa; là sự thay đổi điều kiện sản xuất, lốisống và văn hóa của một bộ phận nông thôn theo cách của đô thị
Đô thị hóa cũng có nghĩa là sự mở rộng của đô thị tính theo tỷ lệ phầntrăm giữa số dân đô thị, hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích củamột vùng hay khu vực; nó cũng có thể tính theo tỷ lệ gia tăng của hai yếu tố đótheo thời gian Nếu tính theo số dân đô thị trên tổng số dân thì được gọi là mức
độ đô thị hóa Nếu tính theo diện tích đô thị trên tổng diện tích của một vùng
hay khu vực gọi là tốc độ đô thị hóa Đô thị các nước phát triển phần lớn đã ổn
định nên tốc độ đô thị hóa thấp hơn nhiều so với các nước đang phát triển
Đô thị hóa còn là sự biến đổi toàn diện kinh tế - xã hội nhiều mặt, trêncái nhìn hẹp hơn đó là hiện tượng dịch chuyển dân cư, nghề nghiệp từ lĩnh vựcnông nghiệp sang phi nông nghiệp, tư khu vực nông thôn sang khu vực đô thịvới tất cả hệ quả của nó Và đô thị hóa là quá trình kinh tế - xã hội tất yếu sẽxảy ra mà không ngoại trừ bất kỳ quốc gia nào
Như vậy, đô thị hóa chính là bước quá độ từ hình thức sống nôngnghiệp, nông thôn lên hình thức sống đô thị của các nhóm dân cư; là quá trìnhthu hẹp không gian nông nghiệp, phát triển không gian công nghiệp, dịch vụ;đồng thời cũng là quá trình phát triển nông thôn và phổ biến lối sống thành phốcho nông thôn Đó là xu hướng có tính quy luật trong quá trình CNH, HĐH
Tuy có nhiều cách tiếp cận với nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm
đô thị hóa, song với trong bối cảnh chung khi đô thị hóa gắn liền với côngnghiệp hóa đang diễn ra mạnh mẽ và phổ biến ở nhiều nước trên thế giới thì
quan niệm phổ biến nhất về đô thị hóa là quá trình biến đổi và phân bố lực lượng sản xuất cùng với quan hệ sản xuất tương ứng trong nền kinh tế quốc dân; bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị; phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại
Trang 14hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng quy mô dân số; đồng thời với đó là sự biến đổi một bộ phận không gian vốn trước đây là nông thôn nay trở thành đô thị Quan niệm này cũng phản ánh thực tế quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện
nay
Các nhân tố ảnh hưởng đến đặc điểm của quá trình đô thị hóa:
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa, song chủ yếu vẫn
là các nhân tố sau:
Thứ nhất, điều kiện tự nhiên.
Điều kiện tự nhiên là tổng hợp của tất cả yếu tố vị trí địa lý, tài nguyênthiên nhiên, khí hậu, sông ngòi, thủy văn, địa chất Thời kỳ kinh tế chưa pháttriển, đô thị hóa phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên Những vùng cókhí hậu thời tiết tốt, có nhiều khoáng sản, giao thông thuận lợi và những lợithế khác nhau sẽ thu hút dân cư mạnh hơn và do đó sẽ được đô thị hóa sớmhơn, quy mô lớn hơn Ngược lại những vùng khác sẽ đô thị hóa chậm hơn,quy mô nhỏ hơn
Thứ hai, điều kiện xã hội.
Mỗi phương thức sản xuất sẽ có một hình thái đô thị tương ứng và do đó,quá trình đô thị hóa có những đặc trưng riêng của nó Sự phát triển của lực lượngsản xuất là điều kiện để công nghiệp hóa, hiện đại hóa và là tiền đề cho đô thịhóa Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sảncủa nền kinh tế sẽ tạo ra quá trình đô thị hóa nông thôn và các vùng ven biển
Mỗi chế độ xã hội đều tạo điều kiện thuận lợi hay không thuận lợi choquá trình đô thị hóa và quy định những đặc trưng riêng của nó Nước ta pháttriển theo định hướng XHCN, do đó đô thị hóa không chỉ là mục tiêu mà còn
là phương tiện để phát triển KT-XH phục vụ “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ,công bằng, văn minh”
Thứ ba, trình độ phát triển kinh tế.
Trình độ phát triển kinh tế là nhân tố giữ vai trò quyết định trong quá
Trang 15trình đô thị hóa Trình độ phát triển kinh tế, trước hết được thể hiện ở trình độphát triển của lực lượng sản xuất cao hay thấp; trình độ phân công lao động
xã hội; năng suất lao động; quy mô, tốc độ tăng trưởng GDP
Thứ tư, tình hình chính trị và văn hóa dân tộc.
Tình hình chính trị ảnh hưởng đến đô thị hóa trên hai góc độ: Một mặt,nó quyết định đường lối, phương hướng, nhiệm vụ, chiến lược, quy hoạch, kếhoạch đô thị hóa Mặt khác, tình hình chính trị của thành phố, của đất nước ổnđịnh sẽ tạo ra sự đồng thuận, đoàn kết nhất trí cao trong nhân dân, trong xãhội về quyết tâm xây dựng đô thị văn minh, hiện đại, giàu bản sắc văn hóadân tộc, văn hóa địa phương; tạo sự yên tâm, tin tưởng cho các nhà đầu tư Ởnước ta từ sau 1975, tốc độ đô thị hóa ngày càng cao, các đô thị mới mọc lênnhanh chóng Đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, với các chính sách mở cửa nềnkinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần thì
đô thị hóa đã tạo ra sự phát triển kinh tế vượt bậc
Văn hóa dân tộc ảnh hưởng tới tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xãhội nói chung và hình thái đô thị nói riêng
1.1.2 Quan niệm về lao động và việc làm
* Quan niệm về lao động:
Lao động là một phạm trù có nội hàm phong phú, nên có thể tiếp cậnnghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau Tùy theo góc độ nghiên cứu mà người
ta đưa ra các quan niệm về "lao động" tương ứng Tuy nhiên, các quan điểm
đều tập trung chủ yếu vào hai khía cạnh: Thứ nhất, coi lao động là hoạt động,
là phương thức tồn tại của con người Thứ hai, coi lao động chính là bản thân
con người, là sự nỗ lực vật chất và tinh thần của con người dưới dạng hoạtđộng tạo ra những sản phẩm vật chất và tinh thần để thỏa mãn nhu cầu củacon người Trên bình diện của khoa học kinh tế chính trị, C.Mác là người cónhững nghiên cứu về lao động hết sức sâu sắc
Trong tác phẩm "Tư bản", C.Mác coi lao động là hành động biểu hiện
Trang 16trực tiếp quan hệ giữa con người với tự nhiên, nhằm tạo ra sản phẩm nuôichính con người Lao động là hành động xã hội, hành động cải tạo thế giớicủa con người, thông qua lao động con người cũng cải tạo chính mình Laođộng "là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trìnhtrong đó, bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết
và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên"[ 23, tr 266]
Khi coi lao động là hành động xã hội, C.Mác cũng đã chỉ ra các yếu tố
cơ bản tạo nên cấu trúc của lao động là: đối tượng lao động, tư liệu lao động
và chủ thể lao động người lao động Con người sử dụng những tư liệu laođộng tác động vào đối tượng lao động nhằm mục đích tạo ra của cải vật chất
để nuôi sống con người Như vậy, chủ thể lao động là con người với tất cảđặc điểm tâm sinh lý, xã hội được hình thành và phát triển trong quá trình xãhội hóa cá nhân Và để tiến hành lao động sản xuất họ phải có những tư liệusản xuất nhất định (là sự hợp thành của đối tượng lao động và tư liệu laođộng, chúng có thể là đất đai, nhà máy, hầm mỏ, máy móc )
Lao động - vấn đề được bàn luận trong luận văn này được tiếp cận từgóc độ là những chủ thể lao động, hay đó là những sức lao động - điều đãđược C.Mác bàn kỹ lưỡng trong tác phẩm "Tư bản" Ở cấp độ tổng thể đó làlực lượng lao động, không tiếp cận từ góc độ là quá trình con người tác độngvào giới tự nhiên thông qua công cụ lao động với tính cách là hoạt động quantrọng nhất của con người, nhằm tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thầncủa xã hội
Lực lượng lao động theo nghĩa rộng là nguồn lực của một quốc gia,một vùng lãnh thổ, là một bộ phận nguồn lực có thể huy động được để thamgia vào quá trình phát triển đất nước
Theo nghĩa hẹp, lực lượng lao động là bộ phận của dân số trong độ tuổilao động theo quy định của pháp luật có khả năng tham gia lao động (bộ phậndân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp Ở Việt
Trang 17Nam hiện nay thường sử dụng khái niệm này trong thống kê Như vậy, lựclượng lao động bao gồm những người có việc làm (trong tuổi lao động và trêntuổi lao động) và những người chưa có việc làm nhưng đang tìm việc làm(thất nghiệp) Lực lượng lao động không bao gồm những người trong tuổi laođộng nhưng nằm trong các tình trạng: làm nội trợ chính trong gia đình, họcsinh, sinh viên, những người không có nhu cầu làm việc…
Cần có sự phân biệt sự giống và khác nhau giữa lực lượng lao độngvới nguồn nhân lực và nguồn lực lao động Nguồn nhân lực: là một bộ phậndân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động Nguồn nhân lựcđược xem xét, đánh giá ở hai phương diện: số lượng và chất lượng nguồnnhân lực Số lượng nguồn nhân lực là chỉ quy mô, cơ cấu tuổi, giới tính…chấtlượng nguồn nhân lực là khả năng tổng hợp về thể lực, trí lực, kỹ năng, phongcách, đặc điểm lối sống, tinh thần và đặc biệt là khả năng nghiên cứu, sángtạo, tiếp thu tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ mới phục vụ phát triểnkinh tế - xã hội Trong khi đó, nguồn lực lao động là bộ phận dân số trong độtuổi lao động có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động(trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân.Nguồn lực lao động được coi là cung tiềm năng về lao động Nguồn lực laođộng luôn được xem xét trên hai mặt biểu hiện đó là số lượng và chất lượng.Nguồn lực lao động xét về mặt số lượng bao gồm: dân số đủ 15 tuổi trở lên cóviệc làm và dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đangthất nghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, không cónhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác (bao gồm cả nhữngngười nghỉ hưu trước tuổi quy định) [36]
Như vậy nguồn lực lao động có nội hàm rộng hơn lực lượng lao động.Trong điều kiện ngày nay (nền kinh tế thị trường, hội nhập với nềnkinh tế khu vực và thế giới, nền kinh tế tri thức, ) việc không ngừng nângcao chất lượng lực lượng lao động có ý nghĩa quan trọng đặc biệt, số lượng
Trang 18lao động đông đảo không còn chiếm ưu thế, nhất là với lao động có chấtlượng thấp Song song với vấn đề chất lượng lực lượng lao động, ở nước tahiện nay, trong điều kiện đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH và tốc độ đô thịhóa đang diễn ra nhanh chóng, vấn đề toàn dụng lao động lại luôn là vấn đềthời sự và được Đảng và Nhà nước ta dành cho sự quan tâm sâu sắc, đặc biệt
là lao động nông nghiệp dôi ra trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp vàquá trình đô thị hóa
Điểm đáng lưu ý của lao động nông nghiệp là mọi hoạt động lao động,sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp đều gắn liền với đối tượngcây trồng, vật nuôi - là những cơ thể sống với những đặc điểm riêng biệt,không thể xóa bỏ, làm cho lao động nông nghiệp mang sắc thái riêng, khônggiống với lao động trong một số ngành kinh tế khác Đặc biệt là tính chất thờivụ của lao động nông nghiệp, làm cho lao động nông nghiệp lúc thì căngthẳng, lúc lại nhàn rỗi; tình trạng thiếu việc làm tạm thời là khá phổ biến
Lao động vấn đề đang được bàn luận ở đây được đặt trong mối quan hệtrực tiếp và gắn bó chặt chẽ với qúa trình đô thị hóa (sự mở rộng không giankinh tế - xã hội của đô thị dẫn tới sự thu hẹp tương ứng không gian kinh tế -
xã hội khu vực nông thôn), xem xét nó trong sự tác động của quá trình đô thịhóa sẽ tạo ra những vấn đề kinh tế xã hội gì cần giải quyết để toàn dụng lựclượng lao động đó trên các địa bàn mà khi đô thị "bành trướng" ra và lựclượng lao động vốn trước đây thuộc khu vực nông thôn nay phải chịu nhữngtác động từ quá trình "bành trướng" đó của đô thị
*Quan niệm chung về việc làm:
Việc làm là khái niệm thể hiện sự tổng hợp các yếu tố của quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội, nhân khẩu, chất lượng lao động … Việc làm là mộttrong những chỉ tiêu quan trọng của đời sống xã hội, do vậy đã có nhiều nhàkhoa học quan tâm, nghiên cứu và có nhiều cách hiểu khác nhau về việc làm
Trang 19Xét dưới góc độ kinh tế - xã hội, việc làm được hiểu là các hoạt độngtạo ra, đem lại lợi ích thu nhập cho người lao động được xã hội thừa nhận
Theo tổ chức lao động quốc tế: Việc làm là những hoạt động lao độngđược trả công bằng tiền và bằng hiện vật
Theo Bộ luật lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
“Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đềuđược thừa nhận là việc làm” Khái niệm này được vận dụng trong các cuộcđiều tra về thực trạng lao động và việc làm hàng năm của Việt Nam
Việc làm trước hết là vấn đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầumưu sinh của mỗi cá nhân Con người vì muốn thỏa mãn các nhu cầu của bảnthân nên tiến hành các hoạt động lao động nhất định Một hoạt động được coi
là việc làm cần thỏa mãn hai điều kiện: Thứ nhất, hoạt động đó phải có ích vàtạo ra thu nhập cho người lao động và các thành viên trong gia đình; Thứ hai,hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm Hai điều kiện này có quan hệ chặtchẽ với nhau, là điều kiện cần và đủ của một hoạt động được thừa nhận làviệc làm Người có việc làm chính là khái niệm dùng để chỉ những người hiệnđang tham gia các hoạt động đó Tùy theo mức độ tham gia và thu nhập từ cáchoạt động này mà có thể chia đối tượng này thành hai loại là: người có việclàm đầy đủ và người có việc làm không đầy đủ
Việc làm đầy đủ là việc làm nó cho phép người lao động có đủ điều
kiện để sử dụng thời gian lao động theo quy định và mang lại thu nhập khôngthấp hơn mức thu nhập tối thiểu Nếu không đảm bảo một trong hai yếu tố
này thì gọi là bán thất nghiệp Việc làm không đầy đủ hay thiếu việc làm: là
những người làm việc ít hơn mức mà mình mong muốn Người lao độngkhông có đủ việc làm theo thời gian quy định trong tuần, trong tháng, làmnhững công việc có thu nhập quá thấp không đảm bảo cuộc sống
Tuy nhiên, con người không sống đơn lẻ và hoạt động lao động của mỗi
cá nhân cũng không đơn lẻ mà nằm trong tổng thể các hoạt động của sản xuất xã
Trang 20hội Do đó, bên cạnh ý nghĩa là vấn đề cá nhân là tăng thêm thu nhập cho cánhân, người thân, gia đình và cộng đồng mà việc làm còn là vấn đề của cộngđồng của xã hội Điều này đòi hỏi phải có những chính sách và biện pháp nhấtđịnh phù hợp từ phía Nhà nước nhằm tăng số lượng việc làm và chất lượng việclàm, đảm bảo đời sống dân cư, kiềm chế nạn thất nghiệp và thông qua đó để giảiquyết các vấn đề xã hội khác trong nền kinh tế thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, ở đâu có lợi nhuận, các doanh nghiệp sẽtăng cường sử dụng lao động, tăng sản lượng, khối lượng việc làm sẽ tăng lên.Mặt khác khi nhu cầu thị trường suy giảm, các doanh nghiệp sẽ cắt giảm sảnlượng, khối lượng việc làm sẽ giảm
Trong xu thế CNH, HĐH nền kinh tế, khoa học công nghệ phát triểnmạnh mẽ, được ứng dụng nhanh chóng vào sản xuất và tất cả các lĩnh vựckhác nhau của đời sống kinh tế - xã hội đã làm cho khối lượng công việc cóyêu cầu về mặt kỹ thuật cao tăng nhanh chóng
Mặt khác, năng suất lao động tăng đã làm ảnh hưởng rất lớn tới "cầu"lao động và "cơ cấu" lao động Nếu người lao động không tự nâng cao taynghề, nâng cao trình độ của mình để theo kịp với yêu cầu của sản xuất kinhdoanh; phân công lao động xã hội không phát triển, không tạo ra được nhiềuchỗ làm mới cho người lao động thì tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm làđiều khó tránh khỏi
Trong nông nghiệp, lao động mang tính thời vụ, do vậy thời kỳ căngthẳng, khối lượng công việc nhiều tăng đột biến Tuy nhiên, lúc nhàn rỗikhối lượng công việc giảm đột ngột, thậm chí có lúc người nông dân khôngcó việc làm Đặc biệt trong điều kiện hiện nay dân số ở khu vực nông thônvẫn tăng nhanh, đất canh tác không tăng thậm chí có xu hướng giảm xuống
vì nhu cầu đất ở gia tăng, cùng với đó là do xu hướng ứng dụng tiến bộkhoa học công nghệ, sử dụng lao động bằng máy móc thay cho lao động thủcông cũng gia tăng làm cho năng suất lao động tăng nhanh đã giải phóng
Trang 21một lượng lao động lớn ra khỏi ngành nông nghiệp, bộ phận này có nhu cầutìm việc làm mới
Đặc biệt hơn nữa, do quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ ngày càngnhanh chóng và mạnh mẽ đã khiến diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp tươngứng, một lượng lớn lao động nông nghiệp sẽ thiếu đất canh tác làm xuất hiệnnhu cầu tìm kiếm việc làm mới Tình hình đó nếu không được giải quyết sẽnảy sinh những vấn đề xã hội phức tạp Sẽ có một bộ phận lao động chuyểndịch từ lao động nông nghiệp sang lao động dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp,song một lượng lao động khác sẽ định cư ra các đô thị và các khu công nghiệptìm kiếm việc làm gây nhiều vấn đề phức tạp cho việc quản lý lao động, quản
lý xã hội, tình trạng xóm liều, phố liều, tệ nạn xã hội gia tăng
1.2 Tác động của đô thị hóa đến lao động và việc làm trên địa bàn Quận Hà Đông
1.2.1 Đặc điểm quá trình đô thị hóa ở Quận Hà Đông
Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng bộ Quận nhiệm kỳ 2010
-2020 đặt mục tiêu xây dựng Quận Hà Đông trở thành đô thị với tốc độ pháttriển nhanh, mạnh, toàn diện và bền vững và là một trong những Quận pháttriển hàng đầu của Thủ đô Do vậy, Quận Hà Đông tập trung triển khai đồng
bộ công tác quy hoạch, phát triển đô thị, quá trình đó được thể hiện ở nhữngđặc điểm chính như sau:
Một là: Tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh, nhiều vấn đề phức tạp, công tác quản lý gặp nhiều khó khăn
Hà Đông là một Quận lớn nhưng là quận mới của Hà Nội, vốn là tỉnh lỵcủa tỉnh Hà Tây cũ nên khá lạc hậu so với các quận nội thành cũ của Thủ đô,
do đó khi trở thành quận của Hà Nội, tốc độ đô thị hóa ở quận Hà Đông diễn
ra khá nhanh
Từ năm 2006 đến nay, trên địa bàn Quận có 132 dự án lớn nhỏ đượcphê duyệt và khởi công Một lọat các dự án có quy mô lớn như: Dự án khu đô
Trang 22thị Văn Quán - Yên Phúc, khu đô thị Mỗ Lao, Văn Khê, khu trung tâm hànhchính mới, khu đô thị Văn Phú, trục đô thị phía bắc và khu đô thị Dương Nội,trục đô thị phía nam và khu đô thị Thanh Hà đồng loạt được khởi công trênđịa bàn Quận 16 khu đô thị mới và 64 khu nhà ở, chung cư được triển khaixây dựng Quận cũng tập trung đầu tư xây dựng nhiều công trình phục vụ dânsinh, phúc lợi xã hội tại các phường, nhất là bảy phường mới thành lập Nhiềuchợ, trung tâm thương mại trên địa bàn Quận được đầu tư xây dựng lại khangtrang, đáp ứng nhu cầu kinh doanh và mua sắm của nhân dân Cùng với đó là
hệ thống giao thông phục vụ cho quá trình đô thị hóa và nội quận cũ đều đượcđưa vào kế hoạch và triển khai
Tốc độ đô thị hóa quá nhanh - "nóng" đã làm cho quá trình đô thị hóa ởquận Hà Đông có nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh Theo đó các vấn đề nhưcông tác quản lý trật tự xây dựng đô thị đứng trước hàng loạt vấn đề phảicùng đồng thời giải quyết; Vấn đề di dân từ nông thôn ra thành thị dẫn đếnmật độ dân số ở thành thị tăng cao, gây mất cân đối giữa thành thị và nôngthôn, đồng thời đặt ra những vấn đề nan giải về giải quyết công ăn việc làm,thất nghiệp tại chỗ, nhà ở và tệ nạn xã hội làm cho trật tự xã hội ngày càngthêm phức tạp
Do sự chuyển biến mạnh mẽ mang tính khách quan theo hướng "lànglên phố” nên hầu hết các hộ dân và các hợp tác xã nông nghiệp và làng nghềđều gặp khó khăn trước “cơn lốc” đô thị hóa Hàng loạt vấn đề mới phát sinhtrước xu hướng vận động "làng trở thành phố" đặt ra cho chính quyền Quận
Hà Đông, từ các vấn đề kinh tế, giáo dục, xã hội, an ninh trật tự đến xây dựngnếp sống văn hóa đô thị đòi hỏi được giải quyết đồng thời nhằm hạn chếnhững hành vi xấu gây mất ổn định xã hội, để quá trình đô thị hóa song hànhvới xây dựng xã hội đô thị ổn định, bền vững
Hai là: có nhiều khó khăn mới xuất hiện trong công tác quản lý đô thị.
Trang 23Là địa bàn có tốc độ đô thị hóa nhanh nên công tác quản lý đô thị trongquá trình đô thị hóa ở Quận Hà Đông gặp không ít khó khăn, đòi hỏi phải giảiquyết, nhưng khó triệt để trong ngắn hạn Những vi phạm xảy trong xây dựng,nhất là xây dựng nhà dân sinh do các hộ tự bỏ tiền xây nhà ở, mặt bằng kinhdoanh, xây nhà cho thuê xảy ra thường xuyên và gây bức xúc không nhỏcho người dân Mặc dù lường trước được khó khăn, phức tạp này, Quận ủy
Hà Đông đã chỉ đạo xây dựng Chương trình 04 về "Tăng cường công tác quản
lý đô thị" và chọn làm khâu đột phá trong nhiệm kỳ 2010 - 2015 nhiều điểmphức tạp về trật tự đô thị như ngã ba Ba La, cầu Mai Lĩnh, chợ Xốm… đãđược giải quyết; qua đó nhắc nhở 2.121 trường hợp; thu giữ hơn 8.300 biểnquảng cáo…; tháo dỡ 680 lều lán, mái vẩy lấn chiếm lòng, lề đường; lập biênbản xử lý 491 trường hợp vi phạm; nhưng thực tiễn cho thấy kết quả chưa đạtđược yêu cầu mong đợi Việc phải đối diện với khó khăn này vẫn là vấn đềcòn phải tiếp tục
Cùng với khó khăn, phức tạp trong quản lý xây dựng là công tác xây
dựng và quản lý văn minh đô thị và công tác quản lý đô thị Nhận thức rõ tầm
quan trọng của công tác xây dựng và quản lý văn minh đô thị, Quận Hà Đông
đã sớm triển khai và thực hiện Chỉ thị số 01/CT-UBND ngày 02/01/2014 củaChủ tịch UBND thành phố Hà Nội và Kế hoạch số 05/KH-UBND ngày
09/01/2014 của UBND quận về thực hiện “Năm trật tự văn minh đô thị 2014”: Đã tiến hành xử lý, giải toả, cưỡng chế tháo dỡ các vi phạm lấn chiếm
-hành lang an toàn giao thông, hè đường; rà soát, giải toả các điểm trông giữphương tiện không phép, sai phép, để phương tiện không đúng nơi quy định;kinh doanh dịch vụ lấn chiếm lòng đường vỉa hè; sắp xếp, giải toả chợ cóc lấnchiếm hè phố, lòng đường, cản trở giao thông đảm bảo trật tự, kỷ cương, mỹquan đô thị Tập trung xử lý vi phạm trật tự đô thị tại các tuyến, địa bàn trọngđiểm, giáp ranh với các quận, huyện khác, các khu vực bệnh viện, trường học,bến xe, nơi công cộng Tổ chức tháo dỡ mái che, mái vẩy, xóa bỏ quảng cáo,
Trang 24rao vặt làm mất mỹ quan đô thị; Dẹp bỏ họp chợ, kinh doanh buôn bán, để vậtliệu xây dựng, rửa xe, trông, gửi xe ô tô, xe máy trên hè, đường không đúngquy định.
Cùng với đó, Quận đã triển khai Chương trình 04-CTr/QU của Quận ủy
và Kế hoạch số 46/KH-UBND của UBND quận về “Tăng cường công tác quản
lý đô thị”; chỉ đạo thực hiện các Quyết định 20/QĐ-UBND và 46/QĐ-UBNDcủa UBND thành phố Hà Nội, Kế hoạch số 63/KH-UBND của UBND quận vềtăng cường công tác quản lý bán hàng rong, quản lý lòng đường, vỉa hè; thựchiện phong trào “Gọn nhà, sạch phố, đẹp Thủ đô” Xây dựng và triển khai kếhoạch thực hiện quy chế dân chủ trong công tác quản lý trật tự xây dựng trênđịa bàn quận Chỉ đạo nâng cao chất lượng quy hoạch, quản lý quy hoạch, thẩmđịnh các công trình xây dựng cơ bản tuân thủ quy hoạch tổng thể phát triểnkinh tế - xã hội Thủ đô và quận theo định hướng chỉ đạo của Thành uỷ tạiChương trình số 06-CTr/TU ngày 08/11/2011 và Kế hoạch số 37-KH/QU ngày
01/02/2012 của Quận uỷ về "Đẩy mạnh công tác quy hoạch, xây dựng và quản
lý đô thị giai đoạn 2011 - 2015" Tuy nhiên, cũng như công tác quản lý trật tự
xây dựng đô thị, vấn đề quản lý văn minh đô thị, quản lý đô thị vẫn còn là vấnđề phải giải quyết theo hướng liên tục và quyết liệt
Ba là: quá trình đô thị hóa làm nảy sinh những khó khăn và phức tạp
về công tác quản lý đất đai,
Vấn đề đất đai và quản lý đất đai trong quá trình đô thị hóa là vấn đềmang tính quy luật chung, mà các quốc gia đi trước nước ta đã phải dối diện.Với Quận Hà Đông cũng không phải là ngoại lệ Nhận thức rõ vấn đề này,Quận ủy Hà Đông đã triển khai Chương trình 09-CTr/QU, ngày 21/4/2009 về
"Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn quận Hà Đông" Ủy Ban nhân dân Quận đã cho lập quy hoạch sử dụng
đất giai đoạn 2011 - 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm giai đoạn 2011 - 2015trình UBND thành phố Hà Nội phê duyệt, làm công cụ quản lý đất đai trên địa
Trang 25bàn Quận trong quá trình đô thị hóa và đã đạt được những kết quả nhất định.Trong 10 tháng đầu năm 2014, UBND quận đã cấp 4.581 GCN quyền sửdụng đất, đạt 57,25% so với chỉ tiêu Thành phố giao, ước năm 2014 cấp 9.591GCN quyền sử dụng đất, đạt 119,8% kế hoạch; nâng tổng số GCN cấp trênđịa bàn quận đến hết năm 2014 là 67.747 GCN (đạt tỷ lệ 98,61%) Cấp đổi,cấp lại GCNQSD đất cho 189 trường hợp; cấp GCN đối với các trường hợpchuyển QSD đất, sở hữu nhà ở cho 5.403 trường hợp; đăng ký giao dịch bảođảm cho 6.610 trường hợp Xét duyệt 3.085 trường hợp giao đất dịch vụ,tương ứng 1.618 lô đất; tổng số trường hợp đã xét duyệt trên toàn quận đếnnay 20.199 trường hợp, tương ứng 17.578 lô đất (đạt 87,9% nhu cầu) Cùngvới đó, Quận cũng chỉ đạo các phường thực hiện công tác điều tra giá đất chuyểnnhượng thực tế trên thị trường của các phường, tổng hợp kết quả điều tra, báo cáo
Sở Tài nguyên và Môi trường về kết quả và đề xuất giá đất năm 2015 Tuy nhiênthực tiễn cho thấy, vẫn còn khá nhiều vấn đề còn cần được nghiên cứu giải quyết.Bởi quá trình đô thị hóa trên địa bàn Quận vẫn chưa thể hoàn thành trong ngắnhạn
1.2.2 Quan niệm về sự tác động của đô thị hóa đến lao động và việc làm trên địa bàn Quận Hà Đông
Vấn đề tác động của quá trình đô thị hóa đến lao động và việc làm được
xem xét từ phạm trù xuất phát - sự tác động.
Trong từ điển tiếng Việt, tác động được hiểu là "làm cho một đối tượng
nào đó có những thay đổi nhất định" [43, tr 851] Một đối tượng nào đó chịu
sự tác động từ một đối tượng khác sẽ có những thay đổi theo những chiềuhướng nhất định, có thể cùng chiều, cũng có thể trái chiều nhau Như thế, tácđộng cũng có thể được xem như là kết quả như dự định hoặc không như dựđịnh; có thể là tích cực hoặc tiêu cực; có thể đạt được ngay hoặc đạt được saumột thời gian nhất định
Trang 26Vận dụng nhận thức chung về tác động nói trên vào xem xét vấn đề tác động của quá trình đô thị hóa đến lao động và việc làm nói chung trong đó
có địa bàn Quận Hà Đông Có thể hiểu đó là những biến đổi tất yếu theo
những chiều hướng khác nhau tới lao động và việc làm do quá trình đô thị hóagây ra Những tác động đó có thể là tích cực, nghĩa là phù hợp với quá trình pháttriển; cũng có thể là tiêu cực, nghĩa là không phù hợp với sự phát triển của nềnkinh tế của địa bàn trước những tác động của quá trình đô thị hóa Đây là vấn đềmang tính quy luật nói chung, từ tính quy luật chung đó cho phép xem xét haihướng tác động của quá trình đô thị hóa đến lao động và việc làm trên địa bànQuận Hà Đông
* Hai hướng tác động của quá trình đô thị hóa đến lao động và việc làm trên địa bàn Quận Hà Đông.
Đô thị hóa tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến xu hướng vận động vàphát triển kinh tế nông thôn theo hai hướng cơ bản là: Thu hẹp không giankinh tế nông nghiệp, nông thôn và làm thay đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp,nông thôn Hai hướng tác động này đều đưa ra những hệ quả mới cho kinh tếnông nghiệp, nông thôn theo hai hướng chính như sau:
Thứ nhất: Đô thị hóa tác động mạnh mẽ đến qúa trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế và cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn, qua đó gián tiếp thúcđẩy hiện thực hóa một trong hai nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa vàgóp phần thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội Theo các chuyêngia kinh tế, cứ mỗi ha đất nông nghiệp thu hồi sẽ có 13 lao động ở nông thônhoặc chuyển đổi sang lĩnh vực lao động khác [34] Như vậy, sẽ có sự dịchchuyển lớn về cơ cấu lao động trong quá trình đô thị hóa Mặt khác, mà cònlàm thay đổi sự phân bố dân cư và lao động nông nghiệp, nông thôn, tác độngtích cực đến chuyển dịch cơ cấu lao động và tạo ra nhu cầu về lao động vàviệc làm nhiều hơn
Thứ hai: Tác động tiêu cực đến một bộ phận lao động nông nghiệp,
Trang 27nông thôn bị đẩy khỏi những việc làm do quỹ đất nông nghiệp (tư liệu sảnxuất cơ bản của nông nghiệp) bị thu hẹp lao động vì thế mà dôi dư và nhữngthay đổi về cơ cấu kinh tế nông nghiệp và khu vực nông thôn, nếu quá trình
đô thị hóa và hậu đô thị hóa công tác tổ chức lại lao động trên địa bàn khôngđược tiến hành tốt Cũng theo các chuyên gia kinh tế, song hành với 13 laođộng ở nông thôn hoặc sẽ chuyển đổi lao động của mình từ mỗi ha đất nôngnghiệp bị thu hồi, thì cũng sẽ có sẽ 13 lao động ở nông thôn bị lấy mất đi cơhội việc làm (nếu số lao động đó không chuyển dịch sang làm việc ở cácngành nghề thuộc lĩnh vực phi nông nghiệp) [ 34] Nhìn từ góc độ đơn vị kinh
tế, cứ mỗi hộ dân bị thu hồi đất trung bình có 1,5 lao động rơi vào tình trạngkhông có việc làm và sau khi bị thu hồi đất, hơn 50% số hộ có thu nhập giảm
so với trước đó, có thể thấy, tác động tiêu cực của đô thị hóa đến lao độngviệc làm không hề nhỏ, nếu quá trình đô thị hóa không đi liền với nhữngchính sách thu hồi đất đai phù hợp
Những tác động tiêu cực ở đây chỉ mang tính tương đối bởi sự tácđộng đó có diễn ra hay không, diễn ra theo mức độ nào còn tùy thuộc vàocông tác tổ chức, quản lý, điều hành và những biện pháp cụ thể trong tổ chứcthực hiện của phía chính quyền các cấp đối với các địa địa bàn có đất đai bịthu hồi, trong vận dụng cơ chế chính sách của Nhà nước Sự tác động của quátrình đô thị hóa đến lao động và việc làm nói chung cũng là sự tác động của
quá trình đô thị hóa đến lao động và việc làm với địa bàn Quận Hà Đông
* Phương thức tác động của quá trình đô thị hóa đến lao động và việc
làm trên địa bàn Quận Hà Đông.
Những tác động của quá trình đô thị hóa đến lao động, việc làm theophương thức vừa trực tiếp, vừa gián tiếp
Tác động trực tiếp:
Qúa trình phát triển những khu đô thị mới, những hệ thống kết cấu hạtầng mới trên địa bàn Quận Hà Đông đòi hỏi phải thu hồi một diện tích đất
Trang 28nông nghiệp nhất định để đáp ứng Diện tích đất thu hồi đó nằm ở khu vựcngoại thành của Hà Đông cũ Số lao động có đất bị thu hồi chịu tác động trựctiếp từ quá trình này, hoặc họ chuyển sang làm việc tại các ngành côngnghiệp, xây dựng và dịch vụ ngay trên địa bàn Quận, hoặc đi làm các côngviệc tạp vụ tại các địa bàn khác Quá trình đó cũng làm giảm chỗ (số lượngđơn vị) việc làm trong nông nghiệp, làm tăng chỗ (số lượng đơn vị) việc làmtrong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng hoặc dịch vụ trên địa bàn Quận.
Tác động gián tiếp:
Quá trình đô thị hóa trên địa bàn Quận Hà Đông đã biến nhiều đơn vịhành chính là loại hình tổ chức xã thành các phường (làng lên phố) tạo cơ hộicho nhiều lao động chuyển đổi nghề nghiệp, trước đây làm một việc khác naychuyển sang kinh doanh thương mại dịch vụ tại chỗ, hoặc chuyển đến các địabàn khác trong thành phố tìm cơ hội việc làm mới (do không có điều kiện đểtìm hay tự tạo việc làm tại chỗ) Cũng xuất hiện một hiện tượng khác theohướng tiêu cực đối với đời sống xã hội: làm nghề chộp giật, buôn gian bánlận, trốn thuế Sự tác động gián tiếp từ quá trình đô thị hóa đến lao động, việclàm mang tính xu hướng và mang tính khách quan
Từ những trình bày trên có thể hiểu tác động của quá trình đô thị hóa
đến lao động và việc làm trên địa bàn Quận Hà Đông đó là: Những tác động
diễn ra theo xu hướng cả tích cực và tiêu cực; vừa trực tiếp, vừa gián tiếp đến lao động và việc làm trên địa bàn Quận Hà Đông; những tác động đó đan xen vào nhau, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn; đưa đến sự thay đổi diện mạo về lao động và việc làm; hình thành nên cơ cấu lao động mới, trạng thái việc làm mới vừa thích ứng với xu hướng mới, cơ hội mới, vừa làm nảy sinh những vấn đề mới đòi hỏi phải giải quyết.
Quan niệm trên phản ánh những vấn đề sau:
Thứ nhất, những tác động từ quá tình đô thị hóa đến lao động và việc
làm trên địa bàn Quận Hà Đông là xu hướng khách quan
Trang 29Thứ hai, nội dung của những tác động từ quá tình đô thị hóa đến lao động
và việc làm trên địa bàn Quận Hà Đông gồm những tác động tích cực và nhữngtác động tiêu cực, những tác động đó đan xen vào nhau, vừa thống nhất, vừamâu thuẫn cùng tác động tới lao động và việc làm trên địa bàn Quận Hà Đông
Thứ ba, phương thức của sự tác động vừa trực tiếp, vừa gián tiếp.
Thứ tư, hệ quả của tác động từ quá trình đô thị hóa đến lao động và việc
làm trên địa bàn Quận Hà Đông, là quá trình tác động đó tạo ra một diện mạomới về lao động và việc làm trên địa bàn Quận, sự hình thành nên một cơ cấulao động mới, trạng thái việc làm mới Cơ cấu lao động và trạng thái việc làmmới đó vừa phản ánh sự thích ứng với xu hướng mới, cơ hội mới, vừa phảnánh những vấn đề mới nảy sinh đòi hỏi phải được nhận thức và có biện phápphù hợp để giải quyết
1.2.2 Nội dung tác động của quá trình đô thị hóa đến lao động và việc làm trên địa bàn Quận Hà Đông
Như trên đã đề cập, quá trình đô thị hóa tất yếu sẽ tác động đến nôngnghiệp và kinh tế nông thôn, nên quá trình đô thị hóa và biến động của nôngnghiệp và kinh tế nông thôn diễn ra trong mối quan hệ vừa thống nhất vừamâu thuẫn, theo đó nếu hiện tượng này phát triển tất sẽ tác động đến hiệntượng kia theo cả hai chiều thuận nghịch Quá trình đô thị hóa gia tăng, xuhướng ổn định trong sự phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn,những hiện tượng, những quá trình kinh tế bộ phận cấu thành nông nghiệp vàkinh tế nông thôn sẽ có những đảo lộn, thay đổi nhưng theo xu hướng phảithích ứng với xu hướng mới với tiếp nhận những tác động tích cực, tự cải biến
cơ cấu nội tại để khắc phục những tác động tiêu cực Lao động và việc làm lànhững hiện tượng kinh tế như vậy, nó không những thống nhất trong nội dungkinh tế mà chúng còn phản ánh trong tính thống nhất tương đối của nó cũngnhư trong quan hệ qua lại giữa chúng thường không tách rời nhau
* Những tác động tích cực của quá trình đô thị hóa đến lao động và việc làm:
Trang 30Trong thời gian qua, đô thị hóa đã góp phần thúc đẩy kinh tế Quận HàĐông tăng trưởng nhanh so với tốc độ chung của cả nước.
Thứ nhất, dưới tác động của đô thị hóa, cơ cấu kinh tế Quận Hà Đông
có sự chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng CNH, HĐH
Cơ cấu kinh tế khu vực nông thôn Quận Hà Đông chịu sự tác động củarất nhiều nhân tố, trong đó có quá trình đô thị hóa Đô thị hóa như một quyluật gắn liền không chỉ với sự phát triển của công nghiệp, mà còn gắn liền với
sự gia tăng của các ngành giao thông vận tải, thương nghiệp và dịch vụ.Chính vì vậy, đô thị hóa có tác động tích cực thúc đẩy quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế từ khu vực I (nông - lâm - ngư nghiệp) sang khu vực II (côngnghiệp và xây dựng) và khu vực III (dịch vụ) Đây là sự chuyển dịch cơ cấukinh tế theo hướng tích cực, hiện đại góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế -
xã hội của Quận
Những năm trước đây, tốc độ đô thị hóa diễn ra còn chậm do sự cản trởcủa các cơ chế và chính sách về đất đai, về sự thu hút vốn đầu tư nước ngoài
và việc hình thành các khu công nghiệp tập trung Nhưng từ khi Luật đất đaiđược sửa đổi, các chính sách đất đai được ban hành với nhiều quy định thôngthoáng, nhất là sự chuyển đổi đất nông nghiệp sang các mục đích khác Điềuđó đã góp phần tạo điều kiện để quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh hơn dẫnđến cơ cấu kinh tế khu vực nông thôn có sự chuyển dịch nhanh hơn
Hiện nay, Hà Đông đang chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướngCông nghiệp – xây dựng; Thương mại - dịch vụ và Nông nghiệp Nếu như năm
2010, cơ cấu kinh tế của quận là: 53,74% - 46,01% và 0,25%; thì năm 2014 cơcấu tương ứng là: 51,8% - 48,1% và 0,1% Tỷ trọng hai ngành dịch vụ - côngnghiệp trong cơ cấu chung chiếm tới 99,9%, nông nghiệp chỉ còn chiếmkhoảng 0,1% Xét về cơ cấu kinh tế theo tỷ trọng GDP thuần túy thì Hà Đôngcó bước phát triển vượt trội so với cả nước và đang tiếp cận gần với cơ cấukinh tế của các nước CNH trung bình
Thứ hai, quá trình đô thị hóa làm xuất hiện nhu cầu thu hút một lượng
lớn lao động đáp ứng yêu cầu phát triển đã góp phần giải bài toán xã hội quan
Trang 31trọng cho nền kinh tế - xã hội tại địa bàn diễn ra quá trình đô thị hóa - giảiquyết lao động dư thừa trong quá trình phát triển, tạo điều kiện thuận lợi đểđảm bảo ổn định chính trị, an toàn xã hội, điều kiện kiên quyết để phát triểnkinh tế - xã hội, tiếp nhận đầu tư.
Thứ ba, quá trình đô thị hoá tạo ra nhu cầu khách quan nâng cao chất
lượng nguồn lao động – một đòi hỏi của sự nghiệp CNH, HĐH và phát triểnkinh tế tri thức Cùng với việc dân cư tăng, lao động tăng cũng như quy trìnhsản xuất được cải tiến, nhiều ngành nghề mới xuất hiện, thị trường hàng hóa,lao động, đất đai, khoa học công nghệ phát triển đòi hỏi cũng như là một điềutất yếu là trình độ lao động từ trung ương đến địa phương trong từng nhà máy,từng doanh nghiệp, từng ngành nghề cũng phải tăng lên để có thể sử dụng cácmáy móc, thiết bị, công cụ lao động hiện đại
Thứ tư, quá trình đô thị hóa tạo cơ hội chuyển đổi việc làm cho lao
động nông nghiệp từ lĩnh vực nông nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp, từviệc làm thuần nông thu nhập thấp sang việc làm mới ổn định và có thu nhậpcao góp phần đắc lực vào quá trình tái cấu trúc cơ cấu lao động trên địa bàn,cho phép khai thác tốt lợi thế tại các địa bàn chịu tác động của quá trình đô thịhóa, đáp ứng nhu cầu phát triển mới
Thứ năm, quá trình đô thị hóa góp phần giải quyết công ăn việc làm,
làm giảm bớt lao động dư thừa hiện nay; đồng thới góp phần thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế, cải thiện đời sống của dân cư vùng đô thị hóa và các vùng lân cận.Một trong những điều kiện đảm bảo nội dung tăng trưởng kinh tế là quá trìnhchuyển dịch cơ cấu vùng, ngành để từng bước xác lập cơ cấu kinh tế hợp lýnhằm mục tiêu tốc độ tăng trưởng cao, liên tục và bền vững
* Những tác động tiêu cực của quá trình đô thị hóa đến lao động và việc làm:
Bên cạnh những tác động tích cực nói trên, đô thị hóa cũng kéo theonhững vấn đề tiêu cực (mặc dù những tác động đó chỉ mang tính tương đối)liên quan đến hai vấn đề lao động và việc làm, đó là:
Trang 32Thứ nhất, làm xuất hiện tình trạng dư dôi lao động Sức hút của quá
trình đô thị hóa đối với người dân là rất lớn, tạo ra một làn sóng di dân từnông thôn ra thành thị gây nên tình trạng quá tải, bùng nổ về dân số bởi xuhướng di dân từ vùng nông thôn bị đô thị hóa và khu vực nông thôn phụ cận
ra các đô thị lớn kiếm việc làm; trong khi lực lượng lao động tại địa bàn nàychỉ còn lại những người già yếu và trẻ nhỏ, không đáp ứng được những côngviệc nhà nông vất vả Cơ cấu lao động khu vực nông thôn và phụ cận bị thayđổi theo hướng suy kiệt nguồn lực lao động Đồng thời thị trường lao động ởthành thị lại bị ứ đọng
Sự tác động này diễn ra mang tính khách quan, vì nó là vấn đề tính quyluật Nó diễn ra ở bất kỳ đâu khi quá trình CNH, và đô thị hóa diễn ra Trongtác phẩm "sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Nga", V.I.Lênin đã chỉ rõ xuhướng này khi bàn về làn sóng di dân tự do từ các khu vực nông thôn vào cácthành phố lớn khi chủ nghĩa tư bản Châu Âu đầu tư mạnh mẽ vào nước Ngasau cuộc cải cách nông thôn ở Nga năm 1861 Đây là câu chuyện của nướcNga những năm cuối thế kỷ XIX nhưng vẫn mang tính thời sự trong tình hìnhhiện nay [19]
Thứ hai, do quá trình đô thị hóa diễn ra quá nhanh dẫn đến thu hẹp
diện tích đất nông nghiệp Sự suy giảm diện tích đất nông nghiệp do quá trình
đô thị hóa dẫn đến một bộ phận không nhỏ cư dân nông thôn trong vùng đôthị hóa phải đối mặt đời sống khó khăn do mất việc làm, với sinh kế lâu dài vàcác dịch vụ sinh hoạt hàng ngày Bên cạnh đó lao động nông nghiệp lại cóthói quen, tập quán sản xuất nhỏ lẻ, manh mún sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi
đô thị hóa diễn ra Trình độ lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ lớn, trongkhi đó các khu vực đô thị hóa lại chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo tỷ trọngcông nghiệp, dịch vụ nên số lao động nông nghiệp khi tham gia vào lĩnh vựcnày sẽ gặp rất nhiều khó khăn, không đáp ứng được yêu cầu công việc của cácngành công nghiệp, tại các doanh nghiệp mới xuất hiện tại khu vực mới được
đô thị hóa, trong khi tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ tại địa bàn chưa pháttriển đến mức đủ thu hút lực lượng lao động đó Do vậy khi tiến hành đô thị
Trang 33hóa có thể sẽ làm tăng thêm tỷ lệ thất nghiệp, khó khăn trong vấn đề việc làm,tăng thêm khoảng cách giàu nghèo, đó là chưa kể đến nảy sinh các tệ nạn vàcác vấn đề phức tạp về mặt xã hội tại các địa bàn mới được đô thị hóa.
Thứ ba, gây ra sự mất cân đối giữa cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế gây
ra tình trạng thừa, thiếu lao động và làm gia tăng sự chênh lệch về các cơ hộigiáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực giữa các vùng, có thể dễ nhậnthấy rằng hiện nay các trường đại học, cao đẳng của cả nước, các trung tâmnghiên cứu, viện nghiên cứu tập trung chủ yếu ở khu trung tâm Hà nội Hệthống cơ sở vật chất kỹ thuật cho giáo dục ở các đô thị cũng được quan tâmđầu tư hơn các vùng nông thôn khác Do vậy công tác đào tạo nghề và giảiquyết việc làm cho người lao động hiệu quả chưa cao
Thứ tư, tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng của Quận,
triển khai thực hiện các dự án còn chậm, tệ lấn chiếm đất đai và vi phạm luậtđất đai vẫn còn tái diễn nhưng chưa được xử lý kịp thời
*
* *
Cùng với tiến trình CNH, HĐH ở nước ta, tiến trình đô thị hóa ở Quận
Hà Đông cũng diễn ra rất nhanh chóng Tiến trình đô thị hóa là tiến trình cóquy luật, không phụ thuộc vào ý chí của con người Đó là quá trình cơ cấukinh tế - xã hội được điểu chỉnh, thay đổi và nâng cao nhanh
Đô thị hóa có tác động không nhỏ đến tâm trạng, đến lối sống, đến cácquan hệ, đến các nhu cầu, đến nhận thức và ý thức của người dân ven các đôthị Một mặt, nó là đòn bẩy thúc đẩy động cơ làm việc, kích hoạt các nhu cầu
và cách thức đáp ứng nhu cầu, nâng cao nhận thức nhiều mặt, nâng cao tínhnăng động, tính sáng tạo của người dân trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
từ nông nghiệp sang lao động phi nông nghiệp, giúp họ có cơ hội thêm nhiềuviệc làm mới với mức thu nhập cao hơn, kinh tế gia đình được nâng lên, sinhhoạt gia đình phong phú hơn, cuộc sống vui nhộn hơn, thoải mái hơn Mặtkhác, nó cũng tạo ra những băn khoăn, lo lắng như: Đất nông nghiệp của họbị thu hẹp, thiếu đất làm ăn trong lúc họ chưa kịp thích ứng với việc chuyển
Trang 34đổi cơ cấu làm ăn dẫn đến tình trạng thiếu việc làm, ảnh hưởng trực tiếp đếncuộc sống Vấn đề an ninh trật tự xã hội, biến đổi văn hóa, tập quán sinh hoạt
và lối sống, việc làm, những biến động môi trường sống, môi trường sinh tháicũng làm cho họ có những băn khoăn nhất định
Chương 2
THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Quận Hà Đông và lao động việc làm trên địa bàn Quận hiện nay
2.1.1 Một số đặc điểm kinh tế xã hội liên quan đến lao động, việc làm trên địa bàn Quận Hà Đông hiện nay
Thực hiện các nghị định của Chính Phủ về việc mở rộng địa giới hànhchính thị xã Hà Đông và Nghị quyết số 15/2008/NQ - QH12 của Quốc Hội về
mở rộng địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội, giai đoạn từ năm 2008 đến nay,Quận Hà Đông đã trở thành một quận của Thành phố Hà Nội, cách trung tâm
Hà Nội 10km về phía Tây Nam Trên địa bàn Quận Hà Đông có trụ sở một số
cơ quan hành chính cấp thành phố của Thủ đô Hà Nội
Vốn là đô thị tỉnh lỵ của tỉnh Hà Tây cũ, sau khi sáp nhập vào Thủ đô
Hà nội, Hà Đông là quận có diện tích đất tự nhiên lớn nhất trong các quận củaThành phố Hà Nội và là một trong những địa phương có tốc độ đô thị hóanhanh nhất của Thủ đô Trước năm 2008, khi còn là một thị xã (sau trở thànhThành phố), giai đoạn này Hà Đông tuy là đô thị tỉnh lỵ, nhưng song song vớikhu vực nội thị là các xã ngoại thị với một không gian rộng lớn chủ yếu làkinh tế nông nghiệp và một phần là thủ công nghiệp
Về diện tích đất đai: Diện tích đất tự nhiên là 4.833,7 ha, trong đó
chia ra:
Trang 35TT Loại đất Diện tích (ha)
Nguồn: Niên giám thống kê quận Hà Đông năm 2014
Về tình hình dân cư: Quận có 17 đơn vị hành chính cấp phường, tính đến
thời điểm điều tra dân số ngày 31/12/2014 Quận Hà Đông có 288.621 người
Về phát triển kinh tế: Quận tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình
03-CTr/UB ngày 09/09/2011 của Thành ủy Hà Nội và Kế hoạch số34-KH/QU ngày 01/02/2012 của Quận ủy Hà Đông về “Tập trung nâng caochất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, phát triển kinh tế Thủ đô tăng trưởngnhanh và phát triển bền vững giai đoạn 2011-2015” Quận đã chủ động khắcphục những khó khăn chung, duy trì và đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế.Tổng giá trị gia tăng ước đạt 13.244 tỷ 211 triệu đồng, đạt 101,28% so với kếhoạch, tăng 17,7% so với năm 2013; Thu nhập bình quân đầu người ước đạt70,12 triệu đồng/người/năm Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướngtích cực và bền vững; tỷ trọng nông nghiệp giảm còn 0,1%, CN-XD đạt51,8%; Thương mại dịch vụ đạt 48,1%, cụ thể [12]:
Lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: Giá trị sản xuất khu vực ngoài
nhà nước ước đạt 12.407 tỷ 65 triệu đồng, tăng 17,25% so cùng kỳ và đạt 100,49%
so kế hoạch Giá trị hàng xuất khẩu ước đạt 39,78 triệu USD, đạt 104,13% so kếhoạch và tăng 25,85% so cùng kỳ Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là hàng may mặc,mây tre đan và sản phẩm đồ chơi Nhìn chung, sản xuất công nghiệp - tiểu thủ côngnghiệp khu vực ngoài nhà nước tăng trưởng khá, đảm bảo chất lượng phục vụ thịtrường [12]
Lĩnh vực nông nghiệp: Tổng diện tích gieo trồng 2.564,7 ha, tăng
122,8 ha so với năm 2013 Phối hợp với Trung tâm khuyến nông Thành phố
tổ chức triển khai thực hiện các mô hình khuyến nông tại các phường ĐồngMai, Hà Cầu, Phú La, La Khê, Phú Lương, Biên Giang, Phúc La, Yên Nghĩa
Trang 36Giá trị sản xuất nông nghiệp ước đạt 171 tỷ 98 triệu đồng, đạt 113% kếhoạch
Lĩnh vực thương mại - dịch vụ - du lịch: Tổng mức bán lẻ hàng hoá
doanh thu khu vực ngoài nhà nước ước đạt 30.308 tỷ 44 triệu đồng đạt100,8% kế hoạch, tăng 23,95% so với cùng kỳ năm trước; trong đó giá trịhàng xuất khẩu ước đạt 14 triệu 720 ngàn USD đạt 102,27% kế hoạch, tăng15,99% so với cùng kỳ năm trước [12]
Tiếp tục chỉ đạo triển khai Đề án số 02-ĐA/QU, ngày 28/12/2010 của
Quận uỷ về "Phát triển thương mại dịch vụ Quận Hà Đông giai đoạn 2010
-2015 và những năm tiếp theo” Chỉ đạo UBND các phường bố trí địa điểm
bán hàng, tạo điều kiện cho các đơn vị thực hiện việc bán hàng bình ổn giácác mặt hàng thiết yếu theo hình thức bán hàng lưu động tại các phường.Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát chống buôn lậu và gian lận thươngmại, hàng giả, hàng kém chất lượng
Nhìn chung, cơ cấu kinh tế ở quận Hà Đông thời gian qua đã chuyểndịch tích cực theo xu hướng CNH, HĐH của cả nước Dự thảo Báo cáo chínhtrị trình Đại hội Đảng bộ quận nhiệm kỳ 2010 - 2015 đặt mục tiêu xây dựngQuận Hà Đông trở thành đô thị với tốc độ phát triển đô thị hóa nhanh, mạnh,toàn diện và bền vững, là một trong những Quận phát triển hàng đầu của Thủ
đô (Bảng 1):
Bảng 1: Tỷ lệ cơ cấu kinh tế ngành nghề của quận Hà Đông
(giai đoạn 2010-2014)Ngành nghề Năm 2010
(tỷ lệ %)
Năm 2011 (tỷ lệ %)
Năm 2012 (tỷ lệ %)
Năm 2013 (tỷ lệ %)
Năm 2014 (tỷ lệ %) Công Nghiệp - XD 53,74 53,75 52,71 53,11 51,8 Thương mại - DV 46,01 46,08 47,15 46,78 48,1 Nông nghiệp 0,25 0,17 0,14 0,11 0,1
Nguồn: UBND Quận Hà Đông, Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội 5 năm gần đây (từ 2010 đến 2014)
Trang 37Về công tác quy hoạch, phát triển đô thị: Công tác quy hoạch, phát
triển đô thị, nông thôn được tập trung triển khai đồng bộ; hiệu quả quản lý đấtđai, xây dựng được nâng cao; thu hút đầu tư từng bước được cải thiện, cụ thể:
+ Công tác xây dựng cơ bản: Triển khai thực hiện Chương trình số
07-CTr/TU ngày 18/10/2011 của Thành uỷ và Kế hoạch số 38-KH/QU ngày
01/2/2012 của Quận uỷ về "Tập trung xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị, bảo
vệ và nâng cao chất lượng môi trường giai đoạn 2011 - 2015” Tiếp tục đẩy
nhanh tiến độ thi công các công trình giao thông; các công trình xây dựng dândụng, hạ tầng kỹ thuật đáp ứng tiến độ bàn giao đất cho nhân dân theo kếhoạch Chỉ đạo các nhà thầu tập trung thi công công trình đảm bảo theo tiến
độ cam kết Đôn đốc các chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ công tác chuẩn bị đầu
tư các dự án
+Về thu hút đầu tư: Năm 2014, toàn quận có 19 dự án được UBND
Thành phố cấp phép đầu tư với tổng vốn đầu tư 8.711 tỷ 599 triệu đồng, quy
mô diện tích 834.648 m2, bao gồm: Công ty TNHH tư vấn ERIC ALAN ViệtNam với tổng vốn đầu tư 600 triệu đồng, đầu tư tại phường Vạn Phúc; Chinhánh công ty TNHH PIZZA Việt Nam với tổng vốn đầu tư 44 tỷ 750 triệuđồng, đầu tư tại Trung tâm thương mại và dịch vụ tổng hợp Mê Linh Plaza HàĐông v.v Bên cạnh đó, tiếp tục phối hợp với các nhà đầu tư hoàn thiện cácbước đầu tư đối với các dự án đang thi công Về huy động vốn đầu tư xã hộinăm 2014 ước đạt 29.943 tỷ đồng, tăng 39,4% so với cùng kỳ và đạt 115,49%
so với Nghị quyết HĐND quận giao [50]
Về công tác quản lý đất đai, Quận Hà Đông tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình 09-CTr/QU, ngày 21/4/2009 của Quận uỷ về "Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn Quận
Hà Đông" Hoàn thành lập quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011 - 2020, kế
hoạch sử dụng đất 5 năm giai đoạn 2011 - 2015 được UBND thành phố HàNội phê duyệt tại Quyết định số 831/QĐ-UBND ngày 06/02/2014 và Quyết
Trang 38định số 3141/QĐ-UBND ngày 12/6/2014 Kết quả trong 10 tháng đầu năm
2014, UBND quận đã cấp 4.581 GCN quyền sử dụng đất, đạt 57,25% so vớichỉ tiêu Thành phố giao, ước năm 2014 cấp 9.591 GCN quyền sử dụng đất,đạt 119,8% kế hoạch; nâng tổng số GCN cấp trên địa bàn Quận đến hết năm
2014 là 67.747 GCN (đạt tỷ lệ 98,61%)
Cấp đổi, cấp lại GCNQSD đất cho 189 trường hợp; cấp GCN đối vớicác trường hợp chuyển QSD đất, sở hữu nhà ở cho 5.403 trường hợp; đăng kýgiao dịch bảo đảm cho 6.610 trường hợp Chỉ đạo xác minh, giải quyết đơnthư khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai theo quy định
Xét duyệt 3.085 trường hợp giao đất dịch vụ, tương ứng 1.618 lô đất;tổng số trường hợp đã xét duyệt trên toàn Quận đến nay 20.199 trường hợp,tương ứng 17.578 lô đất (đạt 87,9% nhu cầu)
Về công tác giải phóng mặt bằng, Quận Hà Đông chỉ đạo thực hiện
công tác chi trả các dự án: Đường dẫn Depot đường sắt đô thị Hà Nội tuyếnCát Linh - Hà Đông, Điểm xây dựng các nhà ga, trụ cổng và đường tránhQuốc lộ 6… Kết quả thực hiện chi trả được 155 tỷ 400 triệu đồng và bàn giaomặt bằng diện tích 14,5 ha các dự án liên quan đến 17 tổ chức 745 hộ (trongđó có 01 dự án hoàn thành công tác GPMB)
Tổ chức tập huấn Luật Đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn liên quanđến công tác bồi thường, hỗ trợ GPMB đến các đơn vị trên địa bàn Quận và cácchủ đầu tư có diện tích đất phải GPMB thực hiện các dự án trên địa bàn Quận
2.1.2 Tình hình lao động và việc làm trên địa bàn Quận Hà Đông hiện nay Từ sau khi Hà Đông trở thành một Quận của thành phố Hà Nội
Là một trong những quận mới thành lập của Thủ đô theo Nghị quyết
số 19/NQ-CP ngày 8/5/2009 của Chính Phủ, với quy mô diện tích lớn và dân
cư đông, Hà Đông là một quận có nhiều tiềm năng phát triển Lực lượng laođộng chiếm trên 50% dân số
Về quy mô lực lượng lao động: Số người từ 15 tuổi trở lên tại thời
điểm điều tra (năm 2013) toàn Quận có: 189.367 người Xét về cơ cấu theo
Trang 39nhóm tuổi thì Quận Hà Đông có lực lượng lao động tương đối trẻ Điều đóđược thể hiện qua tỷ trọng của số người từ 15 tuổi đến 44 tuổi vẫn chiếm66,3% trong tổng số người từ 15 tuổi trở lên Theo kết quả điều tra dân sốnăm 2010 số người trên 55 tuổi chiếm 18,6% so với tổng số người từ 15 tuổitrở lên thì đến thời điểm điều tra năm 2013 tỷ lệ này đã tăng lên 19,1% Nhưvậy lực lượng của Quận ngày càng có xu hướng già hóa (Bảng 2)
Bảng 2: Số người từ 15 tuổi trở lên của Quận Hà Đông chia theo giới tính và
độ tuổi (thời điểm 01/4/2013)
TT Chia theo nhómtuổi và khu vực Số lượng(người) Trong đó: Nữ Tỷ trọng(%)
Nguồn: UBND Quận Hà Đông, Báo cáo kết quả điều tra lao động - việc làm
và nhu cầu đào tạo nghề năm 2013 của Quận Hà Đông
Về chất lượng lực lượng lao động: Cùng với việc đẩy mạnh phát triển
kinh tế trong tiến trình công nghiệp hóa, Quận cũng đã quan tâm giải quyếttốt các vấn đề văn hóa - xã hội Chất lượng giáo dục không ngừng được nângcao, đó cũng là đòn thúc bẩy nhằm vào chất lượng nguồn nhân lực phục vụcho tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và khu vực (Bảng 3)
Bảng 3: Số người từ 15 tuổi trở lên của quận Hà Đông
chia theo độ tuổi và trình độ văn hóa (thời điểm 01/4/2013)
TT Chia theo nhóm
tuổi và khu vực
SL (người) Tiểu học THCS THPT
Không biết chữ
Tổng số 189.367 SL
Tỷ trọng (%) SL
Tỷ trọng (%) SL
Tỷ trọng (%) SL
Tỷ trọng (%)
Trang 40Nguồn: UBND Quận Hà Đông, Báo cáo kết quả điều tra lao động - việc làm
và nhu cầu đào tạo nghề năm 2013 của Quận Hà Đông
Theo số liệu tổng hợp của hai bảng nói trên, lực lượng lao động củaQuận Hà Đông khá dồi dào nhưng chất lượng lao động chưa thực sự cao, đặt
ra nhu cầu nâng cao tay nghề, nâng cao nhận thức của lớp trẻ trong quan niệm
và định hướng nghề nghiệp, đồng thời các cơ sở đào tạo nghề, các trườngchuyên nghiệp phải bám sát nhu cầu của thị trường lao động để đáp ứng yêucầu về lao động trong thời kỳ đất nước đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa
Về trình độ chuyên môn, kỹ thuật của người lao động (Bảng 4).
Bảng 4: Số lao động từ 15 tuổi trở lên của Quận Hà Đông
chia theo trình độ chuyên môn (thời điểm 01/4/2013)
CNKT không có
bằng
Dạy nghề
ngắn hạn
Dạy nghề
dài hạn
Trung học chuyê n nghiệp
Cao đẳng
Đại học trở lên
Nguồn: UBND Quận Hà Đông, Báo cáo kết quả điều tra lao động - việc làm
và nhu cầu đào tạo nghề năm 2013 của Quận Hà Đông
Số liệu bảng 3 và 4 cho thấy trong khoảng tuổi từ 15 đến 24 tuổi có47.720 người thì có tới 34.986 người chưa qua đào tạo hoặc đang đào tạonhưng chỉ có 1.301 qua đào tạo nghề ngắn hạn và dài hạn, chiếm 2,7% so vớitổng số từ 15 đến 24 tuổi Điều đáng quan tâm hiện nay trong một bộ phậnlớp trẻ có tư tưởng thích hưởng thụ của lối sống thực dụng, không thích laođộng chân tay nhưng lại không chịu học hành đến nơi đến chốn Mặt khácmột số hoàn cảnh gia đình khó khăn không có điều kiện cho con theo học cáctrường đào tạo nghề mà chọn hướng vừa học vừa làm tại cơ sở sản xuất kinh