Việc làm cho người lao động là vấn đề được quan tâm hàng đầu và luôn mang tính thời sự trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội ở mỗi quốc gia trên thế giới. Việc làm vừa là yêu cầu, là nguyện vọng chính đáng của người lao động, vừa là trách nhiệm của mỗi con người đối với bản thân và xã hội. Việc làm giúp cho người lao động vươn lên làm giàu bằng chính sức lực của mình. Đảm bảo việc làm cho người lao động không những giúp cho bản thân người lao động có thu nhập ổn định cuộc sống mà còn làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội và là một trong những yếu tố cơ bản cho sự phát triển bền vững.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO
NGƯỜI LAO ĐỘNG NÔNG THÔN NGOẠI THÀNH
HÀ NỘI TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ VÀ
1.1 Một số vấn đề lý luận chung về việc làm, giải quyết việc
làm cho người lao động nông thôn ngoại thành Hà Nội
1.2 Nội dung và các nhân tố tác động đến giải quyết việc làm
cho người lao động nông thôn trong quá trình đô thị hóa 261.3 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho người lao động nông
thôn ngoại thành trong quá trình đô thị hoá ở một số địaphương và bài học rút ra cho thành phố Hà Nội 36
Chương 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO
NGƯỜI LAO ĐỘNG NÔNG THÔN NGOẠI THÀNH
2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của Thủ đô
Hà Nội có ảnh hưởng đến giải quyết việc làm 442.2 Thành tựu và hạn chế trong giải quyết việc làm cho người lao
động nông thôn ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hóa
2.3 Nguyên nhân và những vấn đề đặt ra về giải quyết việc
làm cho người lao động nông thôn ngoại thành Hà Nội
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG GIẢI
QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NÔNG THÔN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI TRONG QUÁ TRÌNH
3.1 Quan điểm giải quyết việc làm cho người lao động nông
thôn ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hóa thời
3.2 Giải pháp chủ yếu tăng cường giải quyết việc làm cho
người lao động nông thôn ngoại thành Hà Nội trong quátrình đô thị hóa thời gian tới 88
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việc làm cho người lao động là vấn đề được quan tâm hàng đầu và luônmang tính thời sự trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc giatrên thế giới Việc làm vừa là yêu cầu, là nguyện vọng chính đáng của ngườilao động, vừa là trách nhiệm của mỗi con người đối với bản thân và xã hội.Việc làm giúp cho người lao động vươn lên làm giàu bằng chính sức lực củamình Đảm bảo việc làm cho người lao động không những giúp cho bản thânngười lao động có thu nhập ổn định cuộc sống mà còn làm lành mạnh hóa cácquan hệ xã hội và là một trong những yếu tố cơ bản cho sự phát triển bền vững.Đối với những nước đang phát triển như Việt Nam thì vấn đề việc làm cho ngườilao động là hết sức quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong tiến trình xây dựng vàphát triển đất nước, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triểnnền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc
tế Hiện nay, Việt Nam với dân số trên 90 triệu người, trong đó lao động nôngnghiệp nông thôn có nguồn nhân lực dồi dào, đây cũng là thế mạnh của chúng ta,việc quan tâm, giải quyết việc làm cho người lao động luôn là một trong nhữngvấn đề được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm Chính vì vậy, trong văn kiệnĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã nhấn mạnh: "Giải quyết việclàm là nhân tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triểnkinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bứcxúc của nhân dân" Và văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảngtiếp tục nhấn mạnh: “Trên cơ sở đầu tư phát triển kinh tế, phải hết sức quan tâmtới yêu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động; giải quyết việc làm cho người lao động;tạo điều kiện giải quyết ngày càng nhiều việc làm, đặc biệt là cho nông dân” [24]
Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của cả nước, là địaphương nằm trong vùng tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc: Hà Nội - HảiPhòng - Quảng Ninh Vì vậy, trong thời gian qua Hà Nội đã thu hút được
Trang 3nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào phát triển kinh tế, tạonhững bước chuyển biến quan trọng đối với thủ đô trên nhiều lĩnh vực trong
đó có giải quyết việc làm
Tuy nhiên, do Hà Nội đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá,hiện đại hoá và xu hướng đô thị hoá gia tăng đòi hỏi người lao động phải cótrình độ, được đào tạo cả về kỹ năng nghề nghiệp và tác phong công nghiệp thìmới đáp ứng được yêu cầu Lao động ở ngoại thành hiện nay chưa thể đáp ứngđược yêu cầu này do mặt bằng trình độ thấp, tỷ lệ lao động qua đào tạo chưa cao,lao động giản đơn theo kiểu truyền nghề và tự học là chủ yếu.v.v Việc làm thì
có rất nhiều song người lao động không thể đáp ứng được công việc nên vẫn bịthất nghiệp Không có việc làm sẽ nảy sinh nhiều vấn đề kinh tế - xã hội phứctạp vì vậy tạo việc làm cho lực lượng lao động, đặc biệt là lực lượng lao động ởkhu vực ngoại thành bao gồm các huyện: Gia Lâm, Thanh Trì, Đông Anh, SócSơn, Mê Linh, Thường Tín, Thạch Thất, Quốc Oai, Ba Vì, Chương Mỹ, thị xãSơn Tây, Đan Phượng, Hoài Đức, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Ứng Hoà làvấn đề cấp bách đặt ra cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thủ đô Hà Nội
Để đánh giá những kết quả đạt được và những tồn tại, vướng mắc trongvấn đề giải quyết việc làm cho lao động ở ngoại thành Hà Nội, từ đó đề xuấtmột số giải pháp hữu hiệu cho vấn đề tạo việc làm nhằm góp phần vào sự ổnđịnh và phát triển kinh tế – xã hội của thủ đô trong những năm tới, tôi đã chọn
đề tài: “Giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hoá” cho luận văn thạc sỹ chuyên ngành Kinh tế
Chính trị của mình
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
* Các nghiên cứu về vấn đề giải quyết việc làm
Chính sách việc làm: Thực trạng và giải pháp của Th.s Thúy Hà,
Trung tâm nghiên cứu khoa học, Viện Nghiên cứu lập pháp, năm 2013
Trang 4Bài viết tổng quan lại thực trạng các chính sách việc làm mà chính phủđưa ra để hỗ trợ công tác giải quyết việc làm cũng như những giải pháp đểhoàn thiện cơ chế chính sách trên, nhằm phát huy cao nhất hiệu quả củanhững chính sách đưa ra.
GS,TS Phạm Đức Thành: Vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam - Tạp
chí Kinh tế và Phát triển 2002- số 64 Trong bài viết, tác giả đã đánh giá hiệntrạng việc làm và thất nghiệp trên cơ sở đó đề ra những quan điểm và biệnpháp giải quyết việc làm cho người lao động
TS Nguyễn Tiệp: Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn: Các giải pháp tạo thêm việc làm, Tạp chí Lao động và Công đoàn, số 309 (6/2004).
Trong bài viết, tác giả đề cập đến phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nôngthôn là phù hợp với yêu cầu của quá trình CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn
Là kết quả của phát triển lực lượng sản xuất và phân công lại lao động ở nôngthôn Đồng thời, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn còn chịu sức
ép giải quyết việc làm, tăng mức cầu lao động trên địa bàn nông thôn
Bùi Xuân An (2005), Giải quyết việc làm ở Thái Bình: thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Tác giả đã phân tích thực trạng công tác giải quyết việc làm tại tỉnhThái Bình, từ đó đưa ra các hạn chế còn tồn tại và đề xuất các giải pháp đểgiải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh Thái Bình
Nguyễn Tiệp (2004), "Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn:
Các giải pháp tạo thêm việc làm", Tạp chí Lao động và Công đoàn, (309), tr 7.
6-Một trong những giải pháp hữu hiệu để giải quyết việc làm cho ngườilao động là tạo ra cầu lao động, trong đó giải pháp phát triển các doanhnghiệp vừa và nhỏ để thu hút lao động được coi là một trong những giải phápthích hợp trong điều kiện kinh tế của nước ta Bài viết đã nêu nên nhữnghướng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam và các phương thức
Trang 5thu hút lao động vào các doanh nghiệp này.
Nguyễn Tiệp (2006), "Một số giải pháp tạo việc làm gắn với giải quyết các vấn đề xã hội tại Hà Nội", Tạp chí Lao động - xã hội, (289), tr 39-41 Trong
bài viết này tác giả đã đưa ra một số giải pháp tạo việc làm cho lao động tại HàNội, theo đó, gắn vấn đề giải quyết việc làm với những vấn đề nổi cộm trong xãhội như cờ bạc, trộm cắp, mất trật tự an ninh xã hội, nghiện hút…
Nguyễn Thị Hải Vân (2006), "Những giải pháp đột phá trong chương trình việc làm giai đoạn 2006 - 2010", Tạp chí Lao động - xã hội, (282), tr 13-
14, 17 Ở đây tác giả đã đưa ra nội dung chính của chương trình giải quyếtviệc làm và những thành tựu đáng ghi nhận trong chương trình giải quyết việclàm ở nước ta giai đoạn 2006 – 2010 Trong đó, tác giả đã nêu ra những giảipháp hiệu quả để đạt được những thành tích trên
* Các nghiên cứu về đô thị hóa và tác động của đô thị hóa đến việc làm
Hoàng Văn Hoa (2006), "Tác động của đô thị hoá đối với lao động, việc làm của người có đất bị thu hồi ở nước ta hiện nay", Tạp chí Kinh tế và phát
triển (106), tr 3- 5 Bài viết đã đưa ra những tác động tiêu cực và tác động tíchcực của quá trình đô thị hóa đến người lao động, cụ thể là người nông dân ởnước ta hiện nay Nội dung chính của bài viết đề cập đến chính sách thu hồi đấtcủa người lao động và vấn đề việc làm của họ sau khi bị thu hồi đất
TS Nguyễn Tiến Dũng (2010) - Tổng cục trưởng Tổng cục dạy nghề,
Bộ lao động thương binh và xã hội: Đào tạo nghề cho nông dân trong quá trình đô thị hóa, Chuyên san nghiên cứu khoa học của Tổng cục dạy nghề.
Bài viết nêu rõ những ưu điểm và nhược điểm của nông dân hiện naytrong vấn đề giải quyết việc làm Bài viết cũng nêu rõ về vấn đề cần thiết củaviệc đào tạo nghề cho nông dân trong quá trình đô thị hóa Trong quá trình đôthị hóa, người nông dân mất đi tư liệu sản xuất là đất đai, chính vì vậy họ cầnchuyển hướng từ nông nghiệp sang ngành nghề khác Hơn nữa quá trình đôthị hóa yêu cầu trình độ của người lao động phải cao hơn nên vấn đề đào tạo
là cấp bách
Trang 6Đỗ Thế Tùng (2002), “Ảnh hưởng của quy hoạch đô thị với vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam", Tạp chí Lao động và Công đoàn, (261) Bài viết
nêu lên 1 số dự án quy hoạch đô thị tiêu biểu của nước ta, đồng thời nêu thựctrạng lao động việc làm của các vùng quy hoạch sau đô thị hóa, từ đó tác giả
đã đưa ra những ảnh hưởng của vấn đề quy hoạch đô thị tới công tác giảiquyết việc làm cho các vùng này
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cáchđầy đủ về việc làm cho người lao động nông thôn ngoại thành Hà Nội trongquá trình đô thị hoá dưới góc độ kinh tế chính trị
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải cơ sở lý luận của giải quyết việc làm cho người lao độngtrong quá trình đô thị hoá, phân tích thực trạng giải quyết việc làm cho ngườilao động nông thôn ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hoá hiện nay và
đề xuất những quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm tạo việc làm cho người laođộng nông thôn ngoại thành Hà Nội trong thời gian tới
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận và khảo sát kinh nghiệm thực tiễn về giảiquyết việc làm cho người lao động nông thôn ngoại thành Hà Nội trong quátrình đô thị hóa
- Phân tích thực trạng giải quyết việc làm cho người lao động nôngthôn ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hóa giai đoạn 2010 - 2014 Rút
ra nguyên nhân của hạn chế và những vấn đề đặt ra trong giải quyết việc làmcho người lao động nông thôn ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hóa
- Đề xuất quan điểm và những giải pháp đẩy mạnh giải quyết việc làmcho lao động nông thôn ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hoá từ nayđến năm 2020
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tuợng nghiên cứu: Giải quyết việc làm cho người lao động nông
thôn ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hoá
Trang 7* Phạm vi nghiên cứu: Giải quyết việc làm cho người lao động nông
thôn ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hoá dưới góc độ của khoa họckinh tế chính trị Mác - Lênin
Thời gian khảo sát, đánh giá thực trạng từ năm 2010 đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận, phương pháp luậnnguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm,đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, lý thuyết lao động và việc làm hiệnđại cùng với những chủ trương và chính sách của Nhà nước về vấn đề laođộng việc làm
*Phương pháp nghiên cứu
Để phục vụ cho việc nghiên cứu và thực hiện những nhiệm vụ đề ra,luận văn dựa trên kết quả nghiên cứu, đánh giá của các công trình khoa học
đã được công bố, để nghiên cứu vấn đề việc làm và giải quyết việc làm ởngoại thành Hà Nội và sử dụng những phương pháp như: Phương pháp duyvật biện chứng và duy vật lịch sử; trừu tượng hoá khoa học, phương phápphân tích tổng hợp; phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê, so sánh, đốichiếu để làm rõ vấn đề
6 Ý nghĩa của đề tài
Cung cấp những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc làm cho người laođộng nông thôn ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hoá Qua đó cungcấp thêm những cơ sở khoa học cho các cơ quan, ban ngành của thành phốtham khảo để thực hiện tốt chính sách giải quyết việc làm trong những nămtới Luận văn cũng là tài liệu tham khảo dùng trong giảng dạy môn Kinh tếchính trị Mác - Lê nin trong các nhà trường Cao đẳng và Đại học
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
Trang 8luận văn gồm 3 chương (8 tiết).
Trang 91.1.1 Khái niệm về việc làm và giải quyết việc làm
* Khái niệm về việc làm
Việc làm là một phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế, xãhội và nhân khẩu, là một trong những vấn đề chủ yếu nhất của toàn bộ đờisống xã hội Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Việc làm là những hoạtđộng lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật
Việc làm được bắt nguồn từ lao động của con người (tất nhiên là chỉ
ở những người có sức lao động) tác động đến tự nhiên nhằm tạo ra của cảivật chất để thỏa mãn nhu cầu của mình, và việc làm luôn gắn với mộtngành nghề nhất định
Trong tác phẩm nổi tiếng Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen đã
khẳng định: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loàingười, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phảinói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người” [12, tr.112] Điều đó cónghĩa là nhân tố có tính chất quyết định trong lịch sử, xét đến cùng là việc sảnxuất và tái sản xuất ra chính bản thân con người Nói đến sản xuất và tái sảnxuất phải luôn thấy, sản xuất gồm có hai loại: một loại sản xuất ra những củacải vật chất, tinh thần hay sản xuất ra tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt, nhưthức ăn, nhà ở, quần áo và các công cụ cần thiết khác; một loại sản xuất rabản thân loài người, tức là việc phát triển giống nòi Ở đây, lao động đượcxem xét ở khía cạnh thứ nhất - lao động để sản xuất ra của cải hay sản phẩm
Trang 10để phục vụ con người và xã hội.
Điều 13, chương 2, Bộ luật lao động của nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam ghi rõ: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập,không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” [52, tr.25] Như vậy,việc làm là lao động của con người nhằm tạo ra thu nhập hoặc lợi ích của bảnthân và gia đình không bị pháp luật ngăn cấm Trong thực tế, phần lớn nhữngviệc làm phạm pháp (buôn lậu, buôn người, sản xuất hàng giả, hàng cấm…)đều mang lại những khoản thu nhập rất cao cho chủ thể hoạt động, nhưng đó
là những hoạt động phạm pháp, không được pháp luật cho phép nên khôngđược thừa nhận là việc làm
Các hoạt động lao động được xác định là việc làm bao gồm:
- Làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật(làm việc được trả công)
- Những công việc tự làm hoặc làm các công việc gia đình, được hiểu làcác công việc sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong gia đình để thu lợi nhuận chobản thân hoặc tạo ra thu nhập cho gia đình nhưng không được trả công bằngtiền hoặc hiện vật cho công việc đó (việc làm không được trả công) Trênthực tế, phần thu nhập mà bản thân hay gia đình nhận được, phục vụ cho nhucầu sinh hoạt hàng ngày chính là tiền công, tiền lương mà bản thân người laođộng nhận được, hay nói cách khác, trong trường hợp này bản thân người laođộng tự trả công cho lao động của mình Việc làm không được trả công nàykhác với việc làm không được trả công khi người lao động làm việc cho tưbản, bởi việc làm không được trả công của người lao động khi làm việc chonhà tư bản thì đó chính là phần lao động tạo ra giá trị thặng dư và lại bị giaicấp tư sản chiếm đoạt
Đối với một nước đang phát triển như Việt Nam, thị trường lao độngcòn đang trong giai đoạn khởi phát, hình thức tìm việc và làm việc còn rất hạnchế, do đó tỷ trọng lao động tự làm việc và làm việc cho gia đình là lớn so vớitổng số người đang làm việc, đặc biệt trong khu vực nông thôn Trong sản
Trang 11xuất nông nghiệp, người nông dân thường bỏ công sức để trồng lúa, hoa màu,cây công nghiệp, chăn nuôi…phục vụ cho nhu cầu của họ Những dạng laođộng kiểu này thường không được định giá và người lao động không đượcnhận tiền lương hay thu nhập nhưng những sản phẩm bằng hiện vật mà ngườilao động thu được cũng là một phần thu nhập của họ.
Theo khái niệm trên, hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn haiđiều kiện:
Một là, hoạt động đó phải có ích nhưng đồng thời tạo ra thu nhập cho
người lao động và cho các thành viên trong gia đình Những hoạt động laođộng có ích khác như sản xuất tự cung tự cấp, nhằm phục vụ tự tiêu dùng,nhưng không trao đổi, không đem lại thu nhập cho người lao động thì khôngđược coi là việc làm
Hai là, hoạt động đó phải đúng luật; không bị pháp luật cấm.
Hai tiêu thức này có quan hệ chặt chẽ với nhau, và là điều kiện cần và
đủ của một hoạt động được thừa nhận là việc làm Nếu một hoạt động chỉ tạo
ra thu nhập nhưng vi phạm luật pháp như: trộm cắp, buôn bán hêrôin, mạidâm, Không thể được công nhận là việc làm Mặt khác, một hoạt động dù làhợp pháp, có ích nhưng không tạo ra thu nhập cũng không được thừa nhận làviệc làm Chẳng hạn như công việc nội trợ hàng ngày của phụ nữ cho chínhgia đình mình: đi chợ, nấu cơm, giặt giũ quần áo, Nhưng nếu người phụ nữ
đó cũng thực hiện các công việc nội trợ tương tự cho gia đình người khác thìhoạt động của họ lại được thừa nhận là việc làm vì được trả công
Điểm đáng lưu ý là tùy theo phong tục, tập quán của mỗi dân tộc vàpháp luật của các quốc gia mà người ta có một số quy định khác nhau về việclàm: Ví dụ: mại dâm của phụ nữ được coi là việc làm của phụ nữ ở Thái Lan,Philippin vì được pháp luật bảo hộ và quản lý; nhưng ở Việt Nam hoạt động
đó được coi là hoạt động phi pháp, vi phạm pháp luật và không được thừanhận là việc làm
Trang 12Việc làm có những tính chất đa dạng như sau:
Một là, tính chất cá nhân hay tập thể của việc làm: điều này cho biết
công việc của một người hay của tập thể
Hai là, tính chất địa lý của việc làm: cho biết việc làm được diễn ra ở
đâu, khu vực nông thôn hay thành thị, vùng đồng bằng hay miền núi…
Ba là, tính chất kỹ thuật của việc làm: cho biết tính đặc thù về kỹ thuật
và công nghệ của việc làm Đây cũng là cơ sở để chia theo ngành nghề củacông việc
Bốn là, tính chất thành thạo của việc làm: cho biết năng lực và phẩm
chất của người lao động được thể hiện trong quá trình làm việc
Năm là, tính chất kinh tế của việc làm: cho thấy hiệu quả kinh tế của
việc làm
Sáu là, tính chất cơ động của việc làm: cho thấy khả năng thay đổi nghề
nghiệp và năng lực thích nghi với điều kiện làm việc mới của người lao động
Như vậy, việc làm có nhiều tính chất khác nhau và luôn mang tínhchất động Vì vậy người ta chia việc làm thành những phạm trù xã hội -nghề nghiệp khác nhau, từ đó có sự phân biệt các loại nghề nghiệp của laođộng khác nhau Đó là:
Việc làm chính thức: được hiểu là công việc chính mang lại thu nhập
chính (đối với những việc làm được trả công) và những thu nhập về của cải vậtchất cho bản thân và gia đình (đối với những việc làm không được trả công)
Việc làm không chính thức: được hiểu là những công việc làm thêm
ngoài làm chính Như vậy, đối với người nông dân, việc làm chính của họ làsản xuất nông nghiệp trong mùa vụ, còn việc làm không chính thức là việclàm thêm trong lúc nông nhàn
Việc làm bền vững: theo ILO, việc làm bền vững là những việc làm có
năng suất và chất lượng cho nam giới và nữ giới, trong điều kiện tự do, bìnhđẳng, an toàn và nhân phẩm được tôn trọng Việc làm bền vững bao gồm các
Trang 13cơ hội làm việc một cách hiệu quả; có thu nhập công bằng; đảm bảo an toàntại nơi làm việc và bảo vệ xã hội cho người lao động cũng như gia đình họ; cótriển vọng phát triển cá nhân và khuyến khích hòa nhập xã hội; cho phép mọingười được tự do bày tỏ những mối quan tâm của mình, được tự do tổ chức vàtham gia vào các quyết định ảnh hưởng tới cuộc sống của họ; và đảm bảo chotất cả mọi người đều có cơ hội bình đẳng và được đối xử bình đẳng Như vậy,xét về mặt kinh tế, việc làm bền vững là việc làm phải có năng suất và có thểcạch tranh Tuy nhiên trên thế giới, bảo đảm cho người lao động có việc làmbền vững vẫn còn là vấn đề rất nan giải.
Từ những phân tích ở trên, có thể cho rằng, việc làm là hoạt động lao động của con người mà pháp luật không cấm, là dạng hoạt động kinh tế - xã hội, đó là sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất theo những điều kiện phù hợp nhất định, nhằm tạo ra sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ, đáp ứng lợi ích của con người
* Khái niệm về giải quyết việc làm
Việc làm là một dạng hoạt động kinh tế - xã hội Hoạt động đó khôngđơn thuần là sự kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất, mà nó còn bao gồm
cả những yếu tố xã hội Muốn sự kết hợp đó diễn ra và không ngừng pháttriển, phải tạo ra được sự phù hợp cả về số lượng, chất lượng sức lao động với
tư liệu sản xuất, trong một môi trường kinh tế - xã hội thuận lợi, đảm bảo chohoạt động đó diễn ra một cách bình thường
Giải quyết việc làm (GQVL) là việc tạo ra các cơ hội để người lao động
có việc làm và tăng được thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình
và cộng đồng xã hội
Giải quyết việc làm là nhằm khai thác triệt để tiềm năng của một conngười, nhằm đạt được việc làm hợp lý và việc làm có hiệu quả Chính vì vậyGQVL phù hợp có ý nghĩa quan trọng đối với người lao động ở chỗ tạo cơ hộicho họ thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình Trong đó có quyền cơ
Trang 14bản nhất là quyền được làm việc nhằm nuôi sống bản thân và gia đình gópphần xây dựng quê hương đất nước.
Giải quyết việc làm có thể được hiểu ở các khía cạnh như sau:
Một là, Giải quyết việc làm cho người lao động là quá trình tạo ra
những cơ hội sử dụng tối đa sức lao động kết hợp với tư liệu sản xuất trongphát triển kinh tế - xã hội mang lại thu nhập hợp pháp cho người lao động,người sử dụng lao động và cho xã hội Ở nước ta hiện nay với chủ trươngphát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã và đang tạo mọiđiều kiện thuận lợi để hình thành thị trường sức lao động đa dạng và phongphú, cả thị trường trong và ngoài nước Người lao động được làm chủ sức laođộng của mình, tự do tìm kiếm việc làm theo năng lực của mình ở mọi lúc,mọi nơi Người sử dụng lao động ở các loại hình doanh nghiệp khác nhaucũng được tự do thuê mướn lao động theo số lượng, chất lượng, theo nhu cầusản xuất kinh doanh mà pháp luật cho phép Đó thực chất là quá trình đẩymạnh phân công lao động, tạo ra các ngành, nghề mới để nhằm thu hút lựclượng lao động xã hội hiện đang chưa có việc làm hoặc có việc làm chưa
ổn định, thu nhập thấp
Hai là, GQVL là quá trình tạo ra nhu cầu về việc làm để thu hút
người lao động có nhu cầu, mong muốn được làm việc có thể tìm đến Đ óthực chất là quá trình tạo ra những điều kiện kinh tế - xã hội, các chính sáchcủa Nhà nước, các giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, các giảipháp để duy trì việc làm ổn định và đạt hiệu quả cao; các giải pháp về mởrộng thị trường xuất khẩu lao động; về tiền lương, trợ cấp nghề nghiệp; về chế
độ hưu trí… GQVL còn cần phải được xem xét cả phía người lao động, người
sử dụng lao động và vai trò của Nhà nước
Ba là, GQVL là một hoạt động mang tính xã hội sâu sắc, đòi hỏi phải có
sự chung sức của cả hệ thống chính trị Trong bất cứ xã hội nào nhu cầu được cóviệc làm và khả năng GQVL của xã hội và bản thân nền kinh tế luôn có sự lệch
Trang 15pha và thông thường số lượng người muốn có việc làm hay còn gọi là cầu vềviệc làm luôn lớn hơn khả năng GQVL hay cung về việc làm Việc giải quyếtbất cập này phải bằng tổng thể các biện pháp cả kinh tế, chính trị, giáo dục; của
cả gia đình nhà trường, xã hội; của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địaphương nhằm tác động đến quy mô, tốc độ tăng dân số, các quy định về độ tuổilao động và sự di chuyển của lao động, về sự phát triển của giáo dục đào tạo, y tế,thể chất và chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Vì vậy, vấn đề việc làm và giải quyết việc làm là vấn đề có ý nghĩa tolớn đối với mỗi quốc gia Trong Bộ luật Lao động của nước Cộng hoà Xã hộichủ nghĩa Việt Nam đã có quy định rõ ràng và đầy đủ về trách nhiệm của nhànước, trách nhiệm của từng thành viên trong xã hội đối với vấn đề việc làm:
“giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơhội có việc làm, là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và củatoàn xã hội” [52, tr.142]
Tham gia vào quá trình GQVL có nhiều thành phần: Nhà nước, cácdoanh nghiệp, các đoàn thể và cá nhân từng người lao động trong toàn xã hội
Cụ thể, theo Bộ luật Lao động, các qui định trách nhiệm của Nhà nước đó là:Nhà nước định ra các chỉ tiêu kế hoạch giải quyết việc làm mới trong kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội; Có chính sách ưu đãi, khuyến khích giảiquyết việc làm như: hỗ trợ về tài chính vay vốn, miễn giảm thuế; Chính phủlập chương trình quốc gia về việc làm, phát triển hệ thống dịch vụ việc làm,
hệ thống các cơ sở dạy nghề
Doanh nghiệp: Phải đảm bảo việc làm cho người lao động mà doanhnghiệp đã tuyển dụng; Phải mở rộng quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm;Phải ưu tiên lao động nữ, người tàn tật với một tỷ lệ thích hợp và có công việcphù hợp cho bộ phận lao động này khi thay đổi cơ cấu công nghệ, nếu chongười lao động thôi việc thì phải trợ cấp mất việc làm; Các tổ chức đoàn thể,
tổ chức xã hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệmtham gia các chương trình giải quyết việc làm của chính phủ
Để từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống, phát huy nguồn lực con
Trang 16người, vấn đề bức xúc đối với nước ta hiện nay là phải tính đến đầy đủ cácyếu tố cơ bản tác động, nhất là, vấn đề an toàn việc làm, an toàn lương thực
và môi trường bền vững; trong đó an toàn việc làm, có việc làm thườngxuyên, ổn định cho người lao động là yếu tố quan trọng hàng đầu
Từ những phân tích luận giải trên, có thể quan niệm: “Giải quyết việc làm cho người lao động là quá trình tạo ra và kết hợp các yếu tố sản xuất bao gồm sức lao động, tư liệu sản xuất và các điều kiện kinh tế - xã hội khác để đảm bảo cho người có khả năng lao động được lao động và duy trì hoạt động lao động đó”.
1.1.2 Đô thị hóa và tác động của đô thị hóa đến việc làm
* Đô thị hóa
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá (CNH, HĐH& ĐTH) làcon đường phát triển của mọi quốc gia trên thế giới Trong thời đại ngày nay,thời đại khoa học - công nghệ phát triển nhanh như vũ bão, kinh tế tri thứcđang dần đi vào cuộc sống và toàn cầu hoá là một xu thế không gì có thểcưỡng lại được thì công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đường giúp các nướcchậm phát triển rút ngắn thời gian so với các nước đi trước.Việt Nam đangtrong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu
và bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, cónghĩa là chúng ta đang chuyển từ một nền kinh tế tiền tư bản đi lên chủ nghĩa
xã hội, vì vậy chúng ta phải từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật chomột xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa Trong đó, nhiệm vụ quan trọnghàng đầu của chúng ta là phải thực hiện CNH, HĐH đất nước
Chúng ta biết rằng, đi kèm với việc áp dụng máy móc, kỹ thuật vàotrong sản xuất sẽ làm thay đổi tính chất của quá trình sản xuất Quá trình sảnxuất chỉ sử dụng ít lao động sống và sử dụng nhiều máy móc thay thế Hệ quảcủa việc này là dư thừa lao động: người lao động không có việc làm hoặc cóviệc làm nhưng không đầy đủ Mặt khác quá trình CNH, HĐH cũng làm xuấthiện những ngành kinh tế mới, có thể thu hút được một số lượng lao độngnhất định Nhưng nhìn chung, tình hình người lao động không có việc làm
Trang 17vẫn tăng nhanh hơn tỷ lệ người lao động tìm được việc làm.
CNH, HĐH sẽ dẫn đến sự thay đổi to lớn về nhiều mặt cả về kinh tế và
xã hội
Về mặt kinh tế: CNH, HĐH làm thay đổi phương thức sản xuất và cơ
cấu nền kinh tế, làm cho nền kinh tế có một bước phát triển mới về chất, đó lànền kinh tế dựa trên nền đại công nghiệp và dịch vụ chất lượng cao
Về mặt xã hội: đó là quá trình đô thị hoá Trong nền kinh tế hiện đại, đôthị hoá không chỉ đơn thuần là sự hình thành các đô thị mới mà đó là một nấcthang tiến hoá vượt bậc của xã hội với một trình độ văn minh mới, mộtphương thức hoạt động mới Đó là cách thức tổ chức, bố trí lực lượng sảnxuất, cơ cấu lại nền kinh tế
Mặc dù còn nhiều quan niệm khác nhau về đô thị hoá Song tựu trung
lại có thể hiểu: Đô thị hoá là quá trình biến đổi và phân bố lại lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị theo chiều rộng và theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật
và tăng quy mô dân số ở các đô thị Đó là quá trình tập trung, tăng cường, phân hoá các hoạt động trong đô thị và nâng cao tỷ lệ số dân thành thị trong các vùng, các quốc gia cũng như trên toàn thế giới Đồng thời, đô thị hoá cũng là quá trình phát triển của các thành phố lớn và phổ biến rộng rãi lối sống thành thị trong dân cư
Theo đó, đô thị hoá được xem là quá trình biến đổi, chuyển biến vềnhiều mặt kinh tế - xã hội của các khu vực trước đây là sản xuất nông nghiệp,khu vực nông thôn để trở thành các khu đô thị, khu chế xuất, khu công nghiệpphục vụ cho sản xuất công nghiệp và các ngành dịch vụ Như vậy, về bản chấtcủa đô thị là sự phát triển các cụm kinh tế công nghiệp, dịch vụ, kết cấu hạ tầng
cơ sở, phát triển các cụm dân cư theo hình thức và điều kiện sống mang tínhcông nghiệp, đô thị sầm uất Đây là một xu thế tất yếu xảy ra đối với tất cả các
Trang 18quốc gia, các thành phố lớn khi thực hiện chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệpsang nền kinh tế công nghiệp từng bước tiếp cận với nền kinh tế tri thức, vì đôthị hoá tạo ra cơ sở thúc đẩy sự phát triển phân công lao động xã hội, cơ cấu lạikinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong đó có thủ đô Hà Nội.
Khái niệm pháp quy về đô thị hoá ở Việt Nam: Điểm dân cư được coi là
đô thị hoá phải có các tiêu chí sau đây: Là trung tâm tổng hợp hay chuyênngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trong phạm vi cả nước,một miền lãnh thổ, của một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh hayhuyện; có quy mô dân số nội thị nhỏ nhất là 4000 người (vùng núi có thể thấphơn); tỷ lệ lao động phi nông nghiệp chiếm 60% trở lên trong tổng số lao độngcủa nội thị, là nơi sản xuất và dịch vụ thương mại hàng hoá phát triển; có kếtcấu hạ tầng kỹ thuật và các công trình công cộng phục vụ dân cư đô thị hoátừng phần hoặc đồng bộ; mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2000 người/km2
Đô thị hoá có hai hình thức biểu hiện chủ yếu:
Một là, đô thị hoá theo chiều rộng trong đó quá trình đô thị hoá diễn ra
tại các khu vực trước đây không phải là đô thị Đó cũng chính là quá trình mởrộng quy mô diện tích các đô thị hiện có trên cơ sở hình thành các khu đô thịmới, các quận, phường mới Với hình thức này, dân số và diện tích đô thịkhông ngừng gia tăng, các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp và các hoạtđộng của kinh tế đô thị không ngừng mở rộng; các hoạt động sản xuất kinhdoanh và điểm dân cư ngày càng tập trung Sự hình thành các đô thị mới đượctạo ra trên cơ sở phát triển các khu công nghiệp và trung tâm công nghiệp,thương mại, dịch vụ ở vùng nông thôn và ngoại ô là xu hướng tất yếu của sựphát triển , là nhân tố mở đường thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Đô thịhoá theo chiều rộng là hình thức phổ biến hiện nay ở các nước đang phát triểntrong thời kỳ đầu công nghiệp hoá
Hai là, đô thị hoá theo chiều sâu, đó là quá trình hiện đại hoá và nâng
cao trình độ của các đô thị hiện có Mật độ dân số có thể tiếp tục tăng cao,
Trang 19phương thức và các hoạt động kinh tế ngày càng đa dạng, thực lực khoa học
kỹ thuật, công nghệ ngày càng tăng cường; hiệu quả kinh tế - xã hội cũngngày càng được cải thiện Đô thị hoá theo chiều sâu là quá trình hình thànhthường xuyên, là yêu cầu tất yếu của quá trình tăng trưởng và phát triển Quátrình đó đòi hỏi các nhà quản lý đô thị và các thành phần kinh tế trên địa bàn
đô thị thường xuyên vận động và phải biết điều tiết, vận dụng tối đa nhữngtiềm năng sẵn có và hoạt động có hiệu quả cao trên cơ sở hiện đại hoá trênmọi lĩnh vực kinh tế - xã hội ở đô thị
Đô thị hoá là một quá trình đa dạng, trong nó có chứa đựng nhiều hiệntượng và biểu hiện khác nhau trong quá trình phát triển Trên quan điểm mộtvùng, đô thị hoá là quá trình hình thành, phát triển các hình thức và điều kiệnsống theo kiểu đô thị
Trên quan điểm kinh tế chính trị, đô thị hoá là một quá trình biến đổi vềphân bố các lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong nền kinh tế quốc dân,
bố trí dân cư những vùng không phải đô thị thành đô thị, đồng thời phát triển các
đô thị hiện có theo chiều sâu Đô thị hoá là quá độ từ hình thức sống nông thônlên hình thức sống đô thị của các nhóm dân cư, gắn liền với những biến đổi sâusắc về kinh tế - xã hội của nông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giaothông vận tải, xây dựng và dịch vụ…và hoàn thiện hệ thống quan hệ kinh tế đôthị Do vậy, đô thị hoá luôn gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội cả về mặtlực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Đô thị hoá nông thôn là xu hướng bền vững có tính quy luật; đó là quá
trình phát triển nông thôn và phổ biến lối sống thành phố cho các vùng nôngthôn (cách sống, hình thức nhà cửa, phong cách sinh hoạt…); Thực chất đó làtăng trưởng đô thị theo xu hướng bền vững
Đô thị hoá ngoại vi là quá trình phát triển mạnh vùng ngoại vi củathành phố do kết quả phát triển công nghiệp, dịch vụ và kết cấu hạ tầng, tạo racác cụm đô thị, liên đô thị, góp phần đẩy nhanh đô thị hoá nông thôn
Trang 20Trong quá trình CNH, HĐH, sự hình thành các đô thị hiện đại có vaitrò đặc biệt quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội Bên cạnh nôngthôn, đô thị là hình thái quần cư cơ bản thứ hai của xã hội loài người Trên thếgiới, đô thị ra đời sớm nhưng chỉ thật sự phát triển mạnh mẽ từ cuối thế kỷ 19,đầu thế kỷ 20 và đến nay đô thị đã trở thành một hiện tượng xã hội, một hiệntượng kinh tế có ảnh hưởng hết sức quan trọng tới mọi lĩnh vực hoạt động củađời sống xã hội.
Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, có vai trò thúc đẩy sựphát triển kinh tế - xã hội của cả nước Sự phát triển đô thị kích thích tăngtrưởng, phát triển của các vùng lãnh thổ xung quanh và toàn bộ nền kinh tếthông qua quá trình phân bổ lại các cơ sở kinh tế, lan truyền tiến bộ côngnghệ, văn hoá, xã hội Với sự phát triển của hệ thống các đô thị, nhiều nước
đã từng bước hình thành được những vùng lãnh thổ phát triển, không chỉ đảmnhận chức năng động lực, thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế - xãhội đất nước mà còn đảm nhận chức năng hợp tác và hội nhập quốc tế, vừađảm nhận vai trò tiếp nhận thông tin, các thành tựu về phát triển khoa học,công nghệ, kinh tế, văn hoá của thế giới rồi lan rộng ra các vùng xung quanh
* Tác động của đô thị hóa đến giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn ngoại thành
Thứ nhất, đô thị hóa tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp vùng ngoại thành nhờ đó tạo cơ hội mới cho giải quyết việc làm và nâng cao chất lượng nhân lực nông nghiệp
Quá trình đô thị hóa diễn ra, tư liệu sản xuất nông nghiệp như đất đai bịthu hẹp, diện tích chăn nuôi trồng trọt không còn nhiều, tuy nhiên theo xuhướng thế giới hiện nay là phát triển mô hình nông nghiệp đô thị Từ cuối thế
kỷ XX, nông nghiệp đô thị đã trở thành xu thế trong quá trình phát triển đôthị ở các quốc gia Theo báo cáo hằng năm của Tổ chức Nông lương Liênhiệp quốc (FAO), năm 2008 “gần 1/3 lượng rau, quả, thịt, trứng cung ứng
Trang 21cho đô thị trên thế giới là từ nông nghiệp đô thị, 25 - 75% số gia đình ởthành phố phát triển theo mô hình nông nghiệp đô thị” (Báo cáo của FAO:Tổng quan tình hình lương thực thế giới 2008.) Rất nhiều đô thị nổi tiếngtrên thế giới phát triển mạnh về nông nghiệp đô thị Ở Matxcơva (Nga)65% gia đình có mô hình VAC đô thị, ở Dactxalam là 68%, Maputo 37%, Tại Béclin (Đức), có 8 vạn mảnh vườn trồng rau ở đô thị; hàng vạn cư dân
ở Niu Oóc (Hoa Kỳ) có vườn trồng rau trên sân thượng Tại nhiều thànhphố lớn của Trung Quốc như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu , nôngnghiệp đô thị, ven đô cung cấp tới 85% nhu cầu về rau xanh, 50% về thịttrứng của người dân Theo Tổ chức Làm vườn quốc gia Hoa Kỳ, năm 2007,người dân Hoa Kỳ chi khoảng 1,4 tỷ USD cho việc trồng cây rau, quả tạinhà, tăng 25% so với năm 2006
Ở nước ta nhìn chung nông nghiệp đô thị đã hiện diện song còn ở dạngmanh mún, phần lớn là sự sáng tạo của người dân Mặc dù phạm vi hoạt độngchưa rộng, mức độ phát triển chưa cao, chưa toàn diện nhưng hiệu quả kinh tế
- xã hội - môi trường của nông nghiệp đô thị đã được chứng minh ở nhiềuthành phố thuộc nhiều nước phát triển và đang phát triển trên thế giới Trongthời gian tới, nông nghiệp đô thị sẽ là giải pháp và là hướng đi chiến lược cho
sự phát triển nhanh, bền vững của các đô thị trong tiến trình đô thị hóa hiệnnay của nước ta nói chung và tại các vùng ngoại thành Hà Nội nói riêng, từ đógóp phần tạo công ăn việc làm cho người dân
Đô thị hóa còn đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng lao động tại nôngthôn Đô thị hóa hình thành, mọc lên các khu thương mại dịch vụ lớn, cụ thểnhư tại Hà Nội có các khu siêu thị như Metro, BigC…ở các huyện Từ Liêm,Gia Lâm… các khu chế xuất, các cụm công nghiệp như ở Thanh Oai, ThườngTín, Hoài Đức, Thạch Thất, Quốc Oai… khi đó, nền kinh tế chuyển dịch từnông nghiệp sang lĩnh vực sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thươngmại dịch vụ…Theo đó, các công việc tại các khu đô thị đòi hỏi chất lượng lao
Trang 22động cao hơn, không chỉ là lao động thủ công như trước, mà cần có sự họchỏi, có nhận thức và khả năng điều khiển các máy móc, tuân thủ các quy trìnhcông nghệ theo yêu cầu đặt ra, có như vậy mới có thể tăng năng suất và hiệuquả lao động, ngoài ra yêu cầu các kỹ năng như giao tiếp, ngoại ngữ, vitính… nhiều hơn Theo đó, chất lượng nhân lực trong nông nghiệp vùngngoại thành cũng vì đó được nâng cao
Thứ hai, đô thị hóa góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành nghề
Theo các chuyên gia thuộc trung tâm định cư của Liên hợp quốc(Habitat), đô thị hóa là quá trình mà nhờ nó, dân số của các quốc gia, chuyểndịch từ các nghề nghiệp nông thôn sang các nghề nghiệp đô thị, và vì thế màdiễn ra sự chuyển dịch từ các điểm dân cư nông thôn sang các điểm dân cư đôthị ở các quy mô khác nhau Đô thị hóa không đơn thuần là vấn đề dân sốhọc, nó là vấn đề bao trùm về sự phân bố; đô thị hóa có thể được hiểu như là
sự biểu hiện của các mô hình phát triển các điểm dân cư
Tại Việt Nam nói chung và các vùng ngoại thành Hà Nội nói riêng, đôthị hóa đã tạo ra sự phi nông hóa của người làm nông nghiệp, số lượng laođộng trong các ngành phi nông nghiệp ngày càng tăng lên Trong tiến trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự phát triển của ngành công nghiệp và dịch
vụ đã thu hút một lượng khá lớn lao động nông thôn Cụ thể, quá trình đô thịhóa làm thay đổi và chia nhỏ các đơn vị sản xuất nông nghiệp, các ngànhcông nghiệp khởi động và nhanh chóng chiếm chỗ các dư địa của sản xuấtnông nghiệp, tỷ trọng của ngành nông nghiệp sẽ giảm sút, ngày càng nhỏ đimột cách tương đối Đô thị hóa diễn ra tạo thêm cơ hội việc làm mới, thu hútlao động nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ
Về thực chất CNH, HĐH và đô thị hoá là quá trình cơ cấu lại nền kinh
tế theo hướng phát triển mạnh khu vực công nghiệp, dịch vụ và chuyển dịch
cơ cấu lao động đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, tăng nhanh lao động làm
Trang 23công nghiệp và dịch vụ, giảm mạnh lao động làm nông nghiệp CNH diễn rađồng thời với phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, khu kinh tế mở, khucông nghiệp tập trung, các trung tâm dịch vụ lớn, cùng với nó là quá trình mởrộng các khu đô thị, các thị trấn, thị tứ… Trong những năm qua, các khu,cụm, điểm công nghiệp tập trung ngoại thành Hà Nội đã và đang thu hút hàngtrăm nghìn lao động nông thôn, tạo ra thị trường sức lao động mới để thúcđẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội trong vùng Hệ thống kếtcấu hạ tầng được xây dựng mới và nâng cấp, nhất là khu vực nông thôn, tỷ lệ
là nguồn cung cấp dồi dào về lao động cho sự phát triển của các khu đô thị.Nhưng ở khía cạnh nào đó, nó cũng trở thành sức ép do lao động giản đơn làchủ yếu cũng như sức ép do hệ thống hạ tầng cơ sở không đáp ứng được sốlượng lao động gia tăng qúa nhanh Từ đó dẫn đến tình trạng quá tải, gây biếnđộng lớn về các vấn đề kinh tế - xã hội của khu vực thành thị
Theo tính toán hàng năm số lao động từ khu vực nông thôn, ngoạithành chuyển sang thành người dân ở khu vực thành thị tăng giảm khoảng0,52%, chưa kể đến số lao động nhàn rỗi di chuyển ra khu vực thành thị tìmkiếm việc làm cũng chiếm số lượng không nhỏ
Quá trình đô thị hóa đã tạo ra một dòng di chuyển ồ ạt dân cư ở các địaphương ngoại thành vào Hà Nội Dự kiến dân số Hà Nội đến 2020 là 8 triệu với
tỷ lệ đô thị hóa là 54%, 2030 lên tới 9 triệu và 70% Tình trạng tăng vọt dân số
cơ học ở Hà Nội làm đậm thêm sự mất cân đối trong phân bố dân cư, lao động
Trang 24trên phạm vi toàn quốc Hà Nội phải gánh chịu áp lực quá tải rất nặng nề về dân
số, áp lực về tạo công ăn việc làm, chỗ ở cho người dân nghèo, nâng cao chấtlượng môi trường, về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội
Ðô thị hóa nhanh, đất nông nghiệp bị thu hồi để thực hiện các dự ánphát triển kinh tế - xã hội đang tạo sức ép với vấn đề giải quyết việc làm cholao động nông thôn, đặc biệt là bộ phận lao động trẻ Trong những năm qua,
để phục vụ quá trình đô thị hóa, buộc Nhà nước phải đưa ra chính sách thuhồi đất nông nghiệp để phát triển các khu đô thị, phát triển hạ tầng cơ sở, cáckhu thương mại dịch vụ, trong khi tư liệu sản xuất của nông dân là đất đai, khi
bị thu hồi đất, người dân không còn tư liệu sản xuất nữa, một số người dânchuyển hướng sang lao động ngành khác, nhưng còn một số người dân khôngtìm việc mới, chính vì vậy, đô thị hóa đã tạo ra một bộ phận nông dân không
Các huyện ngoại thành thủ đô Hà Nội là các huyện có tốc độ đô thị hóacao trong cả nước Để phục vụ sự nghiệp đô thị hóa, các hộ gia đình phảinhường đất để di dời đến nơi định cư mới theo sự sắp xếp của các nhà quản
lý Cùng với đó là hàng trăm ngàn ha đất nông nghiệp phải chuyển đổi mụcđích sử dụng, do đó sẽ có hàng chục vạn lao động nông thôn không còn cơhội được làm việc Số lao động này phải chuyển sang các ngành nghề mới nếukhông muốn bị thất nghiệp
Từ những phân tích về việc làm thì có thể cho rằng việc làm cho laođộng nông thôn là hoạt động lao động của người lao động nông thôn trong độ
Trang 25tuổi lao động mà pháp luật không cấm, là sự kết hợp giữa sức lao động với tưliệu sản xuát theo những điều kiện phù hợp nhất định, nhằm tạo ra sản phẩmhàng hóa và dịch vụ, đáp ứng lợi ích của người lao động nông thôn, cộng
đồng và xã hội Với tư duy như trên, tác giả cho rằng: Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hóa là quá trình tạo ra và kết hợp giữa các yếu tố tư liệu sản xuất, sức lao động và các điều kiện kinh tế - xã hội khác trong quá trình đô thị hóa để đảm bảo cho việc làm diễn ra và duy trì việc làm cho lao động nông thôn thuộc ngoại thành Hà Nội Từ quan niệm đó, cho thấy:
Mục đích của GQVL cho người lao động nông thôn ngoại thành HàNội trong quá trình đô thị hóa là nhằm tạo ra nhiều việc làm bền vững chongười lao động nông thôn dưới tác động của quá trình đô thị hóa, nhằm giúp
họ ổn định đời sống, phát triển kinh tế địa phương hay nói cách khác là làmtăng lên số người có việc làm và giảm bớt số người lao động không có việclàm hoặc có việc làm thiếu ổn định
Chủ thể GQVL cho người lao động nông thôn ngoại thành Hà Nội baogồm: Chính bản thân người lao động phải chủ động sử dụng sức lao động củamình để có thể tự do tìm kiếm một công việc phù hợp; Người sử dụng laođộng có thể tìm kiếm được người lao động thỏa mãn các yêu cầu của mình vềmặt số lượng và chất lượng; Nhà nước với tư cách là chủ thể lớn nhất phảiđảm bảo tạo ra môi trường thuận lợi để lao động nông thôn có thể thực hiệnquá trình lao động của họ
Phương thức GQVL là kết hợp chặt chẽ giữa sự chủ động, tích cực củaNhà nước thông qua quy hoạch, chiến lược, chương trình, mục tiêu quốc gia
về giải quyết việc làm với sự năng động, chủ động và tích cực của bản thânngười lao động; kết hợp giữa các giải pháp kinh tế với các giải pháp về mặt xãhội; kết hợp giữa Nhà nước - doanh nghiệp - người lao động
GQVL cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa tại ngoại
Trang 26thành Hà Nội là vấn đề có tầm quan trọng to lớn đối với sự phát triển củathành phố Hà Nội, vì vậy phải được Đảng, Nhà nước và địa phương nhìnnhận, đánh giá đúng đắn, từ đó có sự quan tâm đúng mức và phải coi đây lànhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Giảiquyết việc làm cho người lao động nông thôn ngoại thành Hà Nội góp phần
ổn định cuộc sống cho người lao động nông thôn trong quá trình đô thị hóa
Từ đó, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp trên địa bàn, nâng cao thu nhập, cảithiện đời sống cho người lao động nông thôn, góp phần thực hiện tiến bộ vàcông bằng, an sinh xã hội, giảm các tệ nạn xã hội; ổn định chính trị, trật tự antoàn cho xã hội; tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh
1.2 Nội dung và các nhân tố tác động đến giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn trong quá trình đô thị hóa.
1.2.1 Nội dung giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hoá
Một là, xây dựng, ban hành các chủ trương, cơ chế, chính sách về giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn ngoại thành
Như trên đã đề cập, GQVL là vấn đề mang tính xã hội sâu sắc, và phảiđược thực hiện đồng bộ từ việc đề ra các chủ trương đến việc ban hành cácchính sách nhằm huy động mọi lực lượng trong xã hội vào chung sức thựchiện Vì vậy, để GQVL cho lao động nông thôn vùng ngoại thành Hà Nội cầnphải tiếp tục hoàn thiện, bổ sung các chính sách hỗ trợ tạo việc làm, khai tháccác tiềm năng sẵn có của địa phương, thu hút vốn đầu tư để phát triển kinh tế
- xã hội, chính sách thu hút vốn đầu tư cần chú trọng vào cải thiện môi trườngđầu tư, sản xuất, kinh doanh, nhất là cải cách thủ tục đầu tư, tích cực đổi mới
và hoàn thiện khung pháp lý, tháo gỡ những trở ngại về cơ chế chính sách vàthủ tục hành chính để huy động tối đa mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế,giải quyết việc làm cho người lao động
Bên cạnh đó, cần tích cực đẩy mạnh việc xã hội hoá công tác đào tạo
Trang 27nghề, các chương trình quốc gia về đào tạo nghề, giải quyết việc làm, chínhsách an sinh xã hội đối với các đối tượng như thanh niên, lao động nông thôn,phụ nữ, lao động có điều kiện khó khăn, khuyến khích lực lượng lao động trẻ,
có tiềm năng đi đầu trong công tác phát triển mở rộng sản xuất các ngànhnghề, giải quyết việc làm cho người lao động
Đặc biệt, cần có chính sách để thu hút nguồn vốn FDI, ODA vào cáckhu, cụm công nghiệp, khu chế xuất vào các vùng ngoại ô của thành phố, thuhút lao động vào các khu công nghiệp, giải quyết công ăn việc làm cho ngườidân Các vùng ngoại thành của thành phố Hà Nội có nhiều khu, cụm côngnghiệp như khu công nghiệp Quất Động, Hiệp Phụng, khu công nghiệp ThạchThất, Quốc Oai đã thu hút được nhiều lao động tham gia, góp phần khôngnhỏ giải quyết công ăn việc làm cho các địa phương
Hai là, phát triển thị trường sức lao động của thành phố đề mở mang
cơ hội tìm kiếm việc làm cho người lao động ngoại thành
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước tahiện nay thị trường sức lao động có vai trò quan trọng trong việc tạo cơ hội đểngười lao động nói chung và lao động nông thôn ngoại thành nói riêng Vìvậy cần tiếp túc đầy mạnh sự phát triển của loại thị trường này để tăng khảnăng giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ngoại thành, Theo đó, cầnphải được điều chỉnh để tạo điều kiện cho sự dịch chuyển cơ cấu lao động phùhợp với kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Đồng thời cần hoàn thiệnkhung pháp lý, thể chế, chính sách và sự quản lý của Nhà nước đối với hoạtđộng của thị trường lao động, hỗ trợ thiết thực việc phát triển thị trường laođộng phù hợp với qui mô và nhu cầu về cung, cầu việc làm của vùng ngoạithành cả trước mắt và lâu dài
Bên cạnh đó cần phát triển Các Trung tâm Giới thiệu việc làm(TTGTVL) vì các TTGTVL chính là cầu nối giữa người lao động và người sửdụng lao động Nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTGTVL góp phần phát
Trang 28triển thị trường lao động Phát huy vai trò hiệu quả của sàn giao dịch việc làmcủa trung tâm thành phố Hà Nội và các sàn giao dịch việc làm vệ tinh tại cácđịa phương lân cận đảm bảo hiệu quả thông tin cung - cầu lao động được cậpnhật chính xác, thường xuyên, liên tục, kịp thời, tạo kết nối nhiều mối quan hệlao động mới.
Ba là, đẩy mạnh xuất khẩu lao động để giải quyết số lao động trẻ đôi
dư vùng ngoại thành
Xuất khẩu lao động (XKLĐ) là một giải pháp quan trọng trong giảiquyết việc làm, đáp ứng nhu cầu thực tiễn, góp phần tăng thu nhập, nâng caotrình độ tay nghề cho người lao động Để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu laođộng, các trung tâm giới thiệu việc làm và các cơ quan ban ngành liên quancần tăng cường công tác tuyên truyền, cung cấp thông tin cho người lao động
về chính sách xuất khẩu lao động của tỉnh, làm rõ lợi ích của việc xuất khẩu laođộng đối với vấn đề giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người dân Đồngthời, chuẩn bị đủ nguồn lao động đảm bảo chất lượng đáp ứng yêu cầu thị trườngxuất khẩu, đồng thời nguồn lao động cần có khả năng cạnh tranh với các địaphương khác để đẩy mạnh XKLĐ trong thời gian tới, tiếp tục hoàn thiện chínhsách ưu đãi thuế, hỗ trợ tài chính đối với các doanh nghiệp tham gia XKLĐ, cảicách thủ tục hành chính nhằm tạo sự thông thoáng và giảm phiền hà cho ngườilao động và doanh nghiệp
Thời gian qua, tại các vùng ngoại thành Hà Nội, có không ít người laođộng được xuất khẩu lao động sang các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia,Trung Quốc… tuy nhiên cũng không ít người dân bị lừa, chính vì vậy, giảiquyết việc làm bằng cách xuất khẩu lao động vừa là một nội dung trong vấn
đề giải quyết việc làm hiện nay nhưng cũng cần nhận được sự quan tâm vàquản lý chặt chẽ hơn bởi các ban, ngành, quận huyện và thành phố Hà Nội
Bốn là, giải quyết việc làm thông qua cho vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm
Quỹ cho vay giải quyết việc làm hiện nay hoạt động với mục đích chủyếu là cho vay để phát triển mở rộng sản xuất kinh doanh, dịch vụ tạo thêm
Trang 29nhiều việc làm mới, đi xuất khẩu lao động và giúp các hộ nghèo, cận nghèothoát nghèo bền vững Thông qua quỹ này sẽ giúp cho các đối tượng trên cóhội tìm được các việc làm mới mang lại thu nhập cao ổn định, hoặc đi xuấtkhẩu lao động, sau đó khi hết thời hạn xuất khẩu về nước có thể tự chủ mởmang ngành nghề để chủ động sản xuất kinh doanh cho mình và thu hút laođộng khác từ chính địa phương.
Thực hiện các văn bản hướng dẫn của cấp trên, để GQVL cho lao độngnông thôn vùng ngoại thành, UBND TP Hà Nội cũng đã thành lập Quỹ giảiquyết việc làm thành phố Quỹ này sẽ do Giám đốc Sở Tài chính là chủ tàikhoản, được thành lập với mục đích cho vay giải quyết việc làm và thực hiệnmục tiêu giảm nghèo trên địa bàn thành phố, bao gồm các quận huyện nộithành và ngoại thành Hà Nội Cùng với cơ chế, chính sách và hệ thống vănbản pháp luật là các chương trình mục tiêu: Chương trình phát triển nôngnghiệp, nông thôn; Chương trình phát triển công nghiệp, dịch vụ; Chươngtrình xây dựng và phát triển các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, khucông nghệ cao và các chương trình, dự án trọng điểm kinh tế - xã hội đượcthực hiện, góp phần giải quyết việc làm, từng bước nâng cao đời sống củangười lao động
Năm là, hỗ trợ cho nông dân ngoại thành phát triển sản xuất kinh doanh để có việc làm và thu nhập ổn định
Người nông dân muốn sản xuất, nuôi trồng đều cần đến các tư liệu sảnxuất, như giống vật nuôi, cây trồng và các điều kiện khác Nhưng nhiều hộ lạikhông có vốn để đầu tư chăn nuôi, trồng trọt Để có thể giải quyết tốt hơn việclàm cho nông dân thì chính quyền các cấp và các tổ chức cần đẩy mạnh hơncác biện pháp hỗ trợ về vốn, về giống, kỹ thuật, và cơ giới hóa nông nghiệpcho nông dân như đầu tư máy gặt, đầu tư máy cấy cho các hộ nông dân.Ngân hàng chính sách xã hội trên địa bàn các huyện ngoại thành Hà Nội hằngnăm cần quan tâm giải quyết nhu cầu vay vốn cho các hộ dân của huyện đểtiến hành sản xuất Ngoài ra, việc hỗ trợ vốn cho nông dân có thể thông qua
Trang 30các Quỹ như Quỹ xóa đói giảm nghèo, Quỹ hỗ trợ…
Bằng các chính sách hộ trợ trên sẽ giúp nông dân không chỉ ổn định màcòn có thể mở rộng sản xuất kinh doanh, giúp bản thân họ và các thành viêntrong gia đình không chỉ gắn bó với nghề nông mà còn khuyến khích tìmkiếm các giải pháp đề phát triển mô hình nông nghiệp đô thị; nâng cao năngsuất, chất lượng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp; có thu nhập ổn định vàngày càng cao… Nhờ đó, sẽ giúp người lao động vùng ngoại thành và các thế
hệ con cái của họ có được việc làm ổn định lâu dài và giảm bớt gánh nặng vềGQVL của Thành phố
Sáu là, đẩy mạnh đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho khu vực nông thôn ngoại thành
Chất lượng lao động là một trong những điều kiện để các quốc gia cóthể cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là trong côngcuộc CNH-HĐH đất nước và sự thay đổi diện mạo của đất nước khi quá trình
đô thị hóa diễn ra Chất lượng lao động thể hiện ở khía cạnh thể lực và trí lựccủa người lao động Đặc biệt, để có thể tìm được việc làm trong một môitrường cạnh tranh cao như thị trường sức lao động ở nước ta hiện nay, ngườilao động cần phải trang bị cho mình ngoài sức khỏe, trình độ chuyên môn kỹthuật thì người lao động cần phải có hiểu biết về pháp luật, tinh thần chấphành kỷ luật, văn hóa ứng xử trong công việc mang tính chuyên nghiệp, kỹnăng sống và làm việc
Chất lượng nguồn nhân lực có vai trò rất quan trọng trong tìm kiếm cơhội việc làm, đáp ứng yêu cầu công việc và ảnh hưởng đến thu nhập củangười lao động Bởi lẽ, với bất cứ chủ thể sản xuất kinh doanh nào cũngmuốn tuyển dụng cho minh những người lao động có trình độ chuyên môncao, có kỹ năng nghề nghiệp tốt
Mặt khác, do tác động của quá trình đô thị hóa nên có nhiều làng nghềkhông phát triển, người dân bỏ nghề, dẫn đến một bộ phận thất nghiệp mà
Trang 31nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là sản phẩm đầu ra của các làng nghềchưa có thương hiệu, uy tín, tiêu chuẩn chất lượng chưa cao nên không tiêu thụđược Để cải thiện tình trạng này cần phải nâng cao chất lượng người lao động.Phát triển mạng lưới dạy nghề gắn với nâng cao chất lượng dạy nghề, giải quyếtviệc làm và thực hiện xã hội hóa công tác dạy nghề đồng thời chủ động huyđộng mọi nguồn lực đầu tư phát triển giáo dục đào tạo và đào tạo nghề
Vì vậy, để tăng cường giải quyết việc làm cho người lao động ngoạithành Hà Nội cần tăng cường triển khai đồng bộ các biện pháp nhằm nâng caochất lượng nhân lực lao động nông thôn, trong đó cần đẩy mạnh công tác đàotạo nghề ở các địa phương, phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể tham giacông tác đào tạo nghề, tập huấn nghề, gắn chuyển giao công nghệ với đào tạonhân lực; khuyến khích tự đào tạo; nâng cao chất lượng cuộc sống và môitrường học tập cho nhân dân vùng đô thị hóa
1.2.2 Các yếu tố tác động đến giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hoá
Quá trình đô thị hóa, làm thay đổi mọi mặt của đời sống, xã hội của khuvực nông thôn đặc biệt là cơ cấu lao động và việc làm của lao động nôngnghiệp Vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động ngoại thành Hà Nộitrong quá trình đô thị hóa chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố:
Thứ nhất: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và Chương trình mục tiêu quốc gia về giải quyết việc làm
Sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trong đó có thành phố HàNội nói chung và vấn đề GQVL cho lao động nông thôn vùng ngoại thành HàNội nói riêng luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự can thiệp, tác động điềutiết của Nhà nước Đó là vấn đề có tính nguyên tắc trong cơ chế tổ chức vàquản lý toàn bộ các mặt hoạt động ở nước ta hiện nay Vì vậy, mọi chủtrương, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đặc biệt là Chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội của thành phố và Chương trình mục tiêu quốc
Trang 32gia về việc làm và GQVL sẽ tác động ảnh hưởng lớn đến khả năng GQVL củathành phố cho các đối tượng trong đó có người lao động ngoại thành hiện nay.Nếu Chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong đó có quy hoạchphát triển đô thị gắn với chiến lược, quy hoạch phát triển nông nghiệp, nôngthôn, gắn với chuyển dịch cơ cấu sản xuất và cơ cấu lao động của nôngnghiệp, nông thôn thì các ngành sẽ hỗ trợ nhau và tạo điều kiện cho nhau pháttriển, tạo ra sự đồng bộ trong phát triển đô thị, phân công lại sản xuất và laođộng, nhờ đó việc làm cho người lao động vùng nông thôn cũng được giảiquyết đồng bộ.
Bên cạnh đó, thông qua các chương trình, các dự án của mình Nhànước cũng sẽ tác động tới việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhânlực, hướng dẫn, khuyến khích người lao động phát triển ngành nghề, tạo việclàm, tạo vốn cho đầu tư phát triển ngành nghề: qua đền bù đất, qua vay ưuđãi, qua luật đầu tư, qua việc tạo lập môi trường kinh doanh, môi trường pháp
lý ổn định, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước thì cơ hội tìm kiếmviệc làm và có việc làm ổn định sẽ gia tăng Ngược lại, nếu các chính sách,chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội và giải quyết việc làm đượctriển khai chậm hoặc còn nhiều bất cập thì việc GQVL cho lao động ngoạithành sẽ gặp khó khăn
Thứ hai: Cơ chế, chính sách về lao động và việc làm trong xã hội
Để giải quyết việc làm cho người lao động, vấn đề quan trọng nhất lànhà nước phải tạo các điều kiện và môi trường thuận lợi để người lao động tựtạo việc làm trong cơ chế thị trường thông qua những chính sách cụ thể Cóthể có nhiều chính sách tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc làm, hợpthành một hệ thống chính sách hoàn chỉnh có quan hệ qua lại, bổ xung chonhau hướng vào phát triển cả cung và cầu về lao động, đồng thời làm chocung và cầu phù hợp với nhau Thực chất là tạo ra sự phù hợp giữa cơ cấukinh tế và cơ cấu lao động
Trang 33Một là, nhóm chính sách khuyến khích phát triển những lĩnh vực,
hình thức và vùng có khả năng thu hút được nhiều lao động trong cơ chếthị trường như: Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, chínhsách phát triển khu vực phi nông nghiệp, chính sách di dân và phát triểnvùng kinh tế mới, chính sách đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nướcngoài, chính sách khôi phục và phát triển làng nghề Chính sách này cótác động mở rộng kinh tế và sản xuất, nhằm tạo điều kiện và việc làm chongười lao động
Hai là, nhóm chính sách việc làm cho các đối tượng là người có công
và chính sách xã hội đặc biệt khác như: Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt
sĩ, người tàn tật, đối tượng xã hội Nhóm chính sách này tạo điều kiện giảiquyết việc làm cho những đối tượng được ưu tiên kể trên để có việc làm
Ba là, nhóm chính sách việc làm thuộc hệ thống chính sách xã hội,
nhưng phương thức và biện pháp giải quyết việc làm mang nội dung kinh tếđồng thời liên quan đến những vấn đề thuộc về tổ chức sản xuất kinh doanhnhư: tạo môi trường pháp lý, vốn, lựa chọn và chuyển giao công nghệ, cơ sở
hạ tầng, thị trường tiêu thụ sản phẩm Nhóm chính sách này thúc đẩy sảnxuất, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển, chỉ khi các doanh nghiệpphát triển mới tạo ra cầu lao động, từ đó giải quyết việc làm
Thứ ba: Bảo đảm vốn đầu tư cho sản xuất, kinh doanh
Vốn đầu tư có ý nghĩa to lớn đối với giải quyết việc làm của người laođộng các vùng ngoại thành Hà Nội trong tiến trình đô thị hóa hiện nay Vốndùng để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, mua sắm máy móc, thiết bị, đào tạođội ngũ người lao động Đặc biệt trong điều kiện ngày nay, để phát triển sảnxuất đòi hỏi phải đổi mới nhanh chóng máy móc, thiết bị, tích cực ứng dụngtiến bộ khoa học - công nghệ, hơn nữa hoạt động trong nền kinh tế thị trường cạnhtranh ngày càng khốc liệt, tính rủi ro cao
Do đó, nếu đứng trên góc độ người lao động tại các vùng nông thônngoại thành Hà Nội tự giải quyết việc làm cho mình bằng vốn tự có là rất khó
Trang 34khăn, để giải quyết vấn đề việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình
đô thị hóa cần phải có sự quan tâm giúp đỡ vốn đầu tư của nhà nước cũng nhưcác cấp, các ngành liên quan Theo đó, quy mô, tốc độ và tính bền vững củaGQVL cho người lao động vùng ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thịhóa chịu tác động không nhỏ của các nguồn vốn đầu tư
Có vốn lớn sẽ đem lại lợi thế cho doanh nghiệp và người sản xuất, thực tếlà: muốn phát triển một ngành nào đó đều cần phải có một lượng vốn đầu tư tươngứng cho một chỗ làm mới (ví dụ: để có một chỗ làm mới trong nông nghiệp cầnmột lượng vốn từ 10-15 triệu đồng còn trong lĩnh vực công nghiệp cần khoảng 50triệu đồng cho một chỗ làm mới, )
Các vùng ngoại thành Hà Nội phần lớn là các vùng có xuất phát điểmthấp (nghèo, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, thấp), lĩnh vực sản xuấtchủ yếu là nông nghiệp Quá trình đô thị hóa đã tạo ra nhiều cơ hội cho ngườilao động có việc làm nâng cao thu nhập, ổn định đời sống, song tình trạngđói, nghèo, thiếu vốn đầu tư đã làm hạn chế việc mở rộng cơ sở sản xuất hoặcphát triển các ngành nghề khác để thu hút lao động nông nghiệp bị giải phóng
ra khỏi lĩnh vực nông nghiệp (mất đất, không có đất để canh tác do đô thịhóa ) hoặc một bộ phận lao động nông nghiệp thiếu việc làm lúc thời vụ
nông nhàn Thứ tư: Số lượng và chất lượng lao động
Số lượng lao động và chất lượng lao động sẽ ảnh hưởng đến mức cunglao động và tác động đến tiền lương, tiền công mà người lao động nhận được,khi đó sẽ có những tác động nhất định đến việc làm và giải quyết việc làm
Tiền lương, tiền công hay giá cả sức lao động ảnh hưởng rất lớn đếnviệc làm của người lao động Trong trường hợp tiền lương tăng mạnh, để tốithiểu hóa chi phí sản xuất, các doanh nghiệp có thể dùng các giải pháp thaythế như tăng vốn đầu tư trang bị, đổi mới công nghệ, đổi mới thiết bị máymóc, tăng năng suất lao động Với điều kiện kĩ thuật hiện có là rẻ nhất thì việctăng tiền lương tạo xu hướng cho các doanh nghiệp mua sắm, sử dụng các kĩ
Trang 35thuật, các công nghệ cần ít lao động Khi đó, nhu cầu về lao động giảm đáng
kể ở các doanh nghiệp và người lao động sẽ không có việc làm là việc đươngnhiên xảy ra Nếu tiền lương thấp, các công nghệ sản xuất đắt tương đối cùngvới việc tối thiểu hóa chi phí sản xuất thì việc sử dụng nhiều lao động thay thế
sẽ là giải pháp tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp, từ đó tạo động lực tăng cầulao động, góp phần giải quyết việc làm
Số lượng người lao động các vùng ngoại thành của thành phố Hà Nộinhìn chung là đông đúc, tuy nhiên chất lượng lao động không cao, mặc dùhiện nay dân trí cả nước nói chung đã được nâng cao hơn so với các giai đoạntrước nhưng nhìn chung, so với khu vực thành thị, dân trí của các khu vực nàythấp hơn, chủ yếu là lao động thủ công, buôn bán manh mún, nhỏ lẻ mangtính tự phát, trình độ tay nghề thấp, khả năng ứng dụng khoa học công nghệkhông cao, chính các yếu tố này hạn chế khả năng tạo việc làm cho người laođộng do sự đáp ứng yêu cầu lao động chưa đạt
Thứ Năm: Thị trường tiêu thụ sản phẩm
Vấn đề việc làm và giải quyết việc làm liên quan chặt chẽ đến sảnphẩm mà người lao động làm ra, chịu tác động của thị trường tiêu thụ sảnphẩm Khi cầu sản phẩm trên thị trường tiêu thụ sản phẩm tăng lên, để đápứng được nhu cầu của thị trường thì buộc các doanh nghiệp phải mở rộng sảnxuất, thuê thêm công nhân để sản xuất, khi đó nhu cầu về người lao độngtăng, giải quyết được việc làm cho người lao động
Ở các vùng ngoại thành Hà Nội, chủ yếu các ngành nghề lao động lànông nghiệp, chăn nuôi, trồng trọt, bên cạnh đó nhiều vùng có các làng nghềtruyền thống (như huyện Phú Xuyên, huyện Thường Tín, huyện Thanh Oai,huyện Thạch Thất….) Nếu thị trường đầu ra tốt, tiêu thụ được sản phẩm thìngười dân mở rộng sản xuất, người lao động có việc làm ổn định, tuy nhiênnếu đầu ra tiêu thụ không tốt, nhiều cơ sở kinh doanh đóng cửa thì dẫn đếntình trạng thất nghiệp, điều này khó khăn cho giải quyết việc làm
Trang 36Ngoài ra, xã hội phát triển, người lao động có thu nhập cao thì nhu cầutiêu dùng hàng hóa cũng thay đổi Cầu tiêu dùng hàng hóa thiết yếu sẽ chuyểndần sang cầu tiêu dùng các hàng hóa xa xỉ, các hàng hóa chất lượng cao Khi
đó các ngành này buộc phải thuê những lao động có trình độ, tay nghề tức làcầu lao động có chất lượng sẽ tăng lên Thu nhập cao cũng tác động đến hình
thức tiêu dùng và hình thành hai xu hướng: một là, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa nước ngoài; hai là, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa trong nước, cầu hàng hóa
nước ngoài tăng lên thì sản xuất trong nước giảm, không phát triển được thậmchí phải thu hẹp và số chỗ việc làm được tạo ra cùng sẽ giảm Ngược lại, cầuhàng hóa sản xuất nội địa tăng sẽ làm quy mô sản xuất trong nước mở rộng,cầu lao động tăng lên Như vậy, thị trường tiêu thụ hàng hóa tác động đếnviệc làm và vấn đề giải quyết việc làm
1.3 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn ngoại thành trong quá trình đô thị hoá ở một số địa phương và bài học rút ra cho thành phố Hà Nội
1.3.1 Kinh nghiệm của một số thành phố trong nước
* Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng
Năm 1997, Đà Nẵng trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trungương và đến cuối năm 2003 được Chính phủ xếp hạng là đô thị loại I cấpquốc gia Dân số của thành phố đến cuối năm 2002, là 747.000 người Do tácđộng của quá trình đô thị hoá, quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theohướng: tăng dần lao động ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, đồngthời giảm dần lao động nông nghiệp, đã làm cho dân số đô thị của Đà Nẵngtăng mạnh với 587.000 người [69, tr.6,7 ]
Bên cạnh những kết quả to lớn mà quá trình đô thị hoá mang lại thìcũng phát sinh những khó khăn, bất cập như: Số lao động nông nghiệp bị mấtviệc làm và thiếu việc làm tăng mạnh, một bộ phận lớn lao động phải chuyểnsang nghề các khác đòi hỏi phải được đào tạo Hơn nữa, số lao động bước
Trang 37vào độ tuổi lao động ở đây đang có xu hướng tăng lên, trong khi trình độvăn hoá thấp, không được đào tạo về tay nghề đang trở thành những bứcxúc đòi hỏi thành phố phải giải quyết Đứng trước tình hình này, thànhphố đã có nhiều giải pháp để tạo việc làm cho người lao động, đặc biệt làlao động ngoại thành như:
- Tiếp tục thực hiện đầy đủ các chính sách bồi thường thiệt hại, hỗ trợ
và tái định cư cho người dân khi nhà nước thu hồi đất bên cạnh đó thườngxuyên rà soát, bổ sung điều chỉnh chính sách cho phù hợp Thành phố cũng
ưu tiên giải quyết việc làm cho những lao động bị thu hồi đất Đối với nhữnglao động lớn tuổi, chính quyền tạo điều kiện hỗ trợ cho vay vốn ưu đãi, tư vấnsản xuất, kinh doanh, hướng dẫn cách thức làm ăn Nhờ vậy, đã có hàng trămlao động nông thôn chuyển đổi ngành nghề thành công
- Cho vay vốn để sản xuất kinh doanh từ nguồn vốn vay của Ngân hàngChính sách xã hội, quỹ Quốc gia giải quyết việc làm Bổ sung nguồn vốn quỹQuốc gia giải quyết việc làm từ ngân sách địa phương đồng thời cho vay ưuđãi theo hướng cấp bù lãi suất để đảm bảo nguồn cho vay chuyển đổi ngànhnghề, tạo việc làm cho đối tượng chịu tác động của quá trình đô thị hoá
- Miễn thuế, giảm thuế sản xuất kinh doanh đối với những hộ nông dânchịu ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá buộc phải chuyển qua sản xuất kinhdoanh ở những ngành nghề khác
- Tăng đầu tư ngân sách và mở rộng hoạt động dạy nghề, đặc biệt tăngchỉ tiêu dạy nghề dài hạn bằng ngân sách để từng bước tăng nhanh đội ngũcông nhân lành nghề cho thành phố, tiếp tục duy trì chỉ tiêu dạy nghề ngắnhạn do ngân sách đài thọ Tổ chức các lớp học nghề miễn phí, có chú trọngđến những đối tượng bị buộc phải chuyển đổi ngành nghề
- Đối với những nông dân không còn đất sản xuất nhưng thật sự không
có điều kiện chuyển đổi nghề, thành phố vận động họ lập trang trại để hình
Trang 38thành vùng chuyên canh sản phẩm nông nghiệp hoặc thuê mặt nước để nuôitrồng thuỷ sản, tự tạo việc làm cho mình và cho người khác Đẩy mạnh hoạtđộng khuyến nông, khuyến ngư, tăng cường chuyển giao kỹ thuật, mở các lớphuấn luyện kỹ thuật, bồi dưỡng và bổ túc nghề cho họ.
- Có văn bản quy định đối với các doanh nghiệp được giao đất tạicác khu công nghiệp trên địa bàn, phải có trách nhiệm tiếp nhận người laođộng trong diện chịu ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá vào làm việc tạidoanh nghiệp
Nhờ đó, Đà Nẵng đã thu được một số kết quả: trong giai đoạn 1997
-2004 đã giải quyết việc làm cho 144.380 lao động, tỷ lệ thất nghiệp giảm còn5,4%, tỷ lệ sử dụng quỹ thời gian lao động ở nông thôn được nâng lên 82%vào cuối năm 2004 Nhìn chung, cơ cấu lao động đã chuyển dịch phù hợp với
cơ cấu phát triển của thành phố theo hướng công nghiệp - du lịch- dịch vụ làmmũi nhọn Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng lên 35%, trong đó lao động quađào tạo nghề đạt 22,5% vào cuối năm 2004 Thành phố đã hình thành được hệthống DVVL bao gồm 5 trung tâm thuộc các đơn vị Nhà nước, Hội, Đoàn thể
và một công ty tư vấn Hàng năm hệ thống này đã tư vấn, giới thiệu, cung ứngcho 12.000 lao động cho các ngành kinh tế [70, tr.13,14]
* Kinh nghiệm của thành phố Vinh tỉnh Nghệ An
Trong quá tình phát triển kinh tế xã hội, thành phố Vinh luôn xác địnhcông tác giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và việc làm chongười lao động ở nông thôn nói riêng là một trong những nội dung quan trọng,góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhânlực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH của đất nước và của địa phương
Để thực hiện mục tiêu đó Sở Lao động Thương binh và Xã hội đã thammưu tập trung xây dựng các chương trình, đề án, chính sách và giải quyết việclàm, được UBND thành phố Vinh phê duyệt và phối hợp chỉ đạo đạt kết quả
Trang 39tốt Từ năm 2005 - 2007, thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hộichuyển dịch cơ cấu kinh tế lồng ghép các chương trình dự án đầu tư, phát triểncác loại hình doanh nghiệp, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, cáclàng nghề, trang trại, các tổng đội thanh niên xung phong xây dựng kinh tế.Thành phố Vinh đã tạo việc làm cho trên 350.000 lao động (trung bình mỗinăm giải quyết việc làm cho 3,6 đến 3,7 vạn người trong đó tạo việc làm mớitập trung cho trên 300.000 lao động) và năng tỉ lệ sử dụng thời gian lao động ởkhu vực nông thôn từ 72,93% năm 2005 lên 77,71% năm 2007 Để đạt kết quả
đó, thành phố Vinh đã thực hiện đồng bộ các chủ trương và biện pháp như sau:
- Công tác giải quyết việc làm đã được toàn tỉnh xác định là một trongnhững nội dung chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đượccác cấp các ngành quan tâm, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc và đạt được sựđồng tình ủng hộ của các tầng lớp nhân dân
- Nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, các cơquan đoàn thể và các tầng lớp nhân dân về lĩnh vực việc làm, dạy nghề và xoáđói giảm nghèo có nhiều chuyển biến sâu sắc phù hợp với cơ chế thị trường
và đáp ứng phần nào yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH quê hương toàn tỉnh
đã quán triệt và thực hiện tốt hơn chủ trương phát triển kinh tế gắn liền vớigiải quyết việc làm, dạy nghề và xóa đói giảm nghèo trước yêu cầu hội nhập
và phát triển kinh tế - xã hội
- Tập trung nghiên cứu, tổng kết thực tiễn các phong trào, xây dựngphát triển các mô hình, cách làm hiệu quả trong công tác giải quyết việc làm;đầu tư, các chủ doanh nghiệp từ trong và ngoài nước đến TP.Vinh; đồng thờixúc tiến đẩy nhanh tiến độ dạy nghề và xuất khẩu lao động, nâng cao chấtlượng đội ngũ cán bộ, công chức trong công tác giải quyết việc làm
- Cụ thể, trong những năm qua TP.Vinh đã thực hiện tốt công tác giảiquyết việc làm cho người lao động nhất là cho người lao động ở nông thôntrong các lĩnh vực sau:
Trang 40Trong nông nghiệp, tỉnh đã tiến hành chuyển dịch cơ cấu cây trồng vậtnuôi, đầu tư thâm canh, phát triển các vùng chuyên canh nguyên vật liệu chocông nghiệp chế biến như: dứa, sắn, mía, chè, công nghiệp, cây ăn quả… Pháttriển các hình thức kinh tế trang trại, tổng đội thanh niên xung phong, kinh tếhợp tác, kinh tế hộ gia đình để thu hút lao động, tạo nhiều việc làm Bên cạnh
đó tỉnh đã đầu tư phát triển nuôi trồng, đánh bắt, chế biến, và xuất khẩu thủyhải sản, dịch vụ, du lịch phát triển vùng kinh tế ven biển giải quyết nhiều việclàm cho người lao động ở khu vực này
Khuyến khích, thu hút đầu tư tạo điều kiện thuận lợi về vốn, địa điểm,thủ tục đăng ký để thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển, có chínhsách khuyến khích, ưu tiên thu hút các doanh nghiệp lớn, có chất lượng caođầu tư vào TP.Vinh Hiện nay tỉnh đã thu hút đầu tư và phát triển trên 2.500doanh nghiệp, tạo việc làm cho gần 50.000 lao động
Trợ giúp về nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm để mở rộng ngành nghề tiểuthủ công nhiệp, phát triển làng nghề, tạo việc làm cho người lao động ở nôngthôn Hiện nay cả tỉnh có trên 160 làng nghề và 22 đơn vị được TP.Vinhquyết định công nhận làng nghề, tạo việc làm cho khoảng 10.000 lao động
Cơ cấu lao động của tỉnh đã chuyển dịch theo hướng giảm lao động ở khu vựcnông thôn, tăng lao động làm việc trong công nghiệp và dịch vụ Năm 2005 tỉ
lệ lao động làm việc trong khu vực nông lâm ngư nghiệp là 73% đến năm
2007 đã giảm xuống còn 60,45%; lao động trong công nghiệp và xây dựng cơbản từ 10% năm 2005 tăng lên 15,5% năm 2007 và lao động trong lĩnh vựcdịch vụ đã tăng tù 16% năm 2005 lên 20,8% năm 2007
Tạo việc làm qua quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm: Bằng nguồn vốnchương trình mục tiêu quốc gia, từ năm 2005 đến năm 2007, mỗi năm tỉnh đãtriển khai trên 140 dự án cho vay giải quyết việc làm đối với số tiền trên 60 tỷđồng, giải quyết việc làm ổn định cho khoảng 100.000 lao động [71, tr.4]