Các số liệu, và kết quả nghiên cứu trong Luận văn Thạc sĩ về “Vai trò nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc - nuôi dưỡng người cao tuổi từ thực tiễn Trung tâm Nuôi dưỡng người già neo
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ KIM CHUNG
VAI TRÒ NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG NGƯỜI CAO TUỔI TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM NUÔI DƯỠNG NGƯỜI GIÀ NEO ĐƠN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS.BÙI THỊ XUÂN MAI
HÀ NỘI– 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Bùi Thị Xuân Mai
Các số liệu, và kết quả nghiên cứu trong Luận văn Thạc sĩ về “Vai trò nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc - nuôi dưỡng người cao tuổi từ thực tiễn Trung tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” trình bày
trong luận văn này được thu thập từ kết quả hoạt động, kết quả điều tra của một số
cơ quan, đơn vị thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Bà Riạ - Vũng Tàu, tháng 3 năm 2017
Tác giả Luận văn
Lê Thị Kim Chung
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC- NUÔI DƯỠNG NGƯỜI CAO TUỔI 10
1.1 Lý luận về người cao tuổi 10
1.2 Lý luận về vai trò nhân viên CTXH trong chăm sóc nuôi dưỡng đối với người cao tuổi 22
1.3 Một yếu tố tác động đến sự thực hiện vai trò nhân viên CTXH trong chăm sóc nuôi dưỡng người cao tuổi 26
1.4 Cơ sở pháp lý về vai trò nhân viên CTXH trong chăm sóc nuôi dưỡng người cao tuổi 29
Chương 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ NHÂN VIÊN CTXH TRONG CHĂM SÓC – NUÔI DƯỠNG NGƯỜI CAO TUỔI TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM NUÔI DƯỠNG NGƯỜI NEO ĐƠN 32
2.1 Khái quát về Trung tâm Nuôi dưỡng người neo đơn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 32 2.2 Khái quát về tình hình người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và thực trạng người cao tuổi tại Trung tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn 37
2.3 Thực trạng vai trò nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc nuôi dưỡng người cao tuổi tại Trung tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn 44
2.4 Thực trạng các yếu tố tác động đến sự thực hiện vai trò nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc – nuôi dưỡng người cao tuổi tại Trung tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn 56
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VAI TRÒ NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG NGƯỜI CAO TUỔI TỪ THỰC TIỂN TRUNG TÂM NUÔI DƯỠNG NGƯỜI GIÀ NEO ĐƠN TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU 63
3.1 Định hướng phát triển về nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc người cao tuổi gắn với vai trò nhân viên công tác xã hội 63
3.2 Một số giải pháp nâng cao nâng lực cho nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc nuôi dưỡng người cao tuổi 64
3.3 Khuyến nghị 70
KẾT LUẬN 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75 PHỤ LỤC
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, người cao tuổi (NCT) trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đang có xu hướng tăng nhanh Trong các vấn đề của NCT thì vấn đề chăm sóc nuôi nưỡng của người cao NCT là một vấn đề đáng quan tâm Chăm sóc nuôi dưỡng NCT ở nước ta hiện nay nó vừa mang ý nghĩa kinh tế chính trị, xã hội mà còn mang ý nghĩa nhân văn, nhân đạo sâu sắc NCT là một kho tàng kiến thức, kinh nghiệm sống NCT góp phần quan trọng trong việc khuyên dạy con cháu, dòng họ, giúp nhiều người áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm vào sản xuất, kinh doanh, giáo dục, nâng cao chất lượng cuộc sống cho đất nước Do vậy, họ cần phải được tôn trọng và ứng xử thích hợp, thể hiện truyền thống nhân ái và thủy chung mà nền văn hóa Việt Nam luôn luôn đề cao Tôn trọng và chăm sóc NCT cũng có nghĩa là tạo điều kiện cho họ có thể tiếp tục phát huy những kinh nghiệm sống mà họ tích lũy được góp phần xây dựng xã hội mới trong những hoàn cảnh thích hợp Nhằm giải quyết vấn đề sức khoẻ của NCT hiện nay, Việt Nam nói chung và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nói riêng cần phải có những hình thức chăm sóc nuôi dưỡng NCT phù hợp, khoa học nhằm tạo ổn định cuộc sống của NCT giúp họ
hưởng trọn niềm vui tuổi già và đóng góp cho xã hội một các phù hợp
Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách đối với NCT và coi đây là một chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước, được thể hiện thông qua các Văn kiện đại hội đảng và các Chỉ thị như: Chỉ thị 59/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương
“Về chăm sóc người cao tuổi”, quy định: “Việc chăm sóc đời sống vật chất và tinh
thần của người cao tuổi là trách nhiệm của Đảng, nhà nước và toàn xã hội Trước hết cần quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng những người cao tuổi có công, cô đơn không nơi nương tựa, tàn tật và bất hạnh”; Báo cáo chính trị tại Đại hội XI của Đảng cũng đã nêu: “Quan tâm chăm sóc sức khoẻ, tạo điều kiện để người cao tuổi hưởng thụ văn hoá, được tiếp cận thông tin, sống vui, sống khoẻ, sống hạnh phúc… giúp đỡ người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa”
Trang 6Già hóa dân số đang là xu hướng của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt nam Theo Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc tổng số người già từ 60 tuổi trở lên sẽ tăng nhanh từ 214 triệu người vào năm 1950 lên 400 triệu người vào năm 1982, khoảng 600 triệu người vào năm 2001 và khoảng 1,2 tỉ người vào năm 2025 Số người 80 tuổi trở lên sẽ tăng từ 13 triệu người năm 1950 lên 50 triệu người vào
1995 và sẽ tăng lên 137 triệu người vào năm 2025 Tỉ lệ người cao tuổi trên thế giới
sẽ tăng liên tục từ 8% dân số năm 1950 lên 10% vào năm 2000 và gần 20% vào năm 2050 Ở Việt Nam dự báo đến năm 2025 sẽ có trên 10 triệu người cao tuổi chiếm tỉ lệ 15% dân số trên cả nước
Đối với tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, theo báo cáo của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội (2015), toàn tỉnh có 78.135 NCT (chiếm 7,1% tổng dân số) Trong tổng số NCT có: 35.941 NCT đang hưởng trợ cấp ưu đãi người có công, trợ cấp xã hội, lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội Như vậy, còn 42.194 NCT (chiếm 54% tổng số người cao tuổi) trên địa bàn tỉnh đang sống bằng sự nỗ lực của bản thân, gia đình
Mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách với NCT, đặc biệt quan tâm chăm sóc NCT là người có công với nước, NCT không nơi nương tựa Tuy nhiên, các chính sách hỗ trợ chủ yếu là trợ giúp xã hội trực tiếp bằng nguồn lực tài chính đối với NCT có hoàn cảnh khó khăn, trong khi hiện nay nhu cầu, đối tượng NCT cần trợ giúp đa dạng Với hình thức trợ giúp truyền thống không mang tính hiệu quả bền vững, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của NCT
Nghề công tác xã hội tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đang trong giai đoạn hình thành, kinh nghiệm về vai trò nhân viên CTXH trong chăm sóc nuôi dưỡng NCT chưa có và những hạn chế về ý thức, nhận thức của xã hội…Từ những khó khăn chung nêu trên, vai trò nhân viên công tác xã hội đối với NCT trên địa bàn Tỉnh đã được quan tâm chưa, thực trạng vai trò nhân viên công tác xã hội trong CSND NCT tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu như thế nào? Để trả lời câu hỏi này cần phải làm rõ đặc điểm, nhu cầu của NCT, nghiên cứu đánh giá thực trạng vai trò nhân viên công tác xã hội đối với NCT trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Do đó, tác giả chọn đề
Trang 7tài “Vai trò nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc nuôi dưỡng người cao tuổi
từ thực tiễn Trung tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu”
làm đề tài nghiên cứu Luận văn sẽ nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng vai trò nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc nuôi dưỡng NCT hiện nay và đưa ra một
số giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện tốt vai trò NV.CTXH đối với NCT tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong giai đoạn hiện nay và trong những năm tới
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước những thách thức của vấn đề già hóa dân số cho việc phát triển kinh
tế - xã hội và an sinh xã hội, các nghiên cứu dân số NCT đã được tiến hành từ những năm 50 của thế kỷ XX tại các quốc gia phát triển, đã chuyển sang giai đoạn
“Già hóa dân số” Nhiều viện nghiên cứu và các tổ chức xã hội đã nghiên cứu NCT trên nhiều phương diện, đặc biệt là những đặc điểm tâm lý và sinh lý của lứa tuổi Các tài liệu, bài viết và các công trình nghiên cứu về NCT nhằm mục đích là chăm sóc NCT nói chung và chăm sóc sức khoẻ NCT nói riêng [11.tr 02]
Nghiên cứu “Hoàn cảnh của người cao tuổi nghèo ở Việt Nam” năm 2001:
do Help Age International phối hợp với Hội người cao tuổi Việt Nam, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Viện Xã hội học
và Trung tâm nghiên cứu Hỗ trợ người cao tuổi thực hiện Nghiên cứu được tiến hành tại 1 thôn tại 5 tỉnh/thành phố: thành phố Hồ Chí Minh, Lào Cai, Sóc Trăng, Ninh Thuận và Phú Yên Nghiên cứu tập trung vào chủ đề: Định nghĩa về tuổi già
và thái độ của xã hội đối với người cao tuổi; các phương kế mưa sinh và đóng góp của người cao tuổi; khó khăn và mối quan tâm chủ yếu của người cao tuổi, hệ thống hỗ trợ người cao tuổi [13]
Nghiên cứu “Nghiên cứu một số đặc trưng của người cao tuổi và đánh giá
mô hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đang áp dụng” năm 2005 của Ủy ban Dân số - Gia đình - Trẻ em Nghiên cứu tập trung vào các chủ đề: Hệ thống hoá tình hình chung về người cao tuổi trong và ngoài nước, đánh giá thực trạng về người cao tuổi ở Việt Nam; tổng kết, đánh giá kinh nghiệm từ một số mô hình
Trang 8pháp về chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi tại cộng đồng Nghiên cứu được tiến hành điều tra thực địa tại 2 huyện của tỉnh Thái Bình Mỗi huyện, thị chọn 2 xã, phường hoặc thị trấn để bổ trợ cho kết quả xử lý số liệu thứ cấp thuộc phạm vi điều tra cơ bản của Hội người cao tuổi tiến hành [28]
Nghiên cứu “Khảo sát thu thập xử lý thông tin về người cao tuổi” năm 2007
do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam thực hiện Nghiên cứu được tiến hành tại 8 tỉnh thuộc 8 vùng địa lý Nghiên cứu tập trung vào chủ đề: Đánh giá thực trạng vị thế và đời sống người cao tuổi ở Việt Nam; đánh giá thực trạng việc thực hiện các chương trình/chính sách về người cao tuổi Trên cơ đó đề xuất một số giải pháp về chính sách nhằm phát huy vai trò và nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi [3]
Các nghiên cứu điều tra về thực trạng người cao tuổi Việt Nam (2004), người cao tuổi từ 80 tuổi (2009) do Viện nghiên cứu người cao tuổi Việt Nam thực hiện Các nghiên cứu, điều tra cơ bản nhằm phân tích kết quả thực trạng người cao tuổi Việt Nam đưa ra các kiến nghị nhằm phát huy tài năng, trí tuệ trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Gần đây nhất là nghiên cứu “Nghiên cứu, điều tra cơ bản thực trạng sức khỏe, bệnh tật của người cao tuổi Việt Nam” năm 2009 do Viện nghiên cứu người cao tuổi Việt Nam thực hiện Nghiên cứu được tiến hành 2 huyện thị tại mỗi tỉnh: Sơn La, Quảng Nam, Đồng Nai, Cần Thơ, Đắk Nông và Ninh Bình Nghiên cứu tập trung vào mục tiêu tổng quan sức khỏe và bệnh tật của người cao tuổi, thực trạng sức khỏe của người cao tuổi Trên cơ sở đó đưa ra các khuyến nghị về chính sách [31]
Các Hội thảo về thách thức già hóa dân số, tổng kết các mô hình chăm sóc NCT và chăm sóc NCT tại cộng đồng do các cơ quan Bộ ngành tổ chức hàng năm
Đề tài “Hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi tại địa bàn thành phố Quy Nhơn” năm 2011 của tác giả Nguyễn Quỳnh Anh tìm hiểu về các đặc trưng của hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi (sức khỏe, y tế, tinh thần, vật chất), những yếu tố văn hóa – xã hội của người cao tuổi và làm rõ việc hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi thông qua sự trợ giúp về chăm sóc sức khỏe, trò chuyện, sinh hoạt hàng ngày
Trang 9cao tuổi, đề tài đưa ra các giải pháp và định hướng đối với việc hỗ trợ xã hội cho người cao tuổi Đề tài tiến hành nghiên cứu quá trình sống của 130 người cao tuổi
ở 3 khu vực (khu vực 1, 3, 8) của phường Nguyễn Văn Cừ, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định [1]
Đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi Việt Nam” của tác giả Phạm Vũ Hoàng năm 2013, nghiên cứu chung ở tầm vĩ mô trên phạm vi cả nước về chăm sóc người cao tuổi, tác giả lựa chọn Trung tâm chăm sóc sức khỏe NCT Thiên Đức tại huyện Từ Liêm, Hà Nội để đánh giá chất lượng chăm sóc NCT Đề tài nghiên cứu đánh giá về thực trạng chăm sóc, chất lượng chăm sóc NCT và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc NCT, nghiên cứu phát hiện các nguyên nhân dẫn tới các hạn chế trong chất lượng chăm sóc NCT Trên cơ sở đó đề tài đưa ra một số định hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc NCT Việt Nam [16]
Tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2014) trong nghiên cứu về phát triển mạng lưới dịch vụ công tác xã hội tại Việt Nam dành cho đối tượng dễ bị tổn thương trong
đó có NCT đã chỉ ra, đại đa số NCT có hoàn cảnh khó khăn được chăm sóc trong
cơ sở nuôi dưỡng cũng như ở cộng đồng còn gặp nhiều khó khăn Nhóm NCT có nhiều nhu cầu chưa được đáp ứng như mong muốn Một trong những lý do đó là
sự hạn chế về hệ thống dịch vụ công tác xã hội trong cộng đồng hay trình độ chuyên môn của cán bộ tham gia chăm sóc NCT
Có thể thấy, rất nhiều các nghiên cứu về NCT thời gian trước và gần đây mới chỉ thu thập thông tin về NCT, các nghiên cứu tập trung vào một số đặc thù
về người cao tuổi hoặc nghiên cứu người cao tuổi ở một số địa bàn đặc thù nhằm đưa ra thực trạng về NCT, chất lượng chăm sóc NCT và khuyến nghị về chăm sóc NCT, nâng cao chất lượng chăm sóc NCT Các nghiên cứu trên chỉ nghiên cứu về NCT ở góc độ khác nhau nhưng chưa có nghiên cứu về “Vai trò nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc – nuôi dưỡng người cao tuổi” ở Việt nam nói chung và
ở tỉnh bà Rịa – Vũng tàu nói riêng
Trang 10Vì vậy, việc nghiên cứu vai trò nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc nuôi dưỡng NCT tuổi từ thực tiễn Trung tâm nuôi dưỡng người già neo đơn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có giá trị tham khảo đối với cơ quan, tổ chức hữu quan tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và phát triển nghề công tác
xã hội nói chung, công tác xã hội đối với NCT nói riêng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận về NCT, vai trò NVCTXH đối với người cao tuổi và đánh giá thực trạng vai trò nhân viên CTXH trong chăm sóc nuôi dưỡng NCT tại Trung tâm
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những lý luận về vai trò NVCTXH trong chăm sóc nuôi dưỡng NCT
- Đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng tới vai trò NVCTXH trong chăm sóc nuôi dưỡng NCT tại Trung tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện tốt vai trò NVCTXH trong chăm sóc nuôi dưỡng NCT tại Trung tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Vai trò nhân viên Công tác xã hội trong chăm sóc NCT từ thực tiễn Trung
tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Nhân viên CTXH thực hiện vai trò trong chăm sóc
nuôi dưỡng người cao tuổi có nhiều vai trò, tuy nhiên trong phạm vi đề tài này tác
giả chỉ tập trung nghiên cứu một số vai trò cơ bản saun vai trò người tham vấn; vai
Trang 11trò người điều phối – vai trò kết nối dịch vụ; vai trò người giáo dục; vai trò người biện hộ; vai trò người quản lý trường hợp
- Phạm vi về khách thể: nghiên cứu trên 45 người cao tuổi đang được chăm
sóc tại trung tâm còn khả năng giao tiếp và 32 cán bộ lãnh đạo, nhân viên đang làm việc tại Trung tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
- Phạm vi về thời gian: nghiên cứu thực trạng vấn đề từ 2012 đến nay
- Phạm vi về không gian: nghiên cứu tại Trung tâm Nuôi dưỡng người già
neo đơn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
- Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: từ những đánh giá thực trạng về đời sống của NCT, thực trạng vai trò NVCTXH trong chăm sóc nuôi dưỡng NCT trên địa bàn rút ra những lý luận và đưa ra được những đề xuất về biện pháp nâng cao hiệu quả vai trò NVCTXH trong chăm sóc nuôi dưỡng NCT trên địa bàn Tỉnh
- Nghiên cứu vấn đề mang tính hệ thống: nghiên cứu các vấn đề trong mối quan hệ trong các hệ thống có liên quan trực tiếp đến đề tài như: lương, chính sách
về cơ chế
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Các phương pháp thu thập thông tin
Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như sau:
* Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu
Thông tin được thu thập từ các nguồn như: báo cáo, các văn bản sách báo, các kết quả nghiên cứu có liên quan
* Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi : Tiến hành điều tra bằng bảng hỏi 32 nhân viên và 45 NCT hiện đang sống tại Trung tâm nuôi dưỡng người già neo đơn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Với phương pháp này, nhằm mục đích để tìm hiểu, thu
Trang 12thập thông tin chung về thực trạng đời sống của NCT, thực trạng thực hiện các vai trò trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng NCT
* Phương pháp phỏng vấn sâu
Bổ sung thêm những thông tin không có được từ phương pháp bảng hỏi gồm:
05 đối tượng, 01 lãnh đạo và 05 nhân viên tại Trung tâm
5.2.2 Các phương pháp xử lý thông tin:
* Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý, phân tích bảng hỏi; trích dẫn nội dung
phỏng vấn sâu qua băng ghi âm, biên bản ghi chép theo chủ đề phân tích
* Các phương pháp xử lý thông tin:
Tổng hợp thống kê các nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu) được quan sát, các nghiên cứu tài liệu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận của luận văn
Những thông tin thu thập được từ luận văn sẽ góp phần làm phong phú thêm
hệ thống cơ sở dữ liệu cho việc phân tích lý luận về vai trò NVCTXH trong chăm sóc nuôi dưỡng NCT nói riêng và lý luận về công tác xã hội trong chăm sóc nuôi dưỡng NCT nói chung Đồng thời kết quả nghiên cứu của luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu đào tạo và hoạch định chính sách liên quan đến vai trò nhân viên CTXH trong chăm sóc nuôi dưỡng NCT sau này
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Từ những kết quả nghiên cứu thực tế, tác giả nghiên cứu đề tài sẽ phát hiện
ra được những đểm mạnh, điểm yếu đạt được trong nghiên cứu thực trạng công tác
Trang 13Giúp cho các nhân viên làm công tác với NCT có những biện pháp thiết thực thúc đẩy công tác chăm sóc nuôi dưỡng NCT ngày càng tốt hơn Đề xuất vai trò NVCTXH trong việc trợ giúp NCT và kiến nghị cho Ban Lãnh đạo Trung tâm, lãnh đạo các cấp nhằm thực hiện tốt hơn công tác chăm sóc nuôi dưỡng NCT tại đơn vị
Thông qua các vai trò, hoạt động của NVCTXH đang được thực hiện dưới sự lãnh đạo chỉ đạo của Ban Giám đốc, các trưởng phòng nghiệm vụ và các tổ chức đoàn thể trong việc chăm sóc dưỡng NCT tác giả mong muốn giúp những NVCTXH hiểu và thực hiện được các vai trò của mình khi làm việc với NCT để đạt được kết quả
- Nghiên cứu này làm cơ sở để đánh giá hệu quả về vai trò của NVCTXH trong CSND NCT tại Trung tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn nhằm bổ sung thêm tài liệu tham khảo về ngành CTXH trong CSND NCT cho các tổ chức, cá nhân hoạt động và quan tâm
Trong quá trình thực hiện đề tài góp phần tích lũy kinh nghiệm cho bản thân, giúp bản thân nâng cao một số kỹ năng phương pháp của nhân viên CTXH
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về vai trò nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc
nuôi dưỡng người cao tuổi
Chương 2: Thực trạng vai trò nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc nuôi
dưỡng người cao tuổi tại trung tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao vai trò nhân viên công tác xã
hội trong chăm sóc nuôi dưỡng người cao tuổi tại Trung tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG NGƯỜI CAO TUỔI
1.1 Một số lý luận về người cao tuổi
1.1.1 Khái niệm người cao tuổi
Người cao tuổi hay còn gọi là người già/người cao niên là người thuộc một
bộ phận dân cư sống qua một độ tuổi nhất định, độ tuổi này được pháp luật của từng nước quy định Tại Việt Nam, Luật người cao tuổi (Luật số 39/2009/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 23/11/2009 có hiệu lực ngày 01/7/2010) quy định “Người cao tuổi là công
dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 60 tuổi trở lên” [04, tr.01]
Theo quan điểm y học: NCT là người ở giai đoạn già hóa gắn liền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể [08, tr.08]
Một số nước phát triển quy định người cao tuổi là những người từ 65 tuổi trở lên Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do sự khác nhau về lứa tuổi có các biểu hiện về già của người dân ở các nước đó khác nhau Những nước có hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân cũng được nâng cao
Do đó, các biểu hiện của tuổi già thường đến muộn hơn Vì vậy, quy định về tuổi của các nước đó cũng khác nhau [08, tr08]
Khái niệm NCT được sử dụng thay cho người già vì thực tế nhiều người từ
60 tuổi trở lên, vẫn còn hoạt động, vì vậy cụm từ "người cao tuổi" bao hàm sự kính trọng, động viên hơn so với cụm từ "người già" Trong những năm gần đây khái niệm NCT được sử dụng phổ biến ở Việt Nam
Như vậy chúng ta có thể hiểu khái niệm về NCT theo quan điểm của Công
tác xã hội như sau: “Người cao tuổi là người từ 60 tuổi trở lên là một trong nhóm
đối tượng yếu thế, đối tượng cần sự trợ giúp do sự thay đổi về tuổi tác làm NCT
Trang 15thay đổi về tâm sinh lý, lao động – thu nhập, quan hệ xã hội khiến NCT sẽ gặp nhiều khó khăn, vấn đề trong cuộc sống”
1.1.2 Đặc điểm và nhu cầu của người cao tuổi
* Đặc điểm về sức khỏe thể chất
Sức khỏe là rất quan trọng với mọi người nhất là đối với NCT Cùng với tuổi đời tăng cao, các chứng bệnh như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, thoái hóa xương khớp, giảm tưới máu não mạn tính thường diễn ra khá phổ biến Khoảng 3/4 số người 80 tuổi có ít nhất một bệnh mạn tính Về mặt lão hóa của hệ thần kinh, thường thấy giảm khứu giác, thị giác, thính giác và vị giác Một số trường hợp bị rối loạn tiểu tiện và có khi nhất thời kết hợp với rối loạn đại tiện Thói quen dùng bia rượu, thuốc lào thuốc lá… hoặc giữ chế độ ăn chay, kiêng khem… cũng đều có ảnh hưởng nhất định đến toàn trạng ở một số cá thể đối tượng Ngoài ra các hoạt động trong đời sống hàng ngày như tập luyện, lao động chân tay hay trí óc, giải trí, nghỉ ngơi, giấc ngủ đều là những yếu tố liên quan đến sức khỏe
cá nhân
Bên cạnh đó NCT có tâm lý giấu bệnh tật và các vấn đề sức khỏe của mình
do đó cần phải quan tâm thường xuyên, liên tục để có sự hỗ trợ phát hiện và điều trị bệnh kịp thời cho người cao tuổi Nhận thức và kỹ năng chăm sóc sức khỏe của NCT và gia đình còn nhiều hạn chế nhất là ở nông thôn Do đó NCT cần được khám sức khỏe định kỳ để xác định các yếu tố nguy cơ, phòng tránh và phát hiện sớm bệnh tật để chữa trị kịp thời Nhiều loại bệnh như tăng huyết áp, tiểu đường, tim mạch, ung thư, nếu được điều trị kịp thời sẽ đem lại hiệu quả rất tốt, ngăn ngừa biến chứng Tuy nhiên, nhiều lý do khác nhau (từ ý thức về bảo vệ sức khỏe đến những lo lắng phát sinh khi được biết về bệnh tật, từ khó khăn trong tiếp cận cơ sở y
tế đến chi phí cho khám chữa bệnh, từ lo ngại về chất lượng dịch vụ y tế đến hiệu quả điều trị, ) làm cho việc khám chữa bệnh kịp thời đối với NCT vẫn còn hạn chế Ngay cả với những người thường xuyên đau ốm, bệnh tật thì việc khám chữa bệnh của họ cũng có những trở ngại Theo Báo cáo tổng quan về chính sách chăm sóc người già thích ứng với thay đổi cơ cấu tuổi tại Việt Nam, UNFPA, Hà Nội, có tới
Trang 1695% NCT có nhu cầu chữa bệnh, nhưng chưa hoàn toàn được đáp ứng Điều tra của Bệnh viện Lão khoa trung ương năm 2009 tại Hà Nội, Thừa Thiên - Huế và Bà Rịa
- Vũng Tàu chỉ ra rằng có 75,8% NCT cho rằng, họ cần được khám chữa bệnh tốt hơn so với hiện tại Lý do khiến họ không được khám chữa bệnh là không đủ khả năng kinh tế, điều kiện đi lại khó khăn và điều kiện y tế địa phương không đáp ứng được Do đó vấn đề sức khỏe là vấn đề quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của người cao tuổi Khi có sức khỏe tốt, NCT sẽ có điều kiện tốt hơn trong các hoạt động vui chơi – giải trí, các hoạt động xã hội tại địa phương
* Đặc điểm về tâm lý xã hội
Đặc điểm tâm lý nổi bật của NCT là nuối tiếc tuổi trẻ, hay hoài cổ Họ thường nhắc đến quá khứ nhiều hơn hiện tại, rất tự hào về kinh nghiệm sống đã qua của mình Họ nhạy bén với cái mới, cái hiện đại, với sự biến động của lịch sử các sự kiện diễn ra hàng ngày Nhiều cán bộ viên chức sau khi về nghỉ hưu, từ chỗ hết sức bận rộn với công việc nay lại rỗi rãi, không có việc gì làm, bị hụt hẫng, đồng thời lại thấy mình mất vị trí, quyền lực trong xã hội Họ cảm thấy không còn được kính nể, trọng vọng như trước đây, từ đó nảy sinh stress tâm lý Cùng với sự suy giảm về sức khoẻ, NCT suy nghĩ mình trở thành người thừa đối với gia đình và xã hội, mình không còn vai trò hữu ích nữa, không ai cần mình nữa Vì vậy họ cảm thấy bị bỏ rơi, cô đơn, nên sinh tủi phận, buồn bã
Để giải tỏa những ưu phiền thường nhật trong cuộc sống hiện tại, người cao tuổi thường thích hội họp, tìm lại bạn cũ, cảnh xưa, tham gia hội ái hữu, hội cựu chiến binh Họ thích ôn lại chuyện cũ, viết hồi ký, tái hiện kinh nghiệm sống cũng như hướng về cội nguồn: Viếng mộ tổ tiên, sưu tầm cổ vật…
Khi về già người cao tuổi phải đối mặt với bước ngoặt lớn lao về lao động và nghề nghiệp Đó là chuyển từ trạng thái lao động (bận rộn với công việc, bạn bè) sang trạng thái nghỉ ngơi, chuyển từ trạng thái tích cực khẩn trương sang trạng thái tiêu cực xả hơi Do vậy người cao tuổi sẽ phải tìm cách thích nghi với cuộc sống mới Người ta dễ gặp phải “hội chứng về hưu”
Những biểu hiện tâm lý khác có thể tấy ở NCT như sau:
Trang 17Cảm giác cô đơn và mong được quan tâm chăm sóc nhiều hơn: Con cháu
thường bận rộn với cuộc sống Điều này làm cho người cao tuổi cảm thấy mình bị lãng quên, bị bỏ rơi Họ rất muốn tuổi già của mình vui vẻ bên con cháu, muốn được người khác coi mình không là người vô dụng Họ rất muốn được nhiều người quan tâm, lo lắng cho mình và ngược lại Họ sợ sự cô đơn, sợ phải ở nhà một mình
- Cảm nhận sự bất lực và tủi thân: Đa số người cao tuổi nếu còn sức khỏe
vẫn còn có thể giúp con cháu một vài việc vặt trong nhà, tự đi lại phục vụ mình, hoặc có thể tham gia được các sinh hoạt giải trí, cộng đồng Nhưng cũng có một số người cao tuổi do tuổi tác đã cao, sức khỏe giảm sút nên sinh hoạt phần lớn phụ thuộc vào con cháu Do vậy dễ nảy sinh tâm trạng chản nản, buồn phiền, hay tự dằn vặt mình Người cao tuổi mà tuổi càng cao thì sức khỏe lại càng giảm sút, đi lại chậm chạp, không còn khả năng lao động, quan niệm sống khác với thế hệ sau nên chỉ một thái độ hay một câu nói thiếu tế nhị có thể làm cho họ tự ái, tủi thân cho rằng mình già rồi nên bị con cháu coi thường
- NCT thường nói nhiều hoặc trầm cảm: Vì muốn truyền đạt kinh nghiệm sống cho con cháu, muốn con cháu sống theo khuôn phép đạo đức thế hệ mình nên
họ hay bắt lỗi, nói nhiều và có khi còn làm cho người khác khó chịu Với một bộ phận người cao tuổi bảo thủ và khó thích ứng với sự thay đổi, cộng với sự giảm sút của sức khỏe, khả năng thực hiện công việc hạn chế, nếu thời trẻ có những ước mơ không thực hiện được, hoặc không thỏa đáng, không hài lòng có thể xuất hiện triệu chứng của bệnh trầm cảm Họ trở thành những người trái tính, hay ghen tỵ, can thiệp sâu vào cuộc sống riêng tư của con cháu vì họ cho rằng mình có quyền đó
+ Sợ phải đối mặt với cái chết: Sinh – tử là quy luật của tự nhiên, dù vậy người cao tuổi vẫn sợ phải đối mặt với cái chết Cũng có những trường hợp các cụ bàn việc hậu sự cho mình, viết di chúc cho con cháu có những cụ không chấp nhận, lảng tránh điều đó và sợ chết
Tóm lại Chăm sóc sức khỏe nói chung và vấn đề về tâm lý tâm lý người cao tuổi nói riêng là vấn đề tế nhị, khéo léo, phức tạp để giữ cho tâm các cụ lúc nào cũng lạc quan yêu đời và có cái nhìn về cuộc sống nhân văn hơn, vị tha hơn giữ cho
Trang 18sức khỏe cả tâm lẫn thể đều tốt: "Một tâm hồn minh mẫn trên cơ thể khỏe mạnh ", để các cụ lúc nào cũng nghĩ mình khỏe để các cụ sống thọ hơn với con cháu
* Nhu cầu của người cao tuổi
Sơ đồ 1.1 Tháp bậc thang nhu cầu của Maslow
(Nguồn:Abraham Maslow, Abraham Maslow's hierarchy of needsMotivational Model)
Cấu trúc của tháp nhu cầu có 5 tầng, những nhu cầu của con người được liệt
kê theo một trật tự thứ bậc hình tháp kiểu kim tự tháp
- Tầng 1: Nhu cầu cơ bản thuộc về thể chất và tâm lý như thức ăn, nước uống, bài tiết, hơi thở, thể dục, nghỉ ngơi
- Tầng 2: Khi Nhu cầu cơ bản thuộc về thể chất và tâm lý được đảm bảo thì
sẽ nãy sinh ra các nhu cầu được an toàn, được cảm giác yên tâm, được đảm bảo an toàn về thân thể, việc làm, gia đình, sưc khỏe, tài sản
- Tầng 3: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc, muốn được trong một nhóm cộng đồng, muốn được gia đình êm ấm, bạn bè thân hữu tin cậy
Trang 19Tầng 4: Nhu cầu được người khác tôn trọng, kính mến thông qua các thành quả, thành công của bản thân và nhu cầu cảm nhận quý trọng bản thân, tự trọng và
sự tự tin
- Tầng 5: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân, muốn được sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt
Qua 05 nhu cầu trên của Maslow’s, nhu cầu về thể chất và sinh lý cho thấy NCT họ rất cần bổ sung các chất dinh dưỡng cho bữa ăn hàng ngày, do đó phải có chế độ ăn uống phù hợp với từng lứa tuổi và tình trạng sức khỏe của NCT nhằm hạn chế các bệnh tật tuổi già, bên cạnh đó vấn đề sinh lý đối với NCT thì họ cũng có nhu cầu về sinh lý, biết yêu thương, hờn dỗi…nên NCT cũng rất cần có sự quan hệ với những người xung quanh, thể hiện tình cảm với các bạn già của mình Đối với nhu cầu được an toàn thì NCT họ rất cần được bảo vệ, yêu thương, chăm sóc Vì NCT càng về già họ thường thấy cô đơn, trống vắng nên họ cần được con cháu và mọi người xung quanh bảo vệ, quan tâm đến họ để họ được an toàn hơn trong cuộc sống, họ có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ nhiều hơn, vì giai đoạn này ở người cao tuổi
có sự xuống sức nhanh và đột ngột Trên thực tế, người cao tuổi có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ nhiều hơn, vì giai đoạn này ở người cao tuổi có sự xuống sức nhanh và đột ngột Họ rất cần được khám, chữa bệnh để phát hiện bệnh tật và tạo tâm lý ổn định Tuy nhiên không phải người cao tuổi nào cũng có kinh tế để thường xuyên đi khám sức khoẻ định kỳ Phần lớn, trong số họ, đều trông chờ vào con cái và các nhà hảo tâm Nhiều người cao tuổi không có tiền để trang trải cuộc sống nên càng không thể đi khám, chữa bệnh, từ đó nhiều trường hợp người cao tuổi chấp nhận sống chung với bệnh Do đó họ rất cần được khám, chữa bệnh để phát hiện bệnh tật
và tạo tâm lý ổn định
Tất cả người cao tuổi, dù ở Việt Nam hay ở trên thế giới, đều giống nhau, họ cần sự cảm thông và chia sẻ của xã hội, đặc biệt là của những người thân trong gia đình Hơn nữa, người cao tuổi rất hay tủi thân vì họ cho rằng mình gánh nặng cho
xã hội nên chỉ cần một hành động nhỏ cũng có thể làm người già tổn thương
Trang 20Nhu cầu được quý trọng và kính mến Đây là nhu cầu mà NCT rất quan tâm
Vì về già mọi thứ đều thay đổi, nhất là vấn đề tâm lý Vì thế nên người cao tuổi càng cần sự quan tâm đặc biệt từ những người thân trong gia đình trong đó việc dành tình yêu thương và sự kính trọng được xem như liều thuốc tốt nhất Việc quan tâm chăm sóc NCT phải làm như một hệ thống Ngay trong gia đình, con cái cần gần gũi và nói chuyện nhiều hơn với bố mẹ, chúng ta có thể đi ăn uống, giao lưu với bạn bè thì cũng có thể dành ra vài phút để nói chuyện với bố mẹ, ông bà Con cái không nên coi những người già là người vô dụng, vì ai trong chúng ta cũng phải già đó là quy luật của cuộc sống Những người thân trong gia đình nên gần gũi nhau nhiều hơn để tạo sự gắn kết chặt chẽ Ngoài tình yêu thương thì cần phải hiếu kính với cha mẹ Khi tạo được sự gắn kết và chia sẻ với những NCT đồng nghĩa với việc các cụ sẽ phấn chấn, sức khoẻ cũng tốt lên và có thể tự chăm lo được cho bản thân, con cái cũng yên tâm công tác Nên tôn trọng nếp sống của người già, người già sức khoẻ suy kiệt nhiều cụ bị nhiều bệnh nặng, bệnh mãn tính Tính nết cũng không còn được như thời trẻ nên những gia đình có NCT bị bệnh nhất là bị bệnh về thần kinh rất cần được chăm sóc đặc biệt và phải thông cảm, động viên Việc bệnh nặng hơn hay nhanh khỏi phần nhiều ở tâm lý người cao tuổi Nếu các cụ được sống trong tình yêu, sự kính trọng của người thân trong gia đình thì các cụ sẽ bớt đi tâm
lý mình là gánh nặng của con cái và có nghị lực để vượt qua bệnh tật nhiều hơn, bác
sĩ An khẳng định
Nhu cầu được thể hiện bản thân, với NCT thì nhu cầu giao lưu ngày nhiều hơn Vì càng viề già họ càng thấy cô đơn, con cháu xa lánh không được đi đâu, bà cảm thấy rất buồn chán tù túng, NCT cũng rất thích tham gia các câu lạc bộ dành cho người già, có thế chúng tôi mới vui và quên đi bệnh tật Ngoài việc được chăm sóc về thể chất, đời sống tinh thần của NCT phong phú sẽ tăng cường sức khoẻ, tuổi thọ cũng tăng
Thông qua thuyết nhu cầu của Maslow, các hoạt động cung cấp dịch vụ CTXH cho NCT được khái quát và tổng hợp tương tự như các bậc thang trên, đó là dịch vụ về sức khỏe, vật chất, tinh thần và phát huy vai trò của NCT Chất lượng
Trang 21dịch vụ cho NCT cũng phát triển để đáp ứng các nhu cầu từ thấp đến cao và ngày càng phát triển của NCT Khi nền kinh tế còn kém phat triển thì việc đáp ứng nhu cầu của NCT chỉ dừng lại ở cơm ăn, áo mặc, lao động kiếm sống và quan hệ chan hòa, vui vẻ với bạn bè và cộng đống Khi điều kiện kinh tế khá lên, đòi hỏi việc chăm sóc – nuôi dưỡng NCT đáp ứng nhu cầu lớn hơn về giao tiếp, giải trí, tham quan du lịch, giúp đỡ mọi người trong cộng đồng thông qua công tác xã hội [26,tr.19]
1.1.3 Tầm quan trọng của việc chăm sóc – nuôi dưỡng người cao tuổi
NCT ngày càng khẳng định là lớp người có uy tín và vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội, là người có công sinh thành, nuôi dạy con cháu, hình thành nhân cách, phát triển giống nòi, giáo dục lý tưởng và truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc cho thế hệ trẻ, tiếp tục cống hiến công sức, trí tuệ cho sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và giữ vững an ninh trật tự của quê hương, đất nước Vì thế, người cao tuổi ngày càng được xã hội tôn vinh, kính trọng
Việc chăm sóc – nuôi dưỡng NCT là nghĩa vụ và trách nhiệm của các cấp, các ngành, địa phương, gia đình và xã hội, làm chuyển biến về nhận thức, nâng cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân trong chăm sóc, phụng dưỡng người cao tuổi Kịp thời cổ vũ động viên các tập thể, cá nhân có nhiều đóng góp cho sự nghiệp chăm sóc, phụng dưỡng và phát huy vai trò của NCT
1.1.4 Một số lý luận về công tác xã hội
1.1.4.1 Khái niệm CTXH
Có nhiều khái niệm khác nhau về công tác xã hội như :
Theo Zastrow (1996) : CTXH là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ
Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tế
Trang 22xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực
và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái
và dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc cơ bản của nghề”
Hội đồng đào tạo CTXH Mỹ định nghĩa: CTXH là một nghề nhằm tăng cường các chức năng xã hội của cá nhân, hay nhóm người bằng những hoạt động tập trung vào can thiệp mối quan hệ xã hội để thiết lập sự tương tác giữa con người
và môi trường có hiệu quả Hoạt động này bao gồm 3 nhóm: Phục hồi năng lực đã
bị hạn chế, cung cấp nguồn lực cá nhân và xã hội và phòng ngừa sự suy giảm chức năng xã hội Như vậy, sự có mặt của CTXH nhằm giúp đỡ cá nhân, gia đình, cộng đồng điều chỉnh mối quan hệ của họ với môi trường xã hội, qua đó giúp họ bảo đảm chức năng xã hội đúng với vai trò vị trí đảm nhiệm trong xã hội [17, tr.2]
CTXH ở Việt Nam cũng được các tác giả xem xét từ những khía cạnh khác nhau, tác giả Nguyễn Thị Oanh cho rằng: CTXH là hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp được thực hiện và chi phối bởi các nguyên tắc, phương pháp hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề CTXH theo đuổi mục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội’’ [20,tr.26]
CTXH tại Việt Nam được xem như là sự vận dụng các lý thuyết khoa học về hành vi con người, về hệ thống xã hội nhằm khôi phục lại các chức năng xã hội và thúc đẩy sự thay đổi vai trò của cá nhân, nhóm, cộng đồng người yếu thế hướng tới bình đẳng và tiến bộ xã hội Đây là lĩnh vực cung cấp các dịch vụ chuyên môn góp phần giải quyết những vấn đề xã hội liên quan tới con người để thỏa mãn những nhu cầu căn bản, mặt khác góp phần giúp cá nhân tự nhận thức về vị trí, vai trò xã hội của mình [13, tr.17]
Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2010) đưa khái niệm về CTXH như sau:
CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã
Trang 23hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo ASXH [20,tr.19]
Đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ cũng khẳng định CTXH là góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người Hạn chế phát sinh các vấn
đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng nhân cách sống đậm
đà bản sắc văn hóa dân tộc mang tính thuần phong mỹ tục
1.1.4.2 Mục đích Công tác xã hội
Công tác xã hội hướng tới tạo ra sự thay đổi tích cực trong xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho tất cả mọi người đặc biệt là những nhóm người yếu thế Công tác xã hội thúc đẩy sự biến đổi xã hội, tăng cường các mối tương tác hài hòa giữ cá nhân, gia đình, xã hội hướng tới sự tiến bộ và công bằng xã hội
Hoạt động nghề nghiệp CTXH hướng tới 2 mục đích cơ bản sau:
Một là, nâng cao nâng lực các nhóm đối tượng như cá nhân, gia đình, cộng đồng có hoàn cảnh khó khăn
Hai là, cải thiện môi trường xã hội để hỗ trợ cá nhân, gia đình và cộng đồng thực hiện các chức năng, vai trò có hiệu quả [21,tr.4]
1.1.4.3 Vai trò nhân viên Công tác xã hội
- Khái niệm về vai trò
Vai trò trong từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê,1997) được định nghĩa là tác dụng, chức năng, tổng sự hoạt động, phát triển của cái gì đó Hay vai trò còn ám chỉ tính chất của sự vật, sự việc, hiện tượng để nói về vị trí, chức năng, nhiệm vụ của sự vật, sự việc, hiện tượng trong một hoàn cảnh, bối cảnh và mối quan hệ nào đó
- Khái niệm về nhân viên công tác xã hội
Nhân viên CTXH là người được đào tạo một cách chuyên nghiệp về CTXH
có bằng cấp chuyên môn Đó là những người có khả năng phân tích vấn đề xã hội,
Trang 24có khả năng làm việc độc lập hoặc theo nhóm để giúp đỡ thân chủ của mình vượt qua khó khăn, tự vươn lên trong cuộc sống [24,tr.66]
- Khái niệm vai trò NVCTXH và các vai trò NVCTXH đảm nhiệm
Vai trò NVCTXH được gắn với chức năng, nhiệm vụ mà NVCTXH đảm nhiệm ở vị trí nào đó khi thực thi công việc chuyên môn CTXH Khi NVCTXH ở những vị trí khác nhau thì vai trò và các hoạt động của họ cũng rất khác nhau Song họ cũng có thể có nhiều vai trò trong cùng một ví trí công việc
Theo quan điểm của Feyerico (1973) người NVCTXH có những vai trò sau:
- Vai trò là người vận động nguồn lực: là người trợ giúp thân chủ (cá nhân, gia đình, cộng đồng ) tìm kiếm nguồn lực (nội lực, ngoại lực) cho giải quyết vấn
đề Nguồn lực có thể bao gồm về con người, về cơ sở vật chất, về tài chính, kỹ thụật, thông tin, sự ủng hộ về chính sách, chính trị và quan điểm
- Vai trò là người điều phối - kết nối dịch vụ (còn gọi là trung gian): NVCTXH là người có được những thông tin về các dịch vụ, chính sách và giới thiệu cho thân chủ các chính sách, dịch vụ, nguồn tài nguyên đang sẵn có từ các cá nhân, cơ quan tổ chức để họ tiếp cận với những nguồn lực, chính sách, tài chính, kỹ thuật để có thêm sức mạnh trong giải quyết vấn đề
- Vai trò là người biện hộ: là người bảo vệ quyền lợi cho thân chủ để họ được hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi của họ đặc biệt trong những trường hợp họ bị từ chối những dịch vụ, chính sách lẽ ra họ được hưởng
- Vai trò là người vận động/hoạt động xã hội: là nhà vận động xã hội tổ chức các hoạt động xã hội để biện hộ, bảo vệ quyền lợi cho thân chủ, cổ vũ tuyên truyền
- Vai trò là người giáo dục: là người cung cấp kiến thức kỹ năng liên quan tới vấn đề họ cần giải quyết, nâng cao năng lực cho cá nhân, gia đình, nhóm hay cộng đồng qua tập huấn, giáo dục cộng đồng để họ có hiểu biết, tự tin và tự mình nhìn nhận vấn đề đánh giá vấn đề phân tích và tìm kiếm nguồn lực cho vấn đề cần giải quyết
Trang 25- Vai trò người tạo sự thay đổi: người NVCTXH được xem như người tạo ra
sự thay đổi cho cá nhân, giúp họ thay đổi suy nghĩ, thay đổi hành vi tiêu cực hướng tới những suy nghĩ và hành vi tốt đẹp hơn
- Vai trò quản lý trường hợp: người nhân viên CTXH được xem như là người góp phần cho sự phát triển và hoàn thiện chính sách xã hội, nắm bắt các nhu cầu cần trợ giúp cho thân chủ, tạo cơ hội và kết nối thân chủ với tài nguyên dịch vụ nhằm hỗ trợ nhằm tăng cường khả năng phát triển, giải quyết vấn đề cho thân chủ
- Vai trò là người tư vấn: NVCTXH tham gia như người cung cấp thông tin
tư vấn cho các thân chủ cần có những thông tin như thông tin về chăm sóc sức khoẻ sinh sản, thông tin về bảo vệ môi trường, dinh dưỡng cho trẻ nhỏ hay người già
- Vai trò là người tham vấn: NVCTXH trợ giúp gia đình và cá nhân tự mình xem xét vấn đề, và tự thay đổi Ví dụ như NVCTXH tham gia tham vấn giúp NCT vượt qua nỗi cô đơn, không người thân chăm sóc hay phụ nữ bị bạo hành vượt qua khủng hoảng
- Vai trò là người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng: trên
cơ sở nhu cầu của cộng đồng đã được cộng đồng xác định, NVCTXH giúp cộng đồng xây dựng chương trình hành động phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, tiềm năng của cộng đồng để giải quyết vấn đề của cộng đồng
- Vai trò là người chăm sóc, người trợ giúp: NVCTXH còn được xem như người cung cấp các dịch vụ trợ giúp cho những cá nhân, gia đình không có khả năng tự đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của mình và giải quyết vấn đề
- Vai trò là người xử lý dữ liệu: Với vai trò này, NVCTXH nhiều khi phải nghiên cứu, thu thập thông tin và phân tích thông tin trên cơ sở đó tư vấn cho thân chủ để họ đưa ra những quyết định đúng đắn
- Vai trò là người quản lý hành chính: NVCTXH khi này thực hiện những công việc cần thiết cho việc quản lý các hoạt động, các chương trình, lên kế hoạch
và triển khai kế hoạch các chương trình dịch vụ cho cá nhân, gia đình và cộng đồng
Trang 26- Vai trò là người tìm hiểu, khám phá cộng đồng: NVCTXH đi vào cộng đồng để xác định vấn đề của cộng đồng để đưa ra những kế hoạch trợ giúp, theo dõi, giới thiệu chuyển giao những dịch vụ cần thiết cho các nhóm thân chủ trong cộng đồng
1.2 Một số lý luận về vai trò nhân viên Công tác xã hội trong chăm sóc – nuôi dưỡng người cao tuổi
1.2.1 Khái niệm về vai trò NVCTXH trong chăm sóc nuôi dưỡng NCT
Trên cơ sở khái quát về vai trò, vai trò NVCTXH ở trên, có thể đưa ra khái niệm như sau về vai trò NVCTXH trong chăm sóc nuôi dưỡng người cao tuổi
Vai trò NVCTXH trong chăm sóc nuôi dưỡng NCT được gắn với chức năng, nhiệm vụ mà NVCTXH đảm nhiệm khi thực thi công việc chuyên môn CTXH trong chăm sóc nuôi dưỡng NCT
NVCTXH có thể có nhiều vai trò thực hiện nhiệm vụ chăm sóc nuôi dưỡng NCT như đã dề cập ở trên Trong khuôn khổ phạm vị nghiên cứu của luận văn cũng như đối với nhóm NCT sống trong cơ sở, chúng tôi xin đề cập tới một số vai trò cơ bản sau trong CSND NCT trong cơ sở chăm sóc nuôi dưỡng tập trung
1.2.2 Một số vai trò cơ bản của NVCTXH trong chăm sóc nuôi dưỡng NCT
2 1.2.1 Vai trò là người tham vấn trong chăm sóc nuôi dưỡng NCT
Trọng tâm nghề nghiệp của công tác xã hội hướng đến việc trợ giúp các đối tượng khai thác những tiềm năng của bản thân để tự lực vươn lên, giải quyết các vấn đề cụ thể của bản thân Nhân viên CTXH không làm hộ, làm thay thân chủ mà chỉ giúp thân chủ nhận thức được những khả năng của mình, phát huy những khả năng đó để giải quyết vấn đề của mình Đối với NCT nhân viên CTXH cần giúp họ nhận thấy được các vấn đề của bản thân đang mắc phải làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tâm lý, tình cảm của họ
Tham vấn có thể hiểu là hoạt động mà nhà tham vấn sử dụng các kiến thức,
kỹ năng và thái độ chuyên môn giúp thân chủ nâng cao năng lực tự giải quyết vấn
đề, tự đưa ra quyết định đúng đắn cho vấn đề của mình và thực hiện có hiệu quả
Trang 27Nhân viên CTXH sử dụng các quy trình và kỹ năng trong tham vấn như, giai đoạn tiếp xúc ban đầu, nhà tham vấn cần giới thiệu mình với thân chủ (tên, vai trò
vị trí chuyên môn) để tạo sự tin tưởng nhằm thiết lập một bầu không khí thân thiện, tạo cho thân chủ (NCT) cảm thấy an toàn và thoải mái, tỏ ra cởi mở, lắng nghe và sẵn sàng giúp đỡ thân chủ, đối với NCT họ rất được người khác tôn trọng và nói năng nhẹ nhàng, cởi mở Từ đó người tham vấn dễ dàng theo dõi thân chủ qua hành
vi, cử chỉ, nét mặt, điệu bộ, để lắng nghe thân chủ trình bày vấn đề của họ Đối với NCT thì thường họ hay quên, trí nhớ không còn minh mẫn nên trong quá trình thu thập thông tin thì người tham vấn không được phán xét họ, cứ để họ trình bày một cách thoải mái, Ví dụ như đối với NCT thì tham vấn về vấn đề sức khỏe, vấn đề sự
cô đơn mà ông bà đang gặp phải, vấn đề về dịch vụ y tế tại Trung tâm
NCT có quá trình lao động lâu dài vì thế kinh nghiệm thực tế của họ là rất phong phú và rất có giá trị Sau khi về hưu, không được tiếp tục cống hiến, họ trở nên chán nản và coi mình là người bỏ đi từ đó gây ra nhiều vấn đề nhất là các vấn
đề tâm lý cho bản thân Đồng thời, việc không nhận thức và khai thác những kiến thức và kinh nghiệm của NCT là sự lãng phí rất lớn của xã hội Do đó, nhân viên CTXH cần giúp NCT nhận thức được giá trị của mình để họ tiếp tục lao động với cách thức phù hợp Thông qua lao động, các vấn đề của NCT: Tâm sinh lý, thu nhập, quan hệ… sẽ được giải quyết Thêm vào đó, khi huy động được NCT vào đội ngũ lao động, xã hội sẽ có thêm nguồn kinh nghiệm và trí thức quý giá để phát triển nhanh hơn và bền vững hơn
NVCTXH trợ giúp NCT vượt qua nổi cô đơn bất hạnh khi bị người thân bỏ rơi hoặc không có người thân chăm sóc nuôi dưỡng, vượt qua mọi rào cản của gia đình và xã hội, giúp họ bớ tự ti, mặc cảm với hoàn cảnh hiện tại để họ tự vượt qua nỗi cô đơn, khủng hoảng
2.1.2.2 Vai trò là người điều phối - kết nối dịch vụ trong chăm sóc nuôi dưỡng NCT
Trên cơ sở kết quả đánh giá, chẩn đoán các vấn đề và nguồn lực đối với mỗi ca/trường hợp NCT, nhân viên CTXH điều phối, cung cấp các dịch vụ phù hợp
Trang 28trong chăm sóc NCT Với những NCT bị hạn chế khả năng phục vụ bản thân trong sinh hoạt hàng ngày, nhân viên CTXH có thể giới thiệu và cung cấp cho NCT những dịch vụ hỗ trợ tại nhà như người giúp việc, người chăm sóc y tế Với những NCT neo đơn, không nơi nương tựa, nhân viên CTXH có thể giới thiệu, làm thủ tục để NCT vào sinh sống trong các trung tâm bảo trợ phù hợp NV.CTXH cần giới thiệu cho NCT các câu lạc bộ phù hợp để NCT sinh hoạt Việc sinh hoạt ở các câu lạc bộ NCT: Câu lạc bộ văn thơ, cựu chiến binh, dưỡng sinh… sẽ giúp NCT đáp ứng các nhu cầu về quan hệ xã hội cho NCT
Nhu cầu của NCT rất phong phú, tuy nhiên do nguồn lực hạn chế nhân viên CTXH không thể tự mình đáp ứng được hết, ví dụ các nhu cầu về chăm sóc y tế, hỗ trợ pháp lý, chăm sóc sức khỏe tâm thần… Do đó, nhân viên CTXH cần tìm kiếm những nguồn lực, dịch vụ bên ngoài xã hội từ đó điều phối, kết nối NCT đến những dịch vụ phù hợp với nhu cầu cần thiết của họ như: bệnh viện, trung tâm y tế, trung tâm tham vấn, … Trong quá trình NCT sử dụng các dịch vụ khác, nhân viên CTXH cần tiếp tục theo dõi, giám sát để đảm bảo NCT có được dịch vụ chất lượng và vận động nguồn lực để hỗ trợ vật chất khi cần thiết
1.2.2.3 Vai trò là người giáo dục
Cần hiểu đúng nghĩa vai trò giáo dục của nhân viên CTXH trong chăm sóc nuôi dưỡng NCT đó là cung cấp những thông tin mới mà NCT chưa được biết, nghe thấy Giáo dục ở đây khác với giáo dục dành cho lớp trẻ NCT vốn là người có nhiều kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệp trong đường đời Do vậy hoạt động giáo dục của nhân viên CTXH đối với NCT cần chú ý tính đặc thù của NCT
Hình thức giáo dục có thể qua việc cung cấp tài liệu (nếu họ còn khả năng đọc tài liệu), các buổi sinh hoạt theo nhóm, tọa đàm, các hình thức như phim ảnh hay chia sẽ trực tiếp giữa nhân viên CTXH và NCT Thông qua giáo dục, nhân viên CTXH sẽ giúp NCT có thêm những kiến thức, kỹ năng để phòng ngừa, chữa trị, phục hồi hay cũng như phát triển các chức năng xã hội phù hợp Việc cung cấp cho NCT những kiến thức, kỹ năng chăm sóc bản thân như chế độ dinh dưỡng, các hoạt động thể chất, các cách thức phòng bệnh, chữa bệnh… khoa học và phù hợp sẽ giúp
Trang 29NCT có cuộc sống mạnh khỏe và an toàn hơn Không chỉ quan tâm đến cá nhân NCT, công tác xã hội còn hướng đến giáo dục, tham vấn cho gia đình NCT Nhân viên CTXH cung cấp thông tin, hướng dẫn cụ thể, tham vấn cho gia đình NCT những cách thức chăm sóc, ứng xử với người cao tuổi… Cung cấp những kiến thức, hiểu biết về đặc điểm tâm sinh lý, xã hội, những nhu cầu… của NCT để gia đình chăm sóc, hỗ trợ NCT tốt hơn
1.2.2.4 Vai trò là người biện hộ
NCT, nhất là NCT có hoàn cảnh neo đơn thường gặp nhiều khó khăn trong
đi lại, giao tiếp, tiếp cận các dịch vụ cũng như đề bạc những nguyện vọng tới những
cơ quan ban hành chính sách Do vậy, hơn ai hết nhân viên CTXH sẽ là người thay mặt cho họ đề bạc những nguyện vọng, đưa “tiếng nói” của họ đến những cơ quan thực thi chính sách, cơ quan cung cấp dịch vụ đề từ đó giúp họ có những lợi ích hay quyền lợi kịp thời, đầy đủ đúng pháp luật Nhân viên CTXH thực thi vai trò là người bảo vệ những nhu cầu chính đáng cho NCT
Muốn vậy, khi làm việc với NCT, nhân viên CTXH cần đánh giá, phân tích những nhu cầu, mong muốn cũng như những nguồn lực của NCT Do những thay đổi và sự không ổn định về tâm sinh lý, một số NCT có thể có những hành động, hành vi khác thường Nhân viên CTXH cần tìm hiểu nguyên nhân của các hành vi
đó và lý giải để mọi người xung quanh nhất là gia đình hiểu và thông cảm cho họ Trong xã hội Việt Nam, do đặc thù của văn hóa, nhu cầu tình dục của NCT chưa được chú ý đúng mức, thậm chí là một hành vi bị lên án Những NCT có mong muốn kết hôn, tái kết hôn luôn chịu sự bàn tán, đánh giá của gia đình, của những người xung quanh Đây là một nhạy cảm văn hóa mà nhân viên xã hội cần hết sức chú ý Cần làm cho bản thân NCT cũng như gia đình và những người xung quanh hiểu và tôn trọng nhu cầu đó của NCT bởi tình dục cũng như ăn, uống, hít thở… là những nhu cầu cơ bản nhất của con người NCT suy giảm nhu cầu tình dục chứ không phải là hoàn toàn không có nhu cầu đó
Trang 301.2.2.5 Vai trò quản lý trường hợp
Quản lý trường hợp là một loại hình hoạt động hay dịch vụ khá phổ biến trong CTXH Đối với hoạt động trợ giúp NCT, nhân viên CTXH tham gia vào đánh giá nhu cầu, nguồn lực mỗi trường hợp NCT từ đó xây dựng kế hoạch can thiệp trợ giúp NCT
Hoạt động này cần được thực thi theo một quy trình: đánh giá được nhu cầu, hoàn cảnh NCT, lên kế hoạch trợ giúp, thực thi kế hoạch, kết nối, điều phối các dịch
vụ, để thực hiện kế hoạch, giám sát các dịch vụ trợ giúp, lượng giá và kết thúc mỗi trường hợp
Như vậy trong hoạt động này, nhân viên CTXH có thể thực hiện nhiều hoạt động khác nhau trong quá trình trên Bên cạnh việc thi thực các hoạt động trong mỗi bước quản lý trường hợp, họ còn cần chú ý thực hiện công tác hành chính khác như một nhu cầu quan trọng của chuyên môn QLTH đó là ghi chép, lưu trữ hồ sơ liên quan đến mỗi ca/trường hợp NCT được trợ giúp
Việc ghi chép, lưu trữ hồ sơ cần thực hiện đúng theo quy trình đảm bảo cho việc theo dõi, nắm bắt tình hình đối tượng, có những biện pháp can thiệp kịp thời giúp NCT vượt qua khó khăn mà họ đang gặp phải
1.3 Một số yếu tố tác động đến sự thực hiện vai trò nhân viên Công tác
xã hội trong chăm sóc nuôi dưỡng người cao tuổi
Sự thực hiện vai trò nhân viên CTXH trong chăm sóc nuôi dưỡng NCT thường bị chi phối bởi các yếu tố chủ quan và khách quan Đó có thể là yếu tố liên quan tới lòng yêu nghề, hay liên quan tới các yếu tố ngoại cảnh như trình độ của NVCTXH, các cơ chế chính sách hay nhận thức của xã hội về nghề nghiệp, công việc của của NVCTXH…Sau đây xin bàn luận chi tiết hơn về 3 yếu tố sau:
1.3.1 Trình độ chuyên môn của đội ngũ nhân viên công tác xã hội:
Để thực hiện tốt công chăm sóc nuôi dưỡng NCT tại Trung tâm thì đòi hỏi nhân viên CTXH phải có trình độ chuyên môn, biết vận dụng những kỹ năng cơ bản
Trang 31bại của một lĩnh vực ngành nghề đều phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn Đặc biệt trong lĩnh vực CTXH với NCT, yêu cầu về chuyên môn CTXH nói chung
và CTXH chuyên sâu trong chăm sóc nuôi dưỡng NCT lại càng đòi hỏi chặt chẽ hơn Bởi chỉ khi họ có chuyên môn CTXH họ mới biết thực hành các phương pháp CTXH như cá nhân, nhóm và cộng đồng, hay trong công tác tham vấn, tư vấn tâm lý… Những phương pháp này sẽ được sử dụng như công cụ quan trọng để giúp NCT vượt qua những khó khăn, gia đình và cộng đồng của họ được nâng cao năng lực để tham gia vào quá trình chăm sóc – nuôi dưỡng
Công việc chăm sóc – nuôi dưỡng NCT không chỉ chăm sóc về các sinh hoạt hàng ngày cho NCT: đút ăn, tắm rữa, giặt giũ…mà còn đòi hỏi người nhân viên CTXH phải có kiến thức chuyên môn về tâm lý, phải hiểu và nắm được những tâm
tư nguyện vọng của NCT để có những đồng cảm, chia sẽ với họ, từ đó có những thái độ tôn trọng NCT giúp NCT được an tâm và có thêm niềm vui trong cuộc sống
Do vậy nếu không có kiến thức, kỹ năng chuyên môn, NVCTXH khó có thể thực hiện tốt vai trò của mình
Với đặc thù là nghề trợ giúp xã hội, CTXH hướng trọng tâm nghề nghiệp đến việc giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng đồng phục hồi, phát triển các chức năng
và đạt được những giá trị phù hợp trong xã hội Các chức năng của CTXH được thực hiện thông qua việc thực hiện các vai trò của nhân viên CTXH trong tiến trình làm việc với các thân chủ Chất lượng và hiệu quả của hoạt động CTXH được quyết định bởi năng lực, trình độ của nhân viên CTXH Chính vì vậy việc nâng cao năng lực, trình độ cho nhân viên CTXH là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết
1.3.2 Cơ chế chính sách ảnh hưởng tới sự thực hiện vai trò của nhân viên CTXH trong chăm sóc – nuôi dưỡng người cao tuổi
Chăm sóc - nuôi dưỡng NCT là một công việc khá khó khăn và phức tạp Để thực hiện được tốt vai trò của NVCTXH, ngoài việc họ cần có trình độ chuyên môn phù hợp, các yếu tố ngoại cảnh khác cũng có ảnh hưởng nhất định, nhất là trong bối cảnh ở Việt Nam Nếu như có một chính sách hợp lý đảm bảo điều kiện cho việc chăm sóc nuôi dưỡng NCT thì điều này sẽ tạo thuận lợi cho các NVCTXH làm tốt
Trang 32vai trò của mình Ngược lại thiếu chính sách hỗ trợ phù hợp thì NVCTXH sẽ gặp thêm nhiều khó khăn trong thực thi công việc Trên thế giới mô hình chăm sóc nuôi dưỡng NCT trong các cơ sở dưỡng lão rất phát triển và một trong những yếu tố được quan tâm đó là chế độ phúc lợi xã hội dành cho NCT khá ưu việt, điều kiện sinh sống trong cơ sở của NCT được trang bị tốt Những mô hình chăm sóc NCT công lập, ngoài công lập được phát triển, có sự cạnh tranh, thu phí theo điều kiện hoàn cảnh để từ đó tái đầu tư cho trang bị cơ sở vật chất Nếu Việt Nam có một chính sách phúc lợi phù hợp để phát triển các mô hình dịch vụ sẽ giúp cho gia đình
và NCT dễ dàng tiếp cận các dịch vụ khác nhau, từ đó cũng giúp tăng cường trách nhiệm và sự tham gia, đóng góp của gia đình, NCT vào quá trình chăm sóc nuôi dưỡng NCT
Mặt khác, chính sách, chế độ đối với cán bộ tham gia chăm sóc nuôi dưỡng NCT cũng là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới sự thực hiện vai trò của NVCTXH Các chính sách như hỗ trợ nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, chính sách tiền lương, phụ cấp nghề hợp lý sẽ có tác dụng khích lệ tâm huyết và ý thức trách nhiệm với nghề nghiệp là nền tảng cho sự thực hiện vai trò của NVCTXH trong thực thi nhiệm vụ chăm sóc – nuôi dưỡng NCT
1.3.3 Thái độ yêu nghề của NVCTXH trong chăm sóc – nuôi dưỡng NCT
CTXH với NCT là một hoạt động trợ giúp đòi hỏi tính chuyên môn cao song cũng đòi hỏi cái tâm của người tham gia trợ giúp CTXH với NCT là hoạt động chịu ảnh hưởng rất nhiều của mối quan hệ tương tác với NCT, với những người có liên quan, do vậy hoạt động nghề nghiệp nay mang tính chất phức tạp, mỗi đối tượng khác nhau lại có những vấn đề cụ thể khác nhau Ngoài yêu cầu về trình độ kiến thức, công tác chăm sóc – nuôi dưỡng NCT còn rất cần có thái độ yêu nghề ở NVCTXH để thực hiện tốt vai trò được xã hội mong đợi Nhờ có “cái tâm”, lòng yêu nghề mà NVCTXH sẽ ngăn ngừa hành vi phi nhân đạo, cách hành xử thiếu tôn trọng, thậm chí là xâm hại, bạo lực NCT
Trang 331.4 Cơ sở pháp lý về vai trò nhân viên CTXH trong chăm sóc – nuôi dưỡng người cao tuổi
Nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu và hỗ trợ kịp thời người có hoàn cảnh khó khăn; Bảo đảm ASXH là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản hình thành
hệ thống ASXH bao phủ toàn dân với các yêu cầu: Bảo đảm người dân có việc làm, thu nhập tối thiểu; Tham gia BHXH; Bảo đảm hỗ trợ những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; Bảo đảm cho người dân tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản ở
mức tối thiểu (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông tin), góp phần từng bước
nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân Cụ thể:
Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 Phê duyệt Đề án nghề CTXH giai đoạn 2010 - 2010
Thông tư 08/2010/TT-BNV ngày 25/8/2010 của Bộ NV ban hành chức danh,
mã số ngạch viên chức CTXH
Thông tư liên tịch số 11/2011/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 26/10/2011 của
Bộ TC và Bộ LĐTBXH quy định chi tiết về đối tượng áp dụng và nguồn kinh phí thực hiện cũng như hướng dẫn chi tiết nội dung và mức chi cho các hoạt động của
Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010 - 2020
Thông tư số 04/2011/TT-BLĐTBXH ngày 25/02/2011 của Bộ LĐTBXH quy định tiêu chuẩn chăm sóc tại các cơ sở BTXH bao gồm đối tượng và phạm vi
áp dụng; Quy trình tiếp nhận và chăm sóc đối tượng; Các tiêu chuẩn về y tế, dinh dưỡng, giáo dục; Quy trình tiếp nhận và chăm sóc đối tượng, quy trình này đã đến gần với quy trình quản lý trường hợp trong CTXH
Trước ảnh hưởng của hội nhập quốc tế với sự du nhập của trào lưu CTXH chuyên nghiệp và những đổi mới về chính sách KT-XH, lý luận và thực hành công
tác trợ giúp xã hội của nước ta phần nào đã thay đổi Phương trâm “Cho cần câu
chứ không cho xâu cá” đã làm chuyển đổi cơ bản hình thức trợ giúp mang tính bao
cấp trước đây sang trợ giúp có tham vấn giúp đối tượng tự giải quyết vấn đề Ngày
Trang 3425/3/2010 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển Nghề CTXH giai đoạn 2010 – 2020
Mục tiêu chung của Đề án là “Phát triển CTXH trở thành một nghề ở Việt Nam Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề CTXH; xây dựng đội ngũ cán
bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên CTXH đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH tại các cấp góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến” Ngay sau khi Đề án được ban hành, các Bộ, Ngành chức năng đã ban hành các văn bản số 30/2015/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 19/8/2015 quy định về tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức CTXH, chức danh, mã số các ngạch viên chức CTXH, Thông tư liên tịch số 11/2011/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 26/01/2011 hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện Quyết định số 32/2010/QĐ – TTg; Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BLĐTBXH-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH công lập… Như vậy, Quyết định 32 đã tạo ra hành lang pháp lý để từng bước phát triển nghề CTXH chuyên nghiệp Đồng thời cũng tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của các cấp
bộ đảng, chính quyền và xã hội về nghề CTXH
NCT là một đối tượng của ngành CTXH, họ được trợ giúp các dịch vụ xã hội
từ NVCTXH cũng như được NV CTXH trợ giúp trong việc bảo vệ quyền lợi, giúp NCT nói lên tiếng nói của họ; tham vấn tư vấn tâm lý, biện hộ cho họ, giúp họ đáp ứng được quyền lợi và những nhu cầu thiết yếu
Trên cơ sở Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg, để triển khai thực hiện kế hoạch phát triển nghề CTXH trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, ngày 26/01/2011 UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 260/QĐ-UBND về việc phê duyệt kế hoạch triển khai Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 – 2020 Mục tiêu của Kế hoạch này là phát triển nghề CTXH thành một nghề trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Trong đó những nhiệm vụ trọng tâm của Kế hoạch là tăng cường công tác truyền thông nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và người dân trên địa bàn tỉnh về nghề CTXH; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và CTV
Trang 35CTXH đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH tại các cấp trên địa bàn tỉnh
Để thực hiện tốt nhiệm vụ, mục tiêu của Kế hoạch phát triển nghề CTXH, UBND tỉnh ban hành kế hoạch tuyển chọn, bố trí, sử dụng và đào tạo, bồi dưỡng CTV CTXH xã, phường, thị trấn Theo đó, quy định các yêu cầu về tiêu chuẩn CTV CTXH, chính sách chế độ đối với CTV CTXH và lộ trình đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ CTV CTXH cấp xã trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2018 đạt trình độ chuẩn theo quy định (tối thiểu đạt trình độ trung cấp nghề CTXH [11,tr.24]
nuôi dưỡng NCT tại cơ sở nói riêng, cụ thể là Vai trò người tham vấn; Vai trò
người điều phối – kết nối dịch vụ; Vai trò gười giáo dục; Vai trò người biện hộ; Vai trò quản lý trường hợp
Trong Chương 1 cũng đề cập một số yếu tố tác động đến sự thực hiện vai trò NVCTXH trong chăm sóc nuôi dưỡng người cao tuổi cũng như trình độ chuyên môn của đội ngũ NVCTXH; Cơ chế và chính sách, thái độ yêu nghề của nhân viên CTXH và cơ sở pháp lý về vai trò NV CTXH trong chăm sóc nuôi dưỡng NCT
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG NGƯỜI CAO TUỔI TẠI TRUNG TÂM
NUÔI DƯỠNG NGƯỜI GIÀ NEO ĐƠN 2.1 Khái quát về Trung tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Trung Tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là đơn vị
sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, được thành lập từ sự chia tách từ Trung tâm Nuôi dưỡng và Dạy nghề theo Quyết định số 721/QĐ-UB ngày 14 tháng 12 năm 1999 của UBND tỉnh BRVT Khi mới thành lập, tổng số đối tượng là 35 người Số cán bộ công chức, viên chức và người lao động là 10 người Qua hơn 16 năm hoạt động số NCT được nuôi dưỡng tại đây đã tăng là 94 đối tượng Cán bộ công chức, viên chức và người lao động là 32 người
Từ cơ cấu tổ chức không có phòng chuyên môn đến nay đã thành lập được 02 phòng chuyên môn: Phòng Tổ chức - Hành chính và Phòng chăm sóc - nuôi dưỡng
Trung tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu được xây dựng trên diện tích tự nhiên là 18.950 m2 , diện tích xây dựng là 2.646m2 trên địa bàn xã An Ngãi, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu
* Chức năng
Trung tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn là đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội có chức năng tổ chức việc tiếp nhận, quản lý, nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi cô đơn, thuộc hộ gia đình nghèo; người cao tuổi còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa; người già là người khuyết tật không có khả năng lao động hoặc không có khả năng tự phục vụ thuộc hộ gia đình nghèo (theo chuẩn nghèo được
Trang 37Chính Phủ quy định cho từng thời kỳ) thuộc diện đặc biệt khó khăn không tự lo được cuộc sống trên địa bàn tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu Ngoài ra, từ năm 2012 đến nay, được sự cho phép của UBND Tỉnh, Trung tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn
đã thực hiện nuôi dưỡng đối với người già yếu, khuyết tật có thân nhân nhưng không có điều kiện chăm sóc, tự nguyện đăng ký gửi vào Trung Tâm và phải nộp mọi chi phí theo hợp đồng dịch vụ chăm sóc
* Nhiệm vụ:
- Tiếp nhận, quản lý, nuôi dưỡng cho người cao tuổi cô đơn, thuộc hộ gia đình nghèo; người cao tuổi còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa; người già là người tàn tật không có khả năng lao động hoặc không có khả năng tự phục vụ thuộc hộ gia đình nghèo (theo chuẩn nghèo được Chính Phủ quy định cho từng thời kỳ) thuộc diện đặc biệt khó khăn không tự lo được cuộc sống trên địa bàn tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu theo quy định;
- Tiếp nhận, quản lý, nuôi dưỡng người già yếu, tàn tật có thân nhân nhưng không đủ khả năng chăm sóc hoặc đủ khả năng nuôi dưỡng nhưng tự nguyện đăng
ký vào sống ở Trung tâm, tự nguyện đóng góp kinh phí hoặc có người thân, người nhận bảo trợ đóng góp kinh phí để nuôi dưỡng;
- Chữa trị, chăm sóc sức khỏe, tổ chức lao động sản xuất trên cơ sở tận dụng
cơ sở vật chất tại chỗ nhằm phục hồi sức khỏe, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người già neo đơn và khuyết tật tại Trung tâm; Tổ chức và vận động mọi nguồn kinh phí giúp đỡ của các nhà từ thiện, các nhà hảo tâm, các tổ chức kinh tế
xã hội trong nước và nước ngoài nhằm chăm sóc tốt cho người già neo đơn và khuyết tật tại Trung tâm; tổ chức quản lý, bảo vệ, giữ gìn an toàn xã hội tại Trung tâm; Tổ chức đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ chuyên môn, nâng cao năng lực cho cán bộ, viên chức và nhân viên phục vụ;
- Quản lý và sử dụng có hiệu quả, đúng pháp luật các nguồn kinh phí kể cả các nguồn kinh phí được phép thu theo q uy định; Quản lý tổ chức, nhân sự, tài sản, tài chính, hồ sơ tài liệu của Trung tâm và các cơ sở vật chất khác được giao theo
Trang 38quy định; Thực hiện chế độ báo cáo định ký theo tháng, quý, năm và báo cáo đột xuất về tình hình hoạt động của Trung tâm với UBND tỉnh, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội theo quy định; Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội giao
2.1.2 Tổ chức bộ máy Trung tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn
Ban Giám đốc và 02 phòng chuyên môn: Phòng Tổ chức – Hành chính và Phòng Chăm sóc – Nuôi dưỡng
C
Bộ Phận
Lái xe- điện
nước
Tổ y
tế
Tổ cấp dưỡng
Tổ chăm sóc 1
Tổ chăm sóc 2
Trang 39* Ban Giám Đốc: gồm có 02 người, Giám đốc và Phó Giám đốc
- Giám đốc Trung Tâm: Phụ trách chung các hoạt động tại Trung tâm
- Phó giám đốc Trung Tâm:
Phụ trách công tác theo dõi, quản lý đối tượng; theo dõi công tác chăm sóc nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe cho đối tượng; tham gia tiếp nhận và phân loại; đánh giá tâm sinh lý, tình trạng sức khỏe đối tượng và đề xuất Quyết định cho đối tượng chuyển trại, hồi gia; tham gia tổ chức đón tiếp các đoàn từ thiện, khách đến thăm Trung tâm và đối tượng, lắng nghe ý kiến của khách và giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh; thực hiện công tác xây dựng, sửa chữa duy tu cơ sở vật chất trong toàn đơn vị và một số nhiệm vụ khác khi được Giám đốc phân công
tổ chức cán bộ, điều động, tiếp nhận, tuyển dụng sử dụng đề bạt viên chức và người lao động; đào tạo bồi dưỡng kiến thức nâng cao trình độ chuyên môn và thực hiện chính sách đối với cán bộ viên chức và người lao động tại Trung tâm; giúp Giám đốc biên tập nội dung chương trình, quản lý website của đơn vị;
- Phòng chăm sóc - Nuôi dưỡng (Bao gồm tổ y tế, tổ chăm sóc, tổ cấp
dưỡng): Quản lý hồ sơ đối tượng khi vào và ra khỏi Trung tâm; ngoài việc thực hiện công tác chăm sóc – nuôi dưỡng cho NCT còn theo dõi kiểm tra sức khoẻ, cấp phát thuốc, điều trị các bệnh cho đối tượng và thực hiện công tác vệ sinh phòng bệnh; xây dựng và thực hiện kế hoạch mua lương thực, thực phẩm, chất đốt…kịp thời
Trang 40phục vụ cho đối tượng Dự trữ lương thực, thực phẩm có phục vụ tại chỗ cho đối tượng mùa lụt – bão
2.1.4 Tình hình đối tượng
Hiện nay Trung tâm đang quản lý, chăm sóc - nuôi dưỡng 94 đối tượng (47 nam, 47 nữ) được bố trí và sắp xếp ở 03 khu dãy nhà ở đối tượng gồm: Dãy nhà ở Khu A (dành cho đối tượng còn khỏe, đi lại được) số đối tượng 42 người; Dãy nhà ở Khu B (dành cho các đối tượng yếu liệt nằm một chổ không tự đi vệ sinh và không tự chăm sóc bản thân được): 41 người; Dãy nhà ở Khu C (dành cho đối tượng yếu, đi lại khó khăn nhưng vẫn còn tự chủ, tự phục vụ công tác vệ sinh
ăn ở hàng ngày): 11 người
2.1.5 Về cơ sở vật chất
Trung tâm nuôi dưỡng người già neo đơn được đầu tư xây dựng năm 1999 với tổng diện tích đất tự nhiên là 1,8950 ha, diện tích xây dựng là 2.646m2 bao gồm
11 khối nhà trệt Hàng năm Trung tâm đều được ngân sách nhà nước bố trí kinh phí để sửa chữa và nâng cấp
Cụ thể gồm các khối nhà sau:
- Phòng y tế: diện tích xây dựng 102m2; Nhà bếp ăn tập thể: diện tích xây dựng 274m2 ; Nhà ở đối tượng: diện tích xây dựng 1.712m2 ;Nhà Câu lạc bộ: diện tích xây dựng 214m2 ; Nhà Làm việc (Văn phòng Trung tâm): diện tích xây dựng 238m2
- Các hạng mục hạ tầng kỹ thuật: Cấp nước, cấp điện, mương thoát nước, ống cấp nước phòng cháy chữa cháy, hệ thống đường nội bộ,
Diện tích phòng ở của NCT tại Trung tâm bình quân 18m2/người, phòng ở thoáng mát, sạch sẽ, được trang bị đầy đủ giường, chiếu, chăn, màn, ti vi Phía trước
và sau phòng ở của NCT là khu sân vườn được thiết kế kết hợp trồng rau xanh, trồng cây ăn trái làm bóng mát, cây cảnh, bông hoa tạo không gian xanh và mát mẻ, khuôn viên rộng, người cao tuổi có thể đi dạo, tập thể dục trong khuôn viên của Trung tâm