1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật thành phố hồ chí minh

108 240 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật tại Trung tâm là quá trình chăm sóc và trợ giúp trẻ theo mô hình tập trung thông qua việc giúp trẻ khuyết tật tiếp cận với các dịch vụ công tác xã

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN VIẾT HẢI

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VÀ TRỢ GIÚP TRẺ TÀN TẬT

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS HÀ THỊ THƯ

Hà Nội, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ

Công tác xã hội về “Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn

Trung tâm Phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật Thành phố Hồ Chí Minh” là

hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận văn

Trần Viết Hải

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 01 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT 08 1.1 Trẻ khuyết tật: khái niệm và đặc điểm 08 1.2 Lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật 10 1.3 Cơ sở pháp lý về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật tại Trung tâm 17 1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật 20 Chương 2: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT TẠI TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VÀ TRỢ GIÚP TRẺ TÀN TẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 26 2.1 Khái quát về Trung tâm và trẻ em khuyết tật tại Trung tâm 26 2.2 Thực trạng về thực hiện dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật 28 2.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật 50 Chương 3: ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VÀO TRỢ GIÚP TRẺ

EM KHUYẾT TẬT VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VÀ TRỢ GIÚP TRẺ TÀN TẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 61 3.1 Ứng dụng công tác xã hội cá nhân vào trợ giúp trẻ em khuyết tật 61 3.2 Đề xuất biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả của dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật Thành phố Hồ Chí Minh 72 KẾT LUẬN 78

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, người khuyết tật luôn là mối quan tâm của cộng đồng quốc tế của Đảng và Nhà nước ta Việt Nam đã ký Công ước về Quyền của người khuyết tật (CRPD) vào tháng 10 năm 2007 CRPD là một bước tiến quốc tế quan trọng trong việc tuyên bố và bảo vệ quyền của mọi người khuyết tật Bằng việc ký kết CRPD, Chính phủ Việt Nam đã thể hiện quan điểm của mình về khuyết tật, rằng khuyết tật không chỉ là một vấn đề y học mà còn bao gồm những rào cản xã hội và sự tách biệt khỏi cuộc sống thường ngày bằng sự phân biệt đối xử và những chuẩn mực cũ Với

sự trợ giúp của nhiều bên liên quan, các tổ chức phi chính phủ và được khuyến khích bởi những cam kết với CRPD, Việt Nam đã ban hành Luật Người Khuyết tật hoàn chỉnh vào tháng 6 năm 2010 và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2011 Lần đầu tiên, Việt Nam có một định nghĩa về khuyết tật chính thức Bên cạnh việc cung cấp một định nghĩa khuyết tật chính thức, Luật NKT cũng đặt ra những quyền lợi của người khuyết tật Việt Nam trong tiếp xúc bình đẳng với các dịch vụ chăm sóc y tế chất lượng, phục hồi chức năng, giáo dục, việc làm, dạy nghề, các dịch vụ văn hóa, thể thao và giải trí, giao thông, các nơi công cộng và công nghệ thông tin

Theo số liệu thống kê của Cục Bảo trợ xã hội, Bộ Lao động – Thương binh và

xã hội năm 2009 cho biết, cả nước có hơn 5,3 triệu người khuyết tật, chiếm khoảng 6,4% dân số, trong đó từ 16-55 tuổi chiếm 24%, dưới 16 tuổi chiếm 16% Kết quả điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 cho thấy tỷ lệ người khuyết tật ở độ tuổi từ 5 tuổi trở lên chiếm 7,8% dân số tương đương với 6,7 triệu người Tỷ lệ nam giới bị khuyết tật cao hơn nữ giới, 63,5% so với 36,5% Khoảng 16% người khuyết tật dưới 16 tuổi, 61% từ 15-55 tuổi và 23% trên 55 tuổi

Trung tâm Phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật là đơn vị trực thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, là nơi chuyên tiếp nhận, điều trị và phục hồi chức năng cho các đối tượng là trẻ em nghèo khuyết tật, trẻ em mồ côi có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đặc biệt… tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh thành phía nam Phần lớn trẻ đang được điều trị, chăm sóc và phục hồi chức năng tại Trung tâm là trẻ khuyết tật nặng và trẻ khuyết tật đặc biệt nặng với các dạng như: khuyết tật vận động; khuyết tật thần kinh, tâm thần; khuyết tật trí tuệ; khuyết tật khác

Công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật tại Trung tâm là quá trình chăm sóc và trợ giúp trẻ theo mô hình tập trung thông qua việc giúp trẻ khuyết tật tiếp cận với các dịch vụ công tác xã hội như: dịch vụ tư vấn, tham vấn trị liệu; dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng; dịch vụ hỗ trợ y tế, phục hồi chức năng; dịch vụ giáo dục chuyên biệt, giáo dục hoà nhập; dịch vụ vui chơi, giải trí, thể thao, nhằm tạo điều kiện cho trẻ

Trang 5

khuyết tật được chăm sóc sức khỏe; điều trị, phục hồi chức năng; giáo dục văn hóa, đào tạo nghề; tổ chức các hoạt động vui văn hóa, thể thao… giúp trẻ khuyết tật có nhiều cơ hội tham gia các hoạt động xã hội và tăng cường chức năng xã hội để trẻ được phát triển và hòa nhập cộng đồng một cách bền vững

Thực tế cho thấy, việc trợ giúp cho trẻ khuyết tật tại Trung tâm cũng còn có những khó khăn nhất định như: trẻ chưa được chăm sóc toàn diện, đầy đủ, khả năng phục hồi chức năng cho trẻ mất nhiều thời gian và kéo dài… Trung tâm phải thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau, chăm sóc nhiều đối tượng với các dạng tật khác nhau, đội ngũ viên chức y tế, nhân viên xã hội, người lao động đời sống còn khó khăn về sinh hoạt, kinh tế, căng thẳng về tinh thần Cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều việc, nhân viên chưa được đào tạo chuyên nghiệp, đặc biệt là các lĩnh vực tham vấn tâm lý, công tác xã hội, kỹ năng nghề nghiệp còn hạn chế

Các công trình nghiên cứu về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em nói chung đã có, tuy nhiên dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật còn khá mới mẻ nhất là tại một trung tâm cụ thể

Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em

khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề người khuyết tật, trẻ em khuyết tật là một vấn đề mang tính xã hội và được tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm, điều này cũng thể hiện rõ trong quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong định hướng cho các hoạt động trợ giúp người khuyết tật rằng: “Người khuyết tật không phải gánh nặng của xã hội, họ cũng

có niềm tin, giá trị mong muốn đóng góp cho xã hội nhưng họ bị hạn chế về cơ hội tham gia do đó Nhà nước, cộng đồng, xã hội cần quan tâm, tạo cơ hội cho họ phát triển và hòa nhập”

Trong nhiều năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về công tác xã hội với trẻ em khuyết tật, những đề tài, bài viết và nhiều chương trình, dự án

có liên quan đến an sinh xã hội cho trẻ em khuyết tật như:

Tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của trẻ khuyết tật sống tại cộng đồng nghiên cứu trường hợp tại xã Tân An Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang của tác giả Hà Thị Bích Hường Luận văn mô tả thực trạng và nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho trẻ khuyết tật ở địa phương Phân tích những điểm thuận lợi và hạn chế mà trẻ khuyết tật và gia đình đã trải qua trong khi tìm cách tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Đưa ra các giải pháp cần thiết để trẻ khuyết tật tiếp cận được với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe phù hợp với dạng khiếm khuyết của bản

Trang 6

thân Chỉ rõ vai trò của người làm công tác xã hội trong việc giúp trẻ khuyết tật tiếp cận được các dịch vụ chăm sóc sức khỏe [34]

Những khó khăn của gia đình có trẻ khuyết tật phát triển và nhu cầu của họ đối với các dịch vụ xã hội của tác giả Đỗ Hạnh Nga - Khoa Công tác xã hội Trường ĐH KHXH & NV - ĐHQG TP.HCM Kết quả khảo sát cho thấy phụ huynh còn thiếu hiểu biết về các dấu hiệu chậm phát triển của con, thiếu những nhân viên xã hội hỗ trợ họ trong việc phát hiện sớm, chẩn đoán đánh giá khuyết tật của con họ cũng như giúp phụ huynh tìm kiếm các dịch vụ xã hội Từ đó đề xuất xây dựng một số công việc mà nhân viên xã hội cần thực hiện để hỗ trợ gia đình người khuyết tật [27]

Những rào cản chất lượng học tập của trẻ khuyết tật ở Việt Nam, đăng trên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Nghiên cứu Giáo dục, Tập 29, Số 2 (2013) 6471 Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu về các rào cản trẻ khuyết tật (TKT) đến trường và những rào cản TKT học có chất lượng trong các cơ sở giáo dục phổ thông ở Việt Nam [33]

Giáo dục hoà nhập – cánh cửa rộng mở cho trẻ em khuyết tật tại Việt nam, khoá luận của tác giả Lê Minh Hằng, sinh viên trường Swarthmore College, bài viết nêu cần can thiệp sớm hệ thống giáo dục hoà nhập cho phép mọi trẻ em khuyết tật cũng như trẻ bình thường được học tập trong một môi trường, trẻ khuyết tật được thể hiện tối đa khả năng của mình, các em được tạo điều kiện chứng minh rằng mình cũng có khả năng như mọi đứa trẻ khác Làm thay đổi cách nhìn của cộng đồng từ ‘‘từ thiện đến nhân quyền’’ đối với trẻ khuyết tật Bài luận đã nêu lên thực trạng của giáo dục hoà nhập tại Việt Nam, những thách thức cần được giải quyết, làm sao cho trẻ khuyết tật được tiếp cận với môi trường giáo dục hoà nhập, việc đào tạo cho đội ngũ giáo viên, cán bộ về giáo dục hoà nhập và sự phối hợp, cộng tác giữa các Bộ, ngành quan tâm đến giáo dục đặc biệt, nhất là giáo dục hoà nhập cho trẻ em khuyết tật [16]

Những công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến vấn đề CTXH đối với trẻ khuyết tật như: đề tài ‘‘Công tác xã hội với trẻ em khuyết tật tại xã Hồng Quản, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế’’ của tác giả Trần Ngọc Hải Mục tiêu quan trọng mà đề tài này hướng đến đó là sự giúp đỡ của các ban ngành chức năng nhằm giúp trẻ khuyết tật vươn lên hòa nhập cộng đồng để từ đó họ có cuộc sống tốt hơn Qua đó nhằm nâng cao khả năng và cơ hội tiếp cận các nguồn lực cho trẻ khuyết tật [32]

Công trình nghiên cứu của tác giả Hà Thị Thư đã trình bày một cách tổng quát nhất về công tác xã hội với người khuyết tật, các mô hình hỗ trợ, các phương pháp tiếp cận, các chương trình chính sách của nhà nước đối với người khuyết tật,

Trang 7

vai trò của nhân viên công tác xã hội đối với người khuyết tật, các kỹ năng làm việc với người khuyết tật Đây là giáo trình đào tạo Công tác xã hội ở hệ trung cấp nghề.[24]

Tác giả Tạ Hải Giang, Trung tâm phát triển Sức khỏe bền vững – Viethealt với nghiên cứu “Dịch vụ xã hội cho Người khuyết tật, thách thức và triển vọng” Trong nghiên cứu của mình tác giả đã chỉ ra thực trạng tiếp cận dịch vụ xã hội của người khuyết tật Việt Nam là khó khăn đặc biệt trong lĩnh vực y tế và giáo dục Từ

đó tác giả đưa ra đề xuất về sự cần thiết tham gia của nhân viên công tác xã hội trong công tác hỗ trợ người khuyết tật thông qua kết nối các nguồn lực liên ngành

và đa chiều để hỗ trợ người khuyết tật một cách có hiệu quả Nghiên cứu đã chỉ ra vai trò cụ thể của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người khuyết tật trong lĩnh vực y tế và giáo dục là phòng ngừa khuyết tật bẩm sinh, can thiệp sớm – phát hiện sớm khuyết tật, giáo dục hòa nhập, hướng nghiệp và việc làm [2]

Nhìn chung các công trình nghiên cứu khoa học trên phần lớn nghiên cứu và

đề cập đến công tác xã hội với người khuyết tật, trẻ em khuyết tật Các nghiên cứu chỉ ra những tồn tại, khó khăn và thách thức trong việc trợ giúp cho trẻ khuyết tật tiếp cận với các dịch vụ về chăm sóc sức khỏe, giáo dục trong cộng đồng mà còn rất

ít những đề tài nghiên cứu về Dịch vụ công tác xã hội tại các cơ sở bảo trợ xã hội tập trung nhằm phân tích đánh giá thực trạng việc cung ứng các dịch vụ công tác xã hội, những mặt tích cực, những tồn tại, hạn chế từ đó có những khuyến nghị và đưa

ra các biện pháp nâng cao và tăng cường các hoạt động cung ứng dịch vụ công tác

xã hội cho trẻ em khuyết tật tại các cơ sở tập trung

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu và giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật tại các trung tâm bảo trợ xã hội

- Tìm hiểu, đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến các dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật tại trung tâm

Trang 8

- Ứng dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân trong cung cấp dịch vụ cho trẻ

- Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả các hoạt động cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật tại trung tâm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận và thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về đối tượng: nghiên cứu các dịch vụ công tác xã hội đang được cung cấp và thực hiện tại trung tâm như dịch vụ tư vấn, tham vấn trị liệu; dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng; dịch vụ hỗ trợ y tế, phục hồi chức năng; dịch vụ giáo dục chuyên biệt, giáo dục hoà nhập; dịch vụ giải trí, văn hóa, thể thao

- Phạm vi về khách thể: nghiên cứu trên 50 trẻ khuyết tật hoặc phụ huynh gia đình trẻ; 50 viên chức, người lao động gồm lãnh đạo đơn vị, khoa, phòng và các nhân viên trực tiếp chăm sóc, điều trị và phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật.Các đối tác nhà tài trợ, viện trợ; đại diện cơ quan ban ngành, địa phương và người dân trên địa bàn nghiên cứu

- Phạm vi về địa bàn: tại Trung tâm Phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật,

38 Tú Xương phường 7 quận 3 thành phố Hồ Chí Minh

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích tài liệu: Tra cứu những tài liệu Công ước quốc tế về

quyền trẻ em, quyền người khuyết tật; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em,

Trang 9

Luật người khuyết tật; Các báo cáo, thống kê, văn bản có liên quan; sử dụng các thông tin, số liệu, tài liệu từ các nguồn tài liệu đã được công bố hoặc rút ra từ các nguồn tài liệu chính của Trung tâm phục vụ cho quá trình nghiên cứu

- Phương pháp điều tra bảng hỏi: là phương pháp dựa trên hình thức hỏi đáp

gián tiếp dựa trên bảng các câu hỏi được soạn thảo trước, điều tra viên tiến hành phát bảng hỏi, hướng dẫn thống nhất cách trả lời các câu hỏi, người được hỏi tự đọc các câu hỏi trong bảng hỏi rồi ghi cách trả lời của mình vào phiếu hỏi rồi gửi lại cho các điều tra viên

- Phương pháp phỏng vấn sâu: thu thập thông tin xã hội học thông qua việc

tác động tâm lý học xã hội trực tiếp giữa người đi phỏng vấn và người được phỏng vấn trên cơ sở mục tiêu của đề tài nghiên cứu

- Phương pháp quan sát: thu thập thông tin của nghiên cứu xã hội học thực

nghiệm thông qua các tri giác như nghe, nhìn từ thực tế xã hội nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài Tác giả sử dụng phương pháp này nhằm quan sát môi trường, không gian sống, cơ sở vật chất, điều kiện, tiện nghi sự đáp ứng các dịch vụ; đánh giá những nguyện vọng, mong muốn sự hài lòng của trẻ, của phụ huynh khi tiếp cận các dịch vụ công tác xã hội tại trung tâm; Sự tổ chức, phối hợp, thái độ, sự chuyên nghiệp trong việc triển khai các hoạt động dịch vụ công tác xã hội của tập thể cán bộ, viên chức, người lao động tại trung tâm

- Phương pháp thống kê toán học: sử dụng trong việc thu thập các số liệu định

lượng và xử lý, phân tích qua phần mềm chuyên dụng SPSS

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận của đề tài

Những thông tin thu thập được từ luận văn sẽ góp phần làm phong phú thêm

hệ thống cơ sở dữ liệu cho việc phân tích lý luận về trẻ khuyết tật nói riêng và lý luận về chính sách xã hội nói chung

Là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này về lĩnh vực dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật tại các Trung tâm, cơ sở bảo trợ xã hội tập trung chuyên chăm sóc, điều trị và phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Luận văn đề cập, đánh giá và phân tích những ưu, nhược điểm những mặt mạnh và hạn chế của công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật đang chăm sóc nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội, gợi mở một số giải pháp nhằm nâng cao chất

Trang 10

lượng các dịch vụ công tác xã hội đang được cung cấp cho trẻ khuyết tật tại trung tâm ngày càng chất lượng và hiệu quả hơn

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục và danh mục các biểu bảng, phần nội dung gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật

Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật tại Trung tâm Phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Ứng dụng công tác xã hội vào trợ giúp trẻ em khuyết tật và đề xuất biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI

ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT

1.1 Trẻ khuyết tật: Khái niệm và đặc điểm

1.1.1 Một số khái niệm trẻ em/trẻ em khuyết tật

* Khái niệm về trẻ em

Theo Điều 1 Luật trẻ em năm 2016, Trẻ em là người dưới 16 tuổi [21]

Theo Công ước quốc tế về Quyền trẻ em, trẻ em là người dưới 18 tuổi Mặc

dù chưa có sự thống nhất về khái niệm trẻ em giữa các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước nhưng nhìn chung trẻ em được hiểu là con người ở giữa giai đoạn từ khi sinh và tuổi dậy thì Định nghĩa pháp lý về một "trẻ em" nói chung chỉ tới một đứa trẻ, còn được biết tới là một người chưa tới tuổi trưởng thành [2]

Tóm lại, trẻ em là thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi

nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người mà trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả vận dụng khái niệm trẻ em theo luật trẻ em năm 2016 là những trẻ em khuyết tật dưới 16 tuổi

* Khái niệm về trẻ em khuyết tật

Theo luật người khuyết tật Việt Nam năm 2010 đã đưa ra khái niệm về người khuyết tật, theo đó, Trẻ em khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn [23]

Theo quan điểm của Công ước Quốc tế về Quyền của người khuyết tật được phê chuẩn ngày 30/3/2007 cho rằng, người khuyết tật bao gồm những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc các giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể làm cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của

họ trong xã hội trên một nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội

Theo Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật do Quốc hội Anh ban hành (DDA - Disability Discrimination Act) Khái niệm về người khuyết tật là người có một hoặc nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà vì thế gây

ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày, [30] hay theo Đạo luật về người khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 (ADA

- Americans with Disabilities Act of 1990) định nghĩa người khuyết tật là người có

sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống [31]

Trang 12

Như vậy, trẻ em khuyết tật là những trẻ em dưới 16 tuổi có một hoặc nhiều

khiếm khuyết về thể chất và tinh thần gây ra sự suy giảm các chức năng làm ảnh hưởng đến các hoạt động sinh hoạt, học tập, lao động trong cuộc sống thường ngày của trẻ

1.1.2 Đặc điểm tâm lý, nhu cầu của trẻ khuyết tật

* Đặc điểm tâm lý của trẻ khuyết tật

Bên cạnh các đặc điểm tâm lý tích cực và tiêu cực như trẻ em khác thì phần nhiều tâm lý của trẻ em khuyết tật có điểm nổi lên là:

Tâm lý mặc cảm, tự ti do ý thức và nhận thấy về sự khác biệt của bản thân với những trẻ bình thường khác do đó trẻ thường sống khép kín và ngại giao tiếp với mọi người

Trẻ rất nhạy cảm và dễ bị kích động dẫn đến khó kiểm soát phản ứng khi bị phân biệt đối xử và thiếu tôn trọng

Trẻ gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp với môi trường xung quanh Vốn từ

và khả năng ngôn ngữ chậm hơn so với các trẻ bình thường khác, trẻ thường sử dụng cử chỉ hay ánh mắt để giao tiếp

Một số trẻ có ý chí, nghị lực cao đặc biệt là những trẻ có khuyết tật về vận động nhưng trí tuệ phát triển bình thường hoặc thậm chí rất tốt, những trẻ này thường cố gắng, tự giác và có ý thức cao trong học tập, lao động biết tự chăm sóc bản thân mình để không phụ thuộc vào người khác

Trong mối quan hệ tương tác với người khác trong gia đình, cộng đồng trẻ thường có cảm xúc buồn, thất vọng, dễ tự ái Trẻ có thể bị hạn chế phát triển năng lực nếu gia đình có kỳ vọng thấp ở trẻ hay được gia đình, người thân bảo bọc, che chở quá nhiều hoặc khi sống trong gia đình khó khăn, ít quan tâm trẻ khuyết tật có cảm giác mình bị bỏ rơi

Nhìn chung trẻ khuyết tật đang ở các độ tuổi mà tâm lý chưa ổn định, chưa

có sự hoàn thiện về nhân cách, dễ bị tổn thương do vậy các em rất cần sự động viên

an ủi, chăm sóc, bảo vệ từ gia đình, người thân, cộng đồng và xã hội

 Nhu cầu của trẻ khuyết tật

Nhu cầu là sự đòi hỏi cá nhân về những cái cần thiết để sinh sống và phát triển Nhu cầu của trẻ khuyết tật là những đòi hỏi cần được đáp ứng để tồn tại và phát triển

Trẻ khuyết tật cũng có những nhu cầu cơ bản như mọi người trong xã hội và nhu cầu là nguồn gốc thúc đẩy trẻ hoạt động vươn tới những mục tiêu cho sự phát triển của bản thân mà theo quan điểm của nhà tâm lý học A Maslow, con người có

5 loại nhu cầu cơ bản được sắp xếp theo bậc thang từ thấp đến cao

Trang 13

Các nhu cầu có mối quan hệ chặc chẽ với nhau và không tồn tại độc lập mà luôn nằm trong mối quan hệ gắn kết, phụ thuộc và ảnh hưởng lẫn nhau, các nhu cầu được sắp xếp theo thứ bậc từ thấp đến cao

Trước hết trẻ khuyết tật cần được đáp ứng các nhu cầu ở mức độ thấp Sau

đó mới tìm đến sự đáp ứng các nhu cầu ở bậc thang cao hơn

Nhu cầu trước hết của trẻ em khuyết tật là nhu cầu về thể chất, đây là các nhu cầu về vật chất cần thiết để trẻ sống và tồn tại như ăn, uống, mặc đủ ấm, vệ sinh, chăm sóc sức khoẻ đảm bảo cho sự phát triển thể chất của trẻ, và hơn nữa là giúp trẻ

có điều kiện chữa trị vượt qua bệnh tật

Thứ hai, nhu cầu về sự an toàn đó là trẻ cần có một mái ấm gia đình là chỗ dựa về vật chất và tinh thần cho trẻ Gia đình đóng một vai trò hết sức quan trọng, đây là môi trường xã hội hóa đầu tiên và mạnh nhất của trẻ vì gia đình tạo tinh thần cho trẻ khuyết tật vượt qua khó khăn, thôi thúc nghị lực giúp trẻ chiến đấu với bệnh tật và vươn lên trong cuộc sống

Nhu cầu về xã hội, trẻ khuyết tật rất cần và có nhu cầu được vui chơi, giải trí, học tập như bao trẻ em khác Việc tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí và học tập cho thấy trẻ mong muốn được hòa mình vào xã hội và tự khẳng định mình, nổ lực để hoàn thiện và vươn lên trong cuộc sống

Nhu cầu được tôn trọng, đây là nhu cầu mà trẻ khuyết tật luôn đòi hỏi việc thực hiện nhu cầu này ở người lớn, ở bạn bè cùng trang lứa và trước hết là ở những người cha người mẹ Sự tôn trọng, sự thừa nhận của mọi người sẽ làm tăng sự tự tin, tăng nghị lực của trẻ

Nhu cầu cao nhất của trẻ là nhu cầu phát triển và hoàn thiện nhân cách đó là việc tự khẳng định mình, chứng minh rằng mình có năng lực và mình có thể làm được mọi việc

Thực tế cho thấy, hiện nay một số nhu cầu bậc cao đối với trẻ khuyết tật rất ít

có cơ hội thực hiện hoá do đó rất cần sự trợ giúp phù hợp từ phía gia đình, cộng đồng, xã hội để trẻ có thêm cơ hội đáp ứng các nhu cầu, để trẻ có cuộc sống bình thường, để được phát triển và hòa nhập

1.2 Lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật

1.2.1 Một số khái niệm

* Khái niệm về dịch vụ xã hội

Dịch vụ xã hội cơ bản là hệ thống cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người và được xã hội thừa nhận (VNSW)

Liên hợp quốc định nghĩa Dịch vụ xã hội cơ bản là các hoạt động dịch vụ

cung cấp những nhu cầu cho các đối tượng nhằm đáp ứng những nhu cầu tối thiểu của cuộc sống (UN – Africa Spending Less on Basic Social Services) [36]

Trang 14

Theo Soer Mary Trần Thị Kim Loan dịch vụ xã hội là các tổ chức cá nhân

và xã hội thực hiện các hoạt động xã hội đáp ứng các nhu cầu bình thường và đặc biệt của cá nhân và gia đình đảm bảo các quyền cơ bản của con người nhằm đem lại

sự phát triển và cải thiện cuộc sống Hệ thống dịch vụ xã hội bao gồm nhiều lĩnh vực như: y tế, giáo dục, an sinh, nông nghiệp, hạ tầng cơ sở [18]

 Khái niệm về dịch vụ công tác xã hội

Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ (NASW) [36]

Tác giả Nguyễn Thị Oanh (trích từ tài liệu hội thảo 2004) đưa ra khái niệm: CTXH nhằm giúp cá nhân và cộng đồng TỰ GIÚP Nó không phải là một hành động ban bố của từ thiện mà nhằm phát huy sứ mệnh của hệ thống thân chủ (cá nhân, nhóm và cộng đồng) để họ tự giải quyết vấn đề của mình [1,32]

Theo tác giả Hà Thị Thư, dịch vụ công tác xã hội là việc cung cấp các hoạt động mang tính chất phòng ngừa – khắc phục rủi ro và hòa nhập cộng đồng cho các nhóm đối tượng yếu thế dựa trên các nhu cầu cơ bản của họ nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội [28,tr193-199]

Như vậy, có thể thấy dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật được

hiểu là một số hoạt động mang tính chuyên nghiệp được cung cấp bởi nhân viên công tác xã hội nhằm phòng ngừa, hạn chế, khắc phục rủi ro, đảm bảo đáp ứng nhu cầu cơ bản cho trẻ em khuyết tật nhằm đáp ứng những nhu cầu vật chất cơ bản cho trẻ như dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng; dịch vụ hỗ trợ tâm lý; dịch vụ y tế; dịch vụ giáo dục và dịch vụ vui chơi giải trí

1.2.2 Các nguyên tắc trong cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ

em khuyết tật

Nhân viên xã hội khi thực hiện các dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật cần phải hiểu và tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghề công tác xã hội đó là:

Tôn trọng và phát huy quyền lựa chọn, quyền quyết định mà không phân biệt giá trị, niềm tin, tư tưởng và cuộc sống của đối tượng và không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác

Thúc đẩy sự tham gia đầy đủ của đối tượng bằng cách giúp đối tượng tự quyết định và giải quyết các vấn đề có ảnh hưởng đến cuộc sống

Tập trung vào điểm mạnh, tận dụng các nguồn lực sẳn có của đối tượng để thúc đẩy việc trao quyền

Trang 15

Chịu trách nhiệm đối với các hoạt động nghề nghiệp công tác xã hội, bảm đảm đối tượng được cung cấp dịch vụ công tác xã hội phù hợp và chất lượng

Thúc đẩy công bằng xã hội, đảm bảo cung cấp nguồn lực một cách công bằng, minh bạch theo nhu cầu của đối tượng

Tôn trọng sự đa dạng, không phân biệt đối xử về khả năng, tuổi tác, giới tính, tình trạng hôn nhân, tình trạng kinh tế - xã hội, màu da, chủng tộc, quốc tịch, quan điểm chính trị, tín ngưỡng tôn giáo và các đặc điểm sức khỏe của đối tượng

1.2.3 Các dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật

Các hoạt động cung cấp dịch vụ về công tác xã hội tại các cơ sở bảo trợ xã hội, trung tâm công tác xã hội bao gồm:

Tư vấn, tham vấn để giải quyết sự căng thẳng về quan hệ, tình cảm và trợ giúp tiếp cận các dịch vụ xã hội; tổ chức các cuộc tiếp xúc, trao đổi để tìm ra khó khăn và cách thức giải quyết khó khăn; trợ giúp về thức ăn, chỗ ở tạm thời; hỗ trợ khám, chữa bệnh và học tập; trợ giúp học nghề, tìm việc làm, nâng cao thu nhập và vui chơi giải trí, sinh hoạt văn hoá tinh thần;

Nâng cao năng lực cho cán bộ liên quan ở cộng đồng, thành viên các gia đình

để họ tự giải quyết các vấn đề phát sinh, vượt qua hoàn cảnh khó khăn;

Tổ chức các hoạt động trợ giúp cộng đồng, nâng cao năng lực phát hiện vấn đề, xây dựng kế hoạch huy động nguồn lực thông qua các chương trình, dự án;

tổ chức thực hiện kế hoạch có sự tham gia của người dân, người cao tuổi, người tàn tật và trẻ em, thúc đẩy cộng đồng phát triển

1.2.3.1 Dịch vụ tư vấn, tham vấn trị liệu

Trung tâm thực hiện hỗ trợ về dịch vụ tư vấn, tham vấn trị liệu cho trẻ khuyết tật thông qua hoạt động tư vấn, hỗ trợ tâm lý cho cá nhân trẻ và gia đình, bằng các phương pháp trị liệu tâm lý giúp trẻ vượt qua khủng hoảng về tâm lý để giải quyết sự căng thẳng về các mối quan hệ của các thành viên trong gia đình, những vấn đề tâm lý cá nhân cũng như vấn đề xã hội của gia đình và cộng đồng dân

cư có ảnh hưởng và tác động đến trẻ khuyết tật; hỗ trợ gia đình và trẻ tiếp cận và thụ hưởng được các chính sách trợ giúp xã hội

Tham vấn và giúp cho trẻ khuyết tật và gia đình lập kế hoạch cá nhân và sử dụng tối đa những nội lực (từ bản thân trẻ và gia đình) và những ngoại lực sẳn có trong cộng đồng để giúp trẻ phát triển những kỹ năng xã hội cần thiết như giao tiếp, hợp tác, xác định giá trị… để trẻ tự tin hơn khi tham gia vào mọi hoạt động xã hội

có ích cho cuộc sống tự lập Ngoài ra còn giúp các thành viên khác trong xã hội hiểu rõ và đúng hơn về trẻ khuyết tật và bản chất của sự khuyết tật để xã hội có cái nhìn khách quan và khoa học về trẻ khuyết tật, những khó khăn và rào cản từ phía

Trang 16

xã hội dẫn đến hạn chế cơ hội tiếp cận của trẻ khuyết tật để trẻ vươn lên sống độc lập

1.2.3.2 Dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng

Trẻ khuyết tật khi đến trung tâm được tiếp nhận thông tin, yêu cầu của trẻ, sàng lọc và phân loại; Đánh giá về tâm sinh lý, tình trạng sức khoẻ và các nhu cầu của trẻ từ đó lập kế hoạch chăm sóc và thực hiện chăm sóc trẻ Quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ được thu thập dữ liệu để tổng hợp, phân tích và giám sát, đánh giá

sự tiến triển để điều chỉnh kế hoạch chăm sóc khi cần thiết hoặc dừng kế hoạch chăm sóc và tái hòa nhập cộng đồng cho trẻ

Trẻ được cung cấp đầy đủ ít nhất ba bữa ăn sáng, trưa và tối mỗi ngày, bảo đảm đủ dinh dưỡng, calo và có chất đạm (thịt, cá, đậu nành, chất bột đường, ngũ cốc, rau quả) Có chế độ dinh dưỡng đặc biệt cho trẻ sơ sinh, trẻ khuyết tật, trẻ nhiểm HIV trẻ bị ốm hoặc suy dinh dưỡng … Ngoài chế độ trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng theo quy định, trung tâm còn nhận được sự trợ giúp từ các cá nhân, tổ chức, cộng đồng để cải thiện bữa ăn và điều kiện sinh hoạt cho trẻ khuyết tật được đảm bảo phát triển tốt hơn

Trẻ được cung cấp đầy đủ nước uống sạch và bảo đảm vệ sinh tắm giặt hàng ngày, được cung cấp đồ dùng phục vụ việc ngủ gồm giường nằm, chiếu, gối, chăn màn; cung cấp và sử dụng đồ dùng vệ sinh cá nhân, gồm xà phòng tắm, khăn tắm, khăn mặt, kem đánh răng và bàn chải đánh răng riêng, được trang bị quần áo đồng phục đi học (đối với trẻ trong độ tuổi đi học), tất và dép được cung cấp ít nhất 6 tháng/01 lần và được thay thế khi bị hư hỏng, mất và quần áo mặc đủ ấm về mùa đông

1.2.3.3 Dịch vụ hỗ trợ y tế, phục hồi chức năng

Trung tâm luôn có đội ngũ cán bộ y tế (Bác sĩ, Điều dưỡng, Kỹ thuật viên y,

Hộ lý), trang thiết bị, dụng cụ y tế, tủ thuốc bảo đảm chăm sóc sức khoẻ ban đầu, sơ cấp cứu khi cần thiết; điều trị và mở sổ theo dõi; kiểm tra sức khoẻ định kỳ 6 tháng

và hàng năm cho từng trẻ Ngoài ra trung tâm còn có đội ngũ cán bộ y tế chuyên môn về phục hồi chức năng (Bác sĩ về chỉnh hình, phục hồi chức năng, Kỹ thuật viên vật lý trị liệu), các máy móc, trang thiết bị, dụng cụ dùng để tập vật lý trị liệu, phục hồi chức năng cho nhóm trẻ khuyết tật vận động…

Thực hiện khám, chẩn đoán, điều trị và phục hồi suy dinh dưỡng, phục hồi chức năng giúp trẻ được can thiệp phục hồi suy dinh dưỡng, phục hồi chức năng sớm qua tập vật lý trị liệu, phục hồi chức năng, hạn chế những biến dạng suy giảm chức năng, giúp trẻ phát triển vận động và thể lực tốt hơn để sớm hoà nhập cộng đồng

Trang 17

Tổ chức chương trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, chăm sóc sức khoẻ ban đầu và phục hồi chức năng qua tập vật lý trị liệu tại gia đình giúp trẻ được phục hồi sức khoẻ, cải thiện chất lượng cuộc sống, phòng ngừa các bệnh nguy hiểm hay gặp ở trẻ em, giảm gánh nặng chi phí điều trị, nhân lực và thời gian chăm sóc bệnh

1.2.3.4 Dịch vụ hỗ trợ giáo dục chuyên biệt, giáo dục hòa nhập

Trẻ đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại trung tâm được bảo đảm việc học văn hoá (đối với trẻ có khả năng học tập) được học nghề (đối với trẻ em từ 13 tuổi trở lên), cụ thể:

Bảo đảm cho trẻ được phổ cập giáo dục, cung cấp giáo dục chính quy hoặc không chính quy trong các trường công lập, dân lập hoặc tại các trường chuyên biệt,

cơ sở bảo trợ xã hội, trung tâm

Giáo dục cho trẻ về đạo đức xã hội, vệ sinh, kiến thức phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS, sức khoẻ sinh sản và các chủ đề khác phù hợp với độ tuổi và giới tính Hướng dẫn trẻ các phương pháp tự phòng tránh buôn bán, lạm dụng, bạo hành và bóc lột

Cung cấp sách vở, tài liệu học tập và bố trí nơi học tập cho trẻ

Tư vấn để trẻ tự lựa chọn học nghề và phù hợp với điều kiện của địa phương Trẻ được hỗ trợ học tiếp lên các cấp hoặc học nghề tuỳ thuộc vào độ tuổi, sự lựa chọn và nhu cầu thị trường

Hoạt động hỗ trợ giáo dục thông qua việc cung cấp dịch vụ giáo dục chuyên biệt và giáo dục hòa nhập cho trẻ em khuyết tật tại Trung tâm được tổ chức qua các chương trình giáo dục mầm non, giáo dục đặc biệt, giáo dục phổ cập, chuẩn hoá các quy trình các hoạt động, công tác quản lý, giám sát và đánh giá Qua đó trẻ

có nhiều cơ hội phát triển nhận thức và ngôn ngữ sớm hoà nhập cộng đồng

1.2.3.5 Dịch vụ giải trí, văn hóa, thể thao

Trẻ khuyết tật tại Trung tâm được tổ chức và tham gia các hoạt động văn hóa, vui chơi, giải trí thường xuyên và định kỳ vào các dịp Lễ - Tết như:

Trung tâm trang bị tủ sách, phòng đọc; cung cấp sách báo, tạp chí, đài, ti vi

để đáp ứng các nhu cầu về giải trí và thông tin cho trẻ; hàng tuần tổ chức hoạt động dạy hát, dạy nhạc hoặc sinh hoạt văn nghệ, thể thao, vui chơi, giải trí phù hợp với sức khỏe theo từng trẻ, nhóm trẻ

Trẻ được tham gia vào các hoạt động thể thao, vui chơi, giải trí phù hợp với lứa tuổi và người dân ở cộng đồng; hỗ trợ cho trẻ khuyết tật tham gia một cách an toàn vào các hoạt động trên;

Trẻ được tạo điều kiện để làm quen, kết bạn với những người xung quanh, bạn học ở trường và cộng đồng; gặp gỡ với gia đình hoặc những người thân, bạn bè, trừ một số trường hợp có khả năng đe dọa đến sự an toàn của trẻ khuyết tật

Trang 18

Trẻ được đảm bảo tham gia trong môi trường văn hóa có sự quan tâm, chia

sẻ và hỗ trợ trẻ thể hiện tình cảm, suy nghĩ, ý tưởng và sự sáng tạo;

Trẻ có cơ hội tham gia vào các hoạt động tôn giáo và xã hội; được học văn hóa truyền thống dân tộc và tôn trọng quyền tự do về tôn giáo, tín ngưỡng trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam; Có quyền lựa chọn tôn giáo mà không bị phân biệt đối xử, không bị ép buộc theo một tôn giáo để được chăm sóc trong cơ sở bảo trợ xã hội

Qua đó, cho thấy hoạt động cung cấp các dịch vụ công tác xã hội tại Trung tâm như: chăm sóc, nuôi dưỡng; hỗ trợ y tế, phục hồi chức năng; hỗ trợ giáo dục và

hỗ trợ tâm lý phụ thuộc rất nhiều vào đối tượng xã hội mà dịch vụ hướng đến, cụ thể đối tượng trẻ tiếp nhận vào trung tâm phần lớn là trẻ em khuyết tật trong độ tuổi

tử 3 đến dưới 16 tuổi có thể chất yếu do suy dinh dưỡng và có nhiều bệnh lý; trẻ đa khuyết tật nên hầu như mọi sinh hoạt đều luôn cần đến đội ngũ nhân viên trực tiếp chăm sóc, đội ngũ nhân viên y tế, kỹ thuật viên, giáo viên nhân viên xã hội túc trực toàn thời gian 24/24 để theo dõi hỗ trợ và can thiệp kịp thời Điều này đòi hỏi người nhân viên phải có tình thương yêu thương trẻ, có trách nhiệm với công việc của mình xem trẻ như con em của mình Họ rất ít có thời gian cho bản thân và gia đình khi làm việc tại trung tâm vì phải trực và chăm sóc trẻ toàn thời gian Cuộc sống bản thân và gia đình chỉ nhờ vào tiền lương theo ngạch bậc nhà nước, do đó thu nhập thường xuyên hàng tháng cộng với chế độ phụ cấp ưu đãi phải làm sao cho người nhân viên đảm bảo được cuộc sống sẽ là điều kiện quyết định sự gắn bó lâu dài và sự tận tâm phục vụ của người nhân viên xã hội

1.2.4 Một số lý thuyết ứng dụng đối với trẻ em khuyết tật

1.2.4.1 Thuyết hệ thống

Thuyết hệ thống là tổng thể phức hợp gồm nhiều yế tố liên quan với nhau và mỗi biến động trong một yếu tố nào đều tác động lên những yếu tố khác và cùng tác động lên cả một hệ thống có thể gồm nhiều hệ thống, đồng thời là một bộ phận của một đại hệ thống Cũng như con người là một tiểu hệ thống, gia đình là hệ thống trung mô, xã hội là hệ thống vĩ mô Mỗi cá nhân trong tiểu hệ thống sẽ bộc lộ vai trò ở một môi trường nào đó mà cá nhân gặp phải Vận dụng thuyết hệ thống này trong hỗ trợ CTXH cho trẻ khuyết tật, NVXH có thể nhìn trong mối quan hệ tương tác với nhau trong gia đình, người thân, cộng đồng có can thiệp phù hợp Tìm những nguồn lực xung quanh trẻ thông qua mối quan hệ tương tác của trẻ để hỗ trợ [17, tr11-19]

1.2.4.2 Lý thuyết nhu cầu

Abraham Maslow là nhà khoa học nổi tiếng người Mỹ Ông được xem là cha

đẻ của Thuyết nhu cầu Theo ông, nhu cầu của con người được chia thành 5 thang

Trang 19

bậc khác nhau theo thứ tự từ thấp đến cao: nhu cầu về sinh học, nhu cầu được an toàn, nhu cầu được chấp nhận được sự yêu thương, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu được phát triển Thang nhu cầu còn được chia làm hai cấp: cấp thấp (vật chất và

an toàn), cấp cao (xã hội, tôn trọng và phát triển) Khi con người đã thoả mãn nhu cầu cấp thấp rồi thì sẽ tiến tới nhu cầu cấp cao hơn [1]

Vận dụng thuyết nhu cầu của Maslow trong nghiên cứu tác giả tìm hiểu và đánh giá thực trạng nhu cầu của trẻ em khuyết tật tại Trung tâm, qua đó xem xét các nhu cầu thực tế nào đã được đảm bảo, nhu cầu nào chưa được đảm bảo, đảm bảo ở mức độ nào, cần ưu tiên đáp ứng nhu cầu nào trước, nhu cầu nào sau… nhằm giúp trẻ khuyết tật được đáp ứng đầy đủ các nhu cầu tối thiểu và hướng đến những nhu cầu tiếp theo cao hơn cho phù hợp theo từng điều kiện, hoàn cảnh của trẻ

1.2.5 Phương pháp công tác xã hội cá nhân trong cung cấp dịch vụ công tác xã hội

Công tác xã hội cá nhân (Case Work hay Working with individuals) được xem như là phương pháp của CTXH thông qua mối quan hệ tương tác 1-1 giữa NVXH với cá nhân thân chủ nhằm trợ giúp họ giải quyết các vấn đề nảy sinh từ sự thay đổi (kinh tế - xã hội) của môi trường, giúp họ điều chỉnh bản thân và cách thức tương tác với môi trường

Qua đó, có thể thấy CTXH cá nhân là một phương pháp trợ giúp trong CTXH thông qua mối quan hệ tương tác trực tiếp 1-1 Mục đích của CTXH cá nhân

là giúp cho cá nhân giải quyết vấn đề nảy sinh từ mối quan hệ, từ những thay đổi của môi trường xung quanh Đối tượng trợ giúp là cá nhân nhưng có khi cần can thiệp với cả gia đình của họ nhằm tạo sự thay đổi của cá nhân và những người liên quan trong gia đình, là những người đang có vấn đề tâm lý, xã hội Người trợ giúp

là NVXH, họ là nhà chuyên môn có kiến thức nền tảng như hành vi con người, xã hội và kỹ năng chuyên môn về CTXH Họ thực hiện việc trợ giúp các cá nhân theo tiến trình tuần tự với các hoạt động cụ thể nhằm nâng cao chức năng của các cá nhân để họ có khả năng tự giải quyết vấn đề của họ

Các bước thực hiện phương pháp CTXH cá nhân hay còn được gọi là tiến trình công tác xã hội cá nhân

Tiến trình là sự trao đổi tương tác giữa những cán bộ chuyên nghiệp (nhân viên xã hội) và thân chủ theo các bước với những hoạt động cụ thể nhằm giải quyết vấn đề Tiến trình này có thể được phân thành các bước khác nhau, cụ thể được phân thành 7 bước:

Bước 1 - Xác định vấn đề

Tạo mối quan hệ với thân chủ hướng đến việc hợp tác và chia sẻ thông tin; Xác định thân chủ đang gặp phải vấn đề gì

Trang 20

Bước 2 – Thu thập thông tin

Việc thu thập thông có tác dụng định hướng cho kế hoạch dịch vụ cho thân chủ Thông tin thu thập gồm: tiểu sử xã hội, điểm mạnh, điểm yếu; vấn đề; Những

ấn tượng và đề xuất của nhân viên xã hội

Bước 3 – Đánh giá

Khẳng định lại vấn đề thân chủ gặp phải; Nguyên nhân dẫn đến vấn đề; Vấn

đề cần được giải quyết ở đâu; Công việc trị liệu bắt đầu như thế nào

Bước 4 – Lên kế hoạch can thiệp, trị liệu

Mục tiêu cần đạt được; Xác định thời gian trị liệu; Xây dựng kế hoạch trị liệu theo từng mốc thời gian; Xác định nguồn lực hỗ trợ

Lưu ý: Kế hoạch được xây dựng trên cơ sở những thông tin thu thập được từ chính thân chủ và hiểu biết của NVXH về các hệ thống hỗ trợ, hệ thống mục tiêu;

Kế hoạch phải mang tính bao quát ở các mức can thiệp khác nhau

Bước 5 – Thực hiện và giám sát việc thực hiện kế hoạch

Giám sát tiến trình và nội dung; ghi chép lại quá trình thực hiện, đánh dấu những điều làm được, những điều chưa làm được, những đều tiến bộ, những điều cản trở tiến trình phát triển; Hỗ trợ thân chủ trong việc theo đuổi kế hoạch; Có kỹ năng nhận biết sự thay đổi; Lượng giá từng giai đoạn nhỏ và có sự điều chỉnh kịp thời; Vai trò của NVXH giảm dần; Vai trò của thân chủ tham gia nhiều hơn, chủ động hơn; Phát triển một số kế hoạch tiếp theo (nếu thấy cần thiết)

Bước 6 – Lượng giá

Lượng giá về tiến trình và kết quả đầu ra như những việc đã làm được, chưa làm được, nguyên nhân, những kiến nghị, đề xuất

Lưu ý: Lượng giá này dựa trên những công vịêc thực hiện được nhằm hướng đến vịêc giải quyết vấn đề của thân chủ

Bước 7 – Kết thúc

NVXH có thể phát triển một số kế hoạch tiếp theo để thân chủ theo đuổi thực hiện Thông thường, giai đoạn kết thúc diễn ra khi các mục tiêu can thiệp đạt được hay vấn đề cuả thân chủ được giải quyết

1.3 Cơ sở pháp lý về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật tại trung tâm

1.3.1 Quy định của pháp luật và các chính sách đối với trẻ em, trẻ em khuyết tật

* Công ước quốc tế về quyển trẻ em (Convention on the Rights of the Child)

Công ước quốc tế về quyền trẻ em đã ghi nhận, trẻ em có: Quyền được sống;

Quyền được phát triển ở mức đầy đủ nhất; Quyền được bảo vệ khỏi những ảnh

Trang 21

hưởng tiêu cực, lạm dụng và bóc lột; Quyền được tham gia đầy đủ trong gia đình văn hóa và cuộc sống xã hội

Quyền đưa ra trong công ước được bắt nguồn từ phẩm giá của con người và

sự phát triển của trẻ Tất cả các quốc gia cần phải đặt ra tiêu chuẩn trong chăm sóc, giáo dục, pháp lý, công dân và dịch vụ xã hội

Việt Nam ngay từ đầu những năm 1990 đã xây dựng các chương trình về quyền trẻ em trong đó có hai Chương trình hành động quốc gia về Trẻ em Việt Nam (giai đoạn 1991-2000 và giai đoạn 2001-2010); Chương trình hành động quốc gia

về Bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt giai đoạn 1999-2002; Chương trình quốc gia

về Phòng ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em đường phố, trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em làm việc trong điều kiện nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại giai đoạn 2004-2010; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em số 25/2004/QH11 ngày 15 tháng

06 năm 2004 của Quốc hội về việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

Ngoài ra còn có Kế hoạch Hành động quốc gia về Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng giai đoạn 2005-2010 Kế hoạch có 9 lĩnh vực trọng yếu và 4 mục tiêu cụ thể bao gồm tăng số trẻ em được hưởng lợi từ các

hỗ trợ xã hội; tăng số trẻ em khuyết tật được tiếp cận hỗ trợ phục hồi; tái hòa nhập 1 ngàn trẻ em mồ côi từ các cơ sở chăm sóc tập trung về cộng đồng thông qua các mô hình chăm sóc thay thế; và thử nghiệm 10 mô hình nhóm nhà gia đình trong các cơ

sở bảo trợ xã hội

* Công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc về quyền của Người khuyết tật

Mục đích của Công ước là nhằm bảo hộ và thúc đẩy các quyền của người khuyết tật; đảm bảo người khuyết tật được tiếp cận bình đẳng và thực hiện đầy đủ các quyền cơ bản như các cá nhân không khuyết tật khác

Công ước đề cập đến các nguyên tắc cơ bản như sau: Tôn trọng phẩm giá, quyền tự chủ của cá nhân bao gồm sự tự do lựa chọn cá nhân và sự độc lập của con người; Không được kỳ thị; Được tham gia một cách đầy đủ và hiệu quả vào xã hội; Tôn trọng sự khác biệt và chấp nhận người khuyết tật như một phần của nhân loại

và sự đa dạng của con người; Bình đẳng về cơ hội; Khả năng tiếp cận; Công bằng giữa nam và nữ; Tôn trọng sự tham gia của trẻ em khuyết tật và tôn trọng quyền trẻ

em khuyết tật để bảo vệ tính cá thể của họ

* Luât Người khuyết tật Việt Nam 2010

Luật Người khuyết tật đã được Quốc hội thông qua ngày 17 tháng 6 năm

2010 Luật Người khuyết tật Việt Nam gồm 10 chương, 53 điều và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 Nội dung chính của Luật chủ yếu đề cập đến các lĩnh vực có liên quan đến người khuyết tật bao gồm: chăm sóc sức khỏe; giáo dục; dạy

Trang 22

nghề và việc làm; văn hóa, thể dục thể thao, giải trí và du lịch; nhà chung cư, công trình công cộng; giao thông; công nghệ thông tin, truyền thông; và bảo trợ xã hội

* Đề án trợ giúp Người khuyết tật của chính phủ giai đoạn 2006- 2010 được phê duyệt tháng 10/2006 Đề án đưa ra phương pháp tiếp cận toàn diện đối với vấn

đề người khuyết tật với việc mở rộng đối tượng tham gia đề án và có sự tham gia của nhiều bộ ngành liên quan

* Giáo dục hòa nhập tầm nhìn tới 2015 của Chính phủ đặt mục tiêu thực hiện giáo dục hòa nhập cho tất cả trẻ em khuyết tật vào năm 2015

* Nghị định 13/2010/NĐ-CP ngày 27/2/2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/NĐ-CP về chính sách trợ giúp các đối tượng xã hội Nghị định quy định tăng mức trợ cấp thường xuyên và đột xuất Mức chuẩn để xác định mức trợ cấp xã hội hàng tháng được tăng thêm 50%, từ 120 ngàn đồng lên 180 ngàn đồng (hệ số 1) Hiện nay quy định về chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội đã được Chính phủ điều chỉnh và thay thế bằng Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 theo đó, mức chuẩn trợ cấp, trợ giúp

xã hội là 270 nghìn đồng

* Nghị định 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ, quy định chi tiết

và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật, theo đó hệ số tính mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng theo mức chuẩn trợ cấp, trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật đặc biệt nặng là trẻ em không nơi nương tựa, không tự lo được cho cuộc sống được tiếp nhận vào nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội là hệ số ba (3,0)

1.3.2 Cơ sở pháp lý về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em/trẻ em khuyết tật

CTXH là một nghề hướng đến việc trợ giúp cho các cá nhân, gia đình, cộng đồng, đặc biệt là các đối tượng xã hội “yếu thế” giúp họ phát triển khả năng của bản thân, gia đình cùng với cộng đồng và sự trợ giúp của nhà nước, để họ tự vươn lên hòa nhập đời sống cộng đồng Trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển họ công nhận CTXH là một nghề chuyên nghiệp

Ở Việt Nam ngày 25/3/2010, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ – TTg phê duyệt Đề án phát triển Nghề CTXH giai đoạn 2010 – 2020 Mục tiêu chung của Đề án là “Phát triển CTXH trở thành một nghề ở Việt Nam Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề CTXH; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên CTXH đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến”

Ngay sau đó, các Bộ, Ngành chức năng cũng đã ban hành các văn bản triển khai và hướng dẫn thực hiện như: Thông tư số 34/2010/TT-BLĐTBXH ngày 8 tháng 11 năm 2010 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Quy định tiêu chuẩn

Trang 23

nghiệp vụ các ngạch viên chức CTXH; Thông tư số 04/2011/TT-BLĐTBXH ngày

25 tháng 02 năm 2011 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Quy định tiêu chuẩn chăm sóc tại các cơ sở bảo trợ xã hội; Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BLĐTBXH-BNV ngày 10 tháng 6 năm 2013 của Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, Bộ Nội Vụ, Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội công lập; Thông tư số 01/2017/TT-BLĐTBXH ngày 02 tháng 02 năm 2017 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Quy định về tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp đối với người làm công tác xã hội Như vậy có thể thấy Quyết định 32 đã tạo ra hành lang pháp lý để từng bước phát triển nghề CTXH chuyên nghiệp Đồng thời, cũng tạo ra sự chuyển biến tích

cực trong nhận thức của các cấp bộ đảng, chính quyền và xã hội về nghề CTXH

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật

1.4.1 Đặc điểm đối tượng

Trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng, điều trị, phục hồi tại Trung tâm là trẻ trong độ tuổi từ dưới 16 tuổi, con gia đình nghèo, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ mồ côi không nơi nương tựa, trẻ bị suy dinh dưỡng nặng, trẻ bị khuyết tật, bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam… với nhiều dạng tật khác nhau như: bại não, chậm phát triển vận động, chậm phát triển trí tuệ, Down, tự kỷ, trẻ chậm phát triển tâm thần vận động, trẻ khó khăn về ngôn ngữ và trẻ đa khuyết tật

Đặc điểm trẻ tại trung tâm phần lớn là trẻ khuyết tật nặng và đặc biệt nặng, nhận thức của trẻ rất thấp, trẻ thường có hành vi bất thường, vận động kém, có trẻ không vận động được, trẻ không có ngôn ngữ hoặc ngôn ngữ kém giao tiếp khó khăn Cha, mẹ, gia đình, hoặc người chăm sóc không chấp nhận khiếm khuyết của con em mình, có tâm lý mặc cảm, hy vọng trẻ sẽ được phục hồi và phát triển như trẻ bình thường, trẻ sẽ đi học và hòa nhập với trẻ cùng lứa tuổi Ngoài ra còn có một số cha, mẹ, gia đình lại muốn bỏ rơi trẻ, hay bỏ mặc không chăm sóc, phó thác tất cả cho Trung tâm Qua đó, có thể thấy trẻ khuyết tật khi vào Trung tâm thường gặp phải những vấn đề trong các hoạt động:

Hoạt động lao động: Gặp rất nhiều khó khăn về mặt hoạt động lao động,

trong việc đi lại do đó trẻ dễ có mặc cảm, tự ti với bản thân và hay sống cô lập, tách

biệt với mọi người xung quanh

Sinh hoạt cá nhân: Do sự khiếm khuyết về cơ thể nên trẻ gặp nhiều cản trở

và bất tiện trong các sinh hoạt cá nhân Mọi sinh hoạt cá nhân đều cần có sự giúp đỡ

của người khác

Hoạt động học tập: Khả năng tiếp thu tri thức của trẻ kém hơn các bạn cùng

lứa do dó trẻ rất dễ chán nản, bỏ học và không hợp tác Vì vậy cần một hình thức

Trang 24

giáo dục phù hợp như giáo dục chuyên biệt, giáo dục hòa nhập để trẻ thích nghi dần

và phát triển phù hợp theo từng đặc điểm khiếm khuyết và khả năng phát triển của trẻ

1.4.2 Nhân viên công tác xã hội

Yêu cầu của nhân viên công tác xã hội khi vào làm việc tại Trung tâm cần

có, đó là:

Về phẩm chất đạo đức: Nhân viên CTXH phải có lòng yêu thương trẻ em, làm việc với tinh thần trách nhiệm cao; có đạo đức nghề nghiệp, tận tụy, cần mẫn và chịu khó

Về năng lực: Có khả năng độc lập, thực hiện thành thạo các nghiệp vụ công tác xã hội trong phạm vi được phân công phù hợp với chuyên ngành đào tạo; có khả năng nắm bắt các lý thuyết và phương pháp thực hành trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao về công tác xã hội; chịu trách nhiệm cá nhân về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; Có khả năng hướng dẫn nghiệp vụ, phổ biến kinh nghiệm

và tham gia nghiên cứu khoa học phục vụ công tác xã hội; Có khả năng làm việc theo nhóm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao về công tác xã hội; có kỹ năng giao tiếp đối với các nhóm đối tượng; Nhận biết được nhu cầu trợ giúp của trẻ

và thiết lập các biện pháp giải quyết nhu cầu trợ giúp;

Về trình độ: Tốt nghiệp trung cấp trở lên thuộc các chuyên ngành công tác xã hội, xã hội học, tâm lý học hoặc các chuyên ngành khoa học xã hội khác phù hợp với nhiệm vụ công tác xã hội; Có trình độ ngoại ngữ thông dụng từ trình độ A trở lên, sử dụng thành thạo các kỹ năng về nghiệp vụ tin học văn phòng; Có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ công tác xã hội theo quy định

Tuy nhiên, thực tế đội ngũ NVCTXH, những người làm CTXH tại Trung tâm còn rất hạn chế về số lượng lẫn chất lượng, một số vẫn chưa được đào tạo bài bản về chuyên ngành CTXH nên thực sự chưa nắm hết được tâm lý cũng như nhu cầu và khả năng của trẻ khuyết tật, phương pháp làm việc còn thiếu chuyên nghiệp, chủ yếu làm theo thói quen và kinh nghiệm được hướng dẫn lại từ những người làm việc trước

Phát triển nghề CTXH là một trong những giải pháp hiệu quả để giải quyết các vấn đề xã hội, trợ giúp các nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội, góp phần bảo đảm an sinh xã hội Do đó, để hướng tới chuyên nghiệp hóa nghề CTXH thì việc phát huy năng lực, trình độ của đội ngũ nhân viên làm công tác xã hội của Trung tâm là yêu cầu hết sức cần thiết

1.4.3 Nguồn lực xã hội

Kinh phí để đảm bảo cho các hoạt động cung ứng dịch vụ công tác xã hội tại các cơ sở bảo trợ xã hội công lập chủ yếu là từ nguồn kinh phí ngân sách nhà nước

Trang 25

cấp như: kinh phí thường xuyên cho hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, trợ cấp hàng tháng cho các đối tượng kể cả tiền lương cho đội ngũ cán bộ, viên chức, người lao động làm việc tại các cơ sở bảo trợ xã hội; kinh phí hỗ trợ về y tế, giáo dục, đào tạo

và tạo việc làm Ngoài ra các địa phương, cơ sở bảo trợ xã hội có thể tiếp nhận, sử dụng và quản lý các nguồn kinh phí khác do các cá nhân, mạnh thường quân, gia đình; Các tổ chức trong và ngoài nước, doanh nghiệp tại địa phương các tổ chức xã hội, từ thiện, tổ chức phi chính phủ đóng góp, hỗ trợ, tài trợ, viện trợ bằng tiền và hiện vật hoặc thông qua các chương trình, dự án…

Cơ sở vật chất nhà cửa, trang thiết bị cho hoạt động cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại các cơ sở bảo trợ xã hội rất ít được đầu tư mới mà sử dụng từ các cơ

sở, trang thiết bị sẵn có, đã cũ sử dụng lâu năm nên cũng ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng phục vụ, do đó nhu cầu nâng cấp, duy tu sửa chữa tài sản, trang thiết bị,

cơ sở vật chất cho các cơ sở bảo trợ là có thực và thường rất lớn cần phải được đầu

tư một lần nhằm đảm bảo tính bền vững và hiệu quả đầu tư Việc hạn chế kinh phí đầu tư hay chỉ đầu tư dần và dàn trải trong nhiền năm để nâng cấp trang thiết bị, cơ

sở vật chất đã ảnh hưởng rất nhiều đến việc phát triển các hoạt động cung ứng các dịch vụ công tác xã hội tại các cơ sở bảo trợ xã hội công lập hiện nay

Quy mô hoạt động, đối tượng phục vụ tại các cơ sở bảo trợ xã hội là có hạn Việc không thể kéo dài thời gian trợ giúp xã hội cho các đối tượng tại các cơ sở nuôi dưỡng tập trung mà phải luân phiên nhằm tạo điều kiện cho nhiều đối tượng xã hội có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ trợ giúp xã hội hơn nữa và nâng cao năng lực của cá nhân và sự trợ giúp ngoài cộng đồng là cần thiết và khoa học Tuy nhiên, một số đối tượng xã hội cụ thể ở trung tâm là trẻ em khuyết tật, trẻ bị nhiễm chất độc da cam do các di chứng ảnh hưởng rất lâu dài, các khuyết tật nặng thường cần rất nhiều thời gian để phục hồi cho nên việc quy định thời gian trợ giúp xã hội luân phiên tại cơ sở bảo trợ xã hội như hiện nay là chưa phù hợp và gây khó khăn cho các cơ sở bảo trợ xã hội trong việc giải quyết và tuân thủ các thủ tục, quy trình tiếp nhận trẻ vào cơ sở để trợ giúp, can thiệp, phục hồi và chuyển trả trẻ về cộng đồng, địa phương khi đủ thời gian tập trung theo quy định, điều này làm giảm tính hiệu quả của việc trợ giúp xã hội đối với những đối tượng đặc biệt này

1.4.4 Nhận thức của cộng đồng và ban ngành các cấp

Quan điểm và chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em, đặc biệt là trẻ em khuyết tật đã được thể hiện rất rõ qua sự quan tâm, tạo điều kiện từ những người lãnh đạo thành phố và ban ngành các cấp thông qua việc quán triệt và triển khai các hoạt động đến từng địa phương, tuy nhiên trong quá trình thực hiện cũng còn bất cập và một số khó khăn nhất định từ nhận thức của cộng đồng

Trang 26

Cộng đồng nhìn trẻ khuyết tật như những người đáng thương, sống dựa vào

sự giúp đỡ của người khác, cá biệt có một số người lại cho rằng người bị khuyết tật như vậy là do số phận kiếp trước… Do đó, mọi người thường có thái độ xa lánh, kỳ thị hoặc ít muốn tiếp xúc Vấn đề kỳ thị và phân biệt đối xử còn xảy ra từ chính trong gia đình của trẻ khuyết tật, vẫn có sự phân biệt giữa những người con trong gia đình Những thành viên trong gia đình thường coi người khuyết tật là gánh nặng suốt đời, xem họ là người vô dụng nên có thái độ đùm đẩy trách nhiệm, từ chối, thờ

Hệ thống bảo vệ trẻ em dựa vào cộng đồng các cấp chưa phát huy triệt để và nâng cao tính hiệu quả Việc kết nối mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ hỗ trợ trẻ

em còn rời rạc, chưa thống nhất, mỗi nơi làm mỗi kiểu

Công tác truyền thông có liên quan đến phổ cập kiến thức và các kỹ năng cần thiết cho cán bộ, cộng tác viên, người dân trong cộng đồng còn ít và chưa đều Rất ít những sản phẩm truyền thông, tài liệu, cẩm nang, được phát hành rộng rãi trong cộng đồng do đó chưa phát huy được tính hiệu quả của công tác truyền thông

Công tác đào tạo, tập huấn, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, cộng tác viên và người dân, phụ huynh, gia đình trong cộng đồng cũng còn ít và chưa thường xuyên do việc hạn chế về kinh phí; nội dung và các chuyên đề đào tạo còn chung chung, trùng lắp còn thiếu các kiến thức chuyên sâu về các kỹ năng cần thiết về công tác tham vấn, tư vấn, phương pháp đồng hành với gia đình, vai trò vận động nguồn lực, vai trò biện hộ, giới thiệu chuyển gửi và kết nối hệ thống

1.4.5 Cơ chế và hành lang pháp lý cho việc phát triển dịch vụ công tác xã hội

Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010-2020 theo Quyết định số 32/2010 của Thủ tướng Chính phủ là một dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển công tác xã hội ở Việt Nam Đây là cơ sở pháp lý để các Bộ, ngành, địa phương, các cơ sở đào tạo và dạy nghề trong cả nước xây dựng, thúc đẩy, phát triển nghề CTXH chuyên nghiệp ở Việt Nam

Sau hơn 6 năm triển khai thực hiện đến nay đề án đã đạt được nhiều kết quả tích cực Các Bộ, ngành, địa phương đã chủ động xây dựng, triển khai kế hoạch thực hiện Hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước đã có chương trình, kế hoạch thực hiện Đề án Công tác đào tạo cán bộ xã hội bán chuyên nghiệp cũng được đẩy mạnh; mạng lưới trung tâm đào tạo công tác xã hội trình độ thạc sỹ, cử nhân, cao

Trang 27

đẳng, trung học chuyên nghiệp; Tuyên truyền, nâng cao nhận thức về nghề CTXH được tăng cường

Nhìn chung, công tác trợ giúp xã hội thời gian qua cũng đã đạt được những kết quả nhất định:

Đã xây dựng được hệ thống văn bản pháp luật, chính sách tạo cơ sở pháp lý cho thực hiện tốt chính sách trợ giúp xã hội Đến nay, đã có trên 10 Bộ luật, luật; 7 Pháp lệnh và hơn 30 Nghị định, Quyết định của Chính phủ; hơn 40 Thông tư, thông

tư liên tịch và nhiều văn bản có nội dung liên quan quy định khuôn khổ pháp luật, chính sách trợ giúp xã hội Trong đó có những văn bản quan trọng như Luật Người cao tuổi, Luật Người khuyết tật, Luật Chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Nghị định số 67/2007/NĐ-CP, Nghị định số 13/2010/NĐ-CP, Nghị định 136/2013/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với những đối tượng bảo trợ xã hội…

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, quá trình triển khai Đề án cũng đã bộc

lộ nhiều điểm tồn tại, hạn chế cần khắc phục như:

Khuôn khổ pháp lý phát triển nghề CTXH chưa được hoàn chỉnh Các văn bản quy phạm pháp luật phát triển nghề CTXH chưa được hệ thống hóa vì cần nhiều thời gian và liên quan đến nhiều Bộ, ngành khác nhau

Mạng lưới cung cấp cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng; tính xã hội chưa cao; chưa đáp ứng được nhu cầu của đối tượng chưa dựa vào cộng đồng

Đội ngũ cán bộ, nhân viên, cộng tác viên CTXH còn mỏng và chưa chuyên nghiệp; thiếu đội ngũ cộng tác viên CTXH tại cộng đồng

Công tác đào tạo CTXH tại các trường đại học, cao đẳng mới chỉ chú trọng đến

số lượng; chưa gắn giữa đào tạo lý thuyết và thực hành; chưa có sự phối hợp giữa cơ sở đào tạo với các cơ sở đơn vị sử dụng nguồn nhân lực CTXH được đào tạo

Nhận thức về vai trò, vị trí của nghề CTXH của nhiều cấp, ngành, địa phương còn hạn chế Số lượng người dân có nhu cầu trợ giúp xã hội được tiếp cận, thụ hưởng dịch vụ CTXH còn ít

Tóm lại, nhìn tổng thể, chính sách trợ giúp xã hội ở Việt Nam đã đạt được thành quả góp phần bảo đảm an sinh xã hội cho người dân Hệ thống trợ giúp xã hội tuy đã hình thành nhưng chưa được hoàn thiện theo cách tiếp cận hệ thống, đồng

bộ, toàn diện, bao phủ hết đối tượng, gắn kết chặt chẽ trong mối tương quan với an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, phát triển các dịch vụ xã hội cơ bản và tiếp thu

có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về phát triển trợ giúp xã hội, nhất là trong điều kiện Việt Nam là nước đang phát triển có thu nhập trung bình

Kết luận chương 1

Trang 28

Trong chương 1 tác giả đã trình bày một số vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật, cụ thể là đề cập đến các khái niệm về trẻ em, trẻ

em khuyết tật, dịch vụ xã hội, dịch vụ công tác xã hội Những khái niệm này làm rõ

về đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu của đề tài

Đồng thời, chương này cũng nêu các dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật, đó là dịch vụ tư vấn, tham vấn trị liệu; dịch vụ chăm sóc nuôi dưỡng; dịch vụ hỗ trợ y tế, phục hồi chức năng; dịch vụ hỗ trợ giáo dục chuyên biệt, giáo dục hòa nhập và dịch vụ giải trí, văn hóa, thể thao Một số lý thuyết và phương pháp CTXH ứng dụng trong cung cấp dịch vụ CTXH

Cơ sở pháp lý về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật tại trung tâm Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật,

đó là các yếu tố: đặc điểm đối tượng; nhân viên công tác xã hội; nguồn lực xã hội; nhận thức của cộng đồng và ban ngành các cấp; cơ chế và hành lang pháp lý cho việc phát triển dịch vụ công tác xã hội

Như vậy, qua hệ thống cơ sở lý luận ở chương 1 sẽ định hướng cho việc

nghiên cứu đề tài “Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn

Trung tâm Phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật Thành phố Hồ Chí Minh”

Trang 29

Chương 2 THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT TẠI TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VÀ TRỢ GIÚP

TRẺ TÀN TẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 Khái quát về Trung tâm và trẻ em khuyết tật tại Trung tâm

2.1.1 Tình hình và đặc điểm của Trung tâm

Trung tâm Phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, tọa lạc trên khuôn viên đất được Bộ giao quản lý và sử dụng là 4.690 m2, thuộc địa bàn quận 3 thành phố Hồ Chí Minh Trung tâm được thành lập ngày 09/3/1978 theo Quyết định số 86/TBXH của Bộ Thương binh và Xã hội từ việc tiếp nhận và hợp nhất hai cơ sở cũ trước năm 1975

là Trung tâm Y tế Xã hội Việt Nam (Terre des Hommes) và Nhà trẻ Caritas lấy tên

là Trung tâm phục hồi trẻ mồ côi suy dinh dưỡng với nhiệm vụ ban đầu là: “Tiếp nhận nuôi dưỡng và phục hồi cho trẻ mồ côi suy dinh dưỡng dưới 3 tuổi thuộc các tỉnh, thành phố phía Nam Sau khi các em đã khỏe mạnh sẽ tùy tình hình từng em

mà giao cho cá nhân hay tập thể việc nuôi dưỡng, săn sóc cho đến khi các em khôn lớn…”

Đến 18 tháng 6 năm 1996 Trung tâm phục hồi trẻ mồ côi suy dinh dưỡng được đổi tên và quy định lại nhiệm vụ, tổ chức thành Trung tâm phục hồi trẻ suy dinh dưỡng và trợ giúp trẻ tàn tật theo Quyết định số 818/LĐTBXH-QĐ của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Nhiệm vụ lúc này là: “Tiếp nhận, điều trị, phục hồi

và nuôi dưỡng trẻ mồ côi suy dinh dưỡng và trẻ thuộc gia đình có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt từ sơ sinh đến 5 tuổi thuộc địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam với lưu lượng thường xuyên không quá 120 trẻ; Tổ chức và thực hiện phục hồi trẻ suy dinh dưỡng và trợ giúp trẻ tàn tật tại cộng đồng thuộc địa bàn quản lý.; Chuyển trả về gia đình, địa phương hoặc cơ sở xã hội khác những trẻ sức khỏe

đã phục hồi hòa nhập cộng đồng; Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, kỹ thuật cho đội ngũ cán bộ, nhân viên chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại cộng đồng…”

Trung tâm được đổi tên thành Trung tâm Phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật như ngày nay từ 30 tháng 11 năm 2006 theo Quyết định số 1787/QĐ-LĐTBXH của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Theo đó, Trung tâm có chức năng thực hiện điều trị phục hồi chức năng, trợ giúp trẻ tàn tật, trẻ mồ côi nghèo; bồi dưỡng, huấn luyện về điều trị phục hồi chức năng

Trang 30

Số cán bộ, viên chức và người lao động làm việc tại Trung tâm hiện có là 74 người, trong đó nam 14 chiếm 19%, nữ 60 chiếm 81%

- Về trình độ chuyên môn có: sau đại học 5 người chiếm 6,76%, đại học 23 người chiếm 31,08%, Cao đẳng và trung cấp 25 người chiếm 33,78%, còn lại 21 người có trình độ sơ cấp và lao động phục vụ chiếm 28,38%

- Đội ngũ cán bộ, nhân viên trực tiếp chăm sóc, can thiệp và hỗ trợ y tế, giáo dục cho trẻ là 60 người chiếm 81,08% (gồm: Bác sĩ 03 người, Điều dưỡng 6 người,

Kỹ thuật y, Vật lý trị liệu 11 người, Hộ lý 16 người, Giáo viên 20 người, Nhân viên

xã hội 04 người), còn lại là đội ngũ quản lý Hành chính và phục vụ 14 người chiếm 18,92%

- Kinh phí hoạt động:

Kinh phí hoạt động của Trung tâm, chủ yếu do tổ chức terre des hommes Đức viện trợ và tài trợ trong suốt hơn 30 năm qua vào khoảng 6 triệu USD và một phần từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đóng góp, hỗ trợ mà không nhận

từ ngân sách nhà nước cấp Ngoài ra Trung tâm còn nhận được sự viện trợ, tài trợ bằng tiền và hiện vật từ các tổ chức phi chính phủ khác như: Terre des Hommes Thụy sỹ, Kinderhife (CHLB Đức), Vreni Zollinger (Thụy sỹ), Caritas, Christina Noble Childrend Foundation, Marina Picasso, Unicef…

Để đảm bảo duy trì hoạt động cho những năm tiếp theo và về sau, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội đã có quyết định phê duyệt và cấp kinh phí từ Ngân sách hàng năm cho Trung tâm kể từ năm 2014 và đến 2016 Trung tâm chính thức được Bộ giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập theo Quyết định số 913/QĐ-LĐTBXH ngày 05/7/2016 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

Như vậy, có thể thấy Trung tâm Phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật là đơn vị cơ sở bảo trợ xã hội công lập thực hiện chức năng, nhiệm vụ về trợ giúp xã hội đối với các đối tượng yếu thế trong xã hội, đối tượng chính của Trung tâm từ ngày đầu thành lập là trẻ em mồ côi suy dinh dưỡng dưới 3 tuổi thuộc các tỉnh, thành phía Nam, sau mở rộng thêm đối tượng trẻ thuộc gia đình có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt từ sơ sinh đến 5 tuổi và trẻ tàn tật tại cộng đồng thuộc địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam

Hiện nay, đối tượng chủ yếu của Trung tâm là trẻ em khuyết tật, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được tiếp nhận điều trị phục hồi chức năng tại Trung tâm và tại cộng đồng, được trợ giúp về dạy nghề, tạo việc làm phù hợp để hòa nhập cộng đồng, thông qua việc cung ứng các hoạt động dịch vụ công tác xã hội tại Trung tâm như: dịch vụ tư vấn, tham vấn trị liệu; dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng; dịch vụ hỗ trợ y tế, phục hồi chức năng; dịch

Trang 31

vụ hỗ trợ giáo dục đặc biệt, giáo dục hòa nhập; dịch vụ sinh hoạt giải trí, văn hóa, thể thao

2.1.2 Đặc điểm trẻ em khuyết tật tại Trung tâm

* Trẻ em khuyết tật:

Hàng năm, Trung tâm thực hiện tiếp nhận chăm sóc và điều trị phục hồi chức năng cho từ 120 đến 150 trẻ khuyết tật là con gia đình nghèo, trẻ mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh thành khu vực phía Nam, với các dạng tật điển hình như: trẻ khiếm khuyết vận động; trẻ chậm phát triển trí tuệ, trẻ bại não; trẻ mắc hội chứng Down, trẻ tự kỷ; trẻ đa khuyết tật…

Theo số liệu báo cáo đến 31/12/2016 Trung tâm hiện đang chăm sóc, điều trị

và phục hồi chức năng cho 145 trẻ, trong đó trẻ em nam là 86 trẻ chiếm 59,31%, trẻ

em nữ là 59 trẻ chiếm 40,69% và được phân chia theo các dạng tật sau: trẻ khiếm khuyết vận động, chậm phát triển tâm thần vận động 63 trẻ chiếm 43,45%, trẻ chậm phát triển trí tuệ, bại não 51 trẻ chiếm 35,17%, trẻ hội chứng Down 07 trẻ chiếm 4,83%, trẻ tự kỷ 20 chiếm 13,79%, trẻ đa khuyết tật 04 trẻ chiếm 2,76%

Cũng theo số liệu báo cáo thì đa số gia đình trẻ em khuyết tật muốn được gửi trẻ vào Trung tâm là để được chăm sóc phục hồi chức năng, qua việc trẻ được tham gia các chương trình như vật lý trị liệu, can thiệp ngôn ngữ, chăm sóc y tế, giáo dục chuyên biệt… hầu hết trẻ đều có mức độ tham gia vào các hoạt động có sự trợ giúp

từ gia đình và Trung tâm, phần lớn vẫn còn và có mối liên hệ với gia đình và đa số trẻ vẫn chưa được đi học, do đó trẻ rất cần được hỗ trợ để có thể tham gia học tập, lao động, trang bị kỹ năng sống, tự phục vụ và nuôi sống bản thân mình Phần lớn trẻ vào Trung tâm là những trẻ đang sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh và một số trẻ đến từ các tỉnh khác như Bến Tre, Tiền Giang, Long An, Vĩnh Long, Bình Phước, Vũng Tàu …

Trẻ em khuyết tật cũng có những nhu cầu như những người không khuyết tật, cũng cần đến các chương trình chăm sóc sức khỏe như mọi người khác để trẻ có thể duy trì sức khỏe, cuộc sống lành mạnh, chủ động tham gia vào các hoạt động cộng đồng Vì thế, nhu cầu của trẻ em khuyết tật được quan tâm nhiều nhất là nhu cầu chăm sóc sức khỏe, y tế, điều trị phục hồi chức năng, sau đó, nhu cầu được giáo dục, được đi học như những trẻ em bình thường

2.2 Thực trạng về thực hiện dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật

Nhằm đánh giá thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật tại Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, tác giả đề tài đã tiến hành

Trang 32

nghiên cứu các dịch vụ công tác xã hội đang được cung cấp tại Trung tâm gồm: dịch vụ tư vấn, tham vấn trị liệu; dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng; dịch vụ hỗ trợ y tế, phục hồi chức năng; dịch vụ hỗ trợ giáo dục (chuyên biệt/hòa nhập); dịch vụ sinh hoạt giải trí, văn hóa và thể thao; tiến hành khảo sát 50 trẻ khuyết tật hoặc phụ huynh gia đình trẻ và 50 nhân viên trực tiếp chăm sóc, điều trị và phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật, đồng thời tiến hành phỏng vấn sâu một số đối tượng là các đối tác nhà tài trợ, viện trợ; lãnh đạo Trung tâm; đại diện cơ quan ban ngành, địa phương và người dân trên địa bàn nghiên cứu

Kết quả khảo sát cho thấy nhu cầu của trẻ khuyết tật rất đa dạng và ở nhiều mức độ khác nhau song thực tế tại Trung tâm, nhu cầu của trẻ khuyết tật được xếp theo thứ tự ưu tiên như sau:

Bảng 2.1: Nhu cầu của trẻ khuyết tật theo thứ tự ưu tiên

STT Nhu cầu Số lượng Tỷ lệ (%)

Hay theo kết quả một khảo sát khác đối với trẻ khuyết tật và phụ huynh về

“Biết dịch vụ công tác xã hội là gì không?” thì có đến 40% trẻ khuyết tật và gia đình trẻ là chưa biết, 58% đã nghe qua, 2% là biết rõ về dịch vụ công tác xã hội Đối với những dịch vụ hiện có mà trẻ đang thụ hưởng tại Trung tâm thì có đến 56% xác nhận đúng là những dịch vụ công tác xã hội, 4% trả lời là không phải và đến 40% trả lời không biết Như vậy, có thể thấy vẫn còn phần lớn trẻ em khuyết tật và gia đình là đối tượng chính phải được thụ hưởng và cần được biết các thông tin về các chế độ, chính sách dành cho người khuyết tật nhưng họ vẫn chưa hề biết và cũng

không được biết đầy đủ về những quyền lợi của mình

2.2.1 Dịch vụ tư vấn, tham vấn trị liệu

Trang 33

Nhu cầu được hỗ trợ tâm lý như tư vấn, tham vấn trị liệu đối với TKT là một nhu cầu cần thiết đối với tất cả trẻ khuyết tật khi đến với Trung tâm TKT và gia đình cần được tư vấn các phương pháp trị liệu, phục hồi chức năng và đối với từng trường hợp cụ thể sẽ có những hỗ trợ can thiệp khác nhau; phụ huynh gia đình trẻ một số có những vấn đề tâm lý rất lớn khi có một đứa con không trọn vẹn như mong muốn và bị khuyết tật, tâm lý bị hụt hẫng, thay đổi và gây xáo trộn đến gia đình như

vợ chồng ly hôn, hoặc cha/mẹ bỏ con không chăm sóc Hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, việc điều trị, phục hồi cho trẻ tốn nhiều tiền của, thời gian và công sức đi lại nhiều nơi… dẫn đến mất niềm tin và hy vọng Một số cha mẹ không chấp nhận

sự thật về vấn đề khuyết tật của trẻ đang gặp phải Để giúp những gia đình này cần

có đội ngũ tư vấn có kiến thức chuyên môn cao, có kinh nghiệm trong cuộc sống và cần rất nhiều thời gian tư vấn, tham vấn để họ giải tỏa được những suy nghĩ cố chấp của bản thân, cần có nhiều thông tin và nhiều dẫn chứng khác nhau để họ nhìn nhận vấn đề một cách tích cực hơn

Qua phỏng vấn bà NTMX nhân viên xã hội phòng hỗ trợ tâm lý cho biết

“Hơn 80% trẻ khuyết tật xin gửi vào Trung tâm để điều trị, can thiệp phục hồi chức

năng đều chưa được hưởng các chế độ, chính sách của người khuyết tật tại địa phương, một số không biết, một số khác vì ngại các thủ tục và mặc cảm về con em mình, không muốn người khác biết con mình bị khuyết tật” Đây cũng là vấn đề lớn

của công tác truyền thông khi mà các chế độ, chính sách, quyền lợi của người khuyết tật không đến được với người thụ hưởng, người dân còn chưa biết và còn e ngại với các thủ tục hành chính, rườm rà… vẫn còn có sự phân biệt đối xử từ chính gia đình trẻ và trong cộng đồng

Qua khảo sát nhân viên trực tiếp, kết quả vể sự hiểu biết về dịch vụ tư vấn, tham vấn trị liệu như sau:

Biểu đồ 2.1 về sự hiểu biết về dịch vụ tư vấn, tham vấn trị liệu

Trang 34

Nhìn vào biểu đồ 2.1 về sự hiểu biết về dịch vụ tư vấn, tham vấn trị liệu cho thấy số tỷ lệ cán bộ, viên chức, người lao động trong Trung tâm có sự hiểu biết từ một chút đến hiểu nhiều chiếm 96% (trong đó hiểu nhiều là 14%, hiểu một chút 12%, biết là 48% và biết một chút là 22%) Ngoài ra có 4% là không hiểu biết gì về dịch vụ tư vấn, tham vấn trị liệu

Cũng theo số liệu khảo sát khác về các dịch vụ công tác xã hội đang được hỗ trợ cho trẻ khuyết tật tại Trung tâm như dịch vụ tư vấn, tham vấn trị liệu thì có đến 94% nhân viên được khảo sát trả lời là có biết trong khi có 6% trả lời là không biết

Như vậy có thể thấy hoạt động cung cấp dịch vụ hỗ trợ tư vấn, tham vấn trị liệu cho trẻ khuyết tật tại Trung tâm so với báo cáo hoạt động tham vấn tư vấn năm

2015 đến nay đã được nâng dần lên và thực hiện đồng bộ cùng với các hoạt động khác trong việc hỗ trợ cho trẻ khuyết tật, từ việc chỉ có 1 người nhân viên xã hội làm công tác vãng gia, hỗ trợ tư vấn đến năm 2015 Trung tâm đã hình thành được phòng hỗ trợ tâm lý gồm 3 nhân viên xã hội chuyên nghiệp đảm trách việc quản lý, tiếp nhận và lập hồ sơ theo dõi, vãng gia, tư vấn tâm lý… cùng phối hợp với các bộ phận chuyên môn nghiệp vụ khác như y tế, giáo dục, chăm sóc trẻ… trong việc lập

và thực hiện kế hoạch trợ giúp cho trẻ

Kết quả khảo sát 100 người trong đó có 50 nhân viên và 50 trẻ khuyết tật và phụ huynh đã có nhận xét và đánh giá về dịch vụ tư vấn, tham vấn trị liệu tại Trung tâm như sau:

Bảng 2.2 Đánh giá về dịch vụ tư vấn, tham vấn trị liệu

St

Mức độ (%) Chưa

tốt

Bình thường Tốt

Rất tốt

VỀ DỊCH VỤ TƯ VẤN, THAM VẤN

1 Thiết kế/bố trí/sắp xếp phòng tư vấn,

tham vấn trị liệu 21 42 32 05

2

Tiện nghị phục vụ cho phụ huynh và trẻ

khuyết tật khi đến tư vấn, tham vấn trị

Trang 35

2 Kỹ năng của nhân viên tư vấn 03 20 76 01

3 Thái độ của nhân viên khi tư vấn, tham

vấn trị liệu 02 16 57 25

4 Phương pháp tư vấn, tham vấn trị liệu 04 22 69 05

Qua bảng 2.2 cho thấy có từ 21 đến 28% đánh giá việc thiết kế/bố trí/sắp xếp phòng tư vấn, tham vấn (21%) cùng tiện nghi phục vụ (28%) và chương trình hỗ trợ

tư vấn (27%) là chưa tốt, qua quan sát tác giả thấy việc đầu tư trang thiết bị và sử dụng phòng và khu vực dành cho hoạt động tư vấn, tham vấn là còn thiếu và chưa phù hợp do sử dụng chung với phòng làm việc có diện tích nhỏ, còn bị ảnh hưởng bởi những tác động tiếng ồn từ bên ngoài, chưa có không gian yên tĩnh, vách ngăn hoặc khu vực riêng dành cho trẻ và phụ huynh khi cần tư vấn, tham vấn, ghế ngồi không tạo cảm giác thoái mái và do sử dụng ghế làm việc chỉ dành cho người lớn nên thật sự chưa an toàn cho trẻ, đặc biệt là đối với trẻ khuyết tật Tuy nhiên chỉ có

từ 1 – 4% đánh giá về trình độ chuyên môn (1%), kỹ năng (3%), thái độ của nhân viên tư vấn (2%) và phương pháp tư vấn (4%) là chưa tốt, tức có 96 – 99% đánh giá

là đảm bảo, tốt và rất tốt Điều này cho thấy việc sử dụng nhân viên xã hội chuyên nghiệp có trình độ từ đại học phụ trách phòng hỗ trợ tâm lý là những người có chuyên môn được đào tạo chính quy có kỹ năng và phương pháp làm việc là phù hợp và có thể đáp ứng được yêu cầu hỗ trợ tâm lý cho trẻ khuyết tật Mặt khác việc chưa có được chuyên gia tâm lý hay nhân viên xã hội có kinh nghiệm về nghề và kinh nghiệm sống trong đội ngũ nhân viên phòng hỗ trợ tâm lý hiện nay cũng như thiếu sự hỗ trợ phối hợp giữa các bộ phận, khoa, phòng trong Trung tâm cũng là trở ngại, khó khăn cho việc xây dựng các chương trình hỗ trợ tư vấn, tham vấn trị liệu cho trẻ khuyết tật

Qua phỏng vấn bà NTMX về những kiến nghị, đề xuất để nâng cao hoạt

động tư vấn, tham vấn trị liệu cho TKT, đã có ý kiến: “Cần nâng cao năng lực cho

đội ngũ nhân viên xã hội làm công tác tư vấn, tham vấn về các kiến thức chuyên sâu về tư vấn, tham vấn và tâm lý cho TKT; Bố trí phòng tư vấn, tham vấn tách riêng khỏi phòng làm việc để có nơi rộng rãi và không gian riêng, tạo sự thoải mái cho đối tượng, trang bị thêm trang thiết bị phù hợp với TKT và tăng cường sự tham gia và phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận chuyên môn trong toàn Trung tâm”

(PVS Bà NTMX, CVCTXH) Và qua quan sát thực tế, tác giả nhận thấy những ý kiến nêu trên là những phản ánh khách quan và xác đáng về thực trạng dịch vụ hỗ trợ tâm lý, tư vấn, tham vấn trị liệu hiện nay, rất cần được sự quan tâm và tạo điều kiện hỗ trợ của lãnh đạo Trung tâm

Trang 36

Bảng 2.3 Đánh giá về hiệu quả của dịch vụ tư vấn, tham vấn trị liệu

Stt Nội dung

Mức độ hiệu quả (%) Chưa

hiệu quả

Hiệu quả

Hiệu quả tốt

Hiệu quả rất tốt

VỀ DỊCH VỤ TƯ VẤN, THAM

VẤN

1 Kết quả tư vấn, tham vấn trị liệu 13 44 39 04

2 Thời gian tư vấn, tham vấn 19 39 38 04

3 Vai trò của nhân viên tư vấn, tham vấn

3 Thực hiện kết nối, chuyển gửi 18 54 24 04

4 Nâng cao nhận thức và biện hộ 20 53 24 03

Theo bảng 2.3 đánh giá về hiệu quả của dịch vụ tư vấn, tham vấn trị liệu, cho thấy về kết quả tư vấn, thời gian tư vấn và vai trò của nhân viên tư vấn và nhà quản

lý đều đạt từ hiệu quả đến hiệu quả rất tốt với tỷ lệ đánh giá khá cao từ 81% đến 87%, tương tự như vậy kết quả việc thực hiện các vai trò của NVXH (về quản lý trường hợp, huy động nguồn lực, thực hiện kết nối, chuyển gửi và nâng cao nhận thức và biện hộ) đều đạt tỷ lệ đánh giá cao từ 80% đến 88% đạt từ hiệu quả đến hiệu quả rất tốt

Qua quan sát và thu thập thông tin việc tư vấn, tham vấn cho trẻ và gia đình trẻ được nhân viên xã hội thực hiện ngay từ lần đầu khi tiếp xúc cho đến khi trẻ được tiếp nhận vào Trung tâm để hỗ trợ can thiệp và trợ giúp xã hội, trong quá trình

hỗ trợ tâm lý lần tiếp theo NVXH ghi nhận ít có những vấn đề mới phát sinh mà phần lớn trẻ và gia đình đều có sự hợp tác và tuân thủ theo kế hoạch trợ giúp ban đầu đã đặt ra như lựa chọn các phương pháp can thiệp trị liệu, phục hồi chức năng đối với từng trường hợp cụ thể, có rất ít các trường hợp cần phải tư vấn về tâm lý cũng như về những biểu hiện hành vi của trẻ Tuy nhiên do điều kiện và tình trạng khuyết tật đặc biệt nặng của trẻ gửi vào Trung tâm nên thời gian theo dõi và đánh giá việc hỗ trợ tâm lý thường kéo dài và mất nhiều thời gian nên một số ý kiến khảo

Trang 37

sát đánh giá về thời gian tư vấn, tham vấn chưa hiệu quả với tỷ lệ 19% cao hơn các nội dung khác là phù hợp với điều kiện thực tế

Tóm lại, dịch vụ tư vấn, tham vấn trị liệu tại Trung tâm chưa được đánh giá cao và đạt hiệu quả tốt là do việc đầu tư trang thiết bị và sử dụng phòng và khu vực dành cho hoạt động tư vấn, tham vấn là còn thiếu và chưa phù hợp do sử dụng chung với phòng làm việc có diện tích nhỏ, còn bị ảnh hưởng bởi những tác động tiếng ồn từ bên ngoài, chưa có không gian yên tĩnh, vách ngăn hoặc khu vực riêng dành cho trẻ và phụ huynh khi cần tư vấn, tham vấn Mặt khác dịch vụ này chưa có đội ngũ chuyên gia tâm lý can thiệp hoặc cố vấn, nhân viên xã hội chưa có kinh nghiệm về nghề và kinh nghiệm sống, đội ngũ nhân viên phòng hỗ trợ tâm lý hiện nay thiếu sự phối hợp giữa các bộ phận, khoa, phòng liên quan trong Trung tâm Đây cũng là trở ngại, khó khăn cho việc xây dựng các chương trình hỗ trợ tư vấn, tham vấn trị liệu trẻ khuyết tật tại dịch vụ này vì vậy qua khảo sát vẫn chưa được

đánh giá là đảm bảo và tốt hoàn toàn

2.2.2 Dịch vụ chăm sóc nuôi dưỡng

Số trẻ khuyết tật hiện đang thụ hưởng dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng tại trung tâm là 146 trẻ, trong đó đa số là chăm sóc bán trú chiếm tỷ lệ 98%, chăm sóc nội trú chiếm 2% Quy mô hoạt động của dịch vụ chăm sóc nuôi dưỡng tập trung vào chăm sóc ban ngày, chia theo lứa tuổi, trẻ khuyết tật dưới 06 tuổi chiếm 31%,

từ 06 tuổi đến 10 tuổi chiếm 49% và trên 11 tuổi chiếm 20%

Số nhân viên thực hiện cho dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng là 60 nhân viên, chiếm 81% so với tỷ lệ cán bộ viên chức trung tâm Theo quan sát số trẻ khuyết tật tiếp cận dịch vụ này khá nặng, số trẻ có khả năng tự phục vụ một phần chiếm 40%,

số cần phải có sự trợ giúp cả về ăn uống, đi lại…vv, chiếm 60% Như vậy, để tổ chức thực hiện dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng đòi hỏi rất nhiều yếu tố hỗ trợ cả về nhân lực và điều kiện cơ sở vật chất phù hợp để đảm bảo tốt trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ

Bảng 2.4: Bảng đánh giá về dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng

Stt Nội dung

Còn thiếu

và chưa phù hợp

Đảm bảo Tốt Rất tốt

1 Độ an toàn ngôi nhà trẻ khuyết

Trang 38

4 Tiện nghi sinh hoạt phù hợp 33% 45% 20% 2%

5 Tiện nghi sinh hoạt cá nhân 16% 44% 39% 1%

6 Thiết kế/bố trí/sắp xếp phòng ăn,

phòng ngủ, phòng sinh hoạt phù

hợp với trẻ khuyết tật

16% 48% 33% 3%

7 Số nhân viên với số trẻ CSND 06% 53% 29% 12%

Qua khảo sát chế độ dinh dưỡng, nguồn nước sinh hoạt và độ an toàn ngôi nhà trẻ sinh sống thì đảm bảo, tốt và rất tốt Có 50% đánh giá là tốt và rất tốt và 50% đánh giá là đảm bảo Như vậy vấn ăn uống và nơi ở của trẻ dịch vụ đảm bảo khá tốt Qua quan sát nhà bếp, tác giả nhận thấy chế độ dinh dưỡng cũng được quan tâm, có thực đơn hàng tuần, xuất ăn có tính thành phần dinh dưỡng nhằm đáp ứng đầy đủ năng lượng cho khẩu phần mỗi trẻ Qua báo cáo tổng kết của trung tâm tỷ lệ tăng cân hàng năm trung bình tăng từ 81% đến 83%, tỷ lệ đứng cân và giảm cân từ 6% đến 12%, số giảm cân này do các cháu vừa bị khuyết tật vừa có kèm bệnh lý kèm theo như suy tim, phế quản, hen, suyễn vì vậy khả năng chăm sóc dinh dưỡng nhằm tăng cân cho nhóm trẻ gặp rất nhiều khó khăn

Nhìn vào bảng 2.4 các phụ huynh và nhân viên tại trung tâm nhận xét tiện nghi sinh hoạt phù hợp với trẻ khuyết tật, tiện nghi sinh hoạt cá nhân của trẻ khuyết tật và việc thiết kế, sắp xếp phòng ăn, phòng ngủ, phòng sinh hoạt còn thiếu và chưa phù hợp hoặc chỉ đảm bảo cho trẻ chứ chưa được đánh giá cao Có đến 33% ý kiến cho rằng tiện nghi sinh hoạt cho trẻ là còn thiếu và chưa phù hợp, có 16% ý kiến đánh giá sắp xếp phòng ốc sinh hoạt và tiện nghi sinh hoạt cá nhân của trẻ còn thiếu

và chưa phù hợp Qua quan sát tác giả thấy, tại các phòng vệ sinh có trang bị thảm chống trượt, có tay vịn hỗ trợ cho trẻ khuyết tật, tuy nhiên các tay vịn còn ít và bắt chưa chắc chắn; cầu thang lên xuống có tay vịn thấp phù hợp với tầm của trẻ nhưng việc chưa có lối đi riêng dành cho trẻ khuyết tật khi di chuyển cũng là trở ngại khó khăn, mặc dù Trung tâm cũng đã cố gắng khi bố trí cho trẻ khuyết tật đặc biệt nặng, không tự di chuyển được ở các phòng dưới cùng (tầng trệt) cùng với phòng tập Vật

lý trị liệu, tuy nhiên các phòng sinh hoạt, phòng ở… so với số trẻ hiện tại từ 12-15 trẻ trong phòng có diện tích trung bình từ 68 - 70m2 là còn quá nhỏ và chưa đủ diện tích theo quy định về phòng ở bình quân 6m2 – 8m2/trẻ (NĐ68/2008/NĐ-CP),

do đó cần phải được bố trí, sắp xếp lại cho phù hợp

Tóm lại, thực trạng dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng cần phải được quan tâm nhiều hơn về bố trí, sắp xếp không gian sinh hoạt cùng các tiện nghi cho trẻ khuyết tật được phù hợp hơn

Trang 39

Biểu đồ 2.2: Bảng đánh giá năng lực của nhân viên chăm sóc, nuôi dưỡng

Kỹ năng của nhân viên chăm sóc, nuôi dưỡng

T hái độ của nhân viên khi chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ khuyết tật

Phương pháp chăm sóc nuôi dưỡng trẻ khuyết tật

Vai trò của NVXH trong dịch vụ CSND

Chưa tốt Bình thường

T ốt Rất tốt

Nhìn vào biểu đồ 2.2 phụ huynh đánh giá năng lực của nhân viên chăm sóc nuôi dưỡng khá tốt có từ 64% đến 84% ý kiến đánh giá tốt về trình độ, kỹ năng, phương pháp và thái độ phục vụ của nhân viên chăm sóc trẻ Qua khảo sát

có 50% nhân viên đã làm việc tại trung tâm từ 5 năm đến 27 năm, 50% là đội ngũ trẻ dưới 5 năm kinh nghiệm, tuy nhiên đội ngũ nhân viên trẻ này lại có trình

độ chuyên môn về chăm sóc trẻ khuyết tật, điều này đã giúp cho hai nhóm tuổi này bổ sung qua lại giữa kinh nghiệm và kỹ thuật mới trong quá trình tổ chức thực hiện dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ khuyết tật Mặc dù vậy vẫn còn 20%

tỷ lệ đánh giá thái độ của nhân viên khi tiếp xúc với trẻ khuyết tật thấy bình thường, chưa thật sự có khác biệt giữa trẻ khuyết tật với trẻ bình thường Qua tìm hiểu và quan sát, tác giả thấy rằng vẫn còn một số ít nhân viên còn chưa nhiệt tình trong công việc chăm sóc trẻ, chưa chịu khó trong lúc cho ăn, giúp trẻ

đi vệ sinh, một vài nhân viên còn thiếu các kỹ năng chăm sóc trẻ khuyết tật điều này đã làm họ hạn chế trong tiếp xúc và chăm sóc trẻ

Kết quả khảo sát của phụ huynh có nhận xét về vai trò của nhân viên xã hội trong dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng là tốt và rất tốt, 80% đánh giá tốt và rất tốt, điều này nói lên sự phát huy vai trò của NVXH trong dịch vụ này tương đối tốt Qua phỏng vấn bà NTT phó trưởng khoa PHCN, phụ trách công tác chăm sóc, nuôi

dưỡng và giáo dục nhận xét: “NVXH biết cách tiếp cận với phụ huynh, với trẻ

khuyết tật, kết nối các thông tin và tuyên truyền cho phụ huynh về phương pháp, về

kỹ năng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ khuyết tật, phát huy khả năng phối hợp của phụ huynh và nhân viên chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ khuyết từ đó giúp cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ đạt được hiệu quả cao”

Trang 40

Bảng 2.5: Đánh giá hiệu quả của dịch vụ chăm sóc nuôi dưỡng

Chưa hiệu quả

Hiệu quả quả tốt Hiệu

Hiệu quả rất tốt

1 Kết quả chăm sóc nuôi dưỡng 0% 50% 42% 8%

2 Thời gian chăm sóc nuôi dưỡng 0% 54% 38% 8%

3 Vai trò của nhân viên chăm sóc

nuôi dưỡng

4 Vai trò của nhà quản lý, điều hành 0% 40% 58% 2%

Qua bảng khảo sát 2.5 về ý kiến của phụ huynh trẻ, có đến 60% cho rằng dịch vụ chăm sóc nuôi dưỡng trẻ khuyết tật tại trung tâm đạt hiệu quả tốt và rất tốt

là nhờ vào vai trò của nhân viên chăm sóc nuôi dưỡng và vai trò của người quản lý, rất tận tình, gần gũi trẻ, quan sát quản trẻ rất tốt, họ cảm thấy con họ được an toàn khi gửi vào dịch vụ này, trên 90% đánh giá thời gian và kết quả chăm sóc, nuôi dưỡng cho là hiệu quả và hiệu quả tốt trên Qua đó, ta thấy rằng tuy điều kiện về cơ

sở vật chất chưa được đánh giá cao nhưng hiệu quả chăm sóc trẻ khuyết tật ở trung tâm được đánh giá là hiệu quả và hiệu quả tốt

Qua đánh giá bảng khảo sát ở biểu đồ 2.2 của nhân viên tại trung tâm, vai trò của NVXH trong dịch vụ chăm sóc nuôi dưỡng chỉ ở mức hiệu quả, có đến 22% ý kiến đánh giá việc huy động nguồn lực, thực hiện kết nối chuyển gửi và nâng cao nhận thức biện hộ là chưa hiệu quả Tuy nhiên họ lại đánh giá khá tốt vai trò của NVXH trong quản lý trường hợp, qua quan sát tác giả thấy NVXH có thực hiện hồ

sơ quản lý cá nhân, hội thảo bàn luận về mỗi trường hợp và đề ra kế hoạch giúp đỡ trẻ Như vậy, vai trò của nhân viên xã hội trong dịch vụ này chủ yếu là thực hiện hồ

sơ quản lý trường hợp, có thực hiện các vai trò khác nhưng chưa tổ chức bài bản, chuyên nghiệp nên chưa được đánh giá cao

Biểu đồ 2.3: Đánh giá vai trò của NVXH trong dịch vụ chăm sóc nuôi dưỡng trẻ

Ngày đăng: 06/06/2017, 17:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Nhu cầu của trẻ khuyết tật theo thứ tự ưu tiên - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật thành phố hồ chí minh
Bảng 2.1 Nhu cầu của trẻ khuyết tật theo thứ tự ưu tiên (Trang 32)
Bảng 2.2. Đánh giá về dịch vụ tư vấn, tham vấn trị liệu - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật thành phố hồ chí minh
Bảng 2.2. Đánh giá về dịch vụ tư vấn, tham vấn trị liệu (Trang 34)
Bảng 2.3. Đánh giá về hiệu quả của dịch vụ tư vấn, tham vấn trị liệu - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật thành phố hồ chí minh
Bảng 2.3. Đánh giá về hiệu quả của dịch vụ tư vấn, tham vấn trị liệu (Trang 36)
Bảng 2.4: Bảng đánh giá về dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật thành phố hồ chí minh
Bảng 2.4 Bảng đánh giá về dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng (Trang 37)
Biểu đồ 2.2: Bảng đánh giá năng lực của nhân viên chăm sóc, nuôi dưỡng - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật thành phố hồ chí minh
i ểu đồ 2.2: Bảng đánh giá năng lực của nhân viên chăm sóc, nuôi dưỡng (Trang 39)
Bảng 2.6: Nhận xét về dịch vụ hỗ trợ y tế, phục hồi chức năng tại trung tâm - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật thành phố hồ chí minh
Bảng 2.6 Nhận xét về dịch vụ hỗ trợ y tế, phục hồi chức năng tại trung tâm (Trang 41)
Bảng 2.8: Đánh giá dịch vụ hỗ trợ giáo dục chuyên biệt, giáo dục hoà nhập - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật thành phố hồ chí minh
Bảng 2.8 Đánh giá dịch vụ hỗ trợ giáo dục chuyên biệt, giáo dục hoà nhập (Trang 46)
Bảng 2.9: Đánh giá mức độ thực hiện các hoạt động hỗ trợ giáo dục chuyên biệt, - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật thành phố hồ chí minh
Bảng 2.9 Đánh giá mức độ thực hiện các hoạt động hỗ trợ giáo dục chuyên biệt, (Trang 48)
Bảng 2.10: Đánh giá về năng lực của giáo viên - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật thành phố hồ chí minh
Bảng 2.10 Đánh giá về năng lực của giáo viên (Trang 49)
Bảng 2.11: Nhận xét về những hoạt động giải trí, văn hóa, thể thao tổ chức cho trẻ - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật thành phố hồ chí minh
Bảng 2.11 Nhận xét về những hoạt động giải trí, văn hóa, thể thao tổ chức cho trẻ (Trang 50)
Bảng 2.12: Đánh giá về dịch vụ giải trí, văn hóa, thể thao và năng lực nhân viên - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật thành phố hồ chí minh
Bảng 2.12 Đánh giá về dịch vụ giải trí, văn hóa, thể thao và năng lực nhân viên (Trang 52)
Bảng 2.13. Đánh giá những đặc điểm của trẻ ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật thành phố hồ chí minh
Bảng 2.13. Đánh giá những đặc điểm của trẻ ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã (Trang 53)
Bảng 2.14: Đánh giá về nhân viên công tác xã hội ảnh hưởng đến dịch vụ công tác - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật thành phố hồ chí minh
Bảng 2.14 Đánh giá về nhân viên công tác xã hội ảnh hưởng đến dịch vụ công tác (Trang 55)
Bảng 2.16: Đánh giá Cơ chế và hành lang pháp lý cho việc phát triển dịch - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật thành phố hồ chí minh
Bảng 2.16 Đánh giá Cơ chế và hành lang pháp lý cho việc phát triển dịch (Trang 60)
1  Hình thức tổ chức          - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật thành phố hồ chí minh
1 Hình thức tổ chức     (Trang 99)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w