1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh

101 540 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội về “Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm phục hồi

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN TRÍ

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM

TỰ KỶ TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG

VÀ TRỢ GIÚP TRẺ TÀN TẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS.TS NGUYỄN THỊ MAI LAN

Hà Nội, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ

Công tác xã hội về “Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung

tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh” là hoàn

toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Trí

Trang 3

MỤC LỤC

Mở đầu : 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM TỰ KỶ 9

1.1 Công tác xã hội cá nhân 9

1.2 Trẻ tự kỷ 16

1.3 Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ 23

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ 28

1.5 Các cơ sở pháp lý về công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ 30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM TỰ KỶ TẠI TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VÀ TRỢ GIÚP TRẺ TÀN TẬT, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 33

2.1 Khách thể, địa bàn và phương pháp nghiên cứu thực tiễn 33

2.2 Thực trạng trẻ tự kỷ tại Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật Thành phố Hồ Chí Minh 38

2.3 Thực trạng mức độ thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ 45

2.4 Thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ tại Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh 51

2.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật thành phố Hồ Chí Minh59 CHƯƠNG 3: ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN TRONG ĐIỂN CỨU MỘT TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ TẠI TRUNG TÂM VÀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ TỰ KỶ TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VÀ TRỢ GIÚP TRẺ TÀN TẬT, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 64

3.1 Áp dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân trong điển cứu một trường hợp cụ thể tại trung tâm 64

3.2 Các biện pháp về nâng cao nhận thức gia đình, cộng đồng và xã hội về trẻ tự kỷ 70

Trang 4

3.3 Các biện pháp về phát triển nguồn nhân lực, huy động nguồn lực từ người dân, cộng đồng xã hội cho hoạt động công tác xã hội cá nhân trong lĩnh vực trợ giúp trẻ tự

kỷ tại các Trung bảo trợ xã hội, tại cộng đồng nói chung và tại Trung tâm phục hồi

chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh nói riêng 71

3.4 Một số khuyến nghị 72

KẾT LUẬN 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Số lượng trẻ tự kỷ đang gia tăng một cách đáng báo động ở mọi quốc gia trên thế giới, không phân biệt màu da, chủng tộc và các nền văn hóa - kinh tế khác nhau Ở Mỹ, theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng bệnh (CDC) - Mỹ công bố năm

2014, cứ 68 trẻ thì có 1 trẻ bị rối loạn tự kỷ tăng 30% so với năm 2012; Theo thống

kê của Autism Treatment Network tại Mỹ ( Pediatrics, 2016) trong 6.800 trẻ được khảo sát (từ 2 – 17, 6 tuổi) chẩn đoán bị tự kỷ có 42,5% trẻ bị rối loạn giấc ngủ; 38,7% trẻ bị rối loạn tiêu hóa; 60.4% bị rối loạn ăn uống; 59.1% rối loạn lo âu; 76.6% rối loạn cảm giác; 81.7% mất tương tác xã hội; 48.3% muốn gây xung đột, tấn công; 32.4% trẻ tự gây tổn thương; suy nghĩ và hành vi lặp lại, định hình:

67.1%; Tăng động: 68.8%; thiếu tập trung chú ý: 82.1% Tại Anh, số trẻ mắc tự kỷ

vào khoảng 1/150 trẻ [31] Với sự tăng nhanh về số người mắc hội chứng tự kỷ trên toàn cầu đáng báo động, ngày 18/12/2007 Đại hội đồng Liên Hợp Quốc dựa trên tinh thần của Hội nghị thượng đỉnh năm 2005, tuyên bố Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc, cũng như kết quả các cuộc Hội thảo lớn của Liên Hợp Quốc liên quan đến các lĩnh vực kinh tế - xã hội và Công ước về Quyền của trẻ em, Công ước về Quyền của Người khuyết tật đã thông qua Nghị quyết số A/RES/62/139 là “Quyết định lấy ngày 2 tháng 4 hàng năm là Ngày thế giới nhận thức về tự kỷ, bắt đầu từ năm 2008 nhằm kêu gọi tất cả các nước thành viên, các tổ chức trong hệ thống cơ quan của Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế cũng như các tổ chức xã hội khác, bao gồm

cả các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức tư nhân hãy quan tâm đến tự kỷ, hãy nâng cao hiểu biết của mình và qua đó giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về tự kỷ; Kêu gọi và khuyến khích các nước thành viên có biện pháp nâng cao nhận thức trong xã hội, kể cả ở cấp độ gia đình quan tâm đến trẻ em mắc hội chứng tự kỷ; Yêu cầu Tổng thư ký Liên Hợp Quốc thông đạt Nghị quyết này đến tất cả các quốc gia thành viên, các tổ chức thành viên của Liên Hợp Quốc” [29]

Trang 6

Tại Việt Nam chưa có con số nghiên cứu chính thức về số lượng trẻ mắc chứng bệnh tự kỷ, theo thống kê sơ bộ của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hiện nay có khoảng 200.000 người mắc chứng tự kỷ và con số này vẫn tiếp tục tăng nhanh trong thời gian tới, thông tin trên được đưa ra tại hội thảo quốc tế “Tự kỷ ở Việt Nam: Hiện trạng và thách thức” diễn ra tại Hà Nội vào chiều 1/4/2016 Cũng tại hội thảo này, Phó giáo sư Phạm Minh Mục, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam cho biết “Nghiên cứu mô hình khuyết tật ở trẻ em của khoa phục hồi chức năng, Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2000-2007 cũng cho thấy thực tế số lượng trẻ mắc bệnh tự kỷ đến khám năm 2007 tăng gấp 50 lần so với thời điểm 7 năm trước

đó, với xu thế tăng nhanh từ 122% đến 268% trong giai đoạn 2004-2007 so với năm 2000” [30]

Hiện nay, tự kỷ chưa được pháp luật công nhận một cách đầy đủ, chưa được đánh giá, nghiên cứu với quy mô quốc gia về tỷ lệ người mắc hội chứng tự kỷ, chưa

có thống nhất, đồng bộ trên phạm vi cả nước về các tiêu chí chẩn đoán, công cụ chẩn đoán, quy trình chẩn đoán, chương trình giáo dục… cho trẻ tự kỷ, đây là thiệt thòi rất lớn cho người mắc hội chứng tự kỷ, gia đình người tự kỷ và ảnh hưởng đến

sự phát triển của xã hội Nhằm để giải quyết những tồn tại thực tế đang diễn ra trong xã hội, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cho người mắc hội chứng tự kỷ nói chung và trẻ tự kỷ nói riêng được tiếp cận với các dịch vụ xã hội, y tế, giáo dục… phần nào giảm thiểu thiệt thòi mà họ đang phải gánh chịu

Tự kỷ thuộc nhóm rối loạn phát triển lan toả có những biểu hiện bất thường đa dạng về tương tác xã hội, ngôn ngữ và hành vi, các dấu hiệu của rối loạn phổ tự kỷ bắt đầu trong thời thơ ấu và thường kéo dài trong suốt cuộc đời của một người nếu không phát hiện sớm, can thiệp sớm Vì vậy, việc sử dụng phương pháp công tác xã hội để tiếp cận, trị liệu, chăm sóc cho trẻ tự kỷ là phù hợp nhất, đặc biệt là phương pháp công tác xã hội cá nhân Để thực hiện được điều này, nhân viên công tác xã hội sử dụng những kiến thức, kỹ năng để hỗ trợ tâm lý cho gia đình trẻ tự kỷ vượt qua khủng hoảng tinh thần để có đủ niềm tin, tỉnh táo đối diện giải quyết vấn đề mà

Trang 7

gia đình đang gặp phải; Hỗ trợ xây dựng, thực hiện tiến trình công tác xã hội cá nhân trong hoạt động trị liệu/chăm sóc trẻ tự kỷ; Hỗ trợ cho trẻ tự kỷ tiếp cận với dịch vụ xã hội phù hợp; Biện hộ để cho trẻ tự kỷ được hưởng những chính sách an sinh xã hội của nhà nước; Kết nối các nguồn lực để trợ giúp và điều trị về y tế, giáo dục, tâm lý cho trẻ tự kỷ đạt hiệu quả Ngoài việc tham gia trợ giúp cho trẻ tự kỷ, nhân viên công tác xã hội còn thực hiện các hoạt động như giáo dục phòng ngừa, tập huấn, cung cấp kiến thức về hội chứng tự kỷ, kỹ năng và phương pháp can thiệp cho gia đình, người thân biết cách chăm sóc, can thiệp cho trẻ tại nhà, truyền thông nâng cao nhận thức cho cộng đồng hiểu đúng về hội chứng này để tránh kỳ thị, xa lánh và hãy động viên cho gia đình trẻ tự kỷ, trẻ tự kỷ vượt qua khó khăn vươn lên trong cuộc sống

Với những lý do nêu trên, tôi đã chọn đề tài “Công tác xã hội cá nhân đối với

trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sỹ của mình Qua đề tài nghiên cứu tôi mong

muốn được đóng góp và bổ sung hoàn thiện các hoạt động công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ tại Trung tâm thông qua các biện pháp, khuyến nghị thiết thực nhằm góp phần nâng cao hoạt động trợ giúp cho nhóm đối tượng là trẻ em tự kỷ một cách toàn diện

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay, đã có rất nhiều nhà khoa học trên thế giới tiến hành nghiên cứu về hội chứng tự kỷ, nhìn chung các hướng nghiên cứu về tự kỷ của các nhà khoa học chủ yếu tập trung như : Tiêu chí chẩn đoán tự kỷ, công cụ chẩn đoán tự kỷ, dấu hiệu nhận biết tự kỷ, nguyên nhân dẫn đến tự kỷ, phương pháp can thiệp và giáo dục trẻ

tự kỷ…

Tại Hội thảo quốc tế “Tự kỷ ở Việt Nam – Hiện trạng và thách thức”, Ông Vongthep Arthakaivalvatee - Phó Tổng thư ký ASEAN phụ trách cộng đồng văn hóa - xã hội ASEAN đã phát biểu rằng : Có nhiều nghiên cứu liên quan đến người khuyết tật và chúng ta cần quan tâm hơn tới người tự kỷ, để sàng lọc và can thiệp cho họ giảm bớt khoảng trống về chính sách, về chăm sóc người tự kỷ thì việc giúp

Trang 8

họ tự chăm sóc cho bản thân là ưu tiên hàng đầu, tập trung vào nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, y tế… giúp họ hòa nhập cộng đồng [30]

Một số công trình nghiên cứu về hội chứng tự kỷ tại Việt Nam trong thời gian qua :

Tác giả Ngô Xuân Điệp “Nghiên cứu nhận thức trẻ tự kỷ tại Thành Phố Hồ

Chí Minh” là nghiên cứu từ gốc độ của tâm lý học, tác giả đã đưa ra được thực

trạng mức độ nhận thức của trẻ tự kỷ và mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố chủ

quan và khách quan đến nhận thức của trẻ tự kỷ [4]

Tác giả Vũ Thị Bích Hạnh “Trẻ tự kỷ - phát hiện sớm và can thiệp sớm” đã

nêu ra những vấn đề cơ bản về cách phát hiện sớm và can thiệp sớm trẻ tự kỷ mà chưa nêu ra cách làm cụ thể ở một nội dung nào trong can thiệp sớm cho trẻ tự kỷ [9]

Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng của trẻ tự kỷ từ 18 đến 36 tháng tuổi của tác giả Nguyễn Thị Hương Giang đã chỉ ra các nghiên cứu về đặc

điểm lâm sàng của trẻ tự kỷ còn hạn chế ở Việt Nam hiện nay và chưa có những nghiên cứu mô tả lâm sàng một cách toàn diện ở lứa tuổi nhỏ trước 3 tuổi Kết quả cho thấy tỷ lệ trẻ tự kỷ ở mức độ nặng còn cao, trẻ tự kỷ thường

có khiếm khuyết về chất lượng quan hệ xã hội như: không giao tiếp bằng mắt (86.9%), không biết gật đầu hay lắc đầu khi đồng ý hoặc phản đối (97.6%), thích chơi một mình (94.8%), không biết khoe khi được đồ vật (97.6%), không đáp ứng khi được gọi tên (96.8%), khiếm khuyết về chất lượng giao tiếp như: phát ra một chuỗi âm thanh khác thường (82.1%), không biết chơi giả vờ (98.4%)….[5]

Tác giả Võ Nguyễn Tinh Vân, người Úc gốc Việt đã xuất bản cuốn sách “Nuôi

con bị Tự kỷ” [18]; “Để hiểu Tự kỷ” [19] giúp hiểu rõ về tự kỷ ở trẻ em và giúp cho

các phụ huynh biết cách chăm sóc, nuôi con tự kỷ cũng như cách trị liệu cho trẻ tự

kỷ

Tác giả Nguyễn Thị Hoàng Yến “Giáo dục đặc biệt và những thuật ngữ cơ

bản”, tác giả nêu ra những thuật ngữ tự kỷ như: Thuật ngữ này dùng để chỉ những

Trang 9

cá nhân có vấn đề về tương tác xã hội, về giao tiếp và có những hoạt động lặp lại, rập khuôn thời kỳ 36 tháng tuổi [21]

Gần đây nhất, tác giả Vũ Thị Bích Hạnh chủ biên “Giáo trình trung cấp nghề

công tác xã hội trợ giúp trẻ tự kỷ”, để tập huấn cho cán bộ của ngành Lao động –

Thương và xã hội về hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện chuẩn đoán xác định tự kỷ, nguyên tắc can thiệp, kỹ thuật can thiệp, hoạt động dành cho cha mẹ, hoạt động dành cho giáo viên [10]

Tóm lại, qua quá trình tổng quan một số công trình nghiên cứu nói trên có liên quan đến đề tài, có thể thấy rằng: Trẻ tự kỷ luôn là mối quan tâm không chỉ ở trong nước mà cả cộng đồng quốc tế Các đề tài nghiên cứu này chưa đề cập đến khía cạnh kết hợp sự tham gia của gia đình, cộng đồng và xã hội để trợ giúp trẻ tự kỷ, chưa nói đến tiến trình công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ, vai trò nhân viên công tác xã hội trong hoạt động trợ giúp trẻ tự kỷ và gia đình trẻ tự kỷ Ngoài ra các đề tài nghiên cứu về công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ còn hạn chế về số lượng

và chất lượng, đây chính là lý do để tôi thực hiện nghiên cứu về công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh Qua đó, đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ tại đây

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ Phân tích thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh

Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh

Trang 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nhiệm vụ công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về đối tượng: đề tài tập trung nghiên cứu về lý luận, các tiến trình của công tác xã hội cá nhân, điển cứu đối với một trường hợp trẻ tự kỷ cụ thể từ thực tiễn tại Trung tâm và phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội trong quá trình can thiệp trẻ tự kỷ

Phạm vi về khách thể: đề tài nghiên cứu với 10 phụ huynh và gia đình trẻ tự kỷ; 50 nhân viên công tác xã hội, viên chức trực tiếp chăm sóc, điều trị, phục hồi chức năng, giáo dục trẻ tự kỷ và lãnh đạo Trung tâm

Phạm vi về không gian: tại Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, 38 Tú Xương, phường 7, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh

Phạm vi về thời gian: từ tháng 10/2016 đến tháng 03/2017

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: Dựa trên những báo cáo đánh giá kết quả của công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ tại Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, từ đó rút ra những lý luận và đưa ra được những đề xuất về biện pháp để nâng cao hiệu quả công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ tại Trung tâm

Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: nghiên cứu hệ thống những lý thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quan đến công tác xã hội, chính sách hỗ trợ đối với trẻ tự kỷ trong và ngoài nước

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản: Tra cứu những tài liệu Công ước

quốc tế về quyền trẻ em; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật người khuyết tật; Các báo cáo, thống kê, văn bản có liên quan, sử dụng các thông tin, số

Trang 11

liệu, tài liệu từ các nguồn tài liệu đã được công bố hoặc rút ra từ các nguồn tài liệu chính của Trung tâm phục vụ cho quá trình nghiên cứu

Phương pháp điều tra bảng hỏi: Được sử dụng để đánh giá thực trạng công

tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ và các yếu tố ảnh hưởng tới công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh Phương pháp này cũng nhằm tìm hiểu các biện pháp nâng cao công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ tại Trung tâm

Phương pháp phỏng vấn sâu: với lãnh đạo của Trung tâm, viên chức làm việc

trực tiếp với trẻ tự kỷ, gia đình trẻ tự kỷ ; Các thông tin được xử lý trên cơ sở mục tiêu của đề tài nghiên cứu

Phương pháp quan sát: quan sát các hoạt động của viên chức trực tiếp trợ giúp

trẻ tự kỷ, các hoạt động hàng ngày, các hành vi của trẻ tự kỷ trong thời gian học tập, vui chơi giải trí…

Phương pháp thống kê toán học: sử dụng trong việc thu thập, phân tích, xử lý

các số liệu bằng chương trình excel

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn đã xác định được khung lý thuyết nghiên cứu công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ, trong đó gồm có các khái niệm công cụ (công tác xã hội, công tác xã hội cá nhân, trẻ tự kỷ, công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ) Luận văn cũng đã đưa ra được các vấn đề lý luận về tiến trình công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ Kết quả nghiên cứu lý luận này sẽ góp phần làm phong phú thêm hệ thống cơ sở dữ liệu cho việc phân tích lý luận về công tác xã hội cá nhân đối với trẻ

tự kỷ vào khoa học công tác xã hội

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn đã phân tích được thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự

kỷ tại Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, 38 Tú Xương, phường 7 quận 3, thành phố Hồ Chí Minh Áp dụng tiến trình công tác xã hội cá nhân vào việc điển cứu 01 trường hợp trẻ tự kỷ Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhân viên công

Trang 12

tác xã hội được nghiên cứu bước đầu đã thực hiện tốt tiến trình công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ và áp dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân đối với trẻ

tự kỷ đã đem lại hiệu quả tốt

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này về lĩnh vực công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ tại Trung tâm và các cơ sở bảo trợ xã hội khác

7 Cơ cấu đề tài

Chương 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ Chương 2: Thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ tại Trung

tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Áp dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân trong điển cứu một

trường hợp cụ thể tại Trung tâm và Biện pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN

ĐỐI VỚI TRẺ TỰ KỶ

1.1 Công tác xã hội cá nhân

1.1.1 Công tác xã hội

- Khái niệm công tác xã hội

Theo Liên đoàn chuyên nghiệp xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tế Montreal, Canada tháng 7/2000: Công tác xã hội chuyên nghiệp là thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ con người, hướng tới sự tăng quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và dễ chịu; Công tác xã hội vận dụng các lý thuyết về hành vi con người

và các hệ thống xã hội; Công tác xã hội can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ [16]

Tại Việt Nam, công tác xã hội đã được các tác giả xem xét từ những khía cạnh khác nhau như sau :

Công tác xã hội là hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp được thực hiện và chi phối bởi các nguyên tắc, phương pháp hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng để giải quyết vấn đề; Công tác xã hội theo đuổi mục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội; Công tác xã hội là hoạt động thực tiễn bởi nhân viên xã hội luôn làm trực tiếp với các đối tượng, với nhóm người cụ thể; Công tác xã hội không phải là hướng tới giải quyết mọi vấn đề xã hội mà chỉ hướng vào giải quyết những vấn đề thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày của con người Thực hành công tác xã hội được diễn ra ở nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết những vấn đề khác nhau như: Tệ nạn xã hội, vấn đề người nghèo, vấn đề gia đình, hỗ trợ con người giải quyết vấn đề đời sống cụ thể nhằm đem lại sự ổn định, hạnh phúc cho con người và phát triển cộng đồng xã hội [15]

Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm giúp đỡ các

cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường

Trang 14

chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết, phòng ngừa các vấn

đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội [14]

Qua phân tích những khái niệm về công tác xã hội nêu trên, chúng tôi thấy

rằng : Công tác xã hội là hoạt động thực tiễn, mang tính chất chuyên nghiệp nhằm

giúp đỡ cho cá nhân, nhóm, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực vượt qua khó khăn và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ để giúp cá nhân, nhóm, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội nhằm góp phần đảm bảo an sinh xã hội

- Phương pháp công tác xã hội : Trong công tác xã hội có ba phương pháp

chính như sau :

Công tác xã hội với cá nhân : Phương pháp can thiệp thông qua mối quan hệ một – một giữa nhân viên xã hội và cá nhân nhằm giúp cá nhân đang gặp khó khăn không có khả năng tìm ra lối thoát tự giải quyết vấn đề bằng chính sức mạnh của bản thân họ [13,tr.3]

Công tác xã hội với nhóm : Công tác xã hội sử dụng các nhóm nhỏ như là một phương pháp qua đó các thành viên thay đổi thái độ, mối quan hệ và nâng cao khả năng tự ứng phó với môi trường Nhân viên xã hội nhìn thấy : Tiềm năng trong các nhóm nhỏ và biến những tiềm năng này trở thành yếu tố thúc đẩy sự thay đổi của thân chủ vì lợi ích của họ Mặc dù các nhóm có thể mạnh để khích lệ các thành viên hoàn thành các mục tiêu cá nhân và tập thể, song không phải lúc nào các kết quả cũng đạt như mong muốn, nhóm có thể có ảnh hưởng rất ít đối với các thành viên trong nhóm, hoặc có thể ảnh hưởng tiêu cực đối với các thành viên của nhóm hoặc

xã hội nói chung Trong tiến trình phát triển nhóm, các thành viên nhóm cần xem xét cẩn thận để tránh những hiện tượng tiêu cực đó, nhân viên xã hội cần có kiến thức về nhóm nhỏ để vận dụng vào thực hiện Mục đích của công tác xã hội nhóm

là cải thiện mối quan hệ giữa con người và môi trường xã hội, do vậy nhân viên xã hội cần có kiến thức nền tảng lý thuyết về sự tương tác giữa các cá nhân và giữa các nhóm Công tác xã hội nhóm nhằm xem xét những mặt mạnh của thân chủ, nhìn

Trang 15

nhận thân chủ vốn có khả năng giúp đỡ lẫn nhau trong nhóm Công tác nhóm là công cụ quan trọng trong trợ giúp những người yếu thế, bị áp bức và dễ tổn thương nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau trong nhóm để thông cảm và sẽ chia về hoàn cảnh của nhau [13,tr.4]

Công tác xã hội với cộng đồng : Phát triển cộng đồng là một tiến trình làm chuyển biến cộng đồng nghèo thiếu tự tin thành cộng đồng tự lực thông qua việc giáo dục nhận thức về tình hình, vấn đề hiện tại của họ, phát huy các khả năng và tài nguyên sẵn có, tổ chức các hoạt động chung tự giúp, bồi dưỡng và cũng cố tổ chức

để tiến tới tự lực và phát triển [13,tr.4]

- Nhiệm vụ công tác xã hội

Nâng cao năng lực của con người trong giải quyết vấn đề, đương đầu và hành động có hiệu quả Để hoàn thành mục tiêu này, nhân viên xã hội đánh giá những cản trở đối với khả năng thực hiện chức năng của thân chủ, nhân viên xã hội cũng xác định các nguồn lực, những thế mạnh, nâng cao kỹ năng giải quyết vấn đề trong cuộc sống, phát triển các kế hoạch để giải quyết và ủng hộ các nỗ lực của thân chủ

để tạo ra những thay đổi trong cuộc sống và hoàn cảnh của họ [6,tr.11]

Nối kết thân chủ với các nguồn lực cần thiết để giúp đỡ thân chủ sử dụng các nguồn lực mà họ cần thiết để thay đổi có hiệu quả tình trạng của họ, nhân viên xã hội ủng hộ các chính sách và dịch vụ cung cấp phúc lợi tốt nhất, nâng cao giao tiếp giữa các nhà chuyên nghiệp cung cấp dịch vụ, xác định những lỗ hổng, những trở ngại trong các dịch vụ xã hội cần phải giải quyết [6,tr.11]

Thúc đẩy chất lượng mạng lưới cung cấp dịch vụ xã hội Mục tiêu này có nghĩa là nhân viên xã hội cần đảm bảo rằng hệ thống cung cấp các dịch vụ xã hội mang tính nhân đạo và cung cấp các nguồn lực, dịch vụ cho con người Để hoàn thành mục tiêu này, nhân viên xã hội tham gia và ủng hộ các kế hoạch tập trung vào thân chủ, có hiệu lực và hiệu quả, kết hợp với các biện pháp trách nhiệm giải trình [6,tr.11]

Thúc đẩy sự công bằng xã hội thông qua phát triển chính sách xã hội, đối với việc phát triển các chính sách xã hội, nhân viên xã hội nghiên cứu các vấn đề xã hội

Trang 16

để thực hiện chính sách, đưa ra những đề xuất các chính sách mới, biện hộ để đừng

áp dụng thực hiện các chính sách không hữu ích Ngoài ra, nhân viên xã hội cụ thể hóa các chính sách chung thành các chương trình và các dịch vụ cụ thể để đáp ứng các nhu cầu của con người [6,tr.12]

1.1.2 Công tác xã hội cá nhân

- Khái niệm công tác xã hội cá nhân

Theo Grace Mathew : Công tác xã hội cá nhân là phương pháp giúp đỡ cá nhân con người thông qua mối quan hệ một – một Nó được các nhân viên công tác

xã hội ở các cơ sở xã hội sử dụng để giúp những người có vấn đề về chức năng xã hội và thực hiện chức năng xã hội [17,tr.6]

Theo Charle Zastrow, 2003 và Fardey O.W.et la, 2000 cũng coi công tác xã hội là phương pháp trợ giúp mà ở đó nhân viên xã hội sử dụng hệ thống giá trị, kiến thức hành vi con người và các kỹ năng chuyên môn về công tác xã hội để giúp đỡ thân chủ và gia đình giải quyết các vấn đề tâm lý xã hội, xử lý các mối quan hệ giữa con người với môi trường xung quanh thông qua mối quan hệ tương tác 1-1

Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp can thiệp của công tác xã hội quan tâm đến những vấn đề về nhân cách mà một thân chủ cảm nghiệm Mục đích của công tác xã hội cá nhân là phục hồi, cũng cố và phát triển sự thực hành bình thường các chức năng xã hội của cá nhân và gia đình [7]

- Tiến trình công tác xã hội cá nhân

Tiến trình là những bước công việc cần làm trong một khoảng thời gian nhất định, khi giúp đỡ một cá nhân, nhân viên xã hội cũng thực hiện những bước đi trong một tiến trình gọi là tiến trình giải quyết vấn đề (problem-solving process) hay tiến trình giúp đỡ (helping process) Tiến trình công tác xã hội cá nhân gồm 6 bước sau: + Tiếp cận và nhận diện vấn đề của thân chủ : Nhân viên công tác xã hội gặp

gỡ thân chủ, xác định đúng đối tượng giúp đỡ; Nhận diện vấn đề khi mới bắt đầu làm việc với thân chủ; Các hoạt động nhận định và đánh giá vấn đề diễn ra trong suốt tiến trình giúp đỡ Sau đây là một số hoạt động nhận diện vấn đề ở giai đoạn đầu của tiến trình giúp đỡ; Tiếp xúc ban đầu: quan sát tính cách, hành động, cử chỉ,

Trang 17

lời nói, cách ăn mặc, cách thân chủ xử sự với nhân viên; Vấn đàm với thân chủ và những người có liên quan đến thân chủ, vãng gia; Thụ lý, lưu giữ các tài liệu, hồ sơ

cá nhân, kết luận - chẩn đoán.[8, tr.33]

+ Thu thập thông tin: Thông tin về vấn đề hiện nay cần giải quyết của thân chủ; Thông tin tổng quát về thân chủ và những người liên quan; Thông tin về môi trường sống hiện tại của thân chủ và những người liên quan; Nguồn giới thiệu hoặc chuyển giao; Các biểu hiện phi ngôn ngữ; Giữ bí mật hồ sơ cho thân chủ; Các giấy

tờ tài liệu, hồ sơ cá nhân về thân chủ

+ Đánh giá, chẩn đoán: Mục đích của đánh giá là thu thập thông tin cần thiết

để đánh giá những gì cần phải thay đổi, những nguồn lực nào cần có để đem lại thay đổi, những vấn đề nào có thể xảy ra do thay đổi, cần đánh giá những thay đổi đó như thế nào; Đánh giá là hoạt động liên tục trong suốt quá trình can thiệp, đặc biệt

là trong giai đoạn đầu là nhằm xác định vấn đề mục tiêu và sau đó thân chủ cùng tham gia và thống nhất hành động; Đánh giá bao gồm chẩn đoán về tâm lý - xã hội,

y tế, những nhân tố tích cực là tiềm năng và sức mạnh của thân chủ Đây là hoạt động đa dạng đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều người, đa ngành [8, tr.33]; Nội dung đánh giá (Đánh giá về nhu cầu cụ thể; Đánh giá khả năng hoạt động độc lập; Đánh giá tình trạng hoạt động thể chất; Đánh giá chức năng hoạt động nhận thức; Đánh giá hoạt động cảm xúc; Đánh giá hành vi; Đánh giá nguồn lực trợ giúp không chính thức; Đánh giá nguồn lực trợ giúp chính thức; Đánh giá cá nhân và gia đình: Xây dựng sơ đồ phả hệ gia đình là nhằm mô tả sinh động về gia đình và các mối quan hệ trong gia đình (đây là mối quan tâm đối với nhà can thiệp/trị liệu) tạo nên bức tranh cấu trúc gia đình và chúng ta có thể dễ cập nhật có thể nắm bắt nhanh về gia đình và các thông tin tiềm ẩn từ thân chủ để giúp nhà trị liệu/can thiệp có thông tin làm căn cứ chẩn đoán và lên kế hoạch về mối quan hệ của thân chủ, kể cả liên quan tới sức khỏe, bệnh tật của thân chủ, giúp nhà can thiệp/trị liệu và cá nhân, gia đình thấy được “bức tranh lớn hơn” về gia đình trong quá khứ và hiện tại [8, tr.34-35]; Sơ đồ sinh thái của thân chủ là công cụ được sử dụng để đánh giá chức năng gia đình và xây dựng các kế hoạch can thiệp điều trị là một bản đồ mô phỏng ranh

Trang 18

giới bao quanh cá nhân, gia đình, các tổ chức xã hội và môi trường xung quanh thân chủ Bản đồ sinh thái mô phỏng cuộc sống gia đình của thân chủ và mối quan hệ gia đình thân chủ với những người trong và ngoài gia đình, sử dụng sơ đồ sinh thái để

mô phỏng hóa những mối quan hệ giữa thân chủ và nguồn lực dịch vụ trong cộng đồng Khi phát hiện ra chưa có mối quan hệ giữa tổ chức dịch vụ cần có, nhân viên

xã hội cần tác động như giới thiệu cho thân chủ và biện hộ cho đối tác, điều phối nguồn lực để thân chủ có thể tiếp cận dịch vụ đó [8, tr.40]

+ Lập kế hoạch can thiệp: Xác định mục tiêu; Các hoạt động; Nguồn lực; Thời gian; Lường trước những khó khăn có thể gặp phải; Kết quả dự kiến [8,tr.42]

+ Thực hiện kế hoạch và giám sát: Nhân viên công tác xã hội cùng triển khai các hoạt động đã được đưa ra trong kế hoạch Vai trò của nhân viên công tác xã hội lúc này là thúc đẩy, điều phối các dịch vụ, trợ giúp tâm lý cho thân chủ, hỗ trợ khi thân chủ gặp khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện, cũng trong giai đoạn này nhân viên xã hội giám sát các hoạt động, dịch vụ có diễn ra như kế hoạch không? để

từ đó tác động và thúc đẩy Giám sát là việc đánh giá liên tục sự tham gia của thân chủ và dịch vụ mà họ được cung cấp, mục tiêu của giám sát là để đảm bảo dịch vụ được triển khai và đáp ứng có hiệu quả cho thân chủ, giám sát còn giúp cho thân chủ phòng ngừa, ứng phó nhanh với những sự cố có thể xảy ra trong quá trình trợ giúp Các hoạt động giám sát được thực hiện như: trao đổi với thân chủ thường xuyên để xem xét sự tiến bộ của thân chủ, cũng như xác định chất lượng dịch vụ cung cấp, tìm hiểu xem thân chủ có hài lòng với dịch vụ hay không? Nếu thân chủ

đề xuất điều chỉnh kế hoạch thì nhân viên công tác xã hội cần xem xét và lưu ý để

có những hành động kịp thời, những người tham gia có trách nhiệm trong trợ giúp cũng cần gặp và trao đổi để họ đưa ra nhận xét về sự tiến bộ của thân chủ và liệu dịch vụ này có nên tiếp tục nữa hay không? Và dịch vụ có nên điều chỉnh gì để cho phù hợp với thân chủ; Giám sát chất lượng dịch vụ, thời gian và tính phù hợp với nhu cầu của thân chủ; Giám sát có thể lồng ghép những hoạt động diễn ra trong quá trình trợ giúp; Kết quả giám sát cung cấp những cơ sở cho việc cân nhắc để ra quyết định cho hoạt động đó [8,tr.45-46]

Trang 19

+ Lượng giá và kết thúc: Lượng giá là hoạt động rà soát lại các hoạt động, sự tiến bộ của thân chủ, nhân viên xã hội cần thu hút thân chủ tham gia vào tiến trình này, nhân viên xã hội và thân chủ có thể xác định sự tiến bộ thông qua sự thay đổi Qua thời gian, nếu thân chủ không tiến bộ thì nhân viên xã hội và thân chủ cần xem xét lại kế hoạch hoạt động, kiểm tra giải pháp và vạch ra hướng đi mới, nếu thân chủ có tiến bộ thì nhân viên xã hội thúc đẩy thân chủ hành động Có một số lý do để kết thúc ca như: Thân chủ có sự tiến bộ, điều này chứng tỏ quá trình trợ giúp, dịch

vụ đã thành công và không cần tiếp tục; Thân chủ qua đời hay chuyển đi nơi khác; Nguồn tài chính cho dịch vụ đó không còn nữa; Thân chủ không muốn dịch vụ nữa; Thân chủ có thể không hài lòng với dịch vụ và yêu cầu chấm dứt; Thân chủ rời bỏ

và không tới nữa [8,tr.46-47]

- Vai trò công tác xã hội cá nhân trong trợ giúp các nhóm xã hội yếu thế

Vai trò là người vận động nguồn lực: là người trợ giúp đối tượng (cá nhân, nhóm, gia đình và cộng đồng) tìm kiếm nguồn lực (nội lực, ngoại lực) cho giải quyết vấn đề Nguồn lực có thể bao gồm: Con người, vật chất, tài chính, kỹ thuật, thông tin, sự ủng hộ về chính sách, chính trị và quan điểm [6,tr.57]

Vai trò là người kết nối (còn gọi là trung gian): nhân viên xã hội là người có được thông tin về cung cấp dịch vụ, chính sách và giới thiệu cho đối tượng các chính sách, dịch vụ, nguồn tài nguyên đang sẵn có từ các cá nhân, cơ quan, tổ chức

để họ tiếp cận với những nguồn lực, chính sách, tài chính, kỹ thuật để họ có thêm sức mạnh trong giải quyết vấn đề [6,tr.58]

Vai trò là người vận động/hoạt động xã hội: là nhà vận động, tổ chức các hoạt động xã hội để biện hộ, bảo vệ quyền lợi cho thân chủ, cổ vũ tuyên truyền [6,tr.58] Vai trò là người biện hộ: là người bảo vệ quyền lợi cho đối tượng để họ được hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi của họ, đặc biệt trong những trường hợp họ bị từ chối những dịch vụ, chính sách lẽ ra họ được hưởng [6,tr.58]

Vai trò là người giáo dục: là người cung cấp kiến thức kỹ năng liên quan tới vấn đề họ cần giải quyết, nâng cao năng lực cho cá nhân, gia đình, nhóm hay cộng đồng thông qua tập huấn, giáo dục cộng đồng để họ có thể hiểu biết, tự tin và tự

Trang 20

mình nhìn nhận vấn đề, đánh giá vấn đề, phân tích và tìm nguồn lực cho vấn đề cần giải quyết [6,tr.58]

Vai trò người tạo sự thay đổi: nhân viên công tác xã hội được xem như người tạo ra sự thay đổi cho cá nhân, giúp họ thay đổi suy nghĩ, thay đổi hành vi tiêu cực hướng tới những suy nghĩ và hành vi tốt đẹp hơn [6,tr.57]

Vai trò là người tư vấn: nhân viên công tác xã hội tham gia như người cung cấp thông tin tư vấn cho thân chủ những thông tin như chăm sóc sức khoẻ sinh sản, thông tin về bảo vệ môi trường, dinh dưỡng cho trẻ nhỏ hay người già [6,tr.57] Vai trò là người tham vấn: nhân viên công tác xã hội trợ giúp gia đình và cá nhân tự mình xem xét vấn đề và tự thay đổi [6,tr.59]

Vai trò là người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng: trên cơ

sở nhu cầu của cộng đồng đã được cộng đồng xác định, nhân viên công tác xã hội giúp cộng đồng xây dựng chương trình hành động phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, tiềm năng của cộng đồng để giải quyết vấn đề của cộng đồng [6,tr.59]

Vai trò là người cung cấp các dịch vụ trợ giúp cho những cá nhân, gia đình không có khả năng tự đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của mình và giải quyết vấn đề [6,tr.59]

Vai trò là người xử lý dữ liệu: với vai trò này, nhân viên công tác xã hội phải nghiên cứu, thu thập thông tin và phân tích thông tin trên cơ sở đó tư vấn cho thân chủ để họ đưa ra những quyết định đúng đắn [6,tr.59]

Vai trò là người quản lý hành chính: nhân viên công tác xã hội lúc này thực hiện những công việc cần thiết cho việc quản lý các hoạt động, các chương trình, lên kế hoạch và triển khai kế hoạch, các chương trình dịch vụ cho cá nhân, gia đình

và cộng đồng [6,tr.59]

1.2 Trẻ tự kỷ

1.2.1 Khái niệm tự kỷ

Từ Latinh “autismus”, dịch sang tiếng Anh là “autism” được đề xuất bởi bác

sỹ tâm thần người Thụy Sỹ Eugen Bleuler vào 1910 khi ông mô tả các triệu chứng của tâm thần phân liệt “Autismus” xuất phát từ một thuật ngữ Hy Lạp “autós”

Trang 21

(á/ô/ò nghĩa là bản thân) và nó được dùng với nghĩa là tự ngưỡng mộ mình một cách bệnh tật, nó ám chỉ ‘sự thoái lui một cách tự bản thân của bệnh nhân với những tưởng tượng của riêng mình, tách biệt với những ảnh hưởng từ bên ngoài và những tác động từ bên ngoài này là những khó chịu không thể chịu nổi với bệnh nhân’ [25]

Tự kỷ (autism) mang nghĩa hiện đại lần đầu tiên vào năm 1938 khi Hans Asperger của bệnh viện đại học Vienna sử dụng thuật ngữ ‘Tâm bệnh tự kỷ’ (autistic psychopaths) vào bài giảng của mình bằng tiếng Đức về tâm lý trẻ em (Asperger, 1938) Asperger đã nghiên cứu về một dạng rối loạn phổ tự kỷ mà bây giờ được biết đến Hội chứng Asperger Tuy vậy, nó không được công nhận như một rối loạn riêng cho đến tận năm 1981 [26]

Năm 1943, Leo Kanner của bệnh viện Johns Hopkins, lần đầu tiên sử dụng từ

‘Tự kỷ’ theo nghĩa hiện đại trong tiếng Anh Ông sử dụng từ tự kỷ khi giới thiệu về

tự kỷ sớm ở trẻ nhỏ trong báo cáo về 11 trẻ với mâu thuẫn hành vi khá giống nhau [26] Hầu hết những đặc điểm được Kanner mô tả như ‘Sự cô đơn tự kỷ’ và ‘Khăng khăng bám lấy cái không thay đổi’ vẫn được coi là những đặc trưng của các rối loạn

tự kỷ, người ta không rõ là liệu Kanner có thừa hưởng thuật ngữ từ Asperger hay không [27]

Theo hiệp Hội sức khỏe tâm thần Quốc tế: Rối loạn phổ tự kỷ được hiểu như rối loạn phát triển lan tỏa, nguyên nhân do sự suy giảm trầm trọng và bao phủ sự suy nghĩ, cảm giác, ngôn ngữ và khả năng quan hệ với người khác Những rối loạn

đó thông thường được chẩn đoán trong thời thơ ấu, gọi là rối loạn tự kỷ, tiếp theo là rối loạn phát triển lan tỏa không đặc hiệu và có nhiều dạng nhẹ hơn như Hội chứng Asperger và hai rối loạn hiếm gặp khác là Hội chứng Rett và Rối loạn tan rã thời thơ ấu [28]

Tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu trên cơ sở xem xét các quan điểm, các khái niệm về tự kỷ trên thế giới cũng đưa ra những quan điểm của mình về trẻ tự kỷ như sau :

Trang 22

Tự kỷ là một bệnh lý thần kinh bao gồm những khiếm khuyết nặng nề về khả năng tương tác và giao tiếp xã hội đi kèm với những quan tâm và hoạt động bó hẹp, định hình Tự kỷ là một chứng rối loạn quá trình phát triển ở trẻ em [9,tr.7]

Tự kỷ là rối loạn đa khiếm khuyết, biểu hiện sự rối loạn phát triển trong hành

vi, nhận thức, xúc cảm, sở thích, ý nghĩa lời nói, giác quan và quan hệ xã hội, ít nhiều có kèm theo chậm phát triển trí tuệ Khi được can thiệp bằng trị liệu tâm lý và giáo dục hầu hết trẻ tự kỷ tiến bộ tùy theo mức độ bệnh và cách can thiệp của các nhà chuyên môn [4,tr.14-15]

Tự kỷ là một dạng rối loạn phát triển về nhiều mặt song chủ yếu là rối loạn về

kỹ năng quan hệ xã hội, giao tiếp bằng lời nói và hành vi bất thường [20, tr.3]

Tự kỷ là một dạng rối loạn trong nhóm rối loạn phát triển lan tỏa, người bị tự

kỷ có những rối loạn về nhiều mặt, nhưng biểu hiện rõ nhất là rối loạn về giao tiếp, quan hệ xã hội và hành vi [11,tr.107]

1.2.2 Khái niệm trẻ tự kỷ

Từ các khái niệm về tự kỷ nêu trên, chúng tôi cho rằng : Trẻ tự kỷ là trẻ bị một

dạng bệnh trong nhóm rối loạn phát triển lan tỏa, ảnh hưởng đến nhiều mặt của sự phát triển nhưng ảnh hưởng nhiều nhất đến kỹ năng giao tiếp, quan hệ xã hội và hành vi

1.2.3 Phân loại trẻ tự kỷ

Theo quan điểm mô tả lâm sàng của bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) về các rối loạn tâm thần và hành vi, tự kỷ là một hội chứng nằm trong mục “F84” với tên gọi “Rối loạn phát triển lan toả”( Pervasive Developmental Disorders), là một nhóm các rối loạn đặc trưng bởi những bất thường về hành vi, chất lượng giao tiếp và quan hệ xã hội [1,tr.246]

Rối loạn phát triển lan tỏa là các rối loạn được đặc trưng bởi những bất thường

về chất lượng trong các mối quan hệ xã hội và phương thức giao tiếp cũng như có một số sở thích và hành vi bị thu hẹp, định hình, lặp đi lặp lại Các bất thường về chất lượng này hình thành một nét lan tỏa mà người ta tìm thấy trong hoạt động của chủ thể ở mọi hoàn cảnh với nhiều mức độ khác nhau Trong đa số trường hợp, sự

Trang 23

phát triển không bình thường ngay từ tuổi trẻ nhỏ và có một vài trường hợp, các trạng thái bệnh lý này thấy rõ trong 5 năm đầu cuộc đời

Theo ICD-10, rối loạn phát triển lan tỏa gồm những tiểu mục sau: Tự kỷ ở trẻ

em (F84.0), tự kỷ không điển hình (F84.1), hội chứng Rett (F84.2), rối loạn lan tỏa tan rã khác ở trẻ em (F84.3), rối loạn tăng hoạt động kết hợp với chậm phát triển tâm thần và các động tác định hình (F84.4), hội chứng Asperger (F84.5), rối loạn phát triển lan tỏa khác (F84.8), rối loạn phát triển lan tỏa không đặc hiệu (F84.9) [12,tr.277-229]

Cũng nghiên cứu về tự kỷ, theo Sổ tay chẩn đoán và thống kê những rối loạn tâm thần của (DSM- IV) của Hiệp hội các nhà tâm thần học Hoa Kỳ thì tự kỷ được xác định là rối loạn phát triển lan tỏa gồm năm thể loại rối loạn phát triển khác nhau: rối loạn tự kỷ (Autistic disorder), rối loạn Rett (Rett’s disorder), rối loạn tan

rã thời ấu thơ (Childhood disintegrative disorder), rối loạn Asperger (Asperger’s disorder), rối loạn phát triển lan tỏa không đặc hiệu (Pervasive developmental disorder not otherwise specified, PDD-NOS) [22,pg.59]

Những điểm tương đồng giữa hai bảng phân loại ICD-10 và DSM-IV [23,pg.6]

1.Tự kỷ ở trẻ em

2.Tự kỷ không điển hình

3.Hội chứng Rett

4.Rối loạn tan rã thời thơ ấu khác

5.Rối loạn tăng hoạt động với chậm phát

triển tâm thần và các động tác định hình

6.Hội chứng Asperger

7 Rối loạn phát triển lan tỏa khác

8.Rối loạn phát triển lan tỏa không đặc

hiệu

1.Rối loạn tự kỷ 2.Rối loạn phát triển lan tỏa không đặc hiệu (PDD-NOS)

3.Rối loạn Rett

4 Rối loạn tan rã thời thơ ấu 5.Không có phân loại tương ứng với động tác định hình

6.Rối loạn Asperger 7.Rối loạn phát triển lan tỏa không đặc hiệu

Trang 24

Các bác sỹ thực hành và các nhà nghiên cứu đã đạt được sự nhất trí trong cách đánh giá về chứng tự kỷ như phân loại chẩn đoán và những nét đặc trưng bên trong phân loại đó (Rutter, 1996) Điều này tạo nên tính khả thi cho việc thống nhất hai hệ thống chẩn đoán: Tài liệu xuất bản lần thứ tư sổ tay thống kê và chẩn đoán các rối loạn tâm thần (DSM-IV) của Hiệp hội những nhà tâm thần Mỹ (1994) và Bảng phân loại bệnh quốc tế (ICD-10) xuất bản lần thứ 10 của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 1992 [24, pg.5]

Phân loại theo thời điểm mắc tự kỷ: Tự kỷ điển hình - hay tự kỷ bẩm sinh:

triệu chứng tự kỷ xuất hiện dần dần trong 3 năm đầu; Tự kỷ không điển hình - hay

tự kỷ mắc phải: trẻ phát triển về ngôn ngữ và giao tiếp bình thường trong 3 năm đầu, sau đó triệu chứng tự kỷ xuất hiện dần dần và có sự thoái triển về ngôn ngữ - giao tiếp

Phân loại theo chỉ số thông minh:Tự kỷ có chỉ số thông minh cao và nói được:

Trẻ không có những hành vi tiêu cực song rất thụ động, có hành vi bất thường trong bối cảnh xã hội; Có thể biết đọc sớm (2 - 3 tuổi); Kỹ năng nhìn tốt; Có xu hướng bị

ám ảnh, nhận thức tốt hơn về hành vi khi trưởng thành Trẻ tự kỷ có chỉ số thông

minh cao và không nói được: Trẻ có sự khác biệt giữa kỹ năng nói và kỹ năng vận

động, cử động, thực hiện; Trẻ có thể quá nhạy cảm với kích thích thính giác; Hành

vi có thể bất thường ở mức độ nhẹ; Kỹ năng nhìn tốt “có thể nhìn đồ vật một cách chăm chú”; Có thể giữ yên lặng hoặc tự cô lập một cách dễ dàng, có thể bướng bỉnh

là những trẻ có thể giao tiếp luân phiên hoặc thích giao tiếp Trẻ tự kỷ có chỉ số

thông minh thấp và nói được: Trẻ có hành vi kém nhất trong các dạng tự kỷ

“thường xuyên la hét to, có thể trở nên hung hãn khi tuổi lớn hơn”; Có hành vi tự kích thích; Trí nhớ kém; Nói lặp lại "lời nói không có nghĩa đầy đủ"; Khả năng tập

trung kém Trẻ tự kỷ có chỉ số thông minh thấp và không nói được: Trẻ thường

xuyên im lặng; Biết dùng một ít từ hoặc ít cử chỉ; Có sự quan tâm đặc biệt đến máy móc; Nhạy cảm với các âm thanh/tiếng động; Kỹ năng xã hội không thích hợp; Không có mối quan hệ với người khác

Trang 25

Theo mức độ: Tự kỷ mức độ nhẹ: Trẻ có thể giao tiếp bằng mắt tương đối bình

thường, giao tiếp với người ngoài nhưng hạn chế, học được các hoạt động đơn giản,

kỹ năng chơi và nói được tương đối bình thường; Tự kỷ mức trung bình: Trẻ có thể giao tiếp bằng mắt, giao tiếp với người ngoài hạn chế và nói được nhưng hạn chế

Tự kỷ mức độ nặng: Trẻ không giao tiếp bằng mắt, không giao tiếp với người ngoài

và không nói được

Vấn đề tự chăm sóc của trẻ tự kỷ: Trẻ có khó khăn khi học kỹ năng sinh hoạt

hàng ngày như mặc quần áo, tự chăm sóc và đi vệ sinh; Một số trẻ có thể bị phụ thuộc nhiều vào người khác trong cuộc sống hàng ngày; Trẻ có khó khăn trong việc

đi lại và sử dụng phương tiện giao thông công cộng

Vấn đề học hành: Kỹ năng chơi không phát triển; Trẻ có khó khăn về đọc và

học tập

Nhận thức của trẻ tự kỷ: Kém hoặc không chú ý, thiếu tập trung; Trí nhớ ngắn

qua nhìn, nghe kém; Thiếu kỹ năng xử lý các vấn đề; Khó khăn khi định hướng [20,Tr.3-5]

1.2.4 Đặc điểm tâm lý của trẻ tự kỷ

Khó khăn về quan hệ xã hội

Trẻ không biết khởi xướng, bắt đầu làm quen, hoặc khó tiếp nhận một người bạn mới Trẻ ít quan tâm và không có nhu cầu chia sẻ hứng thú, nhu cầu và hoạt động với bạn bè và mọi người xung quanh, không cười với người khác, ít khi nhìn thẳng vào mắt người khác, thích chơi một mình, sống trong một thế giới riêng, không để ý đến bố mẹ, không thích chơi với trẻ khác, sống rất độc lập, tự lấy các đồ vật hoặc biết làm những việc sớm trước tuổi như: Không thưa khi được gọi tên, không nhìn mặt người đối thoại khi chơi, giao tiếp; Tỏ ra không nghe thấy ai lúc đó; Kháng lại sự vuốt ve âu yếm hoặc ôm ấp; Tỏ ra không biết đến tình cảm của người khác; Có vẻ thích chơi một mình – co lại trong thế giới riêng của trẻ

Khó khăn về khả năng giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ

Trẻ không có phản ứng khi được gọi tên, chậm biết nói (không nói bi bô khi lên 12 tháng), không tự nói được câu tiếng đôi (không thính câu bắt chước), khi

Trang 26

được 24 tháng, không diễn tả được mình muốn gì, cử chỉ thường không hòa hợp với tiếng nói

Nếu chưa biết nói: Trẻ có khiếm khuyết trong việc sử dụng các kỹ năng giao

tiếp không lời như: Không nhìn mặt người đối thoại khi giao tiếp, không hiểu và không sử dụng nét mặt, cử chỉ, tư thế cơ thể để giao tiếp; Các âm thanh lời nói bất thường về cao độ hoặc cường độ; Không biết yêu cầu, phản đối hoặc thể hiện các nhu cầu bản thân; Không hoặc khó học các luật lệ về giao tiếp như: chào hỏi, xin đồ vật hoặc “ạ”, “bai, bai”

Nếu trẻ đã nói được: Trẻ học nói muộn hơn trẻ bình thường; Mất khả năng nói

được từ đơn hoặc cả câu sau khi đã biết nói; Trẻ dùng phát ngôn không phù hợp với mục đích như : đáng lẽ trả lời thì trẻ lại nhắc lại câu được hỏi, nói nhại, nói vọng Phát ngôn hoặc câu của trẻ có ngữ điệu đơn điệu, nghe véo von, thường có

âm sắc cao hơn bình thường; Nếu trẻ có ngôn ngữ khá hơn, có thể thấy chậm phát triển ngôn ngữ so với trẻ cùng độ tuổi, trẻ thường không hiểu câu hỏi, ngôn ngữ của trẻ đơn giản, hiếm dùng những khái niệm so sánh, tưởng tượng; Các hành vi trong phạm vi hẹp và lặp đi lặp lại

Các hành vi rập khuôn với các vận động không có mục đích như vỗ tay, quay đầu hay đung đưa cơ thể

Các hành vi cưỡng bức thường theo một quy tắc nào đó (Ví dụ: trẻ luôn sắp xếp đồ chơi của chúng theo một đường thẳng)

Các hành vi đơn điệu, thiếu sự đa dạng và chống lại sự thay đổi (Ví dụ: như trẻ không muốn đồ chơi của chúng bị dịch chuyển hay cưỡng lại sự can thiệp của người khác đối với việc chúng đang làm)

Các hành vi có tính nghi thức bao gồm các hoạt động giống hệt nhau thực hiện hàng ngày ở cùng một thời điểm như : chỉ ăn cùng một thực đơn hay mặc một kiểu quần áo vẫn dùng hàng ngày

Các hành vi tự gây tổn thương như tự đánh mình (một nghiên cứu tiến hành năm 2007 cho biết có tới 30% trẻ bị bệnh tự kỷ có hành vi này)

Trang 27

Các hành vi hoặc cử động định hình, lặp đi lặp lại: trẻ như bị cuốn hút vào một

cử chỉ, một hoạt động hoặc trò chơi nào đó hàng giờ hoặc cả buổi Ví dụ: xoắn bàn tay, vê vê ngón tay, vò giấy, quay bánh xe ô tô (đồ chơi)

Trẻ có thể thích duy nhất một đồ vật, hoặc chỉ chơi với một người nào đó trong gia đình

Trẻ có thể chỉ quan tâm và xoay một chi tiết của vật: bánh xe, ống khói, sắp xếp đồ vật theo một mô hình có tính cố định và không thích bị người khác làm thay đổi mô hình của mình như sắp xếp đồ vật theo hàng

Trẻ có thể có những phát ngôn hoặc phát ra âm thanh nào đó một cách định hình: tự phát, không có chủ ý và trong mọi tình huống…

Trẻ có thể nhạy cảm với một số loại kích thích (khi bị vuốt ve, sờ chạm hoặc

có ánh sáng, tiếng động…)

Rối loạn giác quan

Nếu nhận thức của trẻ đã khá, trẻ có thể học được từ những gì chúng nhìn thấy, cảm thấy hoặc nghe thấy, hoặc ngược lại nếu các thông tin từ giác quan bị sai lệch Nhiều trẻ tự kỷ có thể hoà hợp tốt hoặc thậm chí có nhạy cảm đau đầu đối với một số âm thanh, loại vải, mùi vị, một số trẻ không chịu đựng nổi khi quần áo chạm vào da và một số âm thanh (ví dụ :máy hút bụi, chuông điện thoại, sấm chớp, ngay

cả tiếng sóng vỗ vào bờ có thể khiến trẻ bịt tai và khóc thét lên) Ở trẻ tự kỷ não thường tỏ ra khó cân bằng các cảm giác cho tương xứng và một số trẻ tự kỷ không chú ý tới quá lạnh hoặc quá đau, chẳng hạn có trẻ tự đập đầu vào cạnh bàn làm lõm bên đầu nhưng không có cảm giác đau [2]

Tâm lý – xã hội của trẻ tự kỷ: Trẻ có thể kém tưởng tượng; Trẻ có thể tự kích

động mạnh: đập đầu, lăn đùng ra đất; Trẻ có thể tự kích dục (sờ bộ phận sinh dục, thủ dâm); Trẻ có thể kém tự điều khiển nội tâm; Trẻ có thể kém kiểm soát hành động của mình; Trẻ có thể kém trong giao tiếp xã hội; Trẻ có thể kém khi giao tiếp

qua lại một - một, trong nhóm nhỏ hoặc nhóm lớn [20,tr.5]

1.3 Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ

1.3.1 Khái niệm công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ

Trang 28

Từ một số khái niệm đã được chúng tôi phân tích ở trên như: Công tác xã hội, công tác xã hội cá nhân, trẻ tự kỷ, chúng tôi xác định khái niệm công tác xã hội cá

nhân đối với trẻ tự kỷ như sau: Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ là phương

pháp công tác xã hội chuyên nghiệp nhằm giúp đỡ trẻ tự kỷ thông qua mối quan hệ một – một, trong đó nhân viên công tác xã hội sử dụng kiến thức, kỹ năng, phương pháp công tác xã hội để tập trung giải quyết các vấn đề mà trẻ tự kỷ đang gặp phải, với mục đích là phục hồi, cũng cố và phát triển các chức năng xã hội của trẻ tự kỷ

1.3.2 Mục đích và chức năng của công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ

Mục đích của công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ

Mục đích của công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ là nhằm phục hồi, cải thiện những khiếm khuyết về những hành vi bất thường, sự tương tác xã hội, khả năng giao tiếp ngôn ngữ, kỹ năng xã hội…cũng cố và phát triển những hành vi tích cực (hay điểm mạnh của trẻ), cung cấp các dịch vụ xã hội và nâng cao chất lượng sống cho trẻ là nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ hòa nhập với cộng đồng ; Vận động và tác động đến cơ quan ban ngành nhà nước để có các chế độ, chính sách cho người mắc chứng tự kỷ nói chung và trẻ tự kỷ nói riêng

Chức năng của công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ

Đánh giá nhu cầu, xác định các vấn đề mà trẻ và gia đình trẻ đang gặp phải, khai thác khả năng của chính bản thân trẻ và các mối quan hệ trong gia đình trẻ để giải quyết các vấn đề mà họ đang đối diện Trên cơ sở đánh giá các nhu cầu và kế hoạch can thiệp, nhân viên công tác xã hội tiến hành các hoạt động trợ giúp trẻ tự

kỷ phục hồi các chức năng bị suy giảm hoặc khiếm khuyết

Nhân viên công tác xã hội có nhiệm vụ trợ giúp cho trẻ tự kỷ và gia đình trẻ tự

kỷ vượt qua khó khăn và trang bị cho họ những kiến thức, kỹ năng để nâng cao năng lực, khả năng ứng phó với hoàn cảnh thực tế

1.3.3 Vai trò của nhân viên xã hội trong công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự

kỷ

Vai trò tham vấn, tư vấn

Trang 29

Nhân viên công tác xã hội là người tư vấn, tham vấn những thông tin, kiến thức cơ bản về “chứng bệnh tự kỷ” cho gia đình để giảm sự căng thẳng, giải tỏa áp lực tâm lý mà tìm ra những giải pháp tốt nhất một cách có lý trí để tránh nhận thức sai lệch về bệnh của con mình và từng bước ổn định tâm lý để tìm ra hướng giải quyết ngày càng tốt hơn Cung cấp kiến thức, kỹ năng, phương pháp can thiệp cho gia đình để can thiệp cho trẻ tự kỷ tại nhà và các chính sách, dịch vụ trợ giúp trẻ tự

kỷ

Vai trò là người biện hộ

Người tự kỷ nói chung và trẻ tự kỷ nói riêng là vấn đề còn nhiều bàn cãi về : công cụ chẩn đoán, tiêu chí chẩn đoán, chương trình giáo dục hòa nhập, phương pháp can thiệp cho trẻ tự kỷ, đặc biệt là chính sách chưa công nhận trẻ tự kỷ là dạng khuyết tật, vì vậy, nhân viên công tác xã hội là người thấu hiểu sâu sắc đối với trẻ tự kỷ và gia đình trẻ, từ đó đứng ra biện hộ quyền lợi cho trẻ về mặt xã hội, giáo dục, y tế … và vận động chính sách công nhận tự kỷ là một dạng khuyết tật để trẻ được hưởng các quyền lợi theo Luật định

Vai trò là người vận động, kết nối nguồn lực

Hiện nay các Trung tâm cung cấp dịch vụ công cho trẻ tự kỷ còn rất ít, các Trường chuyên biệt của tư nhân thường tập trung tại các thành phố lớn với giá dịch

vụ thường là khá cao so với mức thu nhập trung bình, một số trẻ tự kỷ ở các vùng sâu, vùng xa điều kiện kinh tế gia đình còn khó khăn nên chưa thể tiếp cận được với các dịch vụ y tế, xã hội, giáo dục này Do đó, nhân viên công tác xã hội phải biết kết nối các nguồn lực giữa các bên liên quan để giải quyết vấn đề mà trẻ tự kỷ đang gặp phải; Vận động, kêu gọi, kết nối các nguồn lực bên trong – ngoài để cung cấp các dịch vụ có chất lượng cho trẻ tự kỷ

Vai trò là người giáo dục

Trong tất cả những hành vi của chúng ta bắt nguồn từ nhận thức, nếu nhận thức sai thì dẫn đến hành vi sai, do đó nhân viên công tác xã hội với vai trò là người giáo dục trong việc thay đổi nhận thức cho gia đình trẻ và cộng đồng về “Hội chứng

tự kỷ” để từ đó có cái nhìn đúng đắn hơn về trẻ nhằm tránh kỳ thị, xa lánh và hãy

Trang 30

chấp nhận, yêu thương, giúp đỡ trẻ phát triển tối đa khả năng của trẻ, tạo cơ hội cho trẻ được sống, học tập và hòa nhập xã hội

1.3.4 Tiến trình công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ

- Tiếp cận và nhận diện vấn đề của trẻ

Nhân viên công tác xã hội chủ động tiếp xúc và làm quen với trẻ để nắm bắt

về những hành vi, biểu hiện, cử chỉ và thói quen sinh hoạt hàng ngày của trẻ nhằm

để hiểu thêm các vấn đề mà trẻ đang gặp phải Nhân viên công tác xã hội thực hiện công tác vãng gia và căn cứ vào các hồ sơ liên quan đến trẻ, gặp gỡ, trao đổi với gia đình trẻ để xác định tình trạng của trẻ như: hoàn cảnh gia đình, mối quan hệ gia đình

- Thu thập thông tin của trẻ

Thông tin cá nhân trẻ: Họ và tên, ngày tháng năm sinh, nơi sinh, quê quán, địa

chỉ thường trú

Các thông tin liên quan đến trẻ: Mối quan hệ gia đình với trẻ (Cha mẹ, ông bà,

cô dì, chú bác ); Mối quan hệ xung quanh trẻ: Nhân viên công tác xã hội thu thập thông tin qua các mối quan hệ xung quanh để làm rõ hơn về tình trạng của trẻ (Thầy

Cô, bạn bè, người nuôi dưỡng ); Hoàn cảnh gia đình trẻ; Tiểu sử bản thân của trẻ;

Sơ đồ sinh thái và Sơ đồ phả hệ của trẻ

- Đánh giá, chẩn đoán

Nhóm can thiệp đa chức năng (Y tế - Giáo dục - Âm Ngữ trị liệu - Tâm lý - Nhân viên công tác xã hội - Gia đình - Dinh dưỡng) của Trung tâm sử dụng thang điểm Gilliam, bảng kiểm Denver II, bảng liệt kê các kỹ năng phát triển (Từng bước

nhỏ - Quyển 3-8) để đánh giá vấn đề của trẻ

+ Đánh giá khả năng của trẻ theo từng nội dung cụ thể như: Sở thích của trẻ;

Hành vi; Tập trung chú ý; Ngôn ngữ; Bắt chước; Nhận thức; Vận động tinh; Vận động thô; Kỹ năng tự phục vụ…

+ Đánh giá sự phát triển của trẻ: Cá nhân – xã hội; Ngôn ngữ; Vận động tinh;

Vận động thô; Hành vi và đưa ra kết luận về sự phát triển của trẻ

+ Đánh giá và phân tích điểm mạnh, điểm yếu của trẻ

Trang 31

+ Xác định vấn đề ưu tiên: Qua các thông tin thu thập về trẻ nói trên, có thể xác định được các vấn đề mà trẻ đang gặp phải liên quan đến tình trạng bệnh của trẻ như: Nhận thức, ngôn ngữ, hành vi, tập trung chú ý, kỹ năng tự phục vụ, bắt chước, vận động tinh, vận động thô…Từ đó, nhân viên công tác xã hội xác định vấn đề ưu tiên trong tiến trình can thiệp cho trẻ

+ Đánh giá nguồn lực trợ giúp trẻ và gia đình trẻ

Đối với Trung tâm: đánh giá và xem xét Trung tâm đã hỗ trợ cho trẻ cái gì? Đối với bà con hàng xóm: đã hỗ trợ cho trẻ ở mức độ thế nào?

Đối với gia đình: có quan tâm và chăm sóc sóc trẻ tốt không?

Đối với các cơ quan đoàn thể, chính quyền địa phương: có quan tâm, giúp đỡ trẻ và gia đình trẻ

+ Đánh giá nhu cầu của trẻ và gia đình trẻ: Gia đình có mong muốn được gửi

trẻ vào Trung tâm để được chăm sóc, nuôi dưỡng, điều trị và phục hồi chức năng để trợ giúp trẻ phát triển các chức năng còn khiếm khuyết

- Lập kế hoạch can thiệp: Thời gian thực kế hoạch; Kế hoạch can thiệp cho trẻ

gồm: Lĩnh vực can thiệp, mục tiêu can thiệp và các hoạt động can thiệp

- Thực hiện kế hoạch can thiệp và giám sát

+ Mục tiêu can thiệp: Điều trị phục hồi (Vật lý trị liệu, điều hòa giác quan:

kích thích cảm thụ bản thể; Tâm vận động: Tăng cường tập trung chú ý, vận động tứ chi); Giáo dục chuyên biệt: Tăng cường giao tiếp mắt, can thiệp ngôn ngữ, phát triển chiều sâu mức độ hiểu 1 (MĐH1), mức độ biểu đạt (MĐBĐ1); Can thiệp hành vi; Dinh dưỡng

+ Thời gian thực hiện: Nhóm can thiệp đa chức năng thực hiện đan xen các

hoạt động can thiệp theo các phương pháp: Phân tích ứng dụng hành vi (ABA), trị liệu và giáo dục trẻ tự kỷ và trẻ khuyết tật về giao tiếp (TEACCH), Phương pháp giao tiếp trao đổi hình ảnh(PECS), tâm vận động, điều hòa giác quan, ngôn ngữ trị liệu và dạy trẻ các hoạt động vui chơi theo lịch hoạt động hàng ngày

- Lượng giá và kết thúc

+ Thời gian: Các hoạt động có đảm bảo thời gian của kế hoạch đề ra

Trang 32

+ Kết quả can thiệp: Lĩnh vực can thiệp (hành vi, tập trung chú ý, ngôn ngữ,

bắt chước, nhận thức, vận động tinh, vận động thô, kỹ năng tự phục vụ), dựa vào các lĩnh vực can thiệp và so sánh với khả năng đánh giá ban đầu của trẻ để đưa ra

kết quả can thiệp và lượng giá

+ Kết luận: Đánh giá sự tiến bộ, nội dung và thời gian can thiệp có phù hợp

với khả năng tiếp thu của trẻ, nhóm can thiệp đa chức năng đánh giá sự tiến bộ của

trẻ để xây dựng kế hoạch can thiệp mới ở giai đoạn tiếp theo

Lượng giá các nguồn lực hỗ trợ cho trẻ và gia đình trẻ

Gia đình trẻ có muốn tiếp tục hay ngừng tham gia vào kế hoạch can thiệp

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ

1.4.1 Năng lực, trình độ của nhân viên công tác xã hội

Nhân viên công tác xã hội của Trung tâm còn hạn chế về số lượng và chất lượng, chưa được đào tạo bài bản về chuyên ngành công tác xã hội, phương pháp làm việc chưa chuyên nghiệp, phần lớn đội ngũ nhân viên xã hội làm việc với trẻ tự

kỷ có nhiều năng lực khác nhau, trình độ chuyên môn được đào tạo trái ngành, nhưng được cập nhật kiến thức, kỹ năng thông qua các chương trình tập huấn ngắn hạn về lĩnh vực trợ giúp trẻ khuyết tật, trẻ tự kỷ nhằm để nâng cao các hoạt động trị liệu, chăm sóc trẻ Bên cạnh đó, nhân viên công tác xã hội của Trung tâm với nhiều năm làm việc trong lĩnh vực bảo trợ xã hội đã có nhiều kinh nghiệm thực tế về chăm sóc, nuôi dưỡng, điều trị và phục hồi chức năng đối với trẻ khuyết tật nói chung và trẻ tự kỷ nói riêng

1.4.2 Điều kiện cơ sở vật chất và nguồn lực khác

Trung Tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật là đơn vị sự nghiệp, đã hoạt động gần 40 năm trong ngành Y tế – Xã hội, tạo được uy tín, sự tin tưởng đối với các cấp chính quyền địa phương và các Cơ sở xã hội trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, điều trị phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật

Về điều kiện cơ sở vật chất : Nhà cửa, trang thiết bị của Trung tâm sử dụng đã nhiều năm nên đã xuống cấp, các trang thiết bị chuyên môn về phục hồi chức năng còn thiếu chưa đáp ứng đầy đủ các nhu cầu về chuyên môn trong công tác chăm

Trang 33

sóc, nuôi dưỡng và phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật Dụng cụ giảng dạy cho trẻ tự kỷ còn thiếu chưa đáp ứng cho công tác giảng dạy, phần lớn là do giáo viên tự làm để phù hợp với kế hoạch giáo dục cá nhân cho trẻ

Về đội ngũ cán bộ, viên chức: Trung Tâm có đội ngũ y bác sỹ, kỹ thuật viên, giáo viên chuyên biệt, tâm lý, nhân viên công tác xã hội làm việc lâu năm có kinh nghiệm trong chăm sóc, điều trị và phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật; Trung tâm thường xuyên tổ chức cho cán bộ, viên chức tham gia học tập, đào tạo nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn thông qua các khóa tập huấn ngắn hạn, dài hạn về lĩnh vực trợ giúp trẻ khuyết tật, với sự nhiệt tình, lòng nhiệt huyết và lòng yêu nghề

đã phần nào góp phần vào chất lượng công tác điều trị phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật

Trung tâm đã hợp tác với chuyên gia và các tổ chức phi chính phủ nước ngoài như : Tổ chức Aid for Kids – Hoa Kỳ, Tổ chức Care4thekids – Hà Lan, NewZeland

về lĩnh vực phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật và trẻ tự kỷ

Trung tâm nhận được sự hỗ trợ về tài chính, kỹ thuật của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài và sự tham gia nhiệt tình, trách nhiệm của các tình nguyện viên trong nước và quốc tế

1.4.3 Nhận thức của gia đình và cộng đồng

Hàng năm, Liên hợp quốc đã chọn ngày 2/4 là ngày “Thế giới nhận thức về chứng tự kỷ”, với mục đích khuyến cáo các quốc gia trên thế giới tăng cường quan tâm đến hội chứng này Trong thông điệp này, Ông Ban Ki Moon Tổng thư ký Liên Hợp Quốc đã từng nói rằng “Trẻ em và những người mắc chứng tự kỷ phải đối mặt với những thách thức lớn, trong đó có sự phân biệt đối xử cũng như thiếu khả năng tiếp cận dịch vụ hỗ trợ, nhiều người phải vật lộn với các rào cản trong cuộc sống hàng ngày”

Chính sách chưa đầy đủ, chưa đồng bộ của các ngành, các cấp trong việc xác nhận khuyết tật cho trẻ tự kỷ nên một số địa phương đã từ chối làm hồ sơ công nhận trẻ tự kỷ là một dạng khuyết tật

Trang 34

Cộng đồng nhận thức về hội chứng tự kỷ còn hạn chế nên có thái độ kỳ thị,

xa lánh và phân biệt khi trẻ tham gia học trường hòa nhập, tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí nơi công cộng và không nhận được sự chia sẻ, hỗ trợ từ nhà trường nên làm cho trẻ tự kỷ khó khăn hơn khi hòa nhập vào cuộc sống bình thường

Một số phụ huynh không chấp nhận bệnh của con mình hoặc thiếu kiến thức,

kỹ năng để can thiệp cho trẻ tại nhà

1.5 Các cơ sở pháp lý về công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ

Ngày 22/10/2007, Việt Nam đã ký cam kết tham gia Công ước Quốc tế của Liên Hợp Quốc về quyền của người khuyết tật Mục đích của Công ước này là nhằm bảo hộ và thúc đẩy các quyền của người khuyết tật, đảm bảo người khuyết tật được tiếp cận bình đẳng và thực hiện đầy đủ các quyền cơ bản như các cá nhân không khuyết tật khác

Luật Người khuyết tật đã được Quốc hội thông qua ngày 17 tháng 6 năm

2010, có hiệu lực vào ngày 01/01/2011 đã khẳng định sự bình đẳng và những quyền lợi của Người khuyết tật

Với những tồn tại của xã hội và sự nổ lực cộng đồng là sự ra đời của Quyết định số: 1019/QĐ-TTg ngày 05 tháng 08 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt “Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012-2020” Mục tiêu chung của đề án là “Hỗ trợ người khuyết tật phát huy khả năng của mình để đáp ứng nhu cầu bản thân; tạo điều kiện để người khuyết tật vươn lên tham gia bình đẳng vào các hoạt động kinh tế - xã hội, góp phần xây dựng cộng đồng và xã hội”

Hiện nay, công tác xã hội đã và đang có vai trò quan trọng đối với sự phát triển bình đẳng và tiến bộ xã hội Sứ mạng của ngành công tác xã hội là nỗ lực hành động nhằm giảm thiểu những rào cản trong xã hội, sự bất công và sự bất bình đẳng trong xã hội Nhận định tầm quan trọng của ngành công tác xã hội Chính phủ đã ban hành Quyết định số: 32/2010/QĐ-TTg, ngày 25 tháng 03 năm 2010 (gọi tắt là

Đề án 32) về việc phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 –

2020

Trang 35

Quyết định số: 32/2010/QĐ-TTg, ngày 25 tháng 03 năm 2010 Chính phủ đã tạo ra hành lang pháp lý để từng bước phát triển nghề công tác xã hội chuyên nghiệp và tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của các cấp, các ngành và cộng đồng về nghề công tác xã hội Tiếp theo Đề án 32, các Bộ, ngành Trung ương

có những Quyết định, Thông tư hướng dẫn liên quan đến ngành công tác xã hội như sau: Quyết định số: 1305/QĐ-LĐTBXH ngày 22 tháng 10 năm 2010 của Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội về việc Phê duyệt kế hoạch tổng thể thực hiện Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 – 2015; Thông tư số: 10/2010/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 3 năm 2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Ban hành chương trình khung Giáo dục đại học ngành công tác xã hội trình độ đại học, cao đẳng; Quyết định số: 35/2004/QĐ-BGD&ĐT ngày 11 tháng 10 năm 2004 của Bộ Giáo dục và Đạo tạo về việc Ban hành chương trình khung giáo dục đại học ngành công tác xã hội trình độ đại học, cao đẳng

Thông tư liên tịch số: 11/2011/TTLT/BTC-BLĐTBXH, ngày 26/01/2011 của

Bộ Tài chính và Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội về việc hướng dẫn quản lý và

sử dụng kinh phí thực hiện Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25 tháng 3 năm

2010 của Thủ tướng Chính phủ

Thông tư số: 07/2013/TT-BLĐTBXH ngày 24/5/2013 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ cộng tác viên công tác xã hội

xã, phường, thị trấn

Thông tư liên tịch số: 09/2013/TTLT/BLĐTBXH-BNV, ngày 10/06/2013 của

Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và Bộ Nội vụ về việc hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm cung ứng dịch vụ công tác xã hội công lập

Thông tư liên tịch số: 30/2015/TTLT/BLĐTBXH-BNV, ngày 19/08/2015 của

Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và Bộ Nội vụ về việc Quy định mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành công tác xã hội

Trang 36

Kết luận chương 1

Công tác xã hội cá nhân là một trong ba phương pháp chính của công tác xã hội, đến nay có nhiều khái niệm về công tác xã hội cá nhân đối với nhóm người yếu thế nói chung và công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ nói riêng, phương pháp này cũng đã được thực hành với nhiều nhóm đối tượng khác nhau Với kết quả nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến công tác xã hội cá nhân đối với trẻ

tự kỷ đã nêu trong chương 1, đề tài đã xây dựng được khái niệm trẻ tự kỷ; Khái niệm công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ; Mục đích của công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ; Chức năng của công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ; Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ; Tiến trình công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ; Các cơ sở pháp lý về công tác

xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ; Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ;

Từ một số khái niệm đã được chúng tôi phân tích ở trên như: Công tác xã hội, công tác xã hội cá nhân, trẻ tự kỷ, chúng tôi xác định khái niệm công tác xã hội cá

nhân đối với trẻ tự kỷ như sau: Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ là phương

pháp công tác xã hội chuyên nghiệp nhằm giúp đỡ trẻ tự kỷ thông qua mối quan hệ một – một, trong đó nhân viên công tác xã hội sử dụng kiến thức, kỹ năng, phương pháp công tác xã hội để tập trung giải quyết các vấn đề mà trẻ tự kỷ đang gặp phải, với mục đích là phục hồi, cũng cố và phát triển các chức năng xã hội của trẻ tự kỷ.

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ TỰ KỶ TẠI TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VÀ TRỢ GIÚP TRẺ TÀN TẬT

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 Khách thể, địa bàn và phương pháp nghiên cứu thực tiễn

2.1.1 Khách thể và địa bàn nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Tổng số khách thể tham gia quá trình khảo sát là 60 người Trong đó:

+ Khách thể điều tra bằng bảng hỏi : 40 nhân viên công tác xã hội, viên chức trực tiếp chăm sóc, điều trị, phục hồi chức năng và giáo dục cho trẻ tự kỷ

+ Khách thể phỏng vấn sâu : 10 nhân viên công tác xã hội, viên chức trực tiếp chăm sóc, điều trị, phục hồi chức năng, giáo dục trẻ tự kỷ, lãnh đạo Trung tâm và

tổ chức bộ máy của Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật (tiền thân Trung tâm phục hồi trẻ mồ côi suy dinh dưỡng), thực hiện chức năng chăm sóc, giáo dục, điều trị phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật; phục hồi suy dinh dưỡng

Trang 38

cho trẻ mồ côi nghèo, có hoàn cảnh khó khăn và đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện cho nhân viên các cơ sở bảo trợ xã hội về điều trị phục hồi chức năng

+ Chức năng, nhiệm vụ

Chức năng: Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật là đơn vị sự

nghiệp thực hiện điều trị phục hồi chức năng, trợ giúp trẻ tàn tật, trẻ mồ côi nghèo;

bồi dưỡng, huấn luyện về điều trị phục hồi chức năng

Nhiệm vụ: Điều trị phục hồi chức năng đối với trẻ tàn tật tại Trung tâm và tại

cộng đồng; Nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến về phục hồi chức năng cho trẻ tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa; Trợ giúp về dạy nghề, tạo việc làm phù hợp đối với trẻ tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn hòa nhập cộng đồng; Bồi dưỡng, huấn luyện về điều trị phục hồi chức năng cho cán bộ, nhân viên cơ sở bảo trợ xã hội và cộng đồng; Hợp tác quốc tế trong nghiên cứu ứng dụng, điều trị phục hồi chức năng; vận động và tiếp nhận các chương trình, dự án viện trợ nhân đạo trong nước và quốc tế; tổ chức chuyển giao dự án địa phương, cơ sở thực hiện đảm bảo đúng mục tiêu, đối tượng, hiệu quả

+ Cơ cấu tổ chức bộ máy

Cơ cấu tổ chức: Giám đốc Trung tâm và phó giám đốc giúp việc Các Khoa, Phòng thuộc Trung tâm gồm: Phòng khám chuyên khoa phục hồi chức năng; Khoa Đào tạo – Bồi dưỡng ; Khoa phục hồi chức năng; Phòng Tổ chức-Hành chính-Quản trị; Phòng Kế toán - Tài vụ; Văn phòng quản lý các dự án quốc tế về nhân đạo Đội ngũ cán bộ, viên chức hiện nay của Trung tâm là 84 người: Nhân viên y tế

(Bác sỹ, Điều dưỡng, kỹ thuật viên vật lý trị liệu), Giáo viên chuyên biệt, giáo viên

tâm lý, nhân viên công tác xã hội, có trình độ: đại học và sau đại học: 36,90%; Cao đẳng: 15,48%; Trung cấp: 17,86%; khác: 29,76%, có thể đáp ứng được các yêu cầu

về hoạt động chuyên môn trong chăm sóc, giáo dục chuyên biệt và điều trị phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật và trẻ tự kỷ

+ Đối tượng và phạm vi hoạt động Trung tâm

Trang 39

Trung tâm đang chăm sóc, điều trị và phục hồi chức năng cho 150 trẻ khuyết tật (Nam: 90 trẻ; Nữ: 60 trẻ) có độ tuổi từ 0 đến 15 tuổi thuộc địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành khu vực phía Nam, trong đó gồm các dạng khuyết tật : Trẻ khiếm khuyết vận động; Trẻ chậm phát triển trí tuệ; Trẻ động kinh; Trẻ rối nhiễu tâm trí, trẻ tự kỷ; Trẻ đa khuyết tật; Trẻ suy dinh dưỡng con gia đình nghèo, trẻ mồ côi, trẻ bỏ rơi

+ Các hoạt động chính của Trung tâm

Công tác tiếp nhận, thăm khám, đánh giá, phân loại và tầm soát bệnh cho trẻ khuyết tật; Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng; Công tác điều trị và phục hồi chức năng (Về vật lý trị liệu; Về can thiệp ngôn ngữ trị liệu, giáo dục chuyên biệt, giáo dục hòa nhập)

Công tác đào tạo bồi dưỡng cho khoảng 300 nhân viên chăm sóc khuyết tật, giáo viên chuyên biệt, giáo viên tâm lý, nhân viên xã hội/năm tại các Cơ sở bảo trợ

xã hội công lập và ngoài công lập thuộc các tỉnh, thành khu vực phía Nam

Công tác hỗ trợ tâm lý xã hội cho trẻ khuyết tật và gia đình trẻ khuyết tật Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật : Hợp tác với các Tổ chức phi chính phủ nước ngoài như: Hà Lan, Hoa Kỳ, từ New Zealand

để hướng dẫn, đào tạo giáo viên chuyên biệt, nhân viên chăm sóc trẻ của trung tâm

về hoạt động trị liệu, điều hòa giác quan, kỹ năng thực hành làm việc với trẻ tự kỷ,

kỹ năng can thiệp hành vi cho trẻ tự kỷ…

Văn phòng quản lý các dự án quốc tế về nhân đạo: Vận động, kêu gọi, tiếp nhận, quản lý và theo dõi kinh phí từ các tổ chức phi chính phủ nước ngoài như: Tổ chức Kinderhilfe – Đức; Terre des homes Đức; Quỹ từ thiện Teresa – Hoa kỳ, Tổ chức Ourchild – Đức; Tổ chức Aid for Kids – Hoa Kỳ,…để thực hiện các dự án bảo trợ xã hội, phát triển cộng đồng tại một số tỉnh, thành trên cả nước

2.1.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

2.1.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Mục đích: Đề tài luận văn sử dụng phương pháp này nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng hoạt động trị liệu, chăm sóc và giáo dục trẻ tự kỷ; Thực trạng mức độ

Trang 40

thực hiện các tiến trình công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ; Thực trạng các yếu

tố ảnh hưởng tới công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ

- Nội dung : Bảng hỏi được thiết kế để khảo sát 3 nội dung chính sau đây: + Thực trạng hoạt động trị liệu, chăm sóc và giáo dục trẻ tự kỷ;

+ Thực trạng mức độ thực hiện các bước trong tiến trình công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ;

+ Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự

kỷ

- Công cụ đo: Phiếu điều tra (dành cho cán bộ quản lý tại trung tâm, nhân viên công tác xã hội thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ, cha mẹ trẻ tự kỷ) Chi tiết xin xem phụ lục 6

- Thang đánh giá:

Để tìm hiểu thực trạng trị liệu, chăm sóc và giáo dục trẻ tự kỷ chúng tôi thiết

kế thang đo 4 mức độ Thang đo này được thiết kế trên cơ sở nội dung cơ bản các mệnh đề biểu hiện về mức độ thực hiện trị liệu, chăm sóc và giáo dục trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội tại Trung tâm Tương ứng với mỗi mệnh đề là 4 phương

án lựa chọn từ “Chưa phù hợp” đến “Rất phù hợp” Với mỗi mệnh đề, khách thể chỉ được phép lựa chọn một trong 4 phương án đó, cụ thể như sau: Chưa phù hợp: 1 điểm; Tương đối phù hợp: 2 điểm; Phù hợp: 3 điểm; Rất phù hợp: 4 điểm

Để tìm hiểu thực trạng mức độ thực hiện tiến trình công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ, chúng tôi thiết kế thang đánh giá 5 mức độ Cụ thể như sau:

Thang đo này được thiết kế trên cơ sở nội dung cơ bản các mệnh đề biểu hiện

về mức độ phù hợp và mức độ thực hiện tiến trình công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ Tương ứng với mỗi mệnh đề là 5 phương án lựa chọn từ “Thực hiện chưa làm được” đến “Thực hiện rất tốt” Với mỗi mệnh đề, khách thể chỉ được phép lựa chọn một trong 5 phương án đó, cụ thể như sau: Chưa làm được: 1 điểm; Chưa đạt yêu cầu: 2 điểm; Đạt yêu cầu: 3 điểm: Thực hiện tốt: 4 điểm; Thực hiện rất tốt: 5 điểm

Ngày đăng: 06/06/2017, 17:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Di Ái (1992), Phân loại bệnh Quốc tế (ICD-10) về các rối loạn tâm thần và hành vi, Viện sức khỏe tâm thần trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Phân loại bệnh Quốc tế (ICD-10) về các rối loạn tâm thần và hành vi
Tác giả: Trần Di Ái
Năm: 1992
4. Ngô Xuân Điệp (2009), Nghiên cứu nhận thức của Trẻ tự kỷ tại thành phố Hồ Chí Minh, Luận án Tiến sỹ Tâm lý học,tr.14-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhận thức của Trẻ tự kỷ tại thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Ngô Xuân Điệp
Năm: 2009
6. Giáo trình Nghề công tác xã hội nền tảng triết lý và kiến thức-Chương trình đào tạo cán bộ quản lý công tác xã hội, (2014), Nxb Hồng Đức, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề công tác xã hội nền tảng triết lý và kiến thức-Chương trình đào tạo cán bộ quản lý công tác xã hội
Tác giả: Giáo trình Nghề công tác xã hội nền tảng triết lý và kiến thức-Chương trình đào tạo cán bộ quản lý công tác xã hội
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2014
8. Giáo trình công tác xã hội làm việc với cá nhân và gia đình-Chương trình đào tạo cán bộ quản lý công tác xã hội cấp cao (2014), Nxb Hồng Đức, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: công tác xã hội làm việc với cá nhân và gia đình-Chương trình đào tạo cán bộ quản lý công tác xã hội cấp cao (2014)
Tác giả: Giáo trình công tác xã hội làm việc với cá nhân và gia đình-Chương trình đào tạo cán bộ quản lý công tác xã hội cấp cao
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2014
9. Vũ Thị Bích Hạnh (2007), Trẻ Tự kỷ - phát hiện sớm và can thiệp sớm, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trẻ Tự kỷ - phát hiện sớm và can thiệp sớm
Tác giả: Vũ Thị Bích Hạnh
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2007
10. Vũ Thị Bích Hạnh đã biên soạn (2012), Giáo trình trung cấp nghề công tác xã hội trợ giúp trẻ tự kỷ, biên soạn với sự hỗ trợ của đề án 32-Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Nxb Lao động – Xã hội. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình trung cấp nghề công tác xã hội trợ giúp trẻ tự kỷ, biên soạn với sự hỗ trợ của đề án 32-Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
Tác giả: Vũ Thị Bích Hạnh đã biên soạn
Nhà XB: Nxb Lao động – Xã hội. Hà Nội
Năm: 2012
11. Nguyễn Thị Mai Lan (2013), Trẻ tự kỷ ở nước ta hiện nay một vài khía cạnh lý luận và thực tiễn, Nxb từ điển Bách Khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trẻ tự kỷ ở nước ta hiện nay một vài khía cạnh lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Lan
Nhà XB: Nxb từ điển Bách Khoa
Năm: 2013
12. Trương Xuân Liễu (1998), ICD-10-Bảng phân loại quốc tế, Sở y tế thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ICD-10-Bảng phân loại quốc tế
Tác giả: Trương Xuân Liễu
Năm: 1998
13. Nguyễn Ngọc Lâm (2007), Giáo trình nhập môn công tác xã hội, Trường Đại học Mở TP.HCM, Khoa Xã hội học – Công tác xã hội – Đông Nam Á Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nhập môn công tác xã hội
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lâm
Năm: 2007
14. Bùi Thị Xuân Mai (2010), Giáo trình nhập môn công tác xã hội, Nxb Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nhập môn công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: Nxb Lao động – Xã hội
Năm: 2010
15. Nguyễn Thị Oanh (1998), Công tác xã hội đại cương, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội đại cương
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
16. Lê Văn Phú (2004), Giáo trình Công tác xã hội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Công tác xã hội
Tác giả: Lê Văn Phú
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
17. Tôn Nữ Ái Phương (2014), Giáo trình công tác xã hội cá nhân, Trường Đại học Mở TP.HCM, Khoa Xã hội học – Công tác xã hội – Đông Nam Á Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình công tác xã hội cá nhân
Tác giả: Tôn Nữ Ái Phương
Năm: 2014
18. Võ Nguyễn Tinh Vân(2002), Nuôi con bị Tự kỷ, Nxb Bamboo, Australia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi con bị Tự kỷ
Tác giả: Võ Nguyễn Tinh Vân
Nhà XB: Nxb Bamboo
Năm: 2002
19. Võ Nguyễn Tinh Vân (2002), Để hiểu Tự kỷ, Nxb Bamboo, Australia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để hiểu Tự kỷ
Tác giả: Võ Nguyễn Tinh Vân
Nhà XB: Nxb Bamboo
Năm: 2002
20. Tài liệu số 15 (2010), Phục Hồi chức năng trẻ tự kỷ , Nxb Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục Hồi chức năng trẻ tự kỷ
Tác giả: Tài liệu số 15
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2010
21. Nguyễn Thị Hoàng Yến (2012), Giáo dục đặc biệt và những thuật ngữ cơ bản, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đặc biệt và những thuật ngữ cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Hoàng Yến
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2012
31.Trung tâm công tác xã hội tỉnh Thái Nguyên :http://congtacxahoithainguyen.vn/thuc-trang-benh-tu-ky-va-mot-so-dinh-huong/, cập nhật ngày 13/9/2016 Link
2. Báo cáo kết quả hoạt động của Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật năm 2014, 2015, 2016 Khác
3. Báo cáo hoạt động đối ngoại của Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật năm 2016 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Số lượng trẻ tự kỷ theo giới tính tại Trung tâm - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 2.1 Số lượng trẻ tự kỷ theo giới tính tại Trung tâm (Trang 43)
Bảng 2.3: Kết quả đánh giá mức độ tự kỷ ở trẻ - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 2.3 Kết quả đánh giá mức độ tự kỷ ở trẻ (Trang 44)
Bảng 2.6: Mức độ thực hiện xây dựng kế hoạch can thiệp trẻ tự kỷ - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 2.6 Mức độ thực hiện xây dựng kế hoạch can thiệp trẻ tự kỷ (Trang 47)
Bảng 2.7: Mức độ thực hiện phương pháp can thiệp trẻ tự kỷ - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 2.7 Mức độ thực hiện phương pháp can thiệp trẻ tự kỷ (Trang 48)
Bảng 2.8: Mức độ thực hiện nhiệm vụ tham vấn, tư vấn trẻ tự kỷ - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 2.8 Mức độ thực hiện nhiệm vụ tham vấn, tư vấn trẻ tự kỷ (Trang 50)
Bảng 2.9: Đánh giá mức độ thực hiện hoạt động tham vấn, tư vấn trẻ tự kỷ - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 2.9 Đánh giá mức độ thực hiện hoạt động tham vấn, tư vấn trẻ tự kỷ (Trang 51)
Bảng 2.10: Mức độ thực hiện vận động, kết nối nguồn lực trợ giúp trẻ tự kỷ - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 2.10 Mức độ thực hiện vận động, kết nối nguồn lực trợ giúp trẻ tự kỷ (Trang 52)
Bảng 2.12: Mức độ thực hiện giáo dục trẻ tự kỷ - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 2.12 Mức độ thực hiện giáo dục trẻ tự kỷ (Trang 53)
Bảng 2.13: Mức độ thực hiện phối hợp của nhân viên công tác xã hội với các - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 2.13 Mức độ thực hiện phối hợp của nhân viên công tác xã hội với các (Trang 54)
Bảng 2.14: Mức độ thực hiện các nội dung trong tiến trình công tác xã hội - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 2.14 Mức độ thực hiện các nội dung trong tiến trình công tác xã hội (Trang 55)
Bảng 2.16: Mức độ thực hiện nhiệm vụ thu thập thông tin về trẻ tự kỷ - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 2.16 Mức độ thực hiện nhiệm vụ thu thập thông tin về trẻ tự kỷ (Trang 58)
Bảng 2.22: Yếu tố điều kiện cơ sở vật chất và nguồn lực của Trung tâm - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 2.22 Yếu tố điều kiện cơ sở vật chất và nguồn lực của Trung tâm (Trang 65)
Bảng 2.23 : Yếu tố về nhận thức của gia đình và cộng đồng - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 2.23 Yếu tố về nhận thức của gia đình và cộng đồng (Trang 66)
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ phả hệ - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ phả hệ (Trang 71)
BẢNG HỎI - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh
BẢNG HỎI (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w