3 thực trạng vai trò của NVCTXH đối với trẻ em có HIV/AIDS tại các Trung tâm bảo trợ xã hội của tỉnh hiện nay và đưa ra một số khuyến nghị nhằm giúp các cơ quan chức năng, những nhà quản
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THÙY HƯƠNG
VAI TRÒ NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ HIV/AIDS TỪ THỰC TIỄN
CÁC TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI,
GS.TS NGUYỄN HỮU MINH
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
Thạc sĩ Công tác xã hội về “Vai trò nhân viên công tác xã hội đối với trẻ em
bị HIV/AIDS từ thực tiễn các Trung tâm bảo trợ xã hội, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác
trong cùng lĩnh vực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thùy Hương
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… 01
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ HIV/AIDS 12
1.1 Khái niệm và đặc điểm của trẻ em có HIV/AIDS 12
1.2 Lý luận về vai trò của nhân viên công tác xã hội ……… 18
1.3 Cơ sở pháp lý liên quan đến chính sách đối với trẻ em có HIV/AIDS và nhân viên công tác xã hội 22
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ HIV/AIDS TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ TRẺ EM VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU 28
2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu ………… ……… …… 28
2.2 Nhu cầu trợ giúp về công tác xã hội của trẻ HIV/AIDS và việc đáp ứng các nhu cầu đó của Trung tâm………….………32
2.3 Thực trạng về vai trò của nhân viên công tác xã hội đối với trẻ em có HIV/AIDS 43
2.4 Những yếu tố tác động, làm làm ảnh hưởng đến việc thực hiện vai trò của nhân viên công tác xã hội đối với trẻ em có HIV/AIDS tại Trung tâm Bảo trợ trẻ em Vũng Tàu 54
2.5 Sự cần thiết phải có nhân viên công tác xã hội để hỗ trợ trẻ HIV/AIDS tại Trung tâm………60
Chương 3: KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ HIV/AIDS TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ TRẺ EM VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU 65
3.1 Các khuyến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thực thi chính sách 65
3.2 Các khuyến nghị đối với nhân viên công tác xã hội trợ giúp trẻ em có HIV/AIDS tại các Trung tâm có chăm sóc trẻ HIV/AIDS 67
KẾT LUẬN……….……….……… …… …69
TÀI LIỆU THAM KHẢO… ……… 72
PHỤ LỤC 81
Trang 4
1
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
HIV/AIDS hiện nay được xem là “căn bệnh thế kỷ”, là mối đe dọa cho con người bởi khả năng gây tử vong cao, sự lây lan nhanh chóng, và hiện nay vẫn chưa có loại thuốc đặc trị nào có thể chữa được bệnh này cũng như chưa
có vắc xin phòng bệnh
Ở Việt Nam, tình hình lây nhiễm HIV/AIDS tiếp tục diễn biến phức tạp Nó xuất hiện ở tất cả các tỉnh, thành và có xu hướng ngày càng lan rộng,
đe doạ trực tiếp đến sức khoẻ, tính mạng con người, trật tự an toàn xã hội và
sự phát triển của đất nước Thời gian qua, dưới tác động của công tác giáo dục
và truyền thông thay đổi hành vi, nhận thức của người dân về dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS ở nước ta đã có những chuyển biến tích cực
Một trong những đối tượng bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, phải gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề chính là trẻ em Ở Việt Nam, con số trẻ em bị nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV/AIDS cũng đang ngày càng gia tăng Ảnh hưởng của HIV/AIDS đối với trẻ em là rất lớn, thậm chí có tính chất quyết định đối với cuộc sống của các em, nhất là những trẻ bị ảnh hưởng trực tiếp (trẻ có/nhiễm HIV/AIDS)
Công tác xã hội (sau đây viết tắt là CTXH) là một ngành nghề tương đối mới mẻ ở Việt Nam Tuy vậy, từ khi mới ra đời, nó đã ứng dụng vào rất nhiều hoạt động, đặc biệt là hoạt động trợ giúp người yếu thế Một trong những nhóm người yếu thế mà CTXH hướng đến hỗ trợ là đối tượng trẻ em
có HIV/AIDS Trong đó, vai trò của các nhân viên công tác xã hội (sau đây viết tắt là NVCTXH) có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giúp đỡ đối tượng đương đầu và vượt qua hoàn cảnh
Đối với tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, theo số liệu thống kê của Uỷ ban Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh, tính đến ngày 30/6/2016, lũy tích số người
Trang 52
nhiễm HIV của tỉnh là 3.899 trường hợp, trong đó số người nhiễm HIV còn sống tiếp cận được 2.143, chuyển AIDS là 3.146 Riêng trong 6 tháng đầu năm 2016, toàn tỉnh phát hiện mới 52 trường hợp nhiễm HIV, 43 bệnh nhân AIDS và 14 người tử vong do AIDS
Trong số đó, trẻ em có HIV/AIDS là 91 em (điều trị thuốc ARV 82 em), đã đưa vào Trung tâm Bảo trợ trẻ em Vũng Tàu chăm sóc 18 em Trước đây, Trung tâm chỉ có chức năng tiếp nhận và chăm sóc trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi, trẻ lang thang Nhưng trước thực tế là các gia đình có bố mẹ, hoặc bố hoặc mẹ có HIV/AIDS đã chết, hoặc không đủ điều kiện để chăm sóc trẻ nên
đã đưa trẻ gửi vào Trung tâm nên Ủy ban nhân dân tỉnh đã bổ sung thêm chức năng chăm sóc trẻ có HIV/AIDS cho Trung tâm Bảo trợ trẻ em Vũng Tàu Vì vậy, việc nâng cao năng lực cho cán bộ thực hiện và thể hiện vai trò của NVCTXH tại Trung tâm này là vô cùng cần thiết Tuy nhiên, từ khi Trung tâm được bổ sung thêm chức năng này, chưa có một NVCTXH nào có đào tạo bài bản để làm việc với trẻ có HIV/AIDS, hoặc nếu có nhân viên nào được tạo điều kiện để bồi dưỡng thêm về nghiệp vụ CTXH thì cũng được phân công vào các công việc chưa phù hợp hoặc luân chuyển, biệt phái trong ngành Đội ngũ nhân viên vẫn là những bảo mẫu chăm sóc trẻ mồ côi, không có kiến thức chuyên môn về CTXH để làm việc với trẻ em có HIV/AIDS Hoạt động chủ yếu vẫn là những chăm sóc tối thiểu như cho ăn - mặc, chở đi học, khi đau bệnh thì đưa đi bệnh viện khám, uống thuốc,…; mà nhu cầu cần được trợ giúp của trẻ HIV/AIDS không chỉ dừng lại ở những những nội dung đó
Theo chủ trương chung về tinh giản biên chế nên không có định suất dành cho NVCTXH Mặt khác, nghề CTXH tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đang trong giai đoạn hình thành, kinh nghiệm CTXH đối với trẻ em có HIV/AIDS chưa nhiều, và nhận thức của các cơ quan, ban ngành, của xã hội về vai trò của NVCTXH đối với các đối tượng yếu thế nói chung chưa thật sự được đánh giá đúng mức Chính vì lý do trên mà tôi thực hiện nghiên cứu đề tài:
“Vai trò NVCTXH đối với trẻ em có HIV/AIDS tại các Trung tâm Bảo trợ xã hội, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” Luận văn sẽ nghiên cứu lý luận và đánh giá
Trang 63
thực trạng vai trò của NVCTXH đối với trẻ em có HIV/AIDS tại các Trung tâm bảo trợ xã hội của tỉnh hiện nay và đưa ra một số khuyến nghị nhằm giúp các cơ quan chức năng, những nhà quản lý và các cán bộ, nhân viên thực thi chính sách về bảo trợ xã hội có những đánh giá và quan tâm đúng mức về vai trò của NVCTXH đối với các đối tượng yếu thế, đặc biệt là trẻ em HIV/AIDS tại các Trung tâm bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh, để hướng tới việc tranh thủ
sự ủng hộ, vận động, đề xuất, tạo điều kiện, cơ chế cho NVCTXH hoạt động
và phát huy vai trò của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, vai trò của NVCTXH đối với đối tượng yếu thế
đã và đang ngày càng được xã hội đánh giá cao trong hoạt động nghề nghiệp Có một số tác giả đã tiến hành nghiên cứu về vai trò của NVCTXH trong hỗ trợ tâm lý cho đối tượng nhiễm HIV/AIDS; vai trò của NVCTXH trong trợ giúp gia đình có trẻ tự kỷ; và một số đề tài liên quan đến vai trò của NVCTXH khác, cụ thể như:
- Đề tài nghiên cứu “Vai trò của NVCTXH trong việc hỗ trợ trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS hòa nhập học đường” năm 2012 của tác giả Phạm Văn Tư, Trưởng bộ môn cơ sở Công tác xã hội, Khoa Công tác xã hội, Đại học Sư phạm Hà Nội Nghiên cứu này diễn ra tại Hà Nội, Thái Nguyên, Tuyên Quang và Quảng Ninh Nghiên cứu đã chỉ ra rằng: NVCTXH can thiệp, hỗ trợ trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS bằng phương pháp CTXH cá nhân theo tiến trình cụ thể nhằm giúp trẻ phát huy được tiềm năng của bản thân trong việc giải quyết vấn đề của mình, trong đó có việc đi học NVCTXH sử dụng phương pháp CTXH nhóm để can thiệp, hỗ trợ trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS tại một địa bàn cụ thể, thông qua việc sinh hoạt nhóm, giúp các em chia sẻ, đồng cảm và đặc biệt là giúp các em có cơ hội đi học Nghiên cứu này cũng đã cho thấy NVCTXH sử dụng kỹ năng biện hộ để giúp bảo vệ quyền được đến trường của trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS,
Trang 74
- Luận văn thạc sĩ “Vai trò của NVCTXH trong hỗ trợ tâm lý cho đối tượng nhiễm HIV/AIDS tại Trung tâm khám chữa bệnh Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Bình” năm 2013 của tác giả Trần Thị Hoa Mục đích của đề tài nghiên cứu này nhằm làm rõ vai trò của NVCTXH trong tham vấn cho đối tượng nhiễm HIV/AIDS đương đầu và vượt qua khủng hoảng, giảm căng thẳng tâm lý Trong vai trò này, NVCTXH sẽ tư vấn giúp cho các em vượt qua những trở ngại tâm lý như sự kỳ thị, xa lánh của những người xung quanh Cung cấp cho trẻ những thông tin cần thiết về căn bệnh HIV/AIDS mà trẻ đang mắc phải cũng như những quyền mà trẻ được hưởng Bên cạnh đó, giúp trẻ tiếp cận với các nguồn lực về kinh tế và những dịch vụ
y tế cần thiết
- Đề tài nghiên cứu “Vai trò của NVCTXH chuyên nghiệp trong bệnh viện hiện nay” năm 2013 của tác giả Dương Thị Phương (Nghiên cứu tại bệnh viện Nhi Trung ương) làm rõ vai trò của NVCTXH là người hỗ trợ, kết nối – trung gian và vai trò giáo dục trong trợ giúp đối tượng Qua nghiên cứu cho thấy đội ngũ NVCTXH này đã và đang cung cấp hệ thống dịch vụ trợ giúp về tinh thần và vật chất đến bệnh nhân và thân nhân của họ để có thể khắc phục khó khăn, vượt qua trở ngại, phần nào hỗ trợ cho quá trình điều trị được thực hiện tốt hơn
- Nghiên cứu “Vai trò của NVCTXH trong trợ giúp gia đình có trẻ tự
kỷ tiếp cận với các nguồn lực hỗ trợ” năm 2014 của tác giả Đào Thị Lương, được tiến hành tại huyện Văn Giang – Hưng Yên Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài này là khẳng định vai trò của NVCTXH trong trợ giúp gia đình có trẻ tự kỷ tiếp cận với các nguồn lực hỗ trợ NVCTXH thực hiện vai trò tham vấn chính sách, kết nối gia đình trẻ với các hệ thống khác như: trường học các cấp, địa phương, các nhà tài trợ,…Trong quá trình thực hiện vai trò này, NVCTXH gặp khó khăn ở việc thực tế hiện nay các nguồn lực
hỗ trợ trẻ tự kỷ và gia đình trẻ không nhiều, vì vậy các phụ huynh có con bị
Trang 8Việc nghiên cứu vai trò của NVCTXH đối với trẻ em có HIV/AIDS từ thực tiễn các Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có giá trị tham khảo đối với cơ quan, tổ chức hữu quan tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và phát triển nghề CTXH nói chung, CTXH đối với trẻ em có HIV/AIDS nói riêng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ vai trò của NVCTXH đối với trẻ em có HIV/AIDS tại Trung tâm Bảo trợ trẻ em Vũng Tàu – cơ sở duy nhất có chức năng nhiệm vụ chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em có HIV/AIDS của tỉnh Qua đó cho thấy sự cần thiết phải có NVCTXH được đào tạo, huấn luyện bài bản về chuyên môn CTXH để làm việc tại các Trung tâm chăm sóc trẻ HIV/AIDS
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu và xây dựng cơ sở lý luận, thực tiễn về vai trò của NVCTXH, một số vai trò chính của NVCTXH đối với trẻ em HIV/AIDS từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ trẻ em Vũng Tàu trong hệ thống các Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Trang 96
- Xác định nhu cầu trợ giúp về CTXH của trẻ em có HIV/AIDS và các yếu tố ảnh hưởng đến trẻ
- Đánh giá thực trạng vai trò của NVCTXH tại Trung tâm Bảo trợ trẻ
em Vũng Tàu đối với việc giúp đỡ trẻ em có HIV/AIDS cũng như các yếu tố ảnh hưởng (cản trở và thúc đẩy) để nâng cao vai trò của NVCTXH đối với trẻ
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của NVCTXH đối với trẻ có HIV/AIDS tại Trung tâm Bảo trợ trẻ em Vũng Tàu
4.2 Khách thể nghiên cứu
- Nhà quản lý, chuyên gia
- Cán bộ, nhân viên Trung tâm Bảo trợ trẻ em Vũng Tàu
- Trẻ có HIV/AIDS tại Trung tâm Bảo trợ trẻ em Vũng Tàu
4.3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh trong phạm vi
nghiên cứu là các cơ sở bảo trợ xã hội công lập trực thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Trong phạm vi đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu tại Trung tâm Bảo trợ trẻ em Vũng Tàu (vì trong hệ thống các cơ sở bảo trợ xã hội của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, đây là cơ sở duy nhất có chức năng tiếp nhận và chăm sóc trẻ em HIV/AIDS)
- Phạm vi về thời gian nghiên cứu: giai đoạn 2008 – 2014 đến nay
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Trong CTXH đối với trẻ em
HIV/AIDS có rất nhiều vấn đề mà trẻ nhiễm cần được hỗ trợ, và vai trò của NVCTXH cũng được thể hiện ở rất nhiều vị trí khác nhau Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu và làm rõ 04 vai trò chính, quan
Trang 107
trọng của NVCTXH đối với thực tiễn cụ thể của Trung tâm Bảo trợ trẻ em
Vũng Tàu, mà những vai trò này hiện nay còn đang bỏ ngỏ, chưa được Trung tâm Bảo trợ trẻ em Vũng Tàu thực hiện tốt, các vai trò đó là: người
kết nối nguồn lực; người giáo dục; người chăm sóc, trợ giúp; và là người tạo
sự thay đổi
- Phạm vi về khách thể: Hiện nay, Trung tâm đang chăm sóc 18 trẻ có
HIV/AIDS ở các độ tuổi khác nhau và tình trạng bệnh tật khác nhau Trong phạm vi đề tài này chỉ nghiên cứu trên 10 trẻ có HIV/AIDS trong độ tuổi từ 6 đến dưới 16 tuổi đang được chăm sóc tại Trung tâm còn/có khả năng giao tiếp, 03 cán bộ quản lý cấp Sở và phòng chuyên môn thuộc Sở, 03 chuyên gia của tổ chức phi Chính phủ hoạt động trong lĩnh vực CTXH với trẻ có HIV/AIDS (Tổ chức Cô nhi thế giới – Wordwide Orphans Foundation-WWO), 30 cán bộ và nhân viên đang làm việc tại Trung tâm Bảo trợ trẻ em Vũng Tàu – những người thường xuyên tiếp xúc với trẻ em có HIV/AIDS và
có thời gian công tác tại Trung tâm giai đoạn 2008 – 2014 đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
- Các phương pháp lý luận được sử dụng trong quá trình nghiên cứu: dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung và trẻ em có HIV/AIDS nói riêng
- Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: nghiên cứu hệ thống những
lý thuyết về nhu cầu, về vai trò, các yếu tố có liên quan như dịch vụ hỗ trợ của CTXH đối với trẻ em HIV/AIDS, hệ thống chính sách trợ giúp xã hội đối với trẻ em HIV/AIDS, các mô hình tác động của hệ thống dịch vụ CTXH, v.v
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như sau:
- Phương pháp nghiên cứu, tổng hợp, tài liệu
Dựa trên việc tham khảo các tài liệu, thông tin có liên quan đến vấn đề nghiên cứu thu thập được từ các nguồn như: số liệu của các cuộc điều tra và
Trang 118
các nghiên cứu về trẻ em HIV/AIDS; số liệu trong các báo cáo của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, của Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS – Sở Y tế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Trung tâm Bảo trợ trẻ
em Vũng Tàu; báo cáo đánh giá của tổ chức WWO; sách, báo, tạp chí trong nước; thông tin từ mạng Internet; các văn bản và định hướng của Nhà nước trong lĩnh vực liên quan đến đề tài
- Phương pháp chuyên gia: người thực hiện tiến hành lựa chọn và
phỏng vấn sâu 03 chuyên gia của tổ chức phi Chính phủ (WWO) hoạt động trong lĩnh vực CTXH với trẻ em HIV/AIDS Họ là những NVCTXH chuyên nghiệp đã từng tham gia quản lý, điều phối, thực hiện dự án hỗ trợ trẻ em có HIV/AIDS tại Trung tâm Bảo trợ trẻ em Vũng Tàu giai đoạn 2008 – 2014 Đây là những người có hiểu biết sâu, có nhiều kinh nghiệm và thực tiễn trong CTXH đối với trẻ em HIV/AIDS Các ý kiến của chuyên gia sẽ được xem như là cơ sở, là mốc chuẩn để so sánh, nêu bật việc thực hiện một số vai trò giữa NVCTXH chuyên nghiệp và nhân viên của Trung tâm (những người làm CTXH) trong quá trình hỗ trợ trẻ có HIV/AIDS tại Trung tâm Bảo trợ trẻ em Vũng Tàu Ý kiến của chuyên gia giúp làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu, nhất
là hiểu được các nhu cầu trợ giúp về CTXH của trẻ có HIV/AIDS, đánh giá được những yếu tố chính ảnh hưởng đến trẻ, cũng như những yếu tố làm ảnh hưởng đến việc thực hiện vai trò của NVCTXH trong hoạt động nghề nghiệp của họ và đề xuất các khuyến nghị nhằm góp phần nâng cao vai trò của NVCTXH tại các Trung tâm Bảo trợ xã hội có chăm sóc trẻ em HIV/AIDS của tỉnh trong thời gian tới Các ý kiến của chuyên gia sẽ là những gợi ý hữu ích giúp quá trình nghiêu cứu và tác nghiệp của người viết thêm thuận lợi và hiệu quả hơn
- Phương pháp phỏng vấn sâu:
Tiến hành phỏng vấn sâu với 03 người ở cấp quản lý (01 lãnh đạo Sở,
02 lãnh đạo Phòng chuyên môn của Sở), 03 chuyên gia của tổ chức phi Chính phủ WWO tại Việt Nam trong dự án hỗ trợ trẻ HIV/AIDS tại Trung tâm Bảo
Trang 12lý, chuyên gia đối với vị trí, vai trò, tầm quan trọng của NVCTXH cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao vai trò của NVCTXH; thu thập, tìm hiểu nhu cầu trợ giúp về CTXH của trẻ em có HIV/AIDS; tìm hiểu tâm
tư, tình cảm và nguyện vọng của trẻ và các yếu tố ảnh hưởng đến trẻ, qua đó thể hiện vai trò và thấy được sự cần thiết của NVCTXH đối với trẻ có HIV/AIDS trong thực tế
Do nhóm trẻ em có HIV/AIDS có khả năng giao tiếp được không nhiều, nên việc chọn mẫu được thực hiện theo phương pháp lập danh sách toàn bộ trẻ em có HIV/AIDS có khả năng giao tiếp (10 trẻ) để thực hiện khảo sát
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Tiến hành điều tra bằng bảng
hỏi đối với 30cán bộ, nhân viên Trung tâm Bảo trợ trẻ em Vũng Tàu – những người thường tiếp xúc với trẻ em HIV/AIDS và có thời gian công tác tại Trung tâm giai đoạn 2008 – 2014 đến nay
Thông qua quá trình điều tra bằng bảng hỏi sẽ đánh giá được mức độ nhận thức, hiểu biết của cán bộ, nhân viên Trung tâm về vai trò, sự cần thiết của NVCTXH đối với trẻ em có HIV/AIDS; tìm hiểu phương pháp, kỹ năng làm việc hiện nay của họ đối với trẻ em có HIV/AIDS cũng như những đề xuất của họ nhằm nâng cao vai trò của NVCTXH đối với trẻ có HIV/AIDS
- Phương pháp quan sát:
Quan sát thực tế tại Trung tâm Bảo trợ trẻ em Vũng Tàu, tiếp xúc trực tiếp với Ban lãnh đạo, đội ngũ nhân viên và nhóm trẻ có HIV/AIDS đang được nuôi dưỡng tại Trung tâm Giai đoạn quan sát thực tế được tiến hành trong suốt quá trình nghiên cứu, xác định vai trò của NVCTXH đối với trẻ em
có HIV/AIDS tại Trung tâm
Trang 1310
- Phương pháp phân tích:
Sử dụng chương trình SPSS để xử lý, phân tích bảng hỏi; trích dẫn nội dung phỏng vấn sâu qua băng ghi âm, biên bản ghi chép theo chủ đề phân tích
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Những thông tin thu thập được từ luận văn đã chỉ rõ được vai trò của NVCTXH trong hỗ trợ đối tượng yếu thế nói chung và trẻ em có HIV/AIDS nói riêng Trên cơ sở các khái niệm, cơ sở lý luận về trẻ em có HIV/AIDS, về các đặc điểm, nhu cầu của trẻ HIV/AIDS, vai trò của NVCTXH đã được làm
rõ, góp phần làm phong phú thêm hệ thống cơ sở dữ liệu cho việc phân tích lý luận về vai trò của NVCTXH đối với trẻ em có HIV/AIDS nói riêng và lý luận về vai trò của NVCTXH nói chung Đồng thời, luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này về lĩnh vực nghiên cứu vai trò của
NVCTXH đối với trẻ em có HIV/AIDS
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu vấn đề vai trò của NVCTXH có ý nghĩa thiết thực và trực tiếp đối với tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, giúp các nhà quản lý, các cơ quan chức năng hiểu đúng và đủ về vai trò, tầm quan trọng, ảnh hưởng của NVCTXH đối với việc trợ giúp các đối tượng yếu thế nói chung, đặc biệt là trẻ em có HIV/AIDS sống tại các cơ sở bảo trợ xã hội của tỉnh Sự có mặt của NVCTXH tại các Trung tâm với việc thực hiện các vai trò của họ sẽ đồng hành, giúp trẻ HIV/AIDS có thể sống và lớn lên một cách tự tin và có khả năng ứng phó trong cuộc sống thường ngày Hay nói một cách khác là trẻ được quan tâm, chăm sóc, yêu thương một cách phù hợp để trẻ em có thể phát triển lành mạnh và sống một cuộc sống có chất lượng hơn; giúp cán bộ, nhân viên tại Trung tâm có nhận thức đúng đắn về vai trò quan trọng của mình đối với trẻ em có HIV/AIDS nhằm cải thiện và nâng cao dần chất lượng đáp ứng các nhu cầu về CTXH ở trẻ Đồng thời, qua đó cũng là cơ sở để đề xuất tham mưu tỉnh bố trí định suất NVCTXH và tạo điều kiện để NVCTXH thể hiện
Trang 1411
vai trò của mình tại các Trung tâm bảo trợ xã hội của tỉnh nói chung và Trung tâm có chức năng chăm sóc trẻ HIV/AIDS nói riêng, nhằm mục đích hỗ trợ tốt hơn cho đối tượng cần sự trợ giúp Ngoài ra, qua quá trình thực hiện đề tài, bản thân tác giả sẽ học hỏi và tích lũy được một số kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm về CTXH
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo,
đề tài được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về vai trò của NVCTXH đối với trẻ
em có HIV/AIDS
Chương 2: Vai trò của NVCTXH đối với trẻ em có HIV/AIDS tại
Trung tâm Bảo trợ trẻ em Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Chương 3: Khuyến nghị nâng cao vai trò của NVCTXH đối với trẻ em
có HIV/AIDS tại Trung tâm Bảo trợ trẻ em Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Trang 1512
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ HIV/AIDS
1.1 Khái niệm và đặc điểm của trẻ em có HIV/AIDS
1.1.1 Khái niệm về trẻ em có HIV/AIDS
*Khái niệm trẻ em
Theo Công ước về quyền trẻ em của Liên hiệp quốc thì: “Trẻ em mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [10, tr.02]
Còn theo Luật Trẻ em do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam ban hành ngày 05/4/2016 quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”[04, tr.01]
Trong luận văn này, chọn khái niệm trẻ em theo quy định của Luật Trẻ
em
*Khái niệm HIV/AIDS
Theo Luật phòng, chống nhiễm virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) ban hành năm 2006, thuật ngữ HIVvà AIDS được hiểu như sau [05, tr.01]:
- HIV là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Human Immunodeficiency Virus”, là virus gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh
- AIDS là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Acquired Immune Deficiency Syndrome”, là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra, thường được biểu hiện thông qua các nhiễm trùng cơ hội, các ung thư
và có thể dẫn đến tử vong
* Khái niệm trẻ em có HIV/AIDS
Trang 1613
Từ cơ sở hai khái niệm “Trẻ em” và “HIV/AIDS” nêu trên, chúng ta có
thể hiểu khái niệm về “Trẻ em có HIV/AIDS” như sau: “Là người dưới 16 tuổi có HIV/AIDS trong cơ thể, được xét nghiệm có HIV dương tính - H + “
(thường gọi là “bị nhiễm HIV/AIDS”, hay còn gọi là “bị ảnh hưởng trực tiếp bởi HIV/AIDS”, hoặc là “người có H”)
1.1.2 Đặc điểm tâm sinh lý - xã hội và nhu cầu của trẻ em có HIV/AIDS
1.1.2.1 Đặc điểm tâm sinh lý - xã hội của trẻ em có HIV/AIDS
Các biểu hiện lâm sàng:
- Hạch to: thường thấy hạch to nhỏ không đều ở nhiều nơi, nhiều nhất
là vùng cổ, dưới hàm, nách, bẹn; thường không đau, mật độ chắc, diễn biến dai dẳng
- Gan lách to: có thể gặp gan to hoặc lách to riêng biệt, hoặc cả gan lách đều to (thường to ít và không có biến đổi đặc biệt về hình thể và tính chất)
- Không tăng cân hoặc sút cân: thường xảy ra ở giai đoạn muộn, trẻ sút cân nhiều ở giai đoạn AIDS tiến triển muộn và đặc biệt có nhiễm trùng cơ hội
- Sốt kéo dài: giai đoạn đầu thường sốt dai dẳng không có quy luật, không rõ nguyên do, có thể nặng lên khi có nhiễm trùng cơ hội Sốt thường kéo dài hơn 1 tháng
Trang 17- Nhiễm trùng da: hay gặp do các loại vi-rút Herpes, tróc lở do tụ cầu, liên cầu và có thể do một số loại nấm
- Nhiễm trùng phổi: hay gặp nhất là viêm phổi do một số loại vi-rút hoặc một số loại nấm, tỷ lệ mắc bệnh lao phổi ở những trẻ nhiễm HIV thường khá cao
- Nhiễm trùng tiêu hoá: thường xảy ra do mắc các loại vi khuẩn viêm dạ dày – đường ruột như E Coli, Salmonella, trực khuẩn lị, và có thể do nấm, đặc biệt là nấm Candida Albicans
Ngoài những loại nhiễm trùng cơ hội hay gặp kể trên, còn có thể gặp viêm màng não do nấm, viêm gan, vi-rút các loại
(Nguồn:http://khotailieu.com/congtacxahoivoitrebianhhuongboihiv/aid s)
* Đặc điểm về tâm lý – xã hội
- Đối với trẻ 0 – dưới 6 tuổi: trẻ chưa có nhận thức về HIV và về thái
độ của những người xung quanh nên giai đoạn này tâm lý trẻ phát triển như những trẻ em bình thường khác
- Đối với trẻ 6 – 12 tuổi: các em đã phần nào cảm nhận, nhận thức được tình trạng sức khoẻ của mình Do đó, các em thường mang tâm lý ngại giao tiếp, lo sợ về sự đau đớn do bệnh mang lại, về sự xa lánh và phân biệt đối xử của những người xung quanh đối với các em
Trang 1815
- Trẻ thường thiếu thốn tình cảm gia đình, ruột thịt và nhận được ít tình yêu thương, sự vuốt ve như các trẻ nhỏ bình thường khác; các em thường cảm thấy buồn tủi, chán nản và sống khép mình
Bên cạnh đó, do thiếu tình thương và sự giáo dục của cha mẹ, người thân và sự ghẻ lạnh, tránh né của những người xung quanh nên các em thường
bị trầm cảm, chậm nói, chậm phát triển trí não, khả năng vận động kém do không được chơi với các bạn cùng độ tuổi
Những em có HIV/AIDS rất sợ hãi trước những biểu hiện của bệnh trên
cơ thể mình, như: sốt, nhiễm trùng da, đau người,…Ở các em thường hình thành nên ý nghĩ rằng sẽ chết sớm bởi đây là căn bệnh nguy hiểm chưa có thuốc chữa
Nguồn:http://khotailieu.com/congtacxahoivoitrebianhhuongboihiv/aids)
Từ những đặc điểm tâm lý trên, ta có thể thấy được những nhu cầu của
trẻ có HIV/AIDS
1.1.2.2 Nhu cầu của trẻ em có HIV/AIDS
Theo nhà tâm lý học Abraham Maslow, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính là nhu cầu cơ bản và nhu cầu bậc cao
Có thể thể hiện những nhu cầu của trẻ em có HIV/AIDS theo mô hình
thang nhu cầu của Abraham Maslow (xem trang sau)
Trang 19- Nhu cầu được chăm sóc đời sống vật chất: nhu cầu căn bản nhất thuộc
thể chất và sinh lý đó là nhu cầu được chăm sóc đời sống vật chất như thức
ăn, nước uống, nơi ở, nghỉ ngơi Đây là nhu cầu không thể thiếu và ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống còn của các em và cũng là quyền đầu tiên trong số những quyền các em phải được hưởng theo Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em Chỉ khi đáp ứng được đầu đủ nhu cầu này thì mới có thể tạo điều kiện cho trẻ phát triển bình thường trước hết về mặt thể chất
- Nhu cầu an toàn xã hội: được đảm bảo về sức khoẻ, tiếp cận với các dịch vụ khám chữa bệnh thông thường cũng như đặc biệt là nhu cầu quan
Trang 2017
trọng cần được đáp ứng đối với tất cả mọi người Riêng đối với trẻ có HIV/AIDS thì nhu cầu này là rất cần thiết bởi vì các em đã mang bệnh, khả năng miễn dịch không thể bằng những trẻ bình thường khác, hoặc thường xuyên sống với bệnh tật nên các em cần được kiểm tra sức khoẻ một cách đầy
đủ và thường xuyên
Bên cạnh việc được đảm bảo về sức khỏe thì các em cũng cần được yêu thương, chăm sóc, đặc biệt là từ những người gần gũi trẻ Hầu hết trẻ có HIV/AIDS đều mong muốn có người thân thiết để chia sẻ hoặc hỗ trợ tâm lý khi cần thiết Nếu không có cảm giác được yêu thương, che chở, trẻ dễ rơi vào tâm trạng lo sợ, tự ti và khép mình
- Nhu cầu xã hội: cùng với mong muốn được an toàn, trẻ có HIV/AIDS cũng rất muốn được hoà nhập cuộc sống cộng đồng, muốn được tới trường học tập, vui chơi giải trí như những đứa trẻ bình thường khác Vui chơi, học tập và giao lưu với bạn bè đều là những hoạt động chủ đạo của trẻ em Do đó, nếu những nhu cầu xã hội này được đáp ứng thì trẻ có HIV/AIDS sẽ có điều kiện phát triển bình thường về trí não cũng như tâm lý, tình cảm Nhưng hiện nay, nhu cầu này chưa được đáp ứng tích cực bởi rất nhiều định kiến tiêu cực trong xã hội, và để các em có thể đến trường một cách “công khai”, có thể hoà nhập cuộc sống một cách “danh chính ngôn thuận” như những đứa trẻ bình thường khác là một việc làm đòi hỏi phải có nhiều thời gian và sự nỗ lực, tận tâm của từng cá nhân, tổ chức trong xã hội
- Nhu cầu được tôn trọng: trẻ có HIV/AIDS thường lo sợ, tự ti trước thái độ kỳ thị, xa lánh của những người xung quanh Các em luôn mong muốn được mọi người tôn trọng, không phán xét, bình phẩm gì đến tình trạng bệnh tật của các em
Các em có thể tự đương đầu với với bệnh tật nhưng khó có thể vượt qua rào cản tâm lý xã hội để có được một cuộc sống bình thường Rào cản đó
là sự khinh rẻ, kỳ thị, sự sợ hãi của nhiều người đối với trẻ có HIV/AIDS
Trang 21để người khác chú ý, tin tưởng
Như vậy, có thể thấy, nhu cầu của trẻ em có HIV/AIDS về cơ bản cũng giống như nhu cầu của những đứa trẻ bình thường khác Trẻ cũng cần được đáp ứng đầy đủ các nhu cầu được chăm sóc và bảo vệ để có thể phát triển bình thường về thể chất, trí tuệ cũng như tâm lý Xét trên khía cạnh tâm sinh
lý thì trẻ em có HIV/AIDS lẽ ra là đối tượng cần được quan tâm đáp ứng nhu cầu hơn những đứa trẻ bình thường, nhưng trên thực tế thì việc này còn gặp rất nhiều khó khăn, hạn chế và thách thức, cũng như nhiều thời gian hơn nữa
(Nguồn:http://khotailieu.com/congtacxahoivoitrebianhhuongboihiv/aids)
1.2 Lý luận về vai trò của nhân viên công tác xã hội
1.2.1 Khái niệm “Nhân viên xã hội” (hay “Nhân viên công tác xã hội”)
Theo “Nghề Công tác xã hội – nền tảng, triết lý và kiến thức” (Gina
A.Yap, Joel C.Cam, Bùi Thị Xuân Mai), thì: NVCTXH là người được đào tạo công tác xã hội (có bằng đại học hay thạc sĩ), sử dụng kiến thức và kỹ năng để cung cấp các dịch vụ xã hội cho các cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng, tổ chức hay xã hội Nhân viên xã hội giúp con người tăng cường năng lực đối phó và giải quyết vấn đề, và giúp họ tìm kiếm được các nguồn trợ giúp cần thiết, tạo điều kiện cho sự tương tác giữa các cá nhân và giữa con người với môi trường xung quanh họ, làm cho các tổ chức có trách nhiệm với con người
và tác động đến chính sách xã hội [09, tr.46]
Trang 2219
Tuy nhiên, ở Việt Nam, NVCTXH được quy định là có bằng trung cấp
về CTXH hay các ngành liên quan gần [09, tr.46]
1.2.2 Vai trò của nhân viên công tác xã hội
Vai trò của CTXH là can thiệp vào cuộc sống của cá nhân, gia đình, nhóm người có cùng vấn đề, cộng đồng và các hệ thống xã hội nhằm hỗ trợ thân chủ đạt được sự thay đổi về mặt xã hội, giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ với con người và để nâng cao an sinh xã hội
Để đạt được điều này, ngành CTXH phải thực hiện các nhiệm vụ tham vấn, trị liệu, giáo dục, thương lượng, hoà giải, hỗ trợ, hoạch định và nghiên cứu Tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể mà NVCTXH sẽ phối hợp thực hiện các nhiệm vụ trên cũng như chọn phương pháp thực hiện phù hợp
Nói cách khác, khi NVCTXH ở những vị trí khác nhau thì vai trò và các hoạt động của họ cũng rất khác nhau, tùy theo chức năng và nhóm đối tượng mà họ làm việc
Theo quan điểm của Feyerico (1973), NVCTXH có những vai trò sau [09, tr.47]:
- Vai trò là người vận động nguồn lực: là người trợ giúp thân chủ (cá nhân, gia đình, cộng đồng, ) tìm kiếm nguồn lực (nội lực, ngoại lực) cho việc giải quyết vấn đề Nguồn lực có thể bao gồm về con người, về cơ sở vật chất,
về tài chính, kỹ thuật, thông tin, sự ủng hộ về chính sách, chính trị và quan điểm,…
- Vai trò là người kết nối – còn gọi là trung gian: NVCTXH là người có được những thông tin về các dịch vụ, chính sách và giới thiệu cho thân chủ các chính sách, dịch vụ, nguồn tài nguyên đang sẵn có từ các cá nhân, cơ quan, tổ chức, để họ tiếp cận với những nguồn lực, chính sách, tài chính, kỹ thuật, để có thêm sức mạnh trong giải quyết vấn đề
- Vai trò là người biện hộ: là người bảo vệ quyền lợi cho thân chủ để họ được hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi của họ, đặc biệt trong
Trang 23- Vai trò là người giáo dục: là người cung cấp kiến thức, kỹ năng liên quan tới vấn đề họ cần giải quyết, nâng cao năng lực cho cá nhân, gia đình, nhóm hay cộng đồng qua tập huấn, giáo dục cộng đồng để họ có hiểu biết, tự tin và tự nhìn nhận vấn đề, đánh giá vấn đề, phân tích và tìm kiếm nguồn lực cho vấn đề cần giải quyết
- Vai trò là người tạo sự thay đổi: NVCTXH được xem như người tạo
ra sự thay đổi cho cá nhân, giúp họ thay đổi suy nghĩ, thay đổi hành vi tiêu cực, hướng tới những suy nghĩ và hành vi tích cực
- Vai trò là người tư vấn: NVCTXH tham gia như người cung cấp thông tin tư vấn cho các thân chủ cần có những thông tin như thông tin về chăm sóc sức khoẻ sinh sản, thông tin về bảo vệ môi trường, dinh dưỡng cho trẻ nhỏ hay người cao tuổi
- Vai trò là người tham vấn: NVCTXH trợ giúp gia đình và cá nhân tự mình xem xét vấn đề và tự thay đổi
- Vai trò là người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng: trên cơ sở nhu cầu của cộng đồng đã được cộng đồng xác định, NVCTXH giúp cộng đồng xây dựng chương trình hành động phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, tiềm năng của cộng đồng để giải quyết vấn đề của cộng đồng
- Vai trò là người chăm sóc, người trợ giúp: NVCTXH còn được xem như người cung cấp các dịch vụ trợ giúp cho những cá nhân, gia đình không
có khả năng tự đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của mình và giải quyết vấn đề
Trang 2421
- Vai trò là người xử lý dữ liệu: với vai trò này, NVCTXH nhiều khi phải nghiên cứu, thu thập thông tin và phân tích thông tin Trên cơ sở đó, tư vấn cho thân chủ để họ đưa ra những quyết định đúng đắn
- Vai trò là người quản lý hành chính: NVCTXH khi này thực hiện những công việc cần thiết cho việc quản lý các hoạt động, chương trình, lên
kế hoạch và triển khai kế hoạch, chương trình phục vụ cho cá nhân, gia đình
và cộng đồng
- Người tìm hiểu, khám phá cộng đồng: NVCTXH đi vào cộng đồng để xác định vấn đề của cộng đồng, để đưa ra những kế hoạch trợ giúp, theo dõi, giới thiệu chuyển giao những dịch vụ cần thiết cho các nhóm thân chủ trong cộng đồng
1.2.3 Vai trò của nhân viên công tác xã hội đối với trẻ có HIV/AIDS
Từ cơ sở phân tích đặc điểm tâm sinh lý – xã hội, nhu cầu của trẻ HIV/AIDS và lý luận về vai trò của NVCTXH, thấy rằng NVCTXH đòi hỏi phải là những người có kiến thức, kỹ năng về hoạt động CTXH Đối với trẻ
có HIV/AIDS, vai trò của NVCTXH tập trung nhất ở các hoạt động như: là cầu nối giữa trẻ với các nguồn lực hỗ trợ của xã hội, là người có trách nhiệm vận động, tìm kiếm và kết nối, giới thiệu các dịch vụ trợ giúp về CTXH nhằm đạt hiệu quả tối đa nguồn lực hỗ trợ cho trẻ NVCTXH có vai trò to lớn trong hoạt động tư vấn, giáo dục, trợ giúp chăm sóc, tư vấn, tham vấn, biện hộ, vận động xã hội, tạo sự thay đổi đối với trẻ có HIV/AIDS Việc triển khai thực hiện các hoạt động CTXH đối với trẻ HIV/AIDS có kết quả như thế nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố, một trong những yếu tố đó là việc NVCTXH thực hiện các vai trò của mình ở mức độ nào NVCTXH là người trực tiếp đánh giá, chẩn đoán những vấn đề của trẻ HIV/AIDS trong cuộc sống hàng ngày và xây dựng kế hoạch tiến trình trợ giúp cụ thể Vì vậy, nếu trình độ, năng lực của NVCTXH yếu kém thì có thể đánh giá, nhận diện sai vấn đề của trẻ, dẫn đến việc xây dựng và triển khai kế hoạch hành động hỗ trợ trẻ kém hiệu quả
Trang 2522
Trong luận văn này, vai trò của NVCTXH đối với trẻ em có HIV/AIDS
sẽ được tập trung nghiên cứu ở các vị trí: là người kết nối nguồn lực; người giáo dục; người chăm sóc, trợ giúp; và là người tạo sự thay đổi
1.2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện vai trò của NVCTXH đối với trẻ HIV/AIDS
1.2.4.1 Các yếu tố thuận lợi: môi trường làm việc thuận lợi, có chính sách thu hút đối với NVCTXH; nhận thức đầy đủ và sự quan tâm đúng mức của các nhà quản lý đối với nghề CTXH và vai trò của NVCTXH; NVCTXH yêu nghề, luôn có ý thức nâng cao trình độ nghiệp vụ, chuyên môn; có nhiều hơn chính sách ưu tiên, phù hợp với trẻ có HIV/AIDS; trẻ có HIV/AIDS đáp ứng tốt các dịch vụ CTXH được cung cấp Các yếu tố trên có tác dụng thúc đẩy tích cực đến việc thực hiện và nâng cao vai trò của NVCTXH
1.2.4.2 Các yếu tố rào cản: có tác dụng làm cản trở, hạn chế việc thực hiện và nâng cao vai trò của NVCTXH, bao gồm các yếu tố: phương pháp, kỹ năng làm việc của NVCTXH chưa đáp ứng yêu cầu công việc; chính sách đãi ngộ đối với NVCTXH chưa thu hút; trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nhận thức của NVCTXH còn hạn chế; nhân sự không ổn định, thiếu cả chất và
lượng; thiếu sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ các NVCTXH
1.3 Cơ sở pháp lý liên quan đến chính sách đối với trẻ em có HIV/AIDS và nhân viên công tác xã hội
1.3.1 Những văn bản liên quan đến trẻ em HIV/AIDS
Hiện nay, đã có những chính sách, quy định đối với trẻ em có HIV/AIDS từ Trung ương đến địa phương, cụ thể như sau:
* Cấp Trung ương:
Các nội dung của chính sách được tập trung ở các mặt: quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS; cung cấp thông tin, kiến thức về bảo vệ, chăm sóc trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS;
hỗ trợ trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS được tiếp cận với các dịch vụ bảo
Trang 2623
vệ, chăm sóc trẻ em; nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ của các ngành, các tổ chức chính trị xã hội các cấp, các nhà cung cấp dịch vụ, các nhóm đồng đẳng có liên quan đến trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, không phân biệt đối xử với trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS; đẩy mạnh xã hội hóa và hợp tác quốc tế công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS
Các quy định từ Trung ương đã tạo hành lang pháp lý để các cấp, các ngành, các tổ chức quốc tế, toàn xã hội vào cuộc, nhằm huy động mọi nguồn lực tham gia vào việc chăm sóc, trợ giúp trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS để
ổn định cuộc sống, có cơ hội thực hiện các quyền và hòa nhập cộng đồng
Chính sách hiện hành thể hiện tập trung ở các Quyết định dưới đây:
- Quyết định số 674/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em là nạn nhân nhiễm chất độc hóa học, trẻ
em khuyết tật nặng và trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa dựa vào cộng đồng giai đoạn 2013 – 2020
- Quyết định số 570/QĐ-TTg ngày 22/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ
về phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia vì trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS giai đoạn 2014 – 2020
* Cấp tỉnh (Bà Rịa – Vũng Tàu):
Trên cơ sở các chủ trương, chính sách của Trung ương, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã cụ thể hóa thông qua việc xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện các mục tiêu, nội dung, giải pháp thực hiện, phù hợp với điều kiện, tình hình kinh tế - xã hội của địa phương
Bà Rịa - Vũng Tàu đã xây dựng mô hình kết nối dịch vụ chăm sóc trẻ
bị ảnh hưởng HIV/AIDS trên toàn tỉnh Trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS trong diện quản lý được cung cấp các dịch vụ về y tế, giáo dục, tư vấn, hỗ trợ dinh dưỡng và phát triển thể chất, chăm sóc thay thế, vui chơi giải trí và các
Trang 2724
chính sách xã hội theo quy định; trợ giúp trẻ em, cơ sở chăm sóc và điều trị cho trẻ em nhiễm HIV, các tổ chức xã hội có liên quan đến trẻ em HIV được cung cấp kiến thức, kỹ năng về bảo vệ, chăm sóc trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS; trường học tạo cơ hội cho trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS được đi học theo nhu cầu Bên cạnh đó, trẻ được tiếp cận sớm với chương trình quản lý điều trị trẻ nhiễm HIV/AIDS do các dự án quốc tế tài trợ Mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng cho đối tượng trẻ em HIV/AIDS thuộc hộ nghèo tại cộng đồng và tại các Trung tâm Bảo trợ xã hội luôn luôn cao hơn mức quy định chuẩn của Chính phủ từ 1,2 đến 1,5 lần
Các quy định hiện hành được địa phương áp dụng đối với trẻ có HIV/AIDS được thể hiện ở các Quyết định dưới đây:
- Quyết định số 1332/QĐ-UBND ngày 26/6/2014 của UBND tỉnh về việc phê duyệt Kế hoạch thực hiện Đề án chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em là nạn nhân nhiễm chất độc hóa học, trẻ em khuyết tật nặng và trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa dựa vào cộng đồng giai đoạn 2013 – 2020 trên địa bàn tỉnh
Bà Rịa – Vũng Tàu
- Quyết định số 1459/QĐ-UBND ngày 16/7/2014 của UBND tỉnh về việc phê duyệt Kế hoạch hành động vì trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS giai đoạn 2014 – 2020 trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
- Quyết định số 894/QĐ-UBND ngày 14/4/2016 của UBND tỉnh về việc ban hành các mức trợ cấp, trợ giúp xã hội đối các đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
1.3.2 Những văn bản pháp luật liên quan đến nhân viên công tác
xã hội
Trước ảnh hưởng của hội nhập quốc tế với sự du nhập của trào lưu CTXH chuyên nghiệp và những đổi mới về chính sách kinh tế - xã hội, lý luận và thực hành công tác trợ giúp xã hội của nước ta phần nào đã thay đổi
Trang 2825
Phương châm “Cho cần câu, không cho cá” đã làm chuyển đổi cơ bản hình
thức trợ giúp mang tính bao cấp trước đây sang trợ giúp có tham vấn giúp đối tượng tự giải quyết vấn đề Ngày 25/3/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010 – 2020 (sau đây gọi tắt là Đề án 32)
Ngay sau khi Đề án 32 được ban hành, các Bộ, Ngành chức năng đã ban hành các văn bản quy định về tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức CTXH, chức danh, mã số các ngạch viên chức CTXH, Thông tư liên tịch hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện Quyết định số 32/2010/QĐ – TTg; Thông tư liên tịch hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH công lập, cụ thể như:
- Quyết định số 1305/QĐ-LĐTBXH ngày 22/10/2010 của Bộ trưởng
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về phê duyệt kế hoạch tổng thể thực hiện Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010 - 2015
- Thông tư số 34/2010/TT-BLĐTBXH ngày 08/11/2010 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức CTXH
- Thông tư liên tịch số 11/2011/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 26/1/2011 của Bộ Tài chính và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn, quản lý, sử dụng kinh phí thực hiện Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Đề án nghề CTXH
- Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BLĐTBXH-BNV ngày 10/6/2013 của liên Bộ: Lao động – Thương binh và Xã hội và Nội vụ, hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm dịch vụ CTXH công lập
- Thông tư liên tịch số 30/2015/TTLT-BNV-BLĐTBXH ngày 19/8/2/2015 của liên Bộ: Nội vụ – Lao động Thương binh và Xã hội, quy định
mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành CTXH
Trang 2926
Như vậy, Đề án 32 ra đời đã tạo ra hành lang pháp lý để từng bước phát triển nghề CTXH chuyên nghiệp; đồng thời, cũng tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của các cấp bộ đảng, chính quyền và xã hội về nghề CTXH
Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, trên cơ sở Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg, để triển khai thực hiện kế hoạch phát triển nghề CTXH trên địa bàn tỉnh, ngày 26/01/2011, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 260/QĐ-UBND về việc phê duyệt kế hoạch triển khai Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn
2010 – 2020 Mục tiêu của Kế hoạch này là phát triển nghề CTXH thành một nghề trên địa bàn tỉnh Trong đó, những nhiệm vụ trọng tâm của Kế hoạch là tăng cường công tác truyền thông nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành
và người dân trên địa bàn tỉnh về nghề CTXH; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên CTXH đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH tại các cấp trên địa bàn tỉnh
Kết luận chương 1
Trong Chương 1, tác giả đã trình bày một số vấn đề lý luận về vai trò của NVCTXH đối với trẻ em có HIV/AIDS, các khái niệm về trẻ em có HIV/AIDS và đặc điểm tâm sinh lý – xã hội, nhu cầu của trẻ có HIV/AIDS, khái niệm NVCTXH, các vai trò của NVCTXH nói chung và vai trò của NVCTXH đối với trẻ có HIV/AIDS Những cơ sở lý luận, những khái niệm này góp phần làm rõ về khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu của đề tài
Qua nghiên cứu cơ sở lý luận về vai trò của NVCTXH đối với trẻ em
có HIV/AIDS, nội dung Chương 1 trình bày các nhu cầu cơ bản của trẻ HIV/AIDS nói chung gồm có 5 nhu cầu: 1- Nhu cầu được chăm sóc đời sống
Trang 3027
vật chất, 2- Nhu cầu an toàn xã hội, 3- Nhu cầu xã hội, 4- Nhu cầu được tôn trọng, 5- Nhu cầu được khẳng định mình (theo mô hình thang nhu cầu của Abraham Maslow)
Về mặt lý luận, NVCTXH có 13 vai trò: 1- là người vận động nguồn lực, 2- là người kết nối, 3- là người biện hộ, 4- là người vận động/hoạt động
xã hội, 5- là người giáo dục, 6- người tạo sự thay đổi, 7- là người tư vấn, 8- là người tham vấn, 9- là người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng, 10- là người chăm sóc, người trợ giúp, 11- là người xử lý dữ liệu, 12- là người quản lý hành chính, 13- là người tìm hiểu, khám phá cộng đồng
Trong Chương 1 cũng đã đề cập một cách tổng quát nhất đến vai trò, tầm quan trọng của NVCTXH đối với trẻ HIV/AIDS nói chung và các cơ sở pháp lý liên quan đến chính sách đối với trẻ em có HIV/AIDS và NVCTXH của Trung ương và địa phương
Như vậy, qua nghiên cứu hệ thống cơ sở lý luận ở Chương 1, chúng ta có cái nhìn tổng quan về trẻ em có HIV/AIDS và vai trò của NVCTXH đối với trẻ em có HIV/AIDS Cơ sở lý luận đó sẽ định hướng cho việc nghiên cứu đề
tài “Vai trò của NVCTXH đối với trẻ em có HIV/AIDS từ thực tiễn các Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu”
Trang 3128
Chương 2
ĐỐI VỚI TRẺ HIV/AIDS TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ TRẺ EM
VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu
2.1.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
Bà Rịa – Vũng Tàu là một tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Nam Bộ Diện tích đất tự nhiên là 1.988,65 km2, chiều dài bờ biển là 305,4 km, dân số khoảng 1,1 triệu người
Trong những năm qua, việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, các chính sách về an sinh xã hội luôn được Đảng bộ và chính quyền tỉnh
Bà Rịa – Vũng Tàu quan tâm Đặc biệt, những chính sách dành cho đối tượng
xã hội yếu thế như chính sách giảm nghèo, chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên, đột xuất, đầu tư xây dựng mạng lưới các cơ sở bảo trợ xã hội, luôn được nghiên cứu, xem xét để điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tiễn của đời sống kinh tế - xã hội địa phương trên nguyên tắc “có lợi và cải thiện, nâng cao dần chất lượng cuộc sống cho đối tượng”
Hiện nay, toàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có 04 cơ sở bảo trợ xã hội công lập trực thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thực hiện chức năng, nhiệm vụ tiếp nhận, quản lý, chăm sóc và nuôi dưỡng đối tượng yếu thế là người cao tuổi neo đơn, người khuyết tật, trẻ em mồ côi, trẻ bị bỏ rơi không nơi nương tựa, người lang thang tập trung chờ đưa về nơi cư trú, trẻ em có
HIV/AIDS Thực tế nhân viên làm việc tại các Trung tâm bảo trợ xã hội của
tỉnh khi được tuyển dụng, hầu hết chưa qua trường lớp đào tạo về chuyên môn CTXH Họ được tuyển vào chủ yếu để làm bảo mẫu chăm nuôi các đối tượng yếu thế, làm việc theo kinh nghiệm là chính Trong thời gian qua, triển khai thực hiện Đề án 32 về phát triển nghề CTXH, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã phối
Trang 3229
hợp với Trường Đại học Lao động – Xã hội tổ chức bồi dưỡng/đào tạo lại cho đội ngũ nhân viên tại các Trung tâm Hiện nay, có khoảng 1/3 số nhân viên tại các Trung tâm làm công việc như chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, dạy nghề được đào tạo từ Trung cấp CTXH trở lên
Trung tâm Bảo trợ trẻ em Vũng Tàu được thành lập theo Quyết định số 3199/QĐ-UBND ngày 07/9/2005 và Quyết định số 144/QĐ.UBND ngày 20/01/2009 của UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về việc sát nhập Trung tâm Nuôi dưỡng - Dạy nghề vào Trung tâm Bảo trợ trẻ em Vũng Tàu Trung tâm Bảo trợ trẻ em Vũng Tàu có chức năng nhiệm vụ tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng; giáo dục, hướng nghiệp và tìm kiếm gia đình thay thế đối với các đối tượng từ 0 đến dưới 18 tuổi là trẻ em mồ côi, trẻ em là nạn nhân của của bạo lực gia đình; nạn nhân bị xâm hại tình dục; nạn nhân bị buôn bán; nạn nhân bị cưỡng bức lao động; trẻ lang thang lao động sớm Đây cũng là cơ
sở duy nhất có chức năng tiếp nhận và chăm sóc trẻ em có HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh Trung tâm tọa lạc tại phường Thắng Nhất, thành phố Vũng Tàu Hiện Trung tâm đang chăm sóc khoảng 100 trẻ mồ côi, bị bỏ rơi, khuyết tật; trong đó 18 trẻ bị ảnh hưởng trực tiếp HIV/AIDS (trẻ có HIV/AIDS) Mức sinh hoạt phí hàng tháng ngân sách nhà nước dành cho mỗi trẻ HIV/AIDS tại Trung tâm từ 640.000 đ (đối với trẻ từ 04 tuổi đến dưới 16 tuổi) đến 800.000
đ (đối với trẻ dưới 04 tuổi) Ngoài ra, các trẻ còn được các mạnh thường quân, nhà hảo tâm hỗ trợ thêm nên nhu cầu ăn uống, chế độ dinh dưỡng của các em được đáp ứng khá tốt Mỗi trẻ còn được trợ cấp tiền điều trị bệnh nhiễm trùng
cơ hội 354.000 đ/năm; được trợ cấp tiền mua sách vở, đồ dùng học tập (từ 320.000 đ – 400.000 đ/năm tùy theo cấp học); được hỗ trợ học nghề đối với trẻ lớn (650.000 đ/năm); được trợ cấp tư trang, vật dụng sinh hoạt (1.000.000 đ/năm)
* Về cơ cấu tổ chức bộ máy và nhân sự của Trung tâm
Trang 3330
- Tổ chức bộ máy của Trung tâm gồm có Ban giám đốc và 04 phòng chức năng (phòng Hành chính - Tổng hợp, phòng Y tế, phòng Chăm sóc - Nuôi dưỡng, phòng Giáo dục - Dạy nghề)
- Tổng số biên chế và hợp đồng lao động của Trung tâm hiện có 62 người
- Trình độ chuyên môn của công chức, viên chức, người lao động: Đại học 06 người; Cao đẳng 03 người; Trung cấp 13 người; Sơ cấp, chưa qua đào tạo 40 người
- Đánh giá về cơ cấu tổ chức, nhân sự
Thời gian qua, đội ngũ nhân viên của Trung tâm Bảo trợ trẻ em Vũng Tàu chủ yếu là bảo mẫu chăm sóc trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, trình độ chuyên môn còn rất hạn chế, trong một thời gian dài họ hầu như chưa được trang bị các kiến thức về CTXH mà làm việc chủ yếu bằng tình thương, kinh nghiệm cảm tính, nhiệt tình và theo sự cam kết thoả thuận Mặc dù trong quá trình làm việc, mỗi nhân viên đều có tích lũy kinh nghiệm từ thực tế, đồng thời hàng năm lãnh đạo Trung tâm cũng có tạo điều kiện cho nhân viên tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng ngắn ngày về CTXH, chăm sóc sức khỏe tâm thần, Tuy vậy, việc ứng dụng những kiến thức, kỹ năng đã được đào tạo, bồi dưỡng vào thực tiễn công việc, nhất là khi làm việc với trẻ HIV/AIDS, vẫn còn dừng lại ở những mức độ nhất định
* Về điều kiện môi trường, cơ sở vật chất
Trung tâm được đầu tư xây dựng mới năm 2013 với tổng diện tích đất
tự nhiên là 1,4 ha, diện tích xây dựng là 3.511 m2 bao gồm 3 khối nhà trệt Hàng năm, Trung tâm đều được ngân sách nhà nước bố trí kinh phí để sửa chữa và nâng cấp
Phòng ở thoáng mát, sạch sẽ, được trang bị đầy đủ giường, chiếu, chăn, màn, có khu vực vui chơi giải trí riêng, phòng đọc sách phù hợp với trẻ em,
có phòng tập vật lý trị liệu dành cho trẻ khuyết tật
Trang 3431
- Đánh giá chung về điều kiện môi trường, cơ sở vật chất, nhân sự
Về cơ bản Trung tâm đáp ứng đầy đủ điều kiện về môi trường, cơ sở vật chất, số lượng nhân sự theo quy định tại Nghị định số 68/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ quy định điều kiện thủ tục thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội Trên cơ sở đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ có HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh của Trung tâm
2.1.2 Vài nét về khách thể nghiên cứu
- Lãnh đạo cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp đối với Trung tâm: đó là người đứng đầu cơ quan Sở Lao động – Thương binh và Xã hội và lãnh đạo các Phòng chuyên môn có liên quan thuộc Sở (Phòng Bảo vệ - chăm sóc trẻ
- Cán bộ, nhân viên Trung tâm Bảo trợ trẻ em Vũng Tàu: 30/62 cán bộ, nhân viên có điều kiện tiếp xúc, làm việc với trẻ em có HIV/AIDS, và có thời gian công tác tại Trung tâm trong những năm 2008 – 2014 cho đến nay Trong 30 cán bộ, nhân viên này thì có 20 người (66,6%) là bảo mẫu, những người thường xuyên chăm sóc trẻ HIV/AIDS nhất; có 25 người (83,3%) là nhân viên chưa từng được tham gia lớp đào tạo, bồi dưỡng về CTXH
- Trẻ em có HIV/AIDS tại Trung tâm: 10/18 trẻ có HIV/AIDS còn/có khả năng giao tiếp trong độ tuổi từ 6 – dưới 16 tuổi Trong 10 trẻ được nghiên cứu, trẻ nữ có 06 em; toàn bộ 10 trẻ đều đang đi học (từ lớp 1 đến lớp 8); 05 trẻ đang học trung học cơ sở; 08 trẻ bị mồ côi cả cha và mẹ (hoặc mồ côi một
Trang 352.2.1 Nhu cầu thực tế của trẻ HIV/AIDS tại Trung tâm
Trẻ em HIV/AIDS cũng như mọi trẻ em bình thường khác đều có các nhu cầu về thể chất: dinh dưỡng đầy đủ, chỗ ở, quần áo, chăm sóc sức khoẻ bởi các dịch vụ y tế đạt chuẩn, vui chơi, chăm sóc, nghỉ ngơi, phát triển trí tuệ; về tình cảm, tinh thần: yêu thương, hiểu biết, lắng nghe, học cách ứng phó với căng thẳng, bày tỏ cảm xúc, niềm tin, giá trị cuộc sống, có cơ hội được tham dự các hoạt động văn hoá, tinh thần; về xã hội: được xã hội hoặc bạn bè thừa nhận, có các mối quan hệ mở rộng, có cơ hội được bày tỏ hoặc chia sẻ ý kiến trong các hoạt động xã hội, được giáo dục
Trẻ em HIV/AIDS cũng sống một cuộc sống bình thường như các trẻ
em khác, cũng cần được yêu thương, chăm sóc và quan tâm như mọi trẻ em khác Trẻ cần phải được hướng dẫn và giúp đỡ để tuân thủ điều trị và uống thuốc đầy đủ, ăn uống những thức ăn lành mạnh theo lứa tuổi, và được động viên để luôn hoạt động và vui chơi giải trí phù hợp Trẻ phải được đến trường Không nên giới hạn chơi đùa hoặc tham gia trong các sinh hoạt với trẻ khác Các em được hưởng đầy đủ những quyền như các trẻ em khác trong xã hội như: quyền tự do không bị phân biệt đối xử; quyền được sống, tồn tại và phát triển; quyền có được tiêu chuẩn sống đầy đủ và tiếp cận phúc lợi xã hội; quyền được biết tất cả những vấn đề có ảnh hưởng đến bản thân đứa trẻ; quyền được học hành và tiếp cận thông tin; quyền được nhận sự chăm sóc thay thế thích hợp khi gia đình không có khả năng
Qua nghiên cứu trên trẻ HIV/AIDS tại Trung tâm, nhân viên Trung tâm
và chuyên gia, thấy rằng nhu cầu thực tế hàng ngày của trẻ HIV/AIDS ở Trung tâm có 6 nhu cầu chính được xếp lần lượt theo thứ tự ưu tiên, đó là: 1-
Trang 3633
được ăn uống đầy đủ; 2- được chăm sóc y tế khi đau ốm bệnh tật; 3- được yêu thương, tôn trọng; 4- được giáo dục, đi học; 5- được lắng nghe; và 6- được vui chơi, giao lưu với người khác
Trong 6 nhu cầu chính yếu kể trên, thì có 4 nhu cầu nổi trội nhất, chiếm
tỷ lệ 100% trong lựa chọn của những người được khảo sát, đó là các nhu cầu: 1- được ăn uống đầy đủ; 2- được chăm sóc y tế; 3- được yêu thương, tôn trọng; và 4- được giáo dục, đi học
Stt Nhu cầu hàng ngày của trẻ
Bảng 2.1: Nhu cầu thực tế của trẻ HIV/AIDS tại Trung tâm
a Nhu cầu được chăm sóc, ăn uống đầy đủ: Đây là nhu cầu cơ bản nhất của bất kỳ ai Khi nhu cầu này được thỏa mãn thì mới có các nhu cầu khác ở bậc cao hơn Đối với trẻ em, đặc biệt là trẻ có HIV/AIDS, thể trạng của trẻ vốn dĩ đã ốm yếu, có nhiều nguy cơ bị suy dinh dưỡng, vì vậy nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng ở trẻ là rất cao Ăn uống đủ chất sẽ góp phần tăng sức khỏe cho trẻ chống chọi với bệnh tật Chế độ dinh dưỡng tốt tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ lớn lên, hoạt động và phát triển
Trang 3734
Qua quan sát thực tế tại Trung tâm và qua trò chuyện với trẻ, thấy rằng trẻ được ăn uống đầy đủ, ngon miệng, ngày 3 bữa chính, 1 - 2 bữa phụ, thực đơn luân phiên, ăn thêm trái cây, sữa chua, sữa dinh dưỡng,…; Ngoài ra, các ngày cuối tuần, ngày lễ, Tết, Trung tâm còn tổ chức nấu các món ăn phong
phú hơn Toàn bộ 10 trẻ đều cho biết: “Con được các Má chăm sóc rất tốt, được ăn nhiều và ngon nữa”
b Nhu cầu được chăm sóc y tế: Nhu cầu này là rất cần thiết bởi vì các
em đã mang bệnh, khả năng miễn dịch không thể bằng những trẻ bình thường khác, hoặc thường xuyên sống với bệnh tật nên cần đảm bảo các hoạt động chăm sóc ban đầu Các em cần được kiểm tra sức khoẻ một cách đầy đủ và thường xuyên, được điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội
Trẻ có HIV/AIDS ở Trung tâm được theo dõi và cho uống thuốc ARV đầy đủ Tuy nhiên, do thể trạng của các em vốn có vấn đề bẩm sinh (sinh non, suy dinh dưỡng bào thai,….), cộng với một số bệnh nhiễm trùng cơ hội cũng như đội ngũ nhân viên còn mỏng nên việc kiểm tra sức khỏe thường xuyên hoặc đưa đi thăm khám để kịp thời điều trị cũng còn hạn chế
c Nhu cầu được yêu thương, tôn trọng: Tất cả chúng ta đều có một khao khát mãnh liệt là được yêu thương và tôn trọng Nhu cầu được yêu thương có thể được xem là một trong những nhu cầu cơ bản nhất của chúng
ta Một trong những hình thức của nhu cầu được yêu thương là sự tiếp xúc dỗ dành, khao khát được ôm ấp và đụng chạm Nhu cầu này đặc biệt có ý nghĩa đối với trẻ HIV/AIDS tại Trung tâm bởi lẽ trẻ đã vốn có thể trạng, sức khỏe không bình thường, thường xuyên đau yếu bởi những căn bệnh cơ hội do sức
đề kháng của cơ thể kém; đây lại là nhóm trẻ bị thiếu thốn, thiếu hụt tình cảm gia đình (08 trẻ mồ côi cha mẹ; 02 trẻ gia đình quá nghèo, không có khả năng nuôi nên phải gửi con vào Trung tâm,…)
Có thể nói đây là nhu cầu của tất cả các trẻ khi được phỏng vấn Trẻ rất muốn được yêu thương, dỗ dành, che chở, bảo vệ, tôn trọng,…Có một điều
Trang 3835
rất dễ nhận thấy khi tiếp xúc với các trẻ này, đó là sau thoáng e ngại, bỡ ngỡ ban đầu, nếu trẻ cảm thấy mến thích người đối diện là trẻ sẽ thể hiện rất rõ nhu cầu được yêu thương, quan tâm như tìm cách tiếp xúc trực tiếp (nắm tay, đụng chạm, lân la trò chuyện, ôm, vuốt ve, làm nũng,…, tùy vào độ tuổi và
giới tính)
d Nhu cầu được đi học: Lứa tuổi của các em là lứa tuổi cắp sách đến trường, được tiếp thu tri thức.Được đi học là một trong những quyền cơ bản của trẻ em được pháp luật Nhà nước ta quy định Đây là một quyền đương nhiên mà trẻ em được hưởng, mọi trẻ em không phân biệt điều kiện và hoàn cảnh đều được bình đẳng về cơ hội học tập, được tạo điều kiện để ai cũng được học hành Thực tế đối với trẻ có HIV/AIDS hiện nay, các em đang rơi vào tình trạng kỳ thị và phân biệt đối xử gây trở ngại cho việc học tập ở trường Điều này gây tổn thương tâm lý rất lớn đối với trẻ Các em có HIV/AIDS cũng có quyền được học tập như bao trẻ em bình thường khác May mắn là các trẻ có HIV/AIDS tại Trung tâm trong độ tuổi đi học đều được tạo điều kiện tốt nhất để được đến trường Ở trường, các trẻ có mối quan hệ tốt đẹp với lớp, thầy cô và các bạn, hòa nhập được với trường lớp
đ Nhu cầu được lắng nghe: Trong cuộc sống, lắng nghe là một điều hết sức quan trọng nhằm giúp mọi người hiểu nhau, hiểu được nhu cầu của người nói cũng như thu thập rất nhiều kiến thức nếu chúng ta luôn biết lắng nghe Lắng nghe còn thể hiện sự tôn trọng của mình với người đối diện đang giao tiếp với mình
Một trong những nhu cầu lớn của trẻ HIV/AIDS chính là được nói và được người khác lắng nghe Nhu cầu này ở trẻ rất cao, đặc biệt là về mặt cảm xúc, tâm lý; bởi ở lứa tuổi này trẻ rất nhạy cảm với thế giới xung quanh, và trẻ chưa có nhiều va chạm với cuộc sống Trẻ cũng có những suy nghĩ riêng, những hướng giải quyết riêng và trẻ cũng tin rằng điều đó là tốt nhất với
chúng Trong đa số trường hợp, nếu chúng ta lắng nghe và chấp nhận cảm
Trang 3936
xúc của trẻ, chúng ta sẽ thấy trẻ có những suy nghĩ và lựa chọn phương pháp giải quyết vấn đề rất đúng đắn Khi người lớn biết lắng nghe trẻ một cách tích
cực, trẻ sẽ càng ngày càng tin tưởng ở người lớn nhiều hơn, càng muốn tâm
sự với chúng ta nhiều hơn và nhiều hơn nữa Có 08 trẻ đã đưa ra nhu cầu này, còn 02 trẻ nhỏ tuổi (6 và 8 tuổi) nên chưa suy nghĩ về vấn đề này Với câu
hỏi: “Ở Trung tâm, các Ba, các Má cư xử với con như thế nào?”, các trẻ đều
có chung ý kiến là: “Các Má hay la mắng, ít khi nào nghe tụi con giải thích hay tâm sự”
e Nhu cầu được vui chơi, giao lưu: đây là nhu cầu rất quan trọng của trẻ em nói chung Có thể nói đây là những hoạt động chủ đạo của tất cả trẻ em: được khám phá, học hỏi những điều mới mẻ trong thế giới xung quanh Đây là giai đoạn hồn nhiên, ngây thơ, trong sáng, thích được vui đùa, giao lưu với bạn bè Thông qua các hoạt động vui chơi, giao lưu, các em sẽ học hỏi được nhiều điều bổ ích, có những trải nghiệm trong cuộc sống và sẽ dần trưởng thành hơn
Qua khảo sát, thì cả 10 trẻ HIV/AIDS đều có chung một hứng thú là được vui chơi, giao lưu và mong muốn được chơi nhiều hơn nữa Đối với nhu cầu này, Trung tâm đã đáp ứng được một phần thông qua việc tổ chức cho trẻ tham gia các hoạt động như: xem phim, đi siêu thị, cắm trại dã ngoại, tắm biển/hồ bơi, Tuy nhiên, theo ý kiến của 07 trẻ (độ tuổi từ 10 đến dưới 16) thì những hoạt động giải trí mà Trung tâm tổ chức chỉ là những cuộc dạo chơi
thuần túy (“Các Má đưa tụi con đến địa điểm cần chơi rồi tự tụi con chơi với nhau, các Má chỉ trông chừng, đến giờ lại đi về chứ không có hướng dẫn, chỉ dạy gì nhiều”) Trẻ muốn thông qua hoạt động vui chơi, giao lưu sẽ còn
“đọng” lại chút gì đó có ý nghĩa với mình, kiểu “học mà chơi, chơi mà học”
phù hợp với lứa tuổi và sự phát triển của các em (“Con thích thông qua những buổi đi chơi đó, các Má giải thích, trả lời các thắc mắc của con cũng như dạy cho con biết nhiều điều khác trong cuộc sống”)
Trang 402.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến trẻ có HIV/AIDS tại Trung tâm
Trẻ em có HIV/AIDS là nhóm dễ bị tổn thương, nên cần được chăm sóc toàn diện về mặt sức khỏe, tâm lý, xã hội, giáo dục, Mỗi trẻ là một trường hợp đặc biệt cần được giúp đỡ Qua phỏng vấn ý kiến của các chuyên gia, quan sát thực tế cũng như tìm hiểu tâm tư tình cảm, nhu cầu trợ giúp của trẻ em có HIV/AIDS tại Trung tâm, thấy rằng, những yếu tố ảnh hưởng đến trẻ có HIV/AIDS xuất phát từ bản thân trẻ và từ nhân viên Trung tâm, cụ thể như sau:
- Sức khoẻ của trẻ: sức khỏe của các em thường xuyên thay đổi, diễn biến theo chiều hướng xấu vì khả năng miễn dịch kém, dễ mắc phải một số bệnh nhiễm trùng cơ hội Do đó, các em rất cần được kiểm tra sức khoẻ một cách đầy đủ và thường xuyên, đặc biệt là duy trì việc uống thuốc và tuân thủ điều trị ARV Với câu hỏi: “Điều thường làm cho con suy nghĩ, băn khoăn nhất liên quan đến cuộc sống hiện nay của con là gì?”, 10/10 trẻ đều cho rằng đó là tình hình sức khỏe của bản thân không biết sẽ ra sao (“Con không biết có hết được bệnh không? Phải đối phó và vượt qua bệnh này như thế nào? Con thường suy nghĩ lung tung vậy đó”- ý kiến của Th – nam – 15 tuổi Hay chia sẻ của bé N – 11 tuổi: “Con thấy mơ hồ vì có những khó khăn liên quan đến bệnh của con Buồn, chán và không biết làm gì”)
- Tâm lý của trẻ: trẻ cần được quan tâm, yêu thương, che chở và tôn trọng để có thể chia sẻ và nói ra những khủng hoảng, vấn đề của mình với nhân viên, có thể cùng đồng hành giải quyết vấn đề như tuổi dậy thì, những vấn đề về giới tính, mục tiêu cuộc sống, lập gia đình,… 10/10 trẻ đều mong