1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Nhân vật tha hóa trong truyện ngắn nữ việt nam đương đại (lê minh khuê và nguyễn thị thu huệ

110 527 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để tìm hiểu nhân vật tha hóa trong sáng tác của hai nhà văn nữ nói riêng và các nhà văn hiện nay nói chung, tôi chọn đề tài: Nhân vật tha hóa trong truyện ngắn nữ Việt Nam đương đạiLê M

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ PHƯỢNG

NHÂN VẬT THA HÓA TRONG TRUYỆN NGẮN

NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI (LÊ MINH KHUÊ VÀ NGUYỄN THỊ THU HUỆ)

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Nam

Hà Nội - 2016

Trang 2

Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được

sự quan tâm và giúp đỡ rất lớn từ quý Thầy cô, đồng nghiệp và gia đình Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình đến:

Thầy giáo, TS.Nguyễn Văn Nam - người trực tiếp hướng dẫn về mặt chuyên môn, đã rất tận tình chỉ dẫn, định hướng và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Quý Thầy cô trong khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Phòng Sau Đại học, quý Thầy cô đã tận tình giảng dạy, chỉ dẫn tôi trong suốt quá trình học tập tại trường và nghiên cứu hoàn thành luận văn này

Ban Giám hiệu, quý Thầy cô, đồng nghiệp trường trung học phổ thông Vĩnh Tường – Huyện Vĩnh Tường – Tỉnh Vĩnh Phúc đã quan tâm, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Cấu trúc luận văn 9

NỘI DUNG 10

CHƯƠNG 1 CẢM HỨNG PHÊ PHÁN TRONG VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 10

1.1 Quá trình đổi mới và cảm hứng phê phán trong văn học Việt Nam đương đại 11

1.2 Khái niệm con người tha hóa – một kiểu nhân vật tiêu biểu gắn liền với cảm hứng phê phán 16

1.3 Khái quát về tác giả Lê Minh Khuê, Nguyễn Thị Thu Huệ 21

1.3.1 Nhà văn Lê Minh Khuê 21

1.3.2 Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ 24

Tiểu kết 27

CHƯƠNG 2 CÁC BIỂU HIỆN CỦA SỰ THA HÓA TÍNH CÁCH CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN NGẮN NỮ 28

2.1 Những biểu hiện của tha hóa bên trong tính cách nhân vật 29

2.1.1 Sự thui chột của lương tâm, đạo đức, trí tuệ 29

2.1.2 Sự lấn át của dục vọng, bản năng, những ham muốn thấp hèn, những đòi hỏi bệnh hoạn 37

2.2 Những biểu hiện tha hóa qua hành vi và quan hệ xã hội 43

Trang 4

2.2.3 Sự thể hiện thái quá, lố bịch cái tôi 51

2.3 Phân hóa của nhóm 54

2.4 Ý nghĩa nhân văn của hình tượng 57

Tiểu kết 64

CHƯƠNG 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN SỰ THA HÓA CỦA CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN NGẮN NỮ 65

3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 66

3.2 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện và tình huống 71

3.3 Người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật 78

3.4 Ngôn ngữ và giọng điệu 83

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Văn học là loại hình nghệ thuật dặc thù, quan tâm đến con người trên nhiều phương diện, nhiều góc độ Ở mỗi thời kì, mỗi giai đoạn văn học khác nhau, số phận con người cũng được thể hiện khác nhau Văn học dân gian, văn học trung đại quan tâm đến con người xã hội, con người cộng đồng Văn học hiện đại lại đi sâu vào khám phá từng cá nhân cụ thể Tùy vào từng giai đoạn văn học, phụ thuộc vào cơ sở tâm lý, mĩ học, phương thức tự sự và quan niệm nghệ thuật về con người của từng thời đại mà hình tượng con người đi vào trong các tác phẩm văn chương sẽ mang dáng vẻ riêng, tính cách riêng

Từ sau năm 1986, đất nước chuyển sang phát triển theo xu hướng kinh

tế thị trường, mở cửa hội nhập.Vấn đề đạo đức của con người được cả xã hội quan tâm, trong đó đặc biệt là nhà văn, những người rất nhạy cảm với vấn đề đạo đức của con người Sứ mệnh của nhà văn là xây dựng những nhân vật hoàn thiện, hoàn mĩ hơn Đó là nhân vật lí tưởng Bên cạnh việc xây dựng những nhân vật lí tưởng, nhà văn cũng có trách nhiệm phê phán tố cáo cái xấu cái ác thông qua hình tượng các nhân vật tha hóa

Nhân vật tha hóa là một góc khác, một phần khác của con người được soi chiếu, được đặt trong nhiều mối quan hệ xã hội để từ đó bộc lộ đầy đủ nhất bản chất của mình Sự tha hóa của nhân vật trong văn chương đã được quan tâm từ khá sớm, đặc biệt với văn chương hậu hiện đại thế giới, nhân vật tha hóa, “biến dạng” đã trở thành một hình tượng nghệ thuật nổi bật với nhiều

ý nghĩa nhân sinh sâu sắc Văn học Việt Nam cũng không nằm ngoài dòng chảy ấy Ngay từ văn học hiện thực phê phán trước cách mạng tháng Tám năm 1945 chúng ta đã thấy hệ thống các nhân vật tha hóa được xây dựng để

tố cáo hiện thực xã hội lúc bấy giờ Do sự ngắt quãng của chiến tranh, phải đến những năm sau đổi mới chúng ta mới lại thấy sự trở lại của hình tượng

Trang 6

nhân vật này một cách rõ nét Nó cho thấy đây là một vấn đề được quan tâm

và có khả năng phản ánh sâu sắc, chân thực bối cảnh xã hội đương thời

1.2 Văn xuôi Việt Nam từ sau thời kì đổi mới 1986 đã đạt được những thành tựu đánh ghi nhận với các tên tuổi như: Nguyễn Minh Châu, Ma văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu, Võ Thị Xuân

Hà, Y Ban … Trong những lớp nhà văn trên không thể không kể đến những gương mặt các nhà văn nữ tiêu biểu, có nhiều cá tính và cũng có nhiều đóng góp cho nền văn xuôi Việt Nam thời kì hậu hiện đại Trong số những cái tên nổi bật đó chúng tôi đặc biệt quan tâm tới Lê Minh Khuê và Nguyễn Thị Thu Huệ Đây là hai tác giả luôn nỗ lực cách tân nghệ thuật, tìm kiếm sáng tạo một lối viết khác và chính điều này để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc Các nhà văn trăn trở trước cuộc sống thực tại của con người, nhanh chóng phát hiện được bản chất của sự thật Sự thật đó không lãng mạn, chẳng

lý tưởng cũng không còn đơn giản để ngợi ca một chiều Cuộc sống hiện đại diễn ra với nhiều cạm bẫy, nhiều xô bồ, với nhiều hạng người, kiểu người, với nhiều kiểu sống khác nhau Sự đa dạng và phức tạp của hiện thực đời sống khiến cho mỗi tác phẩm văn học cũng phải trở nên đa chiều hơn, sâu sắc hơn

để phản ánh được toàn diện Vì vậy, khi xây dựng nhân vật, các nhà văn không chỉ hướng tới ngợi ca, không chỉ nhìn thấy mặt phải mà dường như còn phải đi sâu vào những tiêu cực, mặt trái của xã hội để thấy một phần khác của con người Nắm bắt được yêu cầu đó của thực tế, hai nữ nhà văn đã hướng ngòi bút của mình tới cuộc sống bộn bề, phức tạp để tái hiện con người trong một bối cảnh mới – nơi mà sự tha hóa đang diễn ra như một hiện tượng đáng báo động

Nhân vật tha hóa trở thành một tuyến nhân vật rất quan trọng trong sáng tác của hai nữ nhà văn Hệ thống nhân vật tha hóa được Lê Minh Khuê

và Nguyễn Thị Thu Huệ tái hiện khá đầy đủ, đại diện cho nhiều tầng lớp xã

Trang 7

hội Lê Minh Khuê và Nguyễn Thị Thu Huệ đã vượt qua lối mòn tư duy coi văn học như một tấm gương phản ánh hiện thực một cách đơn giản để thể hiện một cách chân thực sinh động cuộc sống con người như nó đang tồn tại

Đó là bức tranh nguyên dạng của cõi nhân sinh đầy phức tạp, đa sự

Tác phẩm của các nhà văn nữ Việt Nam đương đại luôn nhận được sự quan tâm của các tầng lớp công chúng bởi cách viết trẻ trung, cách nhận thức đời sống sâu sắc Hơn nữa, sáng tác của họ có nhiều cách tân với lối tư duy nghệ thuật mới mẻ Đặc biệt, nghệ thuật xây dựng nhân vật tha hóa trong sáng tác của hai nhà văn đã mang đến những bất ngờ cho độc giả Để tìm hiểu nhân vật tha hóa trong sáng tác của hai nhà văn nữ nói riêng và các nhà văn hiện

nay nói chung, tôi chọn đề tài: Nhân vật tha hóa trong truyện ngắn nữ Việt

Nam đương đại(Lê Minh Khuê và Nguyễn Thị Thu Huệ) làm đề tài luận

văn của mình

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Về truyện ngắn Lê Minh Khuê và Nguyễn Thị Thu Huệ

Lê Minh Khuê là một trong số ít các nhà văn mà các sáng tác không chỉ thu hút được độc giả trong nước mà còn được biết đến ở nước ngoài Lê Minh Khuê trưởng thành và đã có những sáng tác đầu tay ngay từ những năm kháng chiến chống Mỹ Chị là một nhà văn đã đi qua những biến động lịch sử của dân tộc từ cuộc kháng chiến thần kỳ đến những năm hậu chiến đói nghèo cho tới những năm tháng đổi mới nhiều xáo trộn Với hơn 50 năm cầm bút, Lê Minh Khuê đã khẳng định được chỗ đứng của mình trên văn đàn, đặc biệt là với thể loại truyện ngắn Mỗi tập truyện ngắn của nhà văn khi ra đời đều được đón nhận nhiệt tình với nhiều bài viết phê bình, giới thiệu khác nhau

Có thể kể đến những bài viết của các nhà nghiên cứu như Lê Thị Đức

Hạnh với Lê Minh Khuê cây bút truyện ngắn sung sức, Vũ Hà với Lê Minh Khuê một cốt cách văn chương, Mai Thị Ninh với Truyện ngắn Lê Minh

Trang 8

Khuê, các bài viết của Bùi Việt Thắng, Thiên Hương, Cao Thị Hồng, Hồ Anh Thái,… Bùi Việt Thắng trong những nhận định của mình đã cho rằng Đọc văn Lê Minh Khuê chúng ta thấy khi viết dường như chị tựa hẳn vào những

ấn tượng, cảm giác Nhận định ấy đã nhấn mạnh vào một đặc trưng của văn

chương Lê Minh Khuê: đó là hiện thực được cảm nhận bằng trực giác của nhà văn, tinh tế, nhạy cảm và giàu cảm xúc Đánh giá về văn chương Lê Minh Khuê không phải lúc nào cũng có sự đồng thuận Xung quanh những tập truyện ngắn của Lê Minh Khuê đều có các cuộc tranh cãi với những góc nhìn, những hướng tiếp cận sắc sảo cho thấy được sức hấp dẫn của Lê Minh Khuê

và các sáng tác của nhà văn đối với giới nghiên cứu phê bình

Bên cạnh đó, các luận văn, luận án lấy truyện ngắn Lê Minh Khuê làm đối tượng nghiên cứu cũng khá nhiều Các luận văn, luận án nghiên cứu về truyện ngắn sau 1975 cũng thường lấy các sáng tác của Lê Minh Khuê như một trong các đối tượng nghiên cứu của mình Có thể kể đến các công trình

như: Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Lê Minh Khuê của Đinh Lưu Hoàng Thái, Truyện ngắn Lê Minh Khuê nhìn từ thi pháp thể loại của Cao Thị Hồng, Truyện ngắn Lê Minh Khuê của Mai Thúy Ninh, Phong cách truyện ngắn Lê Minh Khuê của Hoàng Thị Hải Yến,…

Nguyễn Thị Thu Huệ là một nhà văn nữ trẻ gặt hái được khá nhiều thành công Ngay từ những tác phẩm đầu tay của mình nữ nhà văn đã gây được chú ý với các nhà nghiên cứu phê bình

Năm 1993 trong bài viết Khi người ta trẻ đăng trên báo Văn nghệ số

43, nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng đã chỉ ra Nguyễn Thị Thu Huệ cùng với một số cây bút trẻ cùng thời chính là những người đã làm nên sự khởi sắc của

thể loại truyện ngắn thời kỳ đổi mới Sau đó, trong cuốn sách Truyện ngắn những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại của mình, nhà nghiên cứu này tiếp

tục có những đánh giá và nhận xét khá xác đáng về truyện ngắn Nguyễn Thị

Trang 9

Thu Huệ: truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ luôn có hai mặt như thế - vừa bụi bặm trong tả chân, vừa trữ tình đằm thắm, vừa táo tợn vừa thanh khiết” [48, 50] Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng còn có bài viết Tứ tử trình làng giới thiệu tập Truyện ngắn bốn cây bút nữ trong đó có một đánh giá mà chúng tôi cho rằng đã khái quát được cái chất riêng của Nguyễn Thị Thu Huệ Chao chát

và dịu dàng, thơ ngây và từng trải, đau đớn và tin tưởng cứ trộn lẫn trong văn Nguyễn Thị Thu Huệ tạo nên tính đa cực của ngòi bút nữ có duyên trong lĩnh vực truyện ngắn Đọc Nguyễn Thị Thu Huệ ta bị cuốn hút trong niềm vui và nỗi buồn bất tận Đời sống hiện lên trong từng trang sách của chị bề bộn, ngổn ngang, ấy vậy mà ngẫm nghĩ nó đâu vào đấy Nhà văn nghiêng viết về con người trong khối mâu thuẫn vừa cố dính kết với gia đình như một “hang

ổ cuối cùng”, lại vừa bị ngoại lực giằng xé, lôi kéo [49, 35]

Có khá nhiều các bài viết đăng trên các báo, các tạp chí chuyên ngành giới thiệu, phê bình về các tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ Các bài viết này có thể mang tính chất giới thiệu một tập truyện, một sáng tác của nhà văn,

có thể là đi sâu đánh giá, nghiên cứu, phê bình những đặc sắc trong một tác phẩm nào đó, hoặc cũng có thể là khái quát hơn hướng tới việc chỉ ra đặc điểm nổi bật trong văn chương của Nguyễn Thị Thu Huệ Có thể kể đến các

bài viết như Những ngôi sao nước mắt của Đoàn Hương đăng trên báo Văn nghệ trẻ năm 1996, Thi pháp truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ của Hồ Sỹ Vịnh trên báo Văn nghệ số 35 năm 2002, Những truyện ngắn hay của Lý Hoài Thu trên Tạp chí Văn học, Nguyễn Thị Thu Huệ trở lại của Khải Ly, … Các

bài viết đăng trên báo điện tử như Ngôn ngữ độc thoại trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ của Lê Na, Nguyễn Thị Thu Huệ - nhà văn của nồng ấm tình yêu của Nguyên Hương,… Các bài viết có những góc độ tiếp cận khác nhau, hướng tới những nội dung khác nhau trong sáng tác của Nguyễn Thị Thu Huệ và cũng có những đánh giá khác nhau về nhà văn này Tuy nhiên

Trang 10

phần đa đều thống nhất ở chỗ khẳng định Nguyễn Thị Thu Huệ là một cây bút

nữ tiêu biểu cho truyện ngắn Việt Nam đương thời, có sức hút mạnh mẽ đối với độc giả

Các tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ cũng trở thành đề tài luận văn, khóa luận tốt nghiệp Có thể kể tới luận án tiến sĩ của Hoàng Dĩ Đình năm

2012 Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (trên tư liệu truyện ngắn ba nhà văn nữ), các luận văn như Nhân vật truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu năm 2010 của Lê Thị Tuyết, Tìm hiểu một số cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn một số cây bút nữ thời

kỳ 1986-2006 (Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy) năm

2009 của Nguyễn Thanh Hồng, Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ năm 2014 của Tống Thị Minh,…

Có thể nói các bài nghiên cứu về Lê Minh Khuê, Nguyễn Thị Thu Huệ khá phong phú, các góc độ của tác phẩm cũng đều đã được khai thác, từ các tác phẩm cụ thể cho tới các công trình mang tính khái quát và hệ thống hơn Các ý kiến đánh giá cũng đa dạng nhiều chiều Đây chính là những gợi mở cho chúng tôi trong quá trình tìm hiểu đối tượng nghiên cứu của mình

2.2 Về nhân vật tha hóa

Khi nghiên cứu về truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ, Lê Minh Khuê, đã có khá nhiều các công trình chú ý vào nhân vật như một nhân tố độc đáo của tác phẩm, thể hiện thành công của hai tác giả Trong các công trình nghiên cứu văn học Việt Nam sau chiến tranh, đặc biệt là truyện ngắn, các vấn đề về nhân vật cũng đã được đặt ra Thậm chí khi nghiên cứu phong cách tác giả, đặc trưng sáng tạo, vấn đề về nhân vật cũng là vấn đề được đặt ra hàng đầu Và đặc biệt khi tìm hiểu về nhân vật truyện ngắn giai đoạn này, nhiều công trình đã chỉ ra vấn đề nhân vật tha hóa Tuy nhiên, các công trình chỉ lấy vấn đề này làm đề tài trọng tâm thì chưa nhiều

Trang 11

Có thể kể đến các luận văn nghiên cứu về vấn đề nhân vật tha hóa như

Nhân vật tha hóa trong sáng tác của Hồ Anh Thái của Vũ Đình Vụ, Nhân vật tha hóa trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, bài viết về Nhân vật tha hóa trong truyện ngắn Lê Minh Khuê của Cao Thị Hồng,… cho thấy vấn đề

này đã được đặt ra nhưng chưa thực sự được tìm hiểu một cách công phu và thấu đáo

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Chỉ ra được những đặc sắc về nội dung cũng như về nghệ thuật khi xây dựng nhân vật tha hóa của hai tác giả Từ đó có một cách nhìn đầy đủ hơn về thế giới nhân vật và cảm hứng sáng tạo của các nhà văn nữ đương đại

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn có nhiệm vụ đi sâu vào tìm hiểu nhân vật tha hóa trong sáng tác của hai nhà văn nữ: Nguyễn Thị Thu Huệ và Lê Minh Khuê, qua đó thấy được giá trị của những sáng tác của hai tác giả trong đời sống văn chương, thấy được phần nào cuộc sống hiện thực đồng thời thấy được hồi chuông cảnh báo về vấn đề suy thoái của đạo đức, lối sống của con người trong xã hội hiện nay Bên cạnh đó luận văn còn tìm hiểu bút pháp nghệ thuật trong một số truyện ngắn, được hai nhà văn nữ Việt Nam thời đương đại sử dụng khi xây dựng nhân vật tha hóa

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Với đề tài này, đối tượng nghiên cứu là những nhân vật tha hoá trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ, Lê Minh Khuê và các biện pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật tha hóa của hai nhà văn Để hoàn thành tốt công việc, luận văn tìm hiểu thêm một số tác phẩm văn học đương đại để có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn

Trang 12

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Tùy theo yêu cầu của từng phần, từng chương mà chúng tôi vận dụng linh hoạt phương pháp đó

- Phương pháp thống kê, phân loại

- Phương pháp tiếp cận hệ thống

- Phương pháp nghiên cứu lịch sử - xã hội

- Phương pháp phân tích

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học

- Phương pháp so sánh - đối chiếu

6 Đóng góp của luận văn

Về mặt lý luận: Luận văn là công trình nghiên cứu về Nhân vật tha hóa trong truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại Từ đó, nó cho thấy vai trò của

nhân vật trong việc nghiên cứu tác phẩm văn học Đồng thời, thông qua hướng nghiên cứu này ta sẽ hiểu rõ hơn về tác phẩm, về ý đồ mà nhà văn gửi gắm trong đứa con tinh thần của mình

Về mặt thực tiễn: Luận văn góp thêm một phần nhỏ vào những thành tựu

nghiên cứu về truyện ngắn của hai nữ nhà văn Luận văn cũng góp phần làm giàu vốn tài liệu tham khảo phục vụ cho việc học tập, giảng dạy về hai tác giả

: Lê Minh Khuê, Nguyễn Thị Thu Huệ và chuyên đề văn học Việt Nam

Trang 13

đương đại nói chung trong các trường trung học, cao đẳng, đại học Từ đó giúp học sinh có điều kiện hiểu hơn vẻ đẹp văn chương trong sáng tác của Lê

Minh Khuê và Nguyễn Thị Thu Huệ

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phần thư mục tài liệu tham khảo, luận văn của chương tôi gồm 3 chương:

Chương 1: Cảm hứng phê phán trong văn chương Việt nam đương đại Chương 2: Các biểu hiện của sự tha hóa tính cách con người trong truyện ngắn nữ

Chương 3: Nghệ thuật thể hiện sự tha hóa của con người trong truyện ngắn nữ

Trang 14

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CẢM HỨNG PHÊ PHÁN TRONG VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

Đối tượng hướng tới của văn chương nói riêng và nghệ thuật nói chung

là cái đẹp, chức năng của văn chương là hướng con người tới chân, thiện, mỹ

Có nhiều cách để văn chương nghệ thuật thực hiện chức năng cao quý đó của mình Muốn hướng con người tới cái đẹp, văn chương có thể ngợi ca cái đẹp, tạo dựng nên một quy chuẩn thẩm mỹ để hình thành cho bạn đọc của mình một quan điểm thẩm mỹ đúng đắn, tiến bộ Nhưng cũng có một cách khác là văn chương vạch trần cái xấu xa, phê phán những mặt trái còn tồn tại, nhìn thấu vào bản chất của cái xấu, cái ác, giúp con người nhận thức được đầy đủ

về hiện thực, có cái nhìn tỉnh táo hơn để biết đấu tranh không chỉ với cái xấu của bên ngoài mà còn biết nhìn vào chính mình, nhận diện những mặt trái đang còn tồn tại trong mình, để tự phản tư, tự vượt lên

Có lẽ vì vậy mà bên cạnh cảm hứng ngợi ca luôn có cảm hứng phê phán Bên cạnh việc xây dựng con người lý tưởng mang vẻ đẹp thời đại là việc tái hiện những nhân vật “phản diện” thể hiện những góc khuất ẩn sâu trong mỗi người Cảm hứng phê phán đi cùng cảm hứng ngợi ca nhưng ở mỗi giai đoạn mỗi thời kỳ nó lại được thể hiện khác nhau Có nhiều khi cảm hứng ngợi ca là dòng chủ lưu, có nhiều khi cảm hứng phê phán lại mạnh hơn phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh xã hội, bối cảnh thực tế của mỗi giai đoạn Văn học Việt Nam bước ra khỏi cuộc chiến, lại bước vào một thời kỳ mới, một cuộc chiến mới không kém phần gay go ác liệt Sau 1975, đặc biệt là sau

1986, khi Đảng và Nhà nước bắt đầu những năm tháng xây dựng đất nước theo hướng Đổi mới, văn chương Việt Nam có nhiều bước phát triển với

Trang 15

những thay đổi lớn lao từ quan điểm đến tư duy nghệ thuật Những sự thay đổi đó đã đưa văn học quay trở về với chính đời sống của nó Trong không khí cởi mở và dân chủ đó, cảm hứng phê phán lại trở thành cảm hứng chủ đạo của một số nhà văn, một số tác phẩm

1.1 Quá trình đổi mới và cảm hứng phê phán trong văn học Việt Nam đương đại

Gần trọn vẹn thế kỉ XX, dân tộc Việt Nam chìm trong khói lửa của chiến tranh với những chiến thắng oanh liệt nhưng dẫu oanh liệt thế nào thì đó cũng là một hiện thực “bất thường”, một cơn “nguy biến” của đất nước Hiện thực bất thường đó chi phối mạnh mẽ tới mọi mặt đời sống từ kinh tế, chính trị tới văn hóa, giáo dục Văn học không nằm ngoài dòng chảy đó Những năm đầu thế kỉ XX, nhờ vào cuộc gặp gỡ và tiếp xúc với văn học Pháp và văn học Phương Tây mà văn học Việt Nam có một cuộc lột xác, diễn ra quá trình hiện đại hóa, thoát ly dần khỏi ảnh hưởng của văn học Trung Quốc Nhưng bối cảnh của một dân tộc nô lệ khiến văn học cũng mang những dấu ấn nhất định Trong những năm kháng chiến chống Pháp, rồi chống Mỹ, văn học vừa

có những bước phát triển mạnh mẽ hướng dần tới đại chúng, có sự nở rộ về lực lượng sáng tác, về thể loại cũng như tác phẩm Cùng với đó, văn học nghệ thuật cũng phải thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình với dân tộc, đất nước Văn học thời chiến gác lại những vấn đề riêng tư, gác lại những câu chuyện

cá nhân, những cảm xúc đời thường để đề cập tới những vấn đề lớn lao của dân tộc, của lịch sử Tính sử thi của văn học thời kì này khá rõ ràng và cùng với đó là cảm hứng lãng mạn, là xu hướng ngợi ca, lý tưởng hóa nhằm thể hiện những hình tượng nghệ thuật lớn lao phù hợp với bối cảnh lịch sử mang tính cộng đồng dân tộc Trong một hoàn cảnh như vậy đến những tình cảm cá nhân nhất như tình yêu cũng trở thành một tình cảm lý tưởng, mang cái chung của thời đại

Trang 16

Sau chiến tranh, theo đà quán tính, văn học vẫn tiếp tục viết về cuộc chiến, hoặc các vấn đề hậu chiến theo cảm hứng ngợi ca Chỉ đến khi đối mặt với những vấn đề bỏng rát của hiện thực, chúng ta mới thấy văn chương đang

đi theo hướng xa rời hiện thực hoặc nhìn hiện thực một chiều, hời hợt Nhu cầu được nhận thức lại, được nhìn và phản ánh hiện thực ở một tầng sâu hơn trở nên ngày càng bức thiết Và nó cũng không phải là những bức bối của riêng văn chương mà trở thành bức bối, ngột ngạt chung cho cả bầu không khí

xã hội

Năm 1986, khi Đảng và nhà nước chủ trương công cuộc Đổi mới, cả dân tộc một lần nữa đứng trước một thử thách Nhưng đó cũng là một cú huých cho sự thay đổi, lột xác lần nữa Một không khí cởi mở hơn, dân chủ hơn đã tạo điều kiện cho các nhà văn được sống, cảm nhận, nghĩ và viết một cách chân thực và trung thực với lòng mình Trong công tác lãnh đạo, Đảng

đã chỉ đạo tránh có những can thiệp thô bạo vào các vấn đề của văn học nghệ thuật, thận trọng trong các đối xử với văn nghệ sĩ, với những cá tính sáng tạo

và khuyến khích văn nghệ sĩ phát huy tài năng của mình Chính quan điểm đó

đã tác động rất lớn tới việc thay đổi tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách viết của các nhà văn Có thế nói mốc 1986 với những chủ trương đúng đắn, mới mẻ, kịp thời của Đảng và Nhà nước không chỉ mở ra một thời kỳ phát triển mới cho đất nước mà còn là một cuộc thay máu trong văn học nghệ thuật

Nếu trong chiến tranh mỗi nhà văn là một chiến sĩ và “Chưa lúc nào bằng lúc này thái độ của nhà văn trước vận mệnh chung của dân tộc lại được

đặt ra cấp bách và nghiêm túc đến thế” (Nguyễn Minh Châu – Trang giấy trước đèn) khiến cho nhiều nhà văn đôi khi chọn cách né tránh, lãng quên đi

một phần nào đó bất như ý của hiện thực thì nay nhà văn được cởi trói Nhà văn thay vì ghi chép hiện thực thì nay phải đào sâu hiện thực Trước đó, họ có thể bị “bao cấp về tư tưởng” thì nay họ cần tự tìm lại mình, cần tìm lại cá tính

Trang 17

của riêng mình Sự thay đổi về quan điểm và tư tưởng đó dẫn tới những sự thay đổi khác trong sáng tạo văn chương nghệ thuật Mỗi nhà văn cũng đứng trước một cơ chế thị trường khốc liệt của hiện thực Tìm cho mình một hướng

đi, một phong cách được đặt ra như một vấn đề sống còn Hầu hết các nghệ sĩ trưởng thành từ các giai đoạn trước đó đều bước vào một cuộc lột xác mới, một chặng đường sáng tác mới trong hành trình nghệ thuật của mình Không phải ai cũng bắt nhịp được ngay với sự thay đổi đó, song không ai có thể đứng ngoài cuộc

Đáng lưu tâm hơn cả là sự thay đổi về cách nhìn hiện thực Đời sống của những năm tháng hậu chiến không còn là hiện thực đơn giản mà bộn bề ,mới mẻ và phức tạp đòi hỏi nhà văn phải phản ánh cho được, cho sâu Thay

vì chỉ quan tâm tới đời sống chính trị xã hội, tới những vấn đề lớn lao của dân tộc và đất nước, văn học cần hướng tới đời sống cá nhân với những vấn đề của đời thường, của cuộc sống hàng ngày Từ đây hiện thực được nhìn từ những mảnh ghép nhỏ, để hướng tới một hiện thực toàn vẹn hơn, phong phú hơn Nếu vẫn còn viết về các đề tài cũ như chiến tranh, người lính thì cũng phải với một cách nhìn mới mẻ đa chiều Chúng ta có thể kể đến hàng loạt các

tác phẩm ra đời thời kỳ hậu chiến gây được tiếng vang như: Bến không chồng (Dương Hướng), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Thời xa vắng (Lê Lựu),… Một gương mặt khác, một góc khuất khác của

chiến tranh được soi chiếu Chiến tranh nếu trước đó được phản ánh trên một bình diện rộng, với các gương mặt anh hùng, với hình ảnh cả “đất nước đứng lên” với những chiến công và những phẩm chất chói ngời của con người thời đại mới, thì nay chiến tranh được nhìn từ nhiều góc độ trong đó có mất mát hi sinh, có đê hèn yếu đuối, trong đó hạnh phúc của một cá nhân, cuộc đời của một cá nhân là gốc của vấn đề được phản ánh Chiến tranh đã tước đi cuộc đời

“bình thường” của biết bao người phụ nữ làng Vạn Chài (Bến không chồng)

Trang 18

Họ chỉ ước ao một người đàn ông, một hạnh phúc gia đình nhỏ bé và giản dị Nhưng chiến tranh đã tước đi của họ cả cơ hội có được hạnh phúc đơn sơ ấy Dường như bom đạn của chiến tranh không còn đáng sợ bằng cuộc sống hậu

chiến với những đau thương mà nó để lại Nỗi buồn chiến tranh lại xoáy sâu

vào thân phận người, thân phận tình yêu, thân phận của cái đẹp trong chiến tranh Bước lên chuyến tàu vào nam để trở thành một người lính năm ấy, Kiên

đã bỏ lại không chỉ tuổi trẻ, không chỉ Hà Nội, không chỉ giảng đường mà còn

bỏ lại tình yêu của mình, cái đẹp của đời mình Trong chuyến tàu năm đó, Phương đã bị người ta hãm hiếp ngay trước mắt Kiên Cái đẹp mong manh, tình yêu mong manh đang bị con “quái vật” chiến tranh nuốt chửng Bước vào cuộc chiến, dòng kí ức của Kiên nhắc ta về những mặt trái của con người trong chiến tranh Có đê hèn, có ích kỉ, có đau thương, có chết chóc,… Chiến tranh gớm ghiếc tới nỗi nó là nơi để con người bộc lộ đến tột cùng mọi xấu tốt của mình, gớm ghiếc tới nỗi đã bước khỏi cuộc chiến Kiên vẫn mãi mãi không thể trở về đời thường Cuộc đời của một văn phường sau chiến tranh,

cứ bị lẫn lộn cứ bị chìm vào cuộc chiến Thế nên hậu chiến rồi mà con người vẫn không thể tìm thấy hạnh phúc của mình Bảo Ninh không né tránh bất cứ điều gì Ông miêu tả cả cái vô thức, cả cái bản năng, cả tình dục và những điều ẩn sâu nhất trong mỗi con người để dựng lại một bức tranh chiến trận từ những số phận người chân thực nhất, ám ảnh nhất

Không chỉ có vậy các tác giả còn đi sâu vào cuộc sống đời thường, nhận thấy những biến đổi trong tâm thế con người, nhận thấy nhiều giá trị đã

bị đảo lộn, những điều tốt đẹp đang đứng trước những thử thách, đang dần bị

xói mòn như trong Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), các truyện ngắn

của Nguyễn Huy Thiệp,… Bên cạnh đó còn có xu hướng giải thiêng các giá trị của giai đoạn văn học trước đó, xu hướng mở rộng hiện thực với các đề tài

về lịch sử, về vô thức,…

Trang 19

Càng về sau các tác phẩm càng xóa nhòa đi các vùng cấm, đề cập tới hiện thực xã hội một cách toàn vẹn và đa dạng Các vấn đề của đời sống được phơi bày, được tái hiện trần trụi và thấu đáo Càng đi sâu vào đời sống người

ta càng nhìn thấy ẩn sau nó những vấn đề mà nếu chỉ nhìn lướt qua có thể sẽ

bị bỏ sót, bị né tránh Từ những phát hiện đó, văn chương không thể tiếp tục cảm hứng ngợi ca một cách đơn thuần và duy nhất, cảm hứng phê phán trở thành một dòng chủ lưu trong văn học thời kỳ này Không chỉ là phê phán xã hội, không chỉ là sự phân tuyến thiện – ác mà dường như ngay trong chính mỗi cá nhân cũng tồn tại tất cả các mặt trái – phải, những điều tốt đẹp và những điều xấu xí Phê phán lúc này là lời nói cảnh tỉnh, là sự thúc đẩy để mỗi cá nhân tự đấu tranh với chính mình để vượt lên những cám dỗ, tha hóa của hoàn cảnh

Không chỉ thay đổi cách nhìn về hiện thực mà văn học thời kỳ này còn thay đổi cả quan niệm về con người Mỗi cá nhân được nhìn nhận trong đầy

đủ tư cách tồn tại của mình chứ không chỉ ở một góc độ con người trách nhiệm, con người chính trị, con người xã hội nữa Thế giới nội tâm của con người được khai thác ở cả phần ý thức, vô thức hay tiềm thức Đời sống cá nhân với những vấn đề đời thường cũng được đề cập Những vấn đề được coi

là nhạy cảm như tình dục, bản năng,…không còn bị né tránh Đi sâu vào khám phá con người, giải thiêng dần hình ảnh người anh hùng lý tưởng của văn học giai đoạn trước, văn học giai đoạn này trả con người về với đời sống thường nhật để thừa nhận cả những giá trị khác nhau ở con người Có lẽ vì vậy mà trong tổng thể nhân vật văn học thời kỳ này xuất hiện nhiều mẫu hình mới như con người bi kịch, con người kỳ dị, con người tha hóa,…Trong mỗi

cá thể dường như có cả con người xã hội, con người tự nhiên và con người tâm linh với các biểu hiện khác nhau Văn học không còn nhìn nhận con người một chiều, khô cứng, khuôn phép mà ngày càng tìm tòi để nhìn nhận

Trang 20

đánh giá con người một cách đầy đủ, vẹn toàn nhất Không chỉ ngợi ca những điều tốt đẹp, thiện lương trong mỗi cá thể mà còn thẳng thắn dũng cảm đấu tranh với phần tiêu cực trong họ Cảm hứng phê phán không hướng đến mục tiêu hạ thấp con người, vùi dập con người mà nó chính là một biểu hiện khác của tính nhân văn trong văn học giai đoạn thời kỳ này Văn học sau 1975 không còn nhiều những nhân vật để ta ngưỡng mộ, tôn thờ nhưng lại có rất nhiều những số phận để ta ám ảnh, đau đáu mãi những vấn đề nhân sinh

1.2 Khái niệm con người tha hóa – một kiểu nhân vật tiêu biểu gắn liền với cảm hứng phê phán

Khái niệm tha hóa là một khái niệm không chỉ có trong đời sống mà còn trong triết học, tôn giáo Có nhiều quan điểm cũng như nhận định khác nhau về khái niệm này Hiểu theo nghĩa thông thường hay được dùng trong đời sống hàng ngày, sự tha hóa có thể hiểu là “biến chất đi thành cái xấu, đồng nghĩa với thoái hóa” Trong triết học, tôn giáo, tâm lý học hay xã hội học khái niệm tha hóa có thể được hiểu khác đi, trở thành một phạm trù mang tính học thuật cao Trong các ngôn ngữ khác hay bản thân nghĩa Hán Việt của

từ “tha hóa” thì tha hóa có nghĩa là sự khác đi, là bị biến thành cái khác Ở đây, trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi sử dụng nghĩa của từ điển Tiếng Việt, gắn với cuộc sống hàng ngày: tha hóa được hiểu như là quá trình bị biến chất đi theo chiều hướng tiêu cực Như vậy nhân vật tha hóa chính là nhân vật

bị làm khác đi, bị biến đổi khác với chính mình, không còn là mình theo chiều hướng tiêu cực

Trên thế giới, từ những năm đầu thế kỉ XX đã có nhiều tác phẩm viết

về sự tha hóa của con người; trong đó đặc biệt thu hút dư luận là các sáng tác của A Camus, F.Kafka Các nhà văn đã miêu tả quá trình tha hóa của con người gắn với cái vô lý của đời sống Trong dòng văn học viết về sự tha hóa này, nhân vật tha hóa không chỉ là những kẻ bị làm xấu đi, bị thay đổi theo

Trang 21

chiều hướng tiêu cực nữa mà được hiểu rộng hơn, được nâng tầm khái quát hơn, là biểu tượng của tình trạng phổ biến khi con người đang dần “vong thân”, đánh mất những phẩm chất “người”, trở thành một chủ thể cô đơn, bất lực trước hiện thực

Văn học Việt Nam sau 1975, đặc biệt là sau năm 1986, khi bắt đầu thời

kỳ đổi mới, cũng xây dựng những nhân vật tha hóa nhưng nó không hoàn toàn giống với các nhân vật tha hóa trong văn học phi lý phương Tây đầu thế kỉ

XX Nói đến nhân vật tha hóa thời kỳ này là muốn nói tới hiện tượng con người đang đánh mất dần những điều tốt đẹp trước sự tác động của hiện thực khách quan Có thể nói nhân vật tha hóa đã có từ lâu trong văn học chứ không phải chỉ đến thời kỳ này mới xuất hiện Bị giãn cách bởi những năm tháng chiến tranh, hình tượng nhân vật tha hóa lại trở lại trong văn học thời kỳ đổi mới như một tiếng chuông cảnh tỉnh con người trước những nguy cơ tha hóa đánh mất mình Dường như cuộc sống càng phát triển, đời sống vật chất càng được nâng cao thì những xáo trộn của thang giá trị, những chuẩn mực đạo đức, những cốt lõi nhân văn càng bị rạn nứt và đứng trước bờ vực bị thay thế, đảo lộn

Văn xuôi sau 1975 nói chung và truyện ngắn sau 1975 nói riêng đã xây dựng nên những hình ảnh nhân vật tha hóa đa dạng, sinh động, ở đủ các tầng lớp xã hội khác nhau, đã lột tả được những vấn đề gai góc nhất của hiện thực Các nhân vật tha hóa thời kỳ này có thể chia thành hai nhóm: một nhóm là những con người bị tha hóa vì những ham muốn bản năng, những dục vọng thấp hèn, vì những khát khao vật chất, quyền lực; hai là những con người vốn tốt đẹp nhưng bị hoàn cảnh xã hội và những vấn đề của đời sống thường nhật tha hóa Những nhân vật này có thể thuộc tầng lớp trí thức, quan chức hay chính những con người bình dân, đời thường thuộc mọi tầng lớp xã hội Ban đầu các nhà văn thường chú ý tới những con người tiêu biểu, đại diện cho một

Trang 22

tầng lớp nào đó trong xã hội nhưng càng về sau chúng ta càng thấy sự đa dạng của các nhân vật tha hóa, họ thuộc đủ các loại tầng lớp khác nhau, mang những bộ mặt khác nhau và bị tha hóa theo những cách khác nhau

Chu Lai tái hiện lại gương mặt của những người lính sau chiến tranh

với hàng loạt các tiểu thuyết như Vòng tròn bội bạc, Ăn mày dĩ vãng, Ba lần

và một lần,… Trong chiến tranh, có thể họ đã phần nào bộc lộ cái xấu xí của

mình nhưng về với cuộc sống đời thực với những hấp dẫn của vật chất và quyền lực cái xấu xí trong họ càng được lột trần, càng được phơi bày và

dường như càng phát triển hơn Đó có thể là Huấn trong Vòng tròn bội bạc,

từng chiến đấu dũng cảm và kiên cường, nay trở thành một kẻ bất chấp mọi

tội ác để làm giàu Ba Sương (Ăn mày dĩ vãng) từng sống và chiến đấu hết

mình trong những năm bom đạn thì nay vì để leo lên những nấc thang cao hơn trong quyền lực đang dần đánh mất mình, quay lưng với quá khứ, chấp nhận làm tình nhân với kẻ mà trước đây mình coi là kẻ thù Những nhân vật như

Năm Thành (Ba lần và một lần), Đăng Điền (Cuộc đời dài lắm) trong chiến

tranh đã bộc lộ một phần bộ mặt xấu xa của mình thì nay càng bộc lộ rõ hơn những bản chất đó Dường như Chu Lai đã nhận thấy một hiện thực đau nhói

về phận người sau chiến tranh Chiến tranh gian khổ nhưng buộc người ta phải vượt lên mà sống đẹp Còn ở thời hậu chiến, cuộc sống đời thường trả con người lại với những nhu cầu vật chất và bản năng, với tham vọng quyền lực và danh tiếng khiến cho con người ngày càng bị tha hóa Các nhân vật tha hóa của Chu Lai đã phản ánh sự thật ấy như là lời cảnh tỉnh với xã hội

Ma Văn Kháng thì đi vào quá trình tha hóa của những người trí thức trong cuộc sống đời thường Những người trí thức chân chính thì bị rơi vào bi

kịch của cuộc sống đời thường Tự (Đám cưới không có giấy giá thú) phải

đứng trước sự giằng co giữa việc giữ lấy những phẩm chất tốt đẹp của mình hay thả trôi chấp nhận hiện thực và sống theo những người khác Anh có thể

Trang 23

có những ước vọng tốt đẹp, anh có thể là một thầy giáo chân chính hết lòng vì học sinh Nhưng cuộc sống với áo cơm và các nhu cầu đời thường bắt anh phải có tiền Anh không làm được trụ cột kinh tế gia đình, đẩy cuộc sống vợ con đến chỗ khốn khó thì anh phải chịu sự chì chiết, dè bỉu của vợ, thậm chí chị ta ngang nhiên ngoại tình trước mắt anh Nỗi đau mà Tự phải chịu là nỗi đau tinh thần, là bi kịch của người trí thức trong hoàn cảnh mới Trong sáng

tác của Ma Văn Kháng không chỉ Xuyến trong Đám cưới không có giấy giá thú đóng vai nhân vật tha hóa mà còn rất nhiều những nhân vật khác như Lý, Đông (Mùa lá rụng trong vườn), Loan trong “Mưa mùa hạ”, Thoa trong

“Ngược dòng nước lũ”…Không chỉ có những người trí thức như cô giáo

Thảnh, thầy giáo Thuật (Đám cưới không có giấy giá thú) mà cả những kẻ

đóng vai trí thức giả cũng chỉ là một phường lưu manh Những người như Cẩm, như Lai, như Dương đã đẩy những con người tốt đẹp như Tự tới tận cùng của bi kịch Họ chính là những con người vì sự tham lam, vì ham muốn quyền lực và vật chất của mình mà bất chấp mọi thủ đoạn để hãm hại những con người có tài, có tâm quanh chúng Ma Văn Kháng đã miêu tả một thế giới rất sinh động của những nhân vật tha hóa khác nhau Có quan chức, có trí thức, có thường dân, có phụ nữ, có đàn ông, có những con người vốn tốt đẹp

mà bị tha hóa, có những con người vốn đã ẩn chứa những xấu xa gặp hoàn cảnh thuận lợi thì cái xấu càng phát triển

Đặc biệt là ngòi bút sắc sảo, lạnh lùng của Nguyễn Huy Thiệp trong những truyện ngắn đầy ấn tượng của ông đã giải thiêng những hình tượng vốn đẹp đẽ ở giai đoạn trước, trả nó về với đời thường với những vấn đề cá nhân

nhỏ bé Tướng về hưu, Không có vua,… đã miêu tả những nhân vật bị tha hóa đến tận cùng Gia đình lão Kiền (Không có Vua) như một xã hội thu nhỏ với

một người chồng bạo lực, thô lỗ, một ông bố chồng bất chấp lương tri mà chạy theo dục vọng thích nhòm con dâu tắm, một thằng em chồng trơ trẽn bỉ

Trang 24

ổi… Những gương mặt ấy như góp lại mà tái hiện một xã hội con người đang chạy theo vật chất, đang ngày càng đánh mất lương tri phẩm giá và danh dự của mình Dường như cuộc sống hiện đại với nhịp sống nhanh đến gấp gáp của nó, với xu hướng hưởng thụ của nó đã khiến con người bị chính những bản năng của mình chi phối điều khiển

Nếu như ở giai đoạn đầu nhân vật tha hóa là những con người tiêu biểu thuộc các tầng lớp như trí thức, quan chức thì càng về sau các nhà văn càng đi sâu vào đời sống, hướng vào những con người bình thường trong đời sống hàng ngày Nguyễn Bình Phương là một trong những nhà văn trẻ thuộc giai đoạn sau khá thành công trong việc xây dựng những nhân vật tha hóa Đó có

thể là Tính (Thoạt kỳ thủy) đang dần từ bỏ hình hài, ý thức của một con người

để tiến về cõi u mê vô thức của tội ác Những nhân vật trong Người đi vắng

thì mải miết chìm vào những ham muốn của riêng mình, tất cả dường như đều đang mất đi phương hướng, không biết phải sống thế nào, phải đi về đâu Hoan chìm vào trạng thái nửa sống nửa chết sau những ngày sống vô nghĩa chạy theo bản năng tình dục, em trai Thắng chìm trong giấc mơ về dàn compac, em gái Thắng không thoát ra khỏi được mùi cồn, mùi thuốc của bệnh viện,… Họ là những gương mặt đời thường ta có thể gặp ở bất cứ đâu, là bất

cứ ai trong cuộc sống này Cái xấu len lỏi vào nhân cách đâu chỉ là khi con người tạo ra những tội ác, những điều khủng khiếp, ghê gớm, bất thường Sự tha hóa diễn ra ngay từ khi con người sống không còn ý nghĩa, đánh mất dần những giá trị của bản thân, đánh mất đi ý thức làm người của mình

Như vậy, có thể nói hình tượng nhân vật tha hóa đã trở thành mẫu hình nghệ thuật chung của hầu hết các tác phẩm văn xuôi sau 1975, đặc biệt là từ đổi mới Họ đa đạng về thân phận, đa dạng về tính cách, đa dạng về hình hài

Họ có thể là những nạn nhận của một cuộc sống xô bồ, tôn vinh giá trị vật chất hoặc chính họ là tội nhân bất chấp tất cả mà chạy theo những toan tính

Trang 25

ích kỉ của bản thân Họ có thể được miêu tả ở trạng thái con người ý thức, có thể được nhìn sâu vào cả phần vô thức bên trong Tất cả đã tạo nên một bức tranh sống động về đời sống, riết dóng về con người, thức tỉnh mỗi chúng ta trước thời cuộc

1.3 Khái quát về tác giả Lê Minh Khuê, Nguyễn Thị Thu Huệ

1.3.1 Nhà văn Lê Minh Khuê

Lê Minh Khuê sinh năm 1949 tại Thanh Hóa Chị thuộc thế hệ các nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ Tuy sinh ra và lớn lên ở Thanh Hóa nhưng ngay từ nhỏ Lê Minh Khuê đã có cơ hội được đi nhiều vùng miền gắn với quê gốc của cha mẹ, ông bà Ông nội của nhà văn sinh ra ở Thanh Hóa nhưng làm việc và lấy vợ ở Huế, ông ngoại là người Hà Đông lấy

vợ là người vùng Kinh Bắc Với hoàn cảnh gia đình như vậy Lê Minh Khuê

có được may mắn hơn nhiều đứa trẻ cùng thời là chị được đi tới nhiều miền quê trải dài từ Hà Đông vào Huế, mang lại cho nhà văn một vốn sống phong phú ngay từ những ngày thơ bé

Sáng tác của Lê Minh Khuê có thể chia làm hai chặng: trước 1975 và sau 1975

Trước 1975, Lê Minh Khuê tham gia thanh niên xung phong vào khoảng năm 1971 ở tuyến lửa ác liệt của Trường Sơn Tại đây, trong hoàn cảnh ác liệt của chiến tranh, chị bắt đầu cầm bút và sáng tác Ngay từ những tác phẩm đầu tay, Lê Minh Khuê đã chứng tỏ được tài năng của mình Những

truyện ngắn như Nơi bắt đầu bức tranh, Những ngôi sao xa xôi, Cao điểm mùa hạ,… ngay từ khi ra đời đã được đón nhận nồng nhiệt Bạn đọc nhanh

chóng nhận ra một cây bút chuyên nghiệp, với một hương vị rất riêng giữa bạt ngàn các tác giả, tác phẩm cùng viết về đề tài chiến tranh lúc bấy giờ Phần lớn các sáng tác của Lê Minh Khuê thời kỳ này đều là viết về chiến tranh với

Trang 26

âm hưởng ngợi ca và cái nhìn lạc quan về cuộc sống Đây cũng là nét chung của văn xuôi kháng chiến chống Mỹ

Sau 1975, Lê Minh Khuê nhanh chóng nhập cuộc vào một đời sống mới Bước ra khỏi cảm hứng ngợi ca của những năm tháng trước đó, nhà văn nhìn thấy những xói mòn của các giá trị tốt đẹp trong một xã hội hưởng thụ Con người không còn được nhìn chung trong cái ta, mà được quan sát với cái tôi cá nhân của mình bộc lộ đầy đủ những phẩm chất tốt đẹp và xấu xa Bằng một “văn phong đẹp, chua xót và trang nghiêm”, Lê Minh Khuê đã tái hiện lại hiện thực phức tạp của cuộc sống sau chiến tranh với nhiều vấn đề của đời người Với cách viết, cách cảm như vậy, Lê Minh Khuê đã tạo ra một dấu ấn riêng cho các tác phẩm của mình Lê Minh Khuê từng 2 lần được giải thưởng

của Hội nhà văn vào năm 1987 với tác phẩm Một chiều thành phố và năm

2000 với tác phẩm Những ngọn gió heo may Chị cũng từng nhiều lần được

giải thưởng của báo văn nghệ Mới đây, năm 2008, chị được nhận một giải thưởng quốc tế của Hàn Quốc cho những sáng tác của mình Đó chính là một

sự ghi nhận, đánh giá chính xác cho những cống hiến của nhà văn Có thể khẳng định Lê Minh Khuê là cây bút nữ hàng đầu trong thể loại truyện ngắn sau 1975

Lê Minh Khuê là một người giản dị, khiêm nhường và nghiêm túc Nhà

văn từng chia sẻ: tôi không mấy tin vào sức mạnh của văn chương, nhà văn thường viết cho những điều bản thân mình muốn, nói ra một cái gì mà mình không thể nói ở lĩnh vực khác… tôi chỉ nghĩ: hãy tái tạo cho được cuộc sống của những người thân thiết Chia sẻ ấy cho thấy Lê Minh Khuê dường như

không lấy văn chương để lập công, lập danh Chị coi văn chương như một niềm yêu thích và lấy nó để giãi bày những chiêm nghiệm của bản thân, để tỏ bày cảm xúc với cuộc đời Một quan niệm giản dị như vậy đã làm nên một nhà văn chân chính

Trang 27

Tính tới thời điểm này Lê Minh Khuê có 6 tập truyện ngắn là: Cao điểm mùa hạ (1978), Truyện ngắn Lê Minh Khuê (1994), Trong làn gió heo may (1999), Một mình qua đường (2006), Lê Minh Khuê truyện ngắn chọn lọc (2002) và Những ngôi sao, Trái đất, Dòng sông (2008) 6 tập truyện ngắn này

đã cho thấy bút lực của Lê Minh Khuê, khả năng tái hiện hiện thực của chị và

cả tấm lòng mà nhà văn dành cho cuộc đời

Quan niệm nghệ thuật đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành

tác phẩm ở mỗi nhà văn Bởi như M Khrapchenco đã nói Chân lý đời sống trong tác phẩm nghệ thuật không tồn tại bên ngoài cái nhìn nghệ thuật có tính

cá nhân đối với thế giới vốn có ở từng nghệ sĩ thực thụ Quan niệm nghệ thuật

cũng có sự vận động chứ không đứng yên, nó thay đổi phụ thuộc vào nhận thức của nhà văn về đời sống Trước 1975, Lê Minh Khuê là thanh niên xung phong, là phóng viên chiến trường, chị trực tiếp sống trong không khí của chiến trận nơi tuyến đầu Cũng như hầu hết các nhà văn thế hệ mình, Lê Minh Khuê tin tưởng vào con đường mình lựa chọn, có cái nhìn lạc quan và mong muốn tái hiện lại hiện thực ấy một cách chân thực và mộc mạc như nó vốn có

Lê Minh Khuê mang trong mình tâm thế của cả một thế hệ sẵn sàng hiến dâng tuổi thanh xuân của mình cho tổ quốc Với tâm thế và cái nhìn hiện thực như vậy, tác phẩm của chị là sục sôi nhiệt huyết tuổi trẻ, là ngợi ca với cảm hứng lãng mạn Con người trong sáng tác của Lê Minh Khuê lúc đó cũng hiện ra ở một chiều kích khác thường, lớn lao và mang vẻ đẹp lý tưởng Đó là những con người của tập thể, của cộng đồng, mang những phẩm chất tốt đẹp, đại diện cho cả một thế hệ, một dân tộc

Sau 1975, Lê Minh Khuê ý thức được sự thay đổi của đời sống và văn chương, ý thức được nhiệm vụ mới của nhà văn Chị quan niệm nhà văn không chỉ tái hiện lại hiện thực mà còn phải tỏ bày những suy nghĩ, quan điểm và cách xử lý với các tình huống hiện thực đó Trong bối cảnh xã hội lúc

Trang 28

này, Lê Minh Khuê càng quan tâm nhiều hơn tới thân phận con người Chị

từng chia sẻ: đáng mơ ước là thứ văn chương viết thật hay về mối quan hệ giữa những con người Chị cho rằng nhà văn cần nỗ lực: thoát được cái chủ nghĩa tình cảm…tránh được thói biện luận dài dòng và tránh cái nhìn thiển cận Những chia sẻ đó cho thấy Lê Minh Khuê là một nhà văn cẩn trọng,

nghiêm túc, yêu nghề và yêu người Tình yêu đối với nghề văn và tình yêu với con người đã là động lực để nhà văn dấn thân vào hành trình cầm bút một cách nhiệt thành và nghiêm túc nhất Với một quan niệm như vậy, Lê Minh Khuê đặt con người trong các mối quan hệ xã hội, không nhìn một chiều với soi chiếu từ giai cấp đơn thuần Nhà văn cũng trả con người trở lại với đời sống cá nhân để khám phá đủ đầy hơn những mặt khác nhau của con người đời thường Lê Minh Khuê gay gắt với các ác cũng như vô cùng trân trọng và nâng niu cái đẹp Thế nên mỗi trang văn của chị như chứa đựng biết bao tình yêu thương, tin tưởng ở con người Nhìn hiện thực trong trạng thái “chưa hoàn tất”, Lê Minh Khuê đã khám phá ra một chiều sâu khác của hiện thực

Vì vậy các tác phẩm của chị không chỉ có giá trị hiện thực mà còn có giá trị nhân văn, nhân bản sâu sắc

Có thể khẳng định, Lê Minh Khuê là một cây bút truyện ngắn xuất sắc

của văn học Việt Nam hiện đại, đặc biệt là của giai đoạn sau 1975

1.3.2 Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ

Nguyễn Thị Thu Huệ sinh năm 1966, sinh sống và làm việc tại Hà Nội Chị tốt nghiệp khoa Văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội Nguyễn Thị Thu Huệ được coi là một trong những cây bút nữ xuất sắc của văn chương đương đại với nhiều tác phẩm được đánh giá cao Các tập truyện ngắn đã được xuất

bản của Nguyễn Thị Thu Huệ có thể kể đến là: Cát đợi, Phù thủy, Hậu thiên đường, Nào ta cùng lãng quên, 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, Thành phố đi vắng,… Ngoài ra còn có các tập truyện in chung với các tác giả khác

Trang 29

Chị cũng từng gặt hái được các giải thưởng như: Giải thưởng truyện ngắn của Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội năm 1986, Giải nhì cuộc thi truyện ngắn do báo Tiền phong tổ chức năm 1993, Giải thưởng Hội nhà văn năm 1994, 2012,…

Nguyễn Thị Thu Huệ có mẹ là nhà văn Nguyễn Ngọc Tú Người mẹ yêu văn chương đến độ ngay đến cái tên của con gái cũng đặt theo tên của một nhân vật trong truyện ngắn của bà Đó chính là một may mắn cũng là một

áp lực đối với nữ nhà văn trẻ Từ bé chị đã có đam mê với nghệ thuật nhưng không phải là văn chương mà là hội họa Cuộc đời đưa đẩy, khi vừa mới tốt nghiệp khoa văn trường Đại học Tổng hợp chị đã có hai tác phẩm gây được

sự chú ý của dư luận thời bấy giờ là Mưa trái mùa và Mùa hoa sấu rụng đăng

trên báo Văn nghệ Sau đó, sự nghiệp sáng tác của chị bị ngắt quãng bởi việc kết hôn rồi sinh con như bao người phụ nữ khác Khi quay trở lại với công việc, Nguyễn Thị Thu Huệ từng làm biên tập viên sân khấu cho tạp chí Văn hóa nghệ thuật Tưởng chừng cuộc đời cứ bình yên mà trôi qua như thế Nhưng rồi Nguyễn Thị Thu Huệ như bước vào một cơn “lên đồng” với những

ý tưởng dồi dào và phong phú Chị quay lại với việc viết văn bằng những

truyện ngắn xuất sắc như Hậu thiên đường, Cõi mê,… Sau này, không chỉ viết

truyện, chị còn làm cho hãng phim truyền hình trong tư cách một nhà biên kịch Đến nay, đã có nhiều bộ phim được chuyển thể từ các truyện ngắn của chị và được khán giả đón nhận, giành những giải thưởng cao trong các liên hoan phim truyền hình Giống như một nhánh rẽ cuộc đời, hiện Nguyễn Thị Thu Huệ đang giữ những vai trò khác nhau ở nhiều lĩnh vực chứ không chỉ riêng văn chương như Giám đốc kênh truyền hình VTC9, Phó ban thư ký Biên tập VTV, Chủ tịch hội đồng nghiệm thu kịch bản phim xã hội hóa của VTV,… Nhưng có lẽ tình yêu với văn chương chưa bao giờ mờ nhạt đi trong chị

Trang 30

Chia sẻ về nghề viết, Nguyễn Thị Thu Huệ tâm sự: Văn chương luôn làm ấm lòng tôi Với tôi văn chương chưa bao giờ là những điều thần bí, chỉ đơn giản là một phần cuộc sống mà ai đã trót mang nặng khiếp người đều lấy

đó để cất bớt đi gắng nặng đa mang (Nguyễn Thị Thu Huệ - Người đẹp viết

văn, www.vantuyen.net) Chỉ riêng chia sẻ ấy thôi cũng đủ thấy tình yêu của Nguyễn Thị Thu Huệ với văn chương Chị coi đó như một niềm đam mê, một niềm hạnh phúc của cuộc đời mình Và với tình yêu ấy chị tin vào những điều

tốt đẹp văn chương có thể mang lại cho cuộc sống: nhiệm vụ của nhà văn theo tôi là gọi lại những niềm tin đã mất nơi con người (Nhà văn Nguyễn Thị Thu

Huệ: Gọi lại niềm tin đã mất, http://vnca.cand.vn ) Nguyễn Thị Thu Huệ cũng khẳng định: sức sáng tạo của nhà văn phải là vô cùng, không có chuyện chỉ bừng sáng ở một vài tác phẩm mà đã là một nhà văn chuyên nghiệp thì điều gì của hiện thực cũng có thể chuyển tải vào tác phẩm của mình Suy nghĩ

về văn chương, Nguyễn Thị Thu Huệ cho rằng thứ quan trọng làm nên linh hồn của mỗi tác phẩm đó là chất văn Nó không cần điệu đà quá nhưng cũng không được khô cứng quá; nó phải vừa đủ vị để hấp dẫn được bạn đọc Chị cũng thể hiện khát khao luôn được làm mới mình, luôn tìm tòi và sáng tạo không ngừng Chị cho rằng cách tân đơn giản là làm sao để người đọc đọc xong một tác phẩm phải thấy thích Với những quan niệm đúng đắn như vậy, Nguyễn Thị Thu Huệ đã tìm thấy cho mình một con đường đi tới trái tim của độc giả

Là một nhà văn nữ trẻ, một người đẹp viết văn, Nguyễn Thị Thu Huệ

có những thành công, có những trăn trở Trong văn chương của chị ta thấy rõ cái sắc sảo, trí tuệ của một người thông minh, cái đằm thắm nữ tính của môt người phụ nữ Có lẽ vì vậy mà ngay cả khi viết về những vấn đề nóng bỏng nhất của hiện thực, Nguyễn Thị Thu Huệ vẫn khiến người đọc rưng rưng trong những xúc cảm về lòng nhân hậu và tình yêu thương con người Bị ám

Trang 31

ảnh bởi những đổi thay của đời người, của xã hội khi nhân tính con người đang dần bị đánh mất, Nguyễn Thị Thu Huệ đã dùng ngòi bút của mình để tái hiện lại hiện thực đó và cũng là để nói lên tiếng nói yêu thương con người, yêu thương cuộc đời

cá nhân, con người đời thường, con người với đủ đầy cả đời sống vật chất, tinh thần và tâm linh… Sự thay đổi ấy đã tạo nên một diện mạo hoàn toàn mới cho văn chương đương đại

Từ sự thay đổi đó, nhân vật tha hóa xuất hiện ngày càng nhiều trong văn chương sau 1975, đặc biệt là ở văn xuôi Các nhà văn đã miêu tả những nhân vật tha hóa ở đủ mọi tầng lớp xã hội, với những gương mặt đa dạng và phong phú Họ ở trong vai nạn nhân mà cũng ở trong vai những kẻ tội đồ

Chúng tôi cũng đã giới thiệu khái quát về hai nhà văn Lê Minh Khuê và Nguyễn Thị Thu Huệ Chúng tôi không đi sâu vào tiểu sử của họ mà chú ý tới quan điểm sáng tác, quan điểm về con người Đánh giá chung về vai trò và vị trí của họ đối với văn chương đương đại từ đó mở ra cách nhìn cho các phần sau

Trang 32

CHƯƠNG 2 CÁC BIỂU HIỆN CỦA SỰ THA HÓA TÍNH CÁCH CON NGƯỜI

TRONG TRUYỆN NGẮN NỮ

Nếu nhân vật tha hóa của F Kafka một ngày kia tỉnh dậy bỗng thấy mình biến thành một con vật khổng lồ, dần dần mất đi các mối quan hệ xã hội, nhân vật tha hóa của A Camus thấy mình xa lạ và dửng dưng với mọi thứ trên đời thì nhân vật tha hóa trong văn chương đương đại Việt Nam có lẽ giản dị và gần gũi hơn Đó chính là những con người đang dần xấu xí đi, dần đánh mất mình trong một xã hội đang có nhiều thay đổi và đảo lộn Con người phải đối mặt với chính mình, đối mặt với một phần người khác trong mình Con người còn bị xô đẩy bởi một xã hội coi trọng những giá trị vật chất Chỗ dựa cho con người như tình yêu, gia đình, đạo đức lại đang bị lung lay, đang bị xói mòn, đang bị đảo lộn bởi nhiều thang giá trị mất đi Trong cuộc chiến đời thường như vậy, con người đã đánh mất đi không ít những bản tính nhân văn đẹp đẽ của mình

Hướng tới những con người đời thường, miêu tả những vấn đề của cuộc sống, truyện ngắn có một lợi thế là nó tạo ra được những tình huống độc đáo

và cô đọng thể hiện sâu sắc một lát cắt của hiện thực Trong truyện ngắn, nhân vật không được hoặc ít được tái hiện trong một quá trình tha hóa mà phần lớn được gợi ra trong trạng thái tha hóa Do đó nhà văn có điều kiện xoáy sâu hơn vào thực trạng xã hội, vào những điều bức xúc, nhức nhối nhất Nguyễn Thị Thu Huệ và Lê Minh Khuê có những cách tiếp cận hiện thực khác nhau, có những cách xây dựng nhân vật khác nhau Nhưng cả hai nhà văn đều có chung một điểm là nhìn thẳng vào hiện thực, đi sâu phát hiện và khám phá ra bản chất thật của con người Nhìn thấy những điều chưa tốt đẹp, nhìn thấy cái xấu nhưng cũng trân trọng cái đẹp, nâng niu cái đẹp và ẩn sau

Trang 33

trang văn luôn là tình yêu thương, niềm tin tưởng dành cho con người Do đó nhân vật tha hóa trong sáng tác của hai nhà văn chính là tiếng chuông cảnh tỉnh đối với xã hội, là một cái nhìn phản biện sâu sắc và trách nhiệm Họ lấy việc viết về cái xấu như một cách để bảo vệ cái đẹp chứ không phải là để hạ nhục con người

2.1 Những biểu hiện của tha hóa bên trong tính cách nhân vật

2.1.1 Sự thui chột của lương tâm, đạo đức, trí tuệ

Con người là một thực thể sống động, là kết quả của sự kết hợp hoàn chỉnh và phức tạp giữa nhiều yếu tố Trước tiên, trong con người có phần bản năng, có đời sống sinh học như bao giống loài khác trên trái đất Con người không thể chối bỏ bản năng đó của mình Những tập tính sinh học, những nhu cầu chính đáng của cơ thể cần được tôn trọng và đáp ứng đúng mức Nhưng con người không chỉ có phần bản năng đó, không chỉ có phần con mà còn có phần người với nhiều mặt khác nhau của đời sống Con người không thể chối

bỏ bản năng nhưng cũng có thể điều khiển nó, thể hiện nó một cách văn minh

và văn hóa nhất Đời sống xã hội tồn tại song song với đời sống sinh học Để phân biệt con người với những loài vật khác, người ta đã chỉ ra rằng đó là vì con người có tư tưởng, có tư duy, con người có lương tâm, đạo đức và trí tuệ

Đó chính là những yếu tố để duy trì con người trong tư cách người được hiểu theo nghĩa chân chính và cao đẹp nhất Đó cũng là những điều đáng quý nhất của con người Tuy nhiên đó lại không phải là những giá trị vững bền, vĩnh hằng một cách tuyệt đối Lương tri, đạo đức và trí tuệ của mỗi con người phụ thuộc vào nhiều yếu tố và có sự biến đổi trước những tác động cả từ bên ngoài

và bên trong chủ thể

Bối cảnh xã hội Việt Nam những năm sau chiến tranh là một hoàn cảnh

xã hội phức tạp Trong chiến tranh, dù gian khó nhưng con người dường như

bị cuốn vào bầu không khí chung, dù đói nghèo nhưng lạc quan và có niềm

Trang 34

tin xã hội lớn lao, dù phải đối mặt với mất mát hi sinh nhưng có động lực và lòng yêu nước vững vàng Thế nên dù chiến tranh là một bối cảnh đặc biệt đã tước đi của con người biết bao hạnh phúc đời thường và bình dị nhưng con người dường như lại không bấn loạn, không hẫng hụt, chênh chao Những năm sau chiến tranh, dường như chỗ dựa tinh thần ấy dần yếu đi, nhật đi, mất

đi Kết thúc chiến tranh rồi mà những niềm đau còn dai dẳng, đời sống vẫn khó khăn và dường như càng đói kém, khó khăn hơn, giàu nghèo có khoảng cách ngày một dãn xa hơn Người ta không thể cùng nhau “tiếng hát át tiếng bom” được nữa Đặc biệt, khi bước vào thời kỳ đổi mới, nền kinh tế thị trường buộc chúng ta phải mở cửa mà căn cốt chưa vững vàng thì cuộc va chạm lớn giữa các nền văn hóa khiến một bộ phận người dân không còn giữ được những bản chất cốt lõi tốt đẹp của mình, khiến nhiều giá trị trở nên chênh chao, khiến con người cô đơn và hoảng hốt Chỗ dựa vững chắc về tinh thần, niềm tin xã hội không còn, tác động của ngoại cảnh lại mạnh mẽ nên sự tha hóa của con người dường như là tất yếu

Nguyễn Thị Thu Huệ đã tái hiện được hình ảnh con người tha hóa đó

một cách riết dóng và đau đáu Xmen trong truyện ngắn Xmen có mùi trường đua xuất hiện trong mối quan hệ với nàng vốn là gái làng chơi Xmen không

giống những người đàn ông khác nàng đã gặp mà là người đàn ông duy nhất nàng thấy sạch sẽ và nguyện theo Xmen về ở một nhà Nửa đầu câu chuyện khiến người ta cứ nghĩ nhân vật tha hóa ở đây chính là nàng Một cô gái mới học hết cấp 1, thả trôi số phận mình trong nghề bán thân Tác giả không hề đả động gì tới nguyên nhân đưa nàng vào con đường này, thậm chí không tên riêng, nàng giống như biết bao cô gái bán hoa khác ta gặp trên đời mà thôi Khác chăng nàng có những quy định riêng của mình, có đối tượng khách riêng của mình, vẫn cố giữ lấy một cái gì đó dù chơi vơi lắm Đọc đến hết câu chuyện người ta mới giật mình Bởi nhân vật mà người ta tưởng là sạch sẽ

Trang 35

kia, nhân vật duy nhất nàng thấy nhớ, thấy muốn gặp lần thứ 2 kia mới thực là một con người mất hết lương tri của con người Xmen đã giết người, giết cô gái bên bờ biển đêm nào, giết một chàng trai tên Tuyên từng theo đuổi nàng Giết người chẳng vì một lý do gì đặc biệt và khinh khủng hơn là cái cách mà Xmen thản nhiên nói về tội ác của mình mới khiến người ta bàng hoàng về lương tri và nhân cách con người

“Có nghĩa là không phải anh giết người một lần mà là nhiều lần?”

“Không nhớ nhiều thế nào Mà này, anh phải làm hay nói thế nào, em mới chịu tin là anh giết cô gái trôi ngoài biển ấy nhỉ?” [20, 20]

Con người phải tha hóa tới mức nào, phải đánh mất đi lương tri tới mức nào thì mới có thể nói về tội ác một cách thản nhiên như thế Xmen nói về việc hắn giết người như thể nói về việc người ta giết một con gà, con vịt, như không may mảy có cảm xúc, không sợ hãi, không ăn năn, không nao núng, không giấu diếm Đến câu kết thoại cuối cùng, câu kết thúc của truyện ngắn, người đọc như hoảng hốt thất thần về lương tri và đạo đức của con người

Trong một truyện khác Nguyễn Thị Thu Huệ đã để nhân vật của mình

phát ngôn: Người tốt chịu khổ là đúng Không muốn chịu khổ thì phải tranh

cướp, giằng giật Cướp giật đến hết khổ thì thành người xấu Thế thôi (Nào ta

cùng lãng quên) [20, 531] Dường như sống ác, sống ngoài đạo đức và lương

tri đã trở thành điều tự nhiên mà không ai còn phải thấy phẫn nộ, không ai còn thấy xa lạ, người ta chấp nhận nó như một thói quen trong cuộc sống hàng ngày Cũng giống như trong văn học phi lý đầu thế kỉ XX trên thế giới, khi con người không thấy “buồn nôn” trước cái phi lý, dưng dửng với cái phi

lý thì con người bị tha hóa đến tận cùng Ở đây, khi con người đã quen với các ác, cái xấu, chấp nhận nó như điều hiển nhiên thì con người đã tự đánh mất tất cả những gì tốt đẹp nhất của mình

Trang 36

Nguyễn Thị Thu Huệ đã tái hiện hình ảnh con người hiện đại không còn biết e dè, kiêng sợ trước đạo đức và lương tri của chính mình My trong

Thiếu phụ chưa chồng có thể thản nhiên cướp đi chính người chồng của chị

mình, cô có thể thơ ờ trước cái chết của chị gái mà coi như chẳng có chuyện

gì xảy ra Con người có thể tàn nhẫn lọc lừa với cả chính người thân của mình, có thể thản nhiên trước đau khổ của người thân, thậm chí cả tính mạng của họ thì còn bao nhiêu là lương tâm trong đó? My đã dám bất chấp những khuôn phép đạo đức mà con người đã đề ra, dẫu bị chị nhắc nhở đó là sự

“loạn luân” cô cũng không cần Đạo đức đã trở thành một thứ dễ bị chà đạp nhất trong xã hội kim tiền hôm nay chăng? My không đi theo tình yêu, không

vì tình yêu và hạnh phúc của bản thân mà từ bỏ tình thân và đạo đức Nếu cô

vì tình yêu người ta còn có lý do để cảm thông dù cũng chẳng dễ dàng gì chấp nhận Thứ mà My mang ra để đánh đổi với danh dự, đạo đức và lương tri của mình, của nhưng người thân chỉ là sự tham lam, ích kỉ và tham vọng Nguyễn Thị Thu Huệ đã cảnh báo cho chúng ta về một xã hội đã tha hóa đến thế, về con người đã xấu xí đến thế! Trong mỗi câu chuyện của nhà văn dường chứa đựng biết bao lo lắng, bất an cho những kiếp người nơi trần thế!

Trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ, chúng ta còn bắt gặp những con người không còn sống theo những chuẩn mực của đạo đức của lương tri mà đánh mất đi chính mình, mất đi hạnh phúc của mình Mức độ tha hóa ở họ khác nhau: có người là nạn nhân, có người là tội đồ, có người chỉ là chênh chao đang bị xô đẩy, có người đã trượt dài trong những cám dỗ của cuộc sống Khi con người không giữ lấy cho mình “cái lề” thì dường như cái đầu tiên đổ vỡ là gia đình Gia đình vốn là một cấu trúc bền chặt của xã hội; vậy mà nay nó bị đánh vỡ, bị bật tung bởi người ta không còn coi trọng sự chung thủy và đạo lý vợ chồng Và sự bất hạnh trong một gia đình chính là

Trang 37

mầm mống cho sự bất an của toàn xã hội Khi đạo đức của mỗi cá nhân suy đồi thì đạo đức xã hội cũng không còn được bao nhiêu giá trị

Các câu chuyện của Lê Minh Khuê không gay gắt đến tận cùng cái xấu như Nguyễn Thị Thu Huệ nhưng tác giả cũng không né tránh hiện thực, bằng trực giác nhạy bén và sắc sảo của mình, nhà văn đã tái hiện được một cuộc sống chân thực với những gương mặt người đang dần tha hóa Ở một ngõ nhỏ nào đó giữa các thành phố hiện đại đang có những kiếp người nhỏ nhoi sống qua ngày Trong ngõ nhỏ đó có những con người giàu có, có trí thức, làm cán

bộ, cũng có những con người số phận bất hạnh mẹ góa con côi, tật nguyền

khiếm khuyết, có cả những người ngoại quốc với những đồng đô la (Ký sự những mảnh đời trong ngõ) Có một lần, vì say rượu mà tên ngoại quốc

phóng xe máy làm chết cô Tí con gái bà Tít Hai mẹ con bà vốn không nhà cửa sống lang thang, cô vừa câm lại vừa dở hơi, một lần bị hãm hiếp giờ lại còn mang cái thai vài tháng trong bụng Rồi cô chết! Cái chết mang lại cho bà

mẹ một cơ hội đổi đời, vừa thoát được “cục nợ” chẳng phải lo ngày mai nuôi con nuôi cháu bằng gì bà vừa có chục triệu mua lấy mảnh đất, làm cái tủ kính bán hàng tạp hóa Bà lại còn được anh tây tặng thêm cái dây chuyền ba chỉ

mà đeo trên cổ Vậy là cái chết của cô gái tội nghiệp đến không thể tội nghiệp hơn trở thành niềm vui và hạnh phúc của bà mẹ cô ấy Có thể ngày mai bà Tít lại được một ông nào để ý đến thì sao? Có thể lắm chứ! Đến giờ qua lại các quán của bà đã vài người để mắt hơn rồi Nhưng chuyện chẳng dừng lại ở sự vui mừng như thế Nhà anh Tó kia thấy câu chuyện đó mà thèm thuồng Nhà anh có ông bố già, tai điếc, cần người chăm sóc Anh không thể bỏ vợ, chẳng thể làm gì khi ông bố còn đó, còn cần bàn tay của vợ anh Thế nên anh chỉ mong thằng Tây lại có dịp uống say trở về nhà mà đâm phải ông cụ Cái mong ước ngấm ngầm của hai vợ chồng khiến họ lại thành những kẻ đồng

Trang 38

lòng với nhau Thế nên hàng ngày họ mang ông cụ ra ngồi trước cửa đợi chờ

“cơ hội” không may xảy ra

Đêm đêm hai vợ chồng cùng nghĩ tới mụ Tít Ước gì được như mụ Tít, bỗng dưng vứt bỏ cái của nợ, đã nhẹ cả mình lại cầm tiền triệu trên tay Nhà này đã giàu rồi Nhưng nếu được thêm chục triệu như mụ Tít thì ai dám chê?

Gì chứ nếu mả nhà mình phát, thằng Tây say rượu có xồ vào ông bố 90 nhà mình, chục triệu mình không thèm Phải hơn phải gấp đôi Bọn Tây giàu lắm… và cái chính là cắt được hộ khẩu một cách hợp lý Nhà cửa thế này mà sặc mùi nước đái người già! Ôi, số kiếp đâu mà khổ thế? [22, 135]

Đọc cái suy nghĩ, toan tính của một người con về sự sống của cha mình

ôi chao mà buồn, mà cay đắng, mà thương xót cho phận người Ta như thấy lại đâu đây cái hoạt cảnh của những năm đầu thế kỉ XX được Vũ Trọng

Phụng miêu tả trong Số đỏ ngày nào Vâng hẳn đó là hạnh phúc, một thứ hạnh

phúc của tang gia Cả nhà cụ cố tổ ngày xưa cũng mong cụ chết biết nhường nào Thế nên khi Xuân Tóc Đỏ tiết lộ cái tin động trời khiến ông Cụ đau buồn

mà chết thì từng người trong đám con cháu đều vui mừng, đều thầm biết ơn ông Xuân biết bao Ở đây ta cũng bắt gặp những chân dung con người như thế Chẳng biết họ còn là người nữa không khi mang cả sự sống của người thân ra làm vật trao đổi để thu lợi cho mình Chẳng biết đạo đức, lương tri còn

ở đâu khi con cái mong bố mẹ chết, mà còn góp phần làm cho cái chết ấy đến nhanh hơn Hai vợ chồng nhà Tó hàng ngày đều bê ông cụ mà vứt ở cửa, như chờ đợi, như hi vọng cái tai nạn vô tình kia giải quyết cái “cục nợ” cho mình Tai nạn có thể là vô tình nhưng những toan tính của con người thì đâu có vô

ý Họ tính toán và chờ mong, họ đồng lòng và hi vọng Sự tha hóa đã đến cùng cực, đã theo cả bầy đàn chẳng loại trừ một ai Bà Tít bị đẩy vào tới đường cùng nghèo khó đã đành Đây chỉ vì để bản thân được thoải mái, vì sự tha lam toan tính mà người ta đang bày trò để giết chết bố mình Đó chính là

Trang 39

hồi chuông gay gắt nhất nhắc nhở chúng ta về lương tri và đạo đức con người trong xã hội hiện đại

Nếu trong Ký sự những mảnh đời trong ngõ, người ta mới bàn mưu,

toan tính và mong chờ cái chết của người than, người ta vẫn chưa đủ sức để

trực tiếp ra tay nên chờ mong vào một cái tai nạn nào đó, thì trong Đồng đô la

vĩ đại, con người đã bị tha hóa tới mức dám cầm dao đâm chết những người

thân của mình, dám tước đi mạng sống của một người phụ nữ đang mang thai Người còn sống kẻ đi tù, kẻ hóa điên nhưng chẳng ai ân hận day dứt về những điều đã xảy ra Cơ sự cho cả một gia đình rơi vào tan vỡ và bi kịch cũng chỉ vì đồng tiền Họ có một đứa em tật nguyền vốn dĩ chẳng ai nhòm ngó tới Vậy

mà giờ ai nuôi đứa em thì được 100 đô mỗi tháng Vậy là họ tranh nhau, họ cãi chửi nhau rồi cuối cùng là giết nhau để tranh phần nuôi dưỡng, tranh phần hưởng lợi Trước một đứa em tật nguyền Khang và An hoàn toàn vô cảm Họ không yêu thương cũng chẳng quan tâm chăm sóc Nhưng bi kịch bắt đầu khi đứa em mang lại lợi ích, mang lại đồng tiền Vậy là quyền lực tối cao chi phối hành động không phải là lương tri, nhận thức, đạo đức và pháp luật mà là đồng tiền Vì đồng tiền họ sẽ bất chấp tất cả, vứt bỏ tất cả dù đó có thể là tình thân, có thể là nhân phẩm của mình Cầm đao đâm chết em và cháu mà An chẳng run tay Cánh – Vợ An sau khi chồng đi tù, trước cảnh gia đình nhà Khang người mất, người hóa điên, hai đứa con côi cút cũng thờ ơ không chút

áy náy, thương tâm Con người khi đã quen với cái xấu, sống cùng với cái xấu thì không còn hiểu thế nào là đạo đức, thế nào là tình thương nữa Lê Minh Khuê đã miêu tả chân thực cuộc sống của những người lao động với trình độ dân trí thấp, với những tham lam tới độ tàn ác Chúng ta như thấy đâu đây một không khí u mê, bạo lực của lòng tham và tội ác

Ta như thấy sự gặp gỡ của Nguyễn Thị Thu Huệ và Lê Minh Khuê trong cách tái hiện đời sống Các nhà văn đều thống nhất ở chỗ họ nhận ra

Trang 40

rằng, con người nếu chỉ là chạm tay vào cái xấu, nếu chỉ vô tình mà dung túng cái xấu, nếu chỉ bị xô đẩy mà sa ngã thì còn chưa đáng sợ, còn có thể cứu vãn Nhưng đến khi con người vứt bỏ đạo đức và lương tri, xóa nhòa ranh giới giữa tốt – xấu, thiện – ác thì lúc đó họ đã hoàn toàn đánh mất mình Không còn cách gì để cứu vãn khi con người không còn biết ăn năn, chẳng còn có ý thức về những việc mình làm, không còn biết sợ, biết dừng trước những giới hạn cho phép Như vậy, các nhà văn bằng ngòi bút của mình đã dựng lên chân dung của một kiểu người trong xã hội đương thời Họ đã vứt bỏ hoàn toàn lương tâm và những giá trị làm người của mình

Trong văn chương đương đại ta bắt gặp nhiều câu chuyện của sự tha

hóa Phạm Thị Hoài khi viết Thiên sứ đã cảnh báo về một xã hội mà con

người mất dần đi khả năng yêu thương nhau, mất dần đi cá tính, sống tù túng

về tư tưởng Hình ảnh con người trở nên tầm thường, hạn hẹp và xấu xí Chỉ còn lại bé Hon như một thiên sứ đến với cuộc đời nhưng lại vội vã ra đi, Hoài mãi mãi tuổi mười bốn để không phải trưởng thành và tha hóa như bao người xung quanh Chúng ta cũng bắt gặp những nhân vật tha hóa như một mẫu nhân vật nổi bật trong các sáng tác của Nguyễn Bình Phương, những con người không chỉ mất dần lương tri, trí tuệ mà còn mất dần cả hình dáng con

người như Tính trong Thoạt kỳ thủy, sống một cuộc sống vô nghĩa, chạy theo những bản năng như các nhân vật trong Người đi vắng, Ngồi,… Hay trong

cùng hàng ngũ các nhà văn nữ, chúng ta có Nguyễn Ngọc Tư với hình ảnh những con người Nam bộ trong những biến động của cuộc sống Nguyễn Ngọc Tư tưng tửng mà kể các câu chuyện cuộc đời, với các số phận đáng thương mà cũng đáng giận Các nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư dường như không ác Họ bị xô đẩy khỏi những nếp nhà, những giá trị nhưng không bị đẩy tới tận cùng sự tha hóa như ở nhân vật của Lê Minh Khuê và Nguyễn Thị Thu Huệ Như vậy kiểu nhân vật tha hóa là một kiểu nhân vật khá phổ biến ở giai

Ngày đăng: 06/06/2017, 16:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Thùy Anh (2007), Phái tính trong thơ nữ sau 1975, Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phái tính trong thơ nữ sau 1975
Tác giả: Nguyễn Ngọc Thùy Anh
Năm: 2007
2. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
3. M. Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Trường Viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Năm: 1992
4. Nguyễn Thị Bình (2007) Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1995 những đổi mới căn bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1995 những đổi mới căn bản
Nhà XB: Nxb Giáo dục
5. Nguyễn Minh Châu (2006), Tuyển tập truyện ngắn, Nxb Văn học, Hà Nôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện ngắn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2006
6. Kim Dung, Đọc Hồi ức một binh nhì và Bến trần gian, văn nghệ quân đội 11/1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc Hồi ức một binh nhì và Bến trần gian
7. Trần Hữu Dũng (2004), Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản miền Nam. http://www.viet- studies.info Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản miền Nam
Tác giả: Trần Hữu Dũng
Năm: 2004
8. Phan Cự Đệ (2004), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
9. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
10. Hà Minh Đức, chủ biên, (2003), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức, chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
11. Nguyễn Văn Hạnh (2004), Chuyện văn chuện đời, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện văn chuện đời
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
12. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) (2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
13. Nguyễn Thái Hòa (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
14. Nguyễn Thị Thu Huệ (2006), 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 7 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Huệ
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2006
15. Nguyễn Thị Thu Huệ (1992), Cát Đợi, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cát Đợi
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Huệ
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1992
16. Nguyễn Thị Thu Huệ (1993), Hậu thiên đường, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hậu thiên đường
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Huệ
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1993
17. Nguyễn Thị Thu Huệ (1995), Phù thủy, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phù thủy
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Huệ
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1995
18. Nguyễn Thị Thu Huệ (2002), Mùa thu vàng rực rỡ (trong tập Hoa vông vang), Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mùa thu vàng rực rỡ" (trong tập "Hoa vông vang
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Huệ
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2002
19. Nguyễn Thị Thu Huệ (2003), Nào ta cùng lãng quên, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nào ta cùng lãng quên
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Huệ
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2003
22. Lê Minh Khuê (2002), Những dòng sông buổi chiều mưa, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những dòng sông buổi chiều mưa
Tác giả: Lê Minh Khuê
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w