Bởi thế, đã có không ít những công trình, bài viết tìm hiểu, nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại.…Việc tìm hiểu các tác phẩm viết về đề tài lịch sử rất có ý nghĩa bởi qua đ
Trang 1NGUYỄN THÚY HẰNG
ĐỀ TÀI LỊCH SỬ TRONG TIỂU THUYẾT
CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THÚY HẰNG
ĐỀ TÀI LỊCH SỬ TRONG TIỂU THUYẾT
CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS - TS Phan Trọng Thưởng
HÀ NỘI, 2016
Trang 3người đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Chân thành cảm ơn quý thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ văn, Phòng đào tạo - Phòng sau đại học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2; Viện Văn học Việt Nam, khoa Ngữ văn trường ĐHSP Hà Nội đã giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học
Xin chân thành cảm ơn, chia sẻ niềm vui này với những người thương yêu đã luôn bên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Hà Nội, tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thúy Hằng
Trang 4Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá
nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS - TS Phan Trọng Thưởng
Trong khi nghiên cứu luận văn, tôi đã kế thừa thành quả khoa học của các nhà
khoa học và đồng nghiệp với sự trân trọng và biết ơn
Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang web theo danh mục tài liệu
của luận văn
Hà Nội, tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thúy Hằng
Trang 5NỘI DUNG 13
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TIỂU THUYẾT VÀ TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ 13
1.1 Quan niệm về tiểu thuyết và tiểu thuyết lịch sử 13
1.1.1 Quan niệm về tiểu thuyết 13
1.1.2 Quan niệm về tiểu thuyết lịch sử 15
1.2 Đề tài lịch sử trong văn học Việt Nam 19
1.2.1 Đề tài lịch sử 19
1.2.2 Đề tài lịch sử trong văn học Việt Nam sau năm 1986 23
1.3 Đề tài lịch sử trong sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh 25
1.3.1 Hiện tượng Nguyễn Xuân Khánh trong văn học đương đại Việt Nam 25 1.3.2 Nguyễn Xuân Khánh và mối duyên nợ về đề tài lịch sử 27
Chương 233 LỊCH SỬ TRƯỚC CÁC SỰ LỰA CHỌN TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH 33
2.1 Lựa chọn sự kiện lịch sử 33
2.1.1 Lựa chọn giai đoạn lịch sử và lựa chọn vấn đề lịch sử 33
2.1.2 Lựa chọn, khám phá những sự kiện tiêu biểu của lịch sử 36
2.2 Sự lựa chọn nhân vật lịch sử 39
2.2.1 Khái niệm nhân vật văn học và nhân vật lịch sử 39
2.2.2 Nhân vật lịch sử trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh 43
2.2.3 Nghệ thuật khắc họa nhân vật lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh…… 55
2.3 Lịch sử trong mối quan hệ với các thành tố khác 67
2.3.1 Trong mối quan hệ với văn hóa, tư tưởng, tôn giáo 67
2.3.2 Trong mối quan hệ với bản thân cốt truyện và hệ thống nhân vật 68
Chương 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN TRONG TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ ĐỀ TÀI LỊCH SỬ CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH 70
Trang 63.1.2 Bố cục 71
3.1.3 Điểm nhìn và các cấp độ trần thuật 72
3.2 Thời gian và không gian 75
3.2.1 Thời gian 75
3.2.2 Không gian 79
3.3 Các thủ pháp nghệ thuật khác 93
3.3.1 Nghệ thuật kể chuyện 93
3.3.2 Ngôn ngữ đối thoại và độc thoại 99
3.3.3 Nghệ thuật hư cấu 107
KẾT LUẬN 122
TÀI LIỆU THAM KHẢO 127
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
không ít những cuộc chiến tranh và những cuộc cách mạng Trong thế kỷ này, người Việt Nam không chỉ tiến hành những cuộc chiến tranh kéo dài và khốc liệt để bảo vệ nền độc lập của dân tộc và sự toàn vẹn của lãnh thổ mà còn tiến hành những cuộc cách mạng xã hội với những biến cố lớn lao như công cuộc cải cách ruộng đất, cuộc cải tạo tư sản, hợp tác hoá nông nghiệp và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc sau năm 1954 và trên toàn quốc sau năm 1975 Những biến cố như vậy của lịch sử chất chứa những bí ẩn mà sử học và khoa học xã hội không dễ gì giải quyết trong một sớm một chiều Mặc khác, những cuộc chiến tranh và những biến cố xã hội đó đã gây ra những vấn đề nghiêm trọng đối với số phận của từng cá nhân người Việt Nam nói riêng cũng như số phận của cả dân tộc trong thời hiện tại nói chung Một di sản quá khứ như vậy trở thành nỗi ám ảnh đối với các văn nghệ sỹ, đặc biệt là đối với các nhà văn đương đại Việt Nam
1.2 Trong sự vận động chung của nền văn học, tiểu thuyết được coi là cỗ máy cái Việc thiếu vắng thành tựu của thể loại này là một chỗ trống đáng buồn cho bất cứ nền văn học nào trên thế giới, trong đó có Việt Nam Những tiểu thuyết viết về quá khứ luôn luôn luôn ở trong tâm điểm của đời sống văn chương và là bộ phận đạt được nhiều thành tựu nhất của văn chương Việt Nam đương đại Quay về với đề tài lịch sử, bằng cách đào sâu những tìm tòi
cá nhân và theo đuổi các sáng tạo cá nhân, nhà văn Việt Nam là người nói lên được những vấn đề mà lịch sử đặt ra với dân tộc của mình Tuy nhiên, điều quan trọng là đằng sau một hiện tượng văn chương có ý nghĩa cục bộ đó, ẩn chứa một cuộc cách mạng trong mối quan hệ giữa lịch sử và văn chương 1.3 Đời sống văn học nói riêng và nghệ thuật nói chung ở nước ta những năm đầu thế kỷ XXI chứng kiến sự phát triển nở rộ và thăng hoa của đề tài
Trang 8lịch sử Đặc biệt, tinh thần đổi mới từ sau 1986 đã thổi vào nền văn học một luồng sinh khí mới, phá tan đi sự "đơn điệu" trong tư duy nghệ thuật của văn học giai đoạn 1945-1975 Trong bầu không khí dân chủ ấy, nhà văn được "cởi trói", được thỏa sức sáng tạo với tài năng nghệ thuật của mình Bạn đọc được chứng kiến sự quy hồi và phục hưng đề tài lịch sử một lần nữa vào thập niên cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI với những sáng tác Hồ Quý Ly, Mẫu thượng
ngàn của Nguyễn Xuân Khánh, Tây Sơn bi hùng truyện của Lê Đình Danh, Bão táp Triều Trần của Hoàng Quốc Hải, Giàn thiêu của Võ Thị Hảo…So với giai đoạn đầu thế kỷ XX với Quả dưa đỏ (1925) của Nguyễn Trọng Thuật, Nặng gánh cang thường (1930) của Hồ Biểu Chánh, Vì nước hoa
rơi (1925), Lê Triều Lý thị (1931), Một đôi hiệp khách (1929), Việt Nam Lê Thái Tổ (1929) của Nguyễn Chánh Sắt, Tiếng sấm đêm đông (1928), Vua bà Triệu ẩu (1929) của Nguyễn Tử Siêu có sự khác biệt căn bản về quan điểm
lịch sử Văn học viết về đề tài lịch sử cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI không chỉ cách tân về ngôn ngữ, thể loại, chức năng (không còn viết truyện để tuyên truyền lịch sử, đạo đức) mà cái căn bản khác biệt nhất, chính là không lấy việc tái diễn giải “sự thật” lịch sử làm mục đích sáng tác của diễn ngôn văn chương Tức là, không xem việc sáng tạo văn chương là quá trình “diễn xướng”, “chuyển thể”, “cải biên” diễn ngôn lịch sử (có tính khoa học) thành diễn ngôn nghệ thuật Bởi thế, đã có không ít những công trình, bài viết tìm hiểu, nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại.…Việc tìm hiểu các tác phẩm viết về đề tài lịch sử rất có ý nghĩa bởi qua đó ta thấy được thái độ, đánh giá của tác giả trước một nhân vật lịch sử, một sự kiện lịch sử hay một triều đại lịch sử đã qua như thế nào; đồng thời việc tìm hiểu các tác phẩm này cũng giúp ta có cái nhìn mới về tiểu thuyết sau 1986 khi xử lý về đề tài lịch sử 1.4 Có thể nói, Nguyễn Xuân Khánh và tiểu thuyết lịch sử của ông có một vị trí không thể thay thế trong dòng văn học Việt Nam đầu thế kỉ XXI Là một "người lạ mới quen biết" trên văn đàn Việt Nam đương đại, nhà văn "lão
Trang 9thành" Nguyễn Xuân Khánh luôn mang đến cho người đọc một cảm giác mới
mẻ, một sự khác lạ, bất ngờ mỗi khi trình làng một tác phẩm mới Tác phẩm của ông không chỉ mở rộng đề tài, chủ đề theo hướng tiếp cận gần gũi hơn với hiện thực đời sống, đời tư thế sự, đời sống văn hóa tâm linh, mà qua đó, quan niệm về một số vấn đề thể loại và lịch sử cũng mang những màu sắc thẩm mĩ mới Lịch sử trong cảm nhận cá nhân, được nhà văn nhìn nhận bằng cái nhìn triết học và thụ hưởng trên tinh thần nhân văn hiện đại Đặc biệt, với hai cuốn
tiểu thuyết lịch sử Hồ Quý Ly và Mẫu thượng ngàn, Nguyễn Xuân Khánh đã
chứng tỏ tài năng sáng tạo, sự nỗ lực tìm tòi nhằm đổi mới tư duy nghệ thuật
tiểu thuyết Bởi thế, Hồ Quý Ly và Mẫu thượng ngàn đã được bạn đọc đón
nhận một cách nồng nhiệt suốt thời gian qua
Thực tế cho thấy, đã có rất nhiều công trình, bài viết đi sâu vào tìm hiểu, khám phá các giá trị trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh, song đi sâu tìm hiểu về đề tài lịch sử trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh để thấy được nét riêng trong phong cách tiểu thuyết lịch sử của ông trong bức tranh chung của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam hiện đại thì cho tới nay, điều đó vẫn
còn bỏ ngỏ Vì vậy, chúng tôi chọn vấn đề nghiên cứu: "Đề tài lịch sử trong
tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh" với mong muốn góp thêm một góc
nhìn mới về tiểu thuyết lịch sử của nhà văn trong xu hướng đổi mới tiểu
thuyết lịch sử sau 1986 Qua đó thấy được đóng góp của Nguyễn Xuân Khánh đối với tiến trình vận động của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Lịch sử nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử
Tiểu thuyết lịch sử là thể loại xuất hiện khá lâu trong văn học Việt Nam
và cũng là loại tiểu thuyết thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu
Trong cuốn Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã đề cập đến các tác giả như
Phan Trần Chúc, Đào Trinh Nhất, Nguyễn Triệu Luật, Trần Thanh Mại cùng các tác phẩm của họ Qua đó phân biệt khá rõ ràng giữa lịch sử, kí sự
Trang 10lịch sử và tiểu thuyết lịch sử Vũ Ngọc Phan cũng cho rằng "viết tiểu thuyết lịch sử, nhà văn chỉ phải căn cứ vào vài việc cỏn con đã qua rồi vẽ vời cho ra chuyện lớn, cất giữ cho mọi việc đừng trái với thời đại mà không phải là sự thật" Dường như, đây là công trình ít ỏi trước cách mạng tháng Tám bàn về
vấn đề thế nào là tiểu thuyết lịch sử
Trong luận án tiến sỹ chuyên ngành Ngữ văn có tựa đề Tiểu thuyết Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX đến 1945 - diện mạo và đặc điểm, tác giả
Bùi Văn Lợi đã đưa ra khái niệm: "Tiểu thuyết lịch sử là những tác phẩm mang trọn đặc trưng tiểu thuyết nhưng lại lấy nội dung lịch sử làm đề tài, làm cảm hứng sáng tạo nghệ thuật" Trên cơ sở so sánh với các tiểu thuyết giao thoa, tác giả đã khu biệt kiểu viết về lịch sử mới của tiểu thuyết đầu thế kỷ
XX và những đặc điểm của nó Tuy nhiên, định nghĩa đưa ra vẫn còn sơ sài
và chưa cụ thể
Giai đoạn đương đại của nước ta đang chứng kiến sự xuất hiện của một loạt tiểu thuyết lịch sử có tiếng vang, kể cả của nước ngoài được dịch sang tiếng Việt lẫn các tác phẩm của các nhà văn trong nước, trong đó có tác phẩm được tặng giải thưởng cuộc thi tiểu thuyết lần thứ nhất 1998-2000 của Hội
Nhà văn Việt Nam (Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh, trao giải năm
2000); giải thưởng “Bùi Xuân Phái - vì tình yêu Hà Nội” lần thứ nhất (2008)
của Quỹ Bùi Xuân Phái (bộ tứ tiểu thuyết Bão táp triều Trần của Hoàng Quốc
Hải [đến lần tái bản 2010 được bổ sung thêm hai tập]); giải thưởng hạng A
cuộc thi tiểu thuyết lần thứ ba 2006-2009 (Hội thề của Nguyễn Quang Thân,
trao giải năm 2010) Có thể nói không ngoa rằng tiểu thuyết lịch sử đang lên ngôi trên văn đàn Việt Nam Thế nhưng trong lĩnh vực lý luận thì chúng ta vẫn chưa quan tâm thỏa đáng đến mảng sáng tác này
Trong thời gian gần đây chúng ta đã được tiếp nhận một số công trình
dịch của văn học nước ngoài bàn về tiểu thuyết như: Bakhtin với Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư tuyển chọn, dịch và giới thiệu, Bộ Văn
Trang 11hóa, Thông tin và Thể thao - Trường Viết văn Nguyễn Du, Hà Nội 1992 In
lần 2: Nxb Hội Nhà văn, 2003); Bakhtin: Những vấn đề thi pháp của Đôxtôiepxki (Trần Đình Sử dịch, Lại Nguyên Ân và Vương Trí Nhàn giúp
dịch chương IV, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1993) Nhưng các cuốn sách này không bàn đến tiểu thuyết lịch sử Hội Nhà văn cũng đã tổ chức một cuộc Hội
thảo về Đổi mới tư duy tiểu thuyết ngày 07-11-2002 và sau đó có xuất bản một tập kỷ yếu mang tên Đổi mới tư duy tiểu thuyết (Nxb Hội Nhà văn,
2002), tuy nhiên trong đó các nhà văn và các nhà lý luận - phê bình cũng không đề cập đến tiểu thuyết lịch sử Trong bối cảnh đó, các cuốn sách tra
cứu cũng không nói được nhiều về tiểu thuyết lịch sử Cuốn sách Từ điển thuật ngữ văn học (2006) do các GS Lê Bá Hán, Trần Đình Sử và Nguyễn
Khắc Phi chủ biên, đã đưa ra một số nhận định khái quát về tiểu thuyết lịch
sử Trong cuốn sách này, các tác giả đã xếp "tiểu thuyết lịch sử" vào một mục
từ chung là "thể loại văn học lịch sử", và cho rằng tiểu thuyết lịch sử là "các tác phẩm văn học nghệ thuật, sáng tác về các đề tài và nhân vật lịch sử" Quan niệm này của cuốn sách đến lần tái bản mới nhất (2009) vẫn không có gì thay
đổi Trong cuốn sách 150 thuật ngữ văn học (2004) của Lại Nguyên Ân, tác
giả không đề cập đến tiểu thuyết lịch sử Còn trong các cuốn sách về lý luận văn học ở ta, các nhà lý luận chỉ bàn đến tiểu thuyết nói chung chứ không bàn riêng về tiểu thuyết lịch sử
Các công trình chuyên khảo mang tính lý luận về tiểu thuyết nói chung
và về tiểu thuyết lịch sử nói riêng còn rất thưa thớt Gần đây chúng ta mới có một số bài viết về tiểu thuyết lịch sử đăng trên các tạp chí, đó là các
bài: Những đóng góp của Nguyễn Tử Siêu cho loại hình tiểu thuyết lịch sử giai đoạn đầu thế kỷ (Nguyễn Huệ Chi, Vũ Thanh - Tạp chí văn học, 1996, số 5); Về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (Bùi Văn Lợi - Thông tin KHXH, 1998, số 1); Về tiểu thuyết lịch sử và vấn đề giảng dạy tiểu thuyết lịch sử trong nhà trường phổ thông (Bùi Văn Lợi - Nghiên cứu giáo dục,
Trang 121998, số 8); Mối quan hệ giữa tính chân thực lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (Bùi Văn Lợi - Tạp chí văn học, 1999, số 9) Và đặc biệt là chúng ta cũng đã có một số luận văn thạc
sĩ và luận án tiến sĩ về tiểu thuyết lịch sử, ví dụ như luận án tiến sĩ Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ 1945 đến nay của Nguyễn Thị Tuyết Minh (Viện Văn
học, Hà Nội, 2009) Nhưng nhìn chung, trong bối cảnh của nền văn học đương đại Việt Nam, khi mà tiểu thuyết lịch sử đang được giới sáng tác nhiệt tình hưởng ứng, thì giới lý luận gần như chưa quan tâm thoả đáng đến lĩnh vực này
Tuy nhiên có thể thấy, đứng về mặt quan niệm thể loại, các nhà nghiên cứu có một cái nhìn thống nhất cho rằng: tiểu thuyết lịch sử không phải là sự sao chép lịch sử như nó vốn có, nhà viết tiểu thuyết khác nhà viết sử bởi cái trục chính của hai từ tiểu thuyết vẫn là hư cấu Và những những tác phẩm được nhắc đến hầu hết là những tác phẩm khá mẫu mực của thể loại này,
nghĩa là vấn đề thể loại của nó được ngầm định là tiểu thuyết lịch sử như: Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh, Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, Sông Côn mùa
lũ của Nguyễn Mộng Giác
2.2 Lịch sử nghiên cứu tiểu thuyết viết về đề tài lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh
Nếu tính từ Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái thì tiểu
thuyết lịch sử là thể loại xuất hiện khá lâu trong văn học Việt Nam Nối tiếp mạch nguồn truyền thống, tiểu thuyết lịch sử đương đại có những tác phẩm gây được sự chú ý với người đọc Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, trong vòng sáu năm đã cho ra đời hai cuốn tiểu thuyết với dung lượng và chất lượng cao
là Hồ Quý Ly (dày 804 trang), Mẫu thượng ngàn (808 trang) đều ra năm 2006
Mỗi lần ra tiểu thuyết, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh lại khiến các đồng nghiệp sửng sốt vì cuốn nào cũng dày như… cục gạch
Trang 13Hồ Quý Ly và Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh xuất hiện trên văn đàn đã gây xôn xao dư luận và trở thành hiện tượng văn học nổi bật Hồ Quý Ly tái bản đến 9 lần, số lượng phát hành lên tới 2 vạn bản Cả Hồ Quý Ly
và Mẫu thượng ngàn đều đã giành được những giải thưởng danh giá Tiểu thuyết Hồ Quý Ly đạt giải thưởng trong cuộc thi tiểu thuyết năm 1998 - 2000
do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức, đạt giải của Hội Nhà văn Hà Nội năm
2000 - 2001, giải thưởng Thăng Long của UBND TP Hà Nội 2002 Mẫu thượng ngàn đạt giải thưởng tiểu thuyết Hội Nhà văn Hà Nội năm 2006
Những vấn đề mà nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đặt ra trong tác phẩm cũng
như những cách tân và đặc sắc nghệ thuật trong Hồ Quý Ly và Mẫu thượng ngàn đã trở thành mối quan tâm của đông đảo bạn đọc và các nhà phê bình,
nghiên cứu Qua các cuộc hội thảo, các tác phẩm đã được nhìn nhận ở nhiều phương diện, nhất là phương diện thể loại Nhà văn Hoàng Quốc Hải đã nhận xét: “Đây là một cuốn tiểu thuyết lịch sử viết rất nghiêm túc, bám sát chính sử Văn chương mượt mà, có sức cuốn hút, đọc hết 800 trang mà vẫn muốn đọc
lại” Lại Nguyên Ân trong bài Hồ Quý Ly đăng trên Tạp chí nhà văn số 6 năm
2000, đã nhận định: “Tác giả Nguyễn Xuân Khánh, vừa khai thác tối đa các nguồn sử liệu, văn liệu vẫn còn, vừa phóng khoáng trong những hư cấu tạo ra một thực tại tiểu thuyết vừa tương đồng với những thông tin còn lại về một thời đại đã lùi xa vừa in dấu cách hình dung và trình bày riêng của tác giả”
Trong bài viết “Hồ Quý Ly và những giải pháp mới cho tiểu thuyết lịch
sử nước nhà” nhà văn Trung Trung Đỉnh viết: sức hấp dẫn của tác phẩm
“không chỉ ở văn mạch mà cái chính là tác giả đã lựa chọn cho mình một thế đứng với tư thế của một nhà tiểu thuyết trên vấn đề hôm qua và hôm nay”
Tác giả Hoàng Cát trong bài Tiểu thuyết Hồ Quý Ly - thưởng thức và cảm nhận đã đánh giá cao cuốn tiểu thuyết này, coi đây là “một tác phẩm văn
học bề thế sâu sắc, hấp dẫn viết về một giai đoạn lịch sử phức tạp của dân tộc
- giai đoạn ruỗng nát của nhà Trần và nhân vật Hồ Quý Ly Ta đọc những
Trang 14trang văn rất đẹp lời, sâu sắc về ý, viết về lịch sử, viết về tình yêu đôi lứa của
đủ mọi hạng người, viết về nhân tình muôn thuở mà nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã bỏ công sức, tâm huyết hàng chục năm trời, lặng lẽ nhả kén cho đời”
Nguyễn Diệu Cầm trong bài viết Tiểu thuyết lịch sử đang hấp dẫn trở lại
nhấn mạnh đến tính chất hiện đại của ngòi bút Nguyễn Xuân Khánh Theo Diệu Cầm, tư duy hiện đại trong cách viết của nhà văn đã đem lại “khoái cảm thẩm mĩ” cho người đọc và tạo nên sức hấp dẫn: “Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh là tiểu thuyết lịch sử được viết với một phong cách hiện đại và sức hấp dẫn là ở tính hiện đại của một cuốn tiểu thuyết lịch sử”
Trong bài viết Hồ Quý Ly cách tân hay bạo chúa, Đỗ Ngọc Yên nhận
định: “Qua Hồ Quý Ly, Nguyễn Xuân Khánh không chỉ đem đến cho thể loại tiểu thuyết lịch sử một sinh khí, nâng vị thế của nó lên một tầm cao mới về nội dung, đề tài, chủ đề và hình thức thể hiện Nhưng theo tôi, với tiểu thuyết này Nguyễn Xuân Khánh đã vươn lên trên những sự kiện lịch sử, thổi vào đó luồng cảm xúc thẩm mĩ của chủ thể sáng tạo, làm cho các sự kiện ấy trở nên sinh động hơn, gây hứng thú cho bạn đọc” Tác giả bài viết đã khẳng định cách tân nghệ thuật quan trọng của Nguyễn Xuân Khánh Những cách tân đó
đã đem lại cho tiểu thuyết lịch sử một diện mạo mới, mang đậm dấu ấn cá nhân trong cách nhìn nhận lịch sử, lịch sử chỉ là một phương tiện để nhà văn sáng tạo tác phẩm nghệ thuật
Tác giả Thái Sơn trong bài viết Bài học canh tân trong tiểu thuyết Hồ Quý
Ly của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh cho rằng với cuốn tiểu thuyết này,
Nguyễn Xuân Khánh được xem là “một cây đại thụ” Bài viết nhận định: “Giữa lúc tình trạng văn học nước nhà rơi vào cảnh èo uột, không có tác phẩm nào
đáng kể thì Hồ Quý Ly như một cơn địa lớn chấn lớn khiến độc giả bừng tỉnh” Với bài viết Đọc Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh, tác giả Phạm
Toàn đã khẳng định “đây là tiểu thuyết đích thực” “Nguyễn Xuân Khánh
Trang 15không vì viết truyện lịch sử mà lệ thuộc vào sự việc, không rơi vào việc dùng tiểu thuyết chỉ để viết lại thông sử nước nhà theo một cách khác”
Tiếp tục nguồn mạch sáng tạo về đề tài lịch sử, năm 2006 Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh ra mắt bạn đọc Ngay sau khi tác phẩm ra đời
đã trở thành đối tượng thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình với
hàng loạt các bài viết như: Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân gian trong tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của Trần Thị An trên Tạp chí Văn học, số 6/2007; Bùi Kim Ánh với bài viết Đạo mẫu trong tiểu thuyết “Mẫu thượng ngàn” của Nguyễn Xuân Khánh (http://nguvan.hue); Sức quyến rũ của Mẫu thượng ngàn của tác giả Vũ Hà, (http://www.hoilhpn.org.vn); Mẫu Thượng Ngàn nội lực văn chương Nguyễn Xuân Khánh trong cuộc trao đổi giữa Việt báo với nhà nghiên cứu phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên; Nguyễn Xuân Khánh tuổi
74 và cuốn tiểu thuyết mới của tác giả Quỳnh Châu,
(http://vnca.cand.com.vn); Mẫu Thượng Ngàn – Cơ duyên của Nguyễn Xuân Khánh của Hoà Bình (http://www.vtc.vn); “Nơi bắt đầu Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh” trên báo Tiền phong cuối tuần, số 11/2007; “Nỗi đau lịch sử và sự đổi thay” của Yến Lưu (http://nhavan.vn); “Một cuốn tiểu thuyết thật hay về văn hoá Việt” của nhà văn Nguyên Ngọc trên Việt báo
Nhìn chung, các bài viết trên đều thống nhất ý kiến khẳng định thành công và
tài năng của Nguyễn Xuân Khánh trong Mẫu thượng ngàn khi tiếp tục khai thác đề tài lịch sử Bùi Kim Ánh nhận định: “Với tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã thực sự thành công khi dựng lại một
không gian văn hoá làng với hạt nhân là tín ngưỡng dân gian” Dương Thị
Huyền cho rằng: “Trước hết, có thể nói rằng đây (Mẫu thượng ngàn) là cuốn
tiểu thuyết có giá trị, nhất là khi nhà văn đã thể hiện một cách vô cùng độc đáo những nét đặc sắc về tín ngưỡng, phong tục tập quán của nền văn hoá Việt” Cũng theo tác giả Dương Thị Huyền thì “thể hiện những yếu tố về lịch
sử văn hoá cũng là một hướng đi mới cho tiểu thuyết Việt Nam” mà thành
Trang 16công của Mẫu thượng ngàn chính là một “sự mở đường” Nhà văn Nguyên Ngọc khi so sánh với Hồ Quý Ly trước đó cho rằng “Mẫu thượng ngàn còn dày dặn, bề thế, phong phú hơn cả cuốn Hồ Quý Ly từng gây xôn xao của anh
mấy năm trước”.“Bằng cuốn tiểu thuyết này, bằng khám phá này - tôi muốn nói vậy - Nguyễn Xuân Khánh một lần nữa khiến ta kinh ngạc vì bút lực còn dồi dào đến tràn trề và say đắm của anh”
Như vậy, có thể khẳng định rằng vấn đề chúng tôi nghiên cứu được triển khai bởi một cách tiếp cận mới Trong khuôn khổ giới hạn của luận văn, chúng tôi
muốn tập trung vào hai tác phẩm cụ thể của Nguyễn Xuân Khánh là Hồ Quý Ly
và Mẫu thượng ngàn để tìm hiểu, xác định những đặc điểm cơ bản của tiểu thuyết
Nguyễn Xuân Khánh; Qua đó hi vọng sẽ góp phần - dù nhỏ bé - trong việc hệ thống, tiếp thu, kế thừa những vấn đề về lý luận nói chung, tiểu thuyết về đề tài lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh nói riêng
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài này hướng tới các nhiệm vụ sau:
- Khảo sát hai tiểu thuyết tiêu biểu về đề tài lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh
- Dựa trên các mục tiêu khoa học của luận văn, triển khai nội dung nghệ thuật của từng chương
- Rút ra các kết luận về mặt khoa học
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Đề tài lịch sử trong sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh
Trang 17- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ khảo sát hai tiểu thuyết xuất sắc nhất
của Nguyễn Xuân Khánh là Hồ Quý Ly và Mẫu thượng ngàn Những tác
phẩm khác của Nguyễn Xuân Khánh, luận văn chỉ sử dụng để đối chiếu tham khảo và củng cố thêm nhận định của mình về hai tiểu thuyết xuất sắc nhất của ông Dĩ nhiên, việc khảo sát đề tài lịch sử trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh được chúng tôi đặt trong bối cảnh của tiểu thuyết Việt Nam hiện nay Văn bản tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh mà luận văn dựa vào để
khảo sát là: Hồ Quý Ly, Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội, 2006; Mẫu thượng ngàn, Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội, 2006
6 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai luận văn, chúng tôi sử dụng kết hợp một số phương pháp
nghiên cứu sau:
6.3 Phương pháp thống kê - phân tích
Khảo sát thống kê, phân loại, đi sâu vào từng phương diện về nội dung
và nghệ thuật của hai tác phẩm từ đó rút ra những đặc điểm của tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh
Trang 186.4 Phương pháp cấu trúc - hệ thống
Chúng tôi đặt các tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh trong
hệ thống tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ sau 1986 đến nay để thấy được quá trình vận động của tiểu thuyết lịch sử nước nhà và làm nổi bật những cách tân trong nghệ thuật viết tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh
6.5 Phương pháp tiếp cận thi pháp học
Tìm hiểu đặc điểm tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh ở góc
7.2 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được
triển khai trong ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về tiểu thuyết và tiểu thuyết lịch sử
Chương 2: Lịch sử trước các sự lựa chọn trong tiểu thuyết của Nguyễn
Xuân Khánh
Chương 3: Nghệ thuật tiểu thuyết về đề tài lịch sử của Nguyễn Xuân
Khánh
Trang 19NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TIỂU THUYẾT VÀ
TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ
1.1 Quan niệm về tiểu thuyết và tiểu thuyết lịch sử
1.1.1 Quan niệm về tiểu thuyết
So với các thể loại khác, tiểu thuyết xuất hiện muộn hơn Không những thế, nó "là một thể loại văn chương đang biến chuyển và còn chưa định hình" Việc nghiên cứu về thể loại tiểu thuyết là một yêu cầu chủ yếu, luôn có tính thời sự của lý luận văn học Vì vậy, đi tìm quan niệm tiểu thuyết cũng là vấn
Ở nước ta việc nghiên cứu thể loại tiểu thuyết xuất hiện khá sớm Những năm đầu thế kỷ thứ XX, ở miền Bắc bạn đọc được tiếp cận với công
trình Bàn về tiểu thuyết của Phạm Quỳnh trên tạp chí Nam phong năm 1921 Sau đó là các công trình chuyên khảo về tiểu thuyết: Theo dòng (1941) của Thạch Lam, Khảo về tiểu thuyết (1941) của Vũ Bằng Ngoài ra, còn có một số
công trình khác cũng bàn về một số vấn đề của tiểu thuyết
Trang 20Ở đô thị miền Nam, giai đoạn 1954 - 1975, việc nghiên cứu thể loại tiểu thuyết cũng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà lý luận phê bình với một
số công trình tiêu biểu như Nhân vật trong tiểu thuyết (Nhiều tác giả, Sáng tạo số 1/1960); Viết và đọc tiểu thuyết (Nhất Linh, Nxb Đời nay, 1961); Hiện hữu của tiểu thuyết (Lê Tuyên, Đại học số 4/1961 Ở các công trình này
nhiều vấn đề lý luận về tiểu thuyết được đặt ra với một cái nhìn đa diện, đa chiều như: Quan niệm về tiểu thuyết, nhân vật và phương thức xây dựng nhân
vật tiểu thuyết, cốt truyện trong tiểu thuyết
Nếu ở những giai đoạn trước, cách hiểu tiểu thuyết còn mang tính khái quát để chỉ chung cho tác phẩm văn xuôi dù đó là truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài thì ở giai đoạn này, khi sự phân định về mặt thể loại ngày càng
cụ thể hơn, khái niệm về tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1975 cũng được các nhà lý luận phê bình văn học đô thị miền Nam hiểu một cách rõ ràng, sát với đặc trưng thể loại Trong chuyên luận “xây dựng tác phẩm tiểu thuyết”, Nguyễn Văn Trung cho rằng: “yếu tính của tiểu thuyết là cái tưởng tượng, không thể kiểm chứng được” Đó cũng là quan niệm của Duyên Anh "Tiểu thuyết mà thiếu tưởng tuợng không phải là tiểu thuyết Và bắt buộc, nó khó lòng thoát lên cao Nó chỉ là đất trên mặt cỏ" Còn với Võ Phiến “tiểu thuyết
là công trình giả tưởng Màu trời, sắc nắng, cây, lá, gió, trăng, mọi hoạt động trong đó đều bịa đặt” Và theo Trần Văn Nam “Tiểu thuyết là truyện bịa đặt y như sự thật.” Tuy cách diễn đạt có khác nhau, song trong quan niệm của các tác giả trên đều thống nhất cho rằng yếu tính của tiểu thuyết là tưởng tượng,
hư cấu Nhưng tiểu thuyết có phải hoàn toàn là sản phẩm của tưởng tượng và
hư cấu? Điều ấy chúng ta sẽ tìm thấy câu trả lời trong quan niệm tiểu thuyết của lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam
Dù đề cao vai trò tưởng tượng và hư cấu của tiểu thuyết, nhưng các nhà
lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam cũng thấy được mối tương liên
Trang 21giữa tưởng tượng, hư cấu trong tiểu thuyết với hiện thực cuộc đời Vì vậy trong quan niệm của họ, nhà văn dẫu có hư cấu cũng phải trên cơ sở tôn trọng
sự thực đời sống Bởi lẽ ngoài việc phản ánh thực tại cuộc đời, tiểu thuyết còn phải phản ánh được thế giới thẳm sâu của tâm hồn con người và “giá trị của một cuốn tiểu thuyết là đi sâu vào tâm hồn người đời” Vì thế, nếu chúng ta mãi băn khoăn, tiểu thuyết phản ánh được bao nhiêu phần trăm sự thật ở đời, lấy đó làm căn cứ thẩm định giá trị tác phẩm tiểu thuyết thì vô hình trung làm nghèo thế giới nghệ thuật của tiểu thuyết và làm vơi đi thế giới tưởng tượng của người tiếp nhận Giá trị tiểu thuyết cần nhất là sâu sắc và “Sâu sắc chính
là ở chỗ mình diễn tả được tất cả những cái mông lung bí ẩn của tâm hồn”
Như vậy quan niệm về tiểu thuyết của lý luận phê bình văn học là một cái nhìn đa diện, đa chiều Tuy các ý kiến đều thống nhất cho rằng yếu tính của tiểu thuyết là tưởng tượng, hư cấu nhưng dù là tưởng tượng, hư cấu thì tiểu thuyết cũng phải tái tạo cuộc sống, phải mang hình bóng của cuộc đời Thoát ly cuộc đời, tiểu thuyết sẽ không còn là tiểu thuyết, sẽ đánh mất giá trị nhân bản; sẽ không thể sống trong lòng người đọc Vì từ trong ý thức sáng tạo, nhà tiểu thuyết “bao giờ cũng muốn trình bày những con người sống thực Mà con người sống thực bao giờ cũng có liên hệ chặt chẽ với xã hội, với quá khứ”
1.1.2 Quan niệm về tiểu thuyết lịch sử
Tiểu thuyết lịch sử là một trong những thể loại của văn xuôi lịch sử Đây là loại tiểu thuyết lấy các sự kiện, biến cố lịch sử làm đề tài Nói cách khác, đây là một phân loại nhỏ chia theo đề tài của thể loại tiểu thuyết
Trong những năm gần đây, tiểu thuyết lịch sử đã nhận được sư chú ý của các nhà văn cũng như nhiều nhà nghiên cứu Tuy nhiên, bàn về thể loại tiểu thuyết lịch sử, cho đến nay vẫn còn nhiều vấn đề gây tranh cãi
Trang 22Trong cuốn Tiểu thuyết hiện đại, Giáo sư người Pháp Dorothy Brewster
và Jonh Bureell đã định nghĩa về tiểu thuyết lịch sử như sau: "Những truyện
đó chỉ là những tiểu thuyết về thời quá khứ, và chỉ vì nhân nhượng mà ta gọi
là tiểu thuyết lịch sử Gọi theo tên hiệu này hay tên hiệu khác tùy thuộc vào cách phê bình định nghĩa, đọc và ưa thích (hay chán ghét) chúng Vì khi thích một cuốn truyện nào thì nhà phê bình thường muốn đưa nó vào một loại văn học có danh" (9; 141)
Với quan niệm này, tiểu thuyết lịch sử trước hết là tiểu thuyết viết về
“thời quá khứ" của một dân tộc hay một quốc gia nào đó và quan trọng hơn,
nó phụ thuộc vào chủ quan của người phê bình muốn xếp nó vào danh mục nào Đây là một định nghĩa khá giản đơn, song không phải không có lí
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi,
Trần Đình Sử chủ biên), tiểu thuyết lịch sử được quan niệm như sau: “Tiểu thuyết lịch sử là tác phẩm viết về các đề tài lịch sử và nhân vật lịch sử.Quan niệm này đã chỉ rõ đặc trưng cơ bản về đề tài của tiểu thuyết lịch sử Đề tài lịch sử có thể được sử dụng ở nhiều tác phẩm văn học tuy nhiên ở tiểu thuyết lịch sử nó mang đặc trưng riêng
Để làm rõ điều này các tác giả cuốn Từ điển văn học (Lại Nguyên Ân,
Nguyễn Huệ Chi) chỉ rõ: “Tác phẩm tự sự hư cấu lấy đề tài lịch sử làm nội dung chính Lịch sử trong ý nghĩa khái quát, là quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội Các khoa học xã hội (cũng được gọi là khoa học lịch sử) đều nghiên cứu quá khứ của loài người trong tính cụ thể và đa dạng của nó Tuy vậy, những tiêu điểm chú y của các sử gia cũng như các nhà văn quan tâm đến đề tài lịch sử, thường đều là sự hình thành, hưng thịnh, diệt vong của các Nhà nước, những biến cố lớn trong đời sống xã hội của cộng đồng quốc gia, trong quan hệ giữa các quốc gia như chiến tranh, cách mạng…cuộc sống
và sự nghiệp của các nhân vật có ảnh hưởng đến tiến trình lịch sử” [4, tr.725]
Trang 23Như vậy chúng ta có thể thấy đề tài lịch sử trong tiểu thuyết lịch sử là những vấn đề trọng đại của quốc gia dân tộc, liên quan đến sư hình thành, hưng thịnh, diệt vong của quốc gia dân tộc ấy Các nhà tiểu thuyết lịch sử có quyền lưa chọn một giai đoạn lịch sử của một quốc gia dân tộc làm tiêu điểm để phản ánh Các nhân vật lịch sử trong giai đoạn ấy có thể được nhà văn hư cấu, tưởng tượng tuy nhiên vẫn phải dưa trên những sử liệu xác thưc để tôn trọng tính chân thực của thể loại
G.Lukacs nhà tiểu thuyết lịch sử người Hunggary đã khẳng định: Tiểu thuyết lịch sử về nguyên tắc không khác gì tiểu thuyết thông thường nhưng phải thể hiện sự vĩ đại của con người trong lịch sử với những khả năng của tiểu thuyết nói chung Nhận định này đòi hỏi tiểu thuyết phải thể hiện được tầm vóc của con người lịch sử đồng thời phải giữ được những đặc trưng của tiểu thuyết qua khả năng phản ánh cuộc sống của nó
Nhà tiểu thuyết lịch sử người Pháp Alexandre Duymas cho rằng: “tiểu thuyết lịch sử có quyền hiếp dâm quá khứ miễn là cho ra đời những đứa con đẹp” Ông coi lịch sử “chỉ là cái đinh” để nhà văn treo lên những bức họa nghệ thuật, nói cách khác đối với nhà văn lịch sử chỉ là phương tiện để từ đó nhà văn xây dưng những tác phẩm của mình Đã coi lịch sử như một phương tiện nghệ thuật, nhà văn sẵn sàng “mổ xẻ”, biến đổi nó sao cho phù hợp với y đồ
và tư tưởng nghệ thuật của mình miễn sao thuyết phục được người đọc tin rằng điều đó có thể đã xảy ra Đồng quan điểm với Alexandre Duymas, nhà tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng của Hà Lan Hella S.Haasse nhấn mạnh: “chủ đích của tôi không bao giờ lấy việc tái hiện quá khứ làm nhiệm vụ hàng đầu Trong văn học
đề tài lịch sử là một phương tiện chứ không phải là một cứu cánh Một cuốn tiểu thuyết lịch sử hay không, luôn là một phản chiếu cái thế giới bên trong của tác giả ở một thời điểm nhất định trong cuộc đời của họ” (Dẫn theo Nguyễn Thị Tuyết Minh) [64, tr.36]
Trang 24Như vậy, tiểu thuyết lịch sử là loại hình tiểu thuyết lấy đề tài lịch sử làm nội dung chính Đối tượng của nó là nhân vật, sự kiện, giai đoạn có vai trò, ảnh hưởng to lớn đối với tiến trình lịch sử của cộng đồng, quốc gia, dân tộc Xét về thể loại, tiểu thuyết lịch sử là một thể loại tiểu thuyết được cấu thành từ hai yếu tố: tiểu thuyết và lịch sử Tiểu thuyết lịch sử trước hết phải là một cuốn tiểu thuyết, tuân thủ những qui tắc của thể loại Lịch sử được sử dụng trong thể loại tiểu thuyết này không nhất thiết phải chính xác như nó vốn có Nhà văn có quyền hư cấu, sáng tạo lại lịch sử tuy nhiên đó không phải
sư hư cấu, sáng tạo tùy tiện mà đó phải là sự sáng tạo với thái độ tôn trọng lịch sử nhằm giữ được tính chân thực của lịch sử
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh khi trả lời phỏng vấn của phóng viên báo
Văn nghệ trẻ (10/2005), đã nói: “Theo tôi lịch sử chỉ là cái cớ để tôi bám
vào… tiểu thuyết lịch sử không phải là kể lại lịch sử, minh họa lịch sử mà là phản ánh những vấn đề của con người hiện tại” Lịch sử là cái đã qua nhà tiểu thuyết không phải là người minh họa lại lịch sử Nhà văn chỉ sử dụng lịch sử như một phương tiện để từ đó nhà văn sáng tạo, truyền tải những tư tưởng và triết lí của minh đối với cuộc sống và con người Từ những câu chuyện lịch
sử, nhà văn biến đổi nó, kể một câu chuyện hấp dẫn hơn và gần gũi hơn với con người hiện tại để từ đó đem đến cho người đọc những suy ngẫm và trải nghiệm gần với thực tại chứ không phải là những bài học lịch sử xa xôi Đó mới chính là sự sáng tạo thực sự của nhà tiểu thuyết PGS-TS Phan Trọng Thưởng quan niệm: “Thưc chất sáng tạo nghệ thuật về đề tài lịch sử là khai thác lịch sử theo một cách thức tiếp cận mới… trên nguyên tắc vừa tôn trọng
sự thật lịch sử vừa tôn trọng sự thật nghệ thuật” [Phan Trọng Thưởng, “Rừng trúc của Nguyễn Đình Thi và một số vấn đề lý luận sáng tác về đề tài lịch sử”, Tạp chí văn học số 11, 1999]
Trang 25Đồng quan điểm với PGS - TS Phan Trọng Thưởng, Giáo sư Phan Cự
Đệ nhấn mạnh tới mối quan hệ giữa hư cấu nghệ thuật với sự thực lịch sử
“Trong quá trình sáng tác, các nhà tiểu thuyết lịch sử vừa phải tôn trọng các
sự kiện vừa phải phát huy cao độ vai trò của hư cấu, sáng tạo của nghệ thuật” Đến đây chúng ta có thể thấy hư cấu là điều cần có để xây dựng lên một cuốn tiểu thuyết lịch sử Tuy nhiên hư cấu như thế nào và hư cấu đến đâu vẫn là điều mà mỗi nhà văn cần phải cân nhắc và thận trọng
Lịch sử bao giờ cũng là gia tài của trí thức, người mẹ của chân lí Những người băn khoăn về thời cuộc bao giờ cũng muốn trở về lật lại trang
sử cũ để tìm câu trả lời cho các vấn đề hiện tại và tương lai Lịch sử là một hiện thực đặc thù, nó tuy có thật nhưng đã thuộc về quá khứ, tuy quá khứ nhưng nó vẫn là một bộ phận của hôm nay, không thể tách rời hôm nay, hàm chứa nhiều bí ẩn của xã hội và thời đại
Tóm lại, dựa trên những lý giải trên, quan điểm của chúng tôi là: Tiểu thuyết lịch sử là sự sáng tạo, hư cấu trên cái nền đã ổn định của sự kiện lịch
sử và nhân vật lịch sử Nhà tiểu thuyết lịch sử có thể tha hồ bay lượn trong không gian tưởng tượng sáng tạo nhưng phải nhằm mục đích làm sáng tỏ hơn lịch sử, đem đến những cảm hứng, làm giàu thêm vốn thẩm mỹ mới cho bạn đọc về lịch sử Tuy nhiên qua sáng tạo mới, nhà tiểu thuyết phải làm cho bạn đọc càng hiểu, càng yêu, càng quý trọng nhân vật lịch sử, nếu đó là nhân vật tích cực, chính diện và ngược lại Một điều tối kỵ của tiểu thuyết lịch sử là làm sai lệch chân dung nhân vật của lịch sử, sai lệch sự kiện lịch sử
1.2 Đề tài lịch sử trong văn học Việt Nam
1.2.1 Đề tài lịch sử
Trong lịch sử văn học nghệ thuật nhân loại từng có những đề tài giống như bông hoa “sớm nở, tối tàn”, tuy có sức hấp dẫn nhưng lại mau chóng cạn kiệt, có khi mới chỉ kịp để lại một vài tác phẩm mang giá trị nhất thời đã sớm
Trang 26“một đi không trở lại” Nhưng cũng có những đề tài được mệnh danh là “đề tài vĩnh cửu”, “đề tài muôn thuở” như đề tài tình yêu hay đề tài lịch sử mà chúng ta đang đề cập đến hôm nay Từ thực tiễn sáng tác về đề tài lịch sử, không khó khăn lắm cũng có thể dẫn ra ở đây một danh mục đồ sộ các tác phẩm nổi tiếng của các nền văn học khác nhau trên thế giới, trong đó có Việt Nam Với sức sống lâu bền và tiềm năng vô tận, người ta xem đề tài lịch sử là miền đất hứa, là nguồn chất liệu không vơi cạn, nguồn cảm hứng vô biên và là cái nôi nuôi dưỡng những kiệt tác nghệ thuật của nhân loại
Nhưng cũng chính đề tài lịch sử, từ lâu lại khơi mào cho không ít các cuộc tranh luận tưởng như không có hồi kết mà người tham gia không chỉ có các nhà văn, các nghệ sĩ sáng tạo, các nhà nghiên cứu lý luận phê bình văn học nghệ thuật,… mà còn có các nhà sử học, các nhà giáo, các nhà hoạt động
xã hội và công chúng văn học nghệ thuật
Qua trao đổi, tranh luận, nhiều vấn đề lý luận và học thuật đã từng bước được làm sáng tỏ và đạt đến sự thống nhất, nhưng cũng không ít vấn đề đang còn bỏ ngỏ, đang cần trao đổi, giải quyết tiếp, nhất là những vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn sáng tác văn học nghệ thuật mỗi thời kỳ
Theo quan niệm truyền thống, lịch sử cần đảm bảo độ chính xác lịch sử với những sự kiện có tầm vóc, nhân vật có can dự trực tiếp vào biến cố lịch sử đóng vai trò nhân vật trung tâm và mục đích tái hiện lại lịch s nữa nếu cần cung cấp kiến thức lịch sử, chỉ cần một cái nhấp chuột, người đọc có thể thỏa mãn mọi tò mò về các triều đại, các nhân vật lịch sử ở bất cứ đất nước nào Với quan niệm rộng mở hơn, văn học viết về đề tài lịch sử bao hàm cả dã sử, huyền sử, thậm chí là phản lịch sử là sự tổng hợp nhiều chủ đề, có thể chỉ xuất hiện khung cảnh lịch sử, tùy theo trí tưởng tượng nhà văn mà hư cấu nhân vật
và không nhất thiết phải nhân vật đó phải đóng vai trò trung tâm trong tiến trình lịch sử Sự nới rộng quan niệm đó dẫn đến việc văn học lịch sử lấn sân
Trang 27sang nhiều địa hạt khác, nghĩa là nó dung nạp cả tiểu thuyết sử thi, tiểu thuyết phong tục, tiểu thuyết kiếm hiệp, tiểu thuyết lãng mạn… Và với quan điểm như vậy dù lối viết hiện đại hay truyền thống, trung thực với chính sử hay giả lịch sử, thể hiện chủ đề lịch sử qua việc tái hiện lịch sử hay tư tưởng nhân sinh nào khác, những tác phẩm hiện diện yếu tố lịch sử không hạn chế khả năng và tự do sáng tạo của nhà văn đều được coi là tiểu thuyết lịch sử Quan niệm rộng mở này sẽ không làm tàn lụi tiểu thuyết lịch sử, trái lại, giúp nó hồi sinh dưới những dạng thức mới Tuy nhiên, chấp nhận hay không vẫn tùy Nói đến đề tài lịch sử là nói đến sự công phu tìm tòi tư liệu, gom góp kiến thức, tích luỹ sự hiểu biết mọi mặt về đời sống xã hội, văn hoá tinh thần, vật chất…của một thời đại, một giai đoạn lịch sử đã trở thành quá vãng mà người viết có thể không trực tiếp sống, không được trải nghiệm Nếu thời điểm lịch
sử được người viết lựa chọn đã quá xa và nhân vật lựa chọn là người danh tiếng vang bóng một thời, thì anh ta sẽ phải đối mặt với cả rừng tư liệu của chính
sử, huyền sử và cả dã sử nữa Lựa chọn tư liệu nào, lựa chọn cách khai thác nào
là cả một vấn đề lớn quyết định đến thành - bại của tác phẩm
Ngày nay, chúng ta đang sống và sáng tạo trong hoàn cảnh khá đặc biệt Nhiều vấn đề quốc tế và khu vực đang tác động hết sức mạnh mẽ và sâu sắc đến mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội, chính trị của đất nước Đặc biệt
là vấn đề chủ quyền an ninh quốc gia đang trở thành vấn đề thách thức bản lĩnh dân tộc Trong bối cảnh đó, hơn lúc nào hết, lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc cũng như các giá trị tinh thần truyền thống, những kinh nghiệm lịch
sử dựng nước và giữ nước của cha ông,… cần được khai thác có hiệu quả, cần được phát huy cao độ để tạo ra các giá trị tinh thần mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Ngay từ những năm ba mươi, bốn mươi của thế kỷ XX, đặc biệt là từ khi xuất hiện phong trào “Văn nghệ phục cổ”, đề tài lịch sử đã trở thành nguồn cảm
Trang 28hứng cho hàng trăm vở kịch nói và kịch thơ mà đỉnh cao là Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng; rất nhiều cuốn tiểu thuyết lịch sử; truyện ngắn, truyện vừa; nhiều tác phẩm âm nhạc, hội họa … để lại ấn tượng đậm nét trong lịch
sử văn học nghệ thuật Trong hoàn cảnh đó, người ta xem việc trở lại với đề tài lịch sử là cách để gián tiếp bày tỏ lòng yêu nước, thể hiện ý thức tự tôn và lòng tự hào dân tộc Trong các giai đoạn tiếp theo, đề tài lịch sử và cảm hứng lịch sử vẫn luôn luôn là một mạch ngầm nuôi dưỡng tài năng và kích thích khát vọng sáng tạo của rất nhiều thế hệ văn nghệ sĩ Lựa chọn đề tài lịch sử cho sáng tác của mình, nhà văn vừa thể hiện sự quan tâm tới thực tiễn sáng tác văn học nghệ thuật; vừa thể hiện ý thức trách nhiệm trước lịch sử dân tộc, trước những vấn đề lớn lao, nóng bỏng của đất nước Đặc biệt là trong tình hình hiện nay, do nhiều nguyên nhân, một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên ngày càng xao lãng kiến thức lịch sử, thờ ơ với quá khứ, thuộc sử nước ngoài hơn sử nước mình,… thì việc trở lại với đề tài lịch sử,khơi lại các nguồn mạch lịch sử để sáng tạo những tác phẩm văn học nghệ thuật có sức hấp dẫn, sức truyền cảm, gắn kết lịch sử với hiện tại, phát huy được sức mạnh tinh thần và ý chí của dân tộc vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trở thành sứ mệnh thiêng liêng,cao cả của văn học nghệ thuật Đề tài lịch sử, do vậy trở thành đề tài nóng trong đời sống xã hội và văn học nghệ thuật hiện nay
Đã từng có rất nhiều hội thảo bàn về đề tài lịch sử trong văn học, và dù
có tập trung trí tuệ, có nỗ lực đến mấy, thì cũng khó có thể giải quyết được tất
cả những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra xung quanh đề tài này Hơn nữa, trong khoa học, khó có thể đạt đến tiếng nói cuối cùng Nhưng trước các vấn đề khá cơ bản như: lựa chọn các phương thức thể hiện nghệ thuật về đề tài lịch sử sao cho phù hợp và có hiệu quả? Đặc trưng phản ánh lịch sử và ngôn ngữ của mỗi loại hình nghệ thuật là gì? Làm thế nào để phát huy được thế mạnh của
Trang 29mỗi thể loại? Đó sẽ là căn cứ lý luận và học thuật để giải quyết những vướng mắc trong thực tiễn sáng tạo hiện nay
1.2.2 Đề tài lịch sử trong văn học Việt Nam sau năm 1986
Việt Nam là một đất nước có lịch sử đầy biến động, đất nước luôn trong tình trạng bị chia cắt hoặc ngoại xâm, hoặc sự nổi dậy của các lực lượng lao động đối lập với chính quyền mà các sử gia gọi là quân tạo phản hoặc gọi
là khởi nghĩa nông dân Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, có lẽ những nỗi đau vẫn
âm thầm chảy suốt trong kí ức cộng đồng và khi có điều kiện sẽ phát tiết ở những người nhạy cảm và có trách nhiệm, là các nhà văn, trong đó có: Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Xuân Khánh, Hoàng Quốc Hải, Võ Thị Hảo, Lưu Sơn Minh, Hoàng Công Khanh… Còn một nguyên nhân nữa đã được nhắc đến rất nhiều là sự trỗi dậy của cảm hứng đời tư, thế sự với vị trí là nguồn cảm hứng quan trọng bậc nhất, mà sự chi phối của nó biểu hiện gần như ở tất cả các thể loại, các suy tư của văn học Chính những trăn trở, suy ngẫm về thân phận con người, số phận dân tộc, các giá trị của cuộc sống đã chi phối mạnh mẽ đến những tác phẩm viết về đề tài lịch sử Như vậy viết về
đề tài lịch sử trong văn học sau năm 1986 là kết quả của những suy nghĩ, trăn trở của con người về chính lịch sử, về hiện tại, về cộng đồng và về số phận cá nhân.Vì thế truyện và tiểu thuyết về đề tài lịch sử trong thời kì này không chỉ
là những câu chuyện lịch sử mà còn là câu chuyện của đời sống hiện tại với bao trăn trở trong những mối liên hệ chằng chịt, sự đối thoại nhiều khi đến gay gắt của ý thức và các vấn đề tưởng như rất bình thường của đời sống được soi rọi từ nhiều góc nhìn, nhiều thái độ đánh giá khác nhau Đề tài lịch
sử cũng được các nhà văn nhìn dưới góc nhìn đa chiều hơn Lịch sử không còn là những tư liệu cố định, chất liệu quá quen thuộc nữa Mà nó trở thành chất liệu hấp dẫn để các nhà văn tự do thể hiện tài năng sáng tạo và ý đồ nghệ
thuật của mình
Trang 30Về lối viết sau năm 1986, văn học Việt Nam đã có một mùa nở rộ và bội thu với các tác phẩm viết về đề tài lịch sử với những cách thể hiện hoàn toàn mới lạ Ngoài cảm hứng lịch sử, thì cảm hứng đời tư, cảm hứng thế sự và những triết lý nhân sinh đã làm nên bộ mặt mới của những tiểu thuyết lịch sử Nhân vật, sự kiện lịch sử dường như chỉ là cái cớ để “tạo nên những điểm tương đồng giữa quá khứ và hiện tại và qua đó làm sáng tỏ hiện tại” [78, tr.18] Lịch sử không còn chỉ là “ngôi đền thiêng” bất khả xâm phạm, là đối tượng được sùng bái, ngợi ca một cách tuyệt đối nữa mà trở thành một đề tài nhà văn có thể đi sâu tìm hiểu, khai thác, sáng tạo, thổi vào đó tinh thần thời đại khiến lịch sử trở nên sống động và gần gũi, hấp dẫn hơn Tác giả tiêu biểu nhất phải kể đến là nhà văn Nguyễn Huy Thiệp với bộ truyện ngắn “giả lịch
sử”: Phẩm tiết, Kiếm sắc, Vàng lửa, Nguyễn Thị Lộ… Những tác phẩm này
khi đăng báo đều gây nên những cơn sốt và tốn không ít giấy mực của giới phê bình Dư luận trong nước xôn xao trước một hiện tượng văn học lạ Lạ ở cách cảm, cách nhìn của nhà văn về nhân vật lịch sử khiến trong giới văn học rộn lên bởi những đánh giá trái chiều về tác phẩm và tác giả này Sau Nguyễn Huy Thiệp nhiều nhà văn cũng đã có những cách nhìn nhận, tư duy mới mẻ
về lịch sử được vận dụng vào các sáng tác như: Nguyễn Việt Hà với Cơ hội của chúa, Lưu Minh Sơn với Nước mắt trúc, Trần Vũ với Mùa mưa gai sắc…
Với thể loại tiểu thuyết về đề tài lịch sử thời kì này có số lượng lớn và đạt nhiều thành tựu Bắt đầu từ những năm 90 của thế kỉ XX chúng ta chứng kiến
sự xuất hiện hàng loạt tiểu thuyết lịch sử với lối viết khác lạ và khi các tác phẩm trình làng đã chinh phục được những bạn đọc khó tính, thu hút nhiều sự chú ý của giới phê bình Trong đó có những tác phẩm đạt giải thưởng cao
như: Mẫu thượng ngàn, Hồ Qúy Ly của Nguyễn Xuân Khánh, Sông Côn mùa
lũ của Nguyễn Mộng Giác, Vằng Vặc sao khuê của Hoàng Công Khanh, Bão
Trang 31táp triều Trần của Hoàng Quốc Hải, Tây Sơn bi hùng truyện của Lê Đình Danh, Giàn thiêu của Võ Thị Hảo…
Như vậy, qua các tác phẩm viết về đề tài lịch sử sau 1986 chúng ta nhận thấy: quan niệm của các nhà văn về lịch sử đã có nhiều đổi mới Lịch sử
đã trở thành chất liệu hấp dẫn để các nhà văn thỏa mãn ý đồ sáng tạo nghệ thuật của mình làm cho “tiểu thuyết lịch sử trở thành ấn tượng và suy tư cá nhân, cá nhân trở thành trung tâm của tự sự”[78, tr.76] Nghĩa là, mỗi nhà văn
có thể đề xuất một cách nhìn mới về những sự kiện lịch sử đã qua, họ cũng có thể mượn lịch sử để trình bày những vấn đề của hiện tại, hoặc có thể tìm hiểu
để xóa đi những “điểm trắng” mà sử liệu đã không ghi, hay những điều trong quá khứ còn ít người biết đến…Từ đó tạo ra sức sống mới cho lịch sử Nói chung văn xuôi viết về lịch sử từ sau Đổi mới đã đạt được những thành tựu đáng kể và chắc chắn sẽ tiếp tục là nguồn chất liệu hấp dẫn, còn nhiều hứa hẹn ở phía trước
1.3 Đề tài lịch sử trong sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh
1.3.1 Hiện tượng Nguyễn Xuân Khánh trong văn học đương đại Việt Nam
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh sinh năm 1933 tại quê ngoại - phố Huế Hà Nội Quê nội của ông ở làng Cổ Nhuế, nơi có nghề may nổi tiếng thuộc ngoại
ô thành phố Lên sáu tuổi, ông đã chứng kiến một thảm họa của làng, đó là bệnh dịch tả Trong nạn dịch đó rất nhiều người đã mắc bệnh rồi chết, ông cũng chịu nỗi đau mất người thân: bố, chị, thím đều chết Tuổi thơ của Nguyễn Xuân Khánh sống gắn bó với làng quê, với những người nông dân hiền lành, chất phác, hay lam hay làm Hồi nhỏ, ông thường theo mẹ đi dự các cuộc hầu bóng, nhiều khi mẹ ông chính là bà đồng Tất cả những kỉ niệm đó đã để lại ấn tượng
sâu đậm và là chất liệu để nhà văn viết những tác phẩm của mình
Về sự nghiệp sáng tác, số đầu sách đã xuất bản của Nguyễn Xuân Khánh không nhiều nhưng khá đa dạng về thể loại, như: truyện ngắn, kịch,
Trang 32tiểu thuyết và dịch thuật Trong đó, đáng chú ý là các tác phẩm: Một đêm (Truyện ngắn, 1975) Rừng sâu (Tập truyện ngắn, Nxb Văn học, 1962), Miền hoang tưởng (Tiểu thuyết, Nxb Đà Nẵng, 1990), Hồ Quý Ly (Tiểu thuyết, Nxb Phụ nữ, 2000), Mẫu thượng ngàn (Tiểu thuyết, Nxb Phụ nữ, 2006), Hai đứa trẻ và con chó Mèo xóm núi (Truyện thiếu nhi, Nxb Nhi đồng, 2002), Mưa quê (Truyện thiếu nhi, Nxb Nhi đồng, 2003)
Tác phẩm dịch của Nguyễn Xuân Khánh bao gồm: Những quả vàng của Nathalie Saraute; Lời nguyền cho kẻ vắng mặt của Tahr Ben Jelloun; Người đàn bà ở đảo Saint Dominique của Bana Domi nique
Ngoài việc đam mê dịch sách, những thôi thúc viết trong ông không bao giờ ngơi nghỉ, Nguyễn Xuân Khánh còn là tác giả của những cuốn tiểu
thuyết: Miền hoang tưởng, Hai đứa trẻ và con chó mèo xóm núi Tuy nhiên phải đến Hồ Quý Ly bạn đọc xa gần mới biết hơn về Nguyễn Xuân Khánh và
cuốn sách này đã được viết trong những năm tháng khó khăn nhất trong cuộc
đời ông: Với Hồ Quý Ly ông đã gửi gắm tâm sự và bày tỏ cảm thông của
mình với những gì mà một nhà cải cách đất nước đã trải qua Để làm nên sự
thành công của Hồ Quý Ly, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã bỏ ra hai mươi
năm trời để nghiên cứu đạo Khổng, đạo Phật, đạo Lão, đọc các tác phẩm sử học, triết học, văn hoá Ông cho rằng đó chính là thực tế tổng hợp bởi tư liệu
về đời Lý Trần thiếu vô cùng, văn hoá của chúng ta chỉ còn là những mảnh vụn bị thất thoát bởi thời gian, triều đại sau hủy hết chứng cứ của triều đại trước và hơn nữa là sự tàn phá khốc liệt của cuộc chiến tranh
Tuy không có nhiều sách nhưng Nguyễn Xuân Khánh là một nhà văn rất có duyên với giải thưởng Một số giải thưởng mà văn chương mà Nguyễn Xuân Khánh đã nhận được như: Giải nhì cuộc thi viết truyện ngắn của Tạp
chí Văn nghệ quân đội (không có giải Nhất) cho chuyện Một đêm Giải
Trang 33thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam cho cuốn tiểu thuyết Hồ Quý Ly Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội cho cuốn tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn
1.3.2 Nguyễn Xuân Khánh và mối duyên nợ về đề tài lịch sử
Với văn chương Nguyễn Xuân Khánh là người đến muộn nhưng lại là đến muộn có duyên Có người trong suốt cuộc đời cầm bút của mình chỉ mong có được cái duyên như nhà văn lão thành cách mạng này mà không được Cái duyên đầu khi cầm bút sáng tác đó chính là khai thác các đề tài lịch
sử Hai tác phẩm làm nên tên tuổi của Nguyễn Xuân Khánh cũng chính là hai trong số những tác phẩm góp phần làm nên diện mạo của văn học Việt Nam đương đại Sáng tác không nhiều nhưng Nguyễn Xuân Khánh đã buộc người
ta phải nhớ đến ông như một người viết tiểu thuyết thành công Nhiều nhà văn
vì e ngại sự khắt khe của độc giả và những nhà sử học về vấn đề lịch sử nên
đã tuyên bố mình không viết tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh thì khác, ông không chỉ thừa nhận mình viết tiểu thuyết lịch sử mà còn phát biểu những quan niệm của mình về thể loại này
Ông bộc lộ: “Theo tôi, tiểu thuyết lịch sử có hai loại Một là viết về những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Và người viết không được phép bịa đặt một cách trắng trợn, chỉ có thể hư cấu về tâm lý hoặc thêm những nhân vật
hư cấu để soi sáng nhân vật có thực Còn một loại khác là nhà văn xây dựng không khí xưa nhưng nhân vật là nhân vật hư cấu Có một vài nhân vật nhưng chỉ làm bối cảnh cho nhân vật hư cấu Và lịch sử chỉ là cái đinh treo” [52]
Cho tới thời điểm này, có thể nói Nguyễn Xuân Khánh là một nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử thành công Nhà văn cũng thể hiện khá rõ ràng quan niệm nghệ thuật của mình về tiểu thuyết lịch sử, người viết tiểu thuyết lịch sử
và độc giả dưới đây là quan niệm nghệ thuật của nhà văn được chúng tôi tổng hợp, khái quát từ những phát biểu trên các báo, tạp chí:
Trang 34Thứ nhất, quan niệm về tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh cho rằng tiểu thuyết lịch sử trước hết phải tôn trọng sự thật lịch sử: Tiểu thuyết lịch sử tạo
ra một hiện thực làm sao để gây cho người đọc một ảo tưởng là nó có thật Tiểu thuyết lịch sử phải dựng lại bối cảnh không khí của thời đại" [52]
Tuy nhiên, tiểu thuyết lịch sử còn là tiểu thuyết, nhà văn có toàn quyền tưởng tượng, hư cấu để đạt đến một mục đích nhất định nào đó: "Đã gọi là tiểu thuyết thì phải hư cấu Khi hư cấu người viết vận dụng toàn bộ văn hóa tinh thần của mình, toàn bộ kinh nghiệm sống của mình Đó là sự tổng hợp, sự hòa trộn nhuần nhuyễn giữa thực và hư, giữa lịch sử và hiện tại, giữa tri thức và cảm thức" [54]
Một tiểu thuyết lịch sử thường xoáy sâu vào những nhân vật lịch sử nhất định Quan niệm của Nguyễn Xuân Khánh về nhân vật lịch sử được nhà văn phát biểu khá rõ ràng: "Tiểu thuyết lịch sử có thể viết về một nhân vật bình thường miễn hoàn cảnh làm nề là một hoàn cảnh lịch sử Tuần lễ thánh của Aragon viết về họa sĩ bình thường Théodore ở thời kì Napoléon Vũ Như
Tô của Nguyễn Huy Tưởng cũng theo cách như vậy Ở trường hợp này, lịch
sử chỉ là hoàn cảnh để tác giả trình bày những nhân vật hư cấu và những vấn
đề mà tác giả quan tâm" [54]
Nguyễn Xuân Khánh cho rằng dựa vào hệ thống nhân vật lịch sử, có thể có nhiều cách để triển khai một tiểu thuyết lịch sử: "Tiểu thuyết hoàn toàn gồm các nhân vật lịch sử; Tiểu thuyết gồm những nhân vật lịch sử trộn lẫn những nhân vật hoàn toàn hư cấu; Tiểu thuyết chỉ có những nhân vật hư cấu nằm trong một bối cảnh lịch sử nhất định" [54]
Như vậy, theo Nguyễn Xuân Khánh, nhà tiểu thuyết lịch sử phải vừa đảm bảo được tính chính xác về "cái đã có", vừa phải nói lên được "cái có thể có" Những vấn đề lịch sử nhà văn dựng lên trong tác phẩm nhằm đối thoại với độc giả về quá khứ đồng thời đặt ra những vấn đề cho hiện tại và tương lai
Trang 35Thứ hai, quan điểm nghệ thuật về nhà văn- người viết truyện lịch sử
Để viết nên một cuốn tiểu thuyết lịch sử, nhà văn rất cần một thái độ trân trọng lịch sử, nghiêm túc và công phu trong việc sử lí các tư liệu lịch sử, bên
cạnh đó không thể thiếu một vốn sống phong phú, dồi dào Trong Suy nghĩ về hiện tượng trong đổi mới tiểu thuyết, ông cũng khẳng định: "Vấn đề hiện thực
là vấn đề hàng đầu của nhà văn nói chung và nhất là của nhà văn viết tiểu thuyết các cụ ngày xưa đã dạy: Hãy đi ngàn vạn dặm, hãy đọc hàng ngàn cuốn sách, rồi hãy cầm bút viết" Từ kinh nghiệm cá nhân của mình: Tôi phải đọc rất nhiều tư liệu cùng sự trải nghiệm thực tế để nhào nặn lại nhân vật, sự kiện, những mối liên hệ" [52], Nguyễn Xuân Khánh khẳng định một nhà tiểu thuyết lịch sử chân chính "cần nắm vững những tư liệu liên quan đến thời kì mình viết, từ chính trị, kinh tế, xã hội đến văn học, văn hóa, triết học Tư liệu càng phong phú thì người viết càng dễ đắm mình vào vấn đề và không khí của thời đại ấy" "Viết tiểu thuyết lịch sử, nhà văn có quyền hư cấu và thể hiện cái nhìn chủ quan, cái tôi cá nhân trong đó: Muốn tác động tới tâm hồn bạn đọc, người viết phải mang những xúc động của mình vào trang sách Theo nghĩa
ấy, cái tôi của người viết bao giờ cũng bộc lộ, chỉ có điều nó kín đáo hay bộc
lộ mà thôi" [17]
Thứ ba, quan niệm về độc giả Nguyễn Xuân Khánh cho rằng "trong tiểu thuyết, tất cả là giả định để độc giả rộng quyền hư cấu, tưởng tượng Độc giả là người tham dự vào tiểu thuyết, tạo ra những góc nhìn mới về những vấn
đề còn ẩn khuất trong lịch sử" [18] Tiểu thuyết thay đổi, độc giả cũng cần đổi thay Đây cũng là suy nghĩ tương đối mới mẻ, phù hợp với tình hình phát triển
đa dạng, phong phú về đề tài và phương thức khai thác, tiếp cận đời sống của tiểu thuyết Việt Nam hiện nay
Trang 36Những vấn đề tiêu biểu của quan niệm này được phản ánh khá rõ nét
trong hai cuốn tiểu thuyết lịch sử nổi bật của Nguyễn Xuân Khánh: Hồ Quý
Ly và Mẫu thượng ngàn
Hồ Quý Ly và Mẫu thượng ngàn viết về hai thời kỳ lịch sử xa nhau
Cách lựa chọn lịch sử của nhà văn cũng không giống nhau Người đọc thấy ở
Hồ Quý Ly là khoảng biến động của cả một triều đại - nhà Trần Hồ Quý Ly
viết về khủng hoảng sau thế kỷ XIV phản ánh tình trạng suy thoái của nhà Trần cũng như tính chất lỗi thời của cấu trúc nhà nước đương thời “tác giả suy nghĩ về sự hưng vong của từng triều đại, suy ngẫm về bước thăng trầm của mỗi con người giữa lúc lịch sử sắp sang trang Ông nhìn nhận lại bước lụi tàn tất yếu của dân tộc, mảng sáng và mảng tối trên tượng đài mà người đã tạo dựng”
Qua việc thể hiện hai thời kỳ lịch sử cách xa nhau, qua hai cuốn tiểu thuyết, bạn đọc thấy được tâm sự nhà văn Nguyễn Xuân Khánh muốn nói với người đương thời về những hy vọng đầy phiền muộn của nhà cải cách vĩ đại
Hồ Quý Ly - cái mẫu cải cách muôn thuở - cái đau đớn của kẻ tiên phong
Mẫu thượng ngàn lại xây dựng trên không khí lịch sử xã hội về Hà Nội cuối
thế kỷ XIX gắn với việc người Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ hai, việc xây dựng nhà thờ lớn, cuộc chiến của quân Cờ Đen - một thời khắc biến động của đất nước biểu hiện trong mọi tầng lớp bình dân thôn dã
Tác giả chú trọng đến mối quan hệ giữa lịch sử đối với các yếu tố khác như: Lịch sử và vai trò cá nhân; lịch sử và văn hoá, lịch sử và con người nói
chung Nếu như trong Hồ Quý Ly tác giả tập trung vào những con người và sự kiện có thật thì ở trong Mẫu thượng ngàn tác giả chỉ lựa chọn những cột mốc
chính, còn nhân vật và cốt truyện chủ yếu là do tác giả hư cấu Khi nghiên cứu hai tác phẩm này, người đọc thấy rằng mục đích của nhà văn ở hai cuốn tiểu
thuyết này là khác nhau Hồ Quý Ly là câu chuyện về một thời đại, về một con
Trang 37người lâm vào cái bi kịch của lịch sử: Bi kịch cái mới không hợp thời, bi kịch
của kẻ tiên phong Mẫu thượng ngàn lại là câu chuyện về mối quan hệ lịch sử -
văn hoá Trong bối cảnh Pháp xâm lược Việt Nam, đạo Phật bị suy tàn, đạo Khổng bị gạt bỏ, đạo Thiên chúa đang lan rộng, người dân quê quay trở về với đạo Mẫu - một tín ngưỡng văn hoá có từ ngàn xưa
Hồ Quý Ly là “giấc mơ” của đời văn Nguyễn Xuân Khánh Tác phẩm
được viết đi viết lại trong vòng hai mươi năm Ban đầu nó là truyện kịch dày
khoảng 150 trang có tên là Minh Đạo (1978) Được bạn bè góp ý, khích lệ
ông đã phát triển thành tiểu thuyết Năm 1995: ông viết lại sâu hơn, có độ dày khoảng 300 trang Từ năm 1997 - 1999: nhà văn viết lại lần thứ ba với một sự tập trung và say mê đặc biệt Tác phẩm đã hoàn chỉnh vào năm 1999 Ngay
sau đó, Hồ Quý Ly đã nhận được giải thưởng cuộc thi viết tiểu thuyết 1998 -
2000 của Hội Nhà văn Việt Nam, sau đó là giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội (2001) và giải thưởng Thăng Long của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2002) Đặc biệt hơn, tác phẩm đã gây xôn xao dư luận, khấy động văn đàn, đưa đến nhiều cách tân cho nghệ thuật viết tiểu thuyết lịch sử Nhà văn
Trung Trung Đỉnh đã gọi Hồ Quý Ly là một “giải pháp mới” cho tiểu thuyết
lịch sử nước nhà
Mẫu thượng ngàn ra đời sau đó sáu năm (2006) nhưng đã được tác giả
thai nghén từ lâu Năm 1959, khi tham gia trại sáng tác quân đội, nhà văn đã
viết Làng nghèo Truyện viết về một làng quê chiến đấu chống thực dân Pháp
Trong cuốn đó, nhà văn viết rất thương tâm và có rất nhiều nhân vật chết, có
lẽ vì vậy mà cuốn sách không được xuất bản, nhà văn bị “cấm bút” Thế nhưng, ý tưởng viết về làng quê, văn hóa làng vẫn âm ỉ trong lòng tác giả
Năm 2001, sau khi hoàn thành Hồ Quý Ly, lật lại bản thảo cũ, những ý tưởng
ấy lại bùng lên Trải qua bao năm tháng, giờ đây nhà văn đã già, đã qua nhiều trải nghiệm, thăng trầm của cuộc sống, suy nghĩ cũng khác đi nhiều Ông mở
Trang 38rộng vấn đề thành văn hóa làng, văn hóa Việt Tất cả những trải nghiệm, sự hiểu biết sâu sắc về văn hóa Việt cộng với tài năng của một nghệ sĩ đã “thăng
hoa” thành Mẫu thượng ngàn Tác phẩm đã đạt giải thưởng của Hội Nhà văn
Hà Nội năm 2006
Từ Hồ Quý Ly đến Mẫu thượng ngàn là những suy nghĩ, tìm tòi không
ngừng của Nguyễn Xuân Khánh, tác giả luôn làm mới mình và đưa đến những bất ngờ cho người đọc Tác phẩm thể hiện tinh hoa, bút lực của một nhà văn đã đến độ chín Đối với tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thì hai tác phẩm này thực sự là một đóng góp quan trọng trong tiến trình đổi mới nghệ thuật
viết tiểu thuyết lịch sử nước nhà Hồ Quý Ly đánh dấu mốc quan trọng, đưa
tiểu thuyết lịch sử thực sự là tiểu thuyết, khắc phục những hạn chế của các tác phẩm trước đó, mở đầu cho giai đoạn viết tiểu thuyết lịch sử theo hướng đổi
mới Mẫu thượng ngàn lại mở rộng cách hiểu, cách quan niệm, cách xử lí chất
liệu lịch sử trong tiểu thuyết lịch sử Lịch sử không chỉ là nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử được ghi chép trong chính sử mà còn là lịch sử của nhân dân, của cuộc sống sinh hoạt hàng ngày
Tóm lại: Thực tiễn sáng tác trong thời gian gần đây cho chúng ta cái nhìn mới về quan niệm tiểu thuyết lịch sử Khái niệm tiểu thuyết lịch sử ngày nay có ý nghĩa rộng, bao chứa cả những tác phẩm vốn được coi là tiểu thuyết
dã sử, tiểu thuyết kiếm hiệp, tiểu thuyết phong tục… Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ sau 1986 đến nay đã có những thành công rất đáng ghi nhận từ nghệ thuật biểu hiện đến nội dung, tư tưởng Đặc biệt, nó nở rộ vào những năm đầu của thế kỉ XXI, với những tác phẩm công phu, độc đáo, đặc sắc, có nhiều
cách tân: Hồ Quý Ly, Giàn thiêu, Mẫu thượng ngàn… Nguyễn Xuân Khánh
với hai tiểu thuyết lịch sử của mình đã góp một tiếng nói quan trọng cho những thành tựu của tiểu thuyết giai đoạn này và hứa hẹn sẽ mở ra nhiều triển vọng trong tương lai
Trang 39Chương 2 LỊCH SỬ TRƯỚC CÁC SỰ LỰA CHỌN TRONG TIỂU THUYẾT
CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH
2.1 Lựa chọn sự kiện lịch sử
2.1.1 Lựa chọn giai đoạn lịch sử và lựa chọn vấn đề lịch sử
Viết về quá khứ, công việc của nhà viết tiểu thuyết lịch sử là làm sống lại lịch sử bằng việc khám phá những vấn đề còn bí ẩn, khuất lấp, lí giải lịch
sử từ số phận cá nhân và tìm ra sợi dây liên hệ giữa quá khứ với đời sống hiện tại Lẽ cố nhiên, nhà văn phải dựa trên một phông nền, một khung cảnh lịch
sử nhất định, dù đó chỉ là phương tiện, là cái “đinh” để treo những bức tranh
mà thôi Vấn đề đặt ra cho các nhà tiểu thuyết là sẽ lựa chọn giai đoạn lịch sử nào? Và thời điểm lịch sử ấy có ý nghĩa như thế nào trong việc thể hiện ý đồ của tác giả cũng như trong giá trị nối kết với hiện tại? Đây có thể coi là bước đầu tiên trong công việc viết tiểu thuyết lịch sử, thể hiện sâu sắc vai trò chủ quan, cá tính sáng tạo của nhà văn Hơn thế nữa, việc lựa chọn này còn phụ thuộc khá nhiều vào cảm thức lịch sử cũng như những sứ mệnh mà xã hội đã trao cho nhà văn và các tác phẩm của họ
Hồ Quý Ly và Mẫu thượng ngàn là hai tác phẩm viết về hai thời kỳ lịch sử khác nhau Tiểu thuyết Hồ Quý Ly viết về khủng hoảng sau thế kỷ
XIV phản ánh tình trạng suy thoái của nhà Trần cũng như tính chất lỗi thời của cấu trúc nhà nước đương thời “tác giả suy nghĩ về sự hưng vong của từng triều đại, suy nghẫm về bước thăng trầm của một con người giữa lúc lịch sử sắp sang trang Ông nhìn nhận lại bước lụi tàn tất yếu của từng triều đại, đánh giá lại những vị cứu tinh của dân tộc, mảng sáng và mảng tối trên tượng đài
mà người đời đã tạo dựng” Còn tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn viết về nông
Trang 40thôn Bắc bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi dân tộc phải đối mặt mất còn với thực dân phương Tây
Góc độ tiếp cận lịch sử của nhà văn ở hai tác phẩm này cũng không đồng nhất Tuy nhiên, những vấn đề lịch sử trọng đại của dân tộc ở thế kỷ thứ XIV cũng như ở cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trong hai tác phẩm nói trên
đã được nhà văn khai thác một cách triệt để Chúng tôi sẽ đi sâu vào khám phá khảo sát sự có mặt của lịch sử trong hai tác phẩm này một cách độc lập để chúng ta có một cái nhìn so sánh khái quát nhất trong cách nhìn nhận, đánh giá tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh Cái gọi là sự thật lịch sử” hay “tính chân thực” lịch sử mà mọi người muốn tìm kiếm trong một cuốn tiểu thuyết nói chung là những yếu tố có thể đem đối chiếu được với những gì đựơc các sử gia ghi lại Dù vẫn biết rằng hai vấn đề này chẳng liên quan tới nhau nhưng để viết về thể loại, để chứng minh về mặt thể loại của nó thì đây
là một việc mà người viết phải làm trong quá trình tìm hiểu tiểu thuyết lịch sử của Nguyên Xuân Khánh
Khác với các tiểu thuyết gia giai đoạn trước và một số tác giả cùng thời, Nguyễn Xuân Khánh trong tác phẩm của mình lại chọn những thời điểm
lịch sử đầy biến động, phức tạp để tái hiện và luận giải Với Hồ Quý Ly, đây
là giai đoạn cuối Trần đầu Hồ thế kỉ XIV, XV, còn trong Mẫu thượng ngàn là
bối cảnh xã hội Việt Nam với điểm nhấn là cuộc sống và những người dân ở một làng quê bán sơn địa Bắc bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX Trong lịch
sử, đây là những thời điểm được ghi nhận có nhiều sự kiện trọng đại liên quan đến vận mệnh của dân tộc Cuối nhà Trần, với sự khủng hoảng toàn diện do
sự suy thoái của tầng lớp cầm quyền, triều đình suy tàn, phân hóa nghiêm trọng, cùng lúc là thiên tai, dịch họa, giặc giã nổi lên khắp nơi, xã hội biến suy sâu sắc Trong khi đó, cái họa phương bắc và cái nạn phương nam như một mối đe dọa treo lơ lửng trên đầu người dân Viết về nhà Trần, một trong