Vì vậy, nghiên cứu về thực trạng hoạt động phát triển cộng đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững và các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng này rất cần thiết để đưa ra một số ki
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ VĂN KHÁNH
PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO TRONG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN HUYỆN BA CHẼ, TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS PHẠM TIẾN NAM
HÀ NỘI – 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài “Phát triển cộng đồng đối với người
nghèo trong giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh”
(Nghiên cứu thực hiện tại địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh) là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu và số liệu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác
Tác giả đề tài Học viên
Hà Văn Khánh
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO TRONG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 14
1.1 Một số khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá nghèo ở Việt Nam. 14
1.2 Lý luận về phát triển cộng đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững 22
1.3 Cơ sở pháp lý liên quan đến phát triển cộng đồng trong giảm nghèo bền vững 28
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO TRONG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TẠI HUYỆN BA CHẼ,
TỈNH QUẢNG NINH 35
2 Thực trạng phát triển cộng đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh 36 2.1 Khái quát về địa bàn và khách thể nghiên cứu 35 2.2 Thực trạng hoạt động phát triển cộng đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh 44
3 Một số giải phát Thực trạng phát triển cộng đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh 72 3.1 Nhóm giải pháp về chính sách giảm nghèo 70 3.2 Nhóm giải pháp tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản 72 3.3 Nhóm giải pháp tác động đến hoạt động phát triển cộng đồng trong giảm
nghèo bền vững 73
KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Thống kê đặc điểm giới tính của các hộ nghèo 40
Bảng 2.2 Thống kê đặc điểm độ tuổi của các hộ nghèo 40
Bảng 2.3 Thống kê đặc điểm trình độ học vấn 41
Bảng 2.4 Thống kê đặc điểm về qui mô gia đình 42
Bảng 2.5 Cơ cấu nghề nghiệp của các hộ nghèo 42
Biểu 2.6 Thu nhập bình quân hàng tháng 43
Biểu 2.7 Sự tham gia của hộ nghèo trong các tổ chức đoàn thể 44
Bảng 2.8 Hình thức của hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức 46
Biểu đồ 2.9 Nội dung của hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức 48
Biểu đồ 2.10 Sự tham gia của người dân trong hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức 49
Biểu đồ 2.11 Huy động nguồn lực trong hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức 50
Biểu đồ 2.12 Hoạt động kết nối các dịch vụ sản xuất 52
Biểu đồ 2.13 Tỷ lệ những hộ được biết về các hình thức kết nối sản xuất 54
Biểu đồ 2.14 Sự tham gia của người dân vào hoạt động kết nối sản xuất 55
Biểu đồ 2.15 Huy động nguồn lực từ cộng đồng cho hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức 56
Biểu đồ 2.16 Tỷ lệ tiếp cận các dịch vụ xã hội 58
Biểu 2.17 Mức độ tham gia của người dân trong các dịch vụ xã hội trong giảm nghèo bền vững 59
Biểu 2.18 Mức độ huy động nguồn lực cộng đồng đối với các dịch vụ xã hội Error! Bookmark not defined.2 Biểu 2.19 Mức độ tác động của các dịch vụ xã hội đến gia đình 612
Bảng 2.20 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phát triển cộng đồng 634
Trang 51
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
“Nghèo” là một vấn đề mang tính xã hội “Nóng” và thường xuyên được đưa
ra thảo luận trong các diễn đàn kinh tế- xã hội trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Hiện nay, với hơn 1 tỷ người trên trái đất thì 1,25 USD là khoản chi tiêu hằng ngày cho thực phẩm, thuốc men và chỗ ở là khoản chi tiêu vượt khả năng chi trả đối với họ Theo đó, Ngân hàng thế giới (The World Bank) đã xếp thực tế
khắc nghiệt đến ảm đạm này vào nhóm “nghèo đói cùng cực”
Trên thực tế, “Đói nghèo” không chỉ làm cho hàngtriệu người không có cơ hội được hưởng những thành quả văn minh tiến bộ của loài người mà còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế xã hội đối với sự phát triển, tàn phá môi trường sinh thái Vì vậy, nếu vấn nạn “đói nghèo” vẫn diễn ra và có dấu hiệu gia tăng trên khắp các châu lục và chưa có giải pháp hữu hiệu nào đưa ra đạt hiệu quả, chính vì lẽ đó không một mục tiêu, chỉ tiêu nào mà cộng đồng quốc tế, cũng như mỗi quốc gia đặt
ra trong những năm qua như tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống, bình đẳng giới, hoà bình ổn định, bảo đảm các quyền con người được thực hiện có hiệu quả Cũng như các nước trong khu vực và trên thế giới, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn đặt con người là vị trí trung tâm của sự phát triển, coi xoá đói giảm nghèo là một trong những mục tiêu cơ bản của chiến lược phát triển kinh tế -xã hội Những năm gần đây, nhờ chính sách đổi mới, kinh tế nước ta tăng trưởng nhanh, đời sống đại bộ phận nhân dân
đã được nâng lên một cách rõ rệt XĐGN từ chỗ là phong trào (giai đoạn 1992-1997)
từ năm 1998 đến nay xóa đói, giảm nghèo đã trở thành chương trình mục tiêu quốc gia và được đưa vào kế hoạch định kỳ 5 năm của Chính phủ và các địa phương, đến nay đã qua 4 giai đoạn (1998 - 2000; 2001 - 2005; 2006 - 2010; 2011-2015) tính đến nay đã có khoảng 43 triệu người dân Việt Nam thoát khỏi nghèo đói, tỷ lệ nghèo giảm từ mức 29% năm 2002, xuống chỉ còn 8,4% năm 2014 [1]
Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ dân cư, đặc biệt là ở các vùng cao, vùng sâu, vùng xa vẫn đang chịu cảnh đói nghèo, thiếu thốn, chưa đảm bảo được những điều kiện tối thiểu của cuộc sống
Trang 62
Ở Quảng Ninh, chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo luôn được coi
là nhiệm vụ trọng tâm trong tổng thể phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Sau nhiều năm thực hiện, đặc biệt 5 năm thực hiện Chương trình giảm nghèo giai đoạn 2011-
2015, kết quả giảm nghèo trên địa bàn Tỉnh đã thu được những thành công nhất định, được thể hiện rõ nét bằng sự quan tâm, quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền
và nhân dân các dân tộc trên địa bàn Tỉnh, cụ thể: tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 7,68% xuống còn 1,33% (giai đoạn 2011-2015), giảm 6,35%, bình quân mỗi năm giảm 1,27% Số hộ nghèo từ 23.050 hộ giảm xuống còn 4.460 hộ, giảm 18.590 hộ, bình quân mỗi năm giảm 3.718 hộ [2] Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn những tồn tại, khó khăn như tỷ lệ hộ tái nghèo còn khá cao, tư tưởng ỉ lại vào nhà nước, cộng đồng vẫn còn hiệu hữu trong suy nghĩ của người dân…sự chênh lệch lớn giữa khu vực thành thị và nông thôn tương đối lớn và khó có khả năng san bằng trong 10-15 năm tới, cụ thể; khu vực thành thị chỉ có 3.107 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 1,03% tuy nhiên khu vực nông thôn số hộ nghèo lên tới 19.943 hộ, chiếm tỷ lệ 6,65%[3] Đây được coi là một trong những rào cản trong tiến trình xây dựng tỉnh Quảng Ninh trở thành Tỉnh dịch vụ - công nghiệp vào năm 2020, như Đại hội Đảng bộ tỉnh
Quảng Ninh lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2015- 2020 đã đề ra [9]
Ba Chẽ là huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Quảng Ninh, địa hình rộng lớn với diện tích đất tự nhiên lên tới 60.855,56 ha, trong đó đất lâm nghiệp 48.954,48 ha, chiếm tới hơn 80% diện tích đất tự nhiên (số diện tích đất có rừng là 20.603,36 ha, chiếm 42% diện tích đất lâm nghiệp), còn lại là các loại đất khác Địa giới hành chính gồm 07 xã và 01 thị trấn, với dân số là 20.620 người, có
tỷ lệ người dân tộc thiểu số cao, chiếm 80% dân số toàn huyện Toàn huyện có 7/8
xã thuộc vùng khó khăn, trong đó có 5 xã thuộc diện xã đặc biệt khó khăn thuộc diện hỗ trợ đầu tư thuộc Chương trình 135 năm 2014 và năm 2015 (theo Quyết định
số 2405/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ban hành ngày 10/12/2013); vị trí địa
lý của huyện tương đối bị cô lập, việc đi lại, giao thương kinh tế còn gặp nhiều khó khăn…Đây là 01 trong 02 địa phương có xuất phát điểm về kinh tế thấp và tỷ lệ nghèo cao nhất Tỉnh
Trang 7Hiện đã có nhiều nghiên cứu về thực trạng, nguyên nhân, giải pháp của xóa đói giảm nghèo Tuy nhiên, nghiên cứu về phát triển cộng đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững dưới góc độ công tác xã hội là còn mới và khá ít
Vì vậy, nghiên cứu về thực trạng hoạt động phát triển cộng đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững và các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng này rất cần thiết để đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao tính hiệu quả và chuyên nghiệp trong việc giảm nghèo bền vững tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh Xuất phát từ
lý do thực tiễn nêu trên, với kinh nghiệm trên 15 năm hoạt động trực tiếp trong lĩnh vực giảm nghèo, trong thời gian tới bản thân mong muốn góp một phần nhỏ vào công cuộc giảm nghèo của huyện Ba Chẽ, chính vì mong muốn đó tác giả chọn đề
tài: “ Phát triển cộng đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững từ thực
tiễn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh”, làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Giảm nghèo ở Việt Nam không chỉ là vấn đề chính sách mà còn là một vấn
đề xã hội nổi bật, chủ đề của rất nhiều các nghiên cứu, đánh giá được thực hiện bởi các tổ chức trong và ngoài nước Đối với các tổ chức trong nước, một phần là các Viện, trung tâm thuộc các Bộ/ngành, số khác thuộc các trường Đại học Các tổ chức nghiên cứu về giảm nghèo cho thấy cách thức tiếp cận, đánh giá và các kết quả nghiên cứu rất phong phú, nhiều chiều về giảm nghèo ở Việt Nam Cũng từ đó, hệ thống các khuyến nghị trong các nghiên cứu rất phong phú và đa dạng.“Nghèo đói” luôn luôn là vấn đề “Nóng” của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đặc biệt là những quốc gia đang phát triển, chính vì vậy vấn đề này đã thu hút được số lượng lớn các nhà
Trang 84
khoa học tham gia nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực, khía cạnh của đời sống xã hội nơi
mà vấn đề “Nghèo đói” còn tồn tại
Cho đến nay ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến vấn
đề xoá đói giảm nghèo (XĐGN), trong đó có các công trình mang tầm vóc quốc tế:
Nhóm các công trình nghiên cứu chung về giảm nghèo ở Việt Nam
- Các tác giả Do Hoai Nam, Gre Mills, Dianna Games (2007) với cuốn
“Vietnam and Africa: Comparaive lessons and mutual opportunities” (Việt Nam và
Châu Phi: So sánh các bài học kinh nghiệm và cơ hội) đã nghiên cứu về cơ hội và kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp và an ninh lương thực ở Việt Nam và Châu Phi, vai trò của tăng trưởng kinh tế trong XĐGN cũng như phân tích về nguồn vốn viện trợ phát triển và sự tận dụng hiệu quả nguồn vốn viện trợ (ODA) đối với các quốc gia này [10]
Cơ quan hợp tác phát triển quốc tế Thụy Điển (SIDA) (1995), có đề cập
trong cuốn “Vấn đề nghèo ở Việt Nam” một định nghĩa rất rộng về cái nghèo, đã đi
sâu phân tích tình hình nghèo của các nhóm nghèo ở Việt Nam, đánh giá những tác động của công cuộc đổi mới đến người nghèo gắn liền với các vấn đề y tế, giáo dục, tín dụng…đưa ra một số vấn đề có ý nghĩa chiến lược cần xem xét để nâng cao hiệu quả giảm nghèo ở Việt Nam [19]
Oxfam: “Mô hình giảm nghèo tại một số cộng đồng dân tộc thiểu số điển
hình ở Việt Nam”, Hà Nội - 2013 Nghiên cứu của Oxfam đã chỉ ra một số mô hình
sinh kế cho người nghèo ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn gắn với các nét văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc, đồng thời chỉ ra các yếu tố xã hội và chiến lược sinh kế đối với mô hình giảm nghèo thành công tại các cộng đồng dân tộc thiểu số ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn Nghiên cứu cũng đưa ra những luận điểm nhằm cũng cố phương pháp cùng tham gia trong theo dõi giảm nghèo và các yếu tố tiên phong, lan tỏa, gắn kết cộng đồng, tận dụng lợi thế, thích ứng với điều kiện mới, đa dạng hóa sinh kế, phòng chống rủi ro và quản trị địa phương ở mỗi mô hình giảm nghèo khác nhau [20]
Tập thể tác giả: “Nghèo đói và xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam”, Nxb Nông
nghiệp, Hà Nội - 2001; Bối cảnh nghiên cứu Bước sang thế kỷ XXI, đói nghèo vẫn
Trang 95
là vấn đề có tính toàn cầu Một bức tranh tổng thể là thế giới với gần một nửa số dân sống dưới 2USD*/ngày và cứ 8 trong số 100 trẻ em không sống được đến 5 tuổi Vì vậy một phong trào sôi nổi và rộng khắp trên thế giới là phải làm như thế nào để đẩy lùi nghèo đói…Còn Việt Nam thì sao? Vấn đề đặt ra là phải làm sao đẩy lùi được tình trạng đói nghèo xuống Nhưng muốn có những chính sách, biện pháp xoá đói giảm nghèo hiệu quả thì nhất thiết phải hiểu được những nguyên nhân nào dẫn tới tình trạng nghèo đói của Việt Nam [15]
Tác giả Nguyễn Thị Hằng (1997): “Vấn đề xoá đói giảm nghèo ở nông thôn
nước ta hiện nay”, Nxb Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Đói nghèo thường gây ra
xung đột chính trị, xung đột giai cấp, dẫn đến bất ổn về xã hội, bất ổn về chính trị Mọi dân tộc tuy có thể khác nhau về khuynh hướng chính trị nhưng đều có một mục tiêu là làm thế nào để quốc gia mình, dân tộc mình giàu có [8]
Đề tài nghiên cứu“Giải pháp xóa đói giảm nghèo nhằm phát triển kinh tế -
xã hội ở các tỉnh Tây Bắc – Việt Nam”của tác giả Nguyễn Thị Nhung (2012) đã
phân tích thực tiễn về XĐGN tại Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Nghiên cứu đã tập trung làm rõ mối quan hệ giữa xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội, vai trò của xóa đói giảm nghèo đối với phát triển kinh tế - xã hội nói chung và đối với các tỉnh Tây Bắc Việt Nam nói riêng, trong đó đã chỉ ra những tác động của xóa đói giảm nghèo đến phát triển kinh tế - xã hội, xác định vai trò của xóa đói giảm nghèo đối với việc phát triển kinh tế - xã hội: xóa đói giảm nghèo là một trong những bộ phận cấu thành quan trọng của phát triển kinh tế - xã hội nhằm khắc phục những tác động tiêu cực, trái ngược của đói nghèo đến phát triển kinh tế - xã hội Đối với Tây Bắc, xóa đói giảm nghèo có tác động và vai trò thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội Hiệu quả của xóa đói giảm nghèo càng cao thì vai trò của nó đối với phát triển kinh tế - xã hội càng lớn Đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra nguyên nhân nghèo đói là tác nhân làm cản trở quá trình phát triển kinh tế - xã hội: Tây Bắc nghèo đói nổi bật lên là đặc điểm nghèo đói của đồng bào dân tộc thiểu số với những tập tục thói quen sản xuất nhỏ lạc hậu Sự tụt hậu vì nghèo đói của Tây Bắc với phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số do khả năng tiếp cận với các điều kiện của phát triển hạn chế… nên đã cản trở quá trình phát triển
Trang 106
Do đó xóa đói giảm nghèo là tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo và thực hiện giảm nghèo bền vững là góp phần thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam [11]
Tác giả Nguyễn Thị Hoa (2011) với đề tài nghiên cứu“Hoàn thiện các chính
sách xoá đói giảm nghèo chủ yếu của Việt Nam đến 2015” nghiên cứu chỉ ra rằng
đến nay chưa có một nghiên cứu nào đưa ra được một khung lý thuyết hoàn thiện chính sách, đặc biệt là đánh giá chính sách XĐGN hoàn chỉnh Về thực tiễn, các cá nhân hay các tổ chức phi chính phủ và nhà tài trợ dù đã thực hiện nhiều nghiên cứuvề đói nghèo nhưng liên quan đến đánh giá chính sách XĐGN lại rất hạn chế Nếu có thì cũng chỉ là chính sách riêng lẻ hoặc tập trung vào một số chính sách chính thì lại bị hạn chế về thời điểm đánh giá Đặc biệt chưa có một nghiên cứu nào vừa đánh giá đồng thời nhiều chính sách trong suốt ba giai đoạn của chương trình XĐGN (từ năm 1998 đến nay) phục vụ cho công tác hoạch định chính sách XĐGN đến năm 2015 [6]
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền (năm 2013) với đề tài nghiên cứu “Tác
động của hội nhập quốc tế tới bất bình đẳng thu nhập nông thôn - thành thị tại Việt Nam” Luận án đã chỉ ra hội nhập có tác động đến bất bình đẳng thu nhập nông thôn
– thành thị tại Việt Nam Đặc biệt, các nhóm tỉnh có mức độ hội nhập sâu có kết quả chung với cả nước, cụ thể xuất khẩu/GDP càng tăng càng làm giảm bớt chênh lệch thu nhập giữa hai khu vực này Trong khi đó FDI/GDP càng tăng thì càng làm tăng chênh lệch thu nhập nông thôn – thành thị tại Việt Nam Ngoài ra, một số nhân tố khác cũng tác động đến mức chênh lệch này như tỉ lệ số hộ sử dụng internet, hay trình
độ học vấn của chủ hộ đều có những tác động nhất định Từ những phát hiện trên, luận
án đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế chênh lệch thu nhập giữa nông thôn – thành thị tại Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế như: Thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản; Đa dạng hóa thu nhập cho người dân nông thôn; Ưu tiên đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp; Thúc đẩy mạnh đầu tư vào cơ sở hạ tầng nông thôn [7]
Một số nghiên cứu về phát triển cộng đồng trong giảm nghèo ở Việt Nam
Tác giả Phan Huy Đường, Đại học Quốc gia Hà Nội, “Phát triển cộng đồng: Phương pháp quan trọng của công tác xã hội trong xóa đói giảm nghèo” Tác giả đã
Trang 117
nêu khái quát vai trò của phát triển cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo ở nước ta; các nguyên tắc cơ bản của phát triển cộng đồng; các phương thức của phát triển, trong đó nhấn mạnh phương thức tăng cường năng lực của cộng đồng thông qua tăng cường năng lực cho người dân tham gia nhận diện vấn đề của người nghèo; lập
kế hoạch; huy động nguồn lực cộng đồng [5]
Tác giả Nguyễn Mạnh Đôn, có bài viết trao đổi trên diễn đàn của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (đăng ngày 20/02/2005) “Một số suy nghĩ
về hoạt động phát triển cộng đồng và xóa đói, giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc”,
đã khái quát 06 nguyên nhân và đề xuất các giải pháp, trong đó có các giải pháp chủ yếu và cần được ưu tiên như: Nâng cao nhận thức và năng lực của người dân và cộng đồng; chuyển giao công nghệ theo hướng ưu tiên phù hợp đặc thù địa lý và dân tộc; xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ đời sống, sản xuất và lưu thông Đặc biệt tác giả nhấn mạnh các hoạt động trên phải dựa trên nguyên tắc phát huy tối
đa sự tham gia của người dân và cộng đồng để đảm bảo tính hiệu quả và bền vững của các chương trình, dự án; cần sử dụng phương pháp tiếp cận cho phù hợp; xây dựng khả năng hợp tác giữa người dân và cán bộ phát triển…[4]
Nghiên cứu “Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo từ thực tiễn xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Nga (2016) làm rõ thêm thực trạng nghèo và các vấn đề chung trong thực hiện giảm nghèo, cũng như hạn chế trong thực hiện phát triển cộng đồng đối với hộ nghèo Tác giả cũng đã đưa ra một số giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả hơn mục tiêu giảm nghèo tại cộng đồng, từ đó giúp người nghèo tiếp tục khai thác những thế mạnh sẵn như điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng cũng như các giá trị bản địa như văn hóa, đặc sản, đặc biệt tác giả đã đưa ra một số các kết nối dịch vụ và các giải pháp hỗ trợ tín dụng cho người nghèo, các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề,
hỗ trợ việc làm…từ đó giúp người nghèo có thêm điều kiện sản xuất vươn lên thoát nghèo [12]
Tác giả Nguyễn Thu Thủy (2016) với nghiên cứu “Phát triển cộng đồng đối
với người dân tộc thiểu số trong giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh” Trong nghiên của của mình, tác giả đã đưa ra lý luận về người
Trang 128
dân tộc thiểu số trong thực hiện chương trình giảm nghèo bền vững, cũng như trong hoạt động phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu số trong giảm nghèo bền vững, trong đó đã áp dụng một số lý thuyết vào trong nghiên cứu, các yếu tố ảnh hưởng và cơ sở pháp lý của phát triển cộng đồng trong giảm nghèo bền vững Bên cạnh đó đưa ra một số giải pháp trong các hoạt động phát triển cộng đồng; đó là: tuyên truyền, nâng cao nhận thức; hỗ trợ sinh kế; hỗ trợ cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản (giáo dục, nước sạch và vệ sinh, nhà ở, y tế, tiếp cận thông tin ) để nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số trong hoạt động giảm nghèo bền vững [16]
Từ những kết quả nghiên cứu trên có thể thấy, các công trình nghiên cứu trên đều đề cập đến vấn đề đói nghèo dưới các góc độ khác nhau cả về lý luận và thực tiễn, các công trình đó đều nghiên cứu hoặc một phạm vi rất rộng (vĩ mô) hoặc
đi vào nghiên cứu một lĩnh vực rất cụ thể của đói nghèo hay nghiên cứu đưa ra giải pháp mang tính đặc thù ở một vùng kinh tế hoặc tại một địa phương chưa cụ thể hoá vấn đề nghiên cứu trên một đối tượng cụ thể Một số công trình, bài viết trên cho thấy, có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề đói nghèo và gợi mở hướng giải quyết những vấn đề đói nghèo bằng phương pháp cộng đồng Thành quả của những công trình nghiên cứu đã cung cấp những luận cứ khoa học, thực tiễn và hướng vận dụng giải quyết vấn đề này theo nhiều phương pháp, góc độ khác nhau, trong đó có phương pháp phát triển cộng đồng Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu phát triển cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo áp dụng đối với đối tượng là người nghèo trong giảm nghèo bền vững ở huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh vẫn là một khoảng trống chưa có công trình nghiên cứu được thực thi tại địa phương này Vì vậy, đề tài mà tác giả lựa chọn để nghiên cứu có tính mới và tính cấp thiết đối với công cuộc giảm nghèo hiện nay ở tỉnh Quảng Ninh
Với đề tài nghiên cứu này nhằm chỉ ra những tồn tại, hạn chế và cách khắc phục nó để phục vụ cho những mục đích cao cả hơn, phù hợp hơn, từ đó định hướng chương trình giảm nghèo xuyên suốt từ nay đến năm 2020 (giai đoạn 2016-2020)
Đề tài “ Phát triển cộng đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững từ
thực tiễn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh” góp phần giảm nghèo bền vững cho
người nghèo huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh dựa trên các hoạt động phát triển cộng đồng theo hướng chuyên nghiệp của Nghề công tác xã hội Qua đó, góp phần không
Trang 133.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về giảm nghèo bền vững, và phát triển cộng đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững
Phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phát triển cộng đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh
Đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động phát triển cộng đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Ba Chẽ nói riêng và đóng góp cho sự phát triển nghề công tác xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh nói chung
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Phát triển cộng đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh
Trang 1410
- Phạm vi không gian: xã Đồn Đạc, xã Nam Sơn, xã Thanh Sơn và xã Thanh Lâm, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh
- Phạm vi thời gian: từ tháng 9 năm 2016 đến tháng 3 năm 2017
5 Các câu hỏi nghiên cứu
(1) Xin cho biết các nguồn thu nhập trong gia đình, gia đình anh/chị được hưởng những chính sách xã hội nào của Nhà nước?
(2) Hãy cho biết sự tham gia vào các hoạt động kết nối sản, mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội và về việc huy động nguồn lực cộng đồng đối với các dịch vụ xã hội trong giảm nghèo bền vững?
(3) Yếu tố nào ảnh hưởng nhất đến đến hoạt động phát triển cộng đồng trong giảm nghèo bền vững?
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
Luận văn sử dụng các phương pháp sau:
(1) Phương pháp luận duy vật biện chứng: Đề tài xem xét hoạt động phát triển cộng đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững, sự tương tác trong mối quan hệ với các yếu tố môi trường và hệ thống xung quanh, đặt vấn đề trong một tổng thể
(2) Phương pháp luận duy vật lịch sử: Đối tượng đòi hỏi khi nghiên cứu vấn
đề nghèo, phải đặt chúng trong những bối cảnh lịch sử cụ thể và trên những địa bàn, vùng lãnh thổ cụ thể Nghèo chỉ được xem xét một cách toàn diện, đầy đủ khi chúng được đặt trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể với những địa phương nhất định Qua
đó, các vấn đề và yếu tố liên quan trong đề tài nghiên cứu có sự so sánh, đối chiếu theo các thời kỳ lịch sử, đảm bảo tính xác thực và toàn vẹn trong trình bày kết quả nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp phân tích tài liệu
Là phương pháp thu thập thông tin và sử dụng từ các công trình nghiên cứu
và các tài liệu có sẵn của các tác giả trong và ngoài nước Phương pháp này nhằm mực đích áp dụng phân tích các tài liệu như: Báo cáo về tình hình văn hóa, kinh tế,
xã hội của huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh, mẫu thu thập thông tin có sẵn của huyện, các báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, báo cáo chuyên ngành
Trang 1511
của Sở Lao động TBXH tỉnh Quảng Ninh, của phòng Lao động TBXH huyện Ba Chẽ và các văn bản thể hiện quan điểm chỉ đạo của cấp Uỷ chính quyền từ Tỉnh, huyện đến xã, các quy định về các tiêu chí giảm nghèo của Trung ương, các chính
sách trợ giúp…
* Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát, là một trong những cách thức thu phập thông tin thường xuyên được sử dụng trong quá trình nghiên cứu, nhằm đánh giá mức độ tin cậy của thông tin đã thu thập bằng việc quan sát hành vi, cử chỉ, thái độ của người được phỏng vấn đặc biệt là khi tiếp xúc với hộ nghèo Các thông tin thu được từ quan sát có thể sử dụng để đưa ra những đánh giá, nhận định về vấn đề nghèo đói, các hoạt động phát triển cộng động trong giảm nghèo bền vững hiện nay
* Phương pháp Trưng cầu ý kiến
Là phương pháp điều tra xã hội học nhằm thu thập thông tin bằng cách lập một bảng hỏi cho nhóm đối tượng trong một khu vực nhất định ở một không gian, thời gian nhất định
Trong đề tài có xây dựng một bảng hỏi là tổ hợp các câu hỏi khảo sát người nghèo về các hoạt động phát triển cộng đồng trong giảm nghèo bền vững ở địa phương và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động này Đối tượng của phương pháp này là 160 hộ gia đình nghèo tại 04 xã thuộc huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh, đây
là 4/8 xã, thị trấn của huyện và là 4/5 xã thuộc Chương trình 135, đồng thời là các
xã có tỷ lệ nghèo cao nhất của huyện Ba Chẽ
Thông tin thu được từ bảng hỏi sẽ là những thông tin hữu ích nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động phát triển cộng đồng trong giảm nghèo bền vững tại địa phương
* Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu là phương pháp thu thập thông tin bằng cách tác động tâm lý,
xã hội một cách trực tiếp giữa người phỏng vấn và người trả lời Phỏng vấn là phương tiện được sử dụng phổ biến trong các điều tra, nghiên cứu khoa học nhằm thu thập, khai thác thông tin từ đối tượng được phỏng vấn
Trong quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu thông qua đối thoại trực tiếp với đối tượng để điều tra Phỏng vấn sâu là những cuộc đối thoại được lặp đi lặp lại giữa nhà nghiên cứu và người cung cấp thông tin nhằm
Trang 1612
tìm hiểu cuộc sống, kinh nghiệm và nhận thức của người cung cấp thông tin thông qua chính ngôn ngữ của người ấy
Phương pháp này tác giả sẽ tiến hành phỏng vấn sâu 08 hộ nghèo của 4 xã
về thực hiện công tác giảm nghèo tại địa phương, cơ sở nhằm bổ sung những thông tin cần thiết làm sáng tỏ thực trạng nghèo đói và những yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo đói ở địa phương Việc sử dụng phương pháp này nhằm mục đích hiểu sâu sắc hơn về những thuận lợi và khó khăn khi triển khai các hoạt động phát triển cộng đồng từ thực tiễn cũng như các yếu tố tác động đến hoạt động này
* Phương pháp thảo luận nhóm:
Thảo luận nhóm là một kỹ thuật thu thập dữ liệu phổ biến nhất, việc thu thập
dữ liệu được thực hiện qua hình thức thảo luận giữa các đối tượng nghiên cứu với nhau dưới sự hướng dẫn của nhà nghiên cứu, nhằm thu thập ý kiến của các thành viên trong nhóm Trong quá trình thảo luận luôn tìm cách đào sâu bằng cách hỏi gợi
ý tiếp cho các thảo luận sâu hơn, những câu hỏi kích thích thảo luận, đào sâu nhằm giúp thu thập dữ liệu bên trong của đối tượng, hướng đối tượng tới những vấn đề
mà người nghiên cứu cần, những thông tin hữu ích thu được giúp nâng cao hiệu quả hoạt động phát triển cộng đồng trong giảm nghèo bền vững tại địa phương
Để nghiên cứu đạt được kết quả như mong muốn, tác giả đã thực hiện 01 cuộc thảo luận nhóm với các đối tượng: Đại diện chính quyền địa phương (cơ quan thường trực BCĐ giảm nghèo huyện), cán bộ LĐTB&XH và đại diện trưởng thôn của 4 xã, trong đó sử dụng các công cụ thu thập thông tin để hiểu biết cộng đồng, các hoạt động phát triển cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phát triển cộng đồng trong giảm nghèo bền vững tại địa phương Đây chính là cơ sở giúp tác giả xây dựng các giải pháp can thiệp, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả phát triển cộng đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững ở huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu của đề tài sẽ làm phong phú thêm hệ thống lý luận phát triển cộng đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững tại huyện Ba Chẽ và tỉnh Quảng Ninh nói riêng, Việt Nam nói chung Kết quả nghiên cứu một lần nữa góp phần khẳng định thêm cơ sở lý luận về phát triển cộng đồng đối với người
Trang 1713
nghèo trong giảm nghèo bền vững hiện nay: Các khái niệm giảm nghèo bền vững, khái niệm phát triển công đồng trong giảm nghèo bền vững; các quan điểm về giảm nghèo; các tiêu chí, chỉ tiêu đo lường nghèo; hoạt động phát triển cộng đồng đối với người giảm nghèo bền vững và các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói, yếu tố ảnh hưởng… Đề tài cũng làm rõ thêm vai trò của Nghề công tác xã hội trong việc giải quyết những vấn đề giảm nghèo bền vững hiện nay
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đánh giá những hoạt động phát triển cộng đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững, phân tích những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân trong quá trình hoạt động giảm nghèo tại huyện Ba Chẽ
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động phát triển cộng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo sự công bằng và tiến bộ xã hội
Đây có thể coi là nguồn tài liệu tham khảo đối với các cơ quan, tổ chức các địa phương để thực hiện có hiệu quả phát triển cộng đồng trong giảm nghèo bền vững ở những địa bàn có tỉ lệ nghèo cao
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương sau:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về phát triển cộng đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững
Chương 2 Thực trạng phát triển cộng đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển cộng đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh
Trang 1814
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO TRONG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
Phát triển cộng đồng là một phương pháp của công tác xã hội được xây dựng trên những nguyên lý, nguyên tắc và giả định của nhiều ngành khoa học xã hội khác như: Tâm lý xã hội, xã hội học, chính trị học, nhân chủng học…, được áp dụng ở nhiều nước và đã phát huy vai trò trong việc giải quyết các vấn đề của các nhóm cộng đồng nghèo, các nhóm yếu thế trong thời gian qua Đó là phương pháp giải quyết một số vấn đề khó khăn, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, hướng tới sự phát triển không ngừng về đời sống vật chất và tinh thần của người dân thông qua việc nâng cao năng lực, tăng cường sự tham gia, đoàn kết, phối hợp chặt chẽ giữa người dân với nhau, giữa người dân với các tổ chức và giữa các tổ chức với nhau trong phạm vi một cộng đồng
1.1 Một số khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá nghèo ở Việt Nam
Nghèo đói là một hiện tượng kinh tế xã hội mang tính chất toàn cầu Nó không chỉ tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển, mà nó còn tồn tại ngay tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển Tuy nhiên tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, thể chế chính trị xã hội và điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia mà tính chất, mức độ nghèo đói của từng quốc gia có khác nhau Nhìn chung mỗi quốc gia đều sử dụng một khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá để xác định mức độ nghèo khổ và đưa ra các chỉ số nghèo khổ để xác định giới hạn nghèo khổ Giới hạn nghèo khổ của các quốc gia được xác định bằng mức thu nhập tối thiểu để người dân có thể tồn tại được, đó là mức thu nhập mà một hộ gia đình có thể mua sắm được những vật dụng
cơ bản phục vụ cho việc ăn, mặc, ở và các nhu cầu thiết yếu khác theo mức giá hiện hành
1.1.1 Một số khái niệm
* Khái niệm về nghèo đói
- Theo quan điểm của các tổ chức quốc tế
(1) Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực châu á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9 năm 1993 tại Băng Cốc - Thái Lan, các quốc gia trong khu
Trang 1915
vực đã thống nhất cao rằng: "Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận" và đã đưa ra định nghĩa đói nghèo: Nghèo đói bao gồm nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối
+ Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địa phương
+ Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng
+ Theo khía cạnh kinh tế: Nghèo là do sự thiếu lựa chọn dẫn đến cùng cực và thiếu năng lực tham gia vào đời sống kinh tế xã hội của quốc gia, chủ yếu là trong lĩnh vực kinh tế
+ Theo khía cạnh khác: Nghèo là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, trong phạm vi một quốc gia, một khu vực, một vùng
(2) Năm 1998 UNDP công bố một bản báo cáo nhan đề “Khắc phục sự nghèo khổ của con người” đã đưa ra những định nghĩa về nghèo
+ Sự nghèo khổ của con người: thiếu những quyền cơ bản của con người như biết đọc, biết viết, được tham gia vào các quyết định cộng dồng và được nuôi dưỡng tạm đủ
+ Sự nghèo khổ tiền tệ: thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chi tiêu tối thiểu
+ Sự nghèo khổ cực độ: nghèo khổ, khốn cùng tức là không có khả năng thoả mãn những nhu cầu tối thiểu
+ Sự nghèo khổ chung: mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác định như sự không có khả năng thoả mãn những nhu cầu lương thực và phí lương thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở nước này hoặc nước khác
Trang 2016
(3) Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tháng 9/1995, tại Copenhaghen – Đan Mạch đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như là đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”
(4) Còn nhóm nghiên cứu của UNDP, UNFPA, UNICEF trong công trình
"Xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam -1995" đã đưa ra định nghĩa:"Nghèo là tình trạng thiếu khả năng trong việc tham gia vào đời sống quốc gia, nhất là tham gia vào lĩnh vực kinh tế”
Quan niệm này rất cụ thể, cho ta thấy một cách tiếp cận để xem xét nghèo đói trên cơ sở mức thu nhập bình quân/người/ngày và nói lên mức độ đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người thông qua việc sử dụng nguồn thu nhập đó để trang trải việc mua những sản phẩm thiết yếu
(5) Nhà kinh tế học Mỹ Galbraith cũng quan niệm: "Con người bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù thích đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập cộng đồng Khi đó họ không thể có những gì mà đa
số trong cộng đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mực"
Với quan niệm này, nhà kinh tế học người Mỹ vẫn sử dụng thước đo về thu nhập để trên cơ sở mức thu nhập đó mà con người sử dụng để đáp ứng nhu cầu ở mức độ nào
(6) Quan điểm mang tính kinh điển và triết lý hơn của một chuyên gia hàng đầu của tổ chức ILO – Abapia Sen, người được giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1998: “Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng” Ông nhận xét sự tồn tại của con người nói chung và người giàu, người nghèo nói riêng có cơ hội lựa chọn nhiều hơn, người nghèo có cơ hội lựa chọn ít hơn.[21]
(7) Khái niệm nghèo tương đối được Robert Mc Namara - nguyên Tổng giám đốc Wold Bank (WB) tháng 7/2008 định nghĩa "Nghèo ở mức độ tương đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại Những người nghèo tương đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê
Trang 21+ Nghèo là sự bần cùng hóa về phúc lợi, sự thiếu thốn vật chất, mức thu nhập thấp và tiêu dùng thấp như điều kiện dinh dưỡng thấp và điều kiện sống thiếu thốn
+ Dễ nhận thấy nghèo về thu nhập dẫn đến nghèo về con người, về sức khỏe kém, trình độ giáo dục thấp, vì nó là nguyên nhân và hệ quả của nghèo đói hay còn gọi là cái “vòng luẩn quẩn” của sự đói nghèo
+ Nghèo về thu nhập, nghèo về con người lại dẫn đến nghèo về xã hội như dễ
bị tổn thương trước những bất lợi về bệnh tật, thiên tai, khủng hoảng kinh tế, không
có tiếng nói, bất lực trước sự cải thiện điều kiện sống của cá nhân
(8) Theo Liên Hợp Quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, không đủ mặc, không được đi học, không được đi khám bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa là sự không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng Nghèo có nghĩa dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề
xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình
vệ sinh an toàn” (Tuyên bố Liên Hợp Quốc, Tháng 6/2008, được lãnh đạo của tất cả
các tổ chức UN thông qua)
Như vậy nghèo tương đối không chỉ bao hàm mức thu nhập và tiêu dùng thấp
mà còn bao gồm cả mức hưởng thụ thấp về giáo dục, y tế và các lĩnh vực khác của
sự phát triển con người Đặc biệt, nghèo tương đối còn đề cập đến "sự thiếu quyền lực và tiếng nói, cũng như tính chất dễ bị tổn thương và đe doạ của người nghèo" Trong những hoàn cảnh nhất định, họ không có tiếng nói chính trị, thậm chí còn bị tẩy chay sống biệt lập với xã hội
Trang 2218
- Theo quan điểm của Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm nghèo đói, song ý kiến chung nhất cho rằng ở Việt Nam tách riêng đói và nghèo thành 2 khái niệm riêng biệt, cụ thể:
+ Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện
+ Đói: là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc sống Đó là các hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến 3 tháng, thường vay mượn cộng đồng và thiếu khả năng chi trả Giá trị đồ dùng trong nhà không đáng kể, nhà ở dốt nát, con thất học, bình quân thu nhập dưới 13kg gạo/người/tháng (tương đương 45.000VND)
* Khái niệm về nghèo đa chiều
Theo Amartya Kumar Sen, nhà Kinh tế học Ấn Độ (đoạt giải Nobel Kinh tế):
để tồn tại, con người cần có những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiểu; dưới mức
tối thiểu này, con người sẽ bị coi là đang sống trong nghèo nàn [17]
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức năm 1995 đưa định nghĩa về nghèo: "Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới một đô la mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại"
Còn nhóm nghiên cứu của Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc, Quỹ dân
số Liên Hợp Quốc, Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc trong công trình "Xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam-1995" đã đưa ra định nghĩa: "Nghèo là tình trạng thiếu khả năng trong việc tham gia vào đời sống quốc gia, nhất là tham gia vào lĩnh vực kinh tế"
Trong “Báo cáo về tình hình phát triển thế giới - Tấn công nghèo đói” năm
2000, Ngân hàng thế giới thừa nhận quan điểm truyền thống hiện nay về đói nghèo:
Đói nghèo “không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất (được đo lường theo một khái niệm thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng) mà còn là sự hưởng thụ thiếu thốn
về giáo dục và y tế” Báo cáo đã mở rộng quan điểm về đói nghèo khi tính đến cả
Trang 2319
nguy cơ dễ bị tổn thương, dễ gặp rủi ro của người nghèo Báo cáo nêu bật “nghèo
có nghĩa là không có nhà cửa, quần áo, ốm đau và không ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường” Báo cáo chỉ ra “người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương
trước những sự biểu hiện bất lợi nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ Họ thường
bị các thể chế của nhà nước và xã hội đối xử tàn tệ, bị gạt ra rìa và không có tiếng nói quyền lực trong các thể chế đó”[18]
Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các tổ chức
quốc tế cho rằng nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng nghèo cần được nhìn
nhận là sự thiếu hụt/không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người
Vì vậy, nghèo đa chiều có thể được hiểu là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu một số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống
Hiện nay, Việt Nam đã áp dụng phương pháp đo lường nghèo đa chiều để đo lường nghèo trong giai đoạn 2016-2020 với 05 chiều thiếu hụt và 10 chỉ số đo lường thiếu hụt cụ thể:
+ 05 chiều thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản: tiếp cận về y tế, giáo dục, nhà
ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin Cùng với đó là 10 chỉ số đo lường mức
độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm (1) trình độ giáo dục của người lớn; (2) tình trạng đi học của trẻ em; (3) tiếp cận các dịch vụ y tế; (4) bảo hiểm y tế; (5) chất lượng nhà ở; (6) diện tích nhà ở bình quân đầu người; (7) nguồn nước sinh hoạt; (8) loại hố xí/nhà tiêu; (9) sử dụng dịch vụ viễn thông; (10) tài sản
phục vụ tiếp cận thông tin
1.1.2 Tiêu chuẩn đánh giá nghèo ở Việt Nam
* Tiêu chí đánh giá hộ nghèo
Căn cứ vào mức sống thực tế các địa phương, trình độ phát triển KT-XH, từ năm 1993 đến nay Chính phủ đã 7 lần công bố tiêu chuẩn cụ thể cho hộ nghèo Các tiêu chí này thay đổi theo thời gian điều tra cùng với sự thay đổi mặt bằng thu nhập quốc gia
(1) Chuẩn nghèo giai đoạn 1993 - 1995:
Hộ đói: Là hộ có mức bình quân thu nhập đầu người quy gạo/tháng dưới 13 kg đối với thành thị, dưới 8 kg đối với khu vực nông thôn
Trang 2420
Hộ nghèo: Là hộ có mức bình quân thu nhập đầu người quy gạo/tháng dưới 20
kg đối với khu vực thành thị và dưới 15 kg đối với khu vực nông thôn
(2) Chuẩn nghèo giai đoạn 1995 - 1997:
Hộ đói: Là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy
ra gạo dưới 13 kg, tính cho mọi vùng
Hộ nghèo: Là hộ có thu nhập như sau:
- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng
- Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/người/tháng
- Vùng thành thị: dưới 25 kg/người/tháng
(3) Chuẩn nghèo giai đoạn 1998 - 2000 (Công văn số 1751/LĐTBXH):
Hộ đói: Là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy
ra gạo dưới 13 kg, tương đương 45.000 đồng (giá năm 1997, tính cho mọi vùng)
Hộ nghèo: Là hộ có thu nhập tuỳ theo từng vùng ở các mức tương ứng như sau:
- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng (tương đương 55.000 đồng)
- Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/người/tháng (tương đương 70.000 đồng)
- Vùng thành thị: dưới 25 kg/người/tháng (tương đương 90.000 đồng)
(4) Chuẩn nghèo giai đoạn 2001 – 2005 (Quyết định số
1143/2000/QĐ-LĐTBXH) Do tốc độ tăng trưởng kinh tế và mức sống, năm 2001 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã công bố chuẩn nghèo áp dụng cho thời kỳ 2001 – 2005, trong đó:
- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng
- Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/người/tháng
Trang 25đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020), cụ thể:
- Vùng nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau :
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản
- Vùng thành thị : là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau :
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản
* Các tiêu chuẩn nghèo khác
Theo cách đánh giá của Bộ LĐTBXH phạm vi đói nghèo có từng cấp khác nhau Mỗi cấp thể hiện những đặc điểm riêng biệt về mức độ nghèo
Hộ nghèo: Là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo Trong hộ nghèo, lại có hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, đây là các hộ gia đình dân tộc sống vùng dân tộc, miền núi, vùng sâu, vùng xa có mức thu nhập thấp hơn chuẩn nghèo Các hộ này còn tồn tại "phong tục tập quán sản xuất mang nặng tính tự nhiên hái lượm" chủ yếu phát lương làm rẫy, tổng giá trị tài sản bình quân đầu người dưới 1 triệu đồng
Huyện nghèo: Là huyện có tỉ lệ hộ nghèo lớn hơn 50% Thống kê huyện nghèo là cơ sở để Chính phủ có chính sách giảm nghèo thích hợp nhằm đưa các huyện nghèo có mức thu nhập trong những năm tới ngang bằng mức thu nhập của
cả nước
Trang 26* Khái niệm phát triển
Phát triển là làm cho biến đồi từ ít đến nhiều, từ thấp đến cao, hẹp đến rộng, đơn giản đến phức tạp (Tự điển tiếng Việt, 2011)
Theo Liên Hiệp Quốc (1997): “Phát triển là tạo ra những cơ hội ngày càng nhiều cho tất cả mọi người để có đời sống tốt hơn, điều thiết yếu là tăng cường và cải thiện các điều kiện cho giáo dục, sực khỏe, dinh dưỡng, nhà ở và an sinh xã hội cũng như bảo vệ môi trường”
* Khái niệm phát triển cộng đồng
Khái niệm PTCĐ được Chính phủ Anh sử dụng đầu tiên, 1940:“Phát triển
cộng đồng là một chiến lược phát triển nhằm vận động sức dân trong các cộng đồng nông thôn cũng như đô thị để phối hợp cùng những nỗ lực của nhà nước để cải thiện cơ sở hạ tầng và tăng khả năng tự lực của cộng đồng”
Theo từ điển bách khoa toàn thư Wikipedia (Mỹ) thì “Phát triển cộng
đồng” là một khái niệm rộng/áp dụng trong thực tiễn hoặc trong chương trình đào
tạo những người lãnh đạo dân sự, những “tích cực viên” làm việc với người dân và các nhà chuyên môn để cải thiện các lĩnh vực cộng đồng địa phương “Phát triển
cộng đồng” là tiến trình tạo dựng/trao quyền (empower) cho cá nhân và nhóm người
Trang 2723
bằng cách cung cấp những kĩ năng cần thiết để họ có thể thay đổi cộng đồng của chính mình.[22]
Theo Murray G Ross, 1955: “Phát triển cộng đồng là một diễn tiến qua đó
CĐ nhận rõ nhu cầu hoặc mục tiêu phát triển của CĐ, biết sắp xếp các nhu cầu ưu tiên và mục tiêu này, phát huy sự tự tin và ý muốn thực hiện chúng, biết tìm đến tài nguyên bên trong và ngoài CĐ để đáp ứng chúng, thông qua đó sẽ phát huy những thái độ và kỹ năng hợp tác trong CĐ”
Trong tài liệu của Liên Hợp Quốc, 1956 có viết như sau: “Thuật ngữ phát
triển cộng đồng được sử dụng để chỉ một chương trình theo phương pháp tiếp cận
và kĩ thuật dựa vào cộng đồng sở tại như một đơn vị hành động nhằm kết hợp sự trợ giúp từ bên ngoài với những nỗ lực, quyền tự quyết/tự xác định được tổ chức lại và
từ đó, khuấy động/khuyến khích sang kiến và sự lãnh đạo của địa phương, coi đó như công cụ tiên quyết để thay đổi… Với các nước kinh tế công nghiệp với các khu vực chậm phát triển thì trọng tâm chủ yếu đặt vào các hoạt động cải thiện điều kiện sống cơ bản của cộng đồng, bao gồm cả việc thỏa mãn một số nhu cầu phi vật chất của cộng đồng”.[23]
Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh, 1995:“Phát triển cộng đồng là một tiến
trình làm chuyển biến CĐ nghèo, thiếu tự tin thành CĐ tự lực thông qua việc giáo dục gây nhận thức về tình hình, vấn đề hiện tại của họ, phát huy các khả năng và tài nguyên sẵn có, tổ chức các hoạt động tự giúp, bồi dưỡng và củng cố tổ chức và tiến tới tự lực phát triển”.[14]
Qua một số khái niệm được trích dẫn trên đây có thể cho thấy các khái niệm này có những ranh giới khác biệt, rộng hẹp khác nhau, tùy vào quan điểm tiếp cận, mục đích sử dụng của tác giả Tuy có sự khác biệt đó, những khái niệm trên dường như cũng có những điểm gì đó rất chung Cần thiết phải rút ra một số điểm chung nhất từ những khái niệm trên đây, có thể thống nhất khái niệm phát triển cộng đồng
như sau: “Phát triển cộng đồng là tiến trình giải quyết một số vấn đề khó khăn, đáp
ứng nhu cầu của cộng đồng hướng tới sự phát triển không ngừng về đời sống vật chất, tinh thần của người dân thông qua việc nâng cao năng lực, tăng cường sự
Trang 2824
tham gia, đoàn kết, phối hợp chặt chẽ giữa người dân với nhau, giữa người dân với các tổ chức và giữa các tổ chức với nhau trong khuôn khổ cộng đồng”
* Phát triển cộng đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững
Phát triển cộng đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững là phương pháp giải quyết một số vấn đề khó khăn, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, hướng tới sự phát triển không ngừng về đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo thông qua việc nâng cao năng lực, tăng cường sự tham gia, đoàn kết, phối hợp chặt chẽ và tương tác qua lại giữa người nghèo với nhân viên công tác xã hội, giữa người nghèo với các tổ chức và giữa các tổ chức với nhau trong phạm vi một
Củng cố thiết chế xã hội để tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển biến xã hội
và sự tăng trưởng ở các cộng đồng nghèo
Bảo đảm sự tham gia tối đa của người nghèo vào tiến trình phát triển cộng đồng Người nghèo phải là người trực tiếp tham gia vào tiến trình PTCĐ Họ không trông chờ, ỷ lại ở Chính phủ
Đẩy mạnh công bằng xã hội bằng cách tạo điều kiện cho các nhóm thiệt thòi nhất nói lên nguyện vọng của mình và tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề của họ Quan tâm, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhóm người nghèo trong xã hội để giải quyết đúng vấn đề người nghèo đang mong muốn
Trang 2925
* Ý nghĩa của phát triển cộng đồng trong giảm nghèo bền vững
An sinh của người dân
Phát triển của cộng đồng là đem lại cho mọi người đều có quyền được phát triển, có công ăn việc làm, đảm bảo cuộc sống có nhân phẩm và giá trị, được tôn trọng và bảo vệ
Công bằng xã hội
Mọi người đều có quyền, có cơ hội như nhau để thỏa mãn nhu cầucơ bản đó
là nhu cầu được tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như thăm khám sức khỏe, vui chơi giải trí công cộng…và giữ gìn giá trị nhân phẩm của mình Công bằng xã hội
đòi hỏi phân bố tài nguyên và quyền lấy quyết định trong xã hội
Tinh thần cộng đồng và trách nhiệm xã hội
Phát triển cộng đồng có ý nghĩa lớn lao trong việc gắn kết các thành viên trong cộng đồng trong các hoạt động cùng triển khai
1.2.3 Các nguyên tắc làm việc của nhân viên công tác xã hội đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững
* Bắt đầu từ nhu cầu, khả năng của người dân và tài nguyên sẵn có
Một trong các nguyên tắc cơ bản của PTCĐ là tất cả các hoạt động của cộng đồng phải xuất phát từ nhu cầu mong muốn, nguyện vọng của dân Đặc biệt là nhóm người nghèo, chứ không phải xuất phát từ ý chí chủ quan của các cấp lãnh đạo trong cộng đồng
Khả năng của người dân và tài nguyên sẵn có ở đây chính là những khả năng, năng lực, tài nguyên còn tiềm ẩn, bị bỏ quên hay bị gạt ra ngoài Đất đai, tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, cơ xưởng, trình độ văn hóa tay nghề, khả năng tổ chức, kinh nhgiệm, sức khỏe, tuổi trẻ, hay các tổ chức phi chính thức tích cực; là sức mạnh tinh thần như nền văn hóa, ước vọng, tấm lòng, sự nhiệt tình, tinh thần hợp tác, ý chí vươn lên của một cộng đồng
* Tin tưởng người dân, người nghèo và tin vào khả năng thay đổi của họ
Khi người dân đã có động lực, khi người dân đã được huy động, họ sẽ tìm thấy sức mạnh tinh thần và sức mạnh vật chất cần thiết để hành động Khả năng của người dân ở đây là khả năng suy tính cho phù hợp với hoàn cảnh, khả năng đóng
Trang 3026
góp kinh nghiệm, khả năng đóng góp nguồn lực Khả năng ở đây không phải là khả năng của một hai cá nhân, cá thể mà là của một tập thể, một cộng đồng, đó là nguồn lực của CĐ
Như Hồ Chủ Tịch đã nói: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu Khó vạn lần
dân liệu cũng xong” Những bài học rút ra ở những thời điểm khó khăn nhất trong
các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược nước ta cho thấy nếu biết khai thác, phát huy khả năng của dân, thì đó là sức mạnh vô địch Một đoạn cầu bị phá hủy, ô tô không đi lại được, để sửa đoạn cầu đó đòi hỏi có sức người, sức của
và thời gian Nhưng trong điều kiện chiến tranh khốc liệt, không thể để đoàn xe tiếp viện dừng lại, những gia đình trong làng gần đoạn cầu bị hỏng đã không tiếc tài sản, nhà cửa của mình, sẵn sàng dỡ cả nhà để lát lại cầu để thông xe Đó là nguồn lực, đó
* Khuyến khích người dân tham gia vào việc thảo luận, lấy quyết định, hành động để người dân đồng hóa họ với dự án của CĐ
Việc tham gia của người dân vào các dự án của CĐ là rất cần thiết Nó quyết định thành công hay thất bại của dự án đó Bởi vậy mà việc khuyến khích và vận động người dân tham gia vào việc thảo luận, lấy quyết định không chỉ thể hiện
sự tôn trọng và quyền lợi vị trí của họ mà còn tạo cho họ thấy mình đang là chủ của
dự án mà họ đang hưởng lợi
* Khởi đầu từ những hoạt động nhỏ để có thành công nhỏ
Những dự án PTCĐ thường bắt đầu từ những chương trình nhỏ, nhất là với người nghèo nên bắt đầu từ việc nhỏ, thành công và rút kinh nghiệm làm to hơn Vì người nghèo có năng lực quản lý hạn chế, không thể bắt đầu từ những chương trình lớn được Những dự án mang tính nhỏ lẻ chỉ đơn giản là xây một bể nước hay một nhà vệ sinh… cho một hộ gia đình nhưng những công trình nhỏ này mang tính bền
Trang 3127
vững và nó cần thiết cho những người dân nghèo Tuy không giải quyết hết tuyệt đối vấn đề nhưng từ những thành công nhỏ của PTCĐ như thế này sẽ giúp con người vươn tới được ấm no, hạnh phúc
* Thành lập các nhóm trong cộng đồng có cùng quan tâm để thực hiện các công việc của cộng đồng, không chỉ để giải quyết một vấn đề cụ thể, mà còn nhằm củng cố những tổ chức dân sự/tự nguyện của dân Để PTCĐ trong giảm nghèo thực hiện đạt kết quả cao
Nhu cầu muốn thay đổi khi đã được đông đảo người dân nhận thức, được giác ngộ một cách rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân thì nó sẽ trở thành động lực
để người dân đoàn kết lại, tổ chức lại, cùng chung lưng đấu cật, cùng hành động Trong quá trình tổ chức lại, thành lập các nhóm, các tổ chức đại diện của mình sẽ là một nhu cầu thực tế Mỗi tổ chức, mỗi nhóm phải khuyến khích người dân tham gia đầy đủ vào các hoạt động Người dân phải được tham gia cùng làm, kết hợp với các
tổ chức nguồn lực bên ngoài để giải quyết vấn đề của chính họ Trong các cuộc họp, tác viên cộng đồng chỉ là người điều phối còn người dân mới là người đưa ra các quyết định cuối cùng cho các vấn đề của họ
* Quy trình “Hành động – Rút kinh nghiệm- Hành động” sẽ được áp dụng
để giúp cộng đồngcó khả năng thực hiện dự án lớn hơn hoặc quản lý ở trình độ cao hơn
Đây là nguyên tắc của PTCĐ rất phù hợp với các hoạt động của người nghèo đặc biệt là trong các chương trình giảm nghèo triển khai cho người nghèo
Trong một chương trình PTCĐ thông thường sẽ tiến hành ở một địa bàn nhỏ bởi việc giác ngộ và thay đổi nhận thức của người dân là việc rất khó Sau mỗi lần tiến hành chương trình ban tổ chức sẽ rút kinh nghiệm đánh giá lại những thành công và hạn chế của chương trình đó rồi từ đó triển khai mô hình ra địa bàn khác rộng hơn trên căn cứ kết quả thành công bước đầu của chương trình trước Đó gọi là
“ Hành động – Rút kinh nghiệm – Hành động”
* Hỗ trợ các nhóm biết giải quyết các mâu thuẫn trong nhóm có hiệu quả để giúp nhóm phát triển
Trang 3228
Giữa bất cứ cá nhân, nhóm hay cộng đồng nào cũng có những điểm tương đồng hay bất đồng về mục đích, quyền lợi, sở thích NVXH cần tương tác tạo sự thay đổi Các bên cùng tham gia bàn bạc tìm giải pháp Từ đó tạo điều kiện cho hai bên thương lượng Đề ra giải pháp tốt nhất để cùng hợp tác Dù có nhiều bất đồng nhưng cố gắng tìm giải pháp tốt nhất để hợp tác Cả hai bên cùng thấy mình thắng lợi
* Liên kết CĐ với những tổ chức, hội đoàn khác để nhận thêm/ chia sẻ sự hỗ trợ và sự hợp tác
Việc liên kết giữa CĐ với những tổ chức, hội đoàn thể khác là một việc làm hết sức quan trọng Nếu chỉ một cá nhân CĐ nào đó tự giúp nhau mà không có sự ủng hộ từ những tổ chức, hội đoàn thể khác thì sẽ rất khó khăn cho CĐ đó trong việc huy động nguồn lực để hỗ trợ CĐ thực hiện các chương trình của CĐ đồng thời tạo ra sự hợp tác về nhiều mặt giúp CĐ phát triển Ở Việt Nam có rất nhiều các tổ chức phi chính phủ như Actionaid, FHI… đóng góp cho các hoạt động triển khai tại
CĐ
1.3 Cơ sở pháp lý liên quan đến phát triển cộng đồng trong giảm nghèo bền vững
1.3.1 Văn bản pháp lý về người nghèo
* Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo
Trong Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ đã đề ra các mục tiêu cần phải đạt được, cụ thể:
(1) Mục tiêu tổng quát: Tạo sự chuyển biến nhanh hơn về đời sống vật chất, tinh thần của người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, bảo đảm đến năm 2020 ngang bằng các huyện khác trong khu vực Hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp bền vững, theo hướng sản xuất hàng hoá, khai thác tốt các thế mạnh của địa phương Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù hợp với đặc điểm của từng huyện; chuyển đổi cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả theo quy hoạch; xây dựng xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc
Trang 33tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo, tập huấn, huấn luyện đạt trên 25%
(3) Mục tiêu cụ thể đến năm 2015: Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống mức ngang bằng mức trung bình của tỉnh Tăng cường năng lực cho người dân và cộng đồng để phát huy hiệu quả các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu được đầu tư, từng bước phát huy lợi thế về địa lý, khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; bước đầu phát triển sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô nhỏ và vừa, người dân tiếp cận được các dịch vụ sản xuất và thị trường tiêu thụ sản phẩm một cách thuận lợi; lao động nông nghiệp còn dưới 60% lao động xã hội; tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo, tập huấn, huấn luyện đạt trên 40%
(4) Mục tiêu cụ thể đến năm 2020: Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống mức ngang bằng mức trung bình của khu vực Giải quyết cơ bản vấn đề sản xuất, việc làm, thu nhập để nâng cao đời sống của dân cư ở các huyện nghèo gấp 5 - 6 lần so với hiện nay Lao động nông nghiệp còn khoảng 50% lao động xã hội, tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo, tập huấn, huấn luyện đạt trên 50%; số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50% Phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, trước hết là hệ thống thuỷ lợi bảo đảm tưới tiêu chủ động cho toàn bộ diện tích đất lúa có thể trồng 2 vụ, mở rộng diện tích tưới cho rau màu, cây công nghiệp; bảo đảm giao thông thông suốt 4 mùa tới hầu hết các xã và cơ bản có đường ô tô tới các
Trang 3430
thôn, bản đã được quy hoạch; cung cấp điện sinh hoạt cho hầu hết dân cư; bảo đảm
cơ bản điều kiện học tập, chữa bệnh, sinh hoạt văn hoá, tinh thần, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
* Nghị quyết 80/NQ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2011 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020
Mục tiêu trong Nghị quyết đề ra nhằm định hướng thực hiện giảm nghèo nhanh và bền vững từ năm 2011 đến năm 2020, cụ thể:
(1) Mục tiêu tổng quát: Giảm nghèo bền vững là một trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư
(2) Mục tiêu cụ thể: Thu nhập bình quân đầu người của các hộ nghèo tăng lên 3,5 lần; tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm 2%/năm, riêng các huyện, xã nghèo giảm 4%/năm theo chuẩn nghèo từng giai đoạn;
Điều kiện sống của người nghèo được cải thiện rõ rệt, trước hết là về y tế, giáo dục, văn hóa, nước sinh hoạt, nhà ở; người nghèo tiếp cận ngày càng thuận lợi hơn các dịch vụ xã hội cơ bản;
Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở các huyện nghèo; xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn được tập trung đầu tư đồng bộ theo tiêu chí nông thôn mới, trước hết
là hạ tầng thiết yếu như: giao thông, điện, nước sinh hoạt
* Nghị quyết 15-NQ/TW, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá XI, về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020
Nội dung Nghị quyết 15-NQ/TW đã đề cập nhiều vấn đề trong đó có vấn đề
về giảm nghèo: Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo việc làm, học nghề, đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, ưu tiên người nghèo, người dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, xã nghèo, thôn bản đặc biệt khó khăn Đẩy mạnh việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Chính phủ và Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, trong đó chú trọng các chính sách
Trang 3531
giảm nghèo đối với các huyện nghèo, ưu tiên người nghèo là đồng bào dân tộc thiểu
số thuộc huyện nghèo, xã biên giới, xã an toàn khu, xã, thôn bản đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang ven biển, hải đảo, thu hẹp chênh lệch về mức sống và an sinh xã hội
so với bình quân cả nước Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung chính sách hỗ trợ hộ cận nghèo để giảm nghèo bền vững
* Nghị quyết 76/2014/QH13 của Quốc hội khóa 13 về Đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020
Đây là Nghị quyết đầu tiên của Quốc hội về lĩnh vực giảm nghèo, trong Nghị quyết có đề cập đến các nhiệm vụ giao cho Chính phủ thực hiện như:
- Xây dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản; hoàn thiện tiêu chí phân loại và quy trình xác định đối tượng, địa bàn nghèo Điều tra, phân loại và công bố tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo theo chuẩn nghèo mới; Đổi mới có hiệu quả cơ chế điều hành, chủ trì, phân công, phân cấp, phối hợp trong công tác giảm nghèo Giai đoạn 2016 - 2020:
- Đạt mục tiêu giảm nghèo theo Nghị quyết 5 năm (2016 - 2020) của Quốc hội, hạn chế thấp nhất tình trạng tái nghèo;
- Tăng nguồn lực đầu tư và cân đối nguồn lực trung hạn của Nhà nước cho các chính sách, chương trình giảm nghèo; lựa chọn chính sách để ưu tiên phân bổ, sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn lực; bảo đảm lồng ghép chính sách và nguồn lực có hiệu quả Thúc đẩy việc kết nối phát triển kinh tế - xã hội giữa vùng khó khăn với
Trang 3632
vùng phát triển Thực hiện chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hỗ trợ thị trường phù hợp đặc điểm vùng nhằm thu hút doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh và cơ sở hạ tầng, đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động tại chỗ, nâng cao khả năng sản xuất hàng hóa gắn với thị trường tại các địa bàn nghèo, địa bàn khó khăn, địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số Kết hợp chặt chẽ giữa chính sách giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh;
- Thực hiện chính sách hỗ trợ có điều kiện gắn với đối tượng, địa bàn và thời hạn thụ hưởng nhằm tăng cơ hội tiếp cận chính sách và khuyến khích sự tích cực, chủ động tham gia của người nghèo Duy trì, bổ sung một số chính sách hỗ trợ phù hợp đối với hộ mới thoát nghèo, hộ cận nghèo;
- Tăng nguồn vốn tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo, hộ cận nghèo; điều chỉnh đối tượng, mức vay, lãi suất, thời hạn cho vay phù hợp gắn với chính sách khuyến nông, khuyến công, khuyến lâm, khuyến ngư, chuyển giao khoa học kỹ thuật, xây dựng, nhân rộng mô hình thoát nghèo gắn kết với cộng đồng dân cư trên địa bàn;
- Ưu tiên nguồn lực đầu tư cơ sở hạ tầng và phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, huyện nghèo, xã nghèo, xã biên giới, xã an toàn khu, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang ven biển, hải đảo Giải quyết cơ bản tình trạng hộ đồng bào dân tộc thiểu số không có đất ở và giải quyết đất sản xuất hoặc chuyển đổi nghề cho ít nhất 80% hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn đang thiếu đất sản xuất; kết hợp đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo chưa được hỗ trợ đất sản xuất, đồng thời có chính sách giải quyết tình trạng di dân không theo quy hoạch ở một số địa phương;
- Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục và tỷ lệ đào tạo nghề khu vực nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số; phân luồng, đào tạo nghề hợp lý, hiệu quả; duy trì các chính sách hỗ trợ cho học sinh, sinh viên thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo; nâng cao tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi ở địa bàn khó khăn, đặc biệt khó khăn; phát triển các trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú với quy mô phù hợp; đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác đào tạo cử tuyển gắn với sử dụng;
Trang 3733
- Bảo đảm ít nhất 90% hộ cận nghèo tham gia bảo hiểm y tế; 70% xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế, trên 90% trạm y tế cấp xã có đủ điều kiện khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế; điều chỉnh cơ cấu đầu tư cho lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và chính sách bảo hiểm y tế để bảo đảm tăng cơ hội tiếp cận các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe cho người nghèo, người cận nghèo;
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước; hoàn thiện cơ chế điều hành, phân công đầu mối chịu trách nhiệm chính, phân cấp đầy đủ nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể cho địa phương; cải cách thủ tục hành chính và phương thức để người dân, cộng đồng tham gia và tiếp cận chính sách giảm nghèo; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức tự vươn lên thoát nghèo
1.3.2 Văn bản pháp lý về công tác xã hội đối với người nghèo
Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25 tháng 3 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 - 2020
Trong đề án đã cụ thể hoá quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong việc chăm lo đời sống nhân dân, xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến, góp phần giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Để hiện thực hóa Bộ Lao động - Thương binh và xã hội cùng với các Bộ, ngành liên quan tiến hành củng cố xây dựng các văn bản hướng dẫn liên quan, tổ chức xây dựng mô hình trung tâm công tác xã hội cho các địa phương, tiến hành đào tạo nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp thông qua các loại hình đào tạo khác nhau
Thông tư Liên tịch số 09/2013/ TTLT/BLĐTBXH-BNV ngày 10/6/2013 của
Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội: Thông tư liên tịch đã hướng dẫn rất cụ thể về các nhóm đối tượng phục vụ của Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội, trong đó có người nghèo
Thông tư số 07/2011/TT-BLĐTBXH ngày 24 tháng 5 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội hướng dẫn tiêu chuẩn cộng tác viên công tác xã hội cấp xã: Trong Thông tư đã quy định cụ thể các loại đối tượng phục
vụ của cộng tác viên công tác xã hội, trong đó có người nghèo
Trang 3834
Kết luận chương 1
Chương 1 của luận văn đã trình bày lý luận về phát triển cộng đồng trong giảm nghèo bền vững Nghiên cứu cũng đã đưa ra được các khái niệm liên quan đến đối tượng đang nghiên cứu, lý luận về phát triển cộng đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững, mục đích, ý nghĩa của phát triển cộng đồng, các nguyên tắc làm việc của nhân viên công tác xã hội Nghiên cứu đưa ra những nội dung các hoạt động phát triển cộng đồng và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển cộng đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững Ngoài ra, cơ sở pháp lý
về phát triển cộng đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo bền vững được trình bày khá chi tiết trong luận văn
Như vậy PTCĐ và giảm nghèo bền vững có chung một mục tiêu đó là cả hai đều hướng tới sự phát triển chung của xã hội, nâng cao chất lượng đời sống của người dân và nhằm cung cấp cho con người những cơ hội để phát triển toàn diện các tiềm năng Cả hai mục tiêu đều bao hàm chung những nội dung, đó là : Hướng tới cải thiện chất lượng của cộng đồng, với sự cân bằng về vật chất và tinh thần, qua
đó tạo những chuyển biến xã hội trong cộng đồng Tạo sự bình đẳng trong tham gia của mọi nhóm xã hội trong cộng đồng, kể cả các nhóm thiệt thòi nhất đều có quyền nêu lên nguyện vọng của mình và được tham gia vào các hoạt động phát triển, qua
đó, góp phần đẩy mạnh công bằng xã hội Củng cố các thiết chế/ tổ chức để tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển biến xã hội và sự tăng trưởng Thu hút sự tham gia tối đa của người dân vào tiến trình phát triển
Trang 3935
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO TRONG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TẠI HUYỆN BA CHẼ,
TỈNH QUẢNG NINH
2 Thực trạng phát triển cộng đồng đối với người nghèo trong giảm nghèo về vững tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh
2.1 Khái quát về địa bàn và khách thể nghiên cứu
2.1.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu:
* Về lịch sử
Năm 1946 huyện Hải Chi được thành lập thuộc tỉnh Hải Ninh, sau đổi tên thành huyện Ba Chẽ thuộc tỉnh Quảng Ninh Ba Chẽ là nơi giàu lòng yêu nước, giàu truyền thống cách mạng, nơi đây quê hương cách mạng Hải Chi với những con người chân thật, giản dị, cần cù lao động, dũng cảm trong chiến đấu, truyền thống tốt đẹp đó luôn được phát huy trong sự nghiệp đấu tranh xây dựng đất nước theo con đường đổi mới của Đảng
Sau năm 1975, huyện Ba Chẽ có 6 xã: Đạp Thanh, Đồn Đạc, Lương Mông, Minh Cầm, Nam Sơn, Thanh Lâm Ngày 23-2-1977, thành lập thị trấn Ba Chẽ, đến ngày 6-3-1984, chia xã Thanh Lâm thành 2 xã: Thanh Lâm và Thanh Sơn
Trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tổ quốc, do địa thế và truyền thống đánh giặc kiên cường của các dân tộc huyện Ba Chẽ xứng đáng là căn cứ địa, là hậu phương vững chắc của tỉnh Quảng Ninh tiếp tục chiến đấu bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ biên cương, lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc
Năm 2001, huyện Ba Chẽ được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang”; năm 2006 huyện
Ba Chẽ tiếp tục vinh dự đón nhận “Huân chương lao động hạng ba” do Chủ tịch nước trao tặng Năm 2003, đình Làng Dạ xã Thanh Lâm đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh và hiện nay đang được Uỷ ban nhân dân tỉnh đầu tư xây dựng khu di tích
Trang 4036
Phát huy truyền thống quê hương Ba Chẽ anh hùng Dưới sự lãnh đạo của BCH Đảng bộ Tỉnh, sự quan tâm giúp đỡ của Trung ương, các ban ngành chức năng của Tỉnh, sự lãnh đạo trực tiếp của BCH Đảng bộ huyện diện mạo của quê hương
Ba Chẽ được đổi thay từng ngày, kinh tế tiếp tục phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá và phát huy thế mạnh của địa phương rừng và đất rừng; hệ thống giao thông được nối liền thông suốt từ trung tâm huyện đến trung tâm các xã trong huyện
và nối liền với các huyện ban Sơn Động - Hà Bắc; Tiên Yên bằng tuyến đường nhựa 330 Hệ thống trường lớp được kiên cố hoá cao tầng; các công sở thuộc huyện
và các xã từng bước được đầu tư nâng cấp hoàn thiện; 100% các thôn bản thuộc các
xã có điện lưới quốc gia và được xem truyền hình của Trung ương; Tỷ lệ hộ nghèo
đã giảm xuống còn 9.10% (số liệu năm 2015)1; các phong trào văn hoá văn nghệ - TDTT được duy trì phát triển; đời sống kinh tế được nâng lên rõ rệt đã góp phần khẳng định tôn vinh truyền thống về lịch sử anh hùng của quê hương Ba Chẽ tiếp tục vững bước đi lên con đường đổi mới và hội nhập theo chủ trương đường lối đổi mới của Đảng, tiếp tục xây dựng quê hương Ba Chẽ ngày càng giàu đẹp văn minh
* Về vị trí địa lý
Huyện nằm giữa tỉnh Quảng Ninh, huyện lỵ là thị trấn Ba Chẽ nằm cách thành phố Hạ Long khoảng 80 km về hường bắc Phía bắc giáp với tỉnh Lạng Sơn, phía tây giáp với tỉnh Bắc Giangvà phía đông giáp với huyện Tiên Yên
Ba Chẽ có diện tích tự nhiên 60.855,56 ha (chiếm 10% diện tích toàn tỉnh).Địa hình núi cao Núi non trùng điệp chia cắt đất đai thành nhiều vùng nhỏ Cao nhất là núi Khau Giang cao trên 900m ở phía tây huyện Địa hình đồi núi cao nằm trong cánh cung Bình Liêu - Đông Triều, các dãy núi chạy dài theo hướng Đông Bắc - Tây Nam Ba Chẽ có địa hình dốc bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi đất tạo thành các thung lũng hẹp và các con suối, sông lớn nhỏ Độ cao trung bình của
Ba Chẽ từ 300m - 500m so với mực nước biển Đất có độ dốc lớn, phần lớn trên 20º Chủ yếu là đất dốc nên người dân Ba Chẽ sống chủ yếu bằng nghề rừng Đất nông nghiệp rất hẹp và manh mún, chủ yếu là các thung lũng dưới chân núi có thể cấy lúa nước, còn phần lớn là ruộng bậc thang và đất đồi trồng lúa nương, sắn, ngô,
1 Báo cáo tổng kết chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo huyện Ba Chẽ giai đoạn 2011-2015