1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc

94 208 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy chưa có vụ việc nghiêm trọng nào xẩy ra trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, song với mong muốn hoàn thiện các hoạt động về công tác xã hội trong phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em trong thự

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS NGUYỄN THỊ MAI LAN

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

Những nội dung trong luận văn này là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS Nguyễn Thị Mai Lan Các nội dung tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả, tên công trình, thời gian và địa điểm công bố Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 18 tháng 10 năm 2016

NGƯỜI THỰC HIỆN

Phùng Quốc Ban

Trang 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BVCSTE Bảo vệ chăm sóc trẻ em

Công ước 138 Công ước số 138 của ILO về tuổi lao động tối thiểu (ILO

Convention No 138 on the Minimum Age for Admission to

Employment and Work), 1973 Công ước 182 Công ước số 182 của ILO về xóa bỏ những hình thức lao động

trẻ em tồi tệ nhất (Worst Forms of Child Labour Convention)

1999 ILO Tổ chức Lao động Quốc tế (the International Labour

Organization) IPEC Chương trình quốc tế về xóa bỏ lao động trẻ em của ILO

(International Programme on the Elimination of Child Labour)

LĐ-TB&XH Lao động - Thương binh và Xã hội

LĐTE Lao động trẻ em

LHQ Liên hợp quốc

UBND Uỷ ban nhân dân

UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (United Nations’ Children Fund)

CTXH Công tác xã hội

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHÒNG NGỪA SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRẺ EM 7

1.1 Sử dụng lao động trẻ em 7

1.2 Phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em 17

1.3 Công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em 26

1.4 Khách thể và phương pháp nghiên cứu 29

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHÒNG NGỪA SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRẺ EM TỈNH VĨNH PHÚC 34

2.1 Thực trạng sử dụng lao động trẻ em tỉnh Vĩnh Phúc 34

2.2 Phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em tỉnh Vĩnh Phúc 46

2.3 Thực trạng công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em tại Vĩnh Phúc 49

Chương 3 CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRẺ EM TỈNH VĨNH PHÚC 56

3.1 Dự báo các yếu tố vận động lao động trẻ em 56

3.2 Phương hướng phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em giai đoạn 2016- 2020 .59

3.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em 64

3.4 Kiến nghị 73

KẾT LUẬN 75

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO; PHỤ LỤC 77

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất nước Trẻ em khi sinh

ra đều có quyền được hưởng sự thương yêu, chăm sóc của bố mẹ, cộng đồng Nhưng vẫn còn rất nhiều trẻ em vì hoàn cảnh gia đình phải bỏ học để đi làm thêm phụ giúp gia đình, lang thang kiếm sống rồi nảy sinh ra các tệ nạn xã hội như trộm cắp, hút chích, bị lạm dụng sức lao động, bị xâm hại tình dục…

Trẻ em lao động sớm đang là vấn về bức xúc của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Đây cũng là một trong những vấn đề được Chính phủ quan tâm đặc biệt và đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm can thiệp và hỗ trợ có hiệu quả đối với nhóm trẻ em thiệt thòi này Sự quan tâm này được thể hiện: Việt Nam là một trong những Quốc gia đầu tiên trên thế giới phê chuẩn Công ước Quốc tế về quyền trẻ em (1990) Việc phê chuẩn Công ước này đã đặt ra trách nhiệm pháp lý của nước ta trước cộng đồng quốc tế và tạo ra sự cam kết mạnh mẽ của Chính phủ

về thực hiện quyền cơ bản, đặc biệt là quyền được bảo vệ khỏi mọi hình thức bạo lực về thể xác hoặc tinh thần, bị bỏ mặc xao nhãng, bị tổn thương hay lạm dụng Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Chương trình Ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm phạm tình dục, trẻ em phải lao động nặng nhọc trong điều kiện độc hại, nguy hiểm giai đoạn 2004-2010 (Quyết định số 19/2004/QĐ-TTg ngày 12/2/2004) Nhằm hướng tới trợ giúp cho tất cả mọi trẻ em

có hoàn cảnh đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số TTg phê duyệt Chương trình Quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015, trong đó

267/QĐ-có việc tiếp tục duy trì và phát triển mô hình trợ giúp trẻ em lang thang, trẻ em phải làm việc nặng nhọc, tiếp xúc với chất độc hại

Những năm gần đây, hội nhập quốc tế đã giúp nền kinh tế Việt Nam vươn lên mạnh mẽ, GDP liên tục tăng trưởng ở mức cao và tương đối ổn định Việt Nam

đã thoát khỏi tình trạng nước nghèo, đời sống của đại bộ phận nhân dân đã được cải thiện, nhất là người nghèo, đồng bào dân tộc, phụ nữ và trẻ em Bên cạnh những thành tựu về phát triển kinh tế, Việt Nam cũng đạt những kết quả đáng ghi nhận về

xã hội, trong đó có mục tiêu vì trẻ em giai đoạn 2001- 2010 về cơ bản đã đạt và vượt kế hoạch Song cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, sự phân hoá giàu

Trang 6

nghèo ngày càng tăng Nhiều trẻ em đã phải bỏ học để tự kiếm sống và giúp đỡ gia đình Một số trẻ em may mắn hơn khi không phải bỏ học thì phải chọn cho mình một công việc nào đó để tự lo liệu tiền trang trải việc học tập của mình

Vĩnh Phúc là một tỉnh nằm ở phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội Trong những năm qua, thực hiện chủ trương chính sách của nhà nước, Vĩnh Phúc đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận Nhiều năm liền được đánh giá là một trong những tỉnh

có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh đứng đầu trong cả nước làm thay đổi diện mạo kinh tế- xã hội của tỉnh, từng bước cải thiện, đời sống vật chất và tinh thần của đại

bộ phận dân cư được nâng cao Vì vậy, công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em đã được các cấp, các ngành quan tâm hơn, nhiều chính sách trợ giúp trẻ em được triển khai đạt hiệu quả Các hoạt động bảo vệ trẻ em bước đầu được triển khai thực hiện ở cả 3 cấp độ: phòng ngừa; can thiệp giảm thiểu các nguy cơ; hỗ trợ phục hồi, hòa nhập cho trẻ em bị tổn thương và hoàn cảnh đặc biệt Tuy nhiên, kết quả thực hiện các mục tiêu bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em đến nay chưa đạt theo kết quả mong muốn, trong số 36 chỉ tiêu đặt ra thì có tới 14 chỉ tiêu chưa đạt, trong đó có tới 5 chỉ tiêu thuộc về Bảo vệ chăm sóc trẻ em, trong đó có chỉ tiêu về lao động trẻ em Vẫn còn tình trạng trẻ em phải lao động trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, trẻ em có nguy cơ cao tham gia lao động sớm do hoàn cảnh gia đình khó khăn…

Thực trạng trên cho thấy công tác phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em nói chung và trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng còn nhiều bất cập Tình hình lao động trẻ em vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh

tế và những vấn đề xã hội nảy sinh như hiện nay Khi mà gần đây rất nhiều vụ việc lao động trẻ em bị ngược đãi, bạo hành, lạm dụng bị phát hiện và xử lí, mà phát hiện đầu tiên lại là cơ quan báo chí, mạng xã hội và lên tiếng của người dân Những

vụ việc đó có thể chỉ là con số nhỏ trong tảng băng chìm mà lao động trẻ em đang phải đối mặt Điều đó đòi hỏi những giải pháp mang tính hiệu quả hơn đối với công tác xã hội trong phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em trong bối cảnh hiện nay Tuy chưa có vụ việc nghiêm trọng nào xẩy ra trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, song với mong muốn hoàn thiện các hoạt động về công tác xã hội trong phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em trong thực thi chính sách Bảo vệ chăm sóc trẻ em trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, nhằm tạo môi trường lành mạnh, thuận lợi để trẻ em được bảo vệ, được tham gia, học tập để phát triển

Trang 7

Từ những nhận thức trên, với mong muốn đề xuất những biện pháp công tác

xã hội nhằm hoàn thiện việc phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em trên địa bàn tỉnh

Vĩnh Phúc, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em

từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc” làm luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Công tác xã hội

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tổng quan tình hình nghiên cứu về phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em cho thấy các hướng nghiên cứu lý luận và thực tiễn về sử dụng lao động trẻ em và phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em đã được tiến hành nghiên cứu Các nghiên cứu

cụ thể về vấn đề này được nêu dẫn cụ thể dưới đây:

Các nghiên cứu cụ thể về lao động trẻ em và sử dụng lao động trẻ em đã được tiến hành nghiên cứu rất bài bản bởi các nhà nghiên cứu thuộc Bộ Lao động – TTB & XH Các nghiên cứu cụ thể như:

Bộ Lao Động- Thương binh và Xã hội Việt Nam được sự giúp đỡ của UNICEF tổ chức biên soạn tài liệu: Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em Việt Nam:

“Đánh giá pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam” vào năm 2009 Bản đánh giá đã phân tích các cơ chế chính

sách, văn bản pháp luật của Việt Nam về trẻ em, nhóm trẻ em đã bị thiệt thòi ở Việt Nam để sử dụng sự giúp đỡ của UNICEF [2]

Báo cáo kết quả điều tra về lao động trẻ em tại 8 tỉnh, thành phố năm 2010 của Bộ Lao động- TB&XH và Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Báo cáo đã đề cập đến thực trạng về lao động trẻ em tại các tỉnh thành phố đặc trưng, đây là cơ sở để nhà nước có các giải pháp về lao động trẻ em [11]

Tác giả Nguyễn Hải Hữu đã thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học: “Tình

hình lao động trẻ em- Thực trạng và giải pháp” Đề tài đã nghiên cứu những vấn đề

lý luận và phân tích thực trạng lao động trẻ em trong những năm 2010 và đưa ra các giải pháp căn bản về bảo vệ lao động trẻ em [18]

Tiếp theo các nghiên cứu trên, tác giả Quách Thị Quế Viện Khoa học Lao

động xã hội đã có bài viết “Giải quyết vấn đề lao động trẻ em và trẻ em lang thang

trong chiến lược bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em” Bài viết đã cung cấp những

thông tin về giải quyết vấn đề lao động trẻ em và trẻ em lang thang nhằm xác định những chính sách về bảo vệ quyền trẻ em theo các dự án hưởng lợi [24]

Trang 8

Năm 2012, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Tổng cục thống kê và Tổ chức lao động quốc tế đã kết hợp để tổ chức cuộc điều tra quốc gia về lao động trẻ em Đây là kết quả điều tra tổng hợp về lao động trẻ em ở tất cả các tỉnh, thành phố của Việt Nam [10]

Chùm nghiên cứu về đề tài trẻ em (Viện nghiên cứu và phát triển xã hội)

trong đó đề cập đến vấn đề sức khỏe của trẻ lao động sớm

Qua các đề tài và công trình nghiên cứu trên có thể hình dung ra bức tranh tổng quan về tình hình lao động trẻ em hiện nay, cũng như những tác động từ gia đình, xã hội đến trẻ em lao động sớm Một số đề tài, nghiên cứu đã đề cập đến một

số kỹ năng thực hành công tác xã hội đối với trẻ em lao động sớm, bên cạnh đó đã

đề cập đến một số giải pháp nhằm khắc phục tình trạng lao động trẻ em

Báo cáo nghiên cứu về trẻ em làm việc trong điều kiện độc hại, nguy hiểm năm 2001 của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội Báo cáo đã đề cập đến thực trạng về trẻ em phải làm việc trong điều kiện độc hại, nguy hiểm, đây là cơ sở để nhà nước có các chính sách và giải pháp về lao động trẻ em [4]

Tác giả Phan Thị Lan Phương năm 2014 đã có bài viết “Phòng, chống lạm

dụng lao động trẻ em góp phần thúc đẩy việc thực hiện quyền trẻ em ở Việt Nam”

Bài viết đã cung cấp những thông tin về thực trạng lao động trẻ em và giải pháp phòng chống lạm dụng lao động trẻ em ở Việt Nam [23]

Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về tình hình lao động trẻ em dưới góc độ công tác xã hội để đưa ra được các giải pháp đồng bộ, thống nhất nhằm ngăn ngừa, giải quyết tình trạng lao động trẻ em từ các khâu phòng ngừa, phát hiện, can thiệp sớm nhằm chủ động phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em trong hoạt động công tác xã hội, đặc biệt là trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng công tác xã hội về phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em, đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 9

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu công tác xã hội về phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em;

Phân tích thực trạng nhiệm vụ công tác xã hội trong phòng ngừa lao động trẻ

em tại tỉnh Vĩnh Phúc;

Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Công tác xã hội về phòng ngừa sử dụng lao động

trẻ em

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Có rất nhiều khía cạnh có thể nghiên cứu phòng ngừa sử dụng lao động trẻ

em Tuy nhiên, trong nội dung luận văn này chúng tôi sẽ nghiên cứu sâu lý luận và thực tiễn về phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em từ góc độ khoa học công tác xã hội Trong đó, sẽ đi sâu vào việc xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em, xác định rõ các nhiệm vụ công tác

xã hội đối với phòng ngừa lao động trẻ em

Nghiên cứu này sẽ được tiến hành trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Để nghiên cứu được thực trạng công tác xã hội trong phòng ngừa lao động trẻ em tác giả sẽ tiến hành điều tra trên các khách thể chính như: 100 trẻ em, 100 nhân viên công tác

xã hội

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ

nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác xít, đường lối, chủ chương của Đảng Chính sách pháp luật của nhà nước về quyền con người, quyền công dân, về bảo vệ, chăm sóc

và giáo dục trẻ em

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Để nghiên cứu về công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ

em nghiên cứu này sử dụng thuyết vai trò

Để tìm hiểu thực trạng về lao động trẻ em, công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em tỉnh Vĩnh Phúc, chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên

Trang 10

tổng số lượng khách thể là 200 người Trong đó gồm có: 100 trẻ em; 100 nhân viên công tác xã hội tỉnh Vĩnh Phúc

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn đã chỉ ra được khung lý thuyết nghiên cứu công tác xã hội với phòng ngừa lao động trẻ em Trong đó, xác định được các khái niệm công cụ (công tác xã hội; phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em; công tác xã hội đối với phòng ngừa

sử dụng lao động trẻ em) Luận văn cũng đã chỉ ra được những vấn đề lí luận cơ bản

về các nhiệm vụ của công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể bổ sung thêm một số vấn đề lí luận về công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em vào những vấn đề lí luận của chung của công tác xã hội với trẻ em

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn đã phân tích và chỉ ra được thực trạng lao động trẻ em trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, thực trạng công tác xã hội đối với phòng ngừa lao động trẻ em Kết quả nghiên cứu của luận văn là bằng chứng khoa học quan trọng cho các cơ quan hữu quan trong việc áp dụng nhiều biện pháp trong thực hành công tác xã hội nhằm thực hiện có hiệu quả việc phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em; đồng thời khắc phục những tồn tại, hạn chế hiện tại để đáp ứng yêu cầu về phòng ngừa từ xa cho mọi đối tượng trẻ em

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1 Cơ sở lý luận về công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em

- Chương 2 Thực trạng công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em tỉnh Vĩnh Phúc

- Chương 3 Biện pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em tại tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 11

* Công ước về quyền trẻ em: là luật Quốc tế để bảo vệ Quyền trẻ em bao

gồm 54 điều khoản Công ước đề ra các Quyền cơ bản của con người mà trẻ em trên toàn Thế giới đều được hưởng và được Liên hiệp quốc thông qua năm 1989 Công ước đã được hầu hết các nước trên thế giới đồng tình và phê chuẩn Việt Nam là nước đầu tiên ở Đông Nam Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Quốc tế về quyền trẻ em Trong đó nêu lên bốn nhóm quyền chính của trẻ em là :

- Quyền được sống còn

- Quyền được bảo vệ

- Quyền được phát triển

- Quyền được tham gia

Việc phân chia bốn nhóm quyền này chỉ mang ý nghĩa tương đối, trên thực tế các nhóm quyền này có mối quan hệ chặt chẽ và mật thiết với nhau[17]

1.1.1.2.Khái niệm lao động trẻ em

Hiện tại chưa có một định nghĩa thống nhất về lao động trẻ em (LĐTE), nhưng ở cấp độ chung thì LĐTE được hiểu là: bất cứ trẻ em làm công việc nào có tính chất bóc lột và gây ra tổn hại về thể chất, tâm lí, tình cảm, đạo đức, cho trẻ

em

Trang 12

Ở phạm vi quốc tế, không có định nghĩa chung nào về lao động trẻ em (child labour) Thay vào đó, thuật ngữ LĐTE thường được hiểu là bất kì công việc nào gây tổn hại cho trẻ em mà được nêu ra trong Công ước 138, 182 của tổ chức Lao động quốc tế ILO [25]

Các tiêu chuẩn của ILO về độ tuổi tối thiểu được nhận vào làm việc hoặc lao động không quy định một độ tuổi tối thiểu, duy nhất mà với 3 độ tuổi tối thiểu khác nhau phụ thuộc vào bản chất của việc làm hoặc công việc được thực hiện Những độ tuổi này được thiết lập theo nguyên tắc không thấp hơn độ tuổi hoàn thành giáo dục bắt buộc trong mọi trường hợp, có nghĩa là không thấp hơn 15 đối với độ tuổi tối thiểu chung, 13 đối với công việc nhẹ nhàng, (16 tuổi với những điều kiện nhất định) và 18 đối với công việc độc hại

Theo quan niệm của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), trẻ em bị coi

là lao động trẻ em nếu trẻ em phải lao động trong những trường hợp sau:

- Lao động khi còn quá bé, công việc trọn thời gian;

- Làm quá nhiều giờ, cường độ cao ảnh hưởng đến việc học hành, vui chơi, giải trí;

- Lao động và sống trên đường phố trong những hoàn cảnh tồi tệ;

- Quá căng thẳng ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất, tinh thần và tâm lí;

- Thù lao không tương ứng với công sức bỏ ra;

- Ảnh hưởng đến nhân phẩm như làm nô lệ, gán nợ, mại dâm, đi ăn xin;

- Làm công việc hay gánh vác trách nhiệm của người lớn [28]

Ở Việt Nam chưa có khái niệm thống nhất về lao động trẻ em Tuy nhiên, quan điểm của Việt Nam phù hợp với quan điểm của các tổ chức quốc tế về lao động trẻ em

Những quy định tại Bộ Luật Lao động được Quốc hội thông qua năm 2012

về cơ bản phù hợp với những điều ước quốc tế về lao động trẻ em, quy định ở độ tuổi lao động tối thiểu là 15, với những công việc nặng nhọc, độc hại là 18 Người

sử dụng lao động chỉ được sử dụng người đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi làm các công việc nhẹ theo danh mục do Bộ Lao động- Thương binh & Xã hội (LĐTBXH)

Trang 13

quy định Không được sử dụng lao động là người dưới 13 tuổi làm việc, trừ một số công việc cụ thể do Bộ Lao động-TB&XH quy định (Điều 163, 164) [27]

Bộ Luật lao động cũng quy định: Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi và người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người lao động chưa thành niên vào những công việc phù hợp với sức khỏe để bảo đảm sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách… và không được sử dụng lao động chưa thành niên làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc chỗ làm việc, công việc ảnh hưởng xấu tới nhân cách của họ, theo danh mục của Bộ Lao động-TB&XH chủ trì phối hợp với

Bộ Y tế ban hành (quy định chi tiết tại Điều 165) [8]

Tuy nhiên Luật Bảo vệ, chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004 quy định trẻ

em là người dưới 16 tuổi Theo đó, lao động trẻ em có thể hiểu là người lao động dưới 16 tuổi Như vậy, có sự bất cập về độ tuổi trẻ em giữa Luật Bảo vệ, chăm sóc và Giáo dục trẻ em với độ tuổi lao động chưa thành niên của Bộ Luật lao động Như vậy

có thể thấy, cùng một nhóm đối tượng dưới 16 tuổi trong hai văn bản luật lại được gọi khác nhau (lao động trẻ em và lao động chưa thành niên)

Vì vậy để hài hòa giữa luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam, trong nghiên cứu đề tài này, đối tượng nghiên cứu chỉ giới hạn về lao động trẻ em được xác định là lao động của người dưới 16 tuổi, phải làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ Từ việc phân tích các khái niệm nêu trên, chúng tôi đưa ra khái niệm như sau:

Lao động trẻ em là chỉ những người dưới 16 tuổi phải làm những công việc trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, lao động trong điều kiện bị cưỡng bức, bóc lột sức lao động hoặc làm quá nhiều thời gian so với độ tuổi của trẻ em; việc lao động này gây ảnh hưởng tới việc phát triển về thể chất, tâm lí, tình cảm, nhận thức, đạo đức và xã hội của trẻ em

Để xác định là trẻ em tham gia lao động hay lao động trẻ em có thể căn cứ vào các nhóm yếu tố đó là: tính chất công việc ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em; điều kiện làm việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; độ tuổi và thời gian làm việc tương ứng với độ tuổi [25]

Trang 14

Tuy nhiên ILO lại chỉ ra các hình thức lao động trẻ em tồi tệ Theo Công ước

182 của ILO xác định rõ hình thức lao động trẻ em tồi tệ, những hình thức này đôi khi cũng được dùng để chỉ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ vô thức, các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất có thể kể đến:

- Tất cả những hình thức nô lệ hay những tập tục giống như nô lệ, như buôn bán trẻ em, giam cầm thiếu nợ, lao động khổ sai, lao động cưỡng ép, hay bắt buộc

để sử dụng trong các cuộc xung đột vũ trang

- Việc sử dụng ma túy hay chào mời trẻ em cho các mục đích mại dâm, cho việc sản xuất sách báo hay các chương trình khiêu dâm

- Việc sử dụng ma túy hay mời chào trẻ em cho các hoạt động bất hợp pháp, đặc biệt cho việc sản xuất và buôn lậu ma túy như đã được định nghĩa trong các hiệp ước quốc tế liên quan

- Những công việc có khả năng làm hại đến sức khỏe, sự an toàn hay đạo đức của trẻ em, do bản chất của công việc hay do hoàn cảnh, điều kiện tiến hành công việc

Bảng 1.1 Phân biệt công việc của trẻ em

TT Tiêu chí Có thể chấp nhận được Không thể chấp nhận được

Lương thiện, hợp pháp, có ích cho bản thân, gia đình và xã hội

Không lương thiện hoặc bất hợp pháp, xâm phạm an ninh, trật tự hoặc đạo đức xã hội

Trang 15

Được người lớn kèm cặp, giúp

đỡ trong quá trình làm việc

Bị người lớn giám sát, kìm kẹp hoặc khống chế trong quá trình làm việc Thời gian làm việc ngắn, không

ảnh hưởng đến thời gian học tập, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí

Trong thời gian làm việc dài nên thiếu hoặc không có thời gian học tập, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí Điều kiện làm việc an toàn, môi

trường làm việc không độc hại, ô nhiễm

Điều kiện làm việc nguy hiểm, môi trường làm việc độc hại, ô nhiễm Môi trường xã hội ở nơi làm việc

lành mạnh, không ảnh hưởng đến sự phát triển về tinh thần, đạo đức, xã hội

Môi trường xã hội ở nơi làm việc không lành mạnh, dễ bị lạm dụng thể xác, tình cảm hoặc tha hóa về đạo đức, tinh thần

Được bù đắp thích đáng về vật chất và tinh thần

Không được động viên và trả công thích đáng

Tham gia làm việc ở độ tuổi thích hợp theo quy định của pháp luật

Phải làm việc quá sớm, ở độ tuổi quá nhỏ, thấp hơn tuổi lao động tối thiểu trong pháp luật

(Nguồn: Vũ Ngọc Bình (2002) Vấn đề lao động trẻ em) [36] 1.1.1.4.Phân biệt trẻ em tham gia lao động với lao động trẻ em

Không phải trẻ em nào tham gia làm việc cũng được coi là lao động trẻ em Mặc dù hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất nào về lao động trẻ em, nhưng hầu hết các cách tiếp cận đều thống nhất rằng các tiêu chí chính để phân biệt giữa LĐTE và trẻ em tham gia lao động chính là tính chất công việc dẫn đến việc ảnh hưởng tiêu cực đối với sự phát triển của trẻ, như: thời gian làm việc của trẻ, độ tuổi

và điều kiện làm việc có nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hay không Trên thực tế, trẻ

em tham gia lao động là khái niệm để chỉ sự tham gia không mang tính chất bóc lột của trẻ em vào các hoạt động kinh tế, không gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của trẻ em và pháp luật quốc gia không cấm Trong khi khái niệm “lao động trẻ em” được hiểu rộng rãi với ý nghĩa là sự lạm dụng, mang tính chất bóc lột sức lao động của trẻ em vì mục đích lợi nhuận

Trang 16

Bảng 1.2 Phân biệt trẻ em tham gia lao động và lao động trẻ em

Công việc phù hợp với tuổi, khả năng thể

Thời gian làm việc hạn chế, không cản trở

trẻ em đến trường, vui chơi và nghỉ ngơi

Làm việc nhiều giờ, trẻ em bị hạn chế hoặc không có thời gian đi học, vui chơi

và nghỉ ngơi Nơi làm việc an toàn và môi trường bạn bè

thân thiện, không độc hại với sức khỏe và

việc và phát triển sản suất, tăng thu nhập

cho gia đình hoặc ngay cả khi là người

kiếm sống chính trong gia đình

Hoàn cảnh bắt buộc hay trẻ em phải lao động cùng với những người khác

Trẻ em được bù đắp về tinh thần và vật chất Trẻ em bị hạn chế hoặc không được

khuyến khích về tinh thần và vật chất Công việc của trẻ em như một phương tiện

cho sự tiến bộ xã hội và cải thiện chất

lượng cuộc sống của trẻ em

Công việc trẻ em làm không nằm trong phạm vi luật pháp cho phép

Trang 17

Một là, độ tuổi trẻ em trong luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em chưa thống nhất với quy định về của lao động chưa thành niên trong Bộ luật lao động và

độ tuổi trẻ em theo quy định của tổ chức ILO vì vậy các cơ quan chức năng gặp nhiều khó khăn trong việc theo dõi, kiểm soát, thống kê và đánh giá, xử lý các vi phạm về lao động trẻ em

Hai là, hệ thống pháp luật hiện hành chưa quy định cụ thể về quyền hạn, trách nhiệm của các chủ thể quản lý trong việc phòng ngừa, xóa bỏ lao động trẻ em; còn thiếu những quy định cụ thể về cơ chế phát hiện, tố giác, xử lý vi phạm lao động trẻ em

Ba là, việc xử lý những trường hợp lạm dụng lao động trẻ em còn nhẹ, chủ yếu mới dừng lại ở mức xử phạt hành chính, rất ít vụ bị xử lý hình sự do vi phạm pháp luật lao động trẻ em Chính quyền địa phương chậm và bị động trong phát hiện và xử lý những trường hợp sử dụng lao động trẻ em, chỉ những vụ việc xảy ra hậu quả nghiêm trọng mới được bị phát hiện và xử phạt

Bốn là, các cơ quan chức năng còn gặp khó khăn trong việc xử lý những cơ

sở sử dụng lao động trẻ em vì người sử dụng lao động không xuất trình được giấy tờ tùy thân của lao động trẻ em, nên chỉ căn cứ vào lời khai của các bên liên quan để xác định độ tuổi của các em Tuy nhiên độ tuổi thường được khai tăng lên trên 15 tuổi vì vậy không đủ căn cứ để xử lý

Năm là, do nhận thức và hiểu biết pháp luật về lao động trẻ em của gia đình, cộng đồng, người sử dụng lao động còn hạn chế dẫn đến vi phạm các quy định về

sử dụng lao động trẻ em, như: Gia đình khó khăn về kinh tế nên cho con nghỉ học

để đi làm, trẻ em học kém nên bỏ học đi làm, người sử dụng lao động vì lợi nhuận nên lạm dụng lao động trẻ em Nhiều gia đình quan niệm rằng sự tham gia của trẻ

em trong công việc gia đình được coi là một phần của quá trình xã hội hóa, trẻ em cần phải lao động mới có thể phát triển trí tuệ và hình thành nhân cách

Sáu là, trẻ em là người chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần vì vậy khi tham gia lao động thường dễ sai bảo, ít có sự phản kháng hay tự vệ Mặt khác, tiền công trả cho người lao động là trẻ em thường thấp nên người sử dụng lao động đương nhiên ưu tiên lựa chọn lao động trẻ em

Trang 18

Bảng 1.3 Nguyên nhân dẫn đến lao động trẻ em Nguyên nhân bên trong Nguyên nhân bên ngoài

- Hoàn cảnh gia đình khó khăn

+ Gia đình chỉ có cha hoặc mẹ

+ Gia đình có cha hoặc mẹ bị bệnh hoặc

không có khả năng làm việc

+ Gia đình mất kiểm soát

+ Gia đình không được trợ cấp hoặc bảo

trợ xã hội

- Gia đình nghèo đói

- Trình độ học vấn của bố mẹ (hoặc con

cái) thấp, thiếu kỹ năng làm cha mẹ

- Gia đình thuộc về một nhóm thiểu số nhất định

- Trẻ em chịu ảnh hưởng tiêu cực của các bạn đồng trang lứa; cha mẹ/trẻ em

1.1.1.6 Hậu quả của lao động trẻ em

- Tác động tiêu cực của lao động trẻ em đến quốc gia

Lao động trẻ em thường có ở những quốc gia có nền kinh tế kém phát triển và khoa học kĩ thuật còn lạc hậu Chính tình trạng nghèo đói, thất nghiệp, thất học, thu nhập thấp và tỉ lệ sinh sản cao ở nhiều quốc gia đã đẩy trẻ em vào việc tham gia lao động trước độ tuổi cho phép Lao động trẻ em thường là lao động của những trẻ em không có văn hóa đầy đủ, thiếu kiến thức, còn non nớt về thể chất và tinh thần, không qua đào tạo và thiếu những kĩ năng nghề nghiệp chuyên môn cần thiết để giúp các em

có một nghề ổn định và có thu nhập cao khi trưởng thành

Lao động trẻ em có thể xem là một hiện tượng của sự không ổn định về kinh

tế Từ đó sẽ tạo ra những trở ngại lớn đối với sự phát triển của mỗi quốc gia như: mất ổn định về an ninh kinh tế, về trật tự xã hội, ảnh hưởng tới sự hoạt động thương mại quốc tế trong trường hợp trẻ em tham gia sản xuất hàng hóa xuất khẩu, vì cộng đồng quốc tế không khuyến khích trẻ em lao động Các em thiếu hiểu biết và nhận thức xã hội sẽ hình thành những con người lao động trong tương lai thiếu sự phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần và xã hội Lao động trẻ em sẽ có ảnh hưởng tiêu

Trang 19

cực đến chất lượng nguồn nhân lực của một quốc gia khiến cho năng lực cạnh tranh của quốc gia đó giảm sút khi tham gia vào thị trường thế giới

- Tác động tiêu cực đối với gia đình và xã hội

Lao động trẻ em sẽ gây ra những hậu quả bất lợi trước mắt và lâu dài cho sự phát triển của mỗi gia đình và toàn xã hội Nếu tình trạng này diễn ra khá phổ biến thì không chỉ là sự thiệt thòi lớn đối với bản thân và gia đình các em còn là nguy cơ đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia và cả cộng đồng Các nhà nghiên cứu đã cảnh báo rằng, một quốc gia không ngăn chặn và xóa bỏ được tình trạng lao động trẻ em sẽ không có một lực lượng lao động khỏe mạnh và lành nghề

để có một nền kinh tế có thế cạnh tranh Đối với cộng đồng quốc tế, nếu không ngăn chặn và xóa bỏ được tình trạng lao động trẻ em thì sẽ lâm vào khủng hoảng thị trường lao động chất lượng cao, đây đang là một nghịch lý cần sớm được giải quyết

- Tác động tiêu cực của lao động trẻ em đến bản thân trẻ em:

Tác động về thể chất: Do còn non nớt về thể chất và tinh thần, thiếu kinh nghiệm và kỹ năng chuyên môn, nghề nghiệp, sức khỏe và sự dẻo dai còn hạn chế, trẻ em dễ bị tổn thương và gặp nhiều rủi ro về thể chất hơn người lớn khi làm việc Tuy nhiên phần lớn các trường hợp, những trẻ em này không được hưởng các dịch

vụ chăm sóc sức khỏe một cách tương xứng

Tác động tâm lý: Trong một số trường hợp, hậu quả tâm lý gây ra cho lao động trẻ em có thể bao gồm chậm phát triển trí tuệ, thiếu tự tin, khó hòa nhập xã hội; gặp khó khăn trong việc tạo lập các mối quan hệ, suy giảm lòng tự tin; thái độ bạo lực hoặc tâm trạng trầm cảm, lo lắng, thậm chí có ý định tự hủy hoại bản thân

Tác động về nhận thức: Trong nhiều trường hợp, khả năng nhận thức của trẻ

em bị ảnh hưởng do công việc mà trẻ phải làm, ví dụ như suy giảm năng lực nhận thức, giao tiếp và thực hành – những yếu tố cốt yếu để thích nghi xã hội và có cuộc sống tốt đẹp

Tác động về giáo dục: Lao động nặng nhọc hoặc nhiều thời gian khiến trẻ em phải bỏ học sớm hoặc giảm khả năng tiếp thu trong quá trình học tập Tuy nhiên, phổ biến là lao động tước đi của trẻ em thời gian cần thiết cho việc học tập, và vì

Trang 20

vậy thành tích học tập của các em sút giảm, kỹ năng học tập yếu, bị thụt lùi so với bạn bè, bị bỏ mặc hoặc gặp khó khăn khi hòa nhập với bạn học

Tác động về kinh tế - xã hội: Lao động trẻ em ảnh hưởng tiêu cực đến việc nắm bắt các cơ hội kinh tế- xã hội của trẻ về sau Nói cách khác, lao động trẻ em tước đoạt cơ hội của trẻ thoát khỏi vòng đói nghèo do trước đó nó đã tước đoạt cơ hội của trẻ học tập

Ngoài ra, trẻ em còn có thể gặp phải những rủi ro khi tham gia lao động:

- Thể lực, sức khỏe kém, mắc bệnh nghề nghiệp

- Bỏ học và nguy cơ bỏ học cao, học vấn thấp, tay nghề thấp, vậy là lại luẩn quẩn trong vòng nghèo đói

- Bị kỳ thị, coi thường

- Nguy cơ cao bị ngược đãi, bạo lực, xâm hại tình dục, bóc lột sức lao động

- Nguy cơ cao mắc tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật

- Nguy cơ lệch chuẩn, xa rời các chuẩn mực đạo đức xã hội

Chính vì những tác động tiêu cực của lao động trẻ em đối với quốc gia, gia đình và bản thân trẻ nên cần thiết phải có những biện pháp can thiệp sớm nhằm ngăn ngừa và giải quyết lao động trẻ em, đó chính vai trò quản lý nhà nước về phòng, chống sử dụng lao động trẻ em

1.1.2 Sử dụng lao động trẻ em

1.1.2.1 Khái niệm sử dụng lao động trẻ em

“Sử dụng lao động trẻ em là thuật ngữ chỉ tình trạng trẻ em (những người dưới 16 tuổi) phải trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia làm những công việc nặng nhọc, độc hại hay nguy hiểm, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển về thể lực, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội của trẻ; hoặc phải làm việc quá nhiều hay ở độ tuổi quá nhỏ, khiến các em không có thời gian cần thiết để học tập và vui chơi”

(Nguồn: Phạm Thị Lan Phương/ Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30,

Số 4 (2014) tr58-64 [23])

Khái niệm “Sử dụng lao động trẻ em” theo nghĩa rộng là việc chấp nhận, yêu cầu hoặc bắt buộc trẻ em tham gia lao động, có thể bao hàm cả công việc trẻ em tham gia phụ giúp các công việc gia đình, những hoạt động mang tính phi lợi nhuận

Trang 21

và cả những công việc mang lại lợi ích kinh tế Tuy nhiên xét ở góc độ lao động trẻ

em, thì khái niệm sử dụng lao động trẻ em là hành vi mang tính lạm dụng, bóc lột sức lao động của trẻ em của chủ thể sử dụng sức lao động đó [5]

Theo quan niệm của Liên minh các tổ chức cứu trợ trẻ em (SC), thuật ngữ lạm dụng trẻ em dùng để chỉ bất kỳ sự sử dụng lao động của trẻ em nào mà không

vì sự phát triển hài hòa, toàn diện nhân cách của trẻ, trái lại còn gây tổn hại đến sự phát triển của các mặt đạo đức, trí tuệ, thể lực, thẩm mỹ của trẻ em

1.1.2.2.Hình thức sử dụng lao động trẻ em

- Mọi hình thức nô lệ hay tương tự nô lệ như buôn bán và vận chuyển trẻ em, gán nợ và lao động nô lệ và lao động cưỡng bức trong đó có tuyển mộ cưỡng bức

trẻ em tham gia vào các xung đột vũ trang;

- Sử dụng, dụ dỗ hoặc lôi kéo trẻ em vào hoạt động mại dâm, sản xuất các sản phẩm phim ảnh khiêu dâm hoặc biểu diễn khiêu dâm

- Sử dụng, dụ dỗ hoặc lôi kéo trẻ em vào các hoạt động bất hợp pháp, đặc biệt vào mục đích sản xuất và vận chuyển chất ma tuý như được nêu tại các hiệp định quốc tế;

- Những công việc mà tính chất hoặc các điều kiện của nó có thể xâm hại đến sức khoẻ, an toàn và đạo đức của trẻ

(Nguồn: Hội nghị toàn thể Tổ chức Lao động quốc tế, Kỳ họp thứ 87 ngày 01 tháng 6 năm 1999 Ban hành Công ước 182)

1.2 Phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em

1.2.1 Khái niệm phòng ngừa

Phòng ngừa chính là để không xảy ra, không gây ra các hậu quả nguy hiểm cho xã hội

( Nguồn: Trịnh Tiến Việt, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thuỷ, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật

24 (2008) 185-199)

Thuật ngữ “Phòng” hay “phòng ngừa” được hiểu là ngăn ngừa hoặc ngăn chặn sớm không để cho vấn đề xảy ra Trong nội dung nghiên cứu “Phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em” thì phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em là hoạt động mang

Trang 22

tính dự báo nhằm ngăn chặn sớm việc sử dụng lao động trẻ em Không để xảy ra các vụ việc liên quan đến bóc lột, lạm dụng lao động trẻ em, gây ra những hậu quả ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất, tâm hồn, đạo đức của trẻ em

1.2.2 Khái niệm phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em

Phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em là nội dung của chính sách bảo vệ chăm sóc trẻ em, trong cả lý luận và thực tiễn vận dụng có mối quan hệ tương hỗ nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu tình trạng lao động trẻ em, tiến tới xóa bỏ lao động trẻ em [4]

Phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em là một trong những hoạt động bảo vệ trẻ em, được hiểu là những hoạt động ngăn ngừa, can thiệp, trợ giúp hướng đến đảm bảo cho trẻ em được hưởng quyền và lợi ích của mình về cả yếu tố vật chất và tinh thần, giúp cho trẻ em được phát triển một cách toàn diện Các yếu tố liên quan đến bảo vệ trẻ em trong hoạt động phòng ngừa và giải quyết tình trạng lao động trẻ em, như: bảo vệ quyền, lợi ích trẻ em, bảo vệ thể chất, tâm sinh lý, chế độ chính sách dành cho trẻ em, bảo đảm cho trẻ được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh

để phát triển toàn diện Bên cạnh đó phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi lạm dụng lao động trẻ em, có tính răn đe xã hội theo quy định của pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em

1.2.3 Nội dung phòng ngừa lao động trẻ em

1.2.3.1 Sự cần thiết quản lý nhà nước về phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em

Trẻ em có quyền tham gia lao động Khi trẻ em tham gia lao động, xét về mặt kinh tế các em cũng góp phần tạo ra của cải vật chất, làm tăng thêm thu nhập cho bản thân trẻ em, gia đình và xã hội Tuy nhiên lao động trẻ em phải đối mặt với rất nhiều rủi ro, dễ bị lạm dụng: thời gian làm việc kéo dài, tiền công thấp, dễ bị bắt nạt, bị dụ dỗ vào con đường phạm tội hoặc tệ nạn xã hội, bị lạm dụng tình dục Bên cạnh việc học hành bị dở dang, các em không được quan tâm bảo vệ đầy đủ từ phía chính quyền và các tổ chức xã hội Ngay cả chính gia đình các em cũng không

ý thức được những rủi ro và thiệt thòi mà các em đang phải gánh chịu Trong bối cảnh trẻ em tham gia lao động vẫn là vấn đề khách quan tồn tại trong xã hội hiện nay, lao động trẻ em chưa được xóa bỏ thì việc làm cần thiết là sự quản lý nhà nước trong phòng, chống sử dụng lao động trẻ em, nhằm đảm bảo quyền của trẻ em

Trang 23

Theo tài liệu điều tra Quốc gia về lao động trẻ em 2012, số liệu công bố tháng 3/2014 cho thấy, cả nước có 18,3 triệu trẻ em từ 5-17 tuổi (dân số trẻ em), trong đó có 1,75 triệu trẻ em thuộc nhóm lao động trẻ em, chiếm 9,6% dân số trẻ

em Trong 1,75 triệu lao động trẻ em này, có gần 569 ngàn em có thời gian làm việc bình quân trên 42 giờ/tuần, chiếm 32,4%, thời gian làm việc kéo dài ảnh hưởng dến việc tham gia học tập của trẻ em, có 96,2% số trẻ em này hiện tại không đi học; và

có khoảng 1,315 triệu trẻ em, chiếm 75% tổng số lao động trẻ em có nguy cơ làm trong các nghề thuộc nhóm nghề bị cấm sử dụng lao động chưa thành niên hoặc điều kiện lao động có hại theo quy định của Thông tư số 09/TT-LB ngày 13/4/1995 của Bộ Lao động-TB&XH và Bộ Y tế

Sơ đồ 1.1 Phân bố dân số trẻ em 5- 17 tuổi tham gia hoạt động kinh tế

(Nguồn:Báo cáo Điều tra quốc gia về lao động trẻ em năm 2012)[3] 1.2.3.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước về phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em

Nguyên tắc trước hết được hiểu là "Ðiều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm" Trong quản lý hành chính nhà nước, các nguyên tắc

Trẻ em không

hoạt động kinh tế

15.517.512

Trẻ em hoạt động kinh

tế 2.823.117

Trẻ em HĐKT, không phải

LĐTE 1.077.335

Lao động trẻ em 1.754.782

LĐTE có thời gian làm việc dưới 42 giờ/tuần 1.186.059 (87,6%)

LĐTE có thời gian làm việc trên 42 giờ/tuần 568.723

(32,4%)

Dân số trẻ em từ 5 - 17 tuổi

18.349.629

Trang 24

cơ bản là những tư tưởng chủ đạo bắt nguồn từ cơ sở khoa học của hoạt động quản

lý, từ bản chất của chế độ, được quy định trong pháp luật làm nền tảng cho hoạt động quản lý hành chính nhà nước

Các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước bao gồm:

1- Nguyên tắc Ðảng lãnh đạo đối với hành chính nhà nước;

2- Nguyên tắc nhân dân làm chủ trong quản lý hành chính nhà nước;

3- Nguyên tắc tập trung dân chủ;

4- Nguyên tắc kết hợp giữa quản lý ngành với quản lý lãnh thổ;

5- Nguyên tắc phân định giữa quản lý nhà nước về kinh tế và quản lý kinh doanh của doanh nghiệp;

6- Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa;

7- Nguyên tắc công khai, minh bạch;

Trên cơ sở 7 nguyên tắc cơ bản quản lý hành chính nhà nước áp dụng trong lĩnh vực Bảo vệ chăm sóc trẻ em nói chung và công tác phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em nói riêng không nằm ngoài những nguyên tắc quản lý nhà nước về bảo

vệ chăm sóc trẻ em nói chung được quy định trong Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 Các nguyên tắc quản lý nhà nước về phòng chống sử dụng lao động trẻ em có thể hiểu như sau:

- Không phân biệt đối xử với trẻ em Mọi người đều được hưởng các quyền

công dân, bình đẳng trước pháp luật và có quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân biệt nào Mọi trẻ em đều có quyền được sống, quyền được bảo vệ, quyền được học tập, phát triển và quyền được tham gia

- Tôn trọng và đảm bảo thực hiện các quyền của trẻ em Trẻ em là công dân

và trẻ em có các quyền con người, nhưng khả năng thực hiện lại phụ thuộc vào từng lứa tuổi trẻ em và được đảm bảo từ phía gia đình và xã hội "Mọi hành vi vi phạm quyền của trẻ em, làm tổn hại đến sự phát triển bình thường của trẻ em đều bị nghiêm trị theo quy định của pháp luật" [25]

- Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội

Nguyên tắc này xuất phát từ đặc điểm của trẻ em, những người chưa phát triển đầy

đủ về thể chất và trí tuệ, chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, chưa đủ điều kiện

để tự quyết định quyền của mình và đòi hỏi gia đình, Nhà nước và xã hội phải có sự

Trang 25

bảo vệ, chăm sóc đặc biệt, phải tạo cơ hội thuận lợi cho việc thực hiện quyền trẻ

em, trong đó có công tác phòng chống sử dụng lao động trẻ em Do đó, quyền của trẻ em làm phát sinh nghĩa vụ của người lớn, đó là đặc thù của Luật bảo vệ, chăm

sóc và giáo dục trẻ em

- Dành lợi ích tốt nhất cho trẻ em Nguyên tắc này xuất phát từ ý tưởng chiến

lược phát triển con người, với "Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; hãy bảo đảm cho

trẻ em một tương lai tốt đẹp hơn”

- Trẻ em thuộc diện chính sách xã hội, có hoàn cảnh đặc biệt Trẻ em có

những yếu thế nhất định về thể chất, tinh thần và không đủ cơ hội để thực hiện các quyền của mình có quyền được trợ giúp để ngăn ngừa việc trẻ em bị xâm hại, bị bạo hành, bị lạm dụng

- Nghiêm cấm các hành vi vi phạm quyền trẻ em nhằm bảo đảm cho trẻ em

được sống trong môi trường an toàn và lành mạnh và các hành vi vi phạm khác làm tổn hại đến quyền và lợi ích của trẻ em

1.2.3.3.Nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em

(1)Xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em

Nhà nước quản lý xã hội nói chung và quản lý công tác bảo vệ chăm sóc trẻ

em nói riêng, trong đó có công tác phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em bằng pháp luật Do đó, Nhà nước cần ban hành thể chế, chính sách, pháp luật về phòng ngừa

sử dụng lao động trẻ em Hệ thống pháp luật sẽ tạo cơ sở pháp lý, bảo đảm các

quyền của trẻ em được thực hiện

Pháp luật bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em, trong đó có công tác phòng, chống sử dụng lao động trẻ em bao gồm hệ thống quy định pháp luật của nhà nước

về lao động đối với trẻ em; khái niệm về lao động trẻ em, quy định về độ tuổi tham gia lao động, điều điện được sử dụng trẻ em làm việc, tham gia các hoạt động kinh

tế và những ràng buộc pháp lý để các quyền của trẻ em được đảm bảo và thực hiện; quy định trách nhiệm quản lý của các cơ quan nhà nước, phân công, phân cấp, đồng thời đã có sự phối hợp giữa các cơ quan có liên quan để thực hiện chức năng quản

lý nhà nước về phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em

Trang 26

Để triển khai thực hiện pháp luật đi vào cuộc sống, Nhà nước cần thực hiện tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em: Giúp công dân, tổ chức, người sử dụng lao động biết, nắm vững quy định pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, trong đó có pháp luật về phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em; nâng cao hiểu biết pháp luật của công dân và nhận thức của cộng đồng về lao động trẻ em và những nguy hại của nó đối với sự phát triển toàn diện của trẻ em,

từ đó có ý thức trong thực hiện pháp luật về phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em

(2) Tổ chức bộ máy làm công tác bảo vệ trẻ em và phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em

Để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em, Nhà nước phải thiết lập hệ thống tổ chức bộ máy Tổ chức bộ máy của Nhà nước tổ chức thống nhất, từ cấp Trung ương đến địa phương theo thứ bậc, bao gồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung (Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp)

và cơ quan nhà nước có thẩm quyền riêng (các Bộ, các sở, các phòng) Hoạt động của tổ chức bộ máy nhà nước mang tính quyền lực nhà nước và thường xuyên, liên tục và đáp ứng yêu cầu hoạt động thông suốt, chuyên nghiệp, hiệu quả Tổ chức bộ máy là công cụ, phương tiện để nhà nước quản lý xã hội, trong đó có công tác bảo

vệ chăm sóc trẻ em và phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em

Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về lĩnh vực bảo vệ chăm sóc trẻ em nói chung và công tác phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em nói riêng, bao gồm: Chính phủ, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ở cấp Trung ương, Ủy ban nhân dân các cấp và cấp Sở, phòng, ban ở địa phương Công tác phòng ngừa sử dụng lao động trẻ

em theo đó cũng được phân cấp theo các cấp chính quyền Chính quyền các cấp và các ngành phối hợp trong công tác phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em, thường xuyên tiến hành tổng kết, đánh giá đúng thực trạng, đúc rút ra kinh nghiệm tốt, khắc phục những mặt còn yếu kém Trên cơ sở đó, đề ra các biện pháp tăng cường sự quản lý của nhà nước nhằm bảo vệ quyền của trẻ em, cũng như công tác phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em đạt hiệu quả, không để tình trạng trẻ em phải lao động trong điều kiện nặng nhọc, nguy hiểm ảnh hưởng tới việc học tập và phát triển của trẻ

em trên địa bàn của cấp nào thì trách nhiệm thuộc về chính quyền của cấp đó

Trang 27

Hiện nay, bộ máy quản lý nhà nước về bảo vệ trẻ em, trong đó có phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em được quản lý theo hệ thống như sau:

- Cấp Trung ương: Bộ Lao động- Thương binh & Xã hội là cơ quan chuyên môn giúp Chính phủ quản lý ngành, lĩnh vực Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em là cơ quan thuộc Bộ trực tiếp tham mưu cho Bộ thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ

chăm sóc trẻ em và phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em

- Cấp tỉnh: Sở Lao động- Thương binh & Xã hội là cơ quan chuyên môn giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về bảo vệ chăm sóc trẻ em và phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Phòng Bảo

vệ chăm sóc trẻ em trực tiếp tham mưu cho Sở thực hiện chức năng nhiệm vụ này

- Cấp huyện: Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội là cơ quan chuyên môn giúp UBND cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về LĐTBXH, trong đó có bảo vệ chăm sóc trẻ em và phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em trên địa bàn tỉnh, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh

- Cấp xã: Có cán bộ chuyên trách Lao động- TB&XH, là công chức xã được tuyển dụng, giúp UBND cấp xã thực hiện quản lý nhà nước về Lao động-TB&XH, trong đó có bảo vệ trẻ em và phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em trên địa bàn xã, phường, thị trấn và đội ngũ cộng tác viên ở cơ sở

Sơ đồ 1.2 Bộ máy Quản lý nhà nước về phòng chống sử dụng LĐTE

Trang 28

(3)Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em và phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em

Công chức làm công tác quản lý nhà nước về bảo vệ chăm sóc trẻ em là chủ thể tiến hành hoạt động công vụ đối với công tác phòng ngừa sử dụng lao động trẻ

em Công chức phải tuân thủ các nghĩa vụ và có trách nhiệm thực hiện đúng quyền hạn được giao Để đạt được điều đó, bên cạnh năng lực, trình độ, công chức còn phải hội đủ và thường xuyên rèn luyện để bảo đảm các quy định về đạo đức công

vụ, đặc biệt là trách nhiệm trong công vụ

Đội ngũ công chức làm công tác quản lý nhà nước về phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em gồm có công chức chuyên trách ở Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em- Bộ Lao động, TB&XH, công chức ở phòng bảo vệ chăm sóc trẻ em- Sở Lao động, TB&XH ở cấp tỉnh và công chức làm công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em ở cấp huyện,

xã Bên cạnh đó còn có đội ngũ cộng tác viên ở xóm, thôn bản và lực lượng nhân viên công tác xã hội cũng tham gia hỗ trợ đắc lực cho sự nghiệp bảo vệ chăm sóc trẻ em, trong đó có công tác phòng ngừa sử dụng LĐTE Đội ngũ công chức làm công tác quản lý nhà nước về phòng ngừa sử dụng LĐTE phải đáp ứng yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực thực thi công vụ và trình độ, kỹ năng nghề nghiệp… Để nâng cao năng lực cho đội ngũ công chức cần thực hiện tốt các chính sách, quy định của pháp luật đối với công chức nói chung Ngoài ra đối với riêng lĩnh vực quản lý nhà nước về về phòng ngừa sử dụng LĐTE cần đẩy mạnh công tác hướng dẫn nghiệp vụ về chính sách, pháp luật, kỹ năng can thiệp, trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em phải tham gia lao động sớm, kỹ phát hiện, xử lý các vi phạm về phòng ngừa sử dụng LĐTE, cũng như nâng cao trách nhiệm và đạo đức công vụ của công chức thực hiện công tác này

(4)Ban hành và thực thi các chế độ chính sách về phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em

Chính phủ, các bộ, ban, ngành từ trung ương tới cơ sở cần nghiên cứu thực trạng LĐTE đang diễn ra và xu hướng diễn biến trong tình hình mới để trên cơ sở pháp luật hiện hành và những điều ước quốc tế về phòng ngừa sử dụng lao động xây dựng và ban hành các chương trình, chính sách phù hợp nhằm phát triển kinh tế xã

Trang 29

hội, nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em, quan tâm đến các chính sách an sinh xã hội để mọi trẻ em đều có quyền bình đẳng hưởng thụ các giá trị của cuộc sống, được bảo vệ và có điều kiện để học tập và phát triển an toàn, toàn diện Ban hành và thực thi hiệu quả các chương trình, chính sách như: Chương trình hành động vì trẻ em, chương trình ngăn ngừa và hạn chế tình trạng trẻ em lao động trong điều kiện độc hại nguy hiểm, chương trình xóa đói giảm nghèo, giảm nghèo bền vững, chính sách hỗ trợ gia đình nghèo vay vốn phát triển kinh tế, chính sách hỗ trợ dạy nghề tạo việc làm cho các hộ gia đình nghèo, chính sách dân số- kế hoạch hóa gia đình, bình đẳng giới Vì suy cho cùng, một nguyên nhân căn bản của tình trạng lao động trẻ em được cho là có xuất phát từ đói nghèo, sau đó là nhận thức của các bậc cha mẹ và cộng đồng đối với việc thực thi các quyền của trẻ em, sau đó mới đến các yếu tố khác Việc xây dựng, ban hành

và thực thi tốt các chính sách chương trình này sẽ giúp cho công tác quản lý nhà nước về phòng ngừa sử dụng LĐTE đạt hiệu quả

(5)Cơ sở vật chất và nguồn lực

Việc huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính ở trong nước và ngoài nước, cũng như về mặt kỹ thuật, chuyên môn từ các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ cho công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có ý nghĩa quan trọng đến việc thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em, góp phần trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó có trẻ em phải lao động được giải quyết, giảm nhẹ tổn thương về thể chất, tinh thần, được phục hồi sức khỏe, tinh thần và giáo dục đạo đức, hòa nhập với gia đình, cộng đồng, góp phần cải thiện chất lượng sống của trẻ

em và tạo điều kiện cho trẻ em phát triển toàn diện, trở thành công dân là chủ nhân tương lai của đất nước

Đội ngũ cán bộ công chức làm công tác Bảo vệ chăm sóc trẻ em, trong đó có lao động trẻ em được kiện toàn từ trung ương tới cơ sở Nhà nước cần có chính sách đào tạo về chuyên môn, năng lực và đạo đức công vụ cho lực lượng công chức này, trong đó phải kể đến nghề công tác xã hội nói chung và chuyên môn công tác xã hội làm việc với trẻ em sẽ giúp cho nhà nước quản lý hiệu quả hơn trong lĩnh vực này Bên cạnh đó còn có đội ngũ cộng tác viên, không phải là công chức nhà nước,

Trang 30

nhưng có vai trò rất quan trọng, họ giống như những cánh tay nối dài để chăm sóc, can thiệp trợ giúp kịp thời tới các đối tượng yếu thế trong xã hội, trong đó có lao động trẻ em

(6)Thanh tra, kiểm tra, giám sát về phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em Nhà nước cần tiến hành thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về phòng ngừa sử dụng LĐTE; kiểm tra việc thực hiện các quyền của trẻ em Để quản

lý nhà nước về phòng ngừa sử dụng LĐTE đạt hiệu lực, hiệu quả, thì việc thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, bảo đảm thực hiện các quyền của trẻ em cần thực hiện thường xuyên, định kỳ Thanh tra, kiểm tra để nhằm phát hiện, xử lý các trường hợp vi phạm, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa các vi phạm sẽ xảy

ra Thanh tra thực hiện theo kế hoạch đã được ban hành trước hoặc đột xuất nếu phát hiện dấu hiệu vi phạm, việc kiểm tra cần thực hiện thường xuyên, định kỳ theo

kế hoạch hàng năm Qua thanh tra, kiểm tra, nếu phát hiện vi phạm cần phải xử lý theo đúng quy định của pháp luật để đảm bảo sự nghiêm minh, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước

1.3 Công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em

1.3.1 Khái niệm công tác xã hội

Công tác xã hội là một nghề chuyên hỗ trợ, giúp đỡ những người gặp khó khăn hoặc những người bị đẩy ra ngoài xã hội (người nghèo, người khuyết tật, trẻ

em có hoàn cảnh đặc biệt, phụ nữ, người già…)

Theo Zastrow (1996): Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các

cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ

Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội (Bùi Thị Xuân Mai,2010)

Trang 31

1.3.2 Khái niệm công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em

Trên cơ sở phân tích một sô khái niệm cơ bản như lao động trẻ em, sử dụng lao động trẻ em, phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em chúng tôi xác định khái niệm

công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em như sau:

Công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em là hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực công tác xã hội mà ở đó người nhân viên công tác xã hội sử dụng các kiến thức, kỹ năng, phương pháp chuyên môn nhằm thực hiện các nhiệm vụ phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em, giúp đảm bảo cho mọi trẻ em đều được phòng ngừa khỏi tình trạng phải lao động kiếm sống; can thiệp và trợ giúp trẻ

em phải lao động trong điều kiện độc hại nặng nhọc, nguy hiểm, giúp các em hòa nhập cộng đồng, nhằm đảm bảo và thực hiện các quyền của trẻ em

Từ việc xác định được khái niệm công cụ nghiên cứu của đê tài luận văn như nêu ở trên, chúng tôi xác định được các nhiệm vụ cơ bản của công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em dưới đây

1.3.3 Nhiệm vụ của công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em

1.3.3.1 Tham vấn/ tư vấn cho trẻ em và gia đình có trẻ em tại cộng đồng

Đây là một nhiệm vụ phải được thực hiện khá thường xuyên trong tiến trình thực hành CTXH Trong tiến trình CTXH với thân chủ, với vai trò là người cung cấp những kiến thức những thông tin liên quan đến trẻ lao động sớm như thông tin

về thực trạng, thông tin về nguyên nhân và những hệ quả xấu của vấn đề lao động sớm là như thế nào? Cách giải quyết vấn đề ra sao? Hay giúp thân chủ và gia đình thân chủ hiểu được lợi ích của tiến trình CTXH là như thế nào? Để có thể thực hiện được vai trò tư vấn trong đề tài này trên cơ sở đã có những kiến thức về tham vấn tư vấn tâm lý và các kỹ năng CTXH như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng truyền thông, kỹ năng phản hồi…

1.3.3.2 Truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức về phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em

- Tăng cường công tác giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng thông qua nhiều họat động truyền thông: tờ rơi, sổ tay tuyên truyền, báo đài, tuyên truyền có

Trang 32

trọng tâm trọng điểm quan tâm nhiều đến khu vực nông thôn thông tin về lao động

và việc làm, các thông tin về lạm dụng sức lao động trẻ em

- Tạo dư luận xã hội phê phán những hành vi thiếu trách nhiệm đối với trẻ

em, tích cực giải quyết những vấn đề xã hội tiêu cực đối với trẻ em

- Các cơ quan chức năng của Nhà nước phải giới thiệu, phổ biến, tập huấn sâu rộng Bộ luật Lao động (chương 11, mục lao động chưa thành niên) đến mọi người dân, có lưu ý đầy đủ đến những người sử dụng lao động nhất là các cơ sở, các

hộ tư nhân sản xuất, kinh doanh

- Phát triển các mô hình trong cộng đồng như mô hình chăm sóc trẻ “Câu lạc

bộ trẻ em đường phố” nhằm có nơi tập trung chăm sóc và có thể xem Trung tâm là mái nhà, một gia đình để giáo dục, định hướng trẻ phát triển về nhân cách, trí tuệ, đào tạo nghề, có việc làm ổn định

- Các cơ quan ban ngành chức năng nhất là chính quyền địa phương cần có các chính sách kêu gọi sự hỗ trợ của các cơ quan tổ chức trong và ngoài nước nhất

là các tổ chức phi chính phủ chuyên trợ giúp trẻ em khó khăn trong đó có trẻ lao động sớm như tổ chức Blue Dragon children’s Foundation, cơ quan Hợp tác Phát triển Tây Ban Nha và Tổ chức Lao động Quốc tế đã triển khai dự án “Hỗ trợ xậy dựng và thực hiện các chương trình về xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất ở Việt Nam

- Nhà trường cũng như toàn xã hội cần quan tâm tạo mọi điều kiện để trẻ em được đến trường học tập như: miễn giảm các khoản chi phí học tập cho trẻ em nghèo, tổ chức phụ đạo giúp các em học yếu…

1.3.3.3 Vận động, kết nối, giới thiệu nguồn lực dịch vụ trợ giúp phòng ngừa lao động trẻ em

Nhiệm vụ này hết sức quan trọng và cần thiết, việc huy động kết nối các nguồn lực trong cộng đồng để giải quyết vấn đề của thân chủ Trong tiến trình CTXH với trẻ lao động sớm đặt biệt là trong các bước lập kế hoạch trị liệu và trị liệu; phải thường xuyên chú trọng nhiệm vụ này để trợ giúp thân chủ và gia đình thân chủ như giới thiệu cho thân chủ đến các cơ sở đào tạo nghề và giới thiệu việc làm sau khi đã đủ tuổi lao động, hỗ trợ gia đình trẻ lao động tiếp cận và cách sử

Trang 33

dụng có hiệu quả các nguồn vốn có hỗ trợ từ Ngân hàng chính sách xã hội, hay tiếp tục huy động cha mẹ thân chủ tiếp cận với các khóa tập huấn dạy nghề đang áp dụng trên địa bàn dân cư

1.3.3.4 Biện hộ, bảo vệ chính sách trợ giúp phòng ngừa lao động trẻ em

Vai trò thể hiện được sự giúp đỡ mang tính chuyên nghiệp của nhân viên CTXH trong tiến trình trợ giúp thân chủ giải quyết vấn đề của họ Trong đề tài này đối tượng là trẻ lao động sớm do đó bản thân trẻ em là một người yếu thế; không tìm ra con đường, cách thức để giải quyết vấn đề khó khăn của mình Do đó, nhiệm

vụ của nhân viên CTXH sẽ phải cùng trao đổi, bàn bạc, chia sẻ với trẻ em (gia đình trẻ em) giúp họ nhận thức rõ hơn về vấn đề của mình như tình trạng nghèo đói của gia đình, hệ quả xấu của tình trạng lao động sớm ở trẻ em, hoạt động của các cơ quan ban ngành đối với vấn đề này như thế nào? Và đặt biệt phải cùng với trẻ em và gia đình trẻ em thảo luận tìm ra những giải pháp giải quyết vấn đề trẻ em phải lao động sớm, lao động nặng nhọc trong điều kiện độc hại, nguy hiểm… tiến hành tìm kiếm và lựa chọn giải pháp tối ưu để giúp trẻ em và gia đình trẻ em giải quyết tốt tình trạng trẻ em lao động đang gặp phải

1.4 Khách thể và phương pháp nghiên cứu:

Để tìm hiểu thực trạng về lao động trẻ em, công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em tỉnh Vĩnh Phúc, chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên tổng số lượng khách thể là 200 người Trong đó gồm có: 100 trẻ em; 100 nhân viên

công tác xã hội tỉnh Vĩnh Phúc Chúng tôi sử dụng các phương pháp chính sau đây:

(1)Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu, báo cáo

- Mục đích của phương pháp:

Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm mục đích phân tích, tổng hợp các văn bản, các báo cáo tổng kết các năm của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và báo cáo của sở Lao động- Thương binh và Xã hội tỉnh Vĩnh Phúc về công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em Tìm hiểu về các Nghị định, Thông tư hướng dẫn dành cho cán bộ quản lý, nhân viên CTXH đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em

- Nội dung của phương pháp:

Trang 34

Chúng tôi sẽ tổng hợp các văn bản, các báo cáo tổng kết 5 năm gần đây của

Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và báo cáo của sở Lao động- Thương binh và

Xã hội tỉnh Vĩnh Phúc và phân tích số liệu về công tác xã hội đối với phòng ngừa

sử dụng lao động trẻ em Trong đó, cụ thể tìm hiểu về các nội dung sau:

+ Tỷ lệ trẻ em phải tham gia lao động trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc;

+ Mức độ thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em;

+ Mức độ thực hiện các nhiệm vụ công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em

- Cách tiến hành:

Phương pháp này được thực hiện theo các bước: phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá các văn bản, báo cáo tổng kết về các vấn đề có liên quan đến công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em

(2)Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Mục đích của phương pháp:

Phương pháp này được sử dụng nhằm mục đích tìm hiểu những vấn đề thực tiễn sau đây

+ Khảo sát thực trạng sử dụng lao động trẻ em tại Vĩnh Phúc;

+ Khảo sát thực trạng phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em tại Vĩnh Phúc; + Khảo sát thực trạng quản lý nhà nước đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em tại Vĩnh Phúc;

+ Khảo sát thực trạng công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em tại Vĩnh Phúc

- Nội dung của phương pháp:

Chúng tôi tiến hành thiết kế 02 phiếu trưng cầu ý kiến nhằm tìm hiểu và khảo sát thực trạng sử dụng lao động trẻ em tại Vĩnh Phúc; Khảo sát thực trạng phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em tại Vĩnh Phúc; Khảo sát thực trạng quản lý nhà nước đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em tại Vĩnh Phúc; Khảo sát thực trạng công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em tại Vĩnh Phúc

- Cách tiến hành:

Trang 35

Chúng tôi tiến hành phát phiếu trưng cầu ý kiến trên tổng số 200 người Trong đó gồm có: 100 trẻ em; 100 nhân viên công tác xã hội tỉnh Vĩnh Phúc

Để thu được câu trả lời chính xác, chúng tôi tạo ra tâm lý thoải mái cho khách thể để họ tự nguyện trả lời Khách thể trả lời độc lập, theo nhận định của cá nhân về những gì đúng với điều họ nghĩ và làm nhiệm vụ phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em

Đối với bảng hỏi, chúng tôi đưa ra câu hỏi mở xen kẽ với câu hỏi đóng để khách thể không bị căng thẳng và nhàm chán khi trả lời Câu hỏi mở thường được khách thể trả lời trước câu hỏi đóng để tránh sự ảnh hưởng của câu hỏi đóng đối với việc trả lời câu hỏi mở Nội dung các câu hỏi trong bảng hỏi cũng được sắp xếp theo thứ tự từ những câu hỏi dễ trả lời đến những câu hỏi khó hơn Những thông tin

cá nhân chúng tôi để sau cùng để tránh sự e ngại cho khách thể

- Nội dung của phương pháp:

Nội dung phỏng vấn bao gồm các thông tin về bản thân, làm rõ về nội dung thực trạng công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em tại Vĩnh Phúc, lý giải nguyên nhân, đề xuất những biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em tại Vĩnh Phúc

Phỏng vấn được tiến hành trong không khí thoải mái, cởi mở và tin cậy Khách thể tự do trình bày về vấn đề mà người phỏng vấn đặt ra Việc phỏng vấn thường bắt đầu bằng câu hỏi mở về những vấn đề chung nhất để kích thích tư duy của đối tượng Sau đó bắt đầu bằng câu hỏi đóng để thu thập được thông tin chính xác Với những vấn đề nhạy cảm như thù lao, cam kết thì câu hỏi được đưa ra một cách tế nhị và vào thời điểm thích hợp Trình tự và nội dung phỏng vấn đã được chuẩn bị kỹ nên có thể linh hoạt theo tình huống phỏng vấn để tạo tâm lý thoải mái cho khách thể

Trang 36

- Cách tiến hành:

Thời gian và địa điểm phỏng vấn được sắp xếp linh hoạt, thuận lợi cho khách thể Nội dung phỏng vấn được chuẩn bị trước một cách chi tiết, rõ ràng theo các vấn

đề mà nghiên cứu quan tâm

- Công cụ nghiên cứu: Đề cương phỏng vấn sâu cá nhân (phụ lục 3)

- Cách đánh giá: Những thông tin thu được sẽ được xử lý theo phương pháp

+ Phương pháp phân tích định tính: Sử dụng phương pháp này để xử lý kết

quả phỏng vấn sâu Các kết quả của phỏng vấn sâu đối với cán bộ quản lý, nhân viên công tác xã hội, đối tượng trực tiếp thụ hưởng dịnh vụ công tác xã hội được phân loại theo từng khía cạnh của nội dung quản lý công tác xã hội

+ Các phương pháp phân tích định lượng:

Số liệu thu được sau điều tra chính thức được xử lý bằng thống kê toán học Các thông số, các phép toán thống kê được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm: Phân tích thống kê mô tả; Điểm trung bình cộng (mean)

Chúng tôi đánh giá thực trạng công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em tại Vĩnh Phúc theo 4 mức độ trả lời như sau: Tốt; Khá; Trung bình; Yếu Lấy điểm cao nhất của thang đo để đánh giá mức độ thực trạng

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1 này, tác giả luận văn đã tập trung vào việc xây dựng khung

lý thuyết nghiên cứu công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em Trong đó, xác định được các khái niệm công cụ như: lao động trẻ em, sử dụng lao động trẻ em, phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em, công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em Trong đó, khái niệm công cụ chính của đề tài luận văn là công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em được xác định

Trang 37

như sau: Công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em là hoạt động

chuyên nghiệp trong lĩnh vực công tác xã hội mà ở đó người nhân viên công tác xã hội sử dụng các kiến thức, kỹ năng, phương pháp chuyên môn nhằm thực hiện các nhiệm vụ phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em, gúp đảm bảo cho mọi trẻ em đều được phòng ngừa khỏi tình trạng phải lao động kiếm sống; can thiệp và trợ giúp trẻ

em phải lao động trong điều kiện độc hại nặng nhọc, nguy hiểm, giúp các em hòa nhập cộng đồng, nhằm đảm bảo và thực hiện các quyền của trẻ em

Trong chương 1 này, tác giả luận văn cũng đã phân tích những vấn đề lí luận

về lao động trẻ em, sử dụng lao động trẻ em, phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em, công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em Trong đó, luận văn đã phân tích sâu nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ

em gồm các nhiệm vụ cơ bản như: (1)Xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm

pháp luật về phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em; (2)Xây dựng đội ngũ cán bộ làm

công tác bảo vệ trẻ em và phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em (3)Ban hành và thực thi các chế độ chính sách về phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em; (4)Cơ sở vật chất

và nguồn lực; (5)Thanh tra, kiểm tra, giám sát về phòng ngừa sử dụng lao động trẻ

em Từ góc độ khoa học công tác xã hội luận văn cũng đã chỉ ra được nhiệm vụ của công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em gồm có các nhiệm vụ như: (1) Tham vấn/ tư vấn cho trẻ em và gia đình có trẻ em tại cộng đồng sử dụng lao động trẻ em; (2) Vận động, kết nối, giới thiệu nguồn lực dịch vụ trợ giúp phòng ngừa lao động trẻ em; (3) Biện hộ, bảo vệ chính sách trợ giúp phòng ngừa lao động trẻ em

Với những nội dung lí luận được xây dựng tại chương 1 này sẽ là cơ sở khoa học vững chắc giúp học viên xây dựng bộ công cụ nghiên cứu thực trạng này tại chương 2 và đề xuất được các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em tại chương 3

Trang 38

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHÒNG NGỪA

SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRẺ EM TỈNH VĨNH PHÚC

2.1 Thực trạng sử dụng lao động trẻ em tỉnh Vĩnh Phúc

2.1.1 Khái quát chung về trẻ em tỉnh Vĩnh Phúc

Dân số trẻ em: Tổng số trẻ em từ 0 đến dưới 16 tuổi của toàn tỉnh có

276.120 em, chiếm 27,3% dân số, trong đó: trẻ em trẻ em nam có 147.223 em, chiếm 53,3%; trẻ em nữ có 128.897 em, chiếm 46,7% Trẻ em từ 0 đến dưới 6 tuổi

có 100.851 em, chiếm 36,5% tổng số trẻ em dưới 16 tuổi

Tình hình chung về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt: Toàn tỉnh hiện có: trẻ em

con hộ nghèo là 18.574 em; trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là 6.017 em, chiếm 2,2% tổng số trẻ em, trong đó: trẻ em mồ côi (hoặc mồ côi bố hoặc mồ côi mẹ hoặc cả hai) có 2.480 em; trẻ em bị bỏ rơi có 86 em; trẻ em khuyết tật, tàn tật có 2.983 em; trẻ em bị di chứng chất độc hóa học có 27 em; trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS có 12

em, trẻ em lang thang có 12 em, trẻ em phải làm việc xa gia đình có 18 em, trẻ em phải lao động nặng nhọc trong điều kiện độc hại nguy hiểm có 29 em; trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác có 360 em [29]

2.1.2 Thực trạng lao động trẻ em tỉnh Vĩnh Phúc

2.1.2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc

+ Điều kiện tự nhiên

Vĩnh Phúc là cái nôi của người Việt cổ, với di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu nổi tiếng Tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập vào năm 1950, do sự kết hợp của hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên Sau nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, tỉnh Vĩnh Phúc chính thức được tái lập vào năm 1997

Tính đến năm 2014 Vĩnh Phúc có diện tích 1.237,52 km2 với dân số khoảng 1.029.412 người, mật độ dân số khoảng 832 người/km2

Vị trí địa lý: Vĩnh Phúc thuộc Vùng đồng bằng sông Hồng, Vùng kinh tế trọng

điểm Bắc bộ và Vùng Thủ đô, phía Bắc giáp Thái Nguyên và Tuyên Quang, phía Tây giáp Phú Thọ, phía Đông và phía Nam giáp thủ đô Hà Nội

Trang 39

Địa hình: Vĩnh Phúc nằm trong vùng chuyển tiếp giữa vùng gò đồi trung du

với vùng đồng bằng Châu thổ Sông Hồng Bởi vậy, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và chia làm 3 vùng sinh thái: đồng bằng, trung du và vùng núi Vùng núi có diện tích tự nhiên 65.500 ha; Vùng trung du kế tiếp vùng núi, chạy dài từ Tây Bắc xuống Đông – Nam có diện tích tự nhiên khoảng 25.100ha; Vùng đồng bằng có diện tích 33.500ha

Về khí hậu: Vĩnh Phúc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm Nhiệt độ trung bình năm 23,20C– 250C, lượng mưa 1.500 – 1.700 ml; độ ẩm trung bình 84 – 85%, số giờ nắng trong năm 1.400 – 1.800 giờ Hướng gió thịnh hành là hướng Đông – Nam thổi từ tháng 4 đến tháng 9, gió Đông – Bắc thổi từ tháng 10 tới tháng 3 năm sau, kèm theo sương muối Riêng vùng núi Tam Đảo có kiểu khí hậu quanh năm mát mẻ (nhiệt độ trung bình 18oC) cùng với cảnh rừng núi xanh tươi, phù hợp cho phát triển các hoạt động du lịch, nghỉ ngơi, giải trí

+ Đặc điểm xã hội, dân cư

- Các đơn vị hành chính

Tỉnh Vĩnh Phúc có 9 đơn vị hành chính, gồm: thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên, các huyện: Bình Xuyên, Lập Thạch, Sông Lô, Tam Dương, Tam Đảo, Vĩnh Tường, Yên Lạc; với 137 xã, phường, thị trấn (trong đó có 39 xã miền núi) Tỉnh lỵ của Vĩnh Phúc là thành phố Vĩnh Yên, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 50km và cách sân bay quốc tế Nội Bài 25km

- Dân số và nguồn nhân lực

Dân số trung bình năm 2014 khoảng 1.029.412 người, trong đó dân số nam khoảng 508.405 người chiếm 49,39%, dân số nữ 521.007 người chiếm 50,61% Tỷ

lệ tăng dân số tự nhiên là 11% Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động chiếm 60%, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chiếm 63%, tỷ lệ dân số làm việc trong khu vực nhà nước chiếm 8,2%, làm việc ngoài nhà nước chiếm 86,6%, làm việc trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 5,2%

- Phát triển kinh tế xã hội:

Tốc độ tăng trưởng GRDP: Tốc độ tăng trưởng bình quân 20 năm 17,26%/năm (1997-2016); Quy mô tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP): 77,18 nghìn tỷ đồng, tương đương khoảng 3,5 tỷ USD; GRDP bình quân đầu người: 72,3 triệu đồng/người/năm (năm 2016)

Trang 40

Cơ cấu kinh tế (năm 2016): Công nghiệp- Xây dựng 61,90%; Thương mại- Dịch vụ 27,75%; Nông lâm thuỷ sản 10,35%

Kim ngạch xuất- nhập khẩu (tổng giá trị): Xuất khẩu: 1.766,4 tỷ USD (năm 2016); Nhập khẩu: 2.556,1 tỷ USD

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI): liên tục đứng ở nhóm điều hành

khá, tốt Đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện có 228 dự án còn hiệu lực, với tổng vốn đầu tư đăng ký là 3,52 tỷ USD (tính đến hết năm 2016)

- Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020:

Đến năm 2020 Vĩnh Phúc trở thành một tỉnh công nghiệp, là một trong những trung tâm công nghiệp, dịch vụ, du lịch của khu vực và của cả nước; nâng cao rõ rệt mức sống nhân dân; môi trường được bảo vệ bền vững; bảo đảm vững chắc về quốc phòng, an ninh; hướng tới trở thành thành phố Vĩnh Phúc vào những năm 20 của thế kỷ 21

2.1.2.2 Thực trạng lao động trẻ em trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

+ Tình hình lao động trẻ em trên địa bàn tỉnh:

Tuy đã có con số thống kê của cơ quan chuyên môn về số lượng trẻ em phải lao động trên địa bàn tỉnh, song thiết nghĩ đó là con số chưa đầy đủ về tình trạng lao động trẻ em trên địa bàn tỉnh Vẫn còn tình trạng trẻ em phải lao động sớm, trẻ em phải lao động trong điều kiện độc hại nguy hiểm, trẻ em phải làm việc trong thời gian nhiều hơn cho phép, nhất là ở các vùng kinh tế còn khó khăn, như các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao ở huyện Lập Thạch, Tam Đảo đôi khi do chính sự không hiểu biết về quyền trẻ em và sự lạm dụng xảy ra trong chính gia đình của trẻ em, mà nguyên nhân chính có thể nói đến là sự đói nghèo, nhận thức hạn chế của người dân về quyền trẻ em và lao động trẻ em, cũng như sự thiếu hiệu quả và đồng bộ trong quản

lý nhà nước về phòng, chống sử dụng lao động trẻ em

Để làm rõ hơn về tình hình diễn biến và đặc điểm của lao động trẻ em, tác giả

đã tiến hành lập phiếu, lấy mẫu là 100 đối tượng trẻ em có dấu hiệu phải lao động sớm trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên và một số huyện lân cận, được các địa phương phản ánh có tình trạng lao động trẻ em

Kết quả điều tra cho thấy như sau:

- Tình trạng đi học

Ngày đăng: 06/06/2017, 16:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Phân biệt trẻ em tham gia lao động và lao động trẻ em - Phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 1.2. Phân biệt trẻ em tham gia lao động và lao động trẻ em (Trang 16)
Bảng 1.3. Nguyên nhân dẫn đến lao động trẻ em  Nguyên nhân bên trong  Nguyên nhân bên ngoài - Phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 1.3. Nguyên nhân dẫn đến lao động trẻ em Nguyên nhân bên trong Nguyên nhân bên ngoài (Trang 18)
Sơ đồ 1.1. Phân bố dân số trẻ em 5- 17 tuổi tham gia hoạt động kinh tế - Phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc
Sơ đồ 1.1. Phân bố dân số trẻ em 5- 17 tuổi tham gia hoạt động kinh tế (Trang 23)
Sơ đồ 1.2. Bộ máy Quản lý nhà nước về phòng chống sử dụng LĐTE - Phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc
Sơ đồ 1.2. Bộ máy Quản lý nhà nước về phòng chống sử dụng LĐTE (Trang 27)
Bảng 2.1. Tình trạng đi học của lao động trẻ em - Phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 2.1. Tình trạng đi học của lao động trẻ em (Trang 41)
Bảng 2.2. Nguyên nhân bỏ học của lao động trẻ em  Nguyên nhân bỏ học  Số lượng  Tỷ lệ % - Phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 2.2. Nguyên nhân bỏ học của lao động trẻ em Nguyên nhân bỏ học Số lượng Tỷ lệ % (Trang 42)
Bảng 2.3. Điều kiện nơi ở của trẻ em - Phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 2.3. Điều kiện nơi ở của trẻ em (Trang 43)
Bảng 2.4. Thời giờ làm việc bình quân ngày của lao động trẻ em - Phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 2.4. Thời giờ làm việc bình quân ngày của lao động trẻ em (Trang 47)
Bảng 2.5  Mức độ thực hiện nhiệm vụ tham vấn cho trẻ em và gia đình  có trẻ em tại cộng đồng về phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em - Phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 2.5 Mức độ thực hiện nhiệm vụ tham vấn cho trẻ em và gia đình có trẻ em tại cộng đồng về phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em (Trang 53)
Bảng 2.6  Mức độ thực hiện nhiệm vụ truyền thông, giáo dục nâng cao - Phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 2.6 Mức độ thực hiện nhiệm vụ truyền thông, giáo dục nâng cao (Trang 55)
Bảng 2.7  Mức độ thực hiện nhiệm vụ vận động, kết nối, giới thiệu   nguồn lực dịch vụ trợ giúp phòng ngừa lao động trẻ em - Phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 2.7 Mức độ thực hiện nhiệm vụ vận động, kết nối, giới thiệu nguồn lực dịch vụ trợ giúp phòng ngừa lao động trẻ em (Trang 56)
Bảng 2.8  Mức độ thực hiện nhiệm vụ biện hộ, bảo vệ chính sách - Phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 2.8 Mức độ thực hiện nhiệm vụ biện hộ, bảo vệ chính sách (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w