Sự suy giảm về sức khỏe, thể lực, sự thiếu thốn về tinh thần, tình cảm, sự quan tâm chăm sóc của gia đình, xã hội đối với NCT đang trở thành những hiện tượng phổ biến…điều đó đặt ra cho
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN QUANG HUY
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI
TỈNH HÀ NAM
Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS LÊ THỊ QÚY
Phản biện 1: TS Trần Thị Minh Thi
Phản biện 2: TS Phạm Trường Giang
Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội, hồi ,ngày tháng năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn “già hóa dân số”
từ năm 2011 và là một trong các quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất trên thế giới theo dự báo, khoảng 15 – 20 năm nữa, Việt Nam sẽ chuyển sang cơ cấu dân số già Sự suy giảm về sức khỏe, thể lực, sự thiếu thốn về tinh thần, tình cảm, sự quan tâm chăm sóc của gia đình, xã hội đối với NCT đang trở thành những hiện tượng phổ biến…điều đó đặt ra cho hệ thống an sinh xã hội của chúng ta những thách thức rất lớn trong việc đảm bảo điều kiện sống, chăm sóc y tế, các hoạt động văn hóa giải trí … đặc biệt là sự tham gia của các hoạt động CTXH vào lĩnh vực này Tỉnh Hà Nam và Trung tâm CTXH cũng không nằm ngoài xu hướng này
Các phương pháp CTXH như CTXH nhóm, CTXH cá nhân đối với NCT là lĩnh vực khoa học đặc thù nhưng khá mới về cả lý luận, ứng dụng cũng như cải tạo thực tiễn Hiện nay Trung tâm cũng chưa có đề tài nào nghiên cứu về CTXH với NCT Từ thực tế trên tôi
quyết định lựa chọn đề tài: “CTXH đối với NCT từ thực tiễn Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam” và sử dụng phương pháp “CTXH cá nhân với NCT” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
CTXH chuyên nghiệp trên thế giới đã phát triển được hơn một thế kỷ, ở Việt Nam nghề CTXH chỉ mới bắt đầu Trong gia đoạn
2000 - 2005, CTXH chính thức được đưa vào một số trường cao đẳng, đại học ở nước ta
Từ năm 2000 trở đi có nhiều nghiên cứu, bài viết về NCT, như
tác giả như Nguyễn Phương Lan “Tìm hiểu đời sống văn hóa NCT”, Nguyễn Trung Nghĩa “Tìm hiểu đời sống văn hóa tinh thần của cán
Trang 4bộ công nhân viên hưu trí” tại thành phố Hồ Chí Minh Kết quả các
nghiên cứu cho thấy, tham gia các hoạt động văn hóa tinh thần là nhu cầu cấp thiết đối với NCT
Sau Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/03/2010 về phê duyệt Đề án phát triển nghề CTXH, đã có thêm nhiều nghiên cứu mới CTXH với NCT, tiêu biểu là: Nguyễn Thị Kim Hoa (2012), Giáo
trình “CTXH trợ giúp NCT” Tác giả đã trình bày một cách tổng quan
về CTXH với NCT Đây là cơ sở để NVXH vận dụng vào thực hành trợ giúp NCT, tuy nhiên cuốn sách chưa tìm hiểu được nhiều mô hình trợ giúp CTXH với NCT, chưa nêu ra được các phương pháp tiếp cận làm việc với tường nhóm đối tượng cụ thể trong CTXH với NCT Qua việc tổng quan tình hình nghiên cứu về NCT từ trước tới nay cho thấy, đề tài nghiên cứu về CTXH đối với NCT còn ít, những nghiên cứu trên chỉ tiếp cận ở khía cạnh chủ yếu như: tìm hiểu về chăm sóc sức khỏe hoặc phân tích thực trạng của NCT hay đánh giá hiệu quả của chính sách xã hội… Cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về CTXH đối với NCT tại Trung tâm CTXH tỉnh Hà
Nam Vì thế, đề tài “CTXH đối với NCT từ thực tiễn Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam” sử dụng phương pháp “CTXH cá nhân đối với NCT” là đề tài khá mới mẻ và sẽ bổ sung thêm vào những nghiên
Trang 5Nghiên cứu cơ sở lý luận về CTXH đối với NCT, về CTXH cá nhân đối với NCT
Phân tích, đánh giá thực trạng sống, nhu cầu của NCT tại Trung tâm CTXH Tỉnh Hà Nam Tiến trình CTXH cá nhân đối với NCT Kỹ năng trong quá trình CTXH cá nhân để hỗ trợ, giúp đỡ NCT
Thực hiện tiến trình CTXH cá nhân với NCT và xây dựng quy trình cho nhân viên xã hội trong việc thực hiện hoạt động CTXH cá nhân đối với NCT
4 Phạm vi, đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: Từ tháng 5 năm 2016 đến 31 tháng 12 năm 2016
- Phạm vi không gian: Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam
- Giới hạn nghiên cứu: CTXH cá nhân đối với NCT
4.2 Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động CTXH cá nhân đối
với NCT tại Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam
4.3 Khách thể nghiên cứu: NCT, người thân của NCT; Lãnh đạo Trung tâm; nhân viên y tế, tư vấn; Những người bạn của NCT
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: Từ những đánh giá
thực trạng, nhu cầu của NCT, các hoạt động CTXH của cán bộ, nhân viên Trung tâm đối với người cao tuổi sống ở Trung tâm CTXH từ đó rút ra những lý luận và đưa ra được những đề xuất về biện pháp nâng cao hiệu quả CTXH cá nhân đối với NCT trên địa bàn tỉnh Hà Nam
Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: Nghiên cứu hệ
Trang 6thống những lý thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quan như CTXH cá nhân đối với NCT, các chế độ, chính sách đối với NCT ở Trung tâm
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp phân tích tài liệu: Phân tích các tài liệu liệu
về NCT để tìm ra những ý nghĩa của số liệu đó phục vụ cho nghiên
cứu
5.2 Phương pháp quan sát: Quan sát là phương pháp tri giác
có mục đích, có kế hoạch nhằm thu thập những số liệu, sự kiện cụ thể, đặc trưng của NCT
5.3 Phương pháp phỏng vấn sâu: Thông qua các cuộc phỏng
vấn để tìm hiểu những thông tin về NCT Thông qua những câu hỏi
và trả lời trực tiếp giữa nhân viên CTXH với NCT, lãnh đạo, nhân
viên Trung tâm và người thân của NCT
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa khoa học
Những kết quả thu được từ thực tế sẽ đóng góp thêm vào nguồn tham khảo cho việc phân tích và nghiên cứu lý luận của CTXH cá nhân đối với NCT
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác chăm sóc NCT
ở Trung tâm cũng như trên địa bàn tỉnh Hà Nam
Bản thân sau khi nghiên cứu đề tài sẽ củng cố, mở rộng kiến thức về CTXH nói chung và CTXH đối với NCT nói riêng
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu, các phụ lục, luận văn có 3 chương sau đây:
Trang 7Chương 1: Những vấn đề lý luận về CTXH cá nhân đối với NCT
Chương 2: Thực trạng NCT và tiến trình CTXH cá nhân đối với NCT tại Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả CTXH đối với NCT từ thực tiễn tại Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI 1.1 Các khái niệm công cụ
1.1.1 Khái niệm người cao tuổi
Theo quan điểm y học: NCT là người ở giai đoạn già hóa gắn liền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể
Luật NCT Việt Nam năm 2009 quy định: NCT là là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên
Theo WHO: NCT phải từ 70 tuổi trở lên
Theo quan điểm của CTXH: Với đặc thù là một nghề trợ giúp
xã hội, CTXH nhìn nhận về NCT như sau: NCT với những thay đổi
về tâm sinh lý, lao động - thu nhập, quan hệ xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn, vấn đề trong cuộc sống Do đó, NCT là một đối tượng yếu thế, đối tượng cần sự trợ giúp của công tác xã hội”
1.1.2 Khái niệm công tác xã hội
Theo Bùi Thị Xuân Mai trong cuốn giáo trình “Nhập môn CTXH”, định nghĩa: “CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ
Trang 8nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội”
1.1.3 Khái niệm công tác xã hội cá nhân
Theo Nguyễn Thị Vân, trong cuốn giáo trình CTXH với NCT
định nghĩa “CTXH cá nhân với NCT là phương pháp của CTXH nhằm giúp đỡ, hỗ trợ NCT vượt qua khó khăn, giúp họ đánh giá, xác định vấn đề, tìm kiếm tiềm năng, điểm mạnh từ đó nâng cao năng lực
tự giải quyết vấn đề Quá trình giúp đỡ là quá trình khoa học và chuyên nghiệp, trong đó NVXH vận dụng nền tảng kiến thức khoa học tâm lý xã hội, xã hội học, các khoa học xã hội liên quan khác và các kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp sát cánh cùng NCT hỗ trợ họ tự giải quyết vấn đề của mình và hướng đến vượt qua những vấn đề khác có thể xẩy ra trong tương lai”
Như vậy, căn cứ vào các khái niệm CTXH, CTXH cá nhân chúng ta có thể định nghĩa CTXH cá nhân với NCT như sau: CTXH
cá nhân với NCT là quá trình NVXH sử dụng các kiến thức, kỹ năng chuyên môn để giúp đỡ, hỗ trợ NCT vượt qua khó khăn, giúp họ đánh giá, xác định vấn đề, tìm kiến tiềm năng, điểm mạnh từ đó nâng cao năng lực tự giải quyết vấn đề
1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết hệ thống sinh thái
Lý thuyết hệ thống sinh thái nhấn mạnh sự can thiệp bất cứ thời điểm nào trong hệ thống cũng ảnh hưởng hoặc tạo ra sự thay đổi trong toàn hệ thống Thuyết hệ thống sinh thái vận dụng sức mạnh của các lý thuyết khác trong việc mô tả hành vi phức tạp của con người Nó chỉ ra hành vi của cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và những mối quan hệ kết nối của họ tạo ra bối cảnh lý tưởng để giúp đỡ cho vấn đề thực hành Lý thuyết tập trung làm sáng tỏ sự hòa hợp
Trang 9giữa con người và môi trường của họ như thế nào để từ đó tìm cách giải quyết vấn đề của thân chủ
1.2.2 Thuyết nhu cầu
Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1970) đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc:
Nhu cầu cơ bản: Gồm các như ăn, uống, ngủ, không khí để
thở, tình dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái,…đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người
Nhu cầu về an toàn, an ninh: Con người mong muốn có sự
bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm
Nhu cầu về xã hội: Bao gồm việc tìm kiếm, kết bạn, tìm
người yêu, lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào đó, đi làm việc,
đi chơi picnic, tham gia các câu lạc bộ, làm việc nhóm, …
Nhu cầu về được quý trọng: Nhu cầu được người khác quý
mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân và nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của bản thân
Nhu cầu được thể hiện mình: Sử dụng hết khả năng, tiềm
năng của mình để tự khẳng định mình, để làm việc, đạt các thành quả trong xã hội
1.3 Thể chế về công tác xã hôi đối với người cao tuổi
1.3.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng
Sau khi Hội NCT Việt Nam được thành lập (10/5/1995), Ban
Bí thư TW đã ban hành chỉ thị 59/CT-TW “Về chăm sóc NCT” Trong các Báo cáo chính trị tại Đại hội IX; Đại hội X; Đại hội XI của Đảng và Thông báo số 12-TB/TW ngày 13/6/2001 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đều khẳng định: “NCT là nền tảng của gia đình, là tài sản vô giá, nguồn lực quan trọng cho sự phát triển xã hội Vì thế,
Trang 10chăm sóc và phát huy tốt vai trò NCT là thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta và đạo đức người Việt Nam, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh”
1.3.2 Văn bản pháp luật của Nhà nước
Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 ghi rõ: “Những công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ”; Luật NCT được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 23 tháng 11 năm 2009 đã thể hiện sâu sắc sự quan tâm của Đảng, nhà nước và xã hội đối với NCT; Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội
1.4 Vai trò của nhân viên xã hội đối với người cao tuổi: Người kết nối nguồn lực
Nhân viên xã hội là người tạo khả năng; người điều phối-kết nối dịch vụ; người giáo dục; người biện hộ; người tạo môi trường thuận lợi; người đánh giá và giám sát
1.5 Các dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi
Dịch vụ CTXH với NCT là những hoạt động do các cơ sở có chức năng cung cấp dịch vụ CTXH, các NVXH thực hiện Các mô hình dịch vụ CTXH ở Việt Nam hiện nay bao gồm:
- Các tổ chức thuộc cơ quan Nhà nước quản lý: Trung tâm Bảo trợ xã hội, các trung tâm/khu dưỡng lão
- Các tổ chức ngoài công lập: Các trung tâm/khu dịch vụ chăm sóc NCT do các Hội/Đoàn thể có sự tham gia quản lý của nhà nước
Trang 11- Các tổ chức từ thiện xã hội (nhà chùa, nhà thờ…) các cá nhân thành tự thành lập; “Dịch vụ” chăm sóc người già tại nhà theo thỏa thuận, dịch vụ chăm sóc tại bệnh viện…
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội cá nhân đối với NCT
Yếu tố thuộc về bản thân đối tượng; Yếu tố thuộc về đội ngũ NVXH; Yếu tố thuộc chính sách; Yếu tố cơ sở vật chất, nguồn lực
Chương 2 THỰC TRẠNG NGƯỜI CAO TUỔI VÀ TIẾN TRÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TẠI TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI TỈNH HÀ NAM 2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Lịch sử hình thành Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam
Trung tâm CTXH là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Hà Nam, địa chỉ Thôn Văn Lâm, xã Liêm Tiết, thành phố Phủ Lý, Trung tâm được xây dựng trên diện tích là 13.500m2
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ:
2.1.2.1 Chức năng: Trung tâm CTXH là đơn vị sự nghiệp
công lập trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nam thực hiện chức năng phòng và điều trị rối nhiễu tâm trí; cung cấp các dịch vụ CTXH cho các đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khác do Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam quy định
2.1.2.2 Nhiệm vụ
Tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng bao gồm: Đối tượng bảo trợ xã hội; Con của người tham gia hoạt động
Trang 12kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học bị tàn tật nặng và cung cấp các dịch vụ cộng tác xã hội
2.1.3 Cơ cấu tổ chức, bộ máy của Trung tâm
Trung tâm có 04 phòng chức năng gồm: Phòng Tổ chức - Hành chính - Kế toán; Phòng CTXH; Phòng Y tế và Phòng Quản lý - Chăm sóc đối tượng
Năm 2016, Trung tâm đã tiếp nhận quản lý, chăm sóc và nuôi dưỡng 141 đối tượng, trong đó NCT là 77 đối tượng Mức ăn hàng tháng của đối tượng 1.080.000đồng/người, tiền thuốc 50.000đ/người/tháng, tiền trang cấp 1.500.000đ/người/năm
2.2 Thực trạng người cao tuổi tại Trung tâm CTXH tỉnh
Hà Nam
Hiện nay Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam đang quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng 77 NCT
2.2.1 Về đặc điểm của các đối tượng NCT tại Trung tâm
Đa số NCT sống ở Trung tâm có điều kiện hoàn cảnh hết sức khó khăn, chủ yếu là đơn thân, sức khoẻ yếu, nhiều bệnh tật, tuổi cao;
bị tổn thương về mặt tâm lý, thiếu tình cảm gia đình, số ít bị xa lánh Một số đi lang thang bị mắc bệnh tâm thần, bệnh mất trí nhớ, bị mọi người xa lánh, bị đói, rách, sống khép kín, sợ tiếp súc với người lạ, thiếu thốn tình thương và sự quan tâm sẻ chia của mọi người Được chia làm 02 nhóm: Nhóm NCT bình thường và nhóm NCT khuyết tật
2.2.2 Nhu cầu của người cao tuổi tại Trung tâm
NCT ở Trung tâm có những nhu cầu sau: Nhu cầu về ăn, ở; Nhu cầu an toàn: Nhu cầu tình cảm; Nhu cầu được tôn trọng, được chấp nhận, được thấy mình có ích
2.2.3 Khả năng đáp ứng nhu cầu cho người cao tuổi tại Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam