1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Hà Nam

101 378 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 880,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự suy giảm về sức khỏe, thể lực, sự thiếu thốn về tinh thần, tình cảm, sự quan tâm chăm sóc của gia đình, xã hội đối với NCT đang trở thành những hiện tượng phổ biến…điều đó đặt ra cho

Trang 1

`

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN QUANG HUY

CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI

TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI

Trang 2

`

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi thực hiện dựa vào những hiểu biết của bản thân cùng sự hướng dẫn của

GS.TS Lê Thị Quý

Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực, chưa được công

bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này.

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Học viên thực hiện

Nguyễn Quang Huy

Trang 3

`

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI 9

1.1 Các khái niệm công cụ 9

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 11

1.3 Thể chế về công tác xã hội đối với người cao tuổi 15

1.4 Vai trò và nhiệm vụ của nhân viên xã hội đối với người cao tuổi 18

1.5 Các dịch vụ công tác xã hội dành cho người cao tuổi 22

1.6 Các yếu tố tác động đến công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi .23

Chương 2: THỰC TRẠNG NGƯỜI CAO TUỔI VÀ TIẾN TRÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TẠI TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI TỈNH HÀ NAM 26

2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu … 26

2.2 Thực trạng người cao tuổi tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Hà Nam 32

2.3 Tiến trình công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Hà Nam…… 38

2.4 Những hạn chế, thiếu sót trong công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Hà Nam và nguyên nhân 62

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI TỈNH HÀ NAM 65

3.1 Củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động CTXH đối với NCT tại Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam 65

3.2 Đẩy mạnh công tác truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về hoạt động CTXH với NCT 67

3.3 Đào tạo, nâng cao năng lực hoạt động của mạng lưới cộng tác viên xã hội ở cơ sở 68

KẾT LUẬN 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

PHỤ LỤC 76

Trang 5

`

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo truyền thống văn hóa của người Việt Nam phần lớn NCT sống cùng với con, cháu trong gia đình hình ảnh của những các cụ, ông, bà, cha, mẹ trong gia đình được tôn vinh, phục dưỡng không chỉ là một thứ tình cảm đặc biệt thiêng liêng, được lưu giữ qua nhiều thế hệ của người Việt, mà thành đạo lý chung của dân tộc từ

gia đình đến xã hội, đó chính là “Đạo hiếu”

Từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới, đời sống các gia đình không ngừng được cải thiện, tuổi thọ bình quân ngày càng cao, số lượng NCT ngày càng gia tăng Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn “già hóa dân số” từ năm 2011

và là một trong các quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất trên thế giới theo

dự báo, khoảng 15 – 20 năm nữa, Việt Nam sẽ chuyển sang cơ cấu dân số già Đạo

lý “Kính già” là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, cho đến nay vẫn còn nguyên

giá trị, được coi là một trong những thang bậc giá trị cơ bản và quan trọng của dân tộc Việt Nam, song trên thực tế do lao động kiếm sống đã và đang chiếm phần lớn thời gian của gia đình nên việc thực hiện đạo lý ấy đang bị sao nhãng và ít được quan tâm như trước Thực tiễn cho thấy, có không ít những NCT ở nước ta đang phải sống trong những hoàn cảnh thiếu thốn về kinh tế, phải tiếp tục kiếm sống, nhiều NCT cô đơn, không nơi nương tựa thuộc gia đình hộ nghèo Sự suy giảm về sức khỏe, thể lực, sự thiếu thốn về tinh thần, tình cảm, sự quan tâm chăm sóc của gia đình, xã hội đối với NCT đang trở thành những hiện tượng phổ biến…điều đó đặt ra cho hệ thống an sinh xã hội của chúng ta những thách thức rất lớn trong việc đảm bảo điều kiện sống, chăm sóc y tế, các hoạt động văn hóa giải trí … đặc biệt là

sự tham gia của các hoạt động CTXH vào lĩnh vực này

Trên địa bàn tỉnh Hà Nam tính đến hết năm 2015 dân số tỉnh là 800.751 người, trong đó NCT là 112.791 chiếm 14,1% dân số Thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước, đảng bộ, các cấp chính quyền và nhân dân tỉnh Hà Nam đã có nhiều giải pháp để quan tâm, chăm lo đến đời sống vật chất cũng như

Trang 6

`

tinh thần đối với NCT Chính vì vậy, đời sống của NCT ở tỉnh Hà Nam nói chung

đã phần nào được ổn định, được cải thiện và từng bước được nâng lên Tuy nhiên

Hà Nam là một tỉnh có điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn công tác chăm sóc, trợ giúp NCT còn nhiều hạn chế mới chỉ đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu cơ bản của NCT mà chưa đáp ứng những nhu cầu đa dạng khác, cũng như chưa giải quyết tốt những vấn đề mang tính chất cá nhân, nhóm đối tượng đặc thù Hiện nay

số NCT đang được quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng tại Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam là 77 người Trong điều kiện hội nhập và phát triển sâu rộng với thế giới, nghề CTXH ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong việc cung cấp những dịch

vụ của CTXH nhằm hỗ trợ, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho NCT trên mọi phương diện Các phương pháp CTXH như CTXH nhóm, CTXH cá nhân đối với NCT là lĩnh vực khoa học đặc thù nhưng khá mới về cả lý luận, ứng dụng cũng như cải tạo thực tiễn Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam đã áp dụng các lý thuyết nền tảng và phương pháp thực hành của CTXH vào việc chăm sóc, nuôi dưỡng NCT nhưng chưa đạt được kết quả như mong muốn, hiện nay Trung tâm cũng chưa có

đề tài nào nghiên cứu về CTXH với NCT Từ thực tế trên và với mong muốn áp dụng những kiến thức, kỹ năng đã học được về CTXH vào thực tiễn góp phần nâng cao chất lượng của công tác chăm sóc, nuôi dưỡng NCT ở Trung tâm, vì vậy

tôi quyết định lựa chọn đề tài: “CTXH đối với NCT từ thực tiễn Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam” và sử dụng phương pháp “CTXH cá nhân với NCT” làm

đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

CTXH chuyên nghiệp trên thế giới đã phát triển được hơn một thế kỷ, tuy nhiên ở Việt Nam nghề CTXH chỉ mới bắt đầu Trong gia đoạn 2000 - 2005, CTXH chính thức được đưa vào một số trường cao đẳng, đại học ở nước ta với tư cách là một chuyên ngành độc lập thì đây cũng chính là thời điểm xuất hiện nhiều những nghiên cứu, bài viết về NCT tại Việt Nam

Năm 1989, những nghiên cứu dân số và lao động về tuổi già bắt đầu với một báo cáo quan trọng về NCT theo yêu cầu của ESCAP được hoàn thành Đây là báo

Trang 7

`

cáo dân số học đầu tiên về tuổi già Việt Nam được giới thiệu ra quốc tế Tiếp sau đó

là những khảo sát của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về NCT, những khảo sát là công cụ quan trọng của quá trình làm chính sách

Năm 2000 trở đi cũng có nhiều nghiên cứu, bài viết về NCT do các nhà khoa học xã hội tiến hành Có thể kể đến công trình nghiên cứu của các tác giả như

Nguyễn Phương Lan “Tìm hiểu đời sống văn hóa NCT” dưới góc độ văn hóa học, Nguyễn Trung Nghĩa với khóa luận xã hội học “Tìm hiểu đời sống văn hóa tinh

thần của cán bộ công nhân viên hưu trí” tại thành phố Hồ Chí Minh Kết quả các

nghiên cứu cho thấy, tham gia các hoạt động văn hóa tinh thần là nhu cầu cấp thiết đối với NCT

Đặng Vũ Cảnh Linh (2009), trong cuốn tài liệu “NCT và các Mô hình chăm

sóc NCT ở Việt Nam” tác giả đã đưa ra những nghiên cứu đánh giá về thực trạng

của đời sống, sinh hoạt và nhu cầu của NCT hiện nay, đồng thời đưa ra những phân tích cụ thể về các mô hình chăm sóc NCT hiện có như: Mô hình Bệnh viện; mô hình Trung tâm chăm sóc NCT do nhà nước, các cơ quan đoàn thể, tư nhân quản lý;

mô hình chăm sóc NCT tại gia đình; mô hình chăm sóc NCT tại cộng đồng

Ngày 25/3/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án phát triển nghề CTXH, ở nước ta đã có thêm nhiều nghiên cứu mới dưới dạng các đề tài, các bài báo khoa học về lĩnh vực CTXH nói chung, trong đó có các nghiên cứu về dịch vụ CTXH, tiêu biểu là:

Trong Bài báo "Đề xuất mô hình trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH ở Việt

Nam" được đăng trên tạp chí Lao động Xã hội ngày 11/11/2011 của Ths.Nguyễn

Văn Hồi, tác giả đã trình bày khái quát những kết quả nghiên cứu, đánh giá về thực trạng hoạt động cung cấp dịch vụ CTXH của mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH ở Việt Nam (gồm các Trung tâm bảo trợ xã hội công lập và các Trung tâm,

cơ sở ngoài công lập), trong đó nhấn mạnh đến những hạn chế và đưa ra một số khuyến nghị về mô hình trung tâm dịch vụ CTXH ở Việt Nam

Trang 8

`

Trong cuốn tài liệu tập huấn “Khóa đào tạo CTXH cho các nhà quản lý cấp

cao” Dự án đào tạo CTXH tại Việt Nam MOLISA - ULSA - CFSI- ASI – AP -

UNICEF 2012 Cuốn tài liệu này đã khái quát những nội dung cơ bản về nghề CTXH, nền tảng triết lý và kiến thức với các nội dung cơ bản như về nghề CTXH, nhân viên xã hội, quy trình trợ giúp trong CTXH, các mô hình trợ giúp trong CTXH

Nguyễn Thị Kim Hoa (2012), Giáo trình “CTXH trợ giúp NCT” Tác giả đã

trình bày một cách tổng quan về CTXH với NCT như: Các khái niệm, hệ thống lý thuyết áp dụng, các chương trình chính sách, một số mô hình trợ giúp NCT hiện nay Cuốn sách đã giới thiệu một cách tổng quan về CTXH với NCT, là cơ sở để NVXH vận dụng vào thực hành trợ giúp NCT, tuy nhiên cuốn sách chưa tìm hiểu được nhiều mô hình trợ giúp CTXH với NCT ở một số nước có nghề CTXH phát triển, chưa nêu ra được các phương pháp tiếp cận làm việc với tường nhóm đối tượng cụ thể trong CTXH với NCT

Như vậy, qua việc tổng quan tình hình nghiên cứu về NCT từ trước tới nay cho thấy việc nghiên cứu đa dạng với các khía cạnh khác nhau về NCT nhưng chủ yếu dừng lại ở các nghiên cứu mang tính chất của chuyên ngành xã hội học là chủ yếu Đề tài nghiên cứu về CTXH đối với NCT còn ít, những nghiên cứu trên chỉ tiếp cận ở khía cạnh chủ yếu như: tìm hiểu về chăm sóc sức khỏe hoặc phân tích thực trạng cũng như các đặc điểm, lao động và sắp xếp công việc trong gia đình của NCT hay đánh giá hiệu quả của chính sách xã hội… Cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về CTXH đối với NCT tại Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam Vì thế, đề tài

“CTXH đối với NCT từ thực tiễn Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam” sử dụng phương pháp “CTXH cá nhân đối với NCT” là đề tài khá mới mẻ và sẽ bổ sung

thêm vào những nghiên cứu về NCT

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn (thông qua thực tiễn tại Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam) CTXH cá nhân đối với NCT

Trang 9

`

Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả CTXH đối với NCT từ thực tiễn Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nói trên, đề tài cần giải quyết các nhiệm vụ sau đây: Nghiên cứu cơ sở lý luận về CTXH đối với NCT, về CTXH cá nhân đối với NCT

Phân tích, đánh giá thực trạng sống, nhu cầu của NCT tại Trung tâm CTXH Tỉnh Hà Nam Tiến trình CTXH cá nhân đối với NCT Kỹ năng trong quá trình CTXH cá nhân để hỗ trợ, giúp đỡ NCT

Thực hiện tiến trình CTXH cá nhân với NCT và xây dựng quy trình cho nhân viên xã hội trong việc thực hiện hoạt động CTXH cá nhân đối với NCT

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động CTXH cá nhân đối với NCT tại Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi thời gian: Từ tháng 5 năm 2016 đến 31 tháng 12 năm 2016

- Phạm vi không gian: Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam

- Giới hạn nội dung nghiên cứu: CTXH cá nhân đối với NCT

4.3 Khách thể nghiên cứu

- NCT; người thân thân của NCT

- Lãnh đạo Trung tâm; nhân viên y tế, nhân viên tư vấn

- Những người bạn của NCT

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: Từ những đánh giá thực trạng,

nhu cầu của NCT, các hoạt động CTXH của cán bộ, nhân viên Trung tâm đối với

Trang 10

`

người cao tuổi sống ở Trung tâm CTXH từ đó rút ra những lý luận và đưa ra được những đề xuất về biện pháp nâng cao hiệu quả CTXH cá nhân đối với NCT trên địa bàn tỉnh Hà Nam

Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: Nghiên cứu hệ thống những lý

thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quan như CTXH

cá nhân đối với NCT, các chế độ, chính sách đối với NCT ở Trung tâm

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Nhân viên xã hội tiến hành thu thập các tài liệu, văn bản cần thiết với hoạt động trợ giúp NCT để phân chia, chia nhỏ những số liệu, dữ liệu thành từng cụm, từng lĩnh vực, từng chi tiết cụ thể để tìm ra những ý nghĩa của số liệu đó phục vụ cho mục đích tổng hợp thông tin và đáp ứng cho mục tiêu nghiên cứu đề tài một cách

tốt nhất

5.2.2 Phương pháp quan sát

Quan sát là phương pháp tri giác có mục đích, có kế hoạch nhằm thu thập những số liệu, sự kiện cụ thể, đặc trưng của NCT Phương pháp này được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu, được thực hiện trong nhiều giai đoạn như: từ giai đoạn khảo sát trung tâm, giai đoạn tiến hành can thiệp với TC và những hoạt động khác đến giai đoạn kết thúc quá trình can thiệp

5.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu (định tính)

Phỏng vấn sâu là phương pháp được sử dụng để tìm hiểu những thông tin cần thiết một cách chi tiết nhất từ NCT Thông qua những câu hỏi và trả lời trực tiếp giữa NVXH với NCT, lãnh đạo, nhân viên Trung tâm và người thân của NCT (PVS: 06 người)

Mục đích của phương pháp này là tìm hiểu sâu hơn, rõ hơn những về vấn đề của NCT cần can thiệp Trong quá trình phỏng vấn, NVXH sử dụng những kỹ năng chuyên sâu như: kỹ năng lắng nghe tích cực, kỹ năng nhận xét, đánh giá, kỹ năng diễn giải vấn đề, kỹ năng quan sát, kỹ năng thấu hiểu… đối với TC và đối tượng được phỏng vấn

Trang 11

Với mục đích tìm hiểu thực tế để nâng cao hiệu quả trong quá trình học tập

và nghiên cứu của học viên, đề tài này thuộc nhóm đề tài nghiên cứu ứng dụng lý thuyết, phương pháp CTXH vào việc giải quyết một vấn đề xã hội cụ thể Cụ thể là việc sử dụng hệ thống khái niệm, lý thuyết, phương pháp CTXH vào việc đánh giá, phân tích và đưa ra phương pháp hỗ trợ thích hợp Những kết quả thu được từ thực tế

sẽ đóng góp thêm vào nguồn tham khảo cho việc phân tích và nghiên cứu lý luận của CTXH cá nhân đối với NCT

Kết quả nghiên cứu thực trạng CTXH cá nhân với NCT tại Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam cũng chứng tỏ phương pháp CTXH cá nhân trong việc trợ giúp NCT giải quyết được vấn đề của bản thân là phương pháp tối ưu và có thể nhân rộng phương pháp này với đối tượng NCT trên địa bàn tỉnh Hà Nam Bản thân sau khi nghiên cứu đề tài sẽ củng cố, mở rộng kiến thức về CTXH nói chung và CTXH đối

Trang 12

`

với NCT nói riêng, từ đó rút ngắn khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu, các phụ lục, luận văn có 3 chương sau đây:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về CTXH cá nhân đối với NCT

Chương 2: Thực trạng NCT và tiến trình CTXH cá nhân đối với NCT tại Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả CTXH đối với NCT từ thực tiễn tại Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam

Trang 13

`

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN

ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI 1.1 Các khái niệm công cụ

1.1.1 Khái niệm người cao tuổi

“Có rất nhiều khái niệm khác nhau về NCT Trước đây, người ta thường dùng thuật ngữ người già để chỉ những người có tuổi, hiện nay NCT ngày càng được sử dụng nhiều hơn Hai thuật ngữ này tuy không khác nhau về mặt khoa học song về tâm lý, NCT là thuật ngữ mang tính tích cực và thể hiện thái độ tôn trọng

Theo quan điểm y học: NCT là người ở giai đoạn già hóa gắn liền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể

Về mặt pháp lý, Luật NCT Việt Nam năm 2009 quy định: NCT là là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên

Theo WHO: NCT phải từ 70 tuổi trở lên

Một số nước phát triển như Đức, Hoa Kỳ… lại quy định NCT là những người từ 65 tuổi trở lên Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do sự khác nhau về lứa tuổi có các biểu hiện về già của người dân ở các nước đó khác nhau Những nước có hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân cũng được nâng cao Do đó, các biểu hiện của tuổi già thường đến muộn hơn Vì vậy, quy định về tuổi của các nước đó cũng khác nhau

Theo quan điểm của CTXH: Với đặc thù là một nghề trợ giúp xã hội, CTXH nhìn nhận về NCT như sau: NCT với những thay đổi về tâm sinh lý, lao động - thu nhập, quan hệ xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn, vấn đề trong cuộc sống Do đó, NCT là một đối tượng yếu thế, đối tượng cần sự trợ giúp của công tác xã hội” [7]

1.1.2 Khái niệm công tác xã hội

Theo Hiệp hội CTXH thế giới: ‘‘CTXH là sự thúc đẩy thay đổi trong xã hội,

thúc đẩy việc giải quyết các vấn đề trong quan hệ giữa con người, trao quyền và giải phóng con người đem lại sự bình yên cho xã hội và hạnh phúc cho mọi người Vận dụng lý thuyết về hành vi của con người và các hệ thống xã hội, CTXH can

Trang 14

`

thiệp vào các mặt, ở đó con người tác động với môi trường sống của họ Nguyên tắc

về quyền của con người và công bằng xã hội là cốt lõi của CTXH” [30]

Theo Nguyễn Thị Oanh trong cuốn “Công tác xã hội”, định nghĩa đơn giản

và dễ nhớ nhất là “CTXH nhằm giúp cá nhân và cộng đồng tự giúp” [21, Tr 6]

Theo Bùi Thị Xuân Mai trong cuốn giáo trình “Nhập môn CTXH”, định nghĩa: “CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá

nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội” [17, Tr 16]

1.1.3 Khái niệm công tác xã hội cá nhân

Theo Bùi Thị Xuân Mai, nhập môn CTXH thì CTXH cá nhân được định

nghĩa là “Hệ thống giá trị và phương pháp được các NVXH chuyên nghiệp sử dụng,

trong đó các khái niệm về tâm lý xã hội, hành vi và hệ thống được chuyển thành các

kỹ năng giúp đỡ cá nhân và gia đình giải quyết những vấn đề về nội tâm lý, quan hệ giữa các cá nhân, giữa cá nhân, kinh tế xã hội và môi trường thông qua các mối quan hệ một - một” [18, Tr 32]

Theo Lê Văn Phú, trong cuốn giáo trình CTXH định nghĩa “CTXH cá nhân

là phương pháp can thiệp để giúp một cá nhân thoát khỏi những khó khăn trong đời sống vật chất và tinh thần; chữa trị, phục hồi sự vận hành các chức năng xã hội của họ; giúp họ tự nhận thức và giải quyết các vấn đề xã hội bằng khả năng của chính mình” [22, Tr 121]

Theo Nguyễn Thị Vân, trong cuốn giáo trình CTXH với NCT định nghĩa

“CTXH cá nhân với NCT là phương pháp của CTXH nhằm giúp đỡ, hỗ trợ NCT

vượt qua khó khăn, giúp họ đánh giá, xác định vấn đề, tìm kiếm tiềm năng, điểm mạnh từ đó nâng cao năng lực tự giải quyết vấn đề Quá trình giúp đỡ là quá trình khoa học và chuyên nghiệp, trong đó NVXH vận dụng nền tảng kiến thức khoa học tâm lý xã hội, xã hội học, các khoa học xã hội liên quan khác và các kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp sát cánh cùng NCT hỗ trợ họ tự giải quyết vấn đề của mình và

Trang 15

`

hướng đến vượt qua những vấn đề khác có thể xẩy ra trong tương lai” [32, Tr8]

Như vậy, căn cứ vào các khái niệm CTXH cá nhân chúng ta có thể định nghĩa CTXH cá nhân với NCT như sau: CTXH cá nhân với NCT là quá trình NVXH sử dụng các kiến thức, kỹ năng chuyên môn để giúp đỡ, hỗ trợ NCT vượt qua khó khăn, giúp họ đánh giá, xác định vấn đề, tìm kiến tiềm năng, điểm mạnh từ

đó nâng cao năng lực tự giải quyết vấn đề

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

1.2.1 Lý thuyết hệ thống sinh thái

Trong tiến trình thực hành CTXH nói chung và CTXH cá nhân nói riêng, NVXH khi giúp đỡ thân chủ của mình cần áp dụng rất nhiều kĩ năng và kiến thức như: thuyết hành vi, lí thuyết phân tâm học, thuyết nhân văn, hiện sinh…và nhiều lí thuyết khác để giải thích hành vi của thân chủ từ đó đưa ra được tiến trình giúp đỡ phù hợp mang lại hiệu quả cao Thuyết Hệ thống là một trong những lí thuyết quan trọng được vận dụng trong CTXH, khi thực hiện một tiến trình giúp đỡ cá nhân không thể thiếu được lí thuyết Hệ thống bởi NVXH cần chỉ ra thân chủ của mình đang thiếu và cần đến những hệ thống trợ giúp nào và tìm cách giúp đỡ để họ có thể tiếp cận và tham gia các hệ thống Có làm được như vậy thì NVXH mới thực sự hoàn thành tiến trình giúp đỡ cá nhân Chỉ khi nào thân chủ được sự giúp đỡ và tham gia các hệ thống họ mới thực sự trở lại là chính họ

Các quan điểm về hệ thống trong CTXH bắt nguồn từ lý thuyết hệ thống tổng quát của Bertanlaffy (nhà sinh học người Áo, 1901 – 1972) Thuyết này dựa trên quan điểm của lý thuyết sinh học cho rằng mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống, được tạo nên từ các tiểu hệ thống và đồng thời bản thân các tiểu hệ thống cũng là mộ phần của hệ thống lớn hơn

Đại diện của thuyết hệ thống sinh thái là Hanson (1995), Mancoske (1981), Siporin (1980) Nội dung của thuyết nhấn mạnh đến sự tương tác giữa con người với môi trường sinh thái của mình Do vậy, nguyên tắc chủ đạo của lý thuyết này là cuộc sống bình thường của con người phụ thuộc vào môi trường xã hội hiện tại của

họ Như vậy có thể nói, cốt lõi của cách tiếp cận này là:

Trang 16

`

- Con người sống trong môi trường

- Con người chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố

- Con người ảnh hưởng ngược lại với môi trường

Thuyết nhấn mạnh sự can thiệp bất cứ thời điểm nào trong hệ thống cũng ảnh hưởng hoặc tạo ra sự thay đổi trong toàn hệ thống Thuyết hệ thống sinh thái vận dụng sức mạnh của các lý thuyết khác trong việc mô tả hành vi phức tạp của con người Nó chỉ ra hành vi của cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và những mối quan hệ kết nối của họ tạo ra bối cảnh lý tưởng để giúp đỡ cho vấn đề thực hành Lý thuyết tập trung làm sáng tỏ sự hòa hợp giữa con người và môi trường của họ như thế nào để từ đó tìm cách giải quyết vấn đề của thân chủ Như vậy vận dụng lý thuyết này vào nghiên cứu trong đề tài này sẽ giúp tác giả thấy được trong môi trường sống tập trung tại cơ sở bảo trợ xã hội có những yếu tố nào tác động đến NCT và người lại, từ đó giúp NVXH có những biện pháp, giải pháp can thiệp trợ, giúp kịp thời phù hợp nhất để giúp đỡ NCT giải quyết được vấn đề

1.2.2 Thuyết nhu cầu

Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1970) được xem như một trong những người tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn Năm 1943, ông đã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau Đó là lý thuyết về Thang bậc nhu cầu của con người Trong lý thuyết này, ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước

Tổng quan về lý thuyết Thang bậc nhu cầu, Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc:

Nhu cầu cơ bản: Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu của cơ thể hoặc nhu

cầu sinh lý, bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái,…đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người Trong hình kim tự tháp, chúng ta thấy những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp nhất: bậc cơ bản nhất

Trang 17

`

Nhu cầu về an toàn, an ninh: Nhu cầu an toàn và an ninh này thể hiện trong

cả thể chất lẫn tinh thần Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gặp thú dữ Nhu cầu này cũng thường được khẳng định thông qua các mong muốn về sự

ổn định trong cuộc sống, được sống trong các khu phố an ninh, sống trong xã hội có pháp luật, có nhà cửa để ở, được chăm sóc khi ốm đau, bệnh tật … Các chế độ bảo hiểm xã hội, các chế độ khi về hưu, các kế hoạch để dành tiết kiệm … cũng chính là thể hiện sự đáp ứng nhu cầu an toàn này

Nhu cầu về xã hội: Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong muốn thuộc

về một bộ phận, một tổ chức nào đó hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc tìm kiếm, kết bạn, tìm người yêu, lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào đó, đi làm việc, đi chơi picnic, tham gia các câu lạc bộ, làm việc nhóm, …

Nhu cầu về được quý trọng: Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu tự trọng

vì nó thể hiện 2 cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân và nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của bản thân Chúng ta thường thấy trong công việc hoặc cuộc sống, khi một người được khích lệ, tưởng thưởng về thành quả lao động của mình, họ sẵn sàng làm việc hăng say hơn, hiệu quả hơn

Trang 18

`

Biểu 1.1: Mô hình bậc thang nhu cầu của Abraham Maslow

Nhu cầu được thể hiện mình: Đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khả

năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để làm việc, đạt các thành quả trong xã hội

Thông qua lý thuyết về Thang bậc nhu cầu được đề xướng bởi nhà tâm lý học Abraham Maslow, chúng ta có thể thấy nhu cầu của con người là chính đáng, cần được tôn trọng và đáp ứng đầy đủ Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam là đơn vị sự nghiệp công lập, NCT được đưa vào nuôi dưỡng, chăm sóc ở đây đều có hoàn cảnh đặc biệt Việc sử dụng lý thuyết này để nghiên cứu, tìm hiểu đánh giá xem trong 5 bậc thang nhu cầu đó, đơn vị đã đáp ứng được những nhu cầu nào và những nhu cầu nào chưa đáp ứng được, để từ đó đưa ra những giải pháp, đề xuất với đơn vị nhằm giúp cho công tác quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng NCT ở Trung tâm được thực hiện tốt nhất đó là mục đích mà đề tài hướng đến

Nhu cầu được quý trọng

Nhu cầu về xã hội

Nhu cầu về an toàn, an ninh

Nhu cầu được thể hiện mình

Nhu cầu cơ bản: về thể chất, sinh lý…

Trang 19

`

1.3 Thể chế về công tác xã hôi đối với người cao tuổi

1.3.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, đối với NCT - một bộ phận trong lực lượng cách mạng dân tộc, người đã dành tình cảm và sự quan tâm đặc biệt Kế thừa truyền thống “Trọng lão”, “Trọng xỉ” của dân tộc, Hồ Chí Minh luôn xác định rõ vị trí, vai trò của NCT và tầm quan trọng của việc vận động NCT tham gia vào sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng đất nước Theo Người, tuổi già, thực tế là “tuổi càng cao chí khí càng cao”, NCT vẫn là lớp người mang ý nghĩa “đức cao vọng trọng” trong xã hội Biết ơn NCT, đó vừa là tình người và vừa là đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc

Sau khi Hội NCT Việt Nam được thành lập (10/5/1995), Ban Bí thư TW đã ban hành chỉ thị 59/CT-TW “Về chăm sóc NCT”, quy định: “Việc chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của NCT là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội Hội NCT Việt Nam mới được thành lập, cần được nhanh chóng ổn định về tổ chức và mở rộng hoạt động ở cơ sở Đảng đoàn, Mặt trận tổ quốc, các ban của Đảng, các đoàn thể nhân dân cần giúp đỡ Hội hoạt động có hiệu quả thiết thực, phối hợp với Hội trong việc vận động gia đình và xã hội chăm sóc, bồi dưỡng, phát huy NCT phục vụ công cuộc đổi mới Đảng đoàn Quốc hội, Đảng đoàn Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các Ban của Đảng, các ban cán sự đảng Chính phủ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Tư pháp phối hợp với Hội nghiên cứu, xem xét các chính sách pháp luật hiện hành, đề xuất những văn bản pháp quy của Nhà nước nhằm bảo vệ, chăm sóc và phát huy NCT [1]

Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng đã nêu: “Đối với các lão

thành cách mạng, những người có công với nước, các cán bộ nghỉ hưu, những NCT thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc sức khoẻ, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất trong điều kiện mới; đáp ứng nhu cầu thông tin, phát huy khả năng tham gia đời sống chính trị của đất nước và các hoạt động xã hội" Báo

cáo chính trị tại Đại hội X của Đảng cũng ghi rõ: “Vận động toàn dân tham gia hoạt

Trang 20

`

động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với lão thành cách mạng, những người có công với nước Chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người già,

nhất là những người già cô đơn, không nơi nương tựa…” Báo cáo chính trị tại Đại

hội XI của Đảng tiếp tục xác định “ Sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, vượt qua khó khăn hoặc các rủi ro trong đời sống”

Như vậy, từ Chỉ thị 59/CT-TW, các văn kiện Đại hội Đảng và Thông báo số

12-TB/TW ngày 13/6/2001 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đều khẳng định:

“NCT là nền tảng của gia đình, là tài sản vô giá, nguồn lực quan trọng cho sự phát

triển xã hội Vì thế, chăm sóc và phát huy tốt vai trò NCT là thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta và đạo đức người Việt Nam, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn

minh”

1.3.2 Văn bản pháp luật của Nhà nước

Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 ghi rõ: “Những công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ” Hiếp pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 cũng viết “Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ”

Luật bảo vệ và Chăm sóc sức khỏe nhân dân năm 1989 quy định: “NCT được ưu tiên trong khám bệnh, chữa bệnh, được tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp cho xã hội phù hợp với sức khỏe của mình”, “Bộ Y tế, Tổng cục Thể dục thể thao, hướng dẫn phương pháp rèn luyện thân thể, nghỉ ngơi và giải trí để phòng, chống bệnh tuổi già”

Luật NCT được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 23 tháng 11 năm 2009 đã thể hiện sâu sắc sự quan tâm của Đảng, nhà nước và xã hội đối với NCT Theo quy định của Luật này và các

Trang 21

`

văn bản hướng dẫn thì NCT được hưởng nhiều hỗ trợ ưu tiên, thể hiện qua các chính sách cụ thể như:

- Về chính sách bảo trợ xã hội: NCT thuộc hộ gia đình nghèo không có

người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng những người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hằng tháng; người

từ đủ 80 tuổi mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng trợ cấp xã hội hằng tháng thì được hưởng bảo hiểm y tế, được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng

và hỗ trợ chi phí mai táng khi chết NCT thuộc hộ gia đình nghèo không có người

có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, có nguyện vọng và được tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội

- Về chúc thọ, mừng thọ: Người thọ 100 tuổi được Chủ tịch nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam chúc thọ và tặng quà; người thọ 90 tuổi được Chủ tịch

Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chúc thọ và tặng quà; Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn phối hợp với Hội NCT tại địa phương, gia đình của NCT tổ chức mừng thọ NCT ở tuổi 70, 75, 80, 85, 90, 95 và 100 tuổi trở lên

Luật lao động sửa đổi năm 2012 quy định tại Mục 2 Điều 166: “Người lao động cao tuổi được rút ngắn thời giờ làm việc hằng ngày hoặc được áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian” và tại Mục 2 Điều 167: “Không được sử dụng người lao động cao tuổi làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm có ảnh hưởng xấu tới sức khỏe người lao động cao tuổi, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ” và trong điều này có ghi “Người sử dụng lao động có trách nhiệm quan tâm chăm sóc sức khỏe của người lao động cao tuổi tại nơi làm việc”

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 2 Điều 104 quy định: “Cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà nội, ông bà ngoại; trường hợp ông bà nội, ông bà ngoại không có con để nuôi dưỡng mình thì cháu đã thành niên

có nghĩa vụ nuôi dưỡng”…

Quyết định số 141/2004/QĐ-TTg ngày 05/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ

Về việc thành lập Ủy ban Quốc gia về NCT Việt Nam

Trang 22

- Người từ đủ 80 tuổi trở lên không thuộc gia đình hộ nghèo mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng trợ cấp xã hội hằng tháng thì được hưởng mức trợ cấp là: 270.000đ/tháng

Như vậy trải qua hơn nửa thế kỷ xây dựng và bảo vệ đất nước Nhà nước ta

đã có hàng loạt chính sách nhằm huy động nguồn lực vật chất và tinh thần to lớn của toàn dân trong sự nghiệp chăm sóc và giúp đỡ NCT Cùng với quá trình phát triển của đất nước những chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước ngày càng hoàn thiện, hoạt động CTXH từng bước đi vào chuyên nghiệp đã tạo nên một môi trường pháp lý hành chính bắt đầu cho sự nghiệp chăm sóc NCT

1.4 Vai trò của nhân viên xã hội đối với người cao tuổi: Người kết nối nguồn lực

Với những thay đổi trong tâm sinh lý, trong lao động – thu nhập và cả trong những mối quan hệ, NCT bị hạn chế và mất thăng bằng trong việc thực hiện một số chức năng xã hội của mình NCT trở thành một đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương

và cần sự hỗ trợ của CTXH

Với đặc thù là nghề trợ giúp xã hội, CTXH hướng trọng tâm nghề nghiệp đến việc giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng đồng phục hồi, phát triển các chức năng và đạt được những giá trị phù hợp trong xã hội Các chức năng của CTXH được thực hiện thông qua việc thực hiện các vai trò của NVXH trong tiến trình làm việc với các thân chủ

Mỗi đối tượng khác nhau lại có những vấn đề cụ thể khác nhau Vì thế vai

Trang 23

`

trò của NVXH trong tiến trình trợ giúp mỗi đối tượng cụ thể cũng có sự khác nhau Trong CTXH với NCT, NVXH cần thực hiện tốt các vai trò sau:

1.4.1 Người tạo khả năng

Nghề nghiệp của CTXH hướng đến việc trợ giúp các đối tượng khai thác những tiềm năng của bản thân để tự lực vươn lên, giải quyết các vấn đề cụ thể của bản thân NVXH không làm hộ, làm thay thân chủ mà chỉ giúp thân chủ nhận thức được những khả năng của mình, phát huy những khả năng đó để giải quyết vấn đề của mình Đối với NCT, NVXH cần giúp họ nhận thấy các khả năng của mình: Chuyên môn, kinh nghiệm sống, sức khỏe, tay nghề… Cần động viên, cổ vũ để NCT tin tưởng vào bản thân mình, tin tưởng rằng mình vẫn còn hữu ích với gia đình, xã hội từ đó thúc đẩy NCT hoạt động để tiếp tục đóng góp cho gia đình, xã hội Qua những hoạt động đó, NCT không những giải quyết được các vấn đề của bản thân mà còn có thể góp sức vào sự phát triển của gia đình, xã hội NCT có quá trình lao động lâu dài vì thế kinh nghiệm thực tế của họ là rất phong phú và rất có giá trị Sau khi về hưu, không được tiếp tục cống hiến, họ trở nên chán nản và coi mình là người bỏ đi từ đó gây ra nhiều vấn đề nhất là các vấn đề tâm lý cho bản thân Đồng thời, việc không nhận thức và khai thác những kiến thức và kinh nghiệm của NCT là sự lãng phí rất lớn của xã hội Do đó, NVXH cần giúp NCT nhận thức được giá trị của mình để họ tiếp tục lao động với cách thức phù hợp Thông qua lao động, các vấn đề của NCT: Tâm sinh lý, thu nhập, quan hệ… sẽ được giải quyết Thêm vào đó, khi huy động được NCT vào đội ngũ lao động, xã hội sẽ có thêm nguồn kinh nghiệm và trí thức quý giá để phát triển nhanh hơn và bền vững hơn [7]

1.4.2 Người điều phối - kết nối dịch vụ

NVXH thông qua đánh giá, chẩn đoán các vấn đề và nguồn lực của NCT để điều phối, cung cấp các dịch vụ phù hợp Với những NCT bị hạn chế khả năng phục

vụ bản thân trong sinh hoạt hàng ngày, NVXH có thể giới thiệu và cung cấp cho NCT những dịch vụ hỗ trợ tại nhà như người giúp việc, người chăm sóc y tế Với những NCT neo đơn, không nơi nương tựa, NVXH có thể giới thiệu, làm thủ tục để NCT vào sinh sống trong các trung tâm bảo trợ phù hợp NVXH cần giới thiệu cho

Trang 24

`

NCT các câu lạc bộ phù hợp để NCT sinh hoạt Việc sinh hoạt ở các câu lạc bộ NCT: Câu lạc bộ văn thơ, cựu chiến binh, dưỡng sinh… sẽ giúp NCT đáp ứng các nhu cầu về quan hệ xã hội cho NCT [7]

1.4.3 Người giáo dục

NCT phải đối mặt với rất nhiều những thay đổi về tâm sinh lý cũng như các chức năng xã hội Do đó, để thích ứng với cuộc sống, NCT cần phải có thêm nhiều kiến thức, kỹ năng về chế độ dinh dưỡng, chăm sóc bản thân, các kỹ năng xã hội… NVXH hỗ trợ NCT những kiến thức và kỹ năng đó thông qua vai trò là người giáo dục Hình thức giáo dục có thể qua việc cung cấp tài liệu, các lớp tập huấn, hoặc được lồng ghép trong tiến trình trợ giúp Thông qua giáo dục, NVXH sẽ giúp NCT

có thêm những kiến thức, kỹ năng để phòng ngừa, chữa trị, phục hồi hay cũng như phát triển các chức năng xã hội phù hợp Việc cung cấp cho NCT những kiến thức,

kỹ năng chăm sóc bản thân như chế độ dinh dưỡng, các hoạt động thể chất, các cách thức phòng bệnh, chữa bệnh… khoa học và phù hợp sẽ giúp NCT có cuộc sống mạnh khỏe và an toàn hơn Không chỉ quan tâm đến cá nhân NCT, CTXH còn hướng đến giáo dục, tham vấn cho gia đình NCT NVXH cung cấp thông tin, hướng dẫn cụ thể, tham vấn cho gia đình NCT những cách thức chăm sóc, ứng xử với NCT… Cung cấp những kiến thức, hiểu biết về đặc điểm tâm sinh lý, xã hội, những nhu cầu… của NCT để gia đình chăm sóc, hỗ trợ NCT tốt hơn [7]

1.4.4 Người biện hộ

Khi làm việc với NCT, NVXH cần đánh giá, phân tích những nhu cầu, mong muốn cũng như những nguồn lực của NCT NVXH phải bảo vệ những nhu cầu chính đáng của NCT Do những thay đổi và sự không ổn định về tâm sinh lý, một

số NCT có thể có những hành động, hành vi khác thường NVXH cần tìm hiểu nguyên nhân của các hành vi đó và lý giải để mọi người xung quanh nhất là gia đình hiểu và thông cảm cho họ Trong xã hội Việt Nam, do đặc thù của văn hóa, nhu cầu tình dục của NCT chưa được chú ý đúng mức, thậm chí là một hành vi bị lên án Những NCT kết hôn luôn chịu sự bàn tán, đánh giá của gia đình, của những người xung quanh Đây là một nhạy cảm văn hóa mà NVXH cần hết sức chú ý Cần làm

Trang 25

`

cho bản thân NCT cũng như gia đình và những người xung quanh hiểu và tôn trọng nhu cầu đó của NCT bởi tình dục cũng như ăn, uống, hít thở… là những nhu cầu cơ bản nhất của con người NCT suy giảm nhu cầu tình dục chứ không phải là hoàn toàn không có nhu cầu đó [7]

1.4.5 Người tạo môi trường thuận lợi

Mỗi cá nhân là một hệ thống chịu ảnh hưởng và sự tác động từ những hệ thống xung quanh CTXH chú ý đến mối quan hệ giữa con người với các hệ thống xung quanh Tạo môi trường thuận lợi trong CTXH được thực hiện qua việc cải thiện và nâng cao chất lượng trong mối quan hệ giữa con người và hệ thống xung quanh NCT cũng tương tác và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ gia đình, các tổ chức xã hội Vì thế, trong tiến trình CTXH với NCT cần chú ý đến các hệ thống xung quanh NCT: Gia đình, hội hưu trí, các câu lạc bộ NCT… NVXH cần tác động và làm thay đổi các hệ thống đó để tạo ra môi trường thuận lợi nhất phục vụ NCT giải quyết các vấn đề của bản thân cũng như những hoạt động phù hợp với nhu cầu của bản thân

và sự mong đợi của xã hội

Gia đình là một thiết chế quan trọng đối với mọi cá nhân trong đó có NCT Ngày nay, do ảnh hưởng của sự thay đổi điều kiện kinh tế – xã hội, gia đình cũng có

sự biến đổi về nhiều mặt như cấu trúc, quy mô, văn hóa… và sự thay đổi đó có ảnh hưởng sâu sắc đến NCT Nhịp sống công nghiệp làm cho con người ít quan tâm đến nhau, sự thiếu quan tâm của con cháu, sự mâu thuẫn và xung đột về tư tưởng giữa các thế hệ… làm cho NCT cảm thấy bị cô lập, cảm giác không được quan tâm Đó

là nguyên nhân nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực ở NCT Chính vì thế, trong tiến trình CTXH với NCT, NVXH cần quan tâm đến việc huy động các nguồn lực hỗ trợ từ gia đình thông qua cải thiện các mối quan hệ, thúc đẩy sự quan tâm của các cá nhân trong gia đình NCT… để NCT có thêm các nguồn lực hỗ trợ, có thêm các điều kiện thuận lợi để tự lực vươn lên, giải quyết triệt để các vấn đề của cá nhân và đạt được những giá trị xã hội như mong đợi của họ [7]

1.4.6 Người đánh giá và giám sát

NVXH là người trực tiếp đánh giá, chẩn đoán những vấn đề của NCT trong

Trang 26

`

cuộc sống hàng ngày Những vấn đề của NCT rất đa dạng: Có thể về sinh lý, tâm lý, lao động – thu nhập hay các vấn đề về quan hệ xã hội Bước sang giai đoạn cuối của cuộc đời, do sự suy giảm hoạt động và sự già hóa của các cơ quan, hệ thống sinh học mà người già phải đối mặt với nhiều bệnh tật: Tai biến mạch máu não do huyết

áp cao, bệnh về tim mạch, hô hấp… tâm lý của NCT cũng có nhiều nét đặc biệt nhất

là trong việc suy nghĩ và đối phó với cái chết Nhiều người luôn suy nghĩ về cái chết

và muốn chuẩn bị hậu sự cho mình, một số khác lại sợ hãi và tránh nói về cái chết Cái chết của những bạn bè, những người thân thiết của NCT gây ra rất nhiều vấn đề tâm lý Nếu người chết là bạn bè, sẽ hình thành nên sự trầm cảm, lo lắng mình sẽ là người tiếp theo; nếu người chết là người bạn đời sẽ gây cho NCT cảm giác chán nản thậm chí không muốn sống, muốn “chết theo” bạn đời của mình…Do đó, NVXH phải có vai trò chẩn đoán, đánh giá về các vấn đề, về các yếu tố nguy cơ đòi hỏi sự can thiệp: Tự vẫn, cô lập bản thân, thiếu môi trường an toàn, thiếu sự trợ giúp…

Trong tiến trình trợ giúp NCT, NVXH thực hiện việc đánh giá và giám sát các hoạt động của người cao quả, kết quả của tiến trình Sự đánh giá và giám sát của NVXH một cách thường xuyên, liên tục sẽ góp phần vào việc phát hiện sớm, nâng cao hiệu quả can thiệp… trong CTXH với NCT Trong tiến trình CTXH với NCT, tùy vào điều kiện thực tế cũng như những vấn đề cụ thể ở NCT mà các vai trò của NVXH thực hiện có sự khác biệt NVXH thông qua việc thực hiện các vai trò cụ thể của mình để hướng đến mục tiêu phòng ngừa, chữa trị, phục hồi và phát triển cho

NCT [7]

1.5 Các dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi

Dịch vụ CTXH với NCT là những hoạt động do các cơ sở có chức năng cung cấp dịch vụ CTXH, các NVXH thực hiện nhằm hỗ trợ NCT nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu tăng cường các chức năng xã hội để khắc phục các khó khăn nảy sinh

do quá trình thay đổi tâm lý, lao động, thu nhập và quan hệ xã hội, hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng sống của NCT

Cùng với chủ trương xã hội hóa công tác chăm sóc NCT, Đảng và Nhà nước

đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, kiện toàn hệ thống văn bản pháp quy để

Trang 27

`

tạo ra môi trường pháp lý hoàn chỉnh, khuyến khích phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập liên quan đến công tác chăm sóc NCT Với môi trường chính sách thuận lợi, các mô hình và hoạt động dịch vụ chăm sóc NCT đã phát triển khá nhanh ở Việt Nam trong những năm gần đây, hiện nay ngoài các Trung tâm Bảo trợ xã hội do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý còn xuất hiện nhiều loại hình dịch vụ chăm sóc NCT Nhiều cơ sở hoạt động đã có kết quả ban đầu, đáp ứng được phần nào nhu cầu của một số gia đình về chăm sóc NCT như:

mô hình tư nhân, các mô hình phối hợp giữa cá nhân, tổ chức, các nhóm xã hội hướng đến hoạt động chăm sóc NCT Các mô hình chính ở Việt Nam bao gồm:

- Các tổ chức thuộc cơ quan Nhà nước quản lý: Trung tâm Bảo trợ xã hội, các trung tâm/khu dưỡng lão dành cho người có công với cách mạng, gia đình thuộc diện chính sách

- Các tổ chức ngoài công lập: Các trung tâm/khu dịch vụ chăm sóc NCT do các Hội/Đoàn thể có sự tham gia quản lý của nhà nước, kể cả loại hình câu lạc bộ NCT…

- Các tổ chức từ thiện xã hội (nhà chùa, nhà thờ…) các cá nhân thành tự thành lập dưới hình thức dịch vụ chăm sóc tập trung NCT hoặc thực hiện dịch vụ chăm sóc tại gia đình…

- Ngoài ra còn tồn tại các dạng hoạt động tự do, không ai quản lý như “Dịch vụ” chăm sóc người già tại nhà theo thỏa thuận, dịch vụ chăm sóc tại bệnh viện…

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi

Yếu tố thuộc về bản thân đối tượng: NCT do tuổi cao và quá trình lão hóa,

cơ thể bắt đầu có những thay đổi theo chiều hướng đi xuống khi tuổi càng cao thì khả năng nhanh nhạy, tự điều chỉnh kém và thích nghi cũng giảm dần, sức khỏe về thể chất và tinh thần giảm sút Nhận thức của NCT có suy giảm ví dụ như trí nhớ thay đổi rõ rệt, trí nhớ ngắn hạn giảm sút, họ sống nặng về nội tâm; tư duy kém năng động và linh hoạt; NCT thường khó chấp nhận cái mới và không thích phải

Trang 28

`

thay đổi thói quen Bên cạnh đó NCT cũng có giảm sút về chức năng hoạt động của một số cơ quan trong cơ thể, do tuổi già dẫn đến sức khỏe yếu, nhiều bệnh tật, họ thường mắc nhiều bệnh mãn tính như: Hô hấp, tim mạch, xương khớp, huyết áp, tiểu đường Về tình cảm, NCT có phản ứng cảm xúc nhạy bén, vui buồn dễ dàng, NCT cũng thường có tâm lý tiêu cực như tự ti, có cảm giác mất mát, cô độc và suy giảm khả năng giao tiếp, một bộ phận NCT trải qua giai đoạn "mất trí nhớ tạm thời trong ngắn hạn, giảm tốcđộtronghọc tập, phản ứng chậm chạpvà sự đãng trí ở mức

độ nhẹ” Quan hệ xã hội ở NCT đã được thu hẹp lại, họ mãn nguyện trong sự hoà thuận, xum vầy với con cháu, hoặc tự ái, sống cô đơn trong sự bất lực, giận dỗi với người thân Với những đặc điểm này của NCT đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, hiệu quả của CTXH cá nhân đối với NCT

Yếu tố thuộc về đội ngũ NVXH: Hiện nay nghề CTXH ở nước ta đang từng

bước phát triển, đi vào chuyên nghiệp hóa, hệ thống NVXH ở các cơ sở cung cấp dịch vụ xã hội từng bước được bổ sung, kiện toàn cả về chất lượng và số lượng NVXH có vai trò quan trọng, quyết định chất lượng, hiệu quả của CTXH cá nhân đối với NCT Nếu như đội ngũ NVXH được đào chuyên nghiệp có đầy đủ chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức, kỹ năng cả về lý thuyết và thực tiễn thì CTXH cá nhân đối với NCT sẽ trở nên chuyên nghiệp và hiệu quả cao Ngược lại nếu đội ngũ nhân viên không có trình độ chuyên môn và năng lực về CTXH thì việc triển khai CTXH

sẽ rời rạc, không đảm bảo tính chuyên nghiệp, hoạt động trợ giúp cho đối tượng không có hiệu quả

Yếu tố thuộc chính sách: Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta luôn

quan tâm tới việc phát triển nghề CTXH, hệ thống chính sách về an sinh xã hội nói chung cũng như những chính sách được cụ thể hoá đã tương đối đồng bộ và đầy đủ

Từ việc đảm bảo về đời sống đến các điều kiện chăm sóc sức khoẻ, giáo dục và các

hỗ trợ khác cho các đối tượng yếu thế trong xã hội trong đó có NCT Tuy nhiên do tính chất phức tạp và đa dạng về đối tượng, dẫn đến những quy định chính sách vẫn còn những hạn chế nhất định Hệ thống chính sách an sinh xã hội chưa phát triển toàn diện, độ bao phủ còn thấp điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện các chính sách đối với các nhóm đối tượng cần được trợ giúp trong CTXH đặc biệt

Trang 29

`

là NCT Cùng với đó, không chỉ các đối tượng yếu thế trong xã hội mới cần sự trợ giúp xã hội, mà chính những người làm nghề CTXH cũng cần được trợ giúp, họ cần được trợ giúp để nâng cao mức thu nhập để yên tâm làm việc, cống hiến; trợ giúp để nâng cao điều kiện làm việc và cơ sở vật chất cho các cơ sở CTXH để hệ thống này phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu

Yếu tố cơ sở vật chất, nguồn lực: Cơ sở vật chất đóng vai trò quan trọng tới

chất lượng, hiệu quả của CTXH đối với NCT CTXH cá nhân với NCT đạt được hiệu quả đến đâu phụ thuộc rất lớn vào việc quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực về cơ sở vật chất Các yếu tố về cơ sở vật chất bao gồm: Hệ thống nhà ở, vệ sinh; các trang thiết bị máy móc, dụng y tế phục vụ cho công tác khám, chữa bệnh; các trang cấp, đồ dùng phục vụ cho sinh hoạt; hệ thống khuân viên, cây xanh; khu vui chơi, giải trí…có ảnh hưởng không nhỏ đến việc tổ chức triển khai các hoạt động CTXH cá nhân với NCT

Nguồn lực là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động CTXH, để trợ giúp, giải quyết vấn đề cho đối tượng có hiệu quả thì việc kết nối nguồn lực là vô cùng cần thiết Huy động sự tham gia của cơ quan, tổ chức, cá nhân, gia đình vào hoạt động CTXH sẽ giúp cho đối tượng giải quyết vấn đề của bản thân được nhanh hơn, hiệu quả hơn Hiện nay nghề CTXH ở Việt Nam đang trên đà phát triển để trở lên chuyên nghiệp nên còn tồn tại nhiều hạn chế, vì vậy ảnh hưởng không nhỏ đến việc huy động, kết nối nguồn lực từ các tầng lớp nhân dân để trợ giúp cho NCT

Kết luận chương 1

Để phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài “CTXH đối với NCT từ thực tiễn Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam” và sử dụng phương pháp “CTXH cá nhân đối với NCT” tác giả đã trình bày một số vấn đề lý luận làm cơ sở nền tảng khi

nghiên cứu đề tài đó các khái niệm về NCT, CTXH, CTXH cá nhân đối với NCT Những khái niệm này làm rõ về khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu của

đề tài Cũng trong chương này tác giả cũng trình bày vai trò của NVXH, các dịch vụ CTXH đối với NCT, các yếu tố tác động đến CTXH, cùng với đó là hành lang pháp

lý để thực hiện công tác chăm sóc và trợ giúp NCT bao gồm: Các quy định, chính

sách của Đảng, Nhà nước về các chế độ hỗ trợ đối với NCT

Trang 30

`

Chương 2 THỰC TRẠNG NGƯỜI CAO TUỔI VÀ TIẾN TRÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TẠI TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI

TỈNH HÀ NAM

2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Lịch sử hình thành Trung tâm công tác xã hội tỉnh Hà Nam

Trung tâm CTXH là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Hà Nam, địa chỉ Thôn Văn Lâm, xã Liêm Tiết, thành phố Phủ Lý, Trung tâm được xây dựng trên diện tích là 13.500m2

Quá trình hình thành đơn vị: Năm 1997, sau khi chia tách tỉnh Nam Hà thành

2 tỉnh Hà Nam và Nam Định, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam đã ra Quyết định thành lập Trung tâm Xã hội tỉnh để tiếp nhận quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng các đối tượng bảo trợ xã hội gồm: NCT, người khuyết tật, trẻ em mồ côi và các đối tượng nghiện ma túy trên địa bàn

Đến năm 2007, cơ sở vật chất của Trung tâm đã xuống cấp, đối tượng nghiện

ma túy ngày càng gia tăng dẫn tới sự quá tải Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam thành

lập Trung tâm Bảo trợ xã hội trên cơ sở kiện toàn tổ chức, sắp xếp lại (sau khi chia

tách và tổ chức lại nhiệm vụ, tổ chức, biên chế, cán bộ, nhân viên, cơ sở vật chất thành lập Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội) Trung tâm Xã hội

tỉnh Hà Nam để thực hiện chức năng quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng bảo trợ xã hội

Thực hiện Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010-2020 Hà Nam là một tỉnh nhỏ, quy mô dân số thấp cùng với đó là thực hiện chủ chương của Đảng, Nhà nước về chính sách tinh giản biên chế, tinh gọn bộ máy Tháng 4/2014,

Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam đã đổi tên Trung tâm Bảo trợ xã hội thành Trung tâm CTXH để thực hiện thêm chức năng, nhiệm vụ về CTXH Đến tháng 12/2015

Trang 31

`

Trung tâm CTXH được bổ sung thêm chức năng, nhiệm vụ tiếp nhận, quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng phục hồi chức năng cho con của người tham gia hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học bị tàn tật nặng

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ

2.1.2.1 Chức năng: Trung tâm CTXH là đơn vị sự nghiệp công lập trực

thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Hà Nam thực hiện chức năng phòng và điều trị rối nhiễu tâm trí; cung cấp các dịch vụ CTXH cho các đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khác do Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam quy định Trung tâm có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản theo quy định của pháp luật; chịu sự chỉ đạo, quản lý và điều hành của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn

về chuyên môn nghiệp vụ của các Vụ, Cục có liên quan thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

2.1.2.2 Nhiệm vụ

* Tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng:

- Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng; trẻ

em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích theo quy định tại Điều 78 của Bộ luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật; trẻ em có cha và mẹ, hoặc cha hoặc mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không còn người nuôi dưỡng; trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ gia đình nghèo; người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nhưng đang đi học văn hóa, học nghề, có hoàn cảnh như trẻ em nêu trên

- NCT cô đơn, thuộc hộ gia đình nghèo; NCT còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa, thuộc hộ gia đình nghèo (theo chuẩn nghèo được Chính phủ quy định cho từng thời kỳ);

- Người tàn tật nặng không có khả năng lao động hoặc không có khả năng tự phục vụ, thuộc hộ gia đình nghèo;

Trang 32

`

- Người mắc bệnh tâm thần thuộc các loại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm và có kết luận bệnh mãn tính, sống độc thân không nơi nương tựa hoặc gia đình thuộc diện hộ nghèo;

- Người nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động, thuộc hộ gia đình nghèo; Con của người tham gia hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học bị tàn tật nặng

- Các đối tượng xã hội khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định

* Cung cấp các dịch vụ khẩn cấp:

- Tiếp nhận đối tượng cần sự bảo vệ khẩn cấp, gồm: người rối nhiễu tâm trí

và người tâm thần; trẻ em bị bỏ rơi; nạn nhân của bạo lực gia đình; nạn nhân bị xâm hại tình dục; nạn nhân bị buôn bán; nạn nhân bị cưỡng bức lao động;

- Đánh giá các nhu cầu của đối tượng; sàng lọc và phân loại đối tượng Trường hợp cần thiết thì chuyển gửi đối tượng tới các cơ sở y tế, cơ quan công an,

tư pháp hoặc các cơ sở cung cấp dịch vụ xã hội khác; bảo đảm an toàn và đáp ứng các nhu cầu khẩn cấp của đối tượng, gồm: nơi cư trú tạm thời, thức ăn hoặc quần

áo, chi phí đi lại; cung cấp dịch vụ điều trị y tế ban đầu

* Cung cấp dịch vụ chăm sóc, phục hồi chức năng cho người tâm thần và người rối nhiễu tâm trí: Tham vấn, trị liệu rối nhiễu tâm trí, khủng hoảng tâm lý và phục hồi thể chất cho đối tượng; cung cấp các hỗ trợ khẩn cấp liên quan đến rối loạn tâm lý, khủng hoảng tâm lý; tiếp nhận đối tượng bị tâm thần nặng, cấp tính; tư vấn, giới thiệu và hướng dẫn chuyển đối tượng tới các dịch vụ phù hợp khác;

* Tư vấn và trợ giúp đối tượng thụ hưởng các chính sách trợ giúp xã hội; phối hợp với các cơ quan chức năng, các cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH để bảo vệ, trợ giúp đối tượng; tìm kiếm, sắp xếp các hình thức chăm sóc cho phù hợp

* Xây dựng kế hoạch can thiệp và trợ giúp đối tượng; giám sát và rà soát lại các hoạt động can thiệp, trợ giúp và điều chỉnh kế hoạch Chủ trì, phối hợp với các đơn vị, tổ chức để dạy nghề, giáo dục hướng nghiệp cho đối tượng

Trang 33

`

* Cung cấp dịch vụ CTXH cho các nhóm đối tượng: Đánh giá nhu cầu về khía cạnh xã hội của đối tượng để cung cấp những hỗ trợ tâm lý xã hội và các dịch

vụ chăm sóc; quản lý trường hợp; trị liệu tâm lý cho đối tượng; hỗ trợ tiếp cận dịch

vụ xã hội theo quy định của pháp luật; vận động xã hội hỗ trợ đối tượng; hỗ trợ chăm sóc đối tượng tại gia đình, cộng đồng

* Nâng cao năng lực: Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho cán bộ, công chức, viên chức và cộng tác viên CTXH về lĩnh vực chăm sóc, phục hồi chức năng cho đối tượng; tập huấn cho gia đình đối tượng về kỹ năng, phương pháp, nghiệp vụ chăm sóc, trợ giúp đối tượng

* Nâng cao nhận thức cộng đồng về chăm sóc và phục hồi chức năng cho đối tượng; cung cấp dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng ngắn hạn, dài hạn trong trường hợp không thể sinh sống ở gia đình, cộng đồng

* Chủ trì, phối hợp với chính quyền địa phương đưa đối tượng đủ điều kiện hoặc tự nguyện xin ra khỏi trung tâm trở về với gia đình, tái hòa nhập cộng đồng;

hỗ trợ, tạo điều kiện cho đối tượng ổn định cuộc sống

* Tổ chức các hoạt động phục hồi chức năng, lao động sản xuất, trợ giúp các đối tượng Tổ chức các hoạt động truyền thông, nâng cao nhận thức

* Phát triển cộng đồng: Liên hệ với người dân, chính quyền các cấp trong việc xác định các vấn đề của cộng đồng để xây dựng chương trình, kế hoạch trợ giúp cộng đồng; đề xuất chính sách với các cơ quan có thẩm quyền; xây dựng mạng lưới nhân viên, tình nguyện viên CTXH; tổ chức huy động nguồn lực để trợ giúp đối tượng

* Được tổ chức huy động và tiếp nhận sự hỗ trợ tài chính, hiện vật của cơ quan, tổ chức, cá nhân ở trong nước và nước ngoài để thực hiện các hoạt động của Trung tâm

* Được thực hiện các hoạt động dịch vụ có thu theo quy định của pháp luật: Tham vấn, trị liệu tâm lý và phục hồi chức năng cho đối tượng tại cộng đồng; tiếp nhận chăm sóc phục hồi chức năng và giáo dục trẻ em tự kỷ và một số dạng trẻ em

Trang 34

`

khuyết tật khác; những người không thuộc các nhóm đối tượng nêu trên, nhưng không có điều kiện sống ở gia đình và có nhu cầu vào sống ở Trung tâm, tự nguyện đóng góp kinh phí hoặc có người thân, người nhận bảo trợ đóng góp kinh phí (gọi chung là đối tượng tự nguyện)

2.1.3 Cơ cấu tổ chức, bộ máy của Trung tâm

Biểu 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm

* Cơ cấu tổ chức, bộ máy:

- Trung tâm CTXH có: Giám đốc và không quá 02 phó giám đốc

Giám đốc là người đứng đầu đơn vị, trực tiếp, quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của Trung tâm trước Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và trước pháp luật về nhiệm vụ được giao Giám đốc làm việc theo chế độ thủ trưởng và thực hiện việc chỉ đạo, điều hành các hoạt động của đơn vị thông qua một bộ máy với cấu trúc được thể hiên theo Sơ đồ

Phó Giám đốc là người giúp việc cho Giám đốc Trung tâm chỉ đạo một số lĩnh vực công tác, chịu trách nhiệm trước Giám đốc và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công

PHÒNG

Y TẾ

PHÒNG QUẢN LÝ CHĂM SÓC

Trang 35

`

- Tổng số cán bộ của Trung tâm là 31 người, (trong đó nam là 15 người, nữ

16 người), biên chế 21 người, hợp đồng theo Nghị định 68/2012/NĐ-CP: 06 người,

hợp đồng ngắn hạn 04 người Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Có 03 người chuyên ngành CTXH; 11 người chuyên ngày Y; 17 người được đào tạo ở các chuyên ngành như kinh tế, quản trị kinh doanh, tin học và một số ngành khác Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của lĩnh vực CTXH, Trung tâm CTXH đã thành lập được mạng lưới cộng tác viên xã hội ở 116 xã, phường, thị trấn (mỗi đơn vị: 01 người) trên địa bàn tỉnh Hà Nam

- Các phòng chức năng: Phòng Tổ chức - Hành chính - Kế toán; Phòng CTXH; Phòng Y tế và Phòng Quản lý - Chăm sóc đối tượng

Phòng Tổ chức - Hành chính - Kế toán thực hiện các nhiệm vụ: Công tác tổ chức cán bộ, công tác thi đua khen thưởng, kỷ luật; công tác quản lý hành chính, văn thư lưu trữ, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nội quy, quy chế làm việc của cơ quan; thực hiện công tác thu - chi tài chính các nguồn kinh phí theo quy định

Phòng CTXH thực hiện các nhiệm vụ: Tiếp nhận các đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp; tổ chức các hoạt động tham vấn, tư vấn; thực hiện công tác tuyên truyền, tập huấn đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ CTXH; công tác phát triển cộng đồng; cung cấp các dịch vụ CTXH theo quy định

Phòng Quản lý - Chăm sóc đối tượng: Tiếp nhận đối tượng, quản lý hồ sơ các đối tượng được nuôi dưỡng tập trung, đối tượng tự nguyện; lập kế hoạch chăm sóc đối tượng, thực hiện các hoạt động giáo dục, tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, lao động trị liệu cho đối tượng; đưa đối tượng tái hòa nhập cộng đồng khi đủ điều kiện

Phòng Y tế: Quản lý hồ sơ y tế các đối tượng; thăm khám sức khỏe hằng ngày, định kỳ; thực hiện công tác vệ sinh phòng dịch bệnh; trị liệu, phục hồi chức năng cho đối tượng

Năm 2016, Trung tâm đã tiếp nhận quản lý, chăm sóc và nuôi dưỡng 141 đối tượng, trong đó NCT là 77 đối tượng Kinh phí phục vụ cho công tác quản lý chăm

Trang 36

`

sóc nuôi dưỡng đối tượng ở Trung tâm được nhà nước cấp hằng năm, ngoài ra còn

có thêm các nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân có lòng hảo tâm nhưng không đáng kể Mức ăn hàng tháng của đối tượng 1.080.000đồng/người, tiền thuốc 50.000đ/người/tháng, tiền trang cấp 1.500.000đ/người/năm, ngoài ra khi đối tượng mất còn được hỗ trợ tiền mai táng phí Để góp phần cải thiện thêm bữa ăn hàng ngày, nâng cao thêm nữa mức sống cho các đối tượng, Trung tâm còn tổ chức các hoạt động tăng gia sản xuất như: chăn nuôi lợn, gà, trồng rau xanh …

Trong những năm qua, Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam luôn làm tốt công tác tiếp nhận, quản lý chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội nói chung trong

đó có NCT nói riêng, đã góp phần đảm bảo thực hiện tốt chính sách phát triển kinh

tế đi đôi với việc đảm bảo an sinh xã hội của tỉnh Hà Nam

2.2 Thực trạng người cao tuổi tại Trung tâm công tác xã hội tỉnh Hà Nam

Hiện nay Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam đang quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng

77 NCT (tính đến 31/12/2016), bao gồm NCT cô đơn không nơi nương tựa, thuộc gia đình hộ nghèo và NCT lang thang được thu gom vào Trung tâm

2.2.1 Về đặc điểm của các đối tượng người cao tuổi tại Trung tâm

* Đối với NCT cô đơn không nơi nương tựa: Số lượng 74 người, những

người này đều thuộc hộ nghèo, không có nguồn thu nhập, họ gặp nhiều khó khăn về điều kiện sống, một số NCT đơn thân còn không có nhà để ở, không có người thân

để trợ giúp về kinh tế Khi được đưa vào nuôi dưỡng tại Trung tâm đa phần sức khoẻ yếu, nhiều bệnh tật, tuổi cao Phần lớn bị tổn thương về mặt tâm lý, thiếu tình cảm gia đình, số ít bị xa lánh Hoàn cảnh gia đình trước khi vào Trung tâm, họ đều

là những người không có chồng/vợ hoặc mất chồng/vợ, không có con Phần lớn NCT còn người thân như anh em, các cháu họ, bạn bè đồng nghiệp cũ còn mối liên

hệ Một số ít NCT không còn người thân để liên lạc

* Đối với NCT lang thang được thu gom đưa vào Trung tâm: Số lượng 03

người Đây là những người đi lang trên địa bàn tỉnh được các huyện, thành phố đưa vào Trung tâm đã tiến hành thu thập thông tin để xác minh, tìm địa chỉ, tên tuổi,

Trang 37

`

quê quán nhưng không xác minh được nên đã trình Sở Lao động - Thương binh và

Xã hội ra quyết định đưa vào nuôi dưỡng dài hạn Do bị mắc bệnh tâm thần, bệnh mất trí nhớ nên họ không nhớ được chính xác những gì liên quan đến bản thân, bị mọi người xa lánh, bị đói, rách, sống khép kín, sợ tiếp súc với người lạ, thiếu thốn tình thương và sự quan tâm sẻ chia của mọi người

Với những đặc điểm nêu trên NCT tại Trung tâm được chia làm hai nhóm như sau:

Nhóm NCT bình thường

Nhóm NCT bị khuyết tật gồm các dạng: khuyết tật vận động, khuyết tật thần kinh, khuyết tật nhìn, khuyết tật trí tuệ, đa khuyết tật

Bảng 2.2: Số lượng NCT tại Trung tâm chia theo nhóm

STT Đối tượng Số lượng ( Người)

Tỷ lệ % Trong tổng số đối tượng

Nguồn: Báo cáo

Về đặc điểm tình hình sức khỏe của NCT: Phần lớn NCT sống tại Trung tâm đều có sức khỏe yếu, mắc nhiều bệnh mãn tính như: bệnh về tim mạch, huyết áp, xương khớp, phổi và một số bệnh thông thường khác Điều này đặt ra cho đội ngũ cán bộ, nhân viên ở Trung tâm những thách thức, khó khăn lớn đó là phải làm sao tìm hiểu, nắm rõ đặc điểm tâm sinh lý của từng người mà có sự chăm sóc cho phù hợp Cán bộ nhân viên Trung tâm phải không ngừng học tập, tìm hiểu nghiên cứu

Trang 38

Nguồn: Báo cáo

Nhìn vào biểu phân bố nhóm tuổi ta thấy số lượng NCT ở nhóm 60-69 tuổi chiếm số lượng lớn nhất 46,8%, nhóm 70-79 tuổi chiếm 33,8%; nhóm 80-89 tuổi là 15,6%; số rất ít còn lại từ 90 tuổi trở lên chiếm 3,9% Điều đó đặt ra cho Trung tâm nhiệm vụ rất lớn làm sao phải có những giải pháp để nâng cao hơn nữa công tác chăm sóc, nuôi dưỡng NCT để họ có thể sống vui, sống khỏe và nâng cao tuổi thọ

Về giới tính: Đa số NCT số tại Trung tâm là nữ chiếm tới 62,3%

Bảng 2.4: Phân bố theo giới tính của NCT tại Trung tâm

Trang 39

`

Nguồn: Báo cáo

NCT sinh ra vào thời kỳ đất nước còn chiến tranh, hoàn cảnh gia đình khó

khăn nên đa số không được đi học (NCT không biết chữ chiếm tỷ lệ rất lớn chiếm

tới 80,5%) điều này đòi hỏi đội ngũ cán bộ viên chức, người lao động phải khéo léo

trong quá trình tư vấn, trợ giúp, giao tiếp, phục vụ để giúp các cụ hiểu và chấp hành tốt nội quy sinh hoạt, tạo sự thống nhất đồng lòng cùng với Trung tâm phát triển bền vững để hướng đến sự phục vụ NCT được tốt hơn

Bảng 2.6: Hoàn cảnh gia đình của NCT

Hoàn cảnh gia đình Số lượng Tỷ lệ %

Nguồn: Báo cáo

2.2.2 Nhu cầu của người cao tuổi tại Trung tâm công tác xã hội Hà Nam

Để xác định các nhu cầu của NCT tại Trung tâm, tác giả đã điều tra, phỏng vấn 50 NCT trong tổng số 77 NCT đang được chăm sóc, nuôi dưỡng ở Trung tâm CTXH theo cách chọn mẫu ngẫu nhiên để phân tích về nhu cầu của NCT, kết quả như sau:

Nhu cầu về ăn, ở: Đây là nhu cầu ưu tiên hàng đầu của NCT, chiếm tới 62%

trong tổng số NCT được hỏi Nguyên nhân do đa số NCT ở Trung tâm có sức khỏe yếu, mắc nhiều bệnh mãn tính, mắt kém, đi lại khó khăn chậm chạp, kém phần nhanh nhẹn và linh hoạt thường phải chống gậy nên họ mong muốn có một chế độ

Trang 40

`

ăn uống riêng, phù hợp với tuổi tác và một số bệnh tật; được sắp xếp chỗ ở gần khu

vệ sinh, có nước sinh hoạt, ở nơi thoáng mát

Nhu cầu an toàn: Đây là nhu cầu rất quan trọng của người già, do sức khỏe

yếu thường xuyên ốm đau, bệnh tật nên họ mong muốn được kiểm tra sức khỏe thường xuyên, chăm sóc sức khoẻ định kỳ, khám chữa, được cấp thuốc khi ốm đau, bệnh tật; được sống trong môi trường lành mạnh, an toàn Vì vậy, để tạo bầu không khí vui vẻ, yên bình cho NCT, Trung tâm CTXH không chỉ quan tâm về mặt thể chất mà cần phải quan tâm về mặt tinh thần Nhu cầu này cũng chiếm tới 56% số người được hỏi

Nhu cầu tình cảm: Nhu cầu này được 32% số NCT được hỏi lựa chọn Do

đa số NCT trước khi đưa vào nuôi dưỡng ở Trung tâm đều là đơn thân, không nơi nương tựa, sống một mình Ở độ tuổi này, do không còn tham gia hoạt động lao động thường xuyên nên mối quan hệ, giao lưu của người già trở nên thu hẹp họ thường cảm thấy cô đơn, trống vắng, thậm chí có thể ảnh hưởng thêm tới sức khỏe

Vì vậy, NCT mong muốn được tụng kinh, đi lễ chùa vào ngày mồng một, hoặc ngày rằm hằng tháng, được tham gia các buổi sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, giao lưu thể thao; luôn mong muốn có sự quan tâm, chăm sóc thường xuyên, sự động viên thăm hỏi, chia sẻ của cán bộ, nhân viên Trung tâm cũng như giữa những NCT với nhau, những hoạt động này giúp NCT mở rộng mối quan hệ xã hội và đảm bảo sức khoẻ

cả về thể chất lẫn tinh thần

Nhu cầu được tôn trọng, được chấp nhận, được thấy mình có ích: Mặc dù

sống ở Trung tâm, được nhà nước và cán bộ nhân viên chăm sóc, nuôi dưỡng không còn trực tiếp tham gia hoạt động đóng góp cho xã hội, nhưng một số NCT vẫn có nhu cầu cần được sự công nhận những giá trị, những thành quả mà họ đã đạt được

Họ đã khẳng định được rằng họ không phải là người thừa, người vô ích mà ngược lại họ vẫn là người có ích bởi họ luôn tích cực tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao và lao động trị liệu như: trồng rau, nhổ cỏ, quét rọn vệ sinh cơ quan… Mong muốn được đối xử công bằng, không có sự phân biệt, đối xử, có khoảng cách giữa họ với cán bộ, nhân viên Trung tâm trong ứng xử, giao tiếp, trong

Ngày đăng: 06/06/2017, 16:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2005), Giáo trình công tác xã hội cá nhân, Nxb Trường Đại học Lao Động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình công tác xã hội cá nhân
Tác giả: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb Trường Đại học Lao Động - Xã hội
Năm: 2005
6. Chính phủ Việt Nam (2013), Nghị định quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội. Nghị định số 136/NĐ-CP/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội
Tác giả: Chính phủ Việt Nam
Năm: 2013
10. Nguyễn Thị Kim Hoa (2012), Giáo trình Công tác xã hội trợ giúp NCT, Nxb, Lao động Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội trợ giúp NCT
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Hoa
Năm: 2012
11. Nguyễn Thị Kim Hoa (2013), Tài liệu Công tác xã hội trợ giúp người cao tuổi 2013, NXB Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội trợ giúp người cao tuổi 2013
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Hoa
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2013
14. Đặng Vũ Cảnh Linh (2009), Người cao tuổi và các mô hình dịch vụ chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam, Nxb Dân trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người cao tuổi và các mô hình dịch vụ chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Vũ Cảnh Linh
Nhà XB: Nxb Dân trí
Năm: 2009
15. Bùi Thị Xuân Mai (2007), Phát triển công tác xã hội theo hướng chuyên nghiệp- một đòi hỏi khách quan trong quá trình đổi mới của nước ta, Nxb Tạp trí Lao động Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển công tác xã hội theo hướng chuyên nghiệp- một đòi hỏi khách quan trong quá trình đổi mới của nước ta
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: Nxb Tạp trí Lao động Xã hội
Năm: 2007
16. Bùi Thị Xuân Mai (chủ biên), Nguyễn Thị Thái Lan - Lim Shaw Hui (2008), Giáo Trình Tham Vấn, Nxb Lao Động Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo Trình Tham Vấn
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai (chủ biên), Nguyễn Thị Thái Lan - Lim Shaw Hui
Nhà XB: Nxb Lao Động Xã hội
Năm: 2008
17. Bùi Thị Xuân Mai (2010), Giáo trình nhập môn công tác xã hội, Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: nhập môn công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: Nxb Lao động Xã hội
Năm: 2010
18. Bùi Thị Xuân Mai (2012), Giáo trình nhập môn công tác xã hội, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: nhập môn công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2012
19. MOLISA - ULSA - CFSI - ASI - AP - UNICEF (2012), “Khóa đào tạo công tác xã hội cho các nhà quản lý công tác xã hội, chủ đề công tác xã hội với những cá nhân có nhu cầu đặc biệt”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khóa đào tạo công tác xã hội cho các nhà quản lý công tác xã hội, chủ đề công tác xã hội với những cá nhân có nhu cầu đặc biệt”
Tác giả: MOLISA - ULSA - CFSI - ASI - AP - UNICEF
Năm: 2012
21. Nguyễn Thị Oanh (1998), CTXH đại cương, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: CTXH đại cương
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
22. Lê Văn Phú (2004), Giáo trình Công tác xã hội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội
Tác giả: Lê Văn Phú
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
23. Quốc hội (2009), Luật Người cao tuổi số 39/2009/QH12, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Người cao tuổi số 39/2009/QH12
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2009
24. Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg Thủ tướng Chính phủ về phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2010-2020 ( Đề án 32) Sách, tạp chí
Tiêu đề: về phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2010-2020
1. Ban Bí thư (khoá VII), Chỉ thị số 59-CT/TW, ngày 27-9-1995 về chăm sóc người cao tuổi Khác
2. Ban công tác người cao tuổi tỉnh Hà Nam (2015), Báo cáo kết quả triển khai thực hiện công tác người cao tuổi năm 2015, Phương hướng nhiệm vụ năm 2016 Khác
4. Bộ Nội vụ (2010), Thông tư số 08/2010/TT-BNV ngày 25/8/2010 của Bộ Nội vụ ban hành chức danh, mã số các ngạch viên chức công tác xã hội Khác
5. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2015), Đề án đổi mới trợ giúp xã hội giai đoạn 2015-2030 Khác
7. Cục Bảo trợ xã hội (2012), Tài liệu Công tác xã hội đối với người cao tuổi Khác
8. Bùi Thế Cường (2005), Trong miền an sinh xã hội nghiên cứu về tuổi già Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Biểu 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm - Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Hà Nam
i ểu 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm (Trang 34)
Bảng 2.2: Số lượng NCT tại Trung tâm chia theo nhóm - Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Hà Nam
Bảng 2.2 Số lượng NCT tại Trung tâm chia theo nhóm (Trang 37)
Bảng 2.3: Phân bố theo nhóm tuổi của NCT tại Trung tâm - Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Hà Nam
Bảng 2.3 Phân bố theo nhóm tuổi của NCT tại Trung tâm (Trang 38)
Bảng 2.4: Phân bố theo giới tính của NCT tại Trung tâm - Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Hà Nam
Bảng 2.4 Phân bố theo giới tính của NCT tại Trung tâm (Trang 38)
Bảng 2.6:  Hoàn cảnh gia đình của NCT - Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Hà Nam
Bảng 2.6 Hoàn cảnh gia đình của NCT (Trang 39)
Hình 2.7: Sơ đồ phả hệ - Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Hà Nam
Hình 2.7 Sơ đồ phả hệ (Trang 54)
Hình 2.8: Biểu đồ sinh thái ông T - Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Hà Nam
Hình 2.8 Biểu đồ sinh thái ông T (Trang 55)
Bảng 2.10: Bảng kế hoạch trị liệu cho ông T - Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Hà Nam
Bảng 2.10 Bảng kế hoạch trị liệu cho ông T (Trang 57)
Hình 2.11: Mô hình can thiệp của NVXH - Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Hà Nam
Hình 2.11 Mô hình can thiệp của NVXH (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm