1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ và Công tác xã hội tỉnh Ninh Bình

94 629 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi tại cộng đồng cũng như trong các cơ sở bảo trợ xã hội, các trung tâm cung cấp dịch vụ xã hội còn hạn chế bởi nhiều nguyên nhân kh

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM ĐỨC HẠNH

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI

TRẺ EM MỒ CÔI TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TỈNH NINH BÌNH

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS BÙI THỊ MAI ĐÔNG

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi

từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ và Công tác xã hội tỉnh Ninh Bình” đây là

công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, đúng với thực tiễn nghiên cứu Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ

Phạm Đức Hạnh

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CNH-HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa

LĐTB&XH Lao động thương binh và xã hội

TTBT&CTXH Trung tâm Bảo trợ và Công tác xã hội

UBDSGĐ&TE Ủy ban dân số gia đình và trẻ em

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRẺ EM MỒ CÔI VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI 9

1.1 Một số lý thuyết về trẻ em và trẻ em mồ côi 9 1.2 Khái quát công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồi côi 15 1.3 Một số lý thuyết ứng dụng trong công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi 26 1.4 Luật pháp, chính sách và các mô hình dịch vụ hỗ trợ trẻ em môi côi 31 1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồi côi 35

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ

EM MỒ CÔI TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TỈNH NINH BÌNH 38

2.1 Khái quát về địa bàn và khách thể nghiên cứu 38 2.2 Thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồi côi từ thực tiễn trung tâm bảo trợ và công tác xã hội tỉnh Ninh Bình 45 2.3 Những kết quả đạt được của hoạt động công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em

mồ côi tại Trung tâm 54 2.4 Một số hạn chế và nguyên nhân 55

Chương 3: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP CTXH CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ

EM MỒ CÔI TẠI TRUNG TÂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CTXH CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI PHÚC TRÌNH LẦN THỨ NHẤT 61

3.1 Ứng dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân đối với trường hợp trẻ em mồ côi tại trung tâm bảo trợ và công tác xã hội tỉnh Ninh Bình 61 3.2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em môi côi 72

KẾT LUẬN 76

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trẻ em là hạnh phúc của mỗi gia đình, là chủ nhân, nguồn nhân lực tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Cùng với sự phát triển của đất nước, trẻ em ngày càng được Đảng, Nhà nước, xã hội và gia đình quan tâm, chăm sóc tốt hơn, được tạo mọi điều kiện

để phát triển và phát huy vai trò chủ nhân của mình trong tương lai

Công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nói chung, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em mồ côi nói riêng luôn là mối quan tâm lớn của Đảng, Nhà nước ta Đặc biệt, từ khi đất nước ta bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, thì vấn đề này lại càng được coi trọng Cùng với sự phát triển của đất nước, đời sống người dân được nâng lên, trẻ em cũng nhận được sự quan tâm, chăm sóc tốt hơn Sự quan tâm, chăm sóc trẻ em được thể hiện bằng những chủ trương, chính sách

cụ thể qua các thời kỳ Việc thực hiện các chương trình này đã trở thành nhiệm vụ thường xuyên của các cấp, các ngành Các chương trình đã khẳng định sự ưu tiên trong việc quan tâm chăm sóc và bảo vệ trẻ em nói chung, trẻ

em mồ côi nói riêng

Mặc dù vậy, từ thực trạng kinh tế - xã hội của nước ta từ một nước nghèo, chậm phát triển, phải gánh chịu những hậu quả nặng nề sau chiến tranh, dưới tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường và tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xu thế mở cửa, hội nhập quốc tế; sự chuyển dịch, biến đổi về văn hoá, xã hội từ cái cũ sang cái mới Các hiện tượng xã hội như nghèo đói, phân hoá giàu nghèo với khoảng cách, sự chênh lệch ngày càng lớn về mức sống, thu nhập giữa những bộ phận dân cư trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội đối với trẻ

em, khiến trẻ em trở thành đối tượng dễ bị tổn thương Bên cạnh đó sự băng hoại các giá trị đạo đức, sự thay đổi thang giá trị xã hội, tình trạng ly hôn ngày càng cao, nạn bạo hành và phân biệt đối xử về giới, tình trạng bất cập, thiếu hụt hoặc lệch lạc trong giáo dục gia đình đã làm xuất hiện trong xã hội nhiều nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trong đó có nhóm trẻ em

mồ côi không nơi nương tựa

Theo số liệu của Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội và UNICEF, ước tính trong năm 2014 cả nước có hơn 26 triệu trẻ em dưới 16

Trang 6

tuổi (chiếm 28,7% dân số), trong đó có gần 1.468.000 em có “hoàn cảnh đặc biệt,” Trong số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có 170.187 trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi (nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) riêng tỉnh Ninh Bình năm 2014 có 230.030 trẻ em dưới 16 tuổi (chiếm 23,9% dân số), trong đó trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 6.859 trong đó có 1.977 trẻ em mồ côi (nguồn: thống kê của sở lao động thương binh và Xã hội) Số trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi không nơi nương tựa là nhóm trẻ em dễ bị tổn thương

và mất nguồn nuôi dưỡng dẫn đến thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần Trong những năm qua, kể từ khi Đề án Số: 32/2010/QĐ-TTg về phát triển nghề CTXH ở Việt Nam giai đoạn 2010-2020 được triển khai thực hiện, CTXH nói chung, CTXH với trẻ em mồ côi nói riêng, đã có sự phát triển, ngày càng được nâng cao tính chuyên nghiệp và hiệu quả hoạt động Tuy nhiên, công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi tại cộng đồng cũng như trong các cơ sở bảo trợ xã hội, các trung tâm cung cấp dịch vụ xã hội còn hạn chế bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân khách quan

và nguyên nhân chủ quan: Công tác xã hội là một nghề còn non trẻ ở Việt Nam; Khung pháp lý cho nghề Công tác xã hội nói chung, cho Công tác xã hội cá nhân với trẻ em mồ côi nói riêng, còn thiếu và chưa đồng bộ; Các hoạt động tại các trung tâm chủ yếu là chăm sóc nuôi dưỡng, chưa chú trọng các hoạt động của Công tác xã hội; Đội ngũ nhân viên Công tác xã hội được đào tạo chính quy về nghề Công tác xã hội trong các cơ sở bảo trợ xã hội còn ít nên tính chuyên nghiệp, kỹ năng trong các họat động chưa cao; điều kiện kinh

tế của nhân viên làm công tác xã hội chưa được đáp ứng do đó họ còn phải lo làm kinh tế nên dẫn đến thiếu nhiệt huyết, vai trò của nhân viên Công tác xã hội còn mờ nhạt vì vậy, mặc dù trẻ em được chăm sóc đầy đủ về thể chất nhưng đời sống tinh thần, kỹ năng sống ít được cải thiện

Mặt khác, từ thực tiễn cho thấy trẻ em mồ côi chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và có nhiều cơ hội, có nhiều điều kiện thuận lợi để được phát triển hơn so với các nhóm trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khác và đây cũng là nhóm trẻ nhận được nhiều sự quan tâm hỗ trợ của Nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội

Xuất phát từ những lý do trên, học viên chọn đề tài: “Công tác xã hội

cá nhân đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ và Công tác

xã hội tỉnh Ninh Bình” để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp nhằm tìm ra

nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động CTXH ở địa bàn nghiên cứu,

Trang 7

từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp và chất lượng hoạt động CTXH cá nhân đối với TEMC, góp phần thúc đẩy nghề công tác xã hội và đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh Ninh Bình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Từ lý luận và thực tiễn cho thấy việc bảo vệ chăm sóc, giáo dục, tư vấn trợ giúp tâm lý kỹ năng sống…tạo điều kiện tốt, thuận lợi nhất cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung và trẻ em mồ côi nói riêng phát triển, đã trở nên cấp thiết Vấn đề này không chỉ là mối quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà lãnh đạo các quốc gia trên thế giới mà còn cả ở Việt Nam Do đó đã có nhiều cuộc khảo sát, đánh giá đề tài nghiên cứu liên quan đến vấn đề này

2.1 Tình hình nghiên cứu về trẻ em nói chung và trẻ em mồ côi nói riêng

“Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015” do Bộ

Lao động Thương binh và Xã hội đề xuất với Chính phủ cũng đã chỉ ra những

nỗ lực của các địa phương trong việc triển khai thí điểm các hoạt động cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em theo 3 cấp độ: cấp độ I là phòng ngừa; cấp độ II là phát hiện, can thiệp sớm để loại bỏ nguy cơ; cấp độ III là trợ giúp, phục hồi hòa nhập cộng đồng cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung và trẻ em mồ côi nói riêng cũng được nhiều địa phương quan tâm Việc tổ chức cung cấp

dịch vụ bảo vệ trẻ em cũng rất chú trọng tới việc “kết nối dịch vụ bảo vệ trẻ

em liên tục” nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách và bảo đảm an toàn của trẻ em Các hoạt động tư vấn, vận động, giáo dục đến tận gia đình, cộng đồng; tư vấn tại Trung tâm Bảo trợ và Công tác xã hội, thực hiện quy trình CTXH cá nhân tại Trung tâm và cộng đồng đã được triển khai thí điểm ở các địa phương, góp phần quan trọng vào việc giảm thiểu các nguy cơ dẫn đến trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, nguy cơ thất học, bỏ học, nguy cơ lang thang, lao động kiếm sống [5, tr 8]

Tài liệu “giảng dạy về công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em trong thời kỳ

mới” ( năm 2011) của trường cán bộ phụ nữ Trung ương Đã chỉ ra các vấn đề

cơ bản của trẻ em và những thách thức mới trong tương lai đối với công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập đó là:

Vấn đề bất bình đẳng về cơ hội phát triển; Sự xao nhãng đối với trẻ em; Một số quyền của trẻ em chưa được thực hiện đầy đủ; Những tác động không mong muốn của việc tiếp cận công nghệ thông tin trong quá trình phát triển

Trang 8

và hội nhập; Hệ thống cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em chưa phát triển, chưa đáp ứng nhu cầu cần được bảo vệ của trẻ em

Chỉ ra các tác động của CNH - HĐH và hội nhập đến các chức năng bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của gia đình và thực trạng những vấn đề cơ bản của trẻ em trong bối cảnh CNH - HĐH và hội nhập

Từ đó đưa ra một số giải pháp mang tính chiến lược để bảo vệ chăm sóc trẻ em trong tình hình mới

Bài viết ”Công tác xã hội với trẻ em - Thực trạng và giải pháp” của TS

Nguyễn Hải Hữu Đã chỉ ra thực trạng của trẻ em và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; nhu cầu tiếp cận dịch vụ công tác xã hội của trẻ em ở Việt Nam khá đa dạng, nhưng việc cung cấp dịch vụ còn khá hạn chế về loại hình dịch vụ và chất lượng dịch vụ Chủ yếu dịch vụ chăm sóc nuôi dưỡng thông thường, những dịch vụ chuyên sâu như hỗ trợ tâm lý xã hội, tham vấn, tư vấn tâm lý, trị liệu tâm thần còn rất hạn chế, các dịch vụ quan trọng của CTXH như kết nối, chuyển gửi, quản lý ca qua điều tra của đề tài đạt được ở mức rất thấp

Qua thực trạng nghiên cứu bài viết đã chỉ ra giải pháp phát triển CTXH cho trẻ em, cần đẩy nhanh quá trình mở rộng dịch vụ các loại hình CTXH, tăng cường công tác truyền thông, quảng bá về dịch vụ CTXH để các đối tượng và gia đình biết, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về dịch

vụ CTXH, phát triển nguồn nhân lực hoạt động CTXH

Báo cáo “Tình hình trẻ em tại Việt Nam năm 2010” của UNICEF đã thừa nhận “Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được những bước

tiến quan trọng trong việc thúc đẩy các hoạt động chăm sóc dựa vào cộng đồng cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó có trẻ mồ côi và bị bỏ rơi Việt Nam đã đưa vào thực thi các chính sách quốc gia nhằm khuyến khích và

hỗ trợ các gia đình” [25, tr 214] Tài liệu này cũng cho thấy những hạn chế của Việt Nam trong bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt như: chưa xây dựng được một hệ thống bảo trợ xã hội mạnh mẽ và hiệu quả; thiếu một hệ thống “dịch vụ chăm sóc liên tục”; chưa có một phương pháp tiếp cận mang tính hoạch định; thiếu các cơ chế cụ thể để phát hiện sớm và xác định trẻ em dễ bị tổn thương; chưa xây dựng được hệ thống can thiệp sớm và chuyển tuyến tới các dịch vụ chuyên sâu; các chương trình hỗ trợ tại trường học và cộng đồng dành cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt còn hạn chế; hình thức chăm sóc tập trung vẫn còn được sử dụng khá phổ biến với vai trò là một

Trang 9

trong những hình thức chăm sóc thay thế cho trẻ em cần được bảo vệ đặc biệt; tốc độ tăng các nguồn lực dành cho trẻ em cần sự bảo vệ đặc biệt trong những năm gần đây đang chậm lại [25, tr 214]

2.2 Tình hình nghiên cứu về Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em

mồ côi

Bài viết “Thực trạng các mô hình cung cấp dịch vụ xã hội đối với trẻ

em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam hiện nay” của PGS.TS Bùi Thị Xuân

Mai – trường Đai học Lao động xã hội đã chỉ ra thực trạng vấn đề khó khăn của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, đó là vấn đề khó khăn trong cuộc sống nhiều thiếu thốn về kinh tế, sức khỏe, học tập, trong giao tiếp hòa nhập xã hội, tâm lý của trẻ chỉ ra thực trạng nhu cầu dịch vụ của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, chủ yếu trợ giúp về chính sách, trợ cấp hàng tháng chiếm tỷ lệ cao nhất với 82%, phản ánh một phần nhu cầu thực tiễn của nhóm trẻ em, cho thấy tâm

lý mong chờ vào chính sách được cung cấp hơn là sự chủ động tìm tới các dịch vụ trợ giúp mang tính bền vững; bài viết đã đánh giá tình hình thực tế của các mô hình cung cấp dịch vụ xã hội cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong đó có nhóm trẻ em mồ côi, đã chỉ ra mặt tích cực và hạn chế của các mô hình

Đề tài “Công tác xã hội đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn trung tâm Công tác xã hội tỉnh Nghệ An” của Th.s Ngô Thị Hiền ( năm 2015) đã đưa

ra được những khó khăn, tồn tại trong hoạt động chăm sóc trẻ em mồ côi tại Trung tâm CTXH tỉnh Nghệ An Như trẻ em mồ côi tại trung tâm chưa được tiếp cận, thừa hưởng đầy đủ các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, y tế, vui chơi, giải trí; việc phục hồi chức năng, hòa nhập cộng đồng còn hạn chế do thiếu phương tiện, chương trình, kinh phí, nguồn nhân lực thực hiện; các dịch vụ CTXH cho trẻ em mồ côi tại Trung tâm chưa được thực hiện một cách chuyên nghiệp, hiệu quả; cán bộ, nhân viên CTXH làm việc tại Trung tâm thiếu về số lượng, yếu về kỹ năng và phương pháp CTXH nên ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc, trợ giúp cho trẻ em mồ côi tại Trung tâm

Trong quá trình công tác cũng như chuẩn bị cho đề tài nghiên cứu này,

em đã nhận thấy những hạn chế nhất định của các tài liệu dữ liệu thu thập được Cũng như ở tỉnh Ninh Bình chưa có nghiên cứu nào về CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi; chỉ có những báo cáo khảo sát, thống kê về trẻ em có HCĐB và trẻ em mồ côi và đánh giá về công tác bảo trợ xã hội đối với nhóm đối tượng này

Trang 10

Mặc dù vậy, những tài liệu nghiên cứu đã được công bố nói trên là những tài liệu thực tế quan trọng để em đi sâu nghiên cứu thực hiện đề tài

“Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ và Công tác xã hội tỉnh Nịnh Bình”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau để phân tích, làm rõ

cơ sở lý luận của CTXH cá nhân với trẻ em mồ côi

- Đánh giá kết quả hoạt động của CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi tại Trung tâm Bảo trợ và công tác xã hội tỉnh Ninh Bình, chỉ ra những tồn tại, hạn chế những thiếu sót bất cập của hoạt động, đồng thời chỉ ra nguyên nhân những hạn chế, thiếu sót đó

- Ứng dụng, thử nghiệm CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi tại Trung tâm Bảo trợ và Công tác xã hội tỉnh Ninh Bình

- Đề xuất, kiến nghị một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả các hoạt động của CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi, nâng cao tính chuyên nghiệp của CTXH với trẻ em Mồ côi tại Trung tâm Bảo trợ và công tác xã hội tỉnh Ninh Bình

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi tại Trung tâm Bảo trợ và Công tác xã hội tỉnh Ninh Bình

Trang 11

- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu đối tượng là trẻ em mồ côi tại Trung tâm Bảo trợ và Công tác xã hội tỉnh Ninh Bình từ năm 2012 đến năm 2016

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp lý luận

Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: Từ những đánh giá thực trạng

về trẻ em, khó khăn, đặc điểm và nhu cầu của trẻ em mồ côi trên cơ cở thực tiễn để đúc rút thành lý luận và những đề xuất thực tiễn, chính sách pháp luật Nghiên cứu các vấn đề trong hệ thống những lý thuyết có liên quan như

lý thuyết về nhu cầu con người của Maslow; Lý thuyết về hệ thống sinh thái;

Lý thuyết phát triển nhận thức, lý thuyết dựa trên sức mạnh thân chủ

Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu khía cạnh nào đó em sẽ sử dụng thêm một số thuyết như: thuyết trao quyền; thuyết thân chủ trọng tâm

5.2 Các phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích tài liệu: Phân tích thông tin, số liệu từ các kế

hoạch triển khai thực hiện và các báo cáo liên quan đến lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em và hoạt động công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi trên địa bàn tỉnh Ninh Bình

- Phương pháp phỏng vấn sâu:

+ Phỏng vấn sâu 05 cán bộ quản lý của Trung tâm (01 Giám đốc, 01 PGĐ;

03 trưởng/phó phòng) và 05 nhân viên trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ: Nhằm tìm hiểu các hoạt động CTXH tại trung tâm; trình độ năng lực và vai trò, trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ nhân viên CTXH tại Trung tâm; tìm hiểu những khó khăn, thuận lợi của CTXH

+ Phỏng vấn sâu 10 trẻ em mồ côi: Tìm hiểu hoàn cảnh, những khó khăn và nhu cầu, nguyện vọng của các em

- Phương pháp quan sát: Quan sát các biểu hiện, các hoạt động của trẻ

em mồ côi; Quan sát hoạt động can thiệp, trợ giúp của nhân viên công tác xã hội đối với trẻ em mồ côi của Trung tâm

- Phương pháp thảo luận nhóm: Tọa đàm cùng nhóm cán bộ nhân viên

đang thực hiện nhiệm vụ quản lý, chăm sóc các cháu mồ côi tại Trung tâm để tổng hợp các ý kiến từ đó đưa ra nhận xét đánh giá thực tế về CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Làm việc với một trẻ em mồ

côi cụ thể tại Trung tâm, để đánh giá kết quả và so sánh với thực trạng tại Trung tâm

Trang 12

Ngoài ra đề tài nghiên cứu còn sử dụng thêm các phương pháp như: Thống kê, lịch sử, xã hội học, tâm lý học

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Nghiên cứu CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn tại Trung tâm Bảo trợ và Công tác xã hội tỉnh Ninh Bình vừa có ý nghĩa về mặt lý luận, vừa có ý nghĩa về mặt thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ và phong phú hơn các lý thuyết về CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi; tính hợp lý của các thuyết trong CTXH được sử dụng trong quá trình trợ giúp trẻ em mồ côi dễ bị tổn thương dưới cách tiếp cận CTXH

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu giúp nâng cao nhận thức của các cấp các ngành và toàn xã hội về vai trò của nghề CTXH, các nhân viên CTXH; góp phần nâng cao hiệu quả CTXH cá nhân tại Trung tâm

Kết quả nghiên cứu thực tiễn là căn cứ để lãnh đạo, cán bộ trong Trung tâm tham khảo để đổi mới công tác quản lý chỉ đạo và thực hiện chính sách đối với trẻ em mồ côi; Kết quả nghiên cứu của luận văn, đặc biệt là kết quả thử nghiệm với trẻ em mồ côi tại Trung tâm của nghiên cứu sẽ làm cơ sở cho việc hoạch định cơ chế chính sách và xây dựng các chương trình, kế hoạch, đề

án, chiến lược bảo vệ trẻ em, cung cấp các dịch vụ công tác xã hội chuyên nghiệp cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em mồ côi tại tỉnh Ninh Bình

Bên cạnh đó, sản phẩm của đề tài nghiên cứu còn có thể được vận dụng làm tài liệu tham khảo của các nhà nghiên cứu, các đơn vị, cá nhân

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về trẻ em mồ côi và CTXH cá nhân đối với trẻ

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRẺ EM MỒ CÔI

VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI 1.1 Một số lý thuyết về trẻ em và trẻ em mồ côi

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của trẻ em mồ côi

1.1.1.1 Khái niệm

- Trẻ em: Trẻ em là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác

nhau Tùy theo nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hay cấp độ đánh giá mà đưa

ra những định nghĩa hay khái niệm về trẻ em Có thể tiếp cận về mặt sinh học, tiếp cận về mặt tâm lý học, y học, xã hội học…Từ những khái niệm tiếp cận đi đến những khái niệm hoặc định nghĩa khác nhau về các nhóm trẻ em Tuy vậy, trong các định nghĩa và khái niệm đó đều có những điểm chung và thống nhất là căn cứ vào tuổi đời để xác định số lượng trẻ em Quốc tế đã đưa ra khái niệm chung là: “trẻ em được xác định là người dưới 18 tuổi, trừ khi luật pháp quốc gia công nhận tuổi thành niên sớm hơn” Khái niệm này đã lấy tuổi đời để định nghĩa trẻ em và lấy mốc là dưới 18 tuổi Khái niệm này cũng được mở rộng cho các quốc gia có thể quy định mốc tuổi dưới 18

Ở Việt Nam xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau của các khoa học cũng như từ bản chất chính trị - xã hội và thực tiễn truyền thống văn hóa, khả năng nguồn lực của Nhà nước mà đưa ra khái niệm cụ thể về trẻ em Điển hình ngành khoa học lao động đã căn cứ tâm sinh lý của con người để xác định những người đủ 15 tuổi trở lên để xếp vào lực lượng lao động nhưng vẫn khuyến khích các em độ tuổi từ 15-18 đến trường Tiếp cận theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam năm 2004, trẻ em là người dưới 16 tuổi [11, tr 1] Tiếp cận khía cạnh pháp luật có qui định thêm tuổi vị thành niên 16-18 tuổi

Trẻ em trước hết được hiểu đó là con người phải được hưởng mọi quyền “không bị bất cứ một sự phân biệt đối xử nào vì chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hoặc quan điểm, nguồn gốc dân tộc

và xã hội, tài sản dòng dõi và mối tương quan khác” Nhưng trẻ em lại là người chưa trưởng thành nên có quyền được chăm sóc, tồn tại, phát triển, được bảo vệ và được bày tỏ ý kiến, thể hiện: quyền được sống với cha mẹ, được đoàn tụ với gia đình, được tự do tin tưởng tín ngưỡng tôn giáo, được bảo

vệ đời tư, tiếp xúc thông tin, được bảo vệ khỏi áp bức và tổn thương về thể

Trang 14

chất và tinh thần, được chăm sóc và nuôi dưỡng khi bị tước mất môi trường gia đình, được hưởng những sự chăm sóc đặc biệt đối với trẻ em bị khuyết tật

về trí tuệ và thể chất, được hưởng trạng thái sức khỏe cao nhất và các dịch vụ chữa bệnh, phục hồi sức khỏe, được hưởng an toàn xã hội, được có mức sống

để phát triển về thể chất, trí tuệ, tinh thần đạo đức và xã hội, được nghỉ ngơi, giải trí, vui chơi, được bảo vệ khỏi sự bóc lột về kinh tế và các công việc nguy hiểm nặng nhọc và độc hại, được bảo vệ chống lại việc sử dụng các chất ma túy và an thần, được bảo vệ chống bị bóc lột, cưỡng bức, lạm dụng về tình dục, được phục hồi về thể chất, tâm lý và tái hòa nhập xã hội

- Trẻ em mồ côi: Theo quan niệm truyền thống: “Trẻ em mồ côi là trẻ

em có cha và mẹ bị chết hoặc cha hoặc mẹ bị chết” Như vậy, với quan điểm này mới chỉ phản ánh được sự mất mát của người cha hoặc mẹ với đứa trẻ Trong thực tế và nhất là những năm gần đây đã xuất hiện những trẻ em đang phải chịu đựng sự cô đơn, thiếu tình cảm, thiếu sự dạy dỗ, chăm sóc của cha

mẹ mặc dù cha mẹ vẫn còn sống chẳng hạn như: Trẻ em có cha mẹ còn sống nhưng đã bỏ đi mất tích không còn quan hệ gì với con cái; Trẻ em sinh ra trong trường hợp cha mẹ chưa trưởng thành hoặc không có điều kiện nên bỏ rơi con, làm trẻ trở thành vô thừa nhận

- Vậy, theo Nghị định 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ

về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội thì trẻ em mồ côi không nơi nương tựa bao gồm: Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, bị mất nguồn nuôi dưỡng; Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là cha, hoặc mẹ nhưng mất tích theo quy định tại Điều 78 Bộ Luật dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật

Trẻ em bị bỏ rơi: Là trẻ em bị cha, mẹ hoặc người nuôi dưỡng bỏ ở nơi công cộng, bệnh viện do sinh ra không theo ý muốn của cha mẹ, gia đình hoặc cha mẹ quá khó khăn không có khả năng nuôi dưỡng Trẻ em bị bỏ rơi thường không xác định được lý lịch, nhân thân…được các cơ quan, tổ chức xã hội hoặc cá nhân, gia đình nhận nuôi dưỡng chăm sóc…

1.1.1.2 Đặc điểm của trẻ em mồ côi

- Hoàn cảnh sống:

Về phía gia đình, từ trước tới nay, gia đình luôn giữ vai trò hàng đầu, là

yếu tố quyết định đối với việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, gia đình chính là nơi an toàn nhất cho trẻ em Tuy nhiên đối với trẻ em mồ côi không

Trang 15

có cha mẹ hoặc không có cha hay mẹ người còn lại không đủ năng lực nuôi dưỡng, hay cha mẹ bỏ rơi chính vì thế các em thiếu sự bảo vệ, chăm sóc, giáo dục rất quan trọng của cha mẹ, gia đình điều này làm cho trẻ không những khó khăn về vật chất mà còn cả về mặt tinh thần, tâm lý

Về phía xã hội, các yếu tố kinh tế như nghèo đói, chênh lệch về thu

nhập và sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường cũng làm cho các em trở nên dễ bị tổn thương hơn Các giá trị gia đình đang bị băng hoại và tình trạng phân biệt đối xử về giới cũng ảnh hưởng xấu tới trẻ em Các vấn đề bất cập mang tính hệ thống như thiếu một khung pháp lý toàn diện, việc thực thi pháp luật còn yếu và nhận thức về vấn đề bảo vệ trẻ em còn hạn chế cũng đe dọa ảnh hưởng tới trẻ em

- Đặc điểm tâm lý: Trẻ em nói chung và trẻ em mồ côi nói riêng đang

phải chịu những tác động mạnh mẽ bởi rất nhiều yếu tố tiêu cực của môi trường xung quanh, điều đó có thể dẫn đến những vấn đề nguy hại với tâm lý

và sự hình thành nhân cách của trẻ Trẻ em mồ côi là nhóm trẻ không được sống và lớn lên trong điều kiện bình thường như các trẻ em khác Các em phải trải qua, phải chịu đựng và phải đối phó với những biến cố đặc biệt xảy ra trong giai đoạn tuổi thơ của mình Những biến cố này tác động không nhỏ đến cuộc sống, tâm sinh lý và sự trưởng thành của các em, do đó các em có những đặc điểm tâm lý riêng mang tính đặc thù như:

Khó diễn tả cảm xúc bằng lời: Có thể do trẻ bị choáng ngợp bởi chính tâm trạng của mình và muốn đè nén những tâm trạng đó hoặc trẻ chưa bao giờ

được khuyến khích để tự nói về mình và không có đủ lời để diễn tả tâm trạng

Hoài nghi, thiếu tin tưởng và có đủ lý do để ngờ vực Những trường hợp các bậc cha mẹ bỏ mặc trẻ mà đi, hoặc bỏ rơi trẻ khi trẻ còn nhỏ dẫn đến trẻ thiếu tin tưởng vào người lớn

Mặc cảm có tội, tự trách mình: như mặc cảm với bạn bè cùng trang lứa vì không được như các bạn, không được bố mẹ đẻ của mình bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng như các bạn và luôn tự trách bản thân mình một cách vô cớ

Giận dữ và có ác cảm: Một số trẻ tức giận người lớn vì bị bạc đãi hoặc không được chăm sóc phù hợp hoặc có thể do các em cứ đinh ninh sẽ bị phê bình hoặc trừng phạt

Không nói thật: Vì trẻ ước mơ một hoàn cảnh khác, tránh né những vấn

đề đau thương, sợ bị hậu quả xấu, trẻ cố gắng muốn lấy lòng người lớn, cố ý

Trang 16

nói dối để tránh câu chuyện thật của bản thân, không muốn tiếp xúc với người khác

Một số tâm trạng thường gặp khác ở trẻ mồ côi đó là: Trẻ đau khổ, lo lắng hoặc sợ sệt có thể ngồi yên một chỗ suốt ngày, không ham thích một hoạt động nào, mất hết cả sinh lực Trẻ buồn, lo lắng thường khó tập trung tư tưởng, tuy nhiên, những trẻ mồ côi lại bám chặt lấy người lớn vì sợ sẽ bị bỏ rơi, có trẻ lại không muốn đem lòng thương mến ai Trẻ không phải lúc nào cũng có thể nói về tâm trạng của mình Trẻ có thể vì quá bối rối hoặc sợ hãi nên không xác định được tâm trạng của mình hoặc không biết nói như thế nào

để diễn tả tâm trạng

1.1.2 Khó khăn và nhu cầu của trẻ em mồ côi

1.1.2.1 Khó khăn

- Trong sinh hoạt

Đối với trẻ em cần đủ dinh dưỡng để phát triển thể chất, cần có những điều kiện sống, sinh hoạt đảm bảo vệ sinh, an toàn Nhưng trên thực tế trẻ em

mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi (trừ số ít các em được nuôi dưỡng trong các cơ sở xã hội) còn lại đa số các em sống trong những căn nhà không đảm bảo an toàn, không bảo đảm vệ sinh, đó là những nhà tạm, những túp lều tạm bợ ở khu ổ chuột, hay nhà tranh, vách nứa, mái lá đơn sơ gió rét, mưa dột, không có điện thắp sáng, vệ sinh môi trường không đảm bảo, thiếu nguồn nước sạch để sử dụng, nhà vệ sinh không sạch sẽ là nguy cơ lây lan bệnh cho trẻ vì trẻ sức đề kháng yếu rất dễ măc bệnh khi môi trường xung quang mất vệ sinh

- Khó khăn trong chăm sóc sức khoẻ

Điều 15, Luật BVCSGD trẻ em quy định: Trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khỏe Trẻ em dưới 6 tuổi được chăm sóc sức khỏe ban đầu, được khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập Điều 27 của Luật này cũng quy định: Cha mẹ, người giám hộ có trách nhiệm thực hiện những quy định về kiểm tra sức khỏe, tiêm chủng, khám chữa bệnh cho trẻ em

Nhưng trên thực tế trẻ em mồ côi do thiếu sự quan tâm, chăm sóc của gia đình, người thân, các cơ quan chức năng, các tổ chức xã hội cũng không thể quan tâm tới tất cả các em trong nhóm trẻ này nên có nhiều trẻ vẫn không tiếp cận được với các dịch vụ y tế mà đáng lẽ các em được hưởng (do không ý thức được tầm quan trọng của nó hoặc do không biết) như: Dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho trẻ em như khám chữa bệnh, tiêm chủng vắc xin, uống

Trang 17

vitamin A… rất quan trọng Những chương trình hỗ trợ của Nhà nước để trẻ

em mồ côi được chăm sóc sức khỏe y tế các em cũng không được biết đến

Ngoài những khó khăn về điều kiện chăm sóc sức khỏe thể chất, trẻ em

mồ côi còn có những khó khăn trong đời sống tinh thần Mặc dù việc chăm sóc sức khỏe tinh thần không quá tốn kém nhiều kinh phí, người chăm sóc chỉ cần yêu thương, quan tâm đến trẻ bằng chính những hành động thiết thực của mình như an ủi trẻ, trò chuyện với trẻ, thường xuyên hỏi thăm tình hình của trẻ, vui chơi cùng trẻ, khuyến khích trẻ trong cuộc sống… Nhưng trên thực tế một số trẻ không có được những mối quan tâm đơn giản như vậy do các em không có cha mẹ, hoặc cha mẹ mất sớm, bỏ rơi con cái… nên đời sống tinh thần của các em không được quan tâm đúng mức ảnh hưởng rất lớn về tâm lý đối với trẻ

- Khó khă trong vui chơi giải trí

Vui chơi giải trí không chỉ giúp trẻ giải tỏa căng thẳng trong học tập mà còn giúp trẻ học được nhiều điều trong cuộc sống như thích ứng xã hội, phát triển trí tưởng tượng, học cách giao lưu học hỏi người khác… Trẻ em mồ côi cũng là trẻ em và tất nhiên quyền vui chơi giải trí là cần thiết và quan trọng đối với sự phát triển của trẻ Vui chơi giải trí càng cần thiết để các em hòa nhập với bạn bè, giúp trẻ giảm bớt những thiệt thòi, mất mát, tự ti mặc cảm về số phận của mình

Ngày nay các trung tâm vui chơi giải trí mọc lên ngày càng nhiều, hình thức vui chơi ngày càng đa dạng phong phú Có những khu vui chơi bình dân,

có những khu vui chơi cao cấp, và đa phần khi tham gia vui chơi thì phải trả tiền, chỉ có một số ít khu vui chơi công cộng là không mất tiền Nếu không có những khu vui chơi cho trẻ em nghèo, những trẻ có hoàn cảnh khó khăn trong

đó có nhóm trẻ em mồ côi thì những đứa trẻ này chỉ có thể đứng từ xa mà nhìn những trẻ có điều kiện chơi mà thôi

Có thể nói, hoạt động vui chơi, giải trí của trẻ em mồ côi vẫn chưa được quan tâm đúng mực Trẻ không tiếp cận được các hình thức vui chơi, giải trí phù hợp để thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện nhân cách của các em

- Khó khăn trong học tập

Giáo dục đóng vai trò cực kì quan trọng đối với sự phát triển của trẻ, giúp cho trẻ có cơ hội để phát triển khả năng, trí tuệ Giáo dục định hướng giá trị cho trẻ, giúp trẻ tiếp nhân các tri thức khoa học, cũng như các chuẩn mực

xã hội Ngoài ra giáo dục cũng là môi trường mà ở đó trẻ có cơ hội giao tiếp,

Trang 18

hoà nhập hơn với cộng đồng xung quanh Theo Luật phổ cập giáo dục Việt Nam quy định: Các đối tượng trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được Nhà nước

và xã hội quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện cần thiết để đạt được trình độ tiểu học Tuy nhiên, với trẻ em mồ côi thì việc tiếp cận với cơ hội học tập gặp nhiều hạn chế do nhiều lý do khác nhau:

Do điều kiện kinh tế khó khăn nên phần lớn trẻ em mồ côi không nơi nương tựa không thể đến trường hoặc phải bỏ học giữa chừng Đa số các em

có trình độ học vấn thấp, các em không có cơ hội học tập nên gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt mà chủ yếu làm những công việc giản đơn, lao động chân tay nặng nhọc lương thấp Có một

số trẻ mồ côi thuộc đối tượng bảo trợ xã hội vẫn đang được đến trường Tuy nhiên, điều kiện học tập còn nhiều khó khăn như thiếu thốn nhiều về quần áo, sách vở và dụng cụ học tập, chưa kể đến trẻ không có không gian học tập tại nhà hay chưa được chăm sóc đủ sức khỏe để học tập

1.1.2.2 Nhu cầu: Trẻ em mồ côi cũng như các nhóm trẻ em khác đều

có các nhu cầu như các trẻ bình thường, nhưng để đáp ứng được các nhu cầu

đó thì nhóm trẻ em mồ côi luôn gặp khó khăn hơn, cụ thể các nhu cầu sau:

- Nhu cầu về sinh lý: Được ăn uống đủ chất, được mặc ấm, vệ sinh đảm

bảo cho sự phát triển về mặt thể chất của trẻ Đối với trẻ em mồ côi nhu cầu này chưa được đáp ứng ăn chưa đủ no, mặc chưa đủ ấm sống ở môi trường vệ sinh chưa đảm bảo

- Nhu cầu được an toàn: Được bảo vệ thân thể, được chăm sóc sức

khỏe, tinh thần cho trẻ Đối với trẻ em mồ côi thiếu sự bảo vệ và chăm sóc của cha mẹ nên rất dễ bị xâm hại về thân thể cũng như không được chăm sóc

về sức khỏe, tinh thần Do đó các em rất cần một môi trường an toàn và được bảo vệ chăm sóc để các em có điều kiện phát triển

- Nhu cầu xã hội: Được yêu thương, có một gia đình yên ấm, được giao

lưu quan hệ với bạn bè, được vui chơi giải trí, được hòa mình vào xã hội Đối với trẻ em mồ côi thì mái ấm gia đình có đầy đủ cha mẹ, anh chị em ruột luôn

là một khát khao của các em, các em không có điều kiện để vui chơi giải trí hòa nhập với bạn bè, xã hội đây là sự thiệt thòi rất lớn đối với các em

- Nhu cầu được tôn trọng: Được hỏi ý kiến, được tham gia ra quyết

định, trẻ luôn đòi hỏi nhu cầu này từ người lớn, ở bạn bè và ở cha mẹ sự tôn trọng này sẽ làm tăng sự tự tin, nghị lực của trẻ Nhưng đối với trẻ em mồ côi thì nhu cầu này rất khó được đáp ứng

Trang 19

- Nhu cầu tự thể hiện mình: Đây là nhu cầu cao nhất của trẻ là tự khẳng

định mình, chứng minh rằng mình có năng lực, mình có thể làm được mọi việc Đối với trẻ em mồ côi vì các điều kiện khó khăn, ít được hòa nhập, điều kiện phát triển về thể chất tinh thần không được đáp ứng, sự tôn trọng của xã hội đối với trẻ em mồ côi là rất ít, do đó các em rất khó có cơ hội để thể hiện mình

1.2 Khái quát công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồi côi

1.2.1 Khái niệm

1.2.1.1 Khái niệm công tác xã hội

Có nhiều cách tiếp cận với khái niệm CTXH, dưới đây là một số khái niệm cơ bản

Theo Liên đoàn CTXH chuyên nghiệp quốc tế (họp tại Canada năm 2004): CTXH là hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo sự thay đổi của xã hội bằng sự tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội (vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ xã hội) vào quá trình tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng CTXH giúp cho con người phát triển đầy đủ và hài hòa hơn, đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân

Theo hiệp hội CTXH quốc tế và các trường đào tạo CTXH quốc tế (2011) thống nhất một định nghĩa về CTXH như sau: CTXH là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy

sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của con người CTXH sử dụng các học thuyết

về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với môi trường

Theo Phillines một nước nằm trong khu vực châu Á cũng có quan điểm

về Công tác xã hội: Công tác xã hội là một nghề bao gồm các hoạt động cung cấp các dịch vụ nhằm thúc đẩy hay điều phối các mối quan hệ xã hội và sự điều chỉnh hòa hợp giữa cá nhân và môi trường xã hội để có xã hội tốt đẹp

Từ các khái niệm trên, có thể rút ra kết luận về khái niệm CTXH như sau: CTXH là một khoa học, là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu

Trang 20

cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội

1.2.1.2 Khái niệm công tác xã hội cá nhân

Có nhiều học giả, nhà khoa học trong nước và nước ngoài đưa ra nhiều khái niệm và định nghĩa về công tác xã hội cá nhân Trong luận văn này, khái niệm CTXH cá nhân được khái quát từ nhiều khái niệm khác nhau; cụ thể: CTXH cá nhân là phương pháp của CTXH thông qua tiến trình giúp đỡ khoa học và chuyên nghiệp, nhằm hỗ trợ cá nhân tăng cường năng lực tự giải quyết vấn đề của mình Trong tiến trình này NVXH cần biết vận dụng nền tảng kiến thức khoa học tâm lí học, xã hội học và các khoa học xã hội liên quan khác, đồng thời sử dụng kỹ năng tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, sát cánh cùng đối tượng hỗ trợ họ tự giải giải quyết vấn đề của bản thân và có khả năng vượt qua những vấn đề khác có thể xảy ra trong tương lai

1.2 Khái niệm công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi

CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi là phương pháp của CTXH thông qua tiến trình giúp đỡ khoa học và chuyên nghiệp, nhằm can thiệp, hỗ trợ trẻ

em mồ côi Đây là một quá trình có sự tham gia của trẻ và người nuôi dưỡng, giám hộ trẻ vào việc xác định vấn đề, lên kế hoạch giải quyết vấn đề và hỗ trợ trẻ thực hiện các kế hoạch đã đề ra để đạt được mục tiêu mong muốn, trong quá trình này nhân viên xã hội có nhiệm vụ tìm kiếm, kết nối và điều phối các dịch vụ hỗ trợ, giúp đỡ trẻ phát huy các nguồn lực bên trong ( như các nguồn lực về sức khỏe, thể chất, tâm lý, các quan hệ của trẻ) và có thể kết nối với bên ngoài (cộng đồng, các tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể cung cấp các dịch

vụ hỗ trợ cho trẻ em mồ côi, các chế độ chính sách hỗ trợ trẻ em mồ côi…) để đáp ứng tốt nhất cho các nhu cầu của trẻ về vật chất và tinh thần cũng như nhu cầu của người nuôi dưỡng có thể có các điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ được tốt nhất

1.2.2 Các nguyên tắc cơ bản trong công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi

- Tôn trọng, không phán xét: Chấp nhận thân chủ trong hoàn cảnh của

họ sẽ giúp nhân viên xã hội có được thái độ tôn trọng và tránh sự phán xét khi làm việc với thân chủ Điều này giúp thiết lập và tăng cường mối quan hệ giữa người trợ giúp và thân chủ Trên cơ sở đó sẽ thúc đẩy hiệu quả trợ giúp

Trang 21

- Đảm bảo bí mật: Là một trong những nguyên tắc trọng yếu trong hoạt

động trợ giúp con người, đặc biệt với trẻ em mồ côi Bảo mật các thông tin cá nhân của trẻ em mồ côi sẽ làm tăng sự tin cậy và tạo điều kiện cho việc thu thập thông tin cũng như các hoạt động can thiệp Việc bảo mật thông tin cần được tuân thủ tốt trong cả tiến trình, từ các thông tin qua chia sẻ nói chuyện với trẻ đến các giấy tờ hồ sơ liên quan đến cả tiến trình can thiệp Nhân viên CTXH cần lưu ý tới nguyên tắc bảo mật có điều kiện để đảm bảo việc thực hiện nguyên tắc của mình là vì lợi ích cao nhất cho trẻ Chẳng hạn, với các thông tin tiết lộ liên quan tới tính mạng của trẻ hoặc có tính đe dọa tới tính mạng của người khác từ trẻ thì cần được thông tin cho cá nhân, cơ quan có liên quan để kịp thời can thiệp

- Thúc đẩy và vận động xã hội tạo điều kiện để hỗ trợ trẻ giải quyết vấn

đề thông qua hệ thống cung cấp dịch vụ:

CTXH cá nhân là hoạt động trợ giúp những cá nhân, gia đình gặp phải những khó khăn cản trở họ tiếp cận các nguồn lực để có được một cuộc sống như những cá nhân bình thường khác Nhân viên CTXH thực hiện hoạt động trợ giúp này thông qua tìm kiếm các nguồn lực, điều phối việc cung cấp các dịch vụ và nguồn lực liên quan đến nhu cầu của trẻ Do vậy, thúc đẩy và vận động xã hội để có được hệ thống dịch vụ tốt hơn sẽ trợ giúp cho hoạt động

nghề nghiệp đạt hiệu quả hơn

- Thu hút sự tham gia của trẻ, gia đình, cộng đồng và các nhà cung cấp

dịch vụ vào tiến trình trợ giúp:

CTXH cá nhân là một phương pháp CTXH, do vậy, việc tuân thủ các phương pháp tiếp cận dựa trên các giá trị triết lý nghề nghiệp được đề cao Thu hút sự tham gia của cá nhân trẻ, gia đình trẻ, cộng đồng và các nhà cung cấp dịch vụ sẽ chứng tỏ được nền tảng triết lý của CTXH là: mỗi cá nhân đều

có sức mạnh họ ở trong hoàn cảnh nào; giữa các cá nhân, gia đình, cộng đồng

và xã hội luôn có mối quan hệ tương tác; cá nhân có trách nhiệm với gia đình

và cộng đồng, ngược lại, gia đình, cộng đồng và xã hội phải có trách nhiệm với mỗi cá nhân

- Cung cấp các dịch vụ trợ giúp thích hợp, liên tục, toàn diện và hiệu

quả:

Hiệu quả trợ giúp đối tượng chỉ đạt được khi nó được thực hiện dựa trên một kế hoạch khả thi, phù hợp với nhu cầu của trẻ Hoạt động trợ giúp các gói dịch vụ mang tính toàn diện cần được duy trì liên tục cho tới khi trẻ

Trang 22

“phục hồi”, có khả năng tự lực trong cuộc sống Ngoài ra, khi xây dựng kế hoạch can thiệp, nhân viên CTXH cần có trách nhiệm với cơ quan tổ chức khi lưu ý tới tính hiệu quả của dịch vụ để đảm bảo tiết kiệm tối đa chi phí nhưng phải đảm bảo chất lượng dịch vụ

- Nguyên tắc tự ý thức về bản thân của nhân viên CTXH

Trong khi thực thi nhiệm vụ, với tư cách là người đại diện của cơ quan

xã hội, nhân viên xã hội cần ý thức rằng vai trò của mình là hỗ trẻ giải quyết vấn đề của chính bản thân trẻ cũng như gia đình/người nuôi dưỡng trẻ là trách nhiệm của nhân viên xã hội Vì vậy, cần tránh lạm dụng quyền lực, vị trí công việc để mưu lợi cá nhân, đồng thời cũng cần phải ý thức được khả năng trình độ chuyên môn của bản thân có đáp ứng yêu cầu của công việc được giao (tức là cần nhận biết được trình độ kiến thức, kỹ năng chuyên môn của mình tới đâu) Khi gặp trường hợp quá phức tạp và vượt quá giới hạn khả năng cá nhân thì nhân viên xã hội phải biết chuyển giao trường hợp đang thụ

lý cho nhân viên xã hội khác có trình độ chuyên môn cũng như có điều kiện phù hợp hơn để giúp đỡ Tự nhận thức về bản thân là một trong những nguyên tắc không thể thiếu được đối với nhân viên CTXH Nó giúp biết giới hạn về quyền lực của mình và có ý thức hoàn thiện bản thân để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao phó Đồng thời việc nhận thức về bản thân còn đảm bảo cho lợi ích cũng như quyền lợi của thân chủ trong trường hợp vấn đề của trẻ vượt quá khả năng của mình trường hợp và cần chuyển tuyến Việc ý thức được yếu tố này giúp cho nhân viên xã hội trung thực trong công việc, trung thực với khả năng của bản thân mình

- Đảm bảo mối quan hệ nghề nghiệp

Nhân viên xã hội cần có phẩm chất đạo đức, tác phong nghề nghiệp, những hành vi thể hiện mối quan hệ nghề nghiệp như: tôn trọng quan điểm giá trị, nguyên tắc nghề nghiệp; không lợi dụng cương vị công tác của mình

để đòi hỏi sự hàm ơn của khách hàng, tuyệt đối không để có quan hệ nam nữ trong khi thực hiện sự trợ giúp Mối quan hệ giữa nhân viên CTXH với trẻ, người nuôi dưỡng trẻ cần đảm bảo tính thân thiện, tương tác hai chiều, song

Trang 23

khách quan và đảm bảo yêu cầu của chuyên môn Nguyên tắc này giúp cho nhân viên CTXH đảm bảo tính khách quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đảm bảo sự công bằng trong giúp đỡ

- Trao quyền cho đối tượng:

Trao quyền trong CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi là việc tôn trọng sự khác biệt của mỗi trẻ dành quyền tự quyết cho trẻ hoặc người chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Xây dựng kế hoạch dựa trên tiềm năng và lợi ích của mỗi trẻ, tạo cơ hội tham gia và tăng khả năng tự đáp ứng của trẻ Để làm tốt nguyên tắc này, nhân viên CTXH cần đảm bảo sự tham gia của họ trong cả tiến trình từ thu thập thông tin, đánh giá xác định nhu cầu, xây dựng kế hoạch

và triển khai thực hiện kế hoạch cũng như đánh giá dịch vụ Ngoài ra, nhân viên CTXH cần trang bị cho trẻ/người chăm sóc, nuôi dưỡng các kỹ năng điều phối dịch vụ và các kỹ năng phát triển khác, đặc biệt là khuyến khích họ trong việc tham gia tìm kiếm và huy động các nguồn lực của mình vào giải quyết vấn đề khó khăn của chính mình

1.2.3 Tiến trình công tác xã hội cá nhân

1.2.3.1 Thu thập thông tin và xác định vấn đề của đối tượng

Trước hết, nhân viên CTXH phải tiếp nhận thông tin về trẻ có thể từ những kênh thông tin khác nhau (gặp trực tiếp, thông qua cá nhân, tổ chức, đài báo…) Nhân viên CTXH phải bằng mọi cách khai thác những thông tin cần thiết từ trẻ hoặc người nuôi dưỡng trẻ hoặc người cung cấp thông tin và những người có liên quan khác để thu thập các thông tin của trẻ về: Tên, tuổi, giới tính, địa chỉ, số điện thoại liên hệ, thông tin người nuôi dưỡng/giám hộ, tình trạng sức khỏe, thể chất và tâm lý của trẻ, môi trường sống hiện tại của trẻ , đảm bảo thông tin tiếp nhận đủ để đánh giá về các vấn đề của trẻ đang gặp phải để đưa ra các biện pháp hỗ trợ kịp thời, đặc biệt trong tình huống cần

hỗ trợ khẩn cấp đảm bảo an toàn tính mạng của trẻ Để thực hiện nhiệm vụ này, nhân viên CTXH cần phối hợp với cán bộ, chính quyền địa phương, các ban ngành và đoàn thể có liên quan tiến hành tiếp cận trẻ và người nuôi dưỡng trẻ để thu thập thông tin nhằm có được những bằng chứng cụ thể liên quan đến vấn đề của trẻ gặp phải và đưa ra những nhận định, đánh giá

1.2.3.2 Đánh giá mức độ tổn thương và xác định nhu cầu hỗ trợ

Hoạt động đánh giá mức độ tổn thương được thực hiện khi đã có đầy

đủ thông tin về trẻ, thông tin về những yếu tố xung quanh có tác động đến trẻ

và vấn đề tâm sinh lý ở trẻ, từ đó nhân viên CTXH đưa ra những đánh giá về

Trang 24

mức độ tổn thương về các lĩnh vực như: thể chất, tinh thần, khả năng tự tìm kiếm sự hỗ trợ, nguy cơ tiếp tục bị tổn thương nếu không được can thiệp hỗ trợ và khả năng tiếp nhận sự hỗ trợ trên ba mức độ cao, trung bình và thấp Nếu đánh giá mức độ tổn thương về thể chất, tinh thần và nguy cơ tiếp tục bị tổn thương nếu không được can thiệp hỗ trợ ở mức độ là cao, đồng thời khả năng tự tìm kiếm sự hỗ trợ và khả năng tiếp nhận sự hỗ trợ ở mức độ là thấp thì trẻ đang trong tình trạng cần sự bảo vệ khẩn cấp Nếu ở các mức độ khác thì trẻ cần được sự trợ giúp của nhân viên CTXH để giải quyết khó khăn của mình gặp phải

Trên cơ sở thu thập thông tin về nhu cầu của trẻ/người nuôi dưỡng trẻ

và việc xác định mức độ tổn thương kết hợp với sự trao đổi, thống nhất về các nhu cầu cần hỗ trợ, giải quyết trên cơ sở các nguồn lực bên trong và các nguồn lực bên ngoài để đi đến thống nhất về các nhu cầu cần được hỗ trợ giải quyết Nhân viên CTXH phải có sự sắp xếp các nhu cầu đó theo mức độ ưu tiên, nhu cầu nào cần phải được giải quyết trước và nhu cầu nào là giải quyết sau Nhân viên CTXH đưa ra kết luận cụ thể về vấn đề và các nhu cầu ưu tiên của trẻ để làm cơ sở xây dựng kế hoạch phù hợp hoặc chuyển gửi nếu nhu cầu của đối tượng vượt quá khả năng đáp ứng

1.2.3.3 Xây dựng kế hoạch can thiệp hỗ trợ

Mục đích của việc xây dựng kế hoạch là hệ thống những công việc cần can thiệp; đồng thời sắp xếp công việc theo thứ tự ưu tiên trong một thời gian nhất định, đáp ứng đúng nhu cầu cấp thiết của trẻ Đôi khi nhiều hoạt động diễn ra trong cùng một lúc Do đó, sắp xếp thứ tự ưu tiên một cách khoa học sẽ tăng hiệu quả hoạt động, tránh trùng lặp, lộn xộn, lãng phí thời gian và khó theo dõi, giám sát Các bước trong xây dựng kế hoạch can thiệp:

- Xây dựng mục tiêu, xác định thời gian

Trong lập kế hoạch, mục tiêu phải đảm bảo 05 yếu tố: cụ thể (Ai, cái gì,

ở đâu?); Mục tiêu phải đo được mức độ thay đổi / chuyển đổi của trẻ; Mục tiêu phải đảm bảo tính khả khi và đảm bảo tính thực tế (Đáp ứng được đúng nhu cầu của trẻ); phản ánh được kết quả cần đạt được trong thời gian nhất định

- Xây dựng kế hoạch trợ giúp theo từng mốc thời gian

- Xác định nguồn lực hỗ trợ:

Là sự tham dự của các cá nhân, tổ chức có liên quan, của chính trẻ để giải quyết vấn đề; Cần xác định: Ai tham gia, mức độ tham gia, thời điểm

Trang 25

tham gia Việc tham gia giúp các cá nhân, tổ chức có liên quan xác định được những khó khăn, nhu cầu của trẻ Trên cơ sở đó có trách nhiệm lập kế hoạch

để đáp ứng nhu cầu của trẻ giúp kế hoạch có tính bền vững và khả thi cao

Xây dựng kế hoạch trên những thông tin thu thập được từ chính thân chủ và hiểu biết của nhân viên xã hội về các hệ thống hỗ trợ, hệ thống mục tiêu, kế hoạch phải mang tính bao quát ở các mức can thiệp khác nhau

1.2.3.4 Thực hiện kế hoạch

Đây là giai đoạn cần nhiều thời gian nhất trong toàn bộ tiến trình CTXH cá nhân Nhân viên CTXH nhận trách nhiệm chính trong triển khai và giám sát mọi hoạt động của kế hoạch, điều chỉnh kế hoạch

Sau khi có kế hoạch can thiệp, nhân viên CTXH thực hiện chức năng điều phối các nhiệm vụ đã được xây dựng và phân công rõ trách nhiệm của các bên tham gia Cùng với đó, nhân viên CTXH cần chú trọng vào việc thúc đẩy hoạt động khai thác và kết nối các nguồn lực của các bên tham gia để thực hiện kế hoạch có hiệu quả nhất Một mặt, nhân viên phải làm việc với trẻ/người nuôi dưỡng để cung cấp cho họ những kỹ năng để tự họ giải quyết các vấn đề của mình Mặt khác phải phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ để thực hiện cung cấp dịch vụ cho trẻ/người nuôi dưỡng theo đúng kế hoạch đề

ra Bên cạnh đó nhân viên phải thường xuyên giữ mối liên hệ giữa trẻ/người nuôi dưỡng và nhà cung cấp dịch vụ để đảm bảo kế hoạch thực hiện đúng tiến

độ và đáp ứng yêu cầu Trong bước này, nhân viên CTXH cần tổ chức các hoạt động giám sát và rà soát các công việc đang được triển khai Những phát hiện về chất lượng dịch vụ thông qua sự thỏa mãn hoặc chưa thỏa mãn các nhu cầu của trẻ/người nuôi dưỡng, nhắc nhở việc cung cấp dịch vụ chưa tốt hoặc đang có vấn đề Khi nhận thấy dịch vụ có vấn đề, nhân viên CTXH sẽ nhanh chóng rà soát lại trình tự của việc cung cấp dịch vụ, phát hiện ra những chỗ hạn chế để kịp thời điều chỉnh kế hoạch can thiệp cả về thời gian, người cung cấp dịch vụ hay các nguồn lực cung cấp dịch vụ

1.2.3.5 Theo dõi, giám sát

Ghi chép lại quả trình thực hiện, đánh dấu những điều làm được, những điều chưa làm được, những điều tiến bộ, những điều cản trở tiến trình phát triển

1.2.3.6 Lượng giá và kết thúc

Lượng giá được tiến hành trong suốt quá trình trợ giúp cho trẻ

Trang 26

Công việc lượng giá được nhân viên CTXH cùng với trẻ tiến hành nhằm rà soát lại các hoạt động và mục đích của các hoạt động theo từng giai đoạn hoặc kết thúc một ca

Việc lượng giá sẽ được ghi chép lại trong hồ sơ cá nhân nhằm giúp nhân viên CTXH và trẻ theo dõi được tiến trình làm việc, mức độ hiểu quả của từng giai đoạn, từng hoạt động và cả quá trình

Kết thúc là bước cuối cùng của tiến trình CTXH cá nhân, điểm mà chứng tỏ toàn bộ tiến trình đã được thực hiện Nhân viên xã hội và trẻ hoặc người nuôi dưỡng trẻ thấy rằng, họ đã đạt được mục đích mà tiến trình nhằm tới hoặc họ quyết định rằng không thể đạt được những mục đích ấy và không còn muốn tiếp tục nữa

Kết thúc cũng là lúc nhân viên xã hội đóng hồ sơ khi mà vấn đề của trẻ

đã được giải quyết; hoặc khi nhân viên xã hội chuyển giao hồ sơ của trẻ cho một nhân viên xã hội khác nếu vấn đề không được giải quyết; hoặc đóng hồ

sơ khi trẻ/người nuôi dưỡng không muốn tiếp tục vì thấy không hiệu quả

1.2.4 Vai trò của nhân viên công tác xã hội và những yêu cầu đối với nhân viên xã hội trong công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi

1.2.4.1 Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong công tác xã hội

cá nhân đối với trẻ em mồ côi: Để có thể giải quyết các vấn đề và nhu cầu của trẻ em mồ côi, nhân viên xã hội cần phải cùng lúc đảm nhiệm một số vai trò sau đây:

- Vai trò người giao tiếp: Nhân viên xã hội thiết lập mối quan hệ với

trẻ, người nuôi dưỡng trẻ, các nhà chuyên môn và cơ sở cung cấp dịch vụ thành một ê kíp chuyên nghiệp giải quyết vấn đề cho trẻ em mồ côi

- Vai trò người vận động nguồn lực: nhân viên xã hội được coi là người

trợ giúp trẻ em mồ côi tìm kiếm các nguồn lực về tài chính, kỹ thuật, thông tin, chính sách…để trợ giúp trẻ giải quyết vấn đề của bản thân

- Vai trò người kết nối, điều phối: Nhân viên xã hội là người am hiểu về

các thông tin liên quan đến chính sách, dịch vụ, tài chính, kỹ thuật… chính họ

là người giới thiệu và làm cho trẻ em hoặc người bảo hộ của trẻ em biết và

tiếp cận với các dịch vụ đó

Nhân viên Xã hội cần đánh giá phân tích nguồn lực của trẻ, người nuôi dưỡng và nguồn lực bên ngoài (các cơ quan, tổ chức, ban ngành trong cộng đồng); Tìm hiểu và điều phối nguồn lực bên ngoài sao cho nguồn lực đó đến

Trang 27

với trẻ kịp thời Khi các nguồn lực được nối kết, nhân viên xã hội cần điều phối, giám sát để các nguồn lực giúp đỡ trẻ không bị chồng chéo, gây lãng phí

- Vai trò người biện hộ: Nhân viên xã hội lúc này là người bảo vệ quyền

lợi cho trẻ em mồ côi để các em được hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi, đặc biệt trong trường hợp trẻ bị từ chối những dịch vụ và chính sách đáng lẽ ra họ được hưởng

- Vai trò người vận động/hoạt động xã hội: Nhân viên xã hội có vai trò là

người vận động xã hội tổ chức các hoạt động để bảo vệ quyền lợi cho trẻ em

- Vai trò người giáo dục: Nhân viên xã hội là người cung cấp kiến thức,

kỹ năng cho trẻ em mồ côi hoặc người giám hộ trẻ nhằm nâng cao năng lực tìm cách giải quyết vấn đề của chính bản thân trẻ

- Vai trò người tạo sự thay đổi: Vai trò là người tư vấn, người tham vấn

trợ giúp về tâm lý, kỹ năng, kiến thức… cho trẻ

- Một số vai trò khác: Vai trò người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế

hoạch; người chăm sóc, trợ giúp; Vai trò người xử lý dữ liệu; Vai trò là người quản lý hành chính; Vai trò là người tìm hiểu, khám phá cộng đồng…

1.2.4.2 Yêu cầu của nhân viên công tác xã hội

- Yêu cầu về đạo đức:

Công tác xã hội cá nhân là hoạt động chịu ảnh hưởng rất nhiều của mối quan hệ tương tác giữa con người với con người do vậy hoạt động của nghề nghiệp này mang tính chất khá phức tạp Chất lượng và hiệu quả của thực hành công tác xã hội cá nhân được quyết định bởi phần nhiều do mối quan hệ gắn kết trong quá trình giải quyết khó khăn giữa nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp với đối tượng Đặc biệt là khi thực hiện trợ giúp với trẻ em mồ côi trong việc giải quyết vấn đề khó khăn mà trẻ hoặc người chăm sóc, nuôi dưỡng gặp phải thì càng đòi hỏi phẩm chất đạo đức của nhân viên công tác xã hội khi thực hiện nhiệm vụ là nguyên tắc cơ bản để đảm bảo hiệu quả của nhiệm vụ Có thể kể tới những phẩm chất đạo đức sau đây cần có ở nhân viên công tác xã hội khi làm việc với trẻ em mồ côi:

Trước hết nhân viên công tác xã hội cần sự cảm thông và tình yêu thương trẻ, sự sẵn sàng giúp đỡ trẻ Chính vì vậy người ta cho rằng không phải ai cũng có thể làm việc được trong lĩnh vực này bởi không phải ai cũng

dễ dàng sống với quan điểm mình vì mọi người

Nhân viên công tác xã hội khi thực hiện tiến trình trợ giúp cần có niềm đam mê nghề nghiệp, sự cam kết với nghề nghiệp Nếu không có yếu tố phẩm

Trang 28

chất này họ sẽ dễ dàng từ bỏ nghề nghiệp bởi tính chất công việc trợ giúp, Trung thực là một yếu tố đạo đức quan trọng mà nhân viên công tác xã hội khi thực hiện nhiệm vụ cần có Đây là một phẩm chất nhân cách không thể thiếu được ở người tham gia vào hoạt động trợ giúp;

Thái độ cởi mở cũng được xem như một yếu tố nhân cách cần có đối với nhân viên công tác xã hội khi thực hiện nhiệm vụ bởi đó là yếu tố kiên quyết tạo nên niềm tin và sự chia sẻ từ phía trẻ và người chăm sóc, nuôi dưỡng đối với nhân viên CTXH

Nhân viên công tác xã hội khi thực hiện nhiệm vụ trợ giúp cần có tính kiên trì, nhẫn nại Trong hoạt động trợ giúp, không phải trường hợp nào cũng thành công Không ít trường hợp sự thất bại của trẻ hoặc người chăm sóc, nuôi dưỡng cũng bị xem như sự thất bại của chính nhân viên xã hội

Nhân viên công tác xã hội cần có lòng vị tha, sự rộng lượng Làm việc với những đối tượng là trẻ em mồ côi có hành vi lệch chuẩn nếu nhân viên xã hội không có sự độ lượng thì dễ có thành kiến làm xuất hiện cảm xúc tiêu cực trong quan hệ trợ giúp Điều này sẽ làm ảnh hưởng tới hiệu quả của quá trình giúp đỡ

Để đảm bảo cho sự thành công khi tiếp xúc, trợ giúp cho đối tượng là trẻ em mồ côi có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn thì nhân viên công tác xã hội cũng phải đảm bảo các nguyên tắc sau: Dùng tình cảm chân thành; không thương hại, né tránh; không khinh ghét, thị uy; tôn trọng tự do và nhu cầu của trẻ; chú ý điểm mạnh của trẻ; luôn luôn thành thật; không hứa những việc không thể thực hiện được; tuyệt đối không để trẻ mất lòng tin; động viên, khen ngợi khi trẻ thực hiện hành vi đúng đắn; khích lệ, gây hứng thú khi trẻ tham gia các hoạt động tích cực; thể hiện sự quan tâm

- Yêu cầu về kiến thức

Công tác xã hội cá nhân đòi hỏi nhân viên xã hội phải có kiến thức rộng

về tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội như: Y tế, giáo dục, tư pháp bởi đây là những yếu tố liên quan đến con người và nó có tác động trực tiếp đến con người, vì vậy nhân viên xã hội phải biết đến để thực hiện các hoạt động tư vấn, tham vấn, can thiệp hỗ trợ, trong trường hợp vấn đề đối tượng đòi hỏi phải có kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực nào đó thì nhân viên xã hội phải

có sự am hiểu để có thể kết nối đối tượng đến các địa chỉ chuyên môn

Trang 29

Trong CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi, nhân viên công tác xã hội khi thực hiện trợ giúp cần chú trọng đến những kiến thức sau:

Kiến thức về Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em, chú trọng đến các quyền của trẻ em được hưởng theo quy định, nghĩa vụ, trách nhiệm của trẻ em; Kiến thức về Luật con nuôi để từ đó nhân viên xã hội có những biện pháp tư vấn, can thiệp hỗ trợ

Kiến thức về đặc điểm tâm lý, xã hội của trẻ em nói chung và trẻ em

mồ côi nói riêng Kiến thức về các đặc điểm sinh lý từng lứa tuổi để nhân viên xã hội có thể hiểu và đưa ra các biện pháp hỗ trợ phù hợp

Kiến thức về hệ thống chính sách, chương trình dịch vụ hỗ trợ hiện có cho trẻ em mồ côi tại cộng đồng (bao gồm các chính sách bảo trợ xã hội, chính sách ưu tiên về dịch vụ về y tế, giáo dục, ….)

- Yêu cầu về kỹ năng

+ Kỹ năng Lắng nghe: Lắng nghe bằng tai, bằng mắt (quan sát tinh tế

những cử chỉ, điệu bộ, cảm xúc không lời), bằng trái tim, bằng lý trí (phân tích vấn đề) Thể hiện sự lắng nghe: gật đầu; hướng người về trẻ; phản hồi, nhắc lại những thông tin đã nghe được để trẻ hiểu mình đang được lắng nghe đồng thời xem mình có hiểu đúng ý trẻ không Nhân viên xã hội cần hạn chế

nói, chủ yếu gợi chuyện cho trẻ chia sẻ những vấn đề của mình

+ Kỹ năng thấu cảm: Cảm nhận và tôn trọng cảm xúc của trẻ Không

phản ứng trước quan điểm của trẻ Nhân viên xã hội cần chú ý đến cảm xúc

suy nghĩ bên trong của trẻ

+ Kỹ năng tóm lược: Khi trẻ đang trong tình trạng hốt hoảng, sợ hãi,

stress trẻ thường nghĩ gì nói đó, diễn đạt không mạch lạc, nói tràn lan không đi vào trọng tâm Nhân viên xã hội cần tóm lược lại những điều trẻ đã nói để giúp trẻ quay về trọng tâm của vấn đề đang bàn trong câu chuyện (Để tóm lược tốt cần phải nhớ các ý chính, tóm lược thật ngắn gọn bằng từ ngữ dễ

hiểu rõ ràng) Qua đó cũng giúp trẻ tự khám phá bản thân

+ Kỹ năng bảo mật thông tin: Giúp tăng cường sự tin tưởng giữa trẻ và

nhân viên xã hội Trên cơ sở đó, mối quan hệ tương tác sẽ được thúc đẩy, giải quyết vấn đề sẽ thuận tiện, hiệu quả Trường hợp không thể giữ bảo mật: khi vấn đề liên quan tới tính mạng, sự sống còn của trẻ hay một cá nhân nào đó, nhân viên xã hội cần thẳng thắn giải thích cho trẻ biết Nhấn mạnh việc tập trung vào sự thay đổi nhận thức vấn đề trẻ đang gặp phải, giúp trẻ suy nghĩ

Trang 30

vấn đề một cách tích cực để tự quyết định lựa chọn các giải pháp một cách

khôn ngoan nhất

Nguyên tắc thoả thuận giữ bảo mật cần được thông báo cho trẻ ngay lần làm việc đầu tiên và được thực hiện một cách nghiêm túc trong suốt quá trình trợ giúp

+ Kĩ năng huy động, điều phối nguồn lực: Giúp nhân viên xã hội tăng

các cơ hội lựa chọn trợ giúp cho trẻ Khi có nhiều nguồn lực, cơ hội tìm kiếm giải pháp tăng lên, quyết định giải quyết vấn đề của trẻ em được thực hiện một cách khách quan hơn Để huy động nguồn lực tốt, nhân viên xã hội cần phải hiểu biết, có uy tín trong cộng đồng Nguồn lực cộng đồng là tất cả những gì có thể giúp hỗ trợ giải quyết vấn đề của trẻ: cơ sở vật chất, con người, mối quan hệ, sự đồng thuận của các tổ chức đoàn thể địa phương… nhân viên xã hội cần biết sử dụng biểu đồ Venn để đánh giá về mối quan hệ các nguồn lực Từ đó khai thác tiềm năng vật chất, kĩ thuật chuyên môn và

điều phối các nguồn lực một cách phù hợp để trợ giúp cho trẻ hiệu quả nhất

+ Kỹ năng Lập kế hoạch: Muốn thực hiện có hiệu quả việc trợ giúp cho

thân chủ, thì phải có một kế hoạch trợ giúp phù hợp, đảm bảo tính khả thi Do

đó đòi hỏi NVXH phải có kiến thức kỹ năng chuyên sâu về CTXH để thực hiện

1.3 Một số lý thuyết ứng dụng trong công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi

1.3.1 Lý thuyết về nhu cầu con người của Maslow

Maslow là nhà khoa học nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con người vào những năm 1950 Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng, để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần

Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống các thứ bậc của nhu cầu

Theo Maslow, nhu cầu của con người được chia thành 5 thang bậc khác nhau từ thấp đến cao, phản ảnh mức độ cơ bản của nó đối với sự tồn tại và phát triển của con người, thể hiện qua tháp nhu cầu sau:

Trang 31

Biểu 1 Tháp nhu cầu của A Maslow

- Bậc thứ nhất (Nhu cầu sinh lý): Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì

cuộc sống của con người như nhu cầu ăn, uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục Đây là những nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thuỷ nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất Nếu thiếu những nhu cầu này con người sẽ không tồn tại được

Maslow cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn và những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối thúc, giục giã một người hành động khi nhu cầu cơ bản này chưa đạt được

- Bậc thứ hai (Nhu cầu về an toàn): Khi con người đã được đáp ứng cơ

bản về thể chất, tức là các nhu cầu này không còn điều khiển suy nghĩ và hành

Nhu cầu về xã hội

Gia đình yên ấm, các mối quan hệ bạn bè

Nhu cầu được tôn trọng

Thành tựu, địa vị, trách nhiệm

Nhu cầu tự thể hiện mình

Muốn sáng tạo, được công nhận

Nhu cầu về an toàn

An toàn: thân thể, việc làm, tinh thần, sức khỏe, tài sản

Nhu cầu về sinh lý

Hô hấp, thức ăn, nước uống, tình dục, nghỉ ngơi, bài tiết

Trang 32

động của họ nữa, khi đó các nhu cầu về an toàn, an ninh sẽ bắt đầu được kích hoạt Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai…

- Bậc thứ ba (Nhu cầu về xã hội): Con người là thành viên của xã hội

nên họ cần người khác thừa nhận Nhu cầu này bắt nguồn từ những tình cảm của con người đối với sự lo sợ bị cô độc, bị buồn chán Mong muốn được hòa nhập, lòng tin giữa con người với nhau

Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc tìm kiếm, kết bạn, tìm người yêu, lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào đó

- Bậc thứ tư (Nhu cầu được tôn trọng): Nội dung của nhu cầu này gồm

2 loại: lòng tự trọng và được người khác tôn trọng

Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng muốn giành được lòng tin, có năng lực, có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, tự tin, sự trưởng thành

Nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng giành được uy tín, được thừa nhận…tôn trọng là được người khác coi trọng, ngưỡng mộ Khi được người khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc được giao Do đó nhu cầu được người khác tôn trọng là điều không thể thiếu đối với mỗi con người

- Bậc thứ năm (Nhu cầu tự thể hiện mình): Đây chính là nhu cầu được

sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để làm việc, đạt các thành quả trong xã hội Maslow nói về nhu cầu này như sau: Đó chính

là việc tìm kiếm các cách thức mà năng lực, trí tuệ, khả năng của mình được phát huy và mình cảm thấy hài lòng về nó

Tâm lý học Maslow đã có những ảnh hưởng mạnh mẽ và đóng góp to lớn cho nền tâm lý học thế giới Thuyết nhu cầu của Maslow là thuyết đạt tới đỉnh cao trong việc nhận dạng các nhu cầu tự nhiên của con người nói chung,

có ảnh hưởng rất lớn đến các thuyết nhân cách khác

Vận dụng lý thuyết về nhu cầu con người của Maslow giúp tác giả luận văn có cơ sở khoa học khi xác định các nhu cầu của thân chủ và sắp xếp theo thứ tự ưu tiên; nhu cầu nào cần giải quyết trước, nhu cầu nào có thể giải quyết sau để đưa vào kế hoạch can thiệp, hỗ trợ; đáp ứng kịp thời các nhu cầu Theo tháp nhu cầu của Maslow thì có giải quyết được các nhu cầu cơ bản về thể

Trang 33

chất (ăn uống, mặc, ở ) trước thì mới có thể giải quyết được các nhu cầu tiếp theo

1.3.2 Lý thuyết về hệ thống sinh thái

Hệ thống sinh thái gồm hai ý tưởng: Môi trường sinh thái của cá nhân khi cá nhân đó đang cố gắng để thích nghi với môi trường xung quanh; hệ thống khi nhìn vào mối tương quan của những bộ phận khác nhau Ta phối hợp hai chữ này thành hệ thống sinh thái

Cá nhân gắn chặt với gia đình, gia đình với cộng đồng, có những cá nhân rất mạnh có thể lay chuyển cả một hệ thống lớn Hành vi con người rất phức tạp, không có một yếu tố nào duy nhất giải thích về hành vi con người Chúng ta phải cố gắng kết hợp các lý thuyết về cá nhân, gia đình, nhóm, xã hội và lý thuyết về thế giới để hiểu về con người theo hệ thống sinh thái

Gia đình có ranh giới, chúng ta cũng có ranh giới, bất cứ hệ thống nào cũng có ranh giới, chúng ta nghĩ đến sự tương tác trong hệ thống để hiểu con người ví dụ: Để hiểu một người bạn nào đó, chúng ta phải hiểu thế giới rộng hơn, phải hiểu gia đình người đó, nhóm bạn cùng làm việc, cộng đồng mà bạn

đó đang tương tác Hệ thống sinh thái của mỗi cá nhân đều độc đáo

Chúng ta suy nghĩ bằng hình ảnh hơn là trừu tượng, cách nhìn này sẽ

mở rộng tầm nhìn của chúng ta để hiểu sự việc

Trong một hệ thống, ta quan tâm đến tổng thể nhiều hơn sự cộng lại của các bộ phận Mọi hệ thống có nhiều bộ phận, gia đình là thành phần của cộng đồng

Vận dụng lý thuyết Hệ thống sinh thái trong luận văn này giúp em phân tích thấu đáo sự tương tác giữa và trong môi trường sống của trẻ và có thể đánh giá được những tác động này có ảnh hưởng như thế nào đến trẻ Lý thuyết Hệ thống chỉ ra được sự tác động mà các yếu tố tồn tại xung quanh trẻ tác động đến trẻ mà bản thân trẻ được xem như bị lôi cuốn vào sự tương tác liên tục với nhiều các yếu tố khác nhau trong môi trường sống của trẻ để từ đó các cấp các ngành, nhất là nhân viên xã hội tác động vào các mối tương tác này để can thiệp hỗ trợ và đó sẽ là điểm mấu chốt để giúp trẻ giải quyết vấn

đề khó khăn

1.3.3 Lý thuyết phát triển nhận thức (của Piaget)

Piaget giả thiết rằng phát triển nhận thức diễn ra theo bốn giai đoạn, mỗi giai đoạn được đặc trưng bởi một khả năng tổ chức và diễn giải thông tin độc nhất Tại mỗi giai đoạn mới những năng lực của các giai đoạn trước

Trang 34

không mất đi nhưng được hoà nhập vào những phương pháp suy nghĩ và hiểu biết mới về chất

Piaget chia phát triển trí tuệ thành bốn thời kỳ hoặc giai đoạn duy nhất Chúng thể hiện những thay đổi trong cấu trúc nhận biết ở trẻ Những gì đã đạt được trong các giai đoạn đầu là rất thiết yếu cho những gì đạt được trong các thời kỳ phát triển sau Tất cả các trẻ đều đi qua các giai đoạn theo cùng một trật tự mặc dù không nhất thiết vào cùng một tuổi

Trong hai năm đầu cuộc sống là thời kỳ giác quan vận động, trẻ chuyển tiếp từ dựa vào các phản xạ đến sử dụng các hình ảnh bên trong, vốn là nền tảng của tư duy trừu tượng Piaget đã chia thời kỳ này thành sáu đoạn nhỏ trong đó trẻ em thăm dò môi trường một cách tự nhiên để phát triển các khả năng như bắt chước bằng sự hình dung của trí tuệ các đối tượng không có mặt

Mốc phát triển quan trọng thời kỳ tiền thao tác là sự phát triển các chức năng biểu tượng, hoặc là khả năng sử dụng các biểu tượng như: từ ngữ, hình ảnh và động tác để thể hiện các vật và sự kiện Điều này có thể thấy trong sự phát triển nhanh chóng của ngôn ngữ trong trò chơi tưởng tượng và trong sự tăng cường của việc bắt chước Piaget đã chia giai đoạn này thành thời kỳ trước nhận biết (2-4 tuổi) và thời kỳ trực giác (4-7 tuổi)

Trong thời kỳ trực giác trẻ có khả năng sử dụng một vài hoạt động trí tuệ nhưng dường như chúng không biết về những nguyên lý được sử dụng bởi

vì chúng không thể giải thích được các nguyên lý đó Có thể hiểu được các hạn chế trong tư duy của trẻ qua các vấn đề liên quan đến sự sắp xếp theo thứ

tự liên tiếp, các liên quan của từng phần với toàn bộ và hoàn toàn

Piaget tin rằng có ba đặc điểm của tư duy tiền thao tác hạn chế tư duy của đứa trẻ Đặc điểm thứ nhất là tình trạng không thể đảo ngược được hoặc

là việc không có khả năng hiểu được tất cả các hoạt động lôgic là có thể đảo ngược được Đặc điểm thứ hai là xu hướng tập trung vào những tình trạng kết thúc của sự thay đổi hơn là vào quá trình biến đổi Sau cùng đặc điểm thứ ba

là tập trung hoặc tập trung chỉ riêng vào quy mô của một vấn đề

Trong thời kỳ thao tác cụ thể (7-11 tuổi) trẻ có khả năng sử dụng được hầu hết các thao tác trên các vật thể hoặc sử dụng các kinh nghiệm trong thế giới trước mắt chúng Điều này cho phép chúng làm phần lớn các nhiệm vụ

mà chúng không có khả năng làm trong giai đoạn trước đó bao gồm phân loại

và sắp xếp theo thứ tự liên tiếp

Trang 35

Trẻ trong thời kỳ các thao tác hình thức bắt đầu từ khoảng 12 tuổi) có khả năng sử dụng lý luận linh hoạt và trừu tượng có thể thử nghiệm các giả thuyết trí tuệ có khả năng xem xét nhiều khả năng để giải quyết một vấn đề

1.3.4 Lý thuyết dựa trên sức mạnh thân chủ

Quan điểm này được sử dụng trên nguyên tắc sau:

- Mọi cá nhân, nhóm, cộng đồng đều có sức mạnh Nhân viên xã hội phải giúp đỡ họ tìm thấy sức mạnh cá nhân họ trong mọi hoàn cảnh

- Nhân viên xã hội luôn nhấn mạnh đến những khả năng của thân chủ

- Thân chủ bị tổn thương, bệnh tật, hay lạm dụng Đó là những khó khăn nhưng cũng là cơ hội của thân chủ Nhân viên xã hội giúp thân chủ tìm

ra những khó khăn theo hướng tích cực

- Nhân viên xã hội cùng với thân chủ làm chứ không đứng yên chỉ đạo hay làm thay cho thân chủ

- Mỗi môi trường đều có nguồn lực NVXH phải biết sử dụng có hiệu quả nguồn lực đó

- Có niềm tin vào thân chủ: Trung tâm của thuyết sức mạnh là tin rằng thân chủ là người trung thực Sự xét đoán thân chủ là người không trung thực chính là vi phạm giá trị của CTXH

- Cần khám phá ra thân chủ muốn gì: Xem xét thân chủ muốn và mong đợi gì từ các dịch vụ xã hội

Vận dụng lý thuyết này, để tìm hiểu điểm mạnh của nhóm trẻ em mồ côi đang sống tại trung tâm là khách thể nghiên cứu của đề tài; từ đó việc tiếp cận và trợ giúp nhóm khách thể được dễ dàng hơn

1.4 Luật pháp, chính sách và các mô hình dịch vụ hỗ trợ trẻ em môi côi

1.4.1 Luật pháp Quốc tế:

- Công ước Quốc tế về quyền trẻ em: Theo Nghị quyết số: 44-25,

ngày 20/11/1989 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, có hiệu lực từ ngày 02/9/1990 Việt Nam phê chuẩn ngày 20/02/1990 Đã quy định các quyền dân

sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của trẻ em; Các quốc gia phê chuẩn công ước này chịu ràng buộc bởi các quy định của Công ước này theo luật Quốc tế

1.4.2 Luật pháp Việt Nam

- Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam: Tại khoản 1 Điều 37 đã ghi

nhận đầy đủ quyền của trẻ em : “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội

Trang 36

bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” Về quyền học tập, Điều

61 của Hiến pháp quy định rõ: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”; “Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục; chăm lo giáo dục mầm non; bảo đảm giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không thu học phí; từng bước phổ cập giáo dục trung học…”; “Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hóa và học nghề” Với quy định này, Hiến pháp 2013 là cơ sở pháp lý gốc quan trọng để cụ thể hóa quyền trẻ em trong các bộ luật, luật liên quan và xây dựng chính sách cho trẻ em, trẻ em mồ côi

- Luật Quốc tịch Việt Nam: Quy định quyền có quốc tịch của trẻ em:

Trẻ em tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam mà không rõ cha mẹ là ai thì có quốc tịch Việt Nam

- Luật trẻ em 2016 của Việt Nam: Được Quốc hội khóa 13 thông qua

ngày 5/4/2016 đã quy định đầy đủ 25 quyền của trẻ em và các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền của trẻ em Luật quy định rõ hơn về khái niệm trẻ em có HCĐB (khoản 10 Điều 4), quy định 14 nhóm trẻ em có HCĐB (bổ sung thêm một số nhóm đối tượng mà Luật BVCSGDTE 2004 còn sót chưa quy định) và giao Chính phủ có chính sách hỗ trợ phù hợp đối với từng nhóm trẻ em có HCĐB (Điều 10) Quy định tại các chương, điều về biện pháp bảo đảm thực hiện quyền trẻ em đều nhấn mạnh ưu tiên trẻ em có HCĐB Luật cũng quy định rõ ràng về kế hoạch hỗ trợ, can thiệp đối với trẻ em bị xâm hại, có HCĐB (Điều 52)

- Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004: Đã quy định rõ trách

nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thuộc về gia đình, trường học, các

cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân Đặc biệt, Luật khẳng định rằng cha mẹ và người giám hộ là những người đầu tiên chịu trách nhiệm chăm sóc và nuôi dạy các em Luật đã đưa ra định nghĩa về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và quy định 10 nhóm trẻ em có HCĐB (trong đó có nhóm trẻ

em mồ côi) cụ thể và dành hẳn một chương riêng về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có HCĐB (chương 4)

Trang 37

1.4.3 Chính sách trợ giúp trẻ em mồ côi

Chính sách của Đảng và Nhà nước đối với trẻ em nói chung và trẻ em

mồ côi nói riêng đã đổi mới về phương pháp tiếp cận, đi từ tiếp cận dựa trên truyền thống văn hóa và lòng nhân ái của dân tộc từ trước đổi mới đến tiếp cận dựa vào nhu cầu của trẻ em Từ năm 2005 trở lại đây, các chính sách trợ giúp được xây dựng từng bước tiếp cận dựa vào quyền con người và quyền trẻ

em

Chính sách bảo trợ xã hội và hỗ trợ nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em mồ côi:

Cho đến hiện nay, Chính phủ đã ban hành rất nhiều chính sách bảo trợ

xã hội dành cho đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cũng như dành cho trẻ em mồ côi nhằm hỗ trợ giải quyết những khó khăn về vật chất

mà các em gặp phải Gần đây nhất, Chính phủ ban hành Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 Quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội Chính sách này quy định rất rõ ràng về các đối tượng bảo trợ xã hội và rất chi tiết về các dạng vấn đề của trẻ mồ côi, theo đó, mức trợ cấp tối thiểu cho trẻ mồ côi là 270.000đ/tháng

Quyết định số 647/QĐ-TTg ngày 26 tháng 04 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ

em bị bỏ rơi, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ em khuyết tật nặng và trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai thảm họa dựa vào cộng đồng giai đoạn 2013-2020

- Chính sách hỗ trợ giáo dục:

Vấn đề học tập của trẻ em đặc biệt khó khăn đã được đề cập đến trong Luật phổ cập giáo dục tiểu học (1991) có qui định tại Điều 11: "Trẻ em là con liệt sĩ, thương binh nặng, trẻ em tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được nhà nước và xã hội quan tâm giúp đỡ tạo điều kiện cần thiết để đạt trình độ giáo dục tiểu học”

Ngày 24 tháng 3 năm 2005 Thủ Tướng Chính Phủ đã có Quyết định số 62/2005/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ thực hiện phổ cập giáo dục trung học

cơ sở, sau đó liên Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và Bộ Tài Chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có thông tư liên tịch số 22/2005/TTLT-LĐTBXH-TC-GD&ĐT hướng dẫn thực hiện Quyết định số 62/2005/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở trong đó đối tượng được hưởng bao gồm: Học sinh là con liệt sỹ; Học sinh là con thương binh,

Trang 38

con của bệnh binh và người hưởng chính sách như thương binh; Học sinh là người tàn tật; Học sinh mồ côi, học sinh dân tộc thiểu số; Học sinh thuộc diện hộ nghèo

- Chính sách về y tế, chỉnh hình phục hồi chức năng:

Để chăm sóc sức khoẻ cho những người nghèo, trẻ em hoàn cảnh đặc biệt Ngày 15 tháng 10 năm 2002 Thủ tướng Chính phủ lại ban hành Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg về việc khám, chữa bệnh cho người nghèo, trong đó người nghèo nói chung và trẻ em nghèo nói riêng được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, được quyền khám chữa bệnh tại các cơ sở không phải đóng tiền tạm ứng khi nhập viện Tiếp đó Chính phủ cũng có Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 ban hành kèm theo Điều lệ Bảo hiểm y tế, Liên Bộ Y tế-Tài chính ban hành Thông tư 21/2005/TTLT-BYT-BTC hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế bắt buộc, trong đó, xác định trẻ em nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng được cấp thẻ bảo hiểm y tế với mệnh giá như đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm y tế; quyền lợi khám chữa bệnh được mở rộng, nhất là trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS; đặc biệt, với chính sách miễn phí khám chữa bệnh cho toàn bộ trẻ em dưới 6 tuổi đã giúp cho nhóm trẻ em nghèo, trẻ em mồ côi tiếp cận với y tế ngày càng thuận lợi hơn và chất lượng cũng khá hơn Chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cũng được triển khai

- Chính sách hỗ trợ học nghề, tạo việc làm:

Bộ Tài chính và Uỷ ban Bảo vệ Chăm sóc trẻ em (trước đây) đã ban hành thông tư liên tịch số 69/TTLB ngày 04/10/1997 "Hướng dẫn nội dung và định mức chi của chương trình chăm sóc và bảo vệ trẻ em", bên cạnh đó cũng

có một số chính sách, chương trình khác hỗ trợ trẻ em mồ côi trong việc học nghề, tạo việc làm

1.4.4 Các mô hình dịch vụ trợ giúp

- Các Cơ sở Bảo trợ xã hội Công lập hoặc ngoài công lập: được thành

lập theo Nghị định 68/2008/NĐ –CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ, tain điều

5 của Nghị định quy định đối tượng được tiếp nhận vào nuôi dưỡng tại cơ sở Bảo trợ xã hội trong đó có nhóm trẻ em mồ côi

- Mô hình nhà xã hội: Là giải pháp chăm sóc dựa vào cộng đồng thay

thế cho việc chăm sóc trẻ tại trung tâm có quy mô lớn, đó là chuyển trẻ em đang sống trong các trung tâm quy mô lớn sang sống trong môi trường chăm

Trang 39

sóc gia đình quy mô nhỏ dựa vào cộng đồng do Ủy ban nhân dân cấp xã quản

lý, cử cán bộ kiêm nhiệm hoặc sử dụng tình nguyện viên quản lý Nhà xã hội

- Mô hình chăm sóc dựa vào cộng đồng: Chương trình quốc gia bảo

vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015 đã xây dựng và nhân rộng mô hình trợ giúp trẻ

em mồ côi, trẻ em khuyết tật, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em lang thang, lao động trẻ em, trẻ em bị xâm hại tình dục bao gồm cả trẻ em bị buôn bán, bắt cóc vì mục đích thương mại tình dục, trẻ em nghiện ma túy dựa vào cộng đồng

- Mô hình chăm sóc thay thế dành cho trẻ em mồ côi không nơi nương tựa: Chăm sóc bởi anh em họ hàng; người giám hộ; nhận con nuôi; nhận đỡ đầu; chăm sóc trong các cơ sở tập trung

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội cá nhân đối với trẻ

em mồi côi

1.5.1 Năng lực, trình độ của nhân viên xã hội

Yếu tố về trình độ chuyên môn của nhân viên xã hội: Trong CTXH cá nhân thì trình độ chuyên môn của nhân viên xã hội bao gồm: Trình độ học vấn, chuyên ngành đào tạo cung cấp những nền tảng về kiến thức lý thuyết để hiểu về nghề nghiệp, về đối tượng, khả năng phân tích, đánh giá, khả năng thuyết phục, tác động đến đối tượng có ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả và chất lượng của hoạt động trợ giúp

Các yếu tố Cá tính, sở thích và cảm xúc của nhân viên xã hội có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nghiệp vụ của họ, bởi NVXH sẽ phải tương tác nhiều với đối tượng của mình bằng các hoạt động tư vấn, tham vấn Vì vậy, nhân viên

xã hội dễ bị mang cái thuộc về cá nhân của mình để truyền đạt cho đối tượng của mình nhằm điều chỉnh nhận thức, hành vi của đối tượng

Yếu tố về gia đình của nhân viên xã hội: Mỗi người đều có gia đình, họ coi gia đình là chỗ dựa, đồng thời họ cũng có những trách nhiệm cần phải hoàn thành trong vai trò là người chồng, người vợ, người mẹ, Theo các nhân viên xã hội, gia đình có ảnh hưởng đến hoạt động của họ theo hai cách Thứ nhất: Khi gia đình hiểu, đồng thuận, chấp nhận cho công việc của họ thì sẽ tạo

ra cho họ rất nhiều thuận lợi để có thể chuyên tâm làm việc

Trang 40

1.5.2 Đặc điểm của đối tượng can thiệp, hỗ trợ

Trẻ em mồ côi, với các đặc điểm tâm lý như khó diễn tả bằng lời những khó khăn, trở ngại, những vấn đề mình đang gặp phải sẽ là một khó khăn không nhỏ đối với nhân viên xã hội khi thực hiện thu thập thông tin cũng như khi tư vấn, tham vấn Mặt khác, sự hoài nghi, thiếu tin tưởng vào người khác

và cũng có những trường hợp trẻ không nói thật thì đó là một rào cản đối với nhân viên xã hội Như vậy sự hợp tác, tiến bộ, tích cực của trẻ sẽ tạo ra hứng khởi, vui vẻ hơn cho nhân viên xã hội, ngược lại khi trẻ quậy phá, chây lười, tạo nên ở nhân viên xã hội những mệt mỏi, chán nản, bực bội

Ngoài những đặc điểm chung của trẻ mồ côi, mỗi trẻ em còn có những đặc điểm riêng về thể chất, tâm lý, hoàn cảnh gia đình…Với những trẻ có khí chất hướng ngoại, các em rất nhanh chóng hòa đồng với các trẻ khác còn những trẻ hướng nội, các em sống nội tâm, ít bộc lộ cảm xúc, sẽ khó khăn hơn cho nhân viên xã hội khi can thiệp, hỗ trợ Việc được trẻ và người thân của trẻ tin tưởng, gửi gắm cũng là một yếu tố khiến nhân viên xã hội ý thức tốt hơn

về vai trò và trách nhiệm của bản thân để từ đó họ cố gắng hơn trong công việc

1.5.3 Cơ sở vật chất và kinh phí hoạt động

Cơ sở vật chất là yếu tố rất quan trọng đối với trẻ em mồ côi, nhất là những trường hợp trẻ em bị bỏ rơi và trẻ em mồ côi cần sự bảo vệ khẩn cấp

Cơ sở vật chất ở đây cụ thể như: Nhà ở, các trang thiết bị y tế để thực hiện sơ cấp cứu ban đầu, xe chuyên dụng để kịp thời tiếp cận trẻ, quần áo, đồ ăn thức uống và các trang thiết bị khác của các Trung tâm Công tác xã hội hoặc các

cơ sở bảo trợ xã hội phải luôn sẵn sàng đề phục vụ công tác chăm sóc trợ giúp trẻ em mồ côi

Kinh phí hoạt động là một yếu tố mang tính quyết định đối với bất cứ một hoạt động nào Đối với công tác trợ giúp trẻ em mồ côi thì kinh phí được

sử dụng trong các hoạt động như mua sắm cơ sở vật chất để phục vụ cho hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng của các cơ sở bảo trợ và Công tác xã hội, kinh phí cho nhân viên thực hiện các hoạt động can thiệp hỗ trợ, tư vấn và kết nối tại cộng đồng và một số nhiệm vụ khác

1.5.4 Cơ chế chính sách và chế độ đãi ngộ đối với nhân viên xã hội

Đối với nhân viên xã hội những khó khăn mà họ gặp phải là môi trường làm việc của họ không ổn định, họ phải tiếp xúc với nhiều người như người

Ngày đăng: 06/06/2017, 16:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ LĐTBXH (2011) “ hệ thống các cơ sở Bảo trợ xã hội” NXB thông tin và truyền thông – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: hệ thống các cơ sở Bảo trợ xã hội
Nhà XB: NXB thông tin và truyền thông – Hà Nội
3. Bộ LĐTBXH “ Định hướng chính sách và hệ thống văn bản pháp luật trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt” (2009) NXB lao động – Xã hội 4. Chỉ thị số 38-CT/TW ngày 30/5/1994 của Ban Bí thư về tăng cườngcông tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng chính sách và hệ thống văn bản pháp luật trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Nhà XB: NXB lao động – Xã hội 4. Chỉ thị số 38-CT/TW ngày 30/5/1994 của Ban Bí thư về tăng cường công tác bảo vệ
8. Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ (2011), “Pháp luật về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em”, Đặc san tuyên truyền pháp luật, số 2/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em”
Tác giả: Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ
Năm: 2011
10. Bài viết: “Công tác xã hội với trẻ em thực trạng và giải pháp”, của TS. Nguyễn Hải Hữu Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Công tác xã hội với trẻ em thực trạng và giải pháp”
11. Đề tài “CTXH đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Nghệ An” (2015) của Th.s. Ngô Thị Hiền Sách, tạp chí
Tiêu đề: “CTXH đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Nghệ An
14. Bài viết “ Thực trạng các mô hình cung cấp dịch vụ xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam hiện nay” của PGS.TS Bùi Thị Xuân Mai Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Thực trạng các mô hình cung cấp dịch vụ xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam hiện nay
15. Báo cáo “tình hình trẻ em tại Việt Nam năm 2010” của UNICEF Sách, tạp chí
Tiêu đề: “tình hình trẻ em tại Việt Nam năm 2010
23. Phòng trẻ em – Sở Lao động thương binh và Xã hội, Báo cáo công tác trẻ em CHCĐB năm 2012 – 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác trẻ em CHCĐB
1. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2010), Chương trình quốc gia Bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 – 2015 Khác
5. Chỉ thị số 03/2000/CT-TTg ngày 24/01/2000 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, vui chơi giải trí cho trẻ em Khác
7. Hiến pháp 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khác
9. Tài liệu giảng dạy về công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em trong thời kỳ mới (2011) của trường cán bộ phụ nữ Trung ương Khác
12. Giáo trình nhập môn CTXH, TS. Bùi Thị Xuân Mai (2012), NXB Lao động – Hà Nội Khác
13. Giáo trình CTXH cá nhân và gia đình, TS. Bùi Thị Xuân Mai (2012), NXB Lao động – Xã hội Khác
16. MOLISA – ULSA – ÁI – AP – UNICEF (2012) Khóa đào tạo CTXH cho các nhà quản lý CTXH chủ đề CTXH với những cá nhân có nhu cầu đặc biệt, Hà Nội Khác
17. Hướng dẫn của Liên Hiệp quốc về Chăm sóc thay thế dành cho trẻ em, ngày 15/6/2009 Khác
18. Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Số: 25/2004/QH11, Ngày 15 tháng 06 năm 2004 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khác
20. Nghị định số 36/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật BVCSGD trẻ em Khác
22. Nghị định: 136/2013/NĐ-CP, ngày 21/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ Quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng Bảo trợ xã hội Khác
24. Trung tâm Bảo trợ và Công tác xã hội Ninh Bình , Đề án thành lập Trung tâm bảo trợ và Công tác xã hội Ninh Bình năm 2014 – 2015 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm