Vấn đề đặt ra là làm thế nào để các hoạt động trợ giúp TKT mang tính chuyên nghiệp, toàn diện, hiệu quả và đáp ứng được nhu cầu thực tiễn là lý do để tôi chọn đề tài: “Dịch vụ công tác x
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NHƯ QUỲNH
DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
VIỆT – HÀN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN KHẮC BÌNH
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Khắc Bình Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
HỌC VIÊN
Nguyễn Như Quỳnh
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI 9
ĐỐI VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT 9
1.1 Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu của trẻ khuyết tật 9
1.2 Lý luận về Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật 13
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật 23
1.4 Cơ sở pháp lý về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật 27
Chương 2: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VIỆT – HÀN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 31
2.1 Một số đặc điểm về địa bàn nghiên cứu 31
2.2 Thực trạng về trẻ khuyết tật tại Trung tâm phục hồi chức năng Việt – Hàn 36
2.3 Thực trạng hoạt động cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật tại Trung tâm 42
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật tại Trung tâm phục hồi chức năng Việt – Hàn, thành phố Hà Nội 55
2.5 Đánh giá dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng Việt – Hàn, thành phố Hà Nội 56
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VIỆT – HÀN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 65
3.1 Một số định hướng trong phát triển các dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật tại Trung tâm 65
3.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật tại Trung tâm 68
KẾT LUẬN 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Cơ sở hạ tầng của trung tâm 34 2.2 Thực trạng về số lượng, cơ cấu của TKT 36
2.4 DVCTXH đã cung cấp đối với TKT 42 2.5 Sự hài lòng về dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng đối với TKT 44 2.6 Sự hài lòng về dịch vụ y tế, PHCN đối với TKT 45 2.7 Sự hài lòng về dịch vụ giáo dục đối với TKT 48
2.8 Sự hài lòng về dịch vụ hướng nghiệp – dạy nghề đối với
Trang 6DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
2.1 Cơ cấu tổ chức, bộ máy của Trung tâm 35 2.1 Mức độ khuyết tật của trẻ 37 2.2 Sức khỏe, tinh thần của TKT 38
2.4 Mức độ nhu cầu của TKT 41
2.5 Mức độ hài lòng về dịch vụ hướng nghiệp – dạy
2.6 Mức độ hài lòng về dịch vụ văn hóa, văn nghệ, thể
thao và giải trí đối với TKT 54 2.7 Mức độ thực hiện các nguyên tắc đạo đức khi làm
việc với TKT của cán bộ Trung tâm 55
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bảo vệ trẻ em và sự phát triển của trẻ em luôn được coi là những ưu tiên hàng đầu của đất nước Việt Nam là một quốc gia đang hướng đến việc xây dựng một xã hội hòa nhập, bình đẳng và chấp nhận sự khác biệt nên trẻ khuyết tật (TKT) càng được quan tâm đặc biệt
TKT bị nhiều thiệt thòi hơn so với các bạn cùng lứa tuổi do chính khuyết tật mang lại, các em gặp rất nhiều khó khăn và phải trải nghiệm những trạng thái, cảm xúc không mong muốn trong cuộc sống sinh hoạt, học tập, lao động hay khi tham gia vào các hoạt động xã hội Nhưng cũng giống như những trẻ em khác, TKT vẫn
có thể học tập, phát huy tiềm năng để phát triển, giảm bớt gánh nặng cho gia đình
và xã hội nếu được quan tâm và hỗ trợ các dịch vụ phù hợp Do đó việc chăm lo, hỗ trợ cho TKT không chỉ có ý nghĩa nhân đạo, từ thiện mà còn là vấn đề mang tính chất kinh tế, xã hội và pháp lý
Trong những năm gần đây, sự nỗ lực của Chính phủ và các tổ chức xã hội đã đáp ứng phần nào nhu cầu được chăm sóc, giáo dục, phục hồi chức năng của TKT Tuy nhiên, việc cung cấp các dịch vụ công tác xã hội (DVCTXH) đối với TKT còn nhiều hạn chế, điều đó đã tạo ra khoảng cách khá lớn giữa nhu cầu của TKT và
những đáp ứng của xã hội Việc bảo đảm cho TKT tiếp cận các dịch vụ y tế, học văn
hoá, học nghề, vui chơi, giải trí, cung cấp thông tin còn gặp rất nhiều khó khăn và trở ngại; các tiện ích công cộng, đường giao thông đi lại còn thiếu hợp lý để người khuyết tật có thể sử dụng; thậm chí một số TKT ở ngay tại thành phố lớn còn chưa
được phát hiện cũng như tiếp cận các dịch vụ phù hợp
Hà Nội là thủ đô, trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, ngoại giao, trung tâm văn hóa lớn nhất của cả nước Đặc biệt, sau khi mở rộng địa giới hành chính,
Hà Nội không chỉ tăng quy mô dân số và diện tích Trong quá trình công nghiệp hóa, số lượng TKT có xu hướng ngày càng gia tăng thì việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho người khuyết tật nói chung và việc cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu của TKT nói riêng là mục tiêu quan trọng được thành phố đặc biệt quan tâm và có ý nghĩa sâu sắc nhằm góp phần đảm bảo an sinh xã hội của Thủ đô
Trang 8Trung tâm Phục hồi chức năng Việt – Hàn là một đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội với chức năng nuôi dưỡng, chăm sóc, điều trị, phục hồi chức năng (PHCN) và hướng nghiệp dạy nghề cho TKT trên địa bàn thành phố Hà Nội Trong thời gian qua, Trung tâm đã tiến hành các DVCTXH đối với TKT theo chức năng, nhiệm vụ song thực tế hiệu quả của hoạt động này chưa cao Vấn đề đặt ra là làm thế nào để các hoạt động trợ giúp TKT mang tính chuyên nghiệp, toàn diện, hiệu quả và đáp ứng được nhu cầu thực tiễn là
lý do để tôi chọn đề tài: “Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng Việt – Hàn, thành phố Hà Nội” làm đề tài nghiên
cứu luận văn thạc sỹ ngành công tác xã hội
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
2.1 Nghiên cứu của Quốc tế
- Sự tồn tại của một bộ phận không nhỏ TKT là thực tế khách quan ở tất cả các nước trên thế giới và ở mọi giai đoạn của lịch sử xã hội loài người Vấn đề chăm sóc, giáo dục cho TKT cũng đã được quan tâm trong các giai đoạn lịch sử đó Người đầu tiên lập ra một trường công để dạy các học sinh có khuyết tật là ông Charles Michea, tức linh mục De`L Epee (1700-1789) ở nước Pháp Năm 1760, ông
đã mở trường quốc gia dạy trẻ câm điếc Năm 1784, theo gương linh mục De` L Epee, ông Valentin Haiiy (1745-1822) bắt đầu dạy 12 trẻ em mù ở Paris và lập ra Trường quốc gia dạy các thiếu niên mù Cả hai trường này đều được thành lập phần lớn là nhờ vào sự ủng hộ của nhà vua, được sự bảo trợ của giới quý tộc và nhận các trường hợp trẻ điếc được giới tăng lữ chăm lo Trái với các gia sư cũng làm công việc này, các ông Epee và Haiiiy rất mong muốn chứng minh các phương pháp của mình và trao đổi kinh nghiệm với người khác Các ông đã viết sách báo giới thiệu công việc của mình làm và đã gây được ảnh hưởng tốt đối với nhiều nhà giáo và gia đình có TKT
- Hozumi Araki (2011),“Nghiên cứu những nhu cầu của các gia đình có trẻ khuyết tật tại các nước vùng Đông Á: Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam” trong
Báo cáo nghiên cứu Quốc tế về Phát triển chương trình giáo dục và chữa trị cho trẻ khuyết tật phát triển Trường Đại học Ritsumeican, Nhật Bản Nghiên cứu với mục
Trang 9đích xác định nhu cầu của trẻ khuyết tật phát triển và những khó khăn mà trẻ khuyết tật phát triển và gia đình của trẻ gặp phải trong quá trình sống nhằm tìm ra giải pháp
hỗ trợ tốt nhất từ phía xã hội [25]
2.2 Nghiên cứu của Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề TKT đã có nhiều nghiên cứu, văn bản của các bộ, ngành
và các cấp chính quyền Trong luận văn này, chúng tôi liệt kê và đánh giá về một số tài liệu đề cập đến lĩnh vực DVCTXH đối với TKT có liên quan mật thiết đến đề tài của chúng tôi như sau:
- “Báo cáo Quyền của trẻ em khuyết tật tại Việt Nam” của tác giả Eric
Rosenthal và Viện Quốc tế bảo vệ quyền người khuyết tật tâm thần thực hiện theo yêu cầu UNICEP Việt Nam năm 2009 Báo cáo đã nêu rõ những quyền của trẻ em khuyết tật Việt Nam đó là quyền được bảo vệ không bị phân biệt đối xử chỉ vì khuyết tật, quyền tiếp cận những khu vực công và dịch vụ công, quyền sống trong cộng đồng, quyền được gia đình bảo vệ, quyền được dịch vụ và đủ tiêu chuẩn cuộc sống, quyền được chăm sóc sức khỏe miễn phí và đặc biệt, quyền được giáo dục, quyền về danh tính, khai sinh và năng lực pháp lý [18]
- Quỹ Dân số Liên hợp quốc - UNFPA (2009), “Người khuyết tật ở Việt Nam” Tài liệu này nhằm đưa ra một bức tranh kinh tế - xã hội sơ bộ về NKT ở Việt
Nam dựa trên phân tích số liệu mẫu 15% của Tổng điều tra dân số 2009 với mục
tiêu là: Thứ nhất, đưa ra một bức tranh chung về tỷ lệ NKT ở Việt Nam; Thứ hai,
đưa ra một số đặc trưng nhân khẩu và kinh tế - xã hội cơ bản của NKT và so sánh
với các đặc trưng của nhóm người không khuyết tật; Thứ ba, đưa ra các gợi ý chính
sách có liên quan đến NKT dựa trên các kết quả phân tích [44]
- Hà Thị Thư (2012), Giáo trình trung cấp nghề “Công tác xã hội với người khuyết tật” Tác giả đã tổng hợp khung kiến thức cơ bản có ý nghĩa thiết thực trong
công tác trợ giúp NKT hòa nhập cộng đồng, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống như: những đặc điểm của người khuyết tật (NKT), vai trò và hướng tiếp cận,
kỹ năng, phương pháp tiếp cận trong CTXH với NKT cũng như các chính sách, pháp luật và dịch vụ hỗ trợ NKT [40]
Trang 10- Đỗ Thị Ngọc Phương, bài viết “Một số kinh nghiệm quốc tế và những vấn
đề đặt ra đối với việc phát triển các dịch vụ công tác xã hội trong công tác bảo vệ trẻ em” nêu rõ sự cần thiết của việc phát triển dịch vụ đối với công tác bảo vệ trẻ
em Thực tiễn hiện nay cho thấy một sự thiếu hụt nghiêm trọng các “dịch vụ mang tính liên tục về bảo vệ trẻ em” Mặc dù chúng ta đã có những mô hình mang tính
dịch vụ trong thực tế nhưng các dịch vụ chuyên biệt dành cho trẻ em có nguy cơ, trẻ
em bị bóc lột tình dục, trẻ em lao động, trẻ em lang thang…còn rất hạn chế Bài viết cũng nêu rõ kinh nghiệm một số nước về hoạt động cung cấp DVCTXH, thông qua đó cũng chỉ ra được một cách rõ ràng những điểm yếu, thiếu, kém hiệu quả giúp cho người quản lý thuận lợi trong việc rút kinh nghiệm về các hoa ̣t đô ̣ng BVCSTE hiê ̣u quả hơn [38]
- Ban điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam – NCCD (2010)
công bố báo cáo về “Hoạt động hỗ trợ Người khuyết tật Việt Nam” Báo cáo đã
điểm lại những hoạt động trong lĩnh vực NKT như thực trạng NKT; hệ thống luật pháp về NKT tại Việt Nam; tình hình thực hiện chính sách đối với NKT tại Việt Nam về nâng cao nhận thức, chăm sóc sức khỏe, giáo dục cho trẻ em khuyết tật, dạy nghề và việc làm, trợ giúp xã hội, giảm nghèo, tiếp cận giao thông, tiếp cận thông tin, văn hóa…từ đó đúc rút những bài học kinh nghiệm từ thực tế hoạt động và định hướng các hoạt động những năm tiếp theo Báo cáo được xây dựng trên cơ sở tổng hợp báo cáo của thành viên NCCD, các địa phương, ý kiến của NKT và kết quả hoạt động Đề án “Hỗ trợ người tàn tật giai đoạn 2006 - 2010” [3]
- Trong cuốn sách “Công tác xã hội với người khuyết tật” của tác giả Nguyễn
Thị Kim Hoa chủ biên, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội phát hành cũng đề cập đến những nội dung chính: tổng quan về NKT, trải nghiệm khuyết tật và các kỹ năng thực hành CTXH [21]
- Cuốn “Giáo trình cao đẳng nghề công tác xã hội với trẻ em và gia đình” của
Vũ Thị Kim Dung và Nguyễn Hiệp Thương đồng chủ biên, nhà xuất bản Lao động – Xã hội phát hành đề cập những định hướng, chỉ đạo hoạt động thực tiễn CTXH, cung cấp hệ thống lý thuyết, kiến thức và kỹ năng làm việc nhằm trang bị cơ sở nền
Trang 11tảng về lý luận và phương pháp, phương tiện, kỹ năng thực hành cho nhân viên CTXH trong lĩnh vực hoạt động CTXH với trẻ em và gia đình [11];
- Tài liệu “Công tác xã hội với những cá nhân có nhu cầu đặc biệt” của khóa
đào tạo CTXH cho các nhà quản lý cấp cao (CSWA), thuộc Dự án đào tạo CTXH tại Việt Nam do các tổ chức MOLISA - ULSA - CFSI- ASI - AP – UNICEF 2012 phối hợp tổ chức do nhà xuất bản Văn hóa Thông tin phát hành năm 2014 Cuốn tài liệu này có đề cập chung đến các vấn đề CTXH với các cá nhân có nhu cầu đặc biệt như: trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người khuyết tật, người có HIV, người cao tuổi, người mại dâm, người nghiện ma túy, người nghèo CTXH với chăm sóc sức khỏe tâm thần [16];
- Luận văn “Công tác xã hội với gia đình trẻ khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng Việt – Hàn, thành phố Hà Nội” của tác giả Hồ Quỳnh Ngọc
đã đề cập đến thực trạng, nhu cầu của gia đình, sự tham gia của gia đình vào các giai đoạn quản lý ca tại trung tâm tuy nhiên tác giả vẫn chưa đi vào vấn đề nhu cầu
và các dịch vụ cung cấp cho chính đối tượng TKT tại trung tâm [36]
Tất cả các công trình nghiên cứu trên đều nghiên cứu về TKT và DVCTXH Tuy nhiên các nghiên cứu đó chỉ dừng lại ở mức nêu lên quyền của TKT, đánh giá thực thực trạng DVCTXH nói chung, cơ sở lý luận và thực hành công tác xã hội đối với người khuyết tật, về các chính sách của nhà nước đối với người khuyết tật, chưa
có đề tài nào nghiên cứu sâu về các DVCTXH cho TKT Vấn đề DVCTXH đối với TKT từ thực tiễn Trung tâm PHCN Việt - Hàn, thành phố Hà Nội chưa có nghiên cứu nào đề cập đến Vậy nên nghiên cứu ứng dụng về CTXH nhằm nâng cao hiệu quả dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của TKT Trung tâm PHCN Việt – Hàn là hoàn toàn không bị trùng lặp và rất cần thiết
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận về DVCTXH đối với TKT, chỉ ra thực trạng DVCTXH đối với TKT tại Trung tâm PHCN Việt – Hàn, thành phố Hà Nội hiện nay Từ đó đề xuất một số khuyến nghị,
Trang 12giải pháp nâng cao chất lượng DVCTXH đối với TKT tại Trung tâm PHCN Việt – Hàn, thành phố Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục đích nghiên cứu đề ra, luận văn thực hiện các nhiệm
vụ chủ yếu sau:
Một là: nghiên cứu cơ sở lý luận về DVCTXH đối với TKT
Hai là: tìm hiểu, đánh giá thực trạng DVCTXH đối với TKT tại Trung tâm
PHCN Việt – Hàn, thành phố Hà Nội Các yếu tố ảnh hưởng đến việc cung cấp DVCTXH đối với TKT tại đây
Ba là: đưa ra được một số định hướng và các giải pháp cơ bản để nâng cao chất
lượng DVCTXH đối với TKT tại Trung tâm PHCN Việt – Hàn, thành phố Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loại hình DVCTXH đối với TKT tại Trung tâm PHCN Việt – Hàn, thành phố Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Địa bàn: nghiên cứu được tiến hành tại Trung tâm PHCN Việt – Hàn, thành
phố Hà Nội
- Thời gian: từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 3 năm 2017
- Phạm vi đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu các DVCTXH
đối với TKT đó là: dịch vụ can thiệp sớm, dịch vụ chăm sóc - nuôi dưỡng; dịch vụ giáo dục; dịch vụ hướng nghiệp - dạy nghề; dịch vụ y tế PHCN; dịch vụ hỗ trợ tâm
lý - xã hội; dịch vụ trợ giúp pháp lý và dịch vụ văn hóa, văn nghệ, thể thao, giải trí cho TKT
4.3 Khách thể nghiên cứu
- 105 gia đình TKT tại Trung tâm PHCN Việt – Hàn
- 42 cán bộ, nhân viên đang cung cấp DVCTXH đối với TKT tại trung tâm
Trang 135 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Trong đó, phương pháp luận duy vật biện chứng để xem xét các dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật trong mối quan hệ với các yếu tố môi trường và hệ thống xung quanh, đặt vấn đề trong một tổng thể Đặc biệt nghiên cứu, thu thập, xử lý, khái quát hóa những thông tin, những nghiên cứu thuộc các vấn đề liên quan đến đề tài từ đó phân tích, tổng hợp nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu:
“Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng Việt – Hàn, thành phố Hà Nội”
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng của DVCTXH hỗ trợ cho TKT tại Trung tâm PHCN Việt - Hàn, thành phố Hà Nội đã đáp ứng với nhu cầu thực tế hay chưa? Nhu cầu của TKT gồm những gì? Những yếu tố tác động đến việc cung cấp DVCTXH tại trung tâm, nghiên cứu sử dụng các phương pháp sau đây:
Phương pháp phân tích tài liệu: phân tích những văn bản quy định pháp luật,
báo cáo, những công trình nghiên cứu có liên quan tới vấn đề giáo dục hòa nhập, phục hồi chức năng, can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật và các tài liệu có liên quan đến CTXH đặc biệt đối với TKT để thu thập và phân tích, đánh giá về các tài liệu liên quan đến các nội dung của đề tài nghiên cứu
Phương pháp phỏng vấn sâu: tác giả xây dựng mẫu phiếu phỏng vấn sâu dành
cho Ban giám đốc Trung tâm nhằm thu thập các thông tin từ người cung cấp dịch vụ
và những người hỗ trợ trẻ về khả năng đáp ứng cũng như tính hiệu quả của các dịch
vụ, hoạt động trợ giúp cho TKT Đồng thời cũng nhằm kiểm tra lại mức độ tin cậy của các thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu thu thập qua điều tra, quan sát
Phương pháp quan sát: quan sát qua các hoạt động thường ngày Song song
với quá trình điều tra bằng bảng hỏi, các thông tin thu thập được trong quá trình quan sát sẽ làm cơ sở bổ sung cho các thông tin liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Tác giả xây dựng bộ câu hỏi điều tra
thực trạng với các dạng câu hỏi đóng và câu hỏi mở để điều tra đối với 42 cán bộ Trung tâm và 105 gia đình có con đang PHCN tại Trung tâm nhằm khảo sát về thực
Trang 14trạng DVCTXH đối với TKT tại Trung tâm hiện nay, cũng như là những nhu cầu của TKT cần được Trung tâm đáp ứng
Phương pháp đàm thoại: Thông qua các cuộc trò chuyện trực tiếp với trẻ, gia
đình và cán bộ nhân viên Trung tâm để khai thác thông tin, xử lý và phân tích các thông tin phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài
Phương pháp thống kê toán học (xử lý số liệu): dùng các phương pháp toán
thống kê để tính toán, xử lý số liệu thu được
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Dưới góc độ tiếp cận của các lý thuyết, phương pháp công tác xã hội, nghiên cứu góp phần thay đổi nhận thức của cán bộ nhân viên đang cung cấp các DVCTXH tại các cơ sở BTXH, các trung tâm, cơ quan quản lý Nghiên cứu giúp họ nhận thức đúng về hoạt động công tác xã hội chuyên nghiệp, ý thức được vai trò của mình trong các hoạt động đó Đó là nhân tố quyết định chất lượng các DVCTXH đối với TKT
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung chính gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về DVCTXH đối với TKT
Chương 2: Thực trạng DVCTXH đối với TKT từ thực tiễn Trung tâm PHCN Việt – Hàn, thành phố Hà Nội
Chương 3: Đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng DVCTXH đối với TKT tại Trung tâm
Trang 15Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT 1.1 Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu của trẻ khuyết tật
1.1.1 Khái niệm trẻ khuyết tật
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): “TKT là những trẻ có thiếu hụt cấu trúc
cơ thể hoặc suy giảm các chức năng dẫn đến những hạn chế nhất định trong hoạt động của cá nhân và gặp khó khăn, trở ngại (do môi trường sống đem lại) trong việc tham gia đầy đủ và có hiệu quả mọi hoạt động trong xã hội - cộng đồng” [13]
Theo Tổ chức Unicef: “TKT là những trẻ từ 0 – 18 tuổi, không kể những
nguyên nhân của khuyết tật, thiếu một hoặc hơn các bộ phận hoặc các chức năng cơ thể khiến giảm khả năng hành động và gây khó khăn trong công việc, cuộc sống và học tập” [18]
Theo quan điểm giáo dục: TKT là nhóm trẻ bị khiếm khuyết một hay nhiều
bộ phận cơ thể, giác quan (thể chất) hoặc chức năng (tinh thần), biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau, làm suy giảm khả năng lao động khiến cho trẻ gặp nhiều khó khăn trong lao động, sinh hoạt, học tập, vui chơi [22]
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm TKT như sau: TKT là những trẻ từ 0 – 18 tuổi, bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho sinh hoạt, học tập, vui chơi và lao động gặp khó khăn
1.1.2 Phân loại khuyết tật
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã phân loại khuyết tật thành 08 dạng khuyết tật như: (1) khó khăn về vận động; (2) khó khăn về nhìn; (3) khó khăn về nghe – nói; (4) khó khăn về học; (5) hành vi xa lạ, khác thường; (6) động kinh; (7) mất cảm giác; (8) đa tật [22]
Theo cách phân loại theo Hội đồng giáo dục Hoa kỳ (Luật IDEA năm 1997), khuyết tật được phân thành 13 dạng khuyết tật bao gồm: (1) tự kỷ, (2) điếc mù, (3) điếc, (4) rối loạn cảm xúc, (5) khiếm thính, (6) chậm phát triển trí tuệ, (7) đa tật, (8)
Trang 16khuyết tật thể chất, (9) khuyết tật sức khoẻ, (10) khó khăn về học, (11) khuyết tật ngôn ngữ, (12) tổn thương não, (13) khiếm thị [13]
Ở Việt Nam, theo Luật Người khuyết tật năm 2010, khuyết tật được phân thành 06 dạng khuyết tật như sau: (1) Khuyết tật vận động, (2) Khuyết tật nghe, nói, (3) Khuyết tật nhìn, (4) Khuyết tật thần kinh, tâm thần, (5) Khuyết tật trí tuệ, (6) Khuyết tật khác [40]
1.1.3 Mức độ khuyết tật
Theo điều 3 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ, về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật, có 3 mức độ khuyết tật:
Một là, khuyết tật đặc biệt nặng: những trẻ do khuyết tật dẫn đến mất hoàn
toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn
Hai là, khuyết tật nặng: bao gồm những trẻ do khuyết tật dẫn đến mất một
phần hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc
Ba là, khuyết tật nhẹ: gồm những TKT không thuộc các trường hợp được
quy định tại hai mức độ trên [10]
1.1.4 Đặc điểm tâm, sinh lý của trẻ khuyết tật
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong xã hội bao giờ cũng tồn tại một bộ phận những người khuyết tật Theo tổ chức Y tế thế giới, số người khuyết tật chiếm khoảng 10% dân số, trong đó có 1/3 là trẻ em Ở Việt Nam, theo thống kê chưa đầy
đủ, có khoảng gần 1 triệu trẻ thuộc các dạng khuyết tật khác nhau Như vậy, sự tồn tại của TKT là một thực tế khách quan [20]
Có thể nhận thấy mỗi TKT là một bức tranh điển hình hết sức đa dạng, phong phú về sự phát triển nhận thức, tình cảm, hành vi trong nhân cách Chúng có khả năng, nhu cầu và sở thích riêng, có cách thể hiện riêng
Trang 17Về khả năng phát triển: theo quan điểm của Tật học hiện đại thì TKT không
phải ít phát triển hơn sơ với trẻ bình thường mà chúng phát triển theo một chiều hướng khác Với những hình thức, tốc độ và mức độ khác nhau, tất cả mọi TKT đều
có khả năng nhận thức Bên cạnh đó, khuyết tật thường có cơ chế bù trừ (đặc biệt là
ở hoạt động của các giác quan), trừ khuyết tật nặng và rất nặng [20]
Về tâm lý: do những khiếm khuyết về chức năng và cơ thể, TKT thường có
tâm lý xấu hổ, mặc cảm, tự ti, dễ bị tổn thương, dễ bị kích động, hay tự ái và khó kiểm soát phản ứng Một số trẻ có ý chí, nghị lực cao, đặc biệt là trẻ bị khuyết tật vận động Một số trẻ có trẻ có tâm lý thái quá, ỉ nại khi được chăm sóc nuông chiều,
có trẻ có cảm giác bị bỏ rơi khi sống trong các gia đình có hoàn cảnh khó khăn
Về ngôn ngữ giao tiếp: TKT gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp và khó thích
ứng với môi trường xung quanh nhưng rất cởi mở, dễ gần và thích được giao tiếp, được vui chơi Khi được tham gia vào các hoạt động trong môi trường hòa nhập tại cộng đồng, xã hội, nhà trường và gia đình thì TKT mới có cơ hội được bộc lộ, thể hiện một cách đầy đủ và rõ nét nhất khả năng và nhu cầu của mình Đồng thời, đó cũng là cách giảm thiểu được những ảnh hưởng bất lợi của khuyết tật đối với các chức năng hoạt động cơ thể khác và không làm xuất hiện "khuyết tật thứ hai” ở trẻ
Nói chung, TKT cũng có những nhu cầu cơ bản và khả năng nhất định tuy ở những mức độ khác nhau so với trẻ em bình thường Tuy nhiên với TKT cần những lưu ý, nhu cầu đặc biệt riêng và những nhu cầu đặc biệt này liên quan đến những hạn chế trong phát triển của mỗi trẻ và những dạng khuyết tật mà trẻ không may mắc phải Việc hiểu rõ đặc điểm tâm lý và bản sắc của TKT là rất quan trọng để cung cấp các DVCTXH phù hợp trong việc hỗ trợ, trợ giúp giải quyết các vấn đề của trẻ, giúp trẻ thích ứng và tự tin hòa nhập xã hội
1.1.5 Đặc điểm nhu cầu của trẻ khuyết tật
TKT cũng có tất cả những nhu cầu như trẻ bình thường (Bậc thang nhu cầu của Maslow) nhưng do ảnh hưởng của khuyết tật, đặc điểm về thể chất và tâm lý
nên TKT có những nhu cầu đặc trưng sau đây [13]:
- Nhu cầu về sinh lý, thể chất: hầu hết những TKT do bởi ảnh hưởng của khuyết tật nên rất cần được giúp đỡ về vật chất để tồn tại và sinh sống, đặc biệt
Trang 18những TKT vận động, bại não hay TKT ở mức độ đặc biệt nặng cần cả những sự giúp đỡ đặc biệt khi ăn uống và các hoạt động sinh hoạt bình thường
- Nhu cầu đảm bảo an toàn của TKT về mặt tinh thần đang là một thách thức rất lớn Hầu hết các em đều phải trải qua những trạng thái tâm lý lo lắng, bất an trong cuộc sống bởi có nhiều vấn đề gây ra sự không an toàn của họ TKT có nhu cầu đảm bảo an toàn về vật chất trong cuộc sống như nơi học tập, làm việc, sinh hoạt và đặc biệt khi tham gia giao thông công cộng, như TKT vận động ngồi xe lăn khi đường cần có đường dành riêng cho xe lăn, trẻ khiếm thị qua đường cần có đèn
và chuông báo hiệu xin đường
- Nhu cầu xã hội, tình cảm: TKT do sự tự ti, mặc cảm; do sự kỳ thị của mọi người xung quanh nên có nhu cầu rất mạnh mẽ là nhận được sự yêu thương, gắn bó chia sẻ và nhìn nhận một cách tích cực của mọi người, được mọi người công nhận một cách bình đẳng như những trẻ em khác trong xã hội
- Nhu cầu tự trọng và được người khác tôn trọng: nhiều TKT có lòng tự trọng cao, thậm chí một số trẻ còn ở mức độ thái quá Tuy nhiên, một số người cũng không nhận ra giá trị và khả năng của chính mình nên không đánh giá đúng vai trò của mình đối với các mối quan hệ trong xã hội Vì vậy mong muốn của họ là làm thế nào để hiểu vai trò, vị trí của họ trong gia đình cộng đồng và xã hội
- Nhu cầu phát triển: để phát triển cá nhân và vươn lên khẳng định mình thì TKT cần được hưởng các dịch vụ xã hội bình đẳng và công bằng như mọi người khác, đó là được tham gia vào tất cả các hoạt động trong đời sống hàng ngày, được làm việc, sinh hoạt vui chơi, giải trí như mọi người khác và theo khả năng của chính
cá nhân mình
Việc đáp ứng các nhu cầu này cho TKT thường gặp những khó khăn nhất định, một số nhu cầu bậc cao của các em ít có cơ hội được đáp ứng như học văn hóa, học nghề, tìm kiếm việc làm, tiếp cận dịch vụ xã hội Chính vì vậy, đối với TKT thì ngoài sự cố gắng của bản thân, các em rất cần sự hỗ trợ phù hợp từ phía gia đình và cộng đồng để các em có thêm cơ hội được đáp ứng các nhu cầu
Trang 191.2 Lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật
1.2.1 Một số khái niệm:
1.2.1.1 Dịch vụ, dịch vụ xã hội
Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể hữu hình như hàng hoá nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội [15]
Dịch vụ xã hội là các hoạt động cụ thể được xây dựng trên cơ sở chính sách
xã hội được triển khai nhằm đáp ứng nhu cầu cá nhân, gia đình và cộng đồng, nhằm giải quyết những vấn đề xã hội Các dịch vụ xã hội là các hoạt động của nhân viên
xã hội và những nhà chuyên nghiệp khác nhằm nâng cao sức khỏe và chất lượng sống của con người và giúp đỡ con người không phụ thuộc; củng cố các mối quan
hệ gia đình; khôi phục chức năng xã hội đối với cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng (Whitaker anh Federico, 1990) [15]
Theo tác giả Trần Hậu, Đoàn Minh Tuấn (2012) cho rằng: dịch vụ xã hội là dịch vụ đáp ứng nhu cầu của cộng đồng cá nhân nhằm phát triển xã hội, có vai trò đảm bảo phúc lợi xã hội, đề cao giá trị pháp lý, nhân văn, vì con người; là hoạt động mang bản chất kinh tế - xã hội, do nhà nước, thị trường hoặc xã hội dân sự cung ứng, tùy theo tính chất thuần công, không thuần công hay tư của từng loại hình dịch
vụ, bao gồm các lĩnh vực: giáo dục - đào tạo, y tế, khoa học - công nghệ, văn hóa - thông tin, thể dục - thể thao và các trợ giúp xã hội khác [21]
Như vậy dịch vụ xã hội là hoạt động cung cấp, đáp ứng nhu cầu cho các cá nhân, nhóm người nhất định nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội Với
nhóm yếu thế, DVXH là các hoạt động có chủ đích của con người nhằm phòng ngừa - hạn chế và khắc phục rủi ro, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu cơ bản và thúc
đẩy khả năng hoà nhập cộng đồng, xã hội cho nhóm đối tượng yếu thế
1.2.1.2 Khái niệm Công tác xã hội
Theo IFSW và IASSW (2011): Công tác xã hội được xem như một là nghề
nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người CTXH sử dụng các học thuyết về
Trang 20hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với với môi trường sống [15, tr.7]
Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2010): CTXH được xem là một nghề, một
hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình
và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh
xã hội [34]
Như vậy, từ các quan niệm trên có thể khẳng định: CTXH là một nghề, một
hoạt động chuyên nghiệp, một khoa học thực hiện nhiệm vụ chức năng xã hội giao phó và được xã hội thừa nhận Các chính sách, chương trình và dịch vụ CTXH được triển khai bởi bộ máy tổ chức theo một ngành dọc và liên ngành Bên cạnh đó, CTXH được thực hiện trên một nền tảng hệ giá trị, nguyên tắc, yêu cầu nghề nghiệp theo quy định của pháp luật Đồng thời, CTXH còn là một ngành khoa học, bao gồm hệ thống kiến thức lý thuyết và kỹ năng thực hành được đào tạo ở nhiều trình
độ khác nhau
1.2.1.3 Khái niệm dịch vụ công tác xã hội
Dịch vụ công tác xã hội có thể được coi là một loại hình dịch vụ xã hội được cung cấp bởi các nhân viên công tác xã hội [33]
Vậy DVCTXH là một hoạt động chuyên nghiệp của Công tác xã hội gồm
hoạt động của các nhân viên công tác xã hội hoặc những nhà hoạt động xã hội nhằm
hỗ trợ, kết nối các cho các đối tượng yếu thế trong xã hội được tiếp cận các dịch vụ
xã hội phù hợp để đáp ứng các nhu cầu cơ bản của các đối tượng này với mục tiêu khắc phục rủi ro, giúp cho con người phát triển mà không bị phụ thuộc, góp phần đảm bảo an sinh xã hội [35]
1.2.1.4 Khái niệm Dịch vụ công tác xã hội với trẻ khuyết tật:
Dịch vụ công tác xã hội cho các nhóm đối tượng yếu thế chính là việc cung cấp các hoạt động mang tính chất phòng ngừa – khắc phục rủi ro và hòa nhập cộng đồng cho các nhóm đối tượng yếu thế dựa trên các nhu cầu cơ bản của họ nhằm đảm bảo các giá trị và chuẩn mực xã hội [43]
Trang 21DVCTXH đối với TKT là hoạt động chuyên nghiệp của CTXH nhằm cung
cấp các DVCTXH đầy đủ, phù hợp và đặc thù để đáp ứng các nhu cầu của TKT với mục tiêu giúp các em khắc phục những khiếm khuyết về thể chất, tinh thần, phát huy khả năng và hòa nhập cộng đồng, mang lại sự công bằng và bình đẳng cho TKT trong xã hội [16]
1.2.2 Cách tiếp cận và yêu cầu đối với nhân viên công tác xã hội khi cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho trẻ khuyết tật
1.2.2.1 Tiếp cận theo nhu cầu
Tiếp cận theo nhu cầu của TKT là cách tiếp cận dựa trên việc đáp ứng tốt nhất các dịch vụ công tác xã hội đối với các nhu cầu của TKT
Đây là cách tiếp cận mang tính nhân văn vì coi trọng TKT và nhu cầu của các
em Tiếp cận theo nhu cầu đặt TKT và những đặc điểm riêng của các em vào vị trí trung tâm Mỗi đối tượng cụ thể và nhất là đối với từng cá nhân cụ thể lại có những nhu cầu khác nhau Tính nhân văn còn được thể hiện ở việc tin tưởng TKT hoàn toàn có khả năng tự giải quyết vấn đề của chính mình Đối với TKT điều này có ý nghĩa rất quan trọng vì giúp các em thấy được mình có giá trị, được tôn trọng, xóa bớt tâm lý tự ti
Theo nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow - người được xem là “cha đẻ” của lý thuyết nhu cầu cho rằng, hành vi của con người bắt đầu từ nhu cầu của
họ Nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các bậc thang khác nhau và ông chia các nhu cầu đó thành nhu cầu cơ bản và nhu cầu bậc cao Nhu cầu cơ bản bao gồm các nhu cầu về vật chất và nhu cầu an toàn Nhu cầu bậc cao bao gồm các nhu cầu về xã hội và nhu cầu về tôn trọng, nhu cầu về phát triển [16, tr.21]
Tiếp cận theo nhu cầu sẽ giúp nhân viên xã hội tránh được việc đánh đồng và chủ quan khi cung cấp dịch vụ hỗ trợ Thay vào đó NVXH cần phải biết lắng nghe
để cảm thông một cách sâu sắc với những mong muốn của TKT, họ sẽ tìm kiếm những nhu cầu thực mà TKT đang mong muốn được thỏa mãn để cung cấp đúng các dịch vụ cũng như các hỗ trợ cần thiết, hợp lý, đạt hiệu quả, tránh việc quyết định thay, làm thay hoặc không cung cấp đúng nhu cầu sẽ làm cho các em chán nản, thiếu tin tưởng
Trang 22Việc tiếp cận theo nhu cầu phải theo hai hướng là nhu cầu cần và nhu cầu cảm Nhu cầu cần là những nhu cầu cơ bản của TKT, còn nhu cầu cảm là nhu cầu mà NVXH thấy là cần cho các em Để hiểu rõ nhu cầu của TKT không phải là đơn giản,
vì có những TKT nặng có em còn không thể hiện hoặc không xuất hiện nhu cầu nếu không được kích thích Vậy nên, nhân viên xã hội phải nhìn thấy, cảm thấy được cái
gì là hợp lý để tư vấn, hướng dẫn để cung cấp dịch vụ phù hợp cho các em [20]
Đối với các TKT ở Trung tâm hiện nay, việc đáp ứng các nhu cầu của các
em là vấn đề được đặt lên hàng đầu Do đó, việc tiếp cận theo nhu cầu của Maslow
sẽ giúp chúng ta thấy được các TKT có nhiều cấp bậc nhu cầu khác nhau, có đặc điểm tiền đề phát triển khác nhau, có đặc điểm khí chất khác nhau, hoàn cảnh gia đình của các em khác nhau Trong luận văn này, tác giả sẽ sử dụng các nội dung cơ bản về tiếp cận theo nhu cầu để tập trung nghiên cứu và tìm hiểu các dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cho TKT tại Trung tâm hiện nay, đồng thời chỉ ra những dịch vụ nào theo nhu cầu của TKT chưa được Trung tâm đáp ứng, từ đó đưa ra kế hoạch và giải pháp phù hợp nhằm đạt được mục đích nghiên cứu
Theo cách tiếp cận này thì mục tiêu tối cao của mọi hành động liên quan đến TKT phải vì “cuộc sống tốt nhất” của các em, đây là kim chỉ nam để hướng dẫn các hành động phù hợp vì TKT Đối với TKT tiếp cận vì lợi ích tốt nhất còn có ý nghĩa các dịch vụ cung cấp cho trẻ phải tạo ra một môi trường ít hạn chế nhất để trẻ có thể tiếp cận và phát triển
Trang 231.2.2.3 Tiếp cận dựa trên quyền con người
Theo từ điển tiếng Việt: “Quyền con người là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào” [37]
Tiếp cận dựa trên quyền con người có chứa đựng các nguyên tắc, tiêu chuẩn và mục tiêu của hệ thống quyền con người trong quá trình lập kế hoạch, cũng như tiến trình thực hiện các hoạt động CTXH [16, tr.21]
Theo cách tiếp cận này, TKT cũng có các quyền như những trẻ em bình thường trong xã hội Do đó, nhà nước phải có trách nhiệm thực thi, đảm bảo các quyền cho TKT để họ trở thành những công dân có ích cho sự phát triển xã hội chứ không phải là dân số lệ thuộc Tuy nhiên, cách tiếp cận này không tuyệt đối hóa quyền mà lãng quên đi nghĩa vụ mà quyền và trách nhiệm phải đi đôi với nhau Tiếp cận dựa trên bảo đảm các quyền của trẻ em là cách tiếp cận các dịch vụ đảm bảo TKT được thực hiện đầy đủ các nhóm quyền của trẻ em Ngoài ra, với cách tiếp cận theo quyền có thể đánh giá DVCTXH đối với TKT tại Trung tâm đã đáp ứng đầy đủ theo các quyền mà TKT được hưởng hay chưa? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc tiếp cận các quyền của TKT tại Trung tâm?
Phần lớn TKT tại Trung tâm thuộc mức độ khuyết tật đặc biệt nặng, các em gặp nhiều khó khăn trong nhận thức về quyền của mình Vận dụng cách tiếp cận này trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sẽ làm rõ vai trò của nhân viên CTXH với tư cách là người biện hộ cho đối tượng khi đối tượng đã hoặc chưa nhận thức được về quyền của họ Theo nghĩa đó, nhân viên CTXH là người kết nối giữa chủ thể mang quyền và chủ thể nghĩa vụ, là người đại diện khi chủ thể mang quyền chưa ý thức được về quyền của họ và chủ thể nghĩa vụ chưa đáp ứng được quyền cho đối tượng
1.2.2.4 Nguyên tắc đạo đức đối với nhân viên xã hội khi cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho trẻ khuyết tật
Trên cơ sở nền tảng triết lý và giá trị và nguyên tắc nghề nghiệp của CTXH người
ta đưa ra hệ thống các qui tắc ứng xử cho NVCTXH trong quá trình thực hiện nhiệm
vụ Những qui tắc ứng xử này đóng vai trò như kim chỉ nam cho hành động tương tác của NVCTXH với thân chủ trong quá trình trợ giúp Sau đây là những nguyên tắc ứng
xử của NVCTXH trong quá trình tiến hành hoạt động trợ giúp với TKT
Trang 24+ Tôn trọng trẻ khuyết tật
Tôn trọng TKT là thái độ không phán xét, không xem thường, miệt thị hoặc quá chú tâm đến TKT Nhân viên CTXH chăm sóc TEKT đón nhận sự chia sẻ, thấu hiểu nỗi đau khổ của TEKT, quan tâm đến nhu cầu, tâm tư của các em Với TKT các em rất nhạy cảm với thái độ, cách cư xử của người khác, vậy nên việc giúp TKT tự tin, thấy rõ giá trị bản thân, biết chấp nhận bản thân để khắc phục là điều quan trọng
+ Chấp nhận sự khác biệt
Giá trị này muốn chuyển tải đến NVCTXH cần luôn tin tưởng vào sự khác biệt, duy nhất của mỗi cá nhân, hoàn cảnh sống, nhu cầu, cảm xúc, mong muốn, những ưu điểm và khuyết điểm khác biệt Những giá trị riêng này giúp cho nhân viên CTXH phải suy nghĩ và sáng tạo trong cách tiếp cận giúp đỡ từng TKT Ngay
cả khi TKT gặp những khó khăn như nhau thì cách giải quyết giúp đỡ sẽ khác nhau
do mỗi cá nhân có hoàn cảnh, tâm tư tình cảm, suy nghĩ, nhận thức và những điểm mạnh khác nhau
+ Tin tưởng vào khả năng giải quyết vấn đề vấn đề của trẻ khuyết tật
Trong CTXH với TKT, nguyên tắc tin vào tính tự quyết của đối tượng là nguyên nhân tắc mà NVCTXH luôn phải nhận thức và chú trọng trong quá trình làm việc NVCTXH giúp đối tượng nhận ra những điểm mạnh của mình, phân tích tìm ra các giải pháp khác nhau để đối tượng có thể tự mình quyết định giải pháp giải quyết vấn đề của mình
+ Trung thực, chân thành với TKT
Đây là nguyên tắc không thể thiếu của người NVCTXH, việc TKT được nhận những thông tin đầy đủ, trung thực giúp họ có thể lường hết được những khó khăn cũng như những điều bất trắc xảy ra với họ, để họ tăng cường giải pháp đề phòng Nếu họ không được nhận những thông tin trung thực, khi họ gặp khó khăn thì khó
có thể thích nghi kịp, có thể xuất hiện sự bất an, thậm chí sợ hãi khi khả năng “tự vệ” của mình hạn chế nhất định do các dạng tật gây ra [15]
Trang 251.2.3 Các dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật
1.2.3.1 Dịch vụ chăm sóc – nuôi dưỡng
Trẻ khuyết tật là một trong đối tượng phục vụ của các cơ sở bảo trợ Ngày 25/02/2011, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành thông tư số 04/2011/BLĐTBXH-TT quy định tiêu chuẩn chăm sóc tại cơ sở bảo trợ xã hội Trong
đó có một số tiêu chuẩn liên quan đến hoạt động bảo vệ, chăm sóc sức khỏe thể chất
và tinh thần cho trẻ em tại cơ sở bảo trợ xã hội [4]
Về chăm sóc, bảo đảm dinh dưỡng: trẻ được cung cấp đầy đủ các bữa ăn với
đầy đủ dinh dưỡng cần các tiêu chuẩn sau: cung cấp ít nhất ba bữa ăn sáng, trưa và tối mỗi ngày; bảo đảm dinh dưỡng đủ calo, có chất đạm (thịt, cá, đậu nành, chất bột
đường, ngũ cốc, rau quả); trẻ khuyết tật cần có chế độ dinh dưỡng đặc biệt
Về vệ sinh và đồ dùng sinh hoạt: trẻ được cung cấp đầy đủ nước uống sạch và
bảo đảm vệ sinh tắm, giặt hàng ngày; cung cấp đồ dùng vệ sinh cá nhân, gồm xà phòng tắm, khăn tắm, khăn mặt, kem đánh răng và bàn chải đánh răng riêng; cung cấp đồ dùng phục vụ việc ngủ, gồm giường nằm, chiếu, gối, chăn, màn; có nội quy riêng của cơ sở bảo trợ xã hội quy định dọn dẹp vệ sinh và vệ sinh cá nhân
Về quần áo: trẻ được trang bị quần áo đầy đủ và được trang bị đồng phục đi
học (đối với trẻ trong độ tuổi đi học), tất, giày và dép được cung cấp ít nhất 6 tháng/01lần và được thay thế trong trường hợp bị hư hỏng, mất và quần áo mặc đủ
ấm về mùa đông
Hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng là việc thực hiện các hoạt động nhằm đáp ứng các nhu cầu về mặt sinh lý, sinh tồn, tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ phát triển về mặt thể chất
1.2.3.2 Dịch vụ can thiệp sớm
Can thiệp sớm cho TKT là những chỉ dẫn ban đầu và các dịch vụ dành cho trẻ và gia đình TKT trước tuổi tiểu học nhằm kích thích và huy động sự phát triển tối đa ở trẻ, tạo điều kiện và chuẩn bị tốt cho trẻ tham gia vào hệ thống giáo dục bình thường và cuộc sống sau này [41]
Việc cung cấp các dịch vụ can thiệp sớm hiệu quả sẽ giúp TKT có thể sống độc lập hết mức có thể và hòa nhập cộng đồng Khi những đứa TKT lớn lên, có khả
Trang 26năng sống độc lập (trong khả năng của trẻ) sẽ giảm bớt gánh nặng cho gia đình và
xã hội Dịch vụ can thiệp sớm tạo ra những tiền đề để TKT tham gia vào môi trường giáo dục hòa nhập Số lượng TKT học hòa nhập cao sẽ giảm bớt gánh nặng cho hệ thống các trường chuyên biệt, giảm bớt gánh nặng về mặt kinh tế cho xã hội
1.2.3.3 Hỗ trợ y tế, phục hồi chức năng
Do đặc điểm về thể chất là bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể,
vì vậy TKT rất cần được hỗ trợ về y tế, khám, chữa bệnh miễn phí và phục hồi chức năng
Theo thông tư số 04/2011/BLĐTBXH-TT quy định tiêu chuẩn chăm sóc tại cơ
sở bảo trợ xã hội, có quy định về chăm sóc y tế: các cơ sở bảo trợ có cán bộ y tế, trang thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp, tủ thuốc bảo đảm chăm sóc sức khỏe ban đầu,
sơ cấp cứu khi cần thiết; điều trị và mở sổ theo dõi; kiểm tra sức khỏe định kỳ 6 tháng và hàng năm cho từng đối tượng Đối với cơ sở bảo trợ xã hội có nhiệm vụ phục hồi chức năng thì phải có cán bộ và trang thiết bị phục hồi chức năng cho đối tượng [4]
Điều 15, Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em quy định: Trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khỏe Trẻ em dưới 6 tuổi được chăm sóc sức khỏe ban đầu, được khám chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập Hiện nay, trẻ khuyết tật đã được tiêm chủng, cấp thẻ BHYT để khám chữa bệnh miễn phí và được cấp các dụng cụ hỗ trợ, chỉnh hình và PHCN
PHCN bao gồm các biện pháp y học, kinh tế, xã hội, giáo dục hướng nghiệp
và kỹ thuật phục hồi nhằm làm giảm khả năng dẫn đến khuyết tật, đảm bảo cho trẻ khuyết tật tái hòa nhập xã hội, có những cơ hội bình đẳng và tham gia đầy đủ các hoạt động của xã hội
Các hình thức phục hồi chức năng bao gồm tập trung tại bệnh viện hay ngoài bệnh viện, tại các trung tâm phục hồi chức năng và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
TKT với tình trạng suy giảm thể chất, tinh thần nên ảnh hưởng đến chức năng của cá nhân đó Để TKT có thể là hoàn lại một cách tối đa thực thể, tinh thần
và nghề nghiệp, ngăn ngừa thương tật thứ cấp, tăng cường khả năng còn lại của trẻ
Trang 27để giảm hậu quả khuyết tật cho bản thân, gia đình và xã hội thì trẻ cần thiết được hỗ trợ để tiếp cận các dịch vụ y tế, PHCN
vụ cho TKT hiệu quả [22]
Các mô hình giáo dục đối với trẻ khuyết tật bao gồm giáo dục chuyên biệt, giáo dục hội nhập và giáo dục hòa nhập Giáo dục chuyên biệt là phương thức giáo dục tách biệt trẻ em có cùng dạng khuyết tật vào cơ sở giáo dục riêng Giáo dục hội nhập là phương thức giáo dục trẻ khuyết tật trong lớp học chuyên biệt được đặt trong trường phổ thông bình thường Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục trong đó trẻ khuyết tật cùng học với trẻ em bình thường trong trường phổ thông ngay tại nơi trẻ sinh sống
Như vậy dịch vụ giáo dục đối với TKT đa dạng và mỗi mô hình có ưu điểm riêng, hữu ích đối với TKT ở các mức độ khác nhau Ở nước ta mô hình giáo dục hòa nhập được và chuyên biệt thường được áp dụng nhiều Định hướng phát triển giáo dục cho TKT là giáo dục hòa nhập, tuy nhiên mô hình giáo dục chuyên biệt cũng rất cần thiết để hỗ trợ các kỹ năng trước khi trẻ ra hòa nhập, dạy các kỹ năng phù hợp cho TKT nặng Trung tâm PHCN Việt – Hàn mang đặc trưng của mô hình giáo dục chuyên biệt, đây là môi trường đáp ứng tốt và phù hợp đối với TKT nặng
và đặc biệt nặng
1.2.3.5 Hỗ trợ dạy nghề
Theo điều 32, Luật Người khuyết tật năm 2010 chính sách của nhà nước quy định trên các phương diện sau [40]:
Trang 28Một là, Nhà nước bảo đảm để NKT được tư vấn học nghề miễn phí, lựa chọn và
học nghề theo khả năng, năng lực bình đẳng như những người khác
Hai là, cơ sở dạy nghề có trách nhiệm cấp văn bằng, chứng chỉ, công nhận nghề
đào tạo khi NKT học hết chương trình đào tạo và đủ điều kiện theo quy định của thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước về dạy nghề
Ba là, cơ sở dạy nghề tổ chức dạy nghề cho người khuyết tật phải bảo đảm điều
kiện dạy nghề cho người khuyết tật và được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật
Bốn là, NKT học nghề, giáo viên dạy nghề cho NKT được hưởng chế độ, chính
sách theo quy định của pháp luật
Phần lớn NKT gặp khó khăn trong việc tiếp cận cơ hội nghề nghiệp, tìm kiếm được một việc làm phù hợp Hoạt động hỗ trợ hướng nghiệp – dạy nghề cho TKT sẽ giúp đánh giá khả năng lao động của TKT, tìm hiểu nguyện vọng của trẻ và gia đình để từ đó định hướng và tư vấn, chuẩn bị kỹ năng nghề nghiệp, đào tạo nghề, tìm kiếm các dụng cụ thích nghi thông qua các hoạt động trợ giúp và hỗ trợ giúp TKT chuẩn bị kỹ năng để có thể học nghề và tìm kiếm nghề nghiệp phù hợp
1.2.3.6 Dịch vụ hỗ trợ tâm lý
Đối với TKT, với đặc điểm bị khiếm khuyết về thể chất và tinh thần, đặc biệt khi phải trải nghiệm các cảm xúc không mong muốn khi tham gia các hoạt động sinh hoạt, học tập, lao động hay hoạt động xã hội phần lớn TKT thường mặc cảm, tự ti, cảm thấy mình bị phân biệt đối xử Do người xung quanh không thông cảm cho những hành vi khó khăn của trẻ các em cũng gặp khó khăn trong giao tiếp với môi trường xung quanh, vì vậy các em thường sống khép kín, ngại giao tiếp với mọi người Việc hỗ trợ tâm lý chính là việc hiểu và thông cảm được tâm lý của TKT, xem xét ảnh hưởng khuyết tật tới gia đình trẻ, từ đó hỗ trợ các em giải quyết các xung đột gia đình, nhà trường, những rắc rối trong quan hệ của bố mẹ, anh chị
em, thầy cô giáo, những người xung quanh [12] Do đặc điểm tâm lý, phần lớn các
em cũng dễ bị kích động, khó kiểm soát phản ứng vì vậy việc hỗ trợ tâm lý nhằm giúp các em kiểm soát, ổn định tâm lý, hỗ trợ trẻ tìm ra các biện pháp, cách thức vượt qua khó khăn, khủng hoảng có thể gặp phải Hoạt động hỗ trợ tâm lý cũng
Trang 29giúp TKT hiểu được vai trò, vị trí của các em trong gia đình, cộng đồng và xã hội nhằm phát huy khả năng để trở nên mạnh mẽ hơn, tự tin sống độc lập, hòa nhập cộng đồng và tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội, có cơ hội được lao động, học tập như những trẻ bình thường
1.2.3.7 Dịch vụ hỗ trợ pháp lý cho trẻ khuyết tật
Dịch vụ hỗ trợ pháp lý bao gồm các hoạt động tư vấn pháp luật, biện hộ cho thân chủ, là hoạt thúc đẩy và bảo vệ quyền lợi cho TKT, đảm bảo cho TKT được hưởng đầy đủ chế độ chính sách, hưởng những dịch vụ, quyền lợi của các em, đặc biệt trong những trường hợp các em bị từ chối những dịch vụ, chính sách lẽ ra các
em được hưởng [12]
1.2.3.8 Hỗ trợ các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, giải trí
Nhà nước hỗ trợ hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch phù hợp với đặc điểm của NKT; tạo điều kiện để NKT được hưởng thụ văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch Hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch của người khuyết tật được lồng ghép vào đời sống văn hóa cộng đồng, được tổ chức
đa dạng về loại hình, đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch của NKT [10]
Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, vui chơi giải trí cho TKT là cần thiết và có ý nghĩa lớn đối với các em Thông qua các hoạt động giúp cho các em phát triển vận động, giảm hành vi, phát triển tâm lý tự tin, vui vẻ và hòa nhập vào cộng đồng Ngoài ra, hỗ trợ hoạt động này cho trẻ còn đặc biệt ý nghĩa đối với những TKT có điểm mạnh về các hoạt động thể dục – thể thao, văn nghệ giúp các em phát huy
được khả năng của mình
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật
1.3.1 Chính sách và cơ chế quản lý nguồn lực
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chú trọng, kiện toàn hệ thống pháp luật, chính sách về bảo vệ, chăm sóc trẻ em Một số văn bản và chính sách quan trọng đã được ban hành như Hiến pháp năm 2013; Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 05-11-2012 của Bộ Chính trị về “tăng cường công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới”; Quyết định số: 1019/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ký phê
Trang 30duyệt đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 - 2020; Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 – 2015 Đặc biệt là việc nghiên cứu, xây dựng sửa đổi Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 và các chương trình liên quan đến trẻ em giai đoạn 2016 - 2020
Sự quan tâm của cả hệ thống chính trị thời gian qua đã góp phần quan trọng vào việc cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và bảo đảm các quyền cơ bản của TE trong đó có TKT TKT được chăm sóc, bảo vệ và hỗ trợ để phục hồi Việc tiếp cận các dịch vụ y tế đối với TE dưới 6 tuổi có bước phát triển lớn, hầu hết nhóm TE này được cấp thẻ BHYT và chăm sóc sức khỏe, số TKT được phục hồi chức năng và chỉnh hình tăng theo từng năm Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế như chưa có một chương trình tổng thể hay văn bản pháp quy giải quyết riêng vấn
đề của TKT, công tác chăm sóc TKT ở nước ta vừa phân tán vừa chồng chéo nhiệm
vụ, có nhiều cơ quan cùng thực hiện như Bộ Y tế, Bộ Lao động TB&XH, Bộ GD&ĐT dẫn tới khó khăn trong việc chỉ đạo thực hiện và tổng kết đánh giá [3]
1.3.2 Năng lực, trình độ của cán bộ và thực hiện các dịch vụ công tác xã hội
Nhân viên công tác xã hội đóng vai trò cung cấp cho TKT và gia đình các em nhiều loại dịch vụ hỗ trợ, từ việc hỗ trợ tâm lý, đến việc phát triển các mạng lưới liên kết để có thể giúp TKT tiếp cận các dịch vụ y tế, xã hội hoặc tiếp cận các tổ chức có khả năng trợ giúp TKT, biện hộ quyền lợi, giúp TKT phát triển những kỹ năng xã hội cần thiết để các em tự tin tham gia vào các hoạt động xã hội có ích cho cuộc sống, bên cạnh đó NVXH còn giúp cho các thành viên khác trong xã hội hiểu
để có cái nhìn đúng về TKT Nhìn chung, nhân viên công tác xã hội sẽ có vai trò là cầu nối giữa những người đang có nhu cầu và các nguồn lực sẵn có trong xã hội Như vậy, yếu tố đầu tiên có tính chất then chốt để cải thiện cơ hội tiếp cận các chính sách hỗ trợ xã hội cho TKT chính là đội ngũ NVXH chuyên nghiệp NVXH chuyên nghiệp cần được đào tạo bài bản, chuyên sâu, nắm vững các chính sách hỗ trợ, thủ tục, vận dụng tiến trình CTXH để hỗ trợ TKT và gia đình của các em tiếp cận chính sách trợ cấp một cách thuận lợi nhất Sự chuyên nghiệp của NVCTXH trong cung cấp DVCTXH còn được thể hiện ở các khía cạnh: tuân thủ nguyên tắc
Trang 31nghề nghiệp và nguyên tắc hành động của người NVXH, thực hiện theo quy điều đạo đức, trau dồi kiến thức chuyên môn, tác phong làm việc và ý thức kỷ luật
1.3.3 Khả năng tiếp cận dịch vụ của trẻ và gia đình trẻ khuyết tật
“Tiếp cận là việc NKT sử dụng được công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù
hợp để có thể hòa nhập cộng đồng” [40]
Khả năng tiếp cận của NKT nói chung và TKT nói riêng có liên hệ chặt chẽ với khái niệm chung về sự tiếp cận các sản phẩm, thiết bị, dịch vụ hay các yếu tố liên quan trong môi trường Sự tiếp cận tương đồng với khả năng sử dụng và hưởng lợi tối đa của các cá nhân Với TKT thì sự tiếp cận thường được tập trung vào những nhu cầu đặc biệt hoặc quyền tiếp cận tới các thực thể khác nhau, thường thông qua việc sử dụng thiết bị hỗ trợ Sự tiếp cận của TKT căn cứ vào đặc điểm của từng dạng tật, dựa vào từng điều kiện và hoàn cảnh riêng của từng gia đình Khả năng tiếp cận của TKT với những nguồn lực cơ bản bao gồm:
khả năng tiếp cận về cơ sở vật chất (vật dụng, nhà cửa, công trình công cộng), khả năng tiếp cận thông tin (thông tin về dịch vụ dành cho TKT và gia đình, thông tin tư vấn về tâm lý, đời sống), khả năng tiếp cận thể chế, dịch vụ của NKT nói chung và TKT nói riêng Thực tế, TKT hiện còn gặp nhiều trở ngại trong việc tiếp cận cơ sở vật chất, đại đa số các đồ dùng, trang thiết bị chưa có sự điều chỉnh Bên cạnh đó còn các hạn chế tiếp cận giao thông: đường đi không bằng phẳng, gồ ghề; không phải mọi xe buýt đều được trang bị thiết bị nâng xe lăn, việc chờ đợi thường là quá dài và không thực sự thoải mái Nói chung TKT vẫn còn thiếu khả năng tiếp cận tạo
ra những rào cản về y tế, giáo dục, vui chơi, giải trí, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao và những hoạt động cần thiết khác để TKT phát triển
Trang 32Còn cộng đồng là nơi mà TKT sinh sống Mặc dù văn hóa Việt Nam đề cao tinh thần tương thân tương ái nhưng khuyết tật dường như vẫn bị loại khỏi những dạng khó khăn mà cộng đồng thường cảm thông, chia sẻ và cùng hỗ trợ Một số phản ứng tiêu cực mà một bộ phận trong cộng đồng có thể nhằm vào TKT như sự kỳ thị và phân biệt đối xử, tình trạng bắt nạt, bạo lực, quấy rối hay làm hạn chế các cơ hội giáo dục, việc làm và tạo thu nhập [22]
Gia đình và cộng đồng là 2 môi trường gắn liền với TKT, có ảnh hưởng trực tiếp đến các em Do vậy, nhận thức của cộng đồng và gia đình cũng có vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ, chăm sóc cho TKT tại cộng đồng Cộng đồng, gia đình phải có trách nhiệm giáo dục, tạo điều kiện để các thành viên gia đình nâng cao nhận thức về vấn đề KT; tạo điều kiện để TKT được chăm sóc sức khỏe và tiếp cận với các hỗ trợ từ phía xã hội dành cho các em
1.3.5 Yếu tố hợp tác quốc tế
Hợp tác quốc tế là xu hướng tất yếu của ngành CTXH nói chung vì những lý
do sau: việc hội nhập quốc tế là xu hướng chung của CTXH vì không một quốc gia
nào có thể tự mình giải quyết triệt để những vấn đề của mình nếu không tính đến những yếu tố về toàn cầu hóa và quốc tế hóa CTXH đòi hỏi nhân viên và các tổ chức xã hội cần có tính chuyên nghiệp để đảm bảo sự thống nhất mục đích và cách tiếp cận; các nước phát triển phải có nhiệm vụ giúp đỡ những nước nghèo, đang phát triển; sự chia sẻ nguồn lực, trao đổi kinh nghiệm học hỏi lẫn nhau, sự giao thoa của các nền văn hóa, tính chuyên nghiệp của các chương trình đào tạo [19]
Nước ta vừa thoát khỏi tình trạng nước nghèo, so với các nước phát triển và các nước đang phát triển chúng ta còn khoảng cách khá xa về nhận thức, tư duy, xây dựng hệ thống luật pháp, phúc lợi xã hội dành cho trẻ em Vì vậy hợp tác với các tổ chức quốc tế là con đường ngắn nhất để chúng ta học hỏi về kinh nghiệm, kỹ thuật, phương pháp tiếp cận và tranh thủ nguồn lực tài chính để giải quyết ngày càng hiệu quả các vấn đề cơ bản của trẻ em và thực hiện quyền trẻ em
Trang 331.4 Cơ sở pháp lý về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật
1.4.1 Những văn bản Quốc tế liên quan đến người khuyết tật và trẻ khuyết tật
- Tuyên ngôn về quyền của người tàn tật về tâm thần ngày 24 tháng 12 năm
1971 (The Declaration on the Rights of Mentally Retarted Persons) [22];
- Quy tắc tiêu chuẩn của Liên hợp quốc về bình đẳng hoá cơ hội cho NKT ngày 26 tháng 12 năm 1993 (The United Nations Standard Rules on the Equalization of Opportunities for Persons with disabilities) [22];
- Tuyên bố Salamanca và Cương lĩnh hành động về giáo dục nhu cầu đặc biệt
1994 (The Salamanca Statement and Framwork for Action on Special Needs Education) [13];
- Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (1989): Việt Nam đã phê
chuẩn năm 1990, theo công ước thì quyền của NKT được thể hiện cụ thể và rõ ràng bằng các quy phạm pháp luật quốc tế Trong công ước nêu rõ quyền của trẻ em khuyết tật qua 4 nguyên tắc cơ bản: không phân biệt đối xử (điều 2), lợi ích tốt nhất (điều 6), quyền được sống và phát triển (điều 6) và quyền được tôn trọng ý kiến (điều 12) Đặc biệt trong Công ước, điều 23 nói về quyền của trẻ em khuyết tật: cần được hưởng cuộc sống trọn vẹn, các quốc gia thành viên công nhận quyền trẻ em khuyết tật cần được chăm sóc đặc biệt, trên cơ sở thừa nhận các nhu cầu đặc biệt của trẻ em khuyết tật, sự giúp đỡ dành cho trẻ em khuyết tật phải được cung cấp miễn phí, bất kỳ khi nào có thể, đảm bảo cho trẻ em khuyết tật được thật sự tiếp cận
và hưởng sự giáo dục đào tạo, các dịch vụ y tế, dịch vụ phục hồi chức năng, sự chuẩn bị để có việc làm và các cơ hội vui chơi giải trí theo cách thức có lợi cho việc trẻ em khuyết tật đạt được hòa nhập vào xã hội và phát triển cá nhân đầy đủ có thể được, bao gồm cả sự phát triển văn hóa và tinh thần [32];
- Công ước quốc tế về Quyền của NKT: là văn kiện nhân quyền quốc tế do các
cơ quan của Liên hiệp quốc soạn thảo nhằm mục đích bảo vệ các quyền và nhân phẩm của NKT Các quốc gia tham gia công ước phải đảm bảo quyền được thụ hưởng bình đẳng mọi dịch vụ công cộng của NKT Là công ước nhân quyền đầu tiên của thế kỷ 21, Công ước này được Liên hiệp quốc thông qua vào ngày 13/12/2006 và có hiệu lực từ ngày 04/5/2008, Việt Nam là thành viên thứ 118 tham
Trang 34gia ký công ước vào ngày 22/10/2007 Được xây dựng dựa trên khuôn khổ Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người Đây là công ước đầu tiên mang lại vị thế và quyền hợp pháp nhìn nhận tình trạng khuyết tật là vấn đề thuộc về quyền con người Công ước này cũng có ý nghĩa đặc biệt khi thay đổi cách nhìn đối với tình trạng khuyết tật là một vấn đề xã hội chứ không phải vấn đề y tế đơn thuần và xác nhận
sự dịch chuyển từ phương pháp tiếp cận theo hướng nhân đạo sang hướng nhân quyền Công ước về Quyền của NKT là một thỏa thuận giữa các quốc gia trên thế giới về việc đảm bảo người có khuyết tật và không có khuyết tật được đối xử bình đẳng [32]
1.4.2 Luật pháp, chính sách liên quan tới trợ giúp người khuyết tật nói chung
và dịch vụ công tác xã hội cho trẻ khuyết tật ở Việt Nam
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới công tác chăm sóc và bảo vệ NKT được thể hiện trong văn bản luật pháp cao nhất là Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 1992 và sửa đổi năm 2001 Trên cơ sở của Hiến pháp và Pháp lệnh Người tàn tật ban hành năm 1998, nhiều văn bản pháp luật khác đã được ban hành, triển khai áp dụng trong thực tiễn đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của NKT trên mọi mặt của đời sống xã hội Có thể phân loại các văn bản pháp luật này thành 6 nhóm như sau[22]:
- Thứ nhất, nhóm các văn bản về giáo dục cho NKT;
- Thứ hai, nhóm các văn bản về y tế cho NKT;
- Thứ ba, nhóm các văn bản về lao động và dạy nghề cho NKT;
- Thứ tư, nhóm các văn bản về bảo trợ xã hội;
- Thứ năm, nhóm các văn bản quy định hoạt động thể dục, thể thao và văn hóa;
- Thứ sáu, nhóm các văn bản quy định giao thông thông minh và quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng cho NKT được tiếp cận các phương tiện giao thông và công trình công cộng;
Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật NKT, luật được ban hành từ ngày 17/6/2010 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2011 Đây là văn bản pháp luật cao nhất về NKT từ trước tới nay, mang đậm tính nhân văn sâu sắc và là cơ sở pháp lý toàn diện để thực hiện trợ giúp NKT có hiệu quả hơn Việc ban hành Luật NKT
Trang 35cũng để bảo đảm tính hệ thống của chính sách pháp luật về NKT, đảm bảo sự phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng yêu cầu thực hiện Công ước quốc tế về quyền của NKT mà Việt Nam đã ký và sắp phê chuẩn Luật đã giải quyết phần lớn các lĩnh vực của cuộc sống NKT nói chung và TKT nói riêng NKT được đảm bảo thực hiện các quyền sau đây: tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội; sống độc lập, hòa nhập cộng đồng; được miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội; được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ, thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật Luật cũng cung cấp một khung pháp lý thiết yếu cho một xã hội hòa nhập, không rào cản và đem lại những cơ hội bình đẳng cho tất cả NKT [22]
Ngoài những văn bản Luật liên quan đến NKT thì còn một số văn bản dưới luật đề cập đến hoạt động chăm sóc, trợ giúp NKT như:
- Nghị định số: 136/2013/NĐ-CP ban hành ngày 21 tháng 10 năm 2013 quy định về chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội [11]
- Nghị định số: 28/2012/NĐ-CP ban hành ngày 10 tháng 4 năm 2012 Quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật NKT [10]
Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân Thành phố đã ban hành nhiều kế hoạch để tăng cường công tác chăm sóc và trợ giúp người khuyết tật như:
- Kế hoạch 161/KH-UBND ngày 10/10/2013 về thực hiện Đề án trợ giúp người khuyết tật thành phố Hà Nội giai đoạn 2013 – 2020 [45]
- Quyết định số 25/2015/QĐ-UBND ngày 31/8/2015 của UBND Thành phố
Hà Nội về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 78/2014/QĐ-UBND ngày 31/10/2014 về quy định mức trợ cấp xã hội hàng tháng cho các đối tượng BTXH sống tại cộng đồng và tại các cơ sở BTXH thuộc Sở Lao động Thương binh
và Xã hội Hà Nội [46]
Tiểu kết chương 1
Có thể nói, khuyết tật là sự thử thách nhưng làm thế nào để các TKT vượt qua được những khó khăn, thử thách để có thể hòa nhập cộng đồng thì không chỉ là
Trang 36sự nỗ lực của chính bản thân các em mà hơn thế nữa là cần sự hỗ trợ từ phía gia đình, cộng đồng và xã hội Thông qua các DVCTXH phù hợp, đáp ứng đúng nhu cầu sẽ giúp các em có được những kỹ năng cần thiết để có thể sống độc lập tối đa có thể, làm giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội Đảng, nhà nước ta đã có sự quan tâm, đầu tư cho các em thể hiện qua hệ thống văn bản chỉ đạo, điều hành và sự đầu
tư nguồn lực DVCTXH đối với TKT như chiếc cầu nối các em với xã hội, giúp các
em được tiếp cận nguồn lực xã hội để được đáp ứng nhu cầu, đồng thời giảm bớt những khác biệt để có cơ hội phục hồi và phát triển, cũng như có quyền bình đẳng như bao trẻ em khác
Từ những vấn đề mang tính chất lý luận về DVCTXH đối với TKT tôi sẽ tiến hành đánh giá thực trạng DVCTXH đối với TKT tại Trung tâm PHCN Việt – Hàn, thành phố Hà Nội để có góc nhìn biện chứng về vấn đề DVCTXH đối với TKT
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
Về TKT cũng như đối với các tỉnh thành khác, trong dân cư của Hà Nội có một bộ phận dân cư bị khuyết tật, đặc biệt là trẻ em Đó là những trẻ em phải chịu thiệt thòi cả về vật chất lẫn tinh thần do khuyết tật gây ra, có thể do bẩm sinh và cũng có thể do mắc phải Theo số liệu từ kết qủa cuộc điều tra TKT trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2012 – 2014 do Trung tâm giáo dục TKT thuộc Viện Khoa học giáo dục Việt Nam tiến hành cho thấy, Hà Nội hiện có 10.924 trẻ mắc các dạng khuyết
tật kể trên chiếm khoảng 0,15% dân số (10.924/7,5 triệu) và 0,64% trên tổng số trẻ
em (10.924/1,7 triệu) Tỷ lệ trẻ khuyết tật nam/ nữ là 1,5/1 tức là số trẻ em nam bị khuyết tật cao gấp rưỡi trẻ em nữ bị khuyết tật và ở tất cả các quận, huyện, thị xã của thành phố Hà Nội đều có TKT
Về cơ bản, mô hình khuyết tật của TKT Hà Nội cũng giống với mô hình TKT toàn quốc là nhóm trẻ khó khăn về học chiếm tỷ lệ cao nhất là 32,3% (trong khi tỷ lệ này ở một số địa phương là 29%) trong nhóm này chủ yếu là các trẻ chậm phát triển trí tuệ và Down TKT vận động là 27,1% trong đó bại não chiếm đa số, đáng chú ý là ở các huyện càng xa trung tâm nơi thiếu điều kiện chăm sóc y tế càng
có nhiều trẻ bại não hơn TKT tâm thần, thần kinh chiếm 19,2%, riêng trẻ tự kỉ chiếm 5,4% TKT nghe nói chiếm 22,2% (trong đó có trẻ câm điếc bẩm sinh, giảm thính lực, rối loạn phát âm ) TKT về nhìn chiếm 21,8% (mất, giảm thị lực, lác, sụp mí ) Còn lại là các dạng khuyết tật khác (tim bẩm sinh, sứt môi hở hàm ếch, dị dạng lồng ngực bẩm sinh, sẹo bỏng, dị dạng bộ phận sinh dục ) Đáng chú ý, ở Hà
Trang 38Nội tỷ lệ trẻ đa tật khá cao (27,7%), đây là một trong những nhóm khó khăn để hòa nhập cộng đồng
Mô hình khuyết tật của trẻ em ở các quận khác với mô hình khuyết tật của trẻ
em ở các huyện Đặc biệt, tỷ lệ trẻ tự kỉ ở các quận thường cao hơn các huyện rất nhiều, cụ thể là: Quận Ba Đình chiếm 17,8% tổng số trẻ tự kỷ toàn thành phố Tương tự như vậy, tỷ lệ này ở Quận Hoàn Kiếm: 16,6%, Quận Đống Đa: 16%, Quận Hoàng Mai: 15% và Quận Thanh Xuân: 12,2% Trong khi tỷ lệ này ở các huyện ngoại thành tương đối thấp: Sóc Sơn: 3,3%, Ứng Hòa: 2,2%, Mỹ Đức: 2,1%, Thạch Thất: 2% và Ba Vì chỉ có 0.6% Điều này được giải thích là do phụ huynh trong nội thành thường bận rộn hơn với nhiều áp lực công việc nên ít có thời gian dành để giao tiếp, chuyện trò với các con Song có thể cũng còn nhiều nguyên nhân khác do cuộc sống sôi động và nhiều áp lực mà cuộc sống thành thị mang đến [36]
Qua nghiên cứu những đặc điểm về địa bàn nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy nhu cầu về DVCTXH là rất lớn Đồng thời với những đặc điểm về mô hình khuyết tật của TKT là cơ sở quan trọng cần nghiên cứu nhằm cung cấp các DVCTXH cho phù hợp, hiệu quả đối với TKT trên địa bàn thành phố Hà Nội
2.1.2 Trung tâm Phục hồi chức năng Việt – Hàn
2.1.2.1 Lịch sử thành lập
Nhằm góp phần hỗ trợ nâng cao chất lượng các dịch vụ PHCN cho TKT trên địa bàn thành phố Hà Nội, đồng thời giúp TKT trên địa bàn thành phố Hà Nội có cuộc sống tốt hơn, có nhiều cơ hội hòa nhập cộng đồng Tổ chức “The Global Civic Sharing” (GCS - một tổ chức phi chính phủ quốc tế, cam kết thúc đẩy phát triển bền vững thông qua việc hỗ trợ người nghèo ở các nước đang phát triển và nâng cao vị thế xã hội dân sự) và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội đã ký biên bản
thỏa thuận thực hiện dự án “Phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật Hà Nội”
Triển khai dự án trên, ngày 16/05/2006 Uỷ ban nhân dân Tỉnh Hà Tây (nay
là thành phố Hà Nội) đã ra quyết định số 847/QĐ-UBND về việc thành lập “Trung tâm Phục hồi chức năng Việt – Hàn” đóng trên địa bàn Xã Đông Yên - Huyện Quốc Oai - Thành phố Hà Nội Trung tâm là đơn vị bảo trợ xã hội trực thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội Tỉnh Hà Tây (nay là Sở Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Hà Nội) Trung tâm chính thức đi vào hoạt động từ ngày 16/06/2006
Từ tháng 06/2006 đến hết tháng 05/2010, Trung tâm thực hiện theo cơ chế
đồng giám đốc, nguồn kinh phí hoạt động chủ yếu do phía GCS Hàn Quốc tài trợ
Trang 39Từ tháng 06/2010 đến nay, Trung tâm Phục hồi chức năng Việt - Hàn do phía Việt Nam (Sở Lao động - TB&XH Hà Nội) điều hành và quản lý
2.1.2.2 Sứ mạng, mục đích và nhiệm vụ của Trung tâm
Theo quyết định thành lập, Trung tâm có chức năng nhiệm vụ nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục đặc biệt và hướng nghiệp nghề, y tế trị liệu PHCN cho TKT trên địa bàn Thành phố Hà Nội Tiếp nhận các dự án tài trợ của các tổ chức Chính phủ, phi Chính phủ trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật
Trung tâm được tổ chức theo mô hình PHCN khép kín, toàn diện cả về thể chất và tinh thần Kết hợp chặt chẽ giữa PHCN, y tế, giáo dục, hướng nghiệp và dạy nghề Trung tâm có đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có tinh thần đoàn kết, kỷ cương, tình thương và trách nhiệm, luôn tạo điều kiện tốt nhất giúp các TKT được PHCN sớm hoà nhập cộng đồng, giảm bớt gánh nặng cho gia đình, cộng đồng và xã hội
Để thực hiện sứ mạng và mục đích trên, Trung tâm có các nhiệm vụ chủ yếu như sau:
Một là, xây dựng kế hoạch dài hạn và kế hoạch hàng năm về công tác nuôi
dưỡng, chăm sóc, điều trị, PHCN và hướng nghiệp cho TKT trên địa bàn thành phố
Hà Nội theo quy định hiện hành
Hai là, tiếp nhận, tổ chức quản lý, nuôi dưỡng, chăm sóc điều trị PHCN cho TKT ở
các dạng tật: vận động, down, tự kỷ, chậm phát triển trí tuệ, khiếm thính…
Ba là, tổ chức hoạt động PHCN, hoạt động trị liệu, vật lý trị liệu…trợ giúp
các đối tượng nuôi dưỡng tại Trung tâm trong các hoạt động: tự quản, văn hoá, thể thao và các hoạt động vui chơi khác phù hợp với lứa tuổi, sức khoẻ của từng đối tượng
Bốn là, tổ chức, phối hợp với các cơ quan, đơn vị dạy văn hoá, dạy nghề,
giáo dục đặc biệt, giáo dục hướng nghiệp, các hoạt động ngoại khoá nhằm giúp TKT phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, nhân cách…, để có thể tái hoà nhập cộng đồng
Năm là, tổ chức, phối hợp với các cơ quan, đơn vị trong việc PHCN cho
TKT tại cộng đồng Tổ chức quản lý, lập hồ sơ theo dõi đối tượng tại cộng đồng theo quy định
Sáu là, tập huấn đào tạo nâng cao kiến thức cho cán bộ, nhân viên và gia đình
TKT, cán bộ địa phương về kỹ thuật, kỹ năng phục hồi sức khoẻ, chức năng cho trẻ tại Trung tâm và cộng đồng để giúp TKT hoà nhập cộng đồng
Trang 40Bảy là, thực hiện chương trình hợp tác, giao lưu trao đổi học tập kinh nghiệm
giữa hai nước Việt Nam - Hàn Quốc (trong thời gian thực hiện dự án)
Khu phục hồi chức năng
Khu nhà bếp, ăn
Khu y tế, chăm sóc sức khỏe
Bình quân m2/trẻ
Diện tích (m2)
Bình quân m2/
trẻ
Diện tích (m2)
Bình quân m2/
trẻ
Diện tích (m2)
Bình quân m2/
trẻ
Diện tích (m2)
Bình quân m2 /trẻ 19.52
6 172,8 1.281 11,33 286 2,53 402 3,56 286 2,53 512 4,53
(Nguồn: Báo cáo năm 2016 của Trung tâm)
Trung tâm được sự đầu tư xây dựng của tổ chức GCS Hàn Quốc nên cơ sở
hạ tầng về cơ bản đáp ứng được những điều kiện cho các dịch vụ chăm sóc - nuôi dưỡng, giáo dục, hướng nghiệp, chăm sóc y tế, PHCN và vui chơi giải trí cho đối tượng theo đúng chức năng và nhiệm vụ