1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Công tác xã hội nhóm đối với trẻ mồ côi từ thực tiễn Làng trẻ em SOS thành phố Hà Nội

88 713 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đối với trẻ mồ côi từ thực tiễn Làng trẻ em SOS thành phố Hà Nội” với hy vọng áp dụng phương pháp CTXH nhóm, vận dụng những kiến thức, kỹ năng trong tiến trình trợ giúp nhóm trẻ em mồ cô

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN QUANG HƯNG

CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI

TỪ THỰC TIỄN LÀNG TRẺ EM SOS THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS Nguyễn Trung Hải

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Để hoàn thành luận văn “Công tác xã hội nhóm với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Làng trẻ em SOS Hà Nội“ là một quá trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc của bản thân Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Trung Hải

Các số liệu và kết quả nghiên cứu trung thực và không trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã được công bố trước đó

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Quang Hưng

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI 10

1.1 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 10

1.2 Các khái niệm công cụ 13

1.3 Các vấn đề chung của công tác xã hội nhóm với trẻ em mồ côi 19

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động CTXH nhóm với trẻ em mồ côi 31

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI TẠI LÀNG TRẺ EM SOS HÀ NỘI 37

2.1 Mô tả địa bàn nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 37

2.2 Hoạt động công tác xã hội tại Làng trẻ em SOS Hà Nội 41

2.3 Đánh giá thực trạng và nhu cầu của nhóm trẻ em mồ côi tại Làng trẻ em SOS Hà Nội 46

Chương 3 VẬN DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG CHO TRẺ EM MỒ CÔI TỪ THỰC TIỄN LÀNG TRẺ EM SOS THÀNH PHỐ HÀ NỘI 54

3.1 Hồ sơ nhóm thân chủ 54

3.2 Vận dụng tiến trình công tác xã hội nhóm với trẻ em mồ côi tại Làng trẻ em SOS Thành phố Hà Nội 55

3.3 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động CTXH nhóm đối với trẻ em mồ côi tại Làng trẻ em SOS Thành phố Hà Nội 74

KẾT LUẬN 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bảo vệ và chăm sóc trẻ em mồ côi luôn cần sự quan tâm, góp sức của toàn thể

xã hội Từ đó rất nhiều mô hình, đề án và chương trình hành động nhằm giúp đỡ nhóm TECHCĐB và trẻ em mồ côi được ra đời Đó là các trung tâm bảo trợ xã hội, các mái ấm tình thương, các Làng trẻ em SOS trên toàn quốc Trong các mô hình

đó, mô hình chăm sóc gia đình thay thế của tổ chức Làng trẻ em SOS là một mô hình lí tưởng hoạt động dựa trên bốn nguyên tắc sư phạm là bà mẹ, anh chị em, gia đình và cộng đồng Làng Mô hình này thể hiện ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc giúp trẻ mồ côi tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản nhằm giảm bớt những nỗi đau mà các em gặp phải

Làng trẻ em SOS Hà Nội là một trong những địa chỉ đã từng giúp đỡ nhiều mảnh đời bất hạnh song trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn Đặc biệt công tác hỗ trợ, tham vấn tâm lý cho trẻ còn thiếu tính chuyên nghiệp, việc tổ chức các hoạt động nhóm giúp trẻ bớt mặc cảm tự ti, hòa nhập và gắn kết với nhau còn nhiều hạn chế do thiếu vắng đội ngũ NVXH chuyên nghiệp Vì vậy, nhiều trẻ trong Làng còn thiếu tự tin vào bản thân để kết bạn

và hòa nhập cộng đồng, hơn nữa các em còn chưa được trang bị đầy đủ các kỹ năng

để đối phó với mọi khó khăn trong cuộc sống

Công tác xã hội nhóm được coi là một trong những phương pháp can thiệp chính của ngành công tác xã hội chuyên nghiệp Công tác xã hội nhóm ra đời dựa trên niềm tin hoạt động nhóm là một biện pháp tích cực xây dựng tính cách và thúc đẩy sự phát triển của con người, đặc biệt là những người yếu thế Những hoạt động nhóm sẽ giúp từng cá nhân nâng cao khả năng hoàn thành các nhiệm vụ, giảm bớt những căng thẳng, lo âu và nhận ra giá trị bản thân mình từ đó giúp thân chủ nâng cao khả năng giải quyết vấn đề và ngăn ngừa nảy sinh ra những vấn đề xã hội nghiêm trọng khác

Từ những lý do trên tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Công tác xã hội nhóm

Trang 6

đối với trẻ mồ côi từ thực tiễn Làng trẻ em SOS thành phố Hà Nội” với hy vọng

áp dụng phương pháp CTXH nhóm, vận dụng những kiến thức, kỹ năng trong tiến trình trợ giúp nhóm trẻ em mồ côi giải quyết vấn đề của nhóm (nâng cao tính cố kết nhóm) và nâng cao năng lực của mỗi thành viên trong nhóm (sự tự tin và kỹ năng sống) hướng đến giải quyết vấn đề của nhóm thân chủ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài:

Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là đối tượng nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nhà nghiên cứu Trong phạm vi nghiên cứu là trẻ em mồ côi sống tại cơ sở bảo trợ xã hội tôi lựa chọn một số công trình nghiên cứu và báo cáo tiêu biểu

Nhóm các công trình, tài liệu nghiên cứu về trẻ em mồ côi

Chuyên đề “Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng những cơ sở xã hội và thách thức” năm 2005, của tác giả Nguyễn Hồng Thái

Chăm sóc thay thế trẻ em đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng - chuyển đổi tư cách tiếp cận trên cơ sở Quyền của trẻ em Chăm sóc trẻ đặc biệt khó khăn tại trung tâm bảo trợ xã hội và những trở ngại có thể có trong quá trình thực hiện Quyền trẻ em Thách thức và trở ngại của chiến lược chăm sóc trẻ em đặc biệt khó khăn dữa vào cộng đồng

Nghiên cứu “Chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: cơ

sở lý luận và thực tiễn pháp lý dân sự ở Việt Nam hiện nay” năm 2008, của tác giả

Dương Hải Yến đã phân tích các quy định của pháp luật về bảo vệ chăm sóc trẻ em

có hoàn cảnh đặc biệt để đưa ra giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động bảo vệ chăm sóc TETHCĐB trong thực tiễn

Dự án: “Chăm sóc TEMC không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em tàn tật nặng, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học và trẻ em nhiễm HIV/AIDS dựa vào cộng đồng giai đoạn 2005 - 2010” với mục tiêu trợ giúp tất cả TETHCĐB hòa

nhập cộng đồng, ổn định cuộc sống và có cơ hội thực hiện các Quyền của trẻ em theo quy định của pháp luật; từng bước thu hẹp khoảng các chênh lệch về mức sống giữa TETHCĐB với trẻ em bình thường tại nơi cư trú trên cơ sở huy động các nguồn lực xã hội, phát triển các hình thức chăm sóc TETHĐB dựa vào cộng đồng

Trang 7

Trong tài liệu Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em: Đánh giá pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam của

Vụ Pháp chế, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2011), đã tập trung đề cập đến

các văn bản pháp luật đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, so sánh với các chuẩn mực quốc tế, trên cơ sở đó kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, đảm bảo từng bước hài hòa với chuẩn mực và pháp luật quốc tế Đặc biệt, tài liệu cũng chỉ ra nhiều vấn đề cần khắc phục như: chưa có khung pháp lý về công tác đánh giá một cách hệ thống và chuyên nghiệp đối với trẻ em mồ côi và trẻ em bị bỏ rơi để quyết định mô hình chăm sóc

nào sẽ phù hợp với lợi ích của các em

Năm 2011 tác giả Nguyễn Thị Bích Hằng đã có bài „Đánh giá tình hình chăm sóc trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi tại Việt Nam trong thời gian qua“ Bài viết đã

đưa ra các số liệu về thực trạng chăm sóc trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi tại Việt Nam và các chính sách hỗ trợ cho trẻ em mồ côi và những định hướng cụ thể cho hoạt động chăm sóc trẻ em mồ côi ở nước ta hiện nay Đây là những số liệu để các nhà quản lý xem xét để có thể hoàn thiện hơn cơ chế chăm sóc trẻ em mồ côi, trẻ

em bị bỏ rơi

Tài liệu „Công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn“của

nhóm tác giả trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương năm 2012 đã chỉ ra các quyền trẻ em, các nhu cầu thực trạng, nguyên nhân và hậu quả của tình trạng trẻ em trong hoàn cảnh đặc biệt từ đó nhóm tác giả đã chỉ ra các yếu tố tác động làm gia tăng tỷ

lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nhất là nhóm trẻ em không nơi nương tựa, lang thang, trẻ bị bạo hành Trên cơ sở đó nhóm tác giả đã đưa ra những hướng giải quyết theo phương pháp công tác xã hội vào tiến trình can thiệp đối với nhóm trẻ có hoàn cảnh đặc biệt

Nghiên cứu “Tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và các dự báo đến năm 2020” năm 2014, của tác giả Lê Thu Hà Đã phản ánh thực trang TETHĐB khó

khăn ở Việt Nam đang cần rất nhiều hỗ trợ để hạn chế gia tang số lượng của nhóm này trong giai đoạn mới

Trang 8

Nghiên cứu “Khả năng hòa nhập cộng đồng của trẻ em mồ côi tại Làng thiếu niên Thủ Đức“ của nhóm tác giả Phan Thị Việt Nga, Võ Kim Chi năm 2014 - Trường

Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Kết quả nghiên cứu làm phong phú thêm hệ thống lí luận và lí thuyết của vấn đề này đồng thời giúp các em củng cố thêm niềm tin vào cuộc sống đồng thời kết quả cũng giúp những nhà quản lí đề ra chính sách giúp đỡ trẻ em mồ côi được tốt hơn

Luận văn “Tổ chức và hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em mồ côi từ thực tiễn Làng trẻ em SOS Hà Nội” năm 2016 của tác giả Nguyễn Văn Sinh đã phản ánh

thực trạng công tác chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em mồ côi từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ giúp các em phát triển toàn diện về thể chất, tâm sinh lý, nhận thức để từng bước tái hòa nhập cộng đồng

Nhóm các công trình, tài liệu nghiên cứu về CTXH nhóm với trẻ em mồ côi

Tài liệu “social woth children” (CTXH với trẻ em) năm 1998, NXB Macmilian Press LTD, đã được tác giả Nguyễn Thị Nhẫn (dịch), viết về hoạt động

và kỹ năng làm việc với trẻ em, trong đó có vận dụng phương pháp CTXH nhóm trong quá trình trợ giúp, tài liệu cũng làm rõ hơn những đặc điểm tâm lý và nhu cầu của trẻ trong mỗi giai đoạn phát triển, qua đó định hướng những biện pháp trợ giúp cho NVXH

Khóa luận tốt nghiệp “Ứng dụng phương pháp CTXH nhóm nhằm nâng cao năng lực cho trẻ em mồ côi“ tại Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Hòa Bình của tác giả

Nguyễn Văn Sơn năm 2008 Nghiên cứu đã đưa ra một số phương pháp can thiệp, thực hành CTXH nhóm đối với hoạt động nâng cao năng lực cho trẻ em mồ côi từ

đó giúp cho nhóm trẻ nâng cao sự tự tin và kĩ năng làm việc theo nhóm đồng thời chỉ ra vai trò của NVXH trong việc trợ giúp nhóm thân chủ

Ở Việt Nam các hoạt động sinh hoạt nhóm đã bắt nguồn từ khá sớm trong văn hóa tương thân tương ái của người Việt Những nhóm điển hình tiêu biểu như hoạt động của nhóm Hoa Phượng ở Hải Phòng, nhóm Hoa Sữa ở Hà Nội, nhóm đồng đẳng hỗ trợ các thân chủ Xã hội bị bạo hành gia đình, nhóm đồng đẳng sau cai nghiện của những người lạm dụng ma túy ở nhiều địa phương giúp nhau sinh hoạt

và phát triển kinh tế Mặc dù đã có các hoạt động nghiên cứu và thực hành CTXH

Trang 9

nhóm dưới nhiều hình thức khác nhau, song vẫn còn thiếu những nghiên cứu can thiệp vừa mang ý nghĩa thực tiễn (trợ giúp thân chủ), vừa mang ý nghĩa lý luận (bổ sung, làm rõ lý thuyết, phương pháp và kỹ năng can thiệp trong thực tiễn)

Như vậy, có thể thấy có nhiều hoạt động nghiên cứu và thực hành nhằm nâng cao năng lực cho một số nhóm xã hội có hoàn cảnh khó khăn, song vẫn chưa nghiên cứu can thiệp nào đi sâu vào nghiên cứu ứng dụng phương pháp CTXH nhóm nhằm nâng cao năng lực cho TEMC tại Làng trẻ em SOS Hà Nội Do đó việc nghiên cứu tập trung vào phương pháp CTXH nhằm nâng cao năng lực cho TEMC tại Làng trẻ

em SOS Hà Nội là rất hữu ích và cần thiết

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài đánh giá thực trạng khó khăn, nhu cầu của trẻ em mồ côi và các hoạt động CTXH tại làng trẻ em SOS Hà Nội Từ đó đưa ra các giải pháp hỗ trợ phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động can thiệp trong CTXH nhóm với nhóm trẻ

em mồ côi tại Làng trẻ em SOS Hà Nội

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về tình hình hoạt động công tác xã hội với trẻ em

mồ côi tại Làng trẻ em SOS Hà Nội

- Nghiên cứu thực trạng về nhu cầu vận dụng phương pháp công tác xã hội nhóm trong việc nâng cao kỹ năng giao tiếp và sự tự tin cho đối tượng trẻ em trong Làng trẻ em SOS Hà Nội

- Vận dụng tiến trình công tác xã hội nhóm, lựa chọn một nhóm đối tượng thân chủ cụ thể tiến hành can thiệp nhằm giải quyết vấn đề của nhóm, và nâng cao năng lực cho đối tượng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi Làng trẻ em SOS Hà Nội

Trang 10

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng; quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về giáo dục trẻ em và các học thuyết phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài như thuyết nhu cầu của Maslow, thuyết xung đột xã hội và thuyết học tập xã hội Việc sử dụng các thuyết trên vào nghiên cứu giúp chúng ta có

cơ sở để hiểu về tâm sinh lý cũng như quá trình phát triển con người và những yếu

tố có thể ảnh hưởng, tác động tích cực, tiêu cực tới quá trình phát triển đó

Quá trình thực hiện nghiên cứu, tôi đã sử dụng tư liệu từ các công trình, báo cáo, văn bản như: Báo cáo tóm tắt phân tích tình hình trẻ em tại Việt Nam, báo cáo hoạt động của một số mô hình bảo vệ trẻ em không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi: trung tâm, làng trẻ, mái ấm tình thương, gia đình thay thế…, báo cáo hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em ở Hà Nội, báo cáo tình hình hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em mồ côi tại Làng Trẻ em SOS Hà Nội năm 2016

Ngoài ra còn có các tài liệu Văn bản pháp lý như: Công ước Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em năm 1990, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em sửa đổi năm

2004, Luật Nuôi con nuôi năm 2010, Luật Phòng chống mua bán người, Nghị định 136/2013/NĐ-CP về chính sách trợ giúp xã hội, Chương trình hành động quốc gia

vì trẻ em giai đoạn 2001-2010, chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011

- 2015, Các công trình nghiên cứu, đánh giá về trẻ em, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em mồ côi, mô hình nuôi dưỡng trẻ em mồ côi của nhiều nhà khoa học, học giả trong cả nước

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trang 11

Phương pháp công tác xã hội nhóm

Công tác xã hội nhóm là phương pháp nghiên cứu áp dụng việc giải quyết vấn

đề trực tiếp cho nhóm đối tượng trẻ em mồ côi tại Làng trẻ em SOS Hà Nội Nghiên cứu được triển khai dựa trên vận dụng kỹ năng, tổ chức, điều phối buổi sinh hoạt nhóm, kỹ năng lãnh đạo, giao nhiệm vụ, tổ chức các trò chơi…

Phương pháp phân tích tài liệu

Nhằm thu thập các tài liệu liên quan, xem xét các thông tin có sẵn trong các bài viết, các báo cáo, sách, hay các cuộc nghiên cứu liên quan đến hoạt động hỗ trợ nâng cao năng lực cho nhóm đối tượng hoặc tài liệu mà cơ quan cung cấp về nhóm đối tượng để đáp ứng cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Đối với các mẹ - người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, tập trung phỏng vấn sâu họ những câu hỏi như: Những nhu cầu hiện tại trong việc chăm sóc trẻ; theo họ nhận thấy những nhu cầu nào là quan trọng thiết yếu đối với trẻ cũng như những khó khăn mà họ gặp phải trong quá trình trợ giúp trẻ

Đối với nhóm trẻ trong Làng, sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu nhằm tìm hiểu xem trẻ cảm thấy như thế nào khi sống tại Làng; trẻ được tham gia vào những hoạt động gì tại đây; được cung cấp những dịch vụ nào; nhu cầu chung hiện nay của trẻ là gì; những khó khăn mà đối tượng đang gặp phải…

Phương pháp quan sát

Trang 12

Phương pháp quan sát được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu nhằm mục đích thu thập những thông tin thực nghiệm cho nghiên cứu Nhân viên công tác

xã hội quan sát những hành động, hành vi ứng xử và thái độ hàng ngày cũng như hành vi thái độ của trẻ khi tham gia sinh hoạt nhóm bên cạnh đó quan sát thái độ, phương pháp quản lý, giáo dục trẻ của cán bộ tại Làng nhằm mô tả chi tiết về nhóm thân chủ (hành vi, thái độ, đặc điểm của từng cá nhân và đặc điểm nhóm) từ đó làm

cơ sở dữ liệu để nhân viên xã hội lập kế hoạch hoạt động cụ thể và phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của nhóm

Ngoài ra nhân viên xã hội còn sử dụng phương pháp quan sát để đánh giá mức

độ tiến bộ của các thành viên và nhóm thân chủ sau mỗi buổi sinh hoạt cũng như lượng giá lại mục tiêu cụ thể của tiến trình hoạt động

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận của luận văn

Nghiên cứu vận dụng các lý thuyết (lý thuyết nhu cầu của Maslow, thuyết xung đột xã hội và lý thuyết học tập xã hội…) và một số kỹ năng chuyên nghiệp trong công tác xã hội nhằm phân tích và giải thích vấn đề của các thành viên trong nhóm và vấn đề chung của cả nhóm trẻ em mồ côi ở Làng trẻ em SOS Hà Nội Trên

cơ sở đó tiến hành thực hiện các biện pháp can thiệp cụ thể để giải quyết một số vấn

đề của các thành viên trong nhóm

Nghiên cứu ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm nhằm nâng cao năng lực cho nhóm trẻ em mồ côi, bổ sung về mặt lý luận cho việc ứng dụng phương pháp nghiên cứu và thực hành với trẻ em nói chung và trẻ em mồ côi nói riêng

6.2.Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Giúp chúng ta có cái nhìn đúng đắn về lợi ích và vai trò của hoạt động công tác xã hội tại các cơ sở xã hội mà cụ thể ở đây là Làng trẻ em SOS Hà Nội Từ đó vận dụng phương pháp công tác xã hội nhóm đối với nhóm trẻ em mồ côi còn thiếu

tự tin, mặc cảm và nhút nhát thông qua tiến trình công tác xã hội nhóm làm thay đổi nhận thức thái độ và hành vi để cá nhân hòa nhập tốt hơn với cộng đồng

Trang 13

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho

những người quan tâm đến lĩnh vực công tác xã hội nói chung và phương pháp công

tác xã hội nhóm nói riêng

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội

dung chính của luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi

Chương 2: Thực trạng hoạt động công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi

tại Làng trẻ em SOS Hà Nội

Chương 3: Vận dụng công tác xã hội nhóm trong việc nâng cao năng lực hòa

nhập cộng đồng cho trẻ em mồ côi từ thực tiễn Làng trẻ em SOS Hà Nội

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM

ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI 1.1 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

1.1.1 Lý thuyết nhu cầu cuả MasLow

Nhu cầu cấp cao:

- Nhu cầu xã hội: Con người luôn có nhu cầu được yêu thương, gắn bó, được giao tiếp và phát triển

- Nhu cầu được tôn trọng: Khi con người được thỏa mãn nhu cầu xã hội thì họ

có xu thế tự trọng và muốn được người khác tôn trọng Nhu cầu này dẫn con người tới sự thỏa mãn như quyền lực, uy tín, địa vị và lòng tự tin

- Nhu cầu tự hoàn thiện: Đây là nhu cầu cao nhất trong phân cấp nhu cầu của Maslow Con người nhận thấy bản thân cần thực hiện một công việc nào đó và chỉ khi công việc đó được thực hiện tốt thì họ mới cảm thấy hài lòng

Như vậy, theo Maslow khi con người thỏa mãn các nhu cầu bậc thấp đến một mức độ nhất định sẽ nảy sinh những nhu cầu ở bậc cao hơn Chính vì thế việc vận dụng thuyết nhu cầu của Maslow sẽ giúp chúng ta đối chiếu với trẻ em mồ côi xem các em đã được đáp ứng những gì và những gì còn thiếu hụt từ đó đưa ra những giải pháp can thiệp phù hợp nhằm đạt được mục đích nghiên cứu đề ra

1.1.2 Thuyết xung đột xã hội

Thuyết xung đột nhấn mạnh mâu thuẫn là một phần không tránh được trong mối quan hệ con người với nhau Đồng thời, thuyết cũng cho rằng xung đột và mâu thuẫn đóng góp vào sự thay đổi không ngừng của xã hội

Thuyết xung đột trong công tác xã hội nhóm

Trong suốt giai đoạn phát triển của nhóm cũng như tiến trình công tác xã hội nhóm, xung đột do mâu thuẫn về lợi ích, quan điểm, giá trị niềm tin, văn hóa, sự phân

Trang 15

chia vai trò chức năng, các nhu cầu hoặc vấn đề ưu tiên luôn xảy ra trong các thành viên hoặc các nhóm với nhau Biết được nguyên nhân của xung đột sẽ hỗ trợ cho thành viên nhóm giải quyết chúng tốt hơn Vì mỗi kiểu mâu thuẫn từ các nguyên nhân khác nhau sẽ được tiếp cận với các chiến lược cụ thể khác nhau Trong nhóm nhỏ, mâu thuẫn thường xuất hiện từ việc hiểu nhầm trong giao tiếp hoặc thiếu thông tin Loại mâu thuẫn này dễ giải quyết hơn kiểu mâu thuẫn do sự khác biệt trong giá trị niềm tin Mâu thuẫn do vấn đề cơ cấu lại khó khăn hơn so với mâu thuẫn vì sự khác biệt trong nhu cầu và mong muốn Nắm bắt được điều này, nhân viên xã hội sẽ có những kế hoạch và cách ứng xử phù hợp, cũng như cách giải quyết khôn ngoan cho các trường hợp xung đột khác nhau xuất hiện trong nhóm, giúp các thành viên trưởng thành hơn tạo điều kiện tăng cường sự cố kết nhóm sau mỗi xung đột

Dựa vào thuyết xung đột xã hội, trong quá trình tổ chức hoạt động cho nhóm trẻ mồ côi NVXH cần phải có những ứng xử phù hợp và giải quyết các xung đột xuất hiện trong nhóm một cách hợp lý Để làm được điều đó NVXH cần có được kiến thức, sự hiểu biết về xung đột, các nguyên nhân dẫn đến xung đột, những thói quen hay được sử dụng trong việc giải quyết các tình huống xung đột Bên cạnh đó, cần phải biết kỹ năng và cách thức điều chỉnh xung đột một cách sáng tạo Quan trọng hơn, NVXH trong quá trình giúp đỡ nhóm trẻ mồ côi cần giúp tất cả thành viên nhóm hiểu được các kỹ năng cơ bản, cách thức giải quyết mâu thuẫn để các em

tự điều chỉnh hành vi của mình Từ đó, vấn đề có thể được giải quyết và vẫn đảm bảo duy trì tốt các mối quan hệ vẫn ngay cả khi nhóm có mâu thuẫn

1.1.3 Thuyết học tập xã hội (Social learning theory)

Thuyết học tập được bắt đầu từ quan điểm học tập của Tarde (1843 - 1904) Trong quan điểm của mình, Tarde nhấn mạnh về ý tưởng học tập xã hội thông qua

ba quy luật bắt chước: đó là sự tiếp xúc gần gũi, bắt chước người khác và sự kết hợp

cả hai Cá nhân học cách hành động vừ ứng xử của người khác qua quan sát hoặc bắt chước

Thuyết học tập được ứng dụng vào công tác xã hội vào những năm 80 của thế

kỷ XX Thuyết được sử dụng để giải thích cho hành vi tội phạm liên quan đến việc đột nhập và phá hoại hệ thống máy tính tại các trường đại học (hacker máy tính) Thuyết học tập xã hội còn được sử dụng để điều chỉnh hành vi Ví dụ: việc bố trí, sắp xếp một học sinh có hành vi lệch lạc ngồi cạnh một học sinh có hành vi tốt Như

Trang 16

vậy, cách cư xử của học sinh tốt sẽ giúp cho học học sinh kia nhận thấy hành vi đúng và chỉnh sửa Tuy nhiên, học sinh có hành vi tốt có thể sẽ bị nhiễm hành vi lệch lạc của học sinh kia, đây chính là kết quả trái ngược không mong đợi

Thuyết học tập trong công tác xã hội nhóm

Theo cách tiếp cận cổ điển của thuyết học tập, hành vi của thành viên nhóm có thể xuất hiện khi nó được kích thích Ví dụ như nhân viên xã hội nhắc nhở (điều kiện kích thích) thành viên A khi anh ta lấn át các thành viên khác khi tham gia thảo luận Nhờ có sự nhắc nhở này mà thành viên A đã thay đổi hành vi của mình Đây

là kết quả của việc đưa ra kích thích thay đổi hành vi của thân chủ trong nhóm Một phương pháp học tập theo thuyết này khá phổ biến ứng dụng trong công tác xã hội tạo ra môi trường có điều kiện Đơn cử như hành vi của thành viên A sẽ lặp lại hành

vi của chính mình, nếu như hành vi đó nhận được phản ứng tính cực của các thành viên trong nhóm Như thế tạo ra môi trường có điều kiện để thành viên A tiếp tục củng cố được hành vi Ngược lại, nếu một nhân viên làm việc nhóm nhận được sự phản hồi khó chịu từ các thành viên trong nhóm về một hành vi nào đó của bản thân, anh ta sẽ cố gắng tránh có các biểu hiện kiểu đó trong tương lai Bên cạnh đó, thuyết học tập xã hội có thể giúp giải thích cho các hiện tượng lây chuyền hành vi

từ thành viên này sang thành viên khác, nếu như hành vi của thành viên đó được các thành viên hưởng ứng

Khi vận dụng thuyết học tập xã hội trong công tác xã hội nhóm, người điều phối phải lưu ý tới việc sử dụng các kỹ thuật để khuyến khích những hành vi được coi là chuẩn mực, chẳng hạn như việc khen thưởng, khích lệ mỗi cá nhân đúng lúc; hoặc có các hình thức phạt để nhắc nhở nhóm viên tránh lặp lại những hành vi không phù hợp với chuẩn mực của nhóm Ngoài ra, nhân viên xã hội cũng cần phải biết vận dụng các kỹ năng và tạo cơ hội để các khuôn mẫu hành vi tích cực của các thành viên nhóm xuất hiện và lặp đi lặp lại, giúp các thành viên nhóm nhận thức được khuôn mẫu về thời gian để thực hành

Tóm lại, cho dù vẫn còn những tranh cãi, thuyết học tập ảnh hưởng tới phương pháp thực hành công tác xã hội nhóm Điều này thể hiện qua từng bước của tiến trình công tác xã hội, việc lập kế hoạch cụ thể và lập kế hoạch trị liệu từng bước, kết quả trị liệu có thể đo lường được và đánh giá từng phần [12, tr.84]

Trang 17

Đối với trẻ mồ côi khi tham gia hoạt động nhóm sẽ có những em rụt rè, thiếu

tự tin nhưng bên cạnh đó có những em tự tin, bạo dạn Trong quá trình hoạt động những em thiếu tự tin quan sát thấy các bạn khác tích cực dần dần các em sẽ học tập các hành vi đó Như vậy thuyết học tập trong sinh hoạt nhóm sẽ giúp cho các nhóm viên thay đổi hành vi không tương hợp (hành vi lệch chuẩn) và củng cố hành vi tương hợp

1.2 Các khái niệm công cụ

1.2.1 Công tác xã hội nhóm

* Khái niệm công tác xã hội

Theo các nhân viên xã hội Mỹ - NASW đưa ra năm 1970: “Công tác xã hội là một hoạt dộng mang tính chuyên môn nhằm giúp đỡ những cá nhân, nhóm và cộng đồng trong hoàn cảnh khó khăn để họ tự phục hồi chức năng xã hội là tạo ra các điều kiện thuận lợi cho họ đạt được những mục đích cá nhân”

Theo hiệp hội nhân viên xã hội quốc tế - IFSW năm 2000: “Công tác xã hội chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, việc giải quyết vấn đề trong các mối quan hệ con người với sự tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi

và hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người với môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề công tác xã hội”

Theo nhóm tác giả Việt Nam (2010): “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực, đáp ứng nhu cầu và tang cường chức năng xã hội đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội” [19, tr19]

* Khái niệm nhóm và nhóm xã hội:

- Khái niệm nhóm:

Định nghĩa về nhóm có rất nhiều quan điểm dựa trên các cách tiếp cận và lĩnh vực nghiên cứu khác nhau Nghiên cứu lựa chọn khái niệm nhóm theo quan điểm

Trang 18

của Xã hội học: “Nhóm là một thành tố của hệ thống xã hội mà mối quan hệ ý nghĩa của nó được xác định qua những quan hệ thành viên trực tiếp và phân tán cũng như qua tính bền lâu tương đối” [19, tr.299]

Nhìn chung nhóm là hai hay nhiều người có mối quan hệ tương hỗ nhau về mặt tinh thần, hoạt động như một tập thể, có những mối quan tâm chung, sử dụng việc tương tác mặt đối mặt để chia sẻ, nhất trí và làm việc để đáp ứng nhu cầu, các vấn đề thuộc về giá trị chung của họ hoặc của người khác

Các yếu tố hình thành một nhóm: Có cùng chung mục đích và chia sẻ trách nhiệm để đạt được mục đích đó Có mối quan hệ tác động qua lại thông qua giao tiếp, có ảnh hưởng lẫn nhau Sinh hoạt theo quy tắc và tiêu chuẩn riêng Và mỗi thành viên có một hay nhiều vai trò tùy theo tình huống nhất định

- Nhóm xã hội:

“Nhóm xã hội là một tập hợp những cá nhân được gắn kết với nhau bởi những mục đích nhất định Những cá nhân có những hoạt động chung với nhau trên cơ sở cùng chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau nhằm đạt được những mục đích cho mọi thành viên” [19, tr.305]

Trong công tác xã hội nhóm việc thành lập một nhóm thân chủ để can thiệp trợ giúp được coi là một nhóm xã hội Chẳng hạn với nhóm thân chủ là trẻ em mồ côi thì mục đích của nhóm là tạo ra môi trường hòa thuận giữa các thành viên, các

em có thể chia sẻ với nhau những tâm tư, nguyện vọng, tình cảm, ước mơ và tham gia các hoạt động chung của nhóm, qua đó nâng cao năng lực cho từng nhóm và thành viên trong nhóm

* Khái niệm công tác xã hội nhóm:

“CTXH nhóm trước hết phải được coi là một phương pháp can thiệp của CTXH Đây là một tiến trình trợ giúp mà trong đó các thành viên trong nhóm được tạo cơ hội và môi trường có các hoạt động tương tác lẫn nhâu, chia sẻ những mối quan tâm hay những vấn đề chung, tham gia vào các hoạt động nhóm và hướng đến giải tỏa những vấn đề khó khăn Trong hoạt động CTXH nhóm, một nhóm thân chủ được thành lập, sinh hoạt thường kỳ dưới sự điều phối của người trưởng nhóm (có thể là

Trang 19

nhân viên xã hội cũng có thể là thành viên của nhóm) và đặc biệt là sự trợ giúp, điều

phối của nhân viên xã hội” [17, tr.34]

“CTXH với nhóm (còn gọi là làm việc với nhóm) là quá trình mà nhân viên CTXH sử dụng tiến trình sinh hoạt nhóm để giúp đỡ nhóm và từng cá nhân tăng cường khả năng tự giải quyết vấn đề nhằm thỏa mãn nhu cầu” [28, tr.9]

* Nhân viên xã hội

- Khái niệm Nhân viên xã hội (Social worker)

Theo Zastrow (1996) Nhân viên xã hội là người được đào tạo về công tác xã hội Họ sử dụng kiến thức và kỹ năng để cung cấp các dịch vụ xã hội cho các cá nhân

và gia đình, nhóm, cộng đồng, tổ chức, xã hội Nhân viên xã hội giúp đỡ con người tăng cường năng lực đối phó và giải quyết vấn đề, tìm kiếm các nguồn lực cần thiết, tạo điều kiện cho sự tương tác giữa cá nhân và con người với môi trường, thúc đẩy trách nhiệm của xã hội với con người vừa tác động đến các chính sách xã hội

DuBois and Miley (2005) lại nhận định Nhân viên xã hội là những nhà chuyên nghiệp, có nền tảng kiến thức chuyên môn, có kỹ năng cần thiết, tuân thủ những tiêu chuẩn và đạo đức của nghề công tác xã hội

Trong văn bản quy định chức danh nghề CTXH ở Việt Nam có quy định: Nhân viên xã hội, công tác xã hội viên, công tác xã hội viên chính Trong tài liệu này xin gọi chung là nhân viên xã hội

- Nhiệm vụ của nhân viên xã hội

Thúc đẩy, phục hồi, duy trì và tăng cường chức năng của cá nhân, gia đình và cộng đồng thông qua hoạt động trợ giúp, phòng ngừa, phát huy nguồn lực trong xã hội Xây dựng, hoạch định và thực thi các chính sách xã hội, chương trình hành động, hệ thống dịch vụ xã hội, nguồn lực xã hội cần thiết để đáp ứng nhu cầu của con người và trợ giúp sự phát triển năng lực của con người

Theo dõi, kiểm soát các chính sách, chương trình thông qua hoạt động biện hộ, hoạt động chính trị để tăng năng lực cho những nhóm yếu thế hay nhóm người yếu thế và thúc đẩy công bằng, bình đẳng về mặt kinh tế cũng như xã hội

Phát triển những kiến thức kỹ năng của công tác xã hội để đảm bảo mục tiêu nghề nghiệp của mình

Trang 20

- Vai trò của nhân viên xã hội

Vai trò là người vận động nguồn lực: Là người trợ giúp các đối tượng (cá nhân, gia đình, cộng đồng…) tìm kiếm nguồn lực (nội lực, ngoại lực) cho giải quyết vấn đề Nguồn lực có thể bao gồm về con người, về cơ sở vật chất, về tài chính, kỹ thuật, thông tin, sự ủng hộ về chính sách, chính trị và quan điểm…

Vai trò là người kết nối - còn gọi là người trung gian: nhân viên xã hội là người có được những thông tin về các dịch vụ, chính sách và giới thiệu cho đối tượng các chính sách, dịch vụ, nguồn tài nguyên đang sẵn có từ các cá nhân, cơ quan tổ chức để họ tiếp cận với những nguồn lực, chính sách, tài chính, kỹ thuật để

có them sức mạnh trong giải quyết vấn đề

Vai trò là người biện hộ: là người bảo vệ quyền lợi cho đối tượng để họ được hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi cho đối tượng, cổ vũ tuyên truyền Ví

dụ như sự vận động cho quyền lợi của những người khuyết tật được hưởng chính sách hòa nhập

Vai trò là người giáo dục: là người cung cấp kiến thức kỹ năng liên quan tới vấn đề của họ cần giải quyết, nâng cao năng lực cho cá nhân, gia đình, nhóm hay cộng đồng qua tập huấn, giáo dục cộng đồng để họ có hiểu biết, tự tin và tự mình nhìn nhận vấn đề đánh giá vấn đề phân tích và tìm kiếm nguồn lực cho vấn đề cần giải quyết

Vai trò người tạo sự thay đổi: người nhân viên xã hội được xem như người tạo

ra sự thay đổi cho cá nhân, giúp họ thay đổi suy nghĩ, thay đổi hành vi tiêu cực hướng tới những suy nghĩ và hành vi tốt đẹp hơn

Vai trò là người tham vấn, tư vấn: nhân viên xã hội tham gia như người cung cấp thông tin tư vấn cho các đối tượng cần có thông tin như thông tin về chăm sóc sức khỏe sinh sản, thông tin về bảo vệ môi trường, dinh dưỡng cho trẻ em hay người già Vai trò của người tham vấn: NVXH trợ giúp gia đình và cá nhân tự mình xem xét vấn đề, tự thay đổi Ví dụ như NVXH tham gia tham vấn giúp trẻ em bị xâm hại tình dục hay phụ nữ bị bạo hành vượt qua khủng hoảng

Vai trò là người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng: trên cơ

sở nhu cầu của cộng đồng đã được cộng đồng xác định, NVXH giúp cộng đồng xây

Trang 21

dựng chương trình hành động phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, tiềm năng của cộng đồng giải quyết vấn đề của cộng đồng

Vai trò là người cung cấp các dịch vụ trợ giúp cho những cá nhân, gia đình không có khả năng tự đáp ứng nhu cầu của mình và giải quyết vấn đề

Vai trò là người nghiên cứu xử lý dữ liệu: Với vai trò này, NVXH nhiều khi phải nghiên cứu, thu thập thông tin và phân tích thông tin trên cơ sở đó tư vấn cho đối tượng để họ đưa ra những quyết định đúng đắn

Vai trò là người quản lý hành chính: NVXH khi này thực hiện những công việc cần thiết cho việc quản lý các hoạt động, các chương trình, lên kế hoạch triển khai kế hoạch các chương trình dịch vụ cho cá nhân, gia đình và cộng đồng

Người tìm hiểu, khám phá cộng đồng: NVXH đi vào cộng đồng để xác định vấn đề của cộng đồng để đưa ra những kế hoạch trợ giúp, theo dõi, giới thiệu chuyển giao những dịch vụ cần thiết cho các nhóm đối tượng trong cộng đồng

1.2.2 Trẻ em mồ côi

* Khái niệm trẻ em

Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em của Liên hiệp quốc công bố năm 1989 xác định “Trong phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa là dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”

Tại Việt Nam, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định

“Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”

Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi vận dụng khái niệm trẻ em theo Luật Bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 Cụ thể, trong phạm vi nghiên cứu của

đề tài là những trẻ em mồ côi dưới 16 tuổi tại Làng trẻ em SOS Hà Nội

* Khái niệm trẻ em mồ côi

Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em sửa đổi năm 2004 quy định trẻ em

mồ côi được hiểu là những trẻ em có hoàn cảnh như sau: Mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc

bị bỏ rơi, bị mất nguồn nuôi dưỡng và không còn người thân thích ruột thịt (ông, bà nội, ngoại; bố, mẹ nuôi hợp pháp; anh, chị) để nương tựa

Mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại (mẹ hoặc cha) mất tích theo quy định của Bộ luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng (như tàn tật

Trang 22

nặng, đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại cải tạo), không có nguồn nuôi dưỡng và không có người thân thích để nương tựa

Theo Luật Nuôi con nuôi ban hành năm 2010 thì: Trẻ em mồ côi là trẻ em mà cả cha mẹ đẻ đã chết hoặc một trong hai người đã chết và người kia không xác định được Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi xác định, trẻ em mồ côi là những em dưới 16 tuổi và có hoàn cảnh như: cả cha lẫn mẹ đã chết hoặc cha hoặc

mẹ đã chết; cả cha và mẹ, hoặc cha hoặc mẹ đã mất tích theo qui định của pháp luật

1.2.3 Công tác xã hội nhóm với trẻ em mồ côi

* Công tác xã hội với trẻ em

“Công tác xã hội với trẻ em là công tác xã hội có đối tượng tác động là trẻ em,

nhằm phát hiện và can thiệp để ngăn ngừa các em tránh rơi vào hoàn cảnh đặc biệt hoặc trợ giúp các em đã rơi vào hoàn cảnh đặc biệt vượt qua hoàn cảnh của mình để

có thể hòa nhập với gia đình và cộng đồng [13, tr.10]

* Công tác xã hội nhóm với trẻ em mồ côi

Từ khái niệm về CTXH nhóm cũng như cách hiểu về nhóm trẻ em mồ côi có thể hiểu: CTXH nhóm với trẻ em mồ côi là quá trình nhân viên CTXH sử dụng phương pháp CTXH nhóm tác động đến nhóm đối tượng là trẻ em mồ côi Thông qua tiến trình trợ giúp mà trong đó các thành viên nhóm là trẻ em mồ côi được tạo

cơ hội và môi trường có các hoạt động tương tác lẫn nhau, chia sẻ những mối quan tâm hay những vấn đề chung tham gia vào các hoạt động nhóm và hướng đến giúp

đỡ nhóm và từng cá nhân tăng cường khả năng tự giải quyết vấn đề nhằm thỏa mãn nhu cầu

Như vậy tiến trình trợ giúp mà nhân viên sử dụng là tiến trình sinh hoạt nhóm gồm bốn giai đoạn chính:

- Giai đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm

- Giai đoạn nhóm bắt đầu hoạt động

- Giai đoạn can thiệp

- Giai đoạn kết thúc và lượng giá

Các mô hình vận dụng trong CTXH nhóm với trẻ em mồ côi:

- Mô hình phòng ngừa:

Trang 23

CTXH nhóm là môi trường tốt tạo cơ hội cho các cá nhân phát triển, học hỏi

và hàn gắn tổn thương, vì vậy, Klein (1972) đã đưa ra các mục đích của CTXH nhóm như sau:

- Phòng ngừa: là việc dự đoán những khó khăn trước khi xảy ra và cung cấp những

biện pháp cần thiết đáp ứng nhu cầu con người Ví dụ như việc trang bị kiến thức,

kỹ năng giúp trẻ em hiểu về các quyền của mình để ngăn ngừa việc bị lạm dụng, ngược đãi

- Phục hồi: là quá trình khôi phục cho thân chủ năng lực trước đây của họ Phục hồi

trong CTXH nhóm là hỗ trợ thân chủ có đủ sức mạnh trở lại giải quyết những khó khăn, vấn đề về tâm lý, tình cảm và hành vi của họ Ví dụ như việc những thân chủ sau những tổn thương về tâm lý xã hội, mất đi khả năng giao tiếp và hoà nhập cộng đồng, CTXH nhóm giúp họ có được sự tự tin, kỹ năng giao tiếp và hòa nhập cộng đồng trở lại

- Chỉnh sửa: là việc giúp đỡ các thành viên chỉnh sửa lại hành vi lệch chuẩn như vi

phạm pháp luật, quy luật, giá trị cuộc sống Chẳng hạn như việc giáo dục pháp luật

và kỹ năng sống cho các em vi phạm pháp luật thông qua hoạt động nhóm để các

em hiểu và sửa đổi hành vi của mình

- Xã hội hoá hay còn được gọi là hoà nhập xã hội: là việc tạo ra môi trường nhóm

hỗ trợ thân chủ học được những gì xã hội mong đợi và sống hoà đồng với những người khác Trong nhiều trường hợp, thân chủ có những suy nghĩ và hành vi không phù hợp với gia đình, cộng đồng và môi trường xã hội, CTXH nhóm sẽ giúp họ nhận diện được vấn đề và thay đổi để hoà nhập cuộc sống xã hội

Trang 24

- Hành động xã hội: là tiến trình khuyến khích hoạt động xã hội giúp mọi người học

cách thay đổi môi trường và đối phó, điều chỉnh bản thân

- Giải quyết vấn đề và các giá trị xã hội: là việc hỗ trợ thân chủ sử dụng nhóm hoàn thành nhiệm vụ, đưa ra quyết định và giải quyết các vấn đề xã hội Bên cạnh đó khuyến khích thân chủ có được các giá trị xã hội

Như vậy, mục tiêu của công tác xã hội nhóm bám sát mục tiêu trao quyền, tăng năng lực các thân chủ tham gia hoạt động công tác xã hội nhóm Từ đó các thành viên học được cách ứng phó với vấn đề của mình gặp phải

1.3.2 Đặc trưng công tác xã hội nhóm

Cùng với các phương pháp khác trong chuyên môn công tác xã hội, CTXH nhóm được sử dụng trong nhiều hoạt động của quá trình giúp đỡ thân chủ Tuy nhiên, để trả lời cho câu hỏi khi nào sử dụng phương pháp này là phù hợp, chúng ta cần xem xét các đặc trưng của CTXH nhóm Theo tổng hợp từ nhiều tài liệu, CTXH nhóm có ba đặc trưng cơ bản sau:

- Đặc trưng thứ nhất là ở đối tượng tác động của phương pháp này là toàn nhóm Khác với CTXH cá nhân, CTXH nhóm tác động đến toàn bộ các thành viên trong nhóm CTXH nhóm đi theo cách tiếp cận nhóm như một tổng thể tác động không phải chỉ là phép cộng đơn thuần của từng thành viên Điều này có thể được hiểu qua các hoạt động thực tiễn của CTXH nhóm hướng đến toàn thể các thành viên trong nhóm Nhóm và ảnh hưởng của nhóm được dùng để giải quyết vấn đề của cá nhân

và của nhóm

- Đặc trưng thứ hai là công cụ tác động của nhóm chính là mối quan hệ, sự tương tác giữa các thành viên trong nhóm CTXH nhóm nhấn mạnh vào sự tác động qua lại, tương tác giữa các thành viên trong nhóm để xây dựng và củng cố nhân cách của các thành viên trong nhóm Đặc trưng này khác biệt với phương pháp CTXH cá nhân khi công cụ tác động thay đổi cá nhân là quá trình trợ giúp của người nhân viên xã hội

- Đặc trưng thứ ba là ở vai trò của nhân viên xã hội trong tiến trình giúp đỡ nhóm thân chủ Khác với cách tiếp cận trực tiếp của NVXH trong phương pháp CTXH cá nhân, trong phương pháp này, NVXH chủ yếu đóng vai trò tổ chức, điều phối,

Trang 25

hướng dẫn, định hướng sinh hoạt của nhóm Ảnh hưởng của NVXH trong hoạt động nhóm chủ yếu mang tính gián tiếp thông qua việc tạo môi trường lành mạnh thúc đẩy các tương tác nhóm hướng đến sự thay đổi và hỗ trợ trưởng nhóm điều hành nhóm Vai trò NVXH giảm dần và tương đối gián tiếp để các thành viên trong nhóm có ảnh hưởng tích cực lên nhau Tuy nhiên ở những nhóm trị liệu, khi yêu cầu trị liệu sâu hơn, cần nhiều kiến thức và kỹ năng chuyên môn hơn thì vai trò của nhân viên xã hội trực tiếp hơn

Những đặc trưng trên đã gợi mở cho chúng ta những vấn đề nào có thể sử dụng CTXH nhóm Trước hết đó là những vấn đề liên quan đến việc giải quyết nhu cầu tương đối giống nhau của nhiều người Ví dụ như sử dụng CTXH nhóm cho những trẻ em lang thang dạy các em kỹ năng sống và cách tránh xa những tệ nạn xã hội tại thành phố nơi các em đến kiếm sống Hầu hết các trẻ em lang thang này ở nông thôn do những hoàn cảnh khác nhau phải bỏ nhà tìm đến thành phố kiếm việc làm gửi tiền về hỗ trợ cho gia đình Các em lúc bỏ nhà đi còn nhỏ lại đến một môi trường thành thị vốn có rất nhiều khó khăn và cạm bẫy, nên các em có nhu cầu bổ xung nhiều kiến thức và kỹ năng sống, đặc biệt là nhu cầu cần bảo vệ mình tránh xa khỏi các tệ nạn xã hội Vì vậy, CTXH nhóm là cách tốt nhất để hỗ trợ các em đáp ứng các nhu cầu chung về kỹ năng sống và cách bảo vệ bản thân

Bên cạnh đó, CTXH nhóm cũng có thể được sử dụng trong việc xử lý những vấn đề nảy sinh trong mối tương quan giữa hai hay nhiều người Đơn cử như việc cải thiện các mối quan hệ giao tiếp trong các thành viên trong nhóm thân chủ tại trung tâm, các cơ sở nuôi dưỡng tập trung CTXH nhóm được sử dụng đáp ứng nhu cầu chung nào đó của một số thân chủ ví dụ như đáp ứng nhu cầu giải trí, nhu cầu nâng cao nhận thức về các quyền, sinh sản vị thành niên, CTXH nhóm còn được

sử dụng khi xuất hiện yêu cầu công việc hỗ trợ một cách gián tiếp thân chủ như yêu cầu vận động chính sách (biện hộ) và tổ chức các dịch vụ

1.3.3 Vai trò

CTXH nhóm được coi là một trong những phương pháp can thiệp chính của nghề công tác xã hội chuyên nghiệp trên thế giới NVXH hiểu được những tác động tích cực và có hiệu quả của tiến trình nhóm giúp cá nhân nâng cao chức năng xã

Trang 26

hội CTXH nhóm ra đời dựa trên niềm tin hoạt động nhóm là một biện pháp tích cực xây dựng tính cách và thúc đẩy sự phát triển của con người, đặc biệt là những con người yếu thế, có những rối nhiễu chức năng xã hội Trong các trung tâm, cơ sở

hỗ trợ những người dễ bị tổn thương, phương pháp làm việc với nhóm có những tác động quan trọng đến việc hỗ trợ những thân chủ giải quyết vấn đề

Những hoạt động nhóm sẽ giúp từng cá nhân nâng cao khả năng hoàn thành các nhiệm vụ giảm bớt những sự căng thẳng, lo âu và nhận ra giá trị bản thân mình

từ đó giúp thân chủ nâng cao khả năng giải quyết vấn đề và ngăn ngừa nảy sinh ra những vấn đề xã hội nghiêm trọng khác

CTXH nhóm có nhiều lợi ích, có thể đưa ra bốn lợi ích lớn như sau:

- Trước hết, CTXH nhóm tạo ra cảm giác được thuộc về nhóm cho các thân chủ Đây là một nhu cầu cơ bản bậc 3 của con người được nhà tâm lý học abraham maslow (1908-1970) đưa ra trong 5 bậc thang nhu cầu của con người Được tham gia vào sinh hoạt nhóm, thân chủ có những trải nghiệm được thuộc về nhóm Những trải nghiệm này thể hiện ở chính sự chấp nhận và được tôn trọng của các thành viên trong nhóm đem lại cho mỗi cá nhân có được cảm nhận mình là một phần của nhóm Quan trọng hơn, quá trình trải nghiệm nhóm, thông qua các tương tác giúp thân chủ sẽ thấy mình cũng quan trọng và có giá trị

- Thứ hai, CTXH nhóm tạo ra cơ hội để thử nghiệm thực tế

Trong nhóm các thành viên sẽ có cơ hội thực hành thay đổi hành vi trước khi thực hiện những hành vi đó trong các tình huống thực tiễn để từ đó thân chủ có được ý niệm những hành vi mới thay đổi này sẽ được chấp nhận ở ngoài nhóm như thế nào

- Thứ ba, CTXH nhóm tạo ra sự hỗ trợ qua lại lẫn nhau

Trong quá trình sinh hoạt nhóm, qua quá trình tương tác qua lại giữa các cá nhân thành viên, các thành viên tạo ra sự gắn bó với nhau và với nhóm Mỗi thành viên

có cơ hội được giúp và giúp đỡ người khác từ đó cho họ cảm nhận về trách nhiệm với người khác và với chính mình

- Thứ tư, CTXH nhóm tạo ra sức mạnh và nghị lực cho thân chủ

Trong nhiều trường hợp khi cá nhân thân chủ đến với nhóm anh/chị ấy có cảm giác bất lực và vô vọng đối với vấn đề của mình, với các hoạt động trong nhóm bày tỏ và

Trang 27

chia sẻ những kinh nghiệm dưới sự điều phối của nhân viên xã hội giúp các thành viên nhận ra những điểm mạnh và lấy lại sức mạnh và nghị lực vươn lên (reid, 1997).Trong cuốn bài giảng CTXH nhóm[1] các tác giả đã nhấn mạnh nhóm có vị trí quan trọng và ảnh hưởng lớn lao tới đời sống cá nhân Cụ thể thể hiện ở 3 tác động sau:

(1) nhóm đem lại quyền được công nhận, vì khi tham gia vào các hoạt động nhóm,

cá nhân được tham gia, được chấp nhận thuộc về nhóm xã hội và được công nhận (2) nhóm đem lại cho cá nhân sự quan tâm, chăm sóc vì mục đích của công tác xã hội nhóm là giúp các thành viên nhận thức về hành động, suy nghĩ, cảm xúc và sử dụng áp lực nhóm để có được sự thay đổi

(3) nhóm làm tăng cường sự gắn bó giữa các cá nhân, tác giả cho rằng nhóm giúp các cá nhân chia sẻ thông tin, nhu cầu giao tiếp, chia sẻ tâm tư, tình cảm, tạo ảnh hưởng của cá nhân với nhóm và ngược lại

Tóm lại, CTXH nhóm có vai trò quan trọng trong quá trình hỗ trợ thân chủ yếu thế có những khó khăn trong xã hội Vai trò quan trọng của CTXH nhóm thể hiện ở những tác động về mặt tâm lý tình cảm mang lại cho các cá nhân có khó khăn trong cuộc sống như giải toả tâm tư, tình cảm, giúp họ lấy lại sự lạc quan, giá trị bản thân Bên cạnh đó, CTXH nhóm còn đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ cá nhân về mặt xã hội, giúp họ tự tin trong quản lý cuộc sống của bản thân họ, của gia đình họ và hoà nhập hơn với cuộc sống xã hội

1.3.4 Tiến trình công tác xã hội nhóm với trẻ em mồ côi

* Giai đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm

- Xác định mục đích hỗ trợ nhóm

Đây là công việc quan trọng đầu tiên mà NVXH cần làm khi chuẩn bị xem xét áp dụng phương pháp CTXH nhóm vào quá trình can thiệp và hỗ trợ thân chủ NVXH phải trả lời được các câu hỏi như: Liệu CTXH nhóm có thực sự cần thiết cho thân chủ hay không? Những lợi ích đem lại cho thân chủ để từ đó xác định mục đích hỗ trợ Xuất phát từ mục đích hỗ trợ mà NVXH sẽ lựa chọn mô hình nhóm phù hợp Nói tóm lại, ở bước công việc này NVXH cần đánh giá và xác định một cách rõ

Trang 28

ràng, cẩn thận dựa trên tôn chỉ đạo đức nghề nghiệp và quan trọng hơn là phải phù hợp với mong muốn, nhu cầu và vì lợi ích tốt nhất cho thân chủ

- Đánh giá khả năng thành lập nhóm

+ Đánh giá khả năng tài trợ hoạt động nhóm

Để có thể đánh giá được khả năng tài trợ NVXH cần nghiên cứu kĩ về cơ quan, tổ chức cung cấp nhiệm vụ xã hội, nhiệm vụ, chức năng hoạt động, cơ chế làm việc và những định hướng trọng tâm trong việc hỗ trợ, giúp đỡ thân chủ

+ Đánh giá khả năng tham gia của các thành viên

Mục đích của việc đánh giá khả năng tham gia của các thành viên là nhằm xác định

số lượng thành viên có thể có khi nhóm được thành lập và dựa vào đó NVXH thấy được khả năng thành lập nhóm để tiếp tục thực hiện các bước tiếp theo

+ Đánh giá khả năng các nguồn lực khác

NVXH cần phải đánh giá khả năng các nguồn lực khác hỗ trợ thành lập nhóm Nguồn lực khác ở đây không chỉ là về tài chính, cơ sở vật chất mà còn ở sự ủng hộ của cộng đồng, đoàn thể và chính quyền

- Thành lập nhóm

+ Tuyển chọn thành viên nhóm

Trong bước này NVXH sẽ tiến hành tuyển chọn các thành viên trong nhóm Để việc tuyển chọn được đúng người, đúng đối tượng NVXH dựa trên việc đánh giá các thành viên tương lai ở bước trên Có nhiều phương pháp và cách thức tuyển chọn các thành viên trong nhóm (liên hệ trực tiếp, gửi thông báo, thông qua phương tiện thông tin đại chúng)

3) Chú ý tính đa dạng về cơ cấu những kĩ năng

+ Qui mô thành viên nhóm

Trang 29

Không có một tiêu chuẩn cứng cho số lượng thành viên trong một nhóm.Tuy nhiên

để quyết định số lượng thành viên trong nhóm cần phải căn cứ vào những mục tiêu của nhóm và đặc điểm của những thành viên trong nhóm Nhóm vừa đủ để có thể đạt được mục đích nhưng cũng đảm bảo cho các thành viên tương tác và học hỏi sự

đa dạng từ các thành viên khác

- Định hướng cho các thành viên trong nhóm

+ Thông tin về nhóm và tiến trình hoạt động nhóm

Sau khi các thành viên trong nhóm đã được tuển chọn, việc tiếp theo NVXH cần thực hiện là đưa ra những định hướng ban đầu cho các thành viên Bên cạnh đó NVXH giúp giải đáp những thắc mắc của các thành viên về nhóm, các hoạt động sẽ diễn ra trong các giai đoạn sinh hoạt nhóm NVXH cũng cần dành thời gian giải thức về cách thức quản lý và nhiệm vụ của NVXH và sự tham gia của các thành viên

+ Đánh giá lại nhu cầu thành viên nhóm

Đây là hoạt động rất cần thiết để hỗ trợ cho quyết định tham gia của thành viên nhóm và có ảnh hưởng tới mức độ cam kết của thành viên nhóm sau này vì sau khi được định hướng các thành viên nhóm có thêm thông tin để đi đến quyết định cuối cùng tham gia nhóm

- Chuẩn bị môi trường

+ Chuẩn bị cơ sở vật chất

Chuẩn bị về cơ sở vật chất bao gồm việc chọn địa điểm, phòng sinh hoạt, không gian, cách sắp đặt làm thế nào để tạo được không khí ấm cúng, an toàn và thoải mái cho các thành viên trong nhóm Khi chọn địa điểm nên tính toán đến sự tiện lợi về việc đi lại cho các thành viên trong nhóm Trong khi sắp xếp NVXH phải rất nhạy cảm với những yêu cầu đặc biệt của một hoặc một số thành viên

+ Chuẩn bị kế hoạch tài chính

NVXH cần có kế hoạch chuẩn bị các nguồn hỗ trợ tài chính cho những hoạt động bắt buộc phải có một nguồn kinh phí mới thực hiện được

- Viết đề xuất nhóm

Trang 30

Bước cuối cùng của giai đoạn chuẩn bị là viết đề xuất nhóm để xin phê duyệt hoạt động nhóm, xin hỗ trợ quá trình hoạt động nhóm Đây là công việc bắt buộc để nhóm được phép hoạt động Bản kế hoạch cần nêu rõ mục đích, mục tiêu, đối tượng hưởng lợi, phương pháp thực hiện, kết quả và những yêu cầu cần hỗ trợ

* Giai đoạn nhóm bắt đầu hoạt động

- Các hoạt động trong giai đoạn nhóm bắt đầu hoạt động

+ Giới thiệu các thành viên trong nhóm

NVXH cần có định hướng những nội dung cần giới thiệu như: những thông tin chung, nhu cầu, hoàn cảnh, mong muốn khi đến với nhóm)

NVXH cần chỉ dẫn một số cách thức giới thiệu cho các thành viên trong nhóm (từng thành viên giới thiệu về mình, chia thành nhóm theo cách đếm, NVXH hoặc trưởng nhóm tạm thời sé giới thiệu các thành viên trong nhóm)

+ Làm rõ mục đích hỗ trợ nhóm của NVXH

Ngay sau phần giới thiệu về các thành viên trong nhóm NVXH sẽ trình bày cụ thể hơn về mục đích hỗ trợ của nhóm và nhiệm vụ của mình NVXH cần trình bày để các thành viên hiểu rõ mục đích hỗ trợ và động cơ giúp đỡ của nhà chuyên môn CTXH

+ Xây dựng mục tiêu nhóm

Trên cơ sở các thành viên nhóm đã nắm rõ được mục đích hỗ trợ nhóm, NVXH điều phối các thành viên xây dựng các mục tiêu cụ thể của nhóm Mục tiêu cụ thể chính là từng kết quả cần đạt được trong một thời gian nhất định để hướng tới mục đích của nhóm

Khi xây dựng mục tiêu, NVXH đóng vai trò là người điều phối và để các thành viên nhóm dưới sự chỉ đạo của trưởng nhóm chủ động xây dựng

Trong quá trình thực hiện thực tiễn đôi khi khó có được sự đồng thuận về các mục tiêu và mục đích của nhóm đặc biệt là những thành viên chưa thực sự tự nguyện và họ là những thành viên thường gây ra áp lực cho nhóm Vì thế NVXH cần lưu ý đến một số cách thức qui định để nhóm đạt được sự nhất trí chung

+ Thảo luận nguyên tắc bảo mật thông tin của nhóm

Trang 31

Bảo mật thông tin là nguyên tắc làm việc tối quan trọng trong quá trình tác nghiệp của NVXH Đặc biệt khi NVXH hỗ trợ những thân chủ yếu thế, những người có những vấn đề được coi là nhậy cảm và tế nhị Chính vì vậy trong quá trình hỗ trợ thân chủ thông qua các hoạt động nhóm, NVXH không những phải luôn luôn ý thức được nguyên tác này mà còn giúp cho các thành viên trong nhóm hiểu và tuân thủ những qui định về bảo mật thông tin

+ Định hướng phát triển của nhóm

Một số tác giả cho rằng ở giai đoạn đầu không cần hoặc chỉ cần dành ít thời gian cho công việc định hướng nhóm mà cứ để các thành viên tự do tranh luận xác định mục đích và các mục tiêu của nhóm Tuy nhiên theo hình thức này quá trình để nhóm tự tranh luận sẽ có thể làm cho nhóm dễ căng thẳng và bùng nổ Vì vậy NVXH cần hết sức chú ý khi dùng cách thức sinh hoạt này

+ Thỏa thuận các công việc của nhóm

Là những thỏa thuận về trách nhiệm, phân công công việc, những qui định cụ thể giữa NVXH và các thành viên trong nhóm (thỏa thuận giữa nhóm và tổ chức, giữa nhóm và NVXH, giữa nhóm và các thành viên trong nhóm)

+ Dự đoán về những khó khăn cản trở

Liệt kê những khó khăn nhìn thấy trước trong quá trình đạt tới mục tiêu cá nhân và mục đích của nhóm Đây là giai đoạn theo qui luật phát triển của nhóm thông thường, các thành viên phải vượt qua giai đoạn sóng gió để dần dần hòa hợp bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ ở các giai đoạn tiếp theo

- Một số yêu cầu đối với NVXH

+ Khích lệ động cơ các thành viên thực hiện mục tiêu đề ra

Trong CTXH nhóm, những vấn đề NVXH làm để khích lệ, tăng cường động cơ của các thành viên cũng là thể hiện vai trò của họ với nhóm NVXH không được có những chỉ trích hoặc những lời lẽ nặng nề làm xúc phạm hoặc làm cho các thành viên cảm thấy nản lòng hơn Cần chấp nhận những cảm xúc dao động và nghi hoặc dẫn đến đối kháng của các thành viên và giúp họ vượt qua Ủng hộ kịp thời những sáng kiến của các thành viên thể hiện qua sự tán thành, bắt đầu bằng những đánh giá

Trang 32

tích cực để khích lệ thành viên và những thành viên khác đưa ra những sang kiến hay cho nhóm

+ Cân bằng giữa nhiệm vụ, yếu tố tình cảm, xã hội của tiến trình nhóm

Tùy theo loại hình sinh hoạt nhóm, trạng thái và vấn đề của các thành viên trong nhóm mà NVXH cân nhắc nên dành nhiều thời gian cho hoạt động hướng tới hoàn thành mục tiêu hay tập trung vào những vấn đề xã hội và tình cảm

+ Giúp các thành viên nhóm cảm nhận họ là một phần của nhóm

Ở giai đoạn này NVXH cần giúp các thành viên trong nhóm hiểu rõ hoạt động của nhóm là một hoạt động của một thực thể thống nhất của nhóm và mỗi cá nhân thành viên trong nhóm là một phần không thể tách rời của nhóm

* Giai đoạn can thiệp

- Các nhóm can thiệp

+ Một số hoạt động chính trong nhóm can thiệp

Chuẩn bị các cuộc họp nhóm

Tổ chức các bước trị liệu nhóm có kế hoạch

Giám sát, đánh giá tiến bộ của nhóm

+Yêu cầu đối với NVXH

Thu hút sự tham gia, tăng cường năng lực của các thành viên nhóm

Hỗ trợ các thành viên nhóm đạt được mục tiêu của họ

Làm việc với những thành viên đối kháng

- Nhóm nhiệm vụ

+ Các hoạt động chính trong bước thực hiện nhiệm vụ

Chuẩn bị các cuộc họp nhóm

Giải quyết vấn đề

Theo dõi và lượng giá

+ Một số yêu cầu đối với NVXH trong bước thực hiện nhiệm vụ

Chia sẻ thông tin

Thu hút sự tham gia, tăng cường tính cam kết của các thành viên

Điều phối để tìm kiếm thông tin về những vấn đề nhóm đối mặt

Giải quyết những xung đột

Trang 33

Đưa ra những quyết định hiệu quả

Hiểu biết về vai trò trọng tâm và thành viên có ảnh hưởng trong nhóm

* Giai đoạn kết thúc

- Lượng giá

+ Lợi ích của hoạt động lượng giá

Lượng giá giúp NVXH xem xét, đánh giá lại tính hiệu quả của phương pháp hỗ trợ đã đưa ra với nhóm thân chủ mình giúp đỡ, hiệu quả của mô hình lãnh đạo, điều hành nhóm nhiệm vụ

Kết quả lượng giá có thể cho thấy những hoạt động nhóm nào được áp dụng không hiệu quả để có nhứng chỉnh sửa khi áp dụng tiếp ở những nhóm sau nay mình giúp đỡ

+ Nội dung lượng giá

Tính hiệu quả của quá trình hoạt động nhóm và nội dung cụ thể là các thành viên trong nhóm có đạt được mục tiêu đề ra hay không, nhóm có đạt được mục dích xây dựng ban đầu không?

Lượng giá sự tiến bộ, năng lực được nâng cao của các thành viên trong nhóm như đã thu nhận được gì, những chuyển biến tích cực

Thu thập ý kiến phản hồi về phương pháp tiếp cận, cách thức làm việc, hỗ trợ của NVXH

Lượng giá về các hoạt động quản lý hành chính

+ Phương pháp lượng giá

Tổ chức họp các thành viên và NVXH điều phối, hướng dẫn nội dung lượng giá để các thành viên thảo luận và cho ý kiến

Phát phiếu hỏi ghi rõ nội dung cần đánh giá để các thành viên điền vào

So sánh kết quả thay đổi giữa trước và sau quá trình hỗ trợ

- Kết thúc

+ Giải quyết những cảm xúc của các thành viên khi kết thúc nhóm

Giúp các thành viên trong nhóm vượt qua những cảm xúc khi phải chia tay

Khuyến khích để các thành viên chia sẻ những cảm xúc tiêu cực, giải tỏa khỏi những căng thẳng và dần dần hướng dẫn họ đi qua tiến trình chia tay

Trang 34

Khen ngợi những thành công của các thành viên nhóm đặc biệt là những kĩ năng giải quyết vấn đề mà các thành viên có được giúp các thành viên cảm nhận sự

tự tin để hòa nhập với cuộc sống bình thường khi không còn sinh hoạt nhóm

+ Giảm sự phụ thuộc vào nhóm

Để các thành viên quen dần cảm giác tự lập và không phụ thuộc vào nhó, bên cạnh việc hỗ trợ các thành viên xử lý những cảm xúc trong quá trình kết thúc NVXH cần chú ý đến việc làm giảm dần sự gắn bó của nhóm từ đó họ có được sự

tự tin, tự chủ cho bản thân khi kết thúc nhóm

Khuyến khích các thành viên có những hoạt động độc lập bên ngoài hoạt động nhóm nhằm tạo thuận lợi cho các thành viên khi hòa nhập lại cuộc sống bình thường

+ Duy trì, phát huy những thay đổi

NVXH giúp các thành viên làm quen với những tình huống thực tiễn và ở những môi trường khác nhau

Giúp các thành viên tự tin hơn trong giai đoạn kết thúc để các thành viên cảm thấy họ có đủ kiến thức và kĩ năng để xử lý những vấn đề trong cuộc sống họ sẽ gặp phải

Thỏa thuận với nhóm một khoảng thời gian khoảng từ 3 tháng đến sáu tháng các thành viên nhóm có thông báo nhanh về quá trình họ trở lại cuộc sống thông thường để NVXH có những hỗ trợ, can thiệp kịp thời

Ngăn chặn sự chùn bước trong môi trường không thiện cảm Vì vậy NVXH cần có những hoạt động chuẩn bị ngay từ giai đoạn cuối cho các thành viên của nhóm

+ Lập kế hoạch hành động cho tương lai

Việc lập kế hoạch cho tương lai sẽ giúp những người nhận được sự hỗ trợ có

được kế hoạch sẽ áp dụng những nỗ lực, tiến bộ của mình như thế nào trong thời gian tới

Một trong những công việc khác trong quá trình kết thúc là công tác chuyển giao Công việc này với CTXH nhóm có thể là kết nối các thành viên với các tổ chức và nguồn lực

Trang 35

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội nhóm với trẻ em mồ côi

1.4.1 Hệ thống chính sách xã hội của Việt Nam đối với trẻ em mồ côi

Đảng và Nhà nước luôn tích cực xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống pháp lý về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Ngày 12/08/1991, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chính thức thông qua Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em (có hiệu lực từ ngày 16/08/1991) Ngày 15/06/2004, Quốc hội tiếp tục thông qua Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em sửa đổi nhằm từng bước điều chỉnh cho phù hợp hơn trong thực tiễn Trong đó, Luật quy định cụ thể:

“Nghiêm cấm các hành vi mẹ bỏ rơi con, người giám hộ bỏ rơi trẻ em được mình giám hộ”; Để thực hiện được biện pháp có gia đình thay thế, có nguồn nuôi dưỡng:

“Nhà nước khuyến khích gia đình cá nhân nuôi con nuôi; cơ quan tổ chức, cá nhân nhận đỡ đầu, nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ

em bị bỏ rơi”

Hiện thực hóa quan điểm, chủ chương của Đảng, nhiều chương trình, đề án chính sách, kế hoạch hành động được ban hành nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ trong đó có nhóm trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2001 - 2010 (Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 23/2001/QĐ-TTg ngày 26 tháng 02 năm 2001), bên cạnh các mục tiêu đối với trẻ em nói chung thì các mục tiêu đối với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em mồ côi cũng được quy định cụ thể: Tăng tỷ lệ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa được chăm sóc bằng mọi hình thức từ 70% lên 80% vào năm 2005 và 100% vào năm 2010; 70% trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được hỗ trợ, chăm sóc vào năm 2010

Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 - 2015 (Thủ tướng chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 267/QĐ-TTg ngày 22/02/2011) đã triển khai Dự án xây dựng và nhân rộng các mô hình trợ giúp trẻ có hoàn cảnh đặc biệt dựa vào cộng đồng Đối với trẻ em mồ côi, mục tiêu của dự án: 90% trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi không có nơi nương tựa được chăm sóc

Ngày 26 tháng 04 năm 2013, chính phủ ban hành Đề án chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em là nạn

Trang 36

nhân của chất độc hóa học, trẻ em khuyết tật nặng và trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa giai đoạn 2013 - 2020 (Quyết định số: 647/QĐ-TTg) Đề án nhằm huy động sự tham gia của xã hội, nhất là gia đình, cộng đồng, trong việc chăm sóc trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được nhận sự trợ giúp và được cung cấp các dịch vụ xã hội phù hợp; tiếp tục thí điểm mô hình gia đình, cá nhân nhận nuôi

có thời hạn đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; mô hình dạy nghề gắn với tạo việc làm cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nâng cấp cơ sở vật chất

và trang thiết bị cho các cơ sở BTXH và nhà xã hội để đủ điều kiện chăm sóc trẻ em

có hoàn cảnh đặc biệt

Điều 15 của Luật Bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em, quy định Ủy ban nhân dân sẽ hỗ trợ đưa trẻ mồ côi nghèo và trẻ bị bỏ rơi vào các gia đình thay thế hoặc các cơ sở cứu trợ trẻ em của nhà nước hoặc ngoài nhà nước Nhà nước khuyến khích gia đình và cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em khó khăn, khuyến khích các cơ quan tổ chức và cá nhân tài trợ cho trẻ mồ côi nghèo và trẻ bị bỏ rơi cũng như việc chăm sóc các em này Nhà nước có trách nhiệm thông qua các chính sách hỗ trợ các gia đình, cá nhân, các cơ sở cứu trợ trẻ em không phải của nhà nước trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ mồ côi nghèo và trẻ bị bỏ rơi

Ngày 17/10/2011, Chính phủ ban hành Nghị định số 91/2011/NĐ-CP quy định

về xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em Khoản 1, Điểu 9 quy định: phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: a) sau khi sinh con, cha hoặc mẹ bỏ con, không chăm sóc, nuôi dưỡng; b) cha hoặc mẹ bỏ con, người giám hộ cố ý bỏ rơi trẻ em ở nơi công cộng hoặc ép buộc trẻ em không sống cùng gia đình, bỏ mặc trẻ em tự sinh sống, không quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em, để trẻ em này rơi vào hoàn cảnh đặc biệt theo quy định tại Điều 40 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

Ngày 25 tháng 03 năm 2010 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án Số 32/2010/QĐ-TTg về phát triển nghề Công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 với mục tiêu phát triển công tác xã hội trở thành một nghề ở Việt Nam Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề công tác xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân

Trang 37

viên và cộng tác viên công tác xã hội về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến Trong đó đề án cũng rất quan tâm đến các trung tâm CTXH và đối tượng trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi

Ngày 21 tháng 10 năm 2013 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP của chính phủ qui định về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội hưởng trợ cấp quy định cụ thể mức trợ cấp tối thiểu cho từng đối tượng cụ thể trong các trường hợp cụ thể, ví dụ: đối tượng sống tại cộng đồng do xã, phường quản lý, đối tượng sống trong các nhà xã hội tại cộng đồng do xã, phường quản lý, cũng như đối tượng sống trong cơ

sở bảo trợ xã hội

1.4.2 Hệ thống năng lực quản lý của cán bộ, nhân viên công tác xã hội

Đảng và Nhà nước ta đã xác định công tác cán bộ là khâu quan trọng nhất, có

ý nghĩa quyết định tới chất lượng và hiệu quả công việc, là khâu then chốt trong sự nghiệp cách mạng, là một trong những yếu tố quan trọng góp phần thành công vào

sự nghiệp đổi mới của đất nước Vì vậy việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ vững vàng về chính trị, văn hóa, có lối sống đạo đức trong sạch, có trí tuệ, kiến thức

và trình độ năng lực để thực thi chức năng nhiệm vụ theo đúng pháp luật, bảo vệ lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức là một trong những mục tiêu hết sức quan trọng trong hệ thống chính sách của Nhà nước

Đến nay, cả nước đã hình thành, phát triển được 418 cơ sở trợ giúp xã hội công lập và ngoài công lập, trong đó có 40 Trung tâm công tác xã hội chuyên sâu Các tỉnh, thành phố đã hình thành, phát triển mạng lưới trên 200 nghìn cán bộ, nhân viên và cộng tác viên có làm công tác xã hội ở các ngành, các hội, đoàn thể các cấp góp phần trợ giúp cho người nghèo, người khuyết tật, người cao tuổi và người có hoàn cảnh khó khăn tiếp cận, thụ hưởng các chính sách phúc lợi xã hô ̣i, y tế, giáo dục, học nghề, tìm việc làm để ổn định cuộc sống

Trong số đề án Số 32/2010/QĐ-TTg về phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 - 2020 của Chính phủ đặc biệt quan tâm đến vấn đề nâng cao năng lực quản lý cũng như chất lượng, số lượng nhân viên công tác xã hội như:

Trang 38

- Đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tập huấn

kỹ năng cho 50% số cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội đang làm việc tại các xã, phường, thị trấn; các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội và cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội các cấp;

- Xây dựng, hoàn chỉnh chương trình, nội dung đào tạo và dạy nghề trình độ

sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học công tác xã hội; nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên ngành công tác xã hội;

- Xã hội hóa các hoạt động công tác xã hội theo hướng khuyến khích các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước tham gia việc đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tập huấn và cung cấp dịch vụ công tác

xã hội;

Như vậy cán bộ quản lý, nhân viên công tác xã hội cần phải đáp ứng yêu cầu

về kiến thức cũng như kỹ năng chuyên môn bao gồm: kiến thức về chính sách và dịch vụ trợ cấp xã hội; về hành vi ứng xử của con người và môi trường xã hội; các phương pháp công tác xã hội hay các kiến thức chung về kinh tế, xã hội, pháp luật,

y tế…

1.4.3 Đặc điểm Tâm lý xã hội của trẻ em mồ côi

Mất niềm tin vào cuộc sống

Những niềm tin “phải và buộc phải”: Trẻ phải làm những điều mà người khác muốn trẻ phải làm chứ không phải để đạt các nhu cầu của bản thân

Những niềm tin gây thảm họa: Không đưa đến một khả năng lựa chọn nào cho tương lai và không tránh khỏi khiến trẻ cảm thấy thất vọng chán nản

Những niềm tin “luôn luôn” và “không bao giờ”, sự phóng đại sự thật khiến trẻ cảm thấy khó chịu vì có những lúc có những điều tích cực xảy ra đều bị làm ngơ

và phủ nhận

Những niềm tin không khoan dung người khác: Niềm tin cho rằng người khác vốn xấu xa hoặc ác ý, không làm điều đáng ra họ phải làm và không đạt tới sự kỳ vọng của trẻ đưa đến những cảm nghĩ tiêu cực và làm hỏng các mối quan hệ

Những niềm tin đổ lỗi: Kiếm cớ khước từ nhu cầu tự sửa đổi và muốn ai khác phải thay đổi

Trang 39

Những niềm tin nhận thức sai lệch về bản thân: “Em khó ưa, em là người xấu”, niềm tin bị hủy hoại

Trẻ em ứng phó trầm cảm bằng rất nhiều cách, một số trẻ em có thể trốn chạy khỏi gia đình Một số, đặc biệt là em trai biểu lộ cảm nghĩ bằng những hành vi hướng ngoại và có thể hành động quá khích Các em gái thường biểu lộ tình cảm bằng những hành vi hướng nội, băn khoăn hoặc trở nên lo lắng

Trẻ em trải qua rối loạn lo lắng, bất an, phiền muộn, kém tập trung, dễ kích động, trí tuệ yếu, choáng váng, căng thẳng cơ bắp hoặc dễ bị mệt

Hoài nghi, thiếu tin tưởng:

Trẻ sống trong hoàn cảnh khó khăn thường có đủ lý do để ngờ vực Những người lớn mà các em hay gặp thuờng có vẻ xa cách với trẻ và không hiểu được những khó khăn này

Trang 40

Vì trẻ ước ước mơ một hoàn cảnh khác, tránh né những đề tài đau thương, sợ

bị hậu quả xấu, trẻ cố gắng lấy lòng người lớn (cố gắng nói ra nhũng điều hay và những điều người lớn muốn nghe), cố ý nói dối để tránh câu chuyện, không muốn tiếp xúc với người khác hoặc để gây sự chú ý của người nghe

Tiểu kết chương 1

Hoạt động CTXH đối với trẻ em mồ côi là một lĩnh vực còn khá mới mẻ và có nhiều nét đặc thù riêng Từ đó NVXH muốn tổ chức các hoạt động CTXH nói chung và CTXH nhóm nói riêng đạt được hiệu quả cao nhất cần phải có sự hiểu biết

về pháp luật, chính sách và các nhu cầu cơ bản của các em

Bằng việc áp dụng tiến trình CTXH nhóm lên đối tượng là trẻ em mồ côi tại Làng trẻ em SOS Hà Nội sẽ giúp các em nâng cao năng lực hòa nhập cộng đồng -

đó không chỉ là mong muốn của tổ chức Làng trẻ em SOS Hà Nội mà của toàn xã hội

Ngày đăng: 06/06/2017, 15:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w