1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng

87 1,3K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Phần thực trạng CTXH cá nhân đối với TEMC: Giúp cho cán bộ quản lý có cơ sở để đánh giá một cách khách quan các hoạt động công tác xã hội, đội ngũ nhân viên CTXH; Một số hạn chế và ngu

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NÔNG THỊ AN

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM

BẢO TRỢ XÃ HỘI TỈNH CAO BẰNG

Chuyên ngành : Công tác xã hội

Mã số : 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS BÙI THỊ MAI ĐÔNG

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Bùi Thị Mai Đông

Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là trung thực

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./

Học viên

Nông Thị An

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài luâ ̣n văn thạc sỹ "Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em

mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng" tôi đã nhâ ̣n được sự giúp đỡ của các cá nhân và tổ chức

Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo trong Khoa Công tác xã hội, Học viện Công tác xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tận tình chỉ bảo, truyền đạt kiến thức trong suốt quá trình học tập tại Học viện

Đặc biệt Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Bùi Thị Mai Đông đã hết lòng hướng dẫn, đô ̣ng viên và ta ̣o mo ̣i điều kiê ̣n cho tôi trong suốt thời gian làm và hoàn thành Luâ ̣n văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, các anh, chị là nhân viên công tác

xã hội, là viên chức trực tiếp chăm sóc, giáo dục trẻ em mồ côi tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng

Do kinh nghiệm còn hạn chế, thời gian có hạn nên trong quá trình nghiên cứu

và thực hiện Luận văn, mặc dù đã cố gắng nhưng không tránh khỏi những thiếu sót, Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn để Luận văn của tôi được hoàn thiện hơn và thực sự có ý nghĩa cả về thực tiễn và lý luận

Hà Nội, tháng 3 năm 2017

Học viên

Nông Thị An

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TEMC VÀ CTXH CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TEMC 10

1.1 Một số lý thuyết về trẻ em và TEMC 10

1.2 Công tác xã hội cá nhân đối với TEMC 15

1.3 Một số lý thuyết ứng dụng trong CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi 26

1.4 Luật pháp chính sách và các mô hình dịch vụ hỗ trợ TEMC 29

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến CTXH cá nhân đối với TEMC 33

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG CTXH ĐỐI VỚI TEMC TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI TỈNH CAO BẰNG 35

2.1 Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu và trẻ em mồ côi trên địa bàn nghiên cứu. 35

2.2 Thực trạng CTXH cá nhân đối với TEMC từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng 42

CHƯƠNG 3:ỨNG DỤNG CTXH CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TEMC TẠI TRUNG TÂM VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CTXH CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TEMC 50

3.1 Ứng dụng CTXH cá nhân đối với TEMC tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng 50

3.2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của CTXH cá nhân đối với TEMC từ thực tiễn Trung tâm Bảo tỉnh Cao Bằng 68

KẾT LUẬN 71

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 6

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU, BẢNG

Sơ đồ số 1: Sơ đồ phả hệ của gia đình thân chủ

Bảng 1: Số lượng, trình độ chuyên môn của đội ngũ công chức, viên

chức, người lao động tại Trung Tâm

38

Bảng 2: Số lượng, trình độ, độ tuổi của nhân viên công tác xã hội và

Bảng 3: Số lượng, giới tính, dân tộc của đối tượng sống tại Trung tâm

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trẻ em là những mầm non, những người chủ tương lai của đất nước Tuy nhiên, trẻ em lại là đối tượng có nguy cơ cao bị xâm hại, bị lạm dụng, dễ bị tổn thương, nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Nhận thức được điều này Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự phát triển của trẻ em, đặc biệt là TEMC, làm thế nào để tất cả trẻ em đều được hưởng quyền của mình Đối với TEMC, Đảng

và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách hỗ trợ như trợ cấp lương thực, miễn giảm học phí, cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, dạy nghề miễn phí Bên cạnh đó cũng có rất nhiều văn bản hướng dẫn cách chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em như Luật Trẻ em; Quyết định số 65/2005/QĐ-TTg, ngày 25/3/2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án "Chăm sóc TEMC không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em bị tàn tật nặng, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học và trẻ em nhiễm HIV/AIDS dựa vào cộng đồng giai đoạn 2005-2010"; Ngày 26/4/2013 Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định số 647/QĐ-TTg, phê duyệt Đề án "Chăm sóc TEMC không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ em khuyết tật nặng và trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa dựa vào cộng đồng giai đoạn 2013 - 2020" và đặc biệt Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á phê chuẩn Công ước về Quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc (năm 1990) nhờ vậy mà công tác chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em có nhiều chuyển biến tích cực Song trên thực tế chúng ta thấy ở các vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số thì số lượng TEMC ngày càng có xu hướng gia tăng nguyên nhân là

do tập quán lạc hậu (sinh tại nhà; tự tử của đồng bào Mông, Dao ) Nhờ có sự quan tâm của các cấp chính quyền, sự hỗ trợ của các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm trong tỉnh mà công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục TEMC đã đạt được những kết quả nhất định

Nhìn chung TEMC đã được hưởng các chính sách của nhà nước, được xã hội quan tâm; tuy nhiên sự quan tâm chủ yếu là về đời sống vật chất (ăn, mặc, chỗ ở….) còn đời sống tinh thần chưa thực sự được cải thiện; nhiều em sống khép mình, thiếu

tự tin; tự kỳ thị và bị kỳ thị…

Trang 8

2

Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng hiện nay đang nuôi dưỡng 170 đối tượng trong đó có 142 đối tượng là trẻ em mồ côi Ở nhóm đối tượng là trẻ em mồ côi đa dạng về lứa tuổi, dân tộc và hoàn cảnh gia đình khác biệt trước khi đến Trung tâm như có trẻ thì mồ côi cả cha lẫn mẹ, có trẻ chỉ mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại không đủ năng lực pháp lý để nuôi dưỡng Chính vì thế nhu cầu của trẻ em mồ côi đang sống tại Trung tâm cũng không giống nhau Mặt khác tại Trung tâm hiện nay số nhân viên xã hội được đào tạo chuyên sâu về trẻ em và CTXH với trẻ em còn

ít, tính chuyên nghiệp chưa cao nên chưa phát huy được vai trò trợ giúp, tư vấn cho trẻ

Là một người hoạt động nhiều năm trong lĩnh vực quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng các nhóm đối tượng yếu thế như trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người già cô đơn, người tàn tật cô đơn không nơi nương tựa, người lang thang tâm thần trong đó nhóm TEMC chiếm phần đa các đối tượng tại Trung tâm, bản thân tôi luôn trăn trở làm thế nào để TEMC thực sự coi Trung tâm là một tổ ấm, một ngôi nhà chung

Với những lý do đã trình bày ở trên, tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài

"Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ

xã hội tỉnh Cao Bằng"

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

2.1 Nghiên cứu về trẻ em mồ côi

Đề tài: “Khảo sát nhu cầu về mặt tinh thần của trẻ mồ côi tại trung tâm nuôi

dưỡng trẻ mồ côi ST.Joseph – Giáo xứ Hà Nội” ctxh.hcmussh.edu.vn/ Đề tài đã

nghiên cứu tìm hiểu về hoạt động đời sống tinh thần và nhu cầu tinh thần của trẻ mồ côi tại các trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi ở Giáo xứ Hà Nội, tiến hành nghiên cứu đối với 11 trẻ từ 12 đến 18 tuổi Kết quả nghiên cứu cho thấy: Các em được trung tâm đáp ứng khá tốt về việc học ở trường và học ở nhà, trung tâm tạo điều kiện cho các em tiếp xúc sớm với tin học ngay tại trung tâm Các em được tạo điều kiện tham gia các hoạt động giải trí, hoạt động xã hội, các thể thao như: bóng đá, bóng chuyền, cầu lông, … để nâng cao sức khỏe bản thân Các em đã được bao bọc không ai xâm hại khi ở trung tâm, việc ăn uống hàng ngày được chăm lo kỹ càng, khi có vấn đề về

Trang 9

3

sức khỏe cũng được các soeur quan tâm Tuy nhiên các em vẫn mong các soeur có thể quan tâm tới sở thích của các em nhiều hơn Các em không phải em nào cũng tin theo Chúa, nhiều em chỉ đi lễ và học giáo lý vì trách nhiệm, ẩn bên trong là việc đặt niềm tin vào năng lượng siêu nhiên như siêu nhân, tin vào sự hiện hữu của ông, bà,

ba, mẹ luôn đi theo bảo vệ mình

Bài viết của Phạm Tâm về " Trẻ mồ côi- cần lắm một mái ấm gia đình" được

đăng trên trang https://dochoimaugiao.vn/ Bài viết đã đề cập đến những khó khăn gặp phải của TEMC và trẻ em bị bỏ rơi từ đó đề xuất các giải pháp để giải quyết các vấn đề đó là thành lập các cơ sở nuôi dưỡng TEMC và trẻ bị bỏ rơi, tìm cho các cháu một mái ấm gia đình để các cháu bất hạnh này có một cuộc sống ổn dịnh và một tương lai tốt đẹp hơn

Báo cáo “Tình hình trẻ em tại Việt Nam năm 2010” của UNICEF đã khẳng định “Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được những bước tiến quan

trọng trong việc thúc đẩy các hoạt động chăm sóc dựa vào cộng đồng cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó có trẻ mồ côi và bị bỏ rơi Việt Nam đã đưa vào thực thi các chính sách quốc gia nhằm khuyến khích và hỗ trợ các gia đình” Bên cạnh đó tài liệu này cũng cho thấy những hạn chế của Việt Nam trong bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt như: chưa xây dựng được một hệ thống bảo trợ xã hội mạnh mẽ và hiệu quả; thiếu hệ thống “dịch vụ chăm sóc liên tục”; chưa có một phương pháp tiếp cận mang tính hoạch định; thiếu các cơ chế cụ thể để phát hiện sớm và xác định trẻ em dễ bị tổn thương

2.2 Các nghiên cứu về công tác xã hội với TEMC

Đề tài "Công tác xã hội nhóm với TEMC nhằm giảm cảm giác mặc cảm tự ti

để nâng cao khả năng hòa nhập môi trường học đường" của Đỗ Thị Huyền Trang

[14] Đề tài đã nghiên cứu các trường hợp tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Ninh Bình năm 2015, qua nghiên cứu thấy các em tự ti vì mình là trẻ mồ côi, tự ti khi các

em không có gia đình, không nhận được tình yêu thương từ bố mẹ như các bạn, tự ti khi không có quần áo đẹp, tự ti vì không được người khác yêu quý… Chính vì tự ti nên các em lại càng gặp nhiều khó khăn trong việc hòa nhập môi trường học đường Nhà trường và Cơ sở bảo trợ đã phối hợp đưa ra các biện pháp để giúp các em dễ

Trang 10

4

dàng hòa nhập, khuyến khích các học sinh mở rộng mối quan hệ, xây dựng các nhóm học tập để hỗ trợ trẻ em mồ côi học tập và kết bạn hiệu quả Khi CTXH nhóm được thực hiện với TEMC tại đây đã giúp các em tự mình vượt qua rào cản của chính mình xóa bỏ mặc cảm, tự ti để hòa nhập và vươn lên trong cuộc sống

Bài viết viết “Về đề án chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa

vào cộng đồng, giai đoạn 2005 – 2010” [29] của tác giả Vũ Thị Hiểu trên tạp chí

Lao động – xã hội, số 267 đã nêu lên thực trạng công tác chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đó là TEMC, trẻ em khuyết tật… trong thời kỳ trước năm

2005

Bài viết “Vấn đề chăm sóc thay thế trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở

một số nước và khả năng áp dụng tại Việt Nam” [17] của tác giả Nguyễn Văn Hồi,

trên tạp chí Lao động – xã hội, số 277 Bài viết giải thích ý nghĩa của cụm từ “chăm sóc thay thế” là một dịch vụ chăm sóc tạm thời tại gia, cung cấp sự chăm sóc gia đình thay thế trong một thời gian

Tập bài giảng của Học viện phụ nữ Việt Nam về "Công tác xã hội với trẻ em

có hoàn cảnh đặc biệt" [15] của nhóm tác giả Đoàn Thị Thanh Huyền (chủ biên),

Nguyễn Thị Phụng, Nguyễn Văn Vệ, Đỗ Thị Thu Phương Tập bài giảng cung cấp những kiến thức cơ bản về đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; thực trạng, nguyên nhân, hậu quả, đặc điểm, nhu cầu của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Tập bài giảng hệ thống lại các quan điểm chỉ đạo của Đảng cũng như chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, giúp cho việc hiểu và vận dụng các văn bản pháp luật, chính sách và các mô hình, dịch vụ trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt hiệu quả hơn Đặc biệt, tập bài giảng cung cấp những kỹ năng phân tích, đánh giá, tiếp cận, lựa chọn cách can thiệp trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt giải quyết các khó khăn của mình và tái hòa nhập cộng đồng

Bài viết của Nguyễn Thị Phương Trang về "Nhu cầu tham vấn tâm lý của

TEMC tại Trung tâm nuôi dạy trẻ em khó khăn Thành phố Đà Nẵng" [14] tại hội

thảo kỷ niệm ngày Công tác xã hội thế giới 11/11/2015 Bài viết đã rút ra kết luận khi nghiên cứu đối với 85 TEMC từ 11 đến 18 tuổi tại làng Hy Vọng như sau: phần lớn TEMC tại đây gặp khó khăn trong cuộc sống hàng ngày, nhất là trong các lĩnh

Trang 11

sợ lộ bí mật riêng tư…

Th.s Nguyễn Thị Hằng Phương “Thực trạng các vấn đề khó khăn và nhu cầu

hỗ trợ tâm lý của trẻ em tại các Trung tâm bảo trợ xã hội” Đề tài đã phân tích và

cho thấy tâm lý từng đối tượng trong trung tâm Đồng thời tác giả đã đưa ra những khó khăn vật chất học tập, tinh thần của trẻ em trong các trung tâm bảo trợ xã hội và nhu cầu cần sự hỗ trợ các nguồn lực bên ngoài

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực trạng CTXH cá nhân đối với TEMC tại TTBTXH.CB Luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng cáchoạt động CTXH cá nhân đối với TEMC

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn tập trung vào 04 nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận về TEMC; CTXH cá nhân đối với TEMC

Khảo sát, đánh giá thực trạng CTXH cá nhân đối với TEMC tại TTBTXH tỉnh Cao Bằng

Vận dụng phương pháp CTXH cá nhân chuyên nghiệp vào một số trường hợp TEMC tại TTBTXH tỉnh Cao Bằng và đánh giá hiệu quả tác động;

Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động CTXH cá nhân đối với TEMC tại TTBTXH tỉnh Cao Bằng nói riêng; CTXH cá nhân đối với TEMC nói chung

Trang 12

6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: CTXH cá nhân đối với TEMC từ thực tiễn

TTBTXH.CB

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi đối tượng: Tập trung nghiên cứu tiến trình, vai trò và kỹ năng của nhân viên CTXH trong CTXH cá nhân đối với TEMC

- Phạm vi về không gian: Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng

- Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu các hoạt động của Trung tâm từ năm 2014 đến nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thu thập, phân tích tài liệu

Đây là phương pháp thu thập, phân tích thông tin từ những nguồn tư liệu có sẵn, cụ thể trong đề tài tác giả tiến hành thu thập, phân tích thông tin từ các nguồn như sách chuyên khảo, các giáo trình, tài liệu đào tạo CTXH; các đề tài nghiên cứu, luận án, luận văn có liên quan đến đề tài, các bài viết trên tạp chí trong và ngoài nước, các báo, mạng Internet, các báo cáo liên quan đến vấn đề nghiên cứu tại TTBTXH tỉnh Cao Bằng và việc thu thập, phân tích thông tin được tiến hành đảm bảo với yêu cầu của luận văn

5.2 Phương pháp quan sát

- Mục đích quan sát: quan sát các hoạt động can thiệp của nhân viên CTXH và TEMC nhằm phát hiện kỹ thuật tác nghiệp và mức độ thành thục các thao tác trong hoạt động CTXH cá nhân

- Đối tượng và khách thể quan sát: gồm 2 nhóm là TEMC và Nhân viên CTXH

- Nội dung quan sát:

+ Quan sát Trẻ em: các thói quen sinh hoạt hằng ngày của TEMC; cách giao tiếp giữa các em với nhau; cách giao tiếp giữa các em với nhân viên trực tiếp chăm sóc, giáo dục, quản lý; cách giao tiếp giữa các em với khách đến thăm; cách giao tiếp giữa các em với các anh chị sinh viên thực tập

Trang 13

7

+ Nhân viên công tác xã hội: Quan sát công việc hằng ngày, cách giao tiếp, cách thức hỗ trợ của các nhân viên phòng Tư vấn trợ giúp đối tượng; cách thức hỗ trợ của nhân viên trực tiếp chăm sóc, giáo dục, quản lý trẻ TEMC

- Thời gian quan sát: lập kế hoạch quan sát trong vòng 15 ngày tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng

5.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Mục đích sử dụng phương pháp này là để nghiên cứu một cách sâu sắc, có căn

cứ và cũng là để hiểu sâu bản chất, nguồn gốc của vấn đề đang nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp phỏng vấn sâu Những vấn đề liên quan đến nghiên cứu được thiết kế qua các bảng câu hỏi để người phỏng vấn sử dụng trong các quá trình tiến hành phỏng vấn Phương pháp này phục vụ cho việc khai thác sâu các thông tin định tính tập trung vào 03 nhóm cụ thể như sau:

- Phỏng vấn sâu đối với viên chức quản lý: để biết được những nguồn lực giúp

đỡ TEMC, chính sách pháp luật đã được TEMC tiếp cận chưa? Công tác xã hội được lồng ghép như thế nào trong việc trợ giúp TEMC và việc thực hiện các chương trình? chính sách trợ giúp TEMC đã đồng bộ hay chưa?

- Phòng vấn sâu đối với nhân viên CTXH và người trực tiếp chăm sóc TEMC:

Để nắm được các tiến trình mà nhân viên CTXH và người chăm sóc trẻ mồ côi đã

sử dụng trong quá trình can thiệp, trợ giúp TEMC, đồng thời xem xét vai trò của nhân viên CTXH và người chăm sóc đối với TEMC như thế nào?

- Phỏng vấn sâu TEMC tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng: nhằm khai thác các thông tin có liên quan đến tình trạng bản thân của các em, hình thức

hỗ trợ mà TEMC được nhận, sự quan tâm của chính quyền địa phương, những khó khăn gặp phải trong đời sống, những mong muốn của TEMC

5.4 Phương pháp thảo luận nhóm

Thực hiện chia nhóm từ 8-10 người sau đó tiến hành các nội dung thảo luận trên cơ sở phát huy tính dân chủ của mỗi cá nhân tự do bày tỏ quan điểm, tạo thói quen sinh hoạt bình đẳng, biết đón nhận quan điểm bất đồng, hình thành quan điểm

cá nhân giúp rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề trên cơ sở phát huy tinh thần tập thể và những ý kiến sáng tạo của từng cá nhân nhằm giải quyết vấn đề tốt nhất

Trang 14

8

5.5 Phương pháp thực nghiệm

Chọn TEMC của Trung tâm; đánh giá đầu vào (nhận thức và kỹ năng giao tiếp,

kỹ năng sống của em đó); sau đó sử dụng phương pháp CTXH cá nhân chuyên nghiệp để can thiệp Sau 2 tháng can thiệp, đánh giá kết quả can thiệp từ đó rút ra kết luận cần thiết cho nghiên cứu

5.6 Mẫu nghiên cứu

- Đối với phỏng vấn sâu: 15 người bao gồm 02 viên chức quản lý; 06 nhân viên công tác xã hội và nhân viên trực tiếp chăm sóc trẻ mồ côi; 07 trẻ em mồ côi

- Đối với thảo luận nhóm: Tổ chức được 02 buổi trong đó:

+ 01 buổi thảo luận nhóm với nhân viên công tác xã hội để tìm hiểu về tiến trình công tác xã hội cá nhân và các kỹ năng mà NVXH đã thực hiện tại Trung tâm + 01 buổi với trẻ em mồ côi để tìm hiểu nhu cầu học nghề cũng như nguyện vọng của trẻ

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

- Phần nghiên cứu lý luận: Làm sáng tỏ các khái niệm, các lý thuyết trong CTXH cá nhân đối với TEMC

- Phần thực trạng CTXH cá nhân đối với TEMC: Giúp cho cán bộ quản lý có

cơ sở để đánh giá một cách khách quan các hoạt động công tác xã hội, đội ngũ nhân viên CTXH; Một số hạn chế và nguyên nhân trong CTXH cá nhân đối với TEMC tại Trung tâm

- Phần ứng dụng: Vận dụng lý thuyết CTXH cá nhân trong thực hiện tiến trình tại Trung tâm; Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động CTXH cá nhân đối với TEMC tại TTBTXH.CB

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài cho chúng ta có cái nhìn đúng đắn về CTXH tại TTBTXH tỉnh Cao Bằng hiện nay Đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm phát triển và hoàn thiện các dịch vụ CTXH tại TTBTXH tỉnh Cao Bằng Qua đó giúp cho nhân viên CTXH hiểu biết thêm về các chế độ chính sách, các dịch vụ hỗ trợ của CTXH đối với TEMC góp phần nâng cao hiệu quả CTXH cá nhân đối với

Trang 15

9

TEMC tại Trung tâm và là căn cứ để đổi mới công tác chỉ đạo, điều hành tại TTBTXH tỉnh Cao Bằng đồng thời bổ sung hoàn thiện cơ chế chính sách đối với TEMC cũng như nâng cao công tác tuyên truyền, phổ biến các chính sách, chương trình có liên quan đến TEMC

Đối với tác giả, nghiên cứu về CTXH cá nhân đối với TEMC là mối quan tâm hàng đầu của bản thân, sau khi nghiên cứu đề tài sẽ củng cố, mở rộng kiến thức về CTXH nói chung và CTXH cá nhân đối với TEMC nói riêng, từ đó rút ngắn khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực này Đồng thời trong quá trình thực hiện đề tài giúp cho tác giả có thêm hiểu biết về kiến thức, kỹ năng, phương pháp làm việc với CTXH và vận dụng vào công tác một cách có hiệu quả

Là tư liệu để những ai quan tâm có thể tham khảo

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, luận văn có 03 chương sau đây:

Chương 1 Cơ sở lý luận về trẻ em mồ côi và công tác xã hội cá nhân đối với

Trang 16

10

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRẺ EM MỒ CÔI VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ

NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI

1.1 MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ TRẺ EM MỒ CÔI

1 1.1 Khái niệm Trẻ em và Trẻ em mồ côi

1.1.1.1 Trẻ em

+ Khái niệm trẻ em theo Công ước Quốc tế : "Trẻ em có nghĩa là người dưới

18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em đã có quy định tuổi thành niên sớm hơn" (Điều 1) [13]

+ Khái niệm trẻ em ở một số quốc gia: Nhìn chung mỗi nước có qui định khác nhau về độ tuổi để được coi là trẻ em Việc qui định độ tuổi ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào sự phát triên về thể chất, tâm sinh lý của trẻ em ở mỗi quốc gia Do đó có những quốc gia qui định độ tuổi thành niên sớm hơn hoặc trẻ hơn 18 tuổi như được xác định trong Công ước về quyền trẻ em Tuy độ tuổi được coi là trẻ em ở mỗi quốc gia khác nhau nhưng nhìn chung trẻ em ở tất cả các quốc gia đều có các đặc điểm sau:

- Thể chất và trí tuệ chưa trưởng thành

- Cần có sự chăm sóc, giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội cả về mặt pháp lý

+ Khái niệm trẻ em trong pháp luật Việt Nam: Pháp luật Việt Nam chưa có các qui định thống nhất về khái niệm trẻ em trong từng ngành luật cụ thể

- Theo Luật trẻ em năm 2016: “Trẻ em qui định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [22]

- Ngoài ra trong các văn bản qui phạm pháp luật Việt Nam còn xuất hiện các khái niệm “người thành niên là người trên 18 tuổi”, “người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi” Vấn đề đặt ra là phân biệt giữa các khái niệm trên và khái niệm

“trẻ em” Như vậy khái niệm người chưa thành niên rộng hơn khái niệm về trẻ em, người chưa thành niên bao gồm cả trẻ em và những người từ 16 tuổi đến 18 tuổi

Trang 17

11

1.1.1.2 Trẻ em mồ côi

Trẻ em mồ côi là “những trẻ em mất cả cha lẫn mẹ hoặc chỉ mất mẹ hoặc cha, nhưng (cha/mẹ) mất tích, không đủ năng lực pháp lý để nuôi dưỡng (bị tâm thần, đang trong thời kỳ chấp hành án) theo quy định của pháp luật, những trẻ em bị bỏ rơi từ khi mới sinh ra được coi là TEMC” [15]

1.1.2 Đặc điểm của trẻ em mồ côi

- Hoàn cảnh gia đình

Đa số trẻ em mồ côi là con các hộ nghèo; bị mất cả cha lẫn mẹ hoặc mất cha,

mẹ bỏ đi hoặc mất mẹ, bố bỏ đi hoặc bị cha mẹ bỏ rơi; Hầu hết các trẻ em mồ côi có người thân như cô, dì, chú, bác, ông bà cũng là những hộ nghèo vì vậy các em phải

tự bươn trải cuộc sống từ khi mồ côi Các em sẽ gặp nhiều khó khăn về đời sống vật chất như thiếu thực phẩm, không có nước sạch để sử dụng, không đủ phương tiện sinh hoạt hàng ngày, không được hưởng điều kiện chăm sóc, vệ sinh… các em phải tham gia vào lao động để tự nuôi sống bản thân mình và các anh, chị em trong gia đình Chính các khó khăn này đã làm cho một số em không có cơ hội được đi học,

từ đó xuất hiện cảm giác thua thiệt, thái độ tiêu cực, tự ti, mặc cảm dẫn đến mất đi các động cơ kích thích học tập, rèn luyện và phấn đấu

- Đặc điểm tâm lý

Đến nay vẫn chưa có một kết quả nghiên cứu hay tài liệu cụ thể nào nói rõ về tâm lý TEMC, tuy nhiên dựa trên tâm lý của trẻ em và những biểu hiện thực tế của TEMC đã phác họa một số nét tâm lý cơ bản của TEMC như sau:

- Cảm giác cô đơn trống trải, trẻ tự ti, dễ tủi thân, sống thầm lặng mặc cảm với

số phận Trẻ xa lo lắng, sợ hãi, xa lánh không muốn quan hệ với bạn bè Một số trẻ trở nên liều lĩnh, gan lỳ, mánh khóe Một số trẻ lại có khả năng tự lập từ rất sớm

- Tâm lý hoài nghi: các em hoài nghi với mọi người, hoài nghi cuộc sống, thù ghét mà không có lý do với những trẻ ở bên ngoài trường học hơn nó về gia thế và

có đầy đủ cha mẹ

- Tâm lý thù hằn: TEMC sẽ hằn thù sâu đậm đàn ông nếu bố là nguyên nhân gây ra cái chết của mẹ, thù hằn đàn bà nếu mẹ là nguyên nhân gây ra cái chết của bố

Trang 18

12

Tuy nhiên, các em cũng biết chia sẻ, đồng cảm và giúp đỡ các bạn trong Trung tâm

1.1.3 Những khó khăn của trẻ em mồ côi

1.1.3.1 Điều kiện sinh hoạt

Do cơ sở của Trung tâm hiện nay được xây dựng từ năm 1992 với công năng nuôi dưỡng từ 70 đến 80 đối tượng nhưng Trung tâm đã chăm sóc, nuôi dưỡng gấp đôi số lượng vì vậy cơ sở vật chất luôn thiếu, không đáp ứng nhu cầu của các cháu Không có sân vui chơi cho trẻ, không có các phòng học cho các lớp học ngoài giờ, không có máy vi tính cho trẻ học

1.1.3.2 Điều kiện chăm sóc sức khoẻ

Điều 14, Luật Trẻ em năm 2016 quy định: trẻ em có quyền được chăm sóc tốt nhất về sức khỏe, được ưu tiên tiếp cận, sử dụng dịch vụ phòng bệnh và khám bệnh, chữa bệnh [22]

Trẻ em mồ côi không tiếp cận được với các dịch vụ y tế chất lượng cao, các

em chỉ được hưởng những dịch vụ do bảo hiểm y tế quy định

1.1.3.3 Điều kiện vui chơi giải trí

Vui chơi giải trí là một cách để TEMC hòa nhập với bạn bè, giúp trẻ giảm bớt những mất mát, thiệt thòi, tự ti mặc cảm về số phận của mình Tuy nhiên hoạt động vui chơi, giải trí của TEMC chỉ đơn thuần với các trò chơi dân gian và hằng ngày với 02 giờ xem ti vi và đọc sách báo Các em không được tiếp cận với các trò chơi, giải trí hiện đại

1.1.3.4 Điều kiện học tập

Giáo dục đóng vai trò cực kì quan trọng đối với sự phát triển của trẻ Giáo dục giúp cho trẻ có cơ hội để phát hiện và phát triển khả năng, trí tuệ Giáo dục định hướng giá trị cho trẻ, giúp trẻ tiếp nhận các tri thức khoa học, cũng như các chuẩn mực xã hội Theo Luật phổ cập giáo dục Việt Nam quy định: Các đối tượng trẻ em

có hoàn cảnh khó khăn được Nhà nước và xã hội quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện cần thiết để đạt được trình độ tiểu học [19] Tuy nhiên, do nguồn ngân sách hằng năm phân bổ cho các đối tượng tại Trung tâm thấp vì thế Trung tâm chỉ cung cấp

Trang 19

1.1.4.2 Nhu cầu tình cảm

Nhu cầu tình cảm là nhu cầu chính đáng của bất cứ cá nhân nào, đối với TEMC nhu cầu này lại càng trở nên quan trọng Trạng thái vui sướng, hạnh phúc xuất hiện khi trẻ nhận được sự hưởng ứng của người khác, gọi là “biểu lộ hoà hợp

về tình cảm” Nhiệm vụ chăm sóc, khơi dậy tình cảm là phải làm sao để bảo vệ những cảm xúc phù hợp, giúp trẻ phân biệt và phát triển các cảm giác phù hợp với các tình huống diễn ra

Về tâm lý: Đối với TEMC tâm lý chung của chúng, đó là sự li biệt, sự tổn thương về tinh thần và tình cảm.Việc bị bỏ rơi từ khi còn nhỏ hay việc mất cả cha lẫn mẹ gây cho trẻ những cảm giác giống nhau, đó là khả năng tin tưởng vào con người rất thấp, khả năng hoài nghi rất cao

Nhu cầu tình cảm rất quan trọng đối với TEMC Đây là một nhu cầu tự nhiên, là nguồn cổ vũ, động viên các em vượt qua mặc cảm về sự thiệt thòi, vượt qua những khó khăn, thiếu thốn về vật chất, thiếu hụt của hoàn cảnh gia đình để vươn tới cuộc sống tốt đẹp, bản thân các em có nghị lực, có ước mơ và hoài bão để các em đứng

Trang 20

14

vững bằng chính đôi chân, xây dựng một cuộc sống tốt đẹp bằng chính đôi bàn tay

và khối óc của mình

1.1.4.3 Nhu cầu được tôn trọng

Được tôn trọng là một nhu cầu chính đáng của con người Việc con người mong muốn được tôn trọng cho thấy bản thân mỗi cá nhân đều có khát vọng trở thành người có ích, trở thành người được thừa nhận trong một nhóm, một tập thể hay một cộng đồng nào đó Con người thường mong muốn có địa vị cao để được nhiều người tôn trọng và kính nể, vượt lên trên tất cả các nhu cầu đó là nhu cầu về

sự thể hiện của mỗi cá nhân Đây là khát vọng và nỗ lực để đạt được mong muốn Con người luôn tự nhận thấy bản thân cần thực hiện một công việc, một nghĩa vụ nào đó và họ chỉ cảm thấy thỏa mãn khi công việc, nghĩa vụ đó được thực hiện một cách tốt đẹp và nhận được sự tôn trọng, sự đánh giá đúng mức của những người xung quanh

Đối với TEMC thì nhu cầu “được tôn trọng” phải được lưu tâm một cách đặc biệt vì trẻ thường lo sợ, tự ti trước thái độ kỳ thị, xa lánh của những người xung quanh Trẻ luôn mong muốn được mọi người tôn trọng, không kỳ thị, không phân biệt đối xử, không phán xét đến hoàn cảnh, xuất thân Nhu cầu được tôn trọng của các em là hết sức cần thiết và cũng là điều mà các nhà hoạt động trong lĩnh vực xã hội, bảo vệ trẻ em cần đặc biệt lưu tâm nhằm giúp các em nhận ra giá trị của bản thân, phát hiện ra tiềm năng của mình, tự thấy mình là người có ích, từ đó có thái độ hợp tác nhằm giúp trẻ hòa nhập cộng đồng một cách hiệu quả nhất

1.1.4.4 Nhu cầu hoàn thiện, phát triển nhân cách

Từ khi sinh ra con người đã cố gắng hoàn thiện bản thân và đạt được những thành công, thành tựu, sự trưởng thành Cơ hội để một con người phát triển khả năng và kỹ năng của bản thân có thể mang lại cho người đó ý nghĩa quan trọng về

sự tự chủ, độc lập trong cuộc sống Sự cố gắng cải thiện bản thân mang lại cho chúng ta ý nghĩa về mục đích của cuộc sống Những người không có những mục tiêu dài hạn và mong muốn hoàn thiện bản thân, cuộc sống của họ thường ít ý nghĩa

và kém thỏa mãn

Trang 21

15

Nhu cầu cho sự trưởng thành cá nhân có thể hiểu là sự tiếp cận với hệ thống giáo dục, bao gồm cả việc học ở nhà, đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, chơi thể thao, trải nghiệm tất cả những gì có thể mang lại cơ hội cho con người nhằm nâng cao năng lực cá nhân, năng lực tinh thần, trí tuệ và phát triển toàn diện

Đối với TEMC muốn phát triển tốt, muốn trở thành những con người có ích cho xã hội, các em cần được sống trong một môi trường tốt cùng với sự nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục Trẻ cần được tham gia và tự khẳng định mình trong mối quan

hệ với gia đình, bạn bè và xã hội Các em có quyền với những tình cảm và suy nghĩ riêng, có quyền bày tỏ ý kiến về những vấn đề có liên quan tới mình Vì vậy người lớn cần quan tâm, lắng nghe ý kiến của trẻ em trước khi quyết định những vấn đề có liên quan đến trẻ em; giúp cho các em hiểu biết hơn, nâng cao hơn nhận thức, tích luỹ được kinh nghiệm, giúp người lớn đưa ra những quyết định đúng đắn nhất để giải quyết những vấn đề xảy ra trong cuộc sống có liên quan tới trẻ em…

1.2 CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI

1.2.1 Khái niệm

1.2.1.1 Công tác xã hội

Theo từ điển CTXH thì: “CTXH đó là một ngành khoa học xã hội ứng dụng nhằm giúp con người thực hiện chức năng tâm lý xã hội của mình một cách có hiệu quả và tạo ra những thay đổi trong xã hội để đem lại sự an sinh cao nhất cho con người.” Nó còn là “Một nghệ thuật, một khoa học, một nghề nhằm giúp người dân giải quyết vấn đề từ cấp độ cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng” CTXH giúp con người phát triển hài hòa, đem lại cuộc sống tốt đẹp cho con người [6]

Công tác xã hội có nhiều phương pháp, trong đó công tác xã hội cá nhân, công tác xã hội nhóm và Phát triển cộng đồng là 3 phương pháp công tác xã hội cơ bản

1.2.1.2 Công tác xã hội cá nhân

CTXH cá nhân là một trong 3 phương pháp cơ bản của Công tác xã hội Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về CTXH cá nhân:

- Theo Ms Helene Mathew: CTXH cá nhân là phương pháp giúp đỡ cá nhân thông qua mối quan hệ một- một Phương pháp này được NVXH ở các cơ sở xã hội

Trang 22

16

sử dụng để giúp đỡ các cá nhân có vấn đề về chức năng xã hội cũng như việc thực hiện chức năng xã hội của họ [30]

- Theo Ms Perlman: CTXH cá nhân là một tiến trình được các cơ quan lo lắng

về an sinh cho con người sử dụng để cá nhân đối phó hữu hiệu hơn với các vấn đề thuộc về chức năng xã hội của họ [30]

- Từ các khái niệm trên chúng ta có thể rút ra kết luận:

CTXH cá nhân là một phương pháp giúp đỡ từng cá nhân con người thông qua mối quan hệ một - một

CTXH cá nhân là một cách thức, quá trình nghiệp vụ mà NVXH sử dụng các

kỹ năng, kiến thức chuyên môn để giúp đối tượng phát huy tiềm năng, tham gia tích cực vào quá trình giải quyết vấn đề, cải thiện điều kiện sống của chính họ

1.2.1.3 Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi

Từ khái niệm CTXH cá nhân và khái niệm TEMC, luận văn đưa ra khái niệm

về CTXH cá nhân đối với TEMC như sau:

Công tác xã hội cá nhân đối với TEMC là một cách thức, quá trình mà NVXH

sử dụng các kiến thức, kỹ năng chuyên môn để can thiệp, hỗ trợ từng cá nhân TEMC, giúp các em phát huy tiềm năng, tham gia tích cực vào quá trình giải quyết vấn đề, cải thiện điều kiện sống của chính mình

1.2.2 Các nguyên tắc cơ bản của công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em

mồ côi

1.2.2.1 Các nguyên tắc chung

Nguyên tắc 1: Công tác xã hội với trẻ em mồ côi cần phải dựa vào cơ sở khoa học của phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Luôn đặt trẻ em mồ côi trong mối quan hệ tác động qua lại với các nhóm xã hội và trong mối quan hệ với các quá trình, điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau; cần căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh của từng khu vực, vùng, miền và từng giai đoạn phát triển nhất định của xã hội Nói cách khác, phải đặt nó trong mối quan hệ với hoàn cảnh lịch sử xã hội cụ thể Nguyên tắc 2: Trong công tác xã hội với trẻ em mồ côi, do đặc thù của đối tượng trẻ em này nên các em thường gặp phải những vấn đề rất khác nhau, nguyên

Trang 23

1.2.2.2 Các nguyên tắc hành động cụ thể

Nguyên tắc 1: Chấp nhận và tôn trọng thân chủ

Trẻ em mồ côi là nhóm trẻ em yếu thế chúng đều có chung đặc điểm là nhu cầu cơ bản của các em chưa được đáp ứng Trẻ em nói chung, trẻ em mồ côi nói riêng đều có nhân phẩm, giá trị riêng nên các em đều có quyền được tôn trọng, được đối xử công bằng, bình đẳng Chính vì thế mà trong các hoạt động trợ giúp trẻ em

mồ côi, nhân viên xã hội cần phải có thái độ tôn trọng phẩm giá, nhân cách và chấp nhận trẻ Sự chấp nhận trẻ em mồ côi ở đây có nghĩa là thừa nhận sự tồn tại và không có thái độ phán xét, phê phán những quan điểm, suy nghĩ hay hành vi của trẻ Tuy nhiên, việc chấp nhận những quan điểm, suy nghĩ, hành vi của trẻ không có nghĩa là là sự đồng tình với trẻ mà đó chỉ đơn thuần là sự chấp nhận để từ đó nhân viên xã hội tạo dựng lòng tin từ đối tượng, tăng cường sự hợp tác, chia sẻ của trẻ nhằm tạo quan hệ tin tưởng, tốt đẹp giữa nhân viên xã hội và thân chủ giúp cho tương tác trong quá trình trợ giúp thuận lợi và có hiệu quả

Nguyên tắc 2: Luôn coi thân chủ là người có ích, có giá trị

Do đặc thù của đối tượng trẻ em mồ côi nên nhân viên xã hội cần luôn luôn có thái độ trân trọng và coi các em là người có ích, có giá trị Trên thực tế, mỗi con người đều có những điểm mạnh, những giá trị riêng của mình, nếu biết khơi dậy điểm mạnh của họ thì cá nhân đó có thể phát huy và có được những thành công trong cuộc sống Đối với nhóm trẻ em mồ côi - đối tượng vốn dĩ luôn có sẵn sự tự

ti, mặc cảm rất lớn so với những trẻ em bình thường, nếu nhân viên xã hội không có

đủ độ chuyên nghiệp trong trợ giúp trẻ thì sẽ dễ làm cho trẻ không nhận ra giá trị của mình và điều đó ảnh hưởng rất lớn đến khả năng phát huy sức mạnh nội lực bản

Trang 24

18

thân để tự giải quyết vấn đề của trẻ Thực hiện nguyên tắc này giúp cho nhân viên

xã hội phát hiện ra năng lực nổi trội của thân chủ, từ đó giúp thân chủ tự tím cách giải quyết vấn đề của mình

Nguyên tắc 3: Tạo điều kiện để thân chủ tham gia giải quyết vấn đề

Tạo điều kiện để trẻ em mồ côi tham gia giải quyết vấn đề là một trong những nguyên tắc cơ bản của nhân viên xã hội trong trợ giúp trẻ em Hơn ai hết, chính các

em là người hiểu bản thân đang gặp phải những khó khăn gì, cần gì, năng lực của mình có thể giải quyết được vấn đề của mình đến đâu, vì vậy, vấn đề khó khăn của trẻ chỉ có thể được giải quyết thấu đáo khi có sự tham gia của các em Trẻ em là người sẽ tham gia từ khâu đánh giá, xác định vấn đề; tìm phương án giải quyết; quyết định lựa chọn phương án, hình thức giải quyết; thực hiện giải pháp cũng như đánh giá kết quả Với nguyên tắc này, nhân viên xã hội chỉ giữ vai trò là chất xúc tác, định hướng, khuyến khích trong quá trình trợ giúp thân chủ để thân chủ tự tìm cách giải quyết vấn đề của mình mà không làm thay, làm hộ Việc để thân chủ tham gia tự giải quyết vấn đề của mình giúp cho trẻ tự học được cách tư duy, kỹ năng ra quyết định, lựa chọn các phương pháp giải quyết vấn đề một cách hợp lý và hiệu quả, từ đó tăng khả năng đối phó và thoát khỏi những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống

Nguyên tắc 4: Tôn trọng quyền tự quyết của thân chủ

Với nguyên tắc này, nhân viên xã hội không quyết định thay thân chủ bất kỳ vấn đề nào có liên quan đến họ, mà chỉ là người hỗ trợ, giúp đỡ trẻ đưa ra những quyết định đúng đắn và phù hợp với hoàn cảnh của trẻ Quyết định lựa chọn giải pháp nào là quyền của trẻ em, nhân viên xã hội cần tôn trọng ý kiến của trẻ, không lựa chọn giải pháp thay thân chủ, không áp đặt ý kiến chủ quan cá nhân của mình đối với thân chủ, không định hướng, thuyết phục thân chủ theo cách lựa chọn của mình Tuy nhiên, trong một số trường hợp trẻ không có khả năng tự quyết định được như trường hợp trẻ còn quá nhỏ, bị rồi loạn tâm thần, bị bệnh tật quá nặng về thể xác ảnh hưởng đến trí tuệ, bị tăng động quá khích… thì nhân viên xã hội cần xin

ý kiến từ người bảo trợ của trẻ Trong trường hợp quyết định của thân chủ có nguy

cơ làm tổn hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản vật chất của bản thân hay của người

Trang 25

19

khác thì nhân viên xã hội không chấp thuận quyết định của trẻ mà cần cho trẻ hiểu được quy định của pháp luật về những vấn đề liên quan đến quyết định của chúng cũng như có những biện pháp khác nhằm tránh những rủi ro có thể xảy ra

Việc tôn trọng quyền tự quyết của trẻ em giúp cho chúng có trách nhiệm, học cách có trách nhiệm với bản thân, không lệ thuộc vào người khác Thực hiện nguyên tắc này giúp trẻ trở nên tự tin, có trách nhiệm, nâng cao khả năng quyết đoán, đưa ra những quyết định đúng đắn cho cuộc sống hiện tại và tương lai

Nguyên tắc 5: Đảm bảo tính khác biệt của mỗi đối tượng thân chủ

Xét về các nhu cầu cơ bản thì nhìn chung trẻ em giống nhau, song xét về hoàn cảnh điều kiện, mong muốn thì ở mỗi trẻ em lại có những điểm khác nhau nhất định, đối với trẻ em mồ côi thì sự khác biệt càng thể hiện rõ nét Từng nhóm trẻ đặc thù với những đặc điểm về thể chất, tinh thần, hoàn cảnh… khác nhau dẫn đến mong muốn, nguyện vọng giữa các em cũng khác nhau rất xa Từng nhóm đối tượng trẻ

có những vấn đề riêng tạo nên những nhu cầu riêng Việc đảm bảo tính khác biệt của từng đối tượng thân chủ giúp cho nhân viên xã hội thuận lợi trong việc đưa ra phương pháp trị liệu thích hợp với từng đối tượng cụ thể Điều này giúp phát hiện ra những nét đặc thù, tạo sự linh hoạt, mềm mại trong việc áp dụng phương pháp giải quyết cho từng đối tượng trẻ em

Thực hiện nguyên tắc này trong hoạt động công tác xã hội giúp cho nhân viên

xã hội có kỹ năng, đảm bảo cân bằng lợi ích thiết thực của từng nhóm đối tượng trẻ

em, làm cho công tác trợ giúp trẻ em linh hoạt và hiệu quả, tránh sự bảo thủ, cứng nhắc trong quá trình trợ giúp

Nguyên tắc 6: Luôn giữ trạng thái bình tĩnh, không bị kích động bởi những hành vi của thân chủ

Mỗi nhóm đối tượng trẻ em mồ côi vốn dĩ đã có những khác biệt rất lớn Khi

có vấn đề thì sự khác biệt của từng nhóm đối tượng, từng đối tượng cá nhân trẻ em riêng lẻ càng có sự khác nhau lớn hơn Sự khác biệt này thể hiện ở cách tư duy, thể hiện bằng cử chỉ hành động hoặc bằng lời nói đối với những người xung quanh và đặc biệt là đối với nhân viên xã hội - người sẽ trợ giúp các em giải quyết các vấn đề của chính bản thân các em Do khả năng nhận thức chưa đầy đủ, điều kiện hoàn

Trang 26

20

cảnh cuộc sống khắc nghiệt, trạng thái cơ thể không khỏe mạnh hay sức khỏe tinh thần không được đảm bảo mà có thể trẻ sẽ có những lời nói hoặc hành vi thiếu chuẩn xác Trong những trường hợp cụ thể, nhân viên xã hội cần luôn luôn giữ trạng thái bình tĩnh kết hợp với sự thấu cảm và chia sẻ, không bị kích động bởi những hành vi của thân chủ Đối với những đối tượng thân chủ là người lớn đã khó khăn, đối với đối tượng thân chủ là trẻ em còn khó khăn hơn bởi trẻ em chưa được

xã hội hóa đầy đủ, chúng mới đang trong quá trình hình thành nhân cách, tiếp nhận những giá trị, chuẩn mực, văn hóa… từ người thân và xã hội nên việc đòi hỏi chúng phải hiểu vấn đề như một người lớn là điều không thể Chính vì vậy, nhân viên xã hội phải luôn giữ trạng thái ổn định về mặt tinh thần khi làm việc với đối tượng thân chủ là trẻ em, đặc biệt khi trẻ đang có vấn đề cần tìm phương án giải quyết

Nguyên tắc 7: Bảo mật các thông tin về trường hợp của thân chủ

Giữ bí mật thông tin là một nguyên tắc cơ bản không chỉ đối với ngành công tác xã hội mà còn trong nhiều ngành nghề khác Đối với hoạt động công tác xã hội, việc giữ bí mật thông tin về trường hợp của thân chủ càng có ý nghĩa quan trọng bởi

vì nó thể hiện sự tôn trọng những vấn đề riêng tư của thân chủ đối với người khác khi chưa có sự đồng ý của thân chủ Đối với những đối tượng thân chủ là trẻ em mồ côi, nguyên tắc này là một nguyên tắc cần phải nghiêm túc thực hiện Ví dụ đối với trẻ em mồ côi bị nhiễm HIV/AIDS nếu như nhân viên xã hội không đảm bảo được tính bí mật thông tin thì dễ dẫn đến những ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống của các em do sự kỳ thị của xã hội và sự mặc cảm của các em Nhân viên xã hội thực hiện tốt được nguyên tắc này sẽ tạo điều kiện để trẻ em bộc lộ những cảm xúc chân thành, cởi mở trong chia sẻ những khó khăn, những vấn đề bản thân các em đang vướng phải Nhân viên xã hội chỉ được phép chia sẻ thông tin khi có sự đồng ý của các em hoặc của người bảo trợ trẻ Không chỉ đảm bảo tính bí mật đối với các thông tin truyền miệng mà ngay cả đối với hồ sơ của thân chủ, nhân viên xã hội cũng phải

có trách nhiệm giữ gìn cẩn thận (dùng tủ có khóa, dùng máy tính có mật khẩu) Khi tham vấn, tư vấn hay phỏng vấn thân chủ, nhan viên xã hội cần đảm bảo không gia yên tĩnh và riêng tư cho cuộc trò chuyện, tránh trao đổi các vấn đề tế nhị của trẻ ở nơi đông người, không kiểm soát được thông tin Nhân viên xã hội tránh ghi âm,

Trang 27

21

ghi hình, chụp ảnh trẻ khi không được sự cho phép của các em hoặc của người bảo trợ các em Trong các hoạt động khác như trao đổi, thảo luận, tọa đàm cần sử dụng nguyên tắc khuyết danh khi bàn luận về một trường hợp cụ thể

Việc đảm bảo bí mật thông tin của trẻ giúp trẻ tin tưởng nhân viên xã hội, từ

đó các em sẵn sàng chia sẻ và hợp tác Mặt khác, việc bảo mật thông tin còn mang tính nhân văn trong quan hệ con người và quan hệ nghề nghiệp

Tuy nhiên, trong một số trường hợp sẽ có ngoại lệ với nguyên tắc này nếu như hành vi của trẻ đe dọa đến tính mạng của bản thân họ cũng như của người khác thì thân chủ có quyền trao đổi thông tin với người có thẩm quyền Trong một số trường hợp, khi các cơ quan chức năng có thẩm quyền yêu cầu cung cấp thông tin thì nhân viên xã hội có thể cung cấp mà không cần sự đồng ý của thân chủ

Nguyên tắc 8: Ý thức về bản thân

Nhân viên công tác xã hội khi thực hiện nhiệm vụ trợ giúp cần luôn luôn ý thức được vai trò của mình là hỗ trợ trẻ em để giải quyết vấn đề nảy sinh Phục vụ trẻ em mồ côi là nhiệm vụ của nhân viên xã hội, vì vậy cần tránh lạm dụng quyền lực, vị trí công việc để mưu lợi cá nhân Trong khi thực thi công việc, nhân viên xã hội luôn phải ý thức được khả năng chuyên môn về kiến thức, phương pháp, kỹ năng của mình trong trợ giúp trẻ Tránh trường hợp tiếp tục giải thực hiện công việc khi biết rõ công việc đó vượt quá khả năng của mình Trong trường hợp nhân viên

xã hội không có khả năng giải quyết trường hợp thì cần chuyển giao công việc cho đồng nghiệp khác tiếp nhận và giải quyết tiếp Đây là một nguyên tắc hoạt động chuyên môn không thể thiếu ở mỗi nhân viên xã hội Nó giúp cho nhân viên xã hội

ý thức được bản thân mình về các phương diện liên quan đến nghề nghiệp, biết đánh giá khả năng của mình để hoàn thành công việc được giao với chất lượng được đảm bảo Đồng thời, việc ý thức được bản bân của nhân viên xã hội còn giúp cho trẻ

em có hoàn cảnh đặc biệt được đảm bảo lợi ích cũng như quyền lợi trong trường hợp vượt quá khả năng giải quyết của nhân viên xã hội Điều này cũng giúp cho nhân viên xã hội đảm bảo tính trung thực trong nghề nghiệp cũng như trong nhân cách

Trang 28

22

1.2.3 Tiến trình công tác xã hội cá nhân

Tiến trình CTXH cá nhân là những bước cần làm trong một khoảng thời gian nhất định Khi giúp đỡ một cá nhân, NVXH cần thực hiện những bước của tiến trình một cách hệ thống và có quy trình nhằm đạt được mục tiêu đề ra

Tiến trình CTXH cá nhân bao gồm các bước cơ bản sau:

Bước 1: Tiếp cận thân chủ

Việc tiếp cận ca (hay tiếp cận thân chủ) được thực hiện có thể do phía NVXH chủ động tìm đến đối tượng hoặc do đối tượng chủ động tìm đến với NVXH để tìm kiếm sự hỗ trợ

Bước 2: Nhận diện vấn đề

- Việc đầu tiên NVXH phải làm là phải xác định vấn đề của đối tượng

- Xác định ai là đối tượng chính, ai là đối tượng liên quan để có thể xác định được vấn đề trọng tâm và giải quyết vấn đề có hiệu quả hơn

- NVXH thiết lập được mối quan hệ, hợp tác với đối tượng

Bước 3: Thu thập thông tin

- Thu thập những vấn đề của đối tượng, hoàn cảnh của đối tượng, những người

có liên quan, vấn đề đó bắt đầu từ khi nào, đã có những biện pháp can thiệp gì?

- Nguồn thu thập thông tin: đối tượng, gia đình cung cấp, do bạn bè của đối tượng cung cấp, trường học, nơi làm việc của đối tượng, dân phố, các hồ sơ của đối tượng

- Việc thu thập thông tin được duy trì liên tục trong thời gian tiến hành hỗ trợ

vì đối tượng và vấn đề, hoàn cảnh của đối tượng liên tục thay đổi nhất là sau khi có

sự tác động của NVXH

Bước 4: Chuẩn đoán

Dựa trên những thông tin thu thập tiến hành chuẩn đoán như sau:

- Xác định xem thực chất vấn đề là gì? tính chất vấn đề là gì?

- Phân tích thông tin để chỉ ra những nguyên nhân/ nhân tố dẫn đến vấn đề vướng mắc, điểm mạnh, điểm yếu của đối tượng; những điểm mạnh, điểm yếu của hoàn cảnh đối tượng; Tâm trạng, nhận thức, mong đợi của đối tượng

Bước 5: Lập kế hoạch can thiệp

Trang 29

23

Đây là giai đoạn lên kế hoạch giải quyết vấn đề Giai đoạn này phải xác định

mục đích và các mục tiêu cụ thể cần đạt được Phương thức nguồn lực hỗ trợ

Trong giai đoạn này đối tượng cần chủ động tham gia với sự hỗ trợ của NVXH

và cũng là cơ hội để NVXH tìm hiểu được nhiều hơn về đối tượng qua cách thức lựa chọn phương pháp cho sự giải quyết vấn đề của chính họ

Bước 6: Thực hiện kế hoạch

Là tiến hành các hoạt động dịch vụ nhằm hỗ trợ cá nhân giải quyết vấn đề dựa trên kế hoạch đã được đưa ra

Để thực hiện được mục tiêu đưa ra, NVXH có thể triển khai các hoạt động như: Cung cấp một số dịch vụ; tư vấn, tham vấn cho đối tượng

Trong giai đoạn này đối tượng phải thực sự nỗ lực tham gia vào giải quyết vấn

đề của chính mình, họ vừa là người chèo chống, vừa là người định hướng mục tiêu của chính mình

Vai trò của NVXH là người định hướng, hỗ trợ, đánh giá, phản ánh lại với đối tượng những cái mà đối tượng đạt được, là chỗ dựa tinh thần động viên họ, khuyến khích họ thực hiện các hoạt động, đặc biệt khi họ gặp khó khăn NVXH không làm thay đối tượng

Bước 7: Lượng giá và kết thúc

Lượng giá là sử dụng các phương pháp để đo lường quá trình thay đổi và kết quả của những thay đổi đó Đo lường và thẩm định các thay đổi tiến bộ của đối tượng, kết quả của sự can thiệp, sự đối chiếu với mục tiêu đã đặt ra xem đã đạt đến mức nào để kịp thời bổ sung, điều chỉnh

Lượng giá phải thực hiện suốt trong quá trình giúp đỡ, hỗ trợ đối tượng, đồng thời phải có sự tham gia của cả NVXH, đối tượng và những người khác

Nếu kết quả lượng giá cho thấy hướng đi tích cực thể hiện ở sự tiến bộ của đối tượng thì NVXH cần được giới hạn lại để đối tượng chủ động, độc lập trong giải quyết vấn đề Nếu kết quả lượng giá cho thấy chiều hướng xấu đi thì cần thẩm định

rõ mức độ đến đâu để từ đó có hướng tác động phù hợp, có thể nhờ sự hỗ trợ của các đồng nghiệp, các chuyên gia hay cơ quan chức năng khác

Trang 30

24

Kết thúc mối quan hệ giữa NVXH và đối tượng là sự khép lại hồ sơ hay

chuyển ca giúp đỡ sang một cơ quan hoặc NVXH khác giải quyết Hoạt động này tùy thuộc vào các tình huống sau: Dịch vụ giúp đỡ đã được hoàn tất; Mục đích đã đạt được hay chưa; Đã chấm dứt hay muốn chuyển giao

Việc chấm dứt hay chuyển giao qua NVXH khác phải dựa trên nhu cầu và quyền lợi của đối tượng; không kéo dài chỉ vì chủ quan của NVXH; không chấm dứt chỉ vì duy ý chí của NVXH

1.2.4 Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi

Tùy thuộc vào từng tình huống cụ thể, trong công tác xã hội cá nhân đối với TEMC, nhân viên CTXH có thể có một số các vai trò sau:

- Vai trò người vận động nguồn lực: là người trợ giúp thân chủ tìm kiếm nguồn lực (nội lực, ngoại lực) để giải quyết vấn đề Nguồn lực có thể bao gồm con người,

về cơ sở vật chất, về tài chính, kỹ thuật, thông tin, sự ủng hộ về chính sách, chính trị, quan điểm

- Vai trò người kết nối: Nhân viên CTXH giới thiệu cho thân chủ các chính

sách, dịch vụ, nguồn tài nguyên sẵn có từ các cơ quan tổ chức, cá nhân để họ tiếp cận được với các nguồn lực, có thêm sức mạnh trong giải quyết vấn đề

- Vai trò người biện hộ: Nhân viên CTXH bảo vệ quyền lợi của thân chủ để

họ được hưởng các chính sách, dịch vụ, quyền lợi của họ; đặc biệt trong trường hợp

họ bị từ chối những dịch vụ, chính sách mà lẽ ra họ được hưởng

- Vai trò là người vận động/ hoạt động xã hội: Nhân viên CTXH vận động xã

hội tổ chức các hoạt động để biện bộ, bảo vệ quyền lợi cho thân chủ;

- Vai trò là người giáo dục: Nhân viên CTXH cung cấp kiến thức, kỹ năng liên

quan đến vấn đề họ cần giải quyết, nâng cao năng lực cho thân chủ qua tập huấn, giáo dục cộng đồng để họ có thể hiểu biết tự tin và tự mình nhìn nhận vấn đề, đánh giá vấn đề, phân tích và tìm kiếm nguồn lực cho vấn đề cần giải quyết

- Vai trò người tạo sự thay đổi: Nhân viên CTXH được xem như người tạo ra

sự thay đổi cho cá nhân, giúp họ thay đổi suy nghĩ, thay đổi hành vi tiêu cực hướng

họ tới những suy nghĩ và hành vi tốt đẹp hơn

Trang 31

25

- Vai trò là người tham vấn, tư vấn: Với vai trò người tư vấn, nhân viên CTXH

cung cấp các thông tin cần thiết cho thân chủ như: thông tin về chính sách việc làm đối với người nghèo, người khuyết tật; thông tin về sức khỏe sinh sản, thông tin về bảo vệ môi trường Với vai trò là người tham vấn, NVCTXH trợ giúp thân chủ tự xem xét vấn đề và tự thay đổi

- Vai trò là người tham gia xây dựng và thực hiện kế hoạch: Trên cơ sở nhu

cầu của thân chủ, đã được thân chủ xác định, NVCTXH giúp thân chủ lập kế hoạch hoạt động để giải quyết vấn đề của bản thân

- Vai trò là người cung cấp các dịch vụ trợ giúp cho những cá nhân không có

khả năng tự đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của mình và giải quyết vấn đề

- Vai trò là người nghiên cứu xử lý dữ liệu: Với vai trò này, NVXH nhiều khi

phải nghiên cứu, thu thập thông tin và phân tích thông tin trên cơ sở đó tư vấn cho thân chủ để họ đưa ra những quyết định đúng đắn

- Vai trò là người quản lý hành chính: NVXH thực hiện những công việc cần

thiết cho việc quản lý các hoạt động, các chương trình, lên kế hoạch và triển khai kế hoạch các chương trình dịch vụ

1.2.5 Các kỹ năng cần thiết của nhân viên công tác xã hội trong công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi

Trong thực hành CTXH cá nhân nói chung, CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi nhân viên CTXH cần có các kỹ năng sau:

- Kỹ năng giao tiếp: Giao tiếp là hoạt động thường nhật xảy ra liên tục mọi lúc

mọi nơi Là cầu nối giữa người nói với người nghe Để giúp thân chủ thì nhân viên

CTXH phải có kỹ năng giao tiếp tốt mới có thể tiếp cận dễ dang với thân chủ

- Kỹ năng quan sát: Quan sát là cách nhìn nhận sự vật, hiện tượng một cách

chi tiết và có phân tích Quan sát hướng đến và phục vụ cho mục đích, chủ ý rõ ràng Nếu không sử dụng óc quan sát, chúng ta chỉ nhìn thấy mọi thứ xung quanh mình một cách ngẫu nhiên.

- Kỹ năng lắng nghe tích cực: là một trong những kỹ năng quan trọng giúp nhân viên CTXH phát triển mối quan hệ với thân chủ

- Kỹ năng thu thập, phân tích thông tin:

Trang 32

26

Thu thập thông tin là quá trình tập hợp thông tin theo những tiêu chí cụ thể nhằm làm rõ những vấn đề, nội dung liên quan đến thân chủ

Phân tích thông tin là cách nhân viên CTXH sau khi khai thác các thông tin

phải xử lý để có thể nhìn nhận đúng các vấn đề của thân chủ

- Kỹ năng thuyết trình: là quá trình truyền đạt thông tin nhằm đạt được mục đích cụ thể trong giao tiếp Nhân viên CTXH sử dụng kỹ năng này để thuyết phục

thân chủ trong quá trình trợ giúp họ

- Kỹ năng tham vấn: Giúp thân chủ nhận thức, hiểu chính mình, hoàn cảnh của mình để chủ động tìm giải pháp giải quyết vấn đề

- Kỹ năng tư vấn: Đưa ra những lời khuyên mang tính chuyên môn giúp thân chủ tự mình đưa ra quyết định

- Kỹ năng biện hộ: Nhân viên CTXH phải có kỹ năng biện hộ để thúc đẩy và

bảo vệ quyền của thân chủ

1.3 MỘT SỐ LÝ THUYẾT ỨNG DỤNG TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI

CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI

Có rất nhiều lý thuyết trong tâm lý học, xã hội học có thể vận dụng trong CTXH như: Thuyết nhân văn hiện sinh, thuyết vai trò, thuyết nhận thức- hành vi, thuyết hệ thông Trong đề tài này, một số lý thuyết có ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu, cụ thể như sau:

1.3.1 Thuyết nhu cầu của A Maslow

Abraham Maslow (1908 – 1970), nhà tâm lý học người Mỹ Hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow thường được thể hiện dưới dạng hình kim tự tháp, các nhu cầu

ở bậc thấp (nhu cầu cho sự tồn tại) thì xếp phía dưới, trong khi những nhu cầu cho

sự phát triển, sự hoàn thiện cá nhân được coi là quan trọng hơn, giá trị hơn, chúng được xếp ở các thang bậc trên cao của kim tự tháp Mỗi nhu cầu con người đều phụ thuộc vào nhu cầu trước đó

Trang 33

27

Vận dụng lý thuyết này vào việc trợ giúp TEMC không những giải quyết được nhu càu cơ bản về vật chất, tinh thần của TEMC mà còn tạo cho TEMC có niềm tin vào cuộc sống Thông qua việc trợ giúp, TEMC tiếp cận được những dịch vụ hỗ trợ

từ nhà nước, xã hội, cộng đồng và những nhu cầu cần thiết mà TEMC cần được đáp ứng có được đáp ứng có hiệu quả không để từ đó có những đề xuất thiết thực về tình hình thực tế của địa phương và trách nhiệm của các cấp, các ngành, các thành viên trong xã hội trong việc hỗ trợ TEMC tạo điều kiện cho TEMC đáp ứng nhu cầu cần có của mình

1.3.2 Thuyết Hệ thống

Lý thuyết hệ thống được đề xướng năm 1940 bởi nhà sinh vật học nổi tiếng Ludwig von Bertalanffy( 1901-1972) Ông đưa ra quan điểm rằng tất cả các cơ quan đều là hệ thống, bao gồm những hệ thống nhỏ hơn và là phần tử của hệ thống lớn hơn Đây là một lý thuyết sinh học và từ lĩnh vực sinh học, các nguyên tắc của lý thuyết này được chuyển sang việc giải quyết những vấn đề của chuyên ngành khác trong đó có Khoa học xã hội, nghiên cứu về mối quan hệ giữa con người với xã hội Theo định nghĩa của CTXH hiện đại "Hệ thống là một tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống nhất" [6]

Lý thuyết hệ thống cho rằng mọi tổ chức hữu cơ đều là hệ thống, được tạo thành từ các tiểu hệ thống và ngược lại cũng là một phần tử của hệ thống lớn hơn

Nhu cầu giao lưu tình cảm

Nhu cầu

tự hoàn thiện Nhu cầu được tôn trọng

Nhu cầu thể chất Nhu cầu an toàn

Trang 34

Thuyết hệ thống là một trong những lý thuyết quan trọng được sử dụng trong CTXH, đặc biệt khi tìm hiểu, đánh giá về hệ thống xung quanh TEMC, nó giúp NVXH biết được TEMC đang thiếu những gì, những hệ thống họ có thể tham gia và tiếp cận bởi trọng tâm của hệ thống là hướng tới những cái tổng thể và mang tính hòa nhập Nó còn giúp cho NVXH biết sắp xếp, tổ chức những lượng thông tin lớn thu thập được để xác định mức độ nghiêm trọng của vấn đề và tìm cách can thiệp

Có 03 loại hệ thống thỏa mãn cuộc sống con người: Hệ thống chính thức: Tổ chức công đoàn, cộng đồng ; Hệ thống phi chính thức: Bạn bè, gia đình ; Hệ thống xã hội: Bệnh viện, nhà trường

Ứng dụng lý thuyết hệ thống vào đề tài, ngoài sự can thiệp của 03 hệ thống trên NVXH đóng vai trò trong việc giúp TEMC trong việc tăng cường kết nối, hỗ trợ lẫn nhau của 03 loại hệ thống (trong đó có Trung tâm/ Hội bảo trợ trẻ mồ côi và người tàn tật) một cách khoa học và phù hợp cho từng đối tượng NVXH giúp TEMC kết nối các hệ thống mà họ thiếu hụt như: gia đình, bạn bè, người thân, cộng động, xã hội, các thiết chế, dịch vụ Việc tạo điều kiện và hỗ trợ triệt đẻ sẽ giúp cho TEMC dễ hòa nhập với cộng đồng hơn

1.3.3 Thuyết thân chủ trọng tâm của Carl Rogers

Carl Rogers (1902 – 1987) là người sáng lập ra phương pháp tham vấn thân chủ trọng tâm Rogers giả thiết rằng mỗi người đều sở hữu những tiềm năng cho sự lớn lên, tiềm năng cho những hành vi có hiệu quả và có khuynh hướng tự hiện thực hoá những tiềm năng của mình

Lý thuyết thân chủ trọng tâm để xem xét, đánh giá về khả năng của TEMC Tuy các em có những đặc điểm và tâm lý riêng nhưng NVXH cần nhìn nhận các em với những đặc điểm tích cực như: các em có đủ khả năng để tự giải quyết vấn đề

Trang 35

29

dưới sự trợ giúp của NVXH, chúng ta cần tạo điều kiện và tin tưởng, khích lệ để các

em giải quyết vấn đề và tái hoà nhập xã hội;

Mặt khác, lý thuyết này còn được vận dụng để xem xét, đánh giá sự quản lý, giáo dục trong Trung tâm Bảo trợ xã hội trên về các khía cạnh: Nội dung giáo dục

có lấy các đối tượng làm trọng tâm, có phát huy được sự tham gia của đối tượng không? Phương pháp giáo dục của nhân viên tại đây đã tin tưởng vào khả năng của đối tượng không? Các hoạt động chuẩn bị cho quá trình TEMC tái hoà nhập cộng đồng có phù hợp với khả năng của trẻ?

1.4 LUẬT PHÁP, CHÍNH SÁCH VÀ CÁC MÔ HÌNH, DỊCH VỤ HỖ TRỢ TRẺ EM MỒ CÔI

1.4.1 Luật pháp quốc tế về trẻ em

Công ước về quyền trẻ em là một công ước quốc tế quy định các quyền dân sự,

chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của trẻ em [13] Các quốc gia phê chuẩn công ước này chịu ràng buộc của các quy định công ước này theo luật quốc tế Cơ quan giám sát thi hành công ước này là Ủy ban quyền trẻ em Liên Hiệp Quốc bao gồm các thành viên từ các quốc gia trên khắp thế giới Các quốc gia đã phê chuẩn công ước này phải báo báo trước Ủy ban về quyền trẻ em Liên Hiệp Quốc theo định kỳ

để ủy ban này kiểm tra việc quá trình tiến triển trong việc thực thi công ước và tình trạng quyền trẻ em ở quốc gia đó Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á cũng là nước thứ 2 trên thế giới phê chuẩn công ước của Liên Hiệp Quốc về Quyền trẻ em

Trang 36

30

dục mầm non; bảo đảm giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không thu học phí; từng bước phổ cập giáo dục trung học…”; “Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vung có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hóa và học nghề” Với quy định này, Hiến pháp 2013 là cơ sở pháp lý gốc quan trọng để cụ thể hóa quyền trẻ em trong các bộ luật, luật liên quan và xây dựng chính sách cho trẻ em, trẻ em mồ côi [21]

1.4.2.2 Luật Trẻ em: Luật số 102/2016/QH13 được Quốc hội khóa 13 thông

qua ngày 5/4/2016, có hiệu lực từ ngày 01/7/2017 đã quy định đầy đủ 25 quyền của trẻ em và các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền của trẻ em Luật quy định rõ hơn

về khái niệm trẻ em có HCĐB (khoản 10 Điều 4), quy định 14 nhóm trẻ em có HCĐB (bổ sung thêm một số nhóm đối tượng mà Luật BVCSGDTE 2004 còn sót chưa quy định) và giao Chính phủ có chính sách hỗ trợ phù hợp đối với từng nhóm trẻ em có HCĐB (Điều 10) Quy định tại các chương, điều về biện pháp bảo đảm thực hiện quyền trẻ em đều nhấn mạnh ưu tiên trẻ em có HCĐB Luật cũng quy định rõ ràng về kế hoạch hỗ trợ, can thiệp đối với trẻ em bị xâm hại, có HCĐB (Điều 52) [22]

1.4.2.3 Các chính sách đối với trẻ em mồ côi

Chính sách bảo trợ xã hội: Chính phủ ban hành Nghị định số

136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 Quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ

xã hội Chính sách này quy định rất rõ ràng về các đối tượng bảo trợ xã hội và rất chi tiết về các dạng vấn đề của TEMC, theo đó, mức trợ cấp tối thiểu cho TEMC là

270.000đ/tháng

Chính sách trợ giúp giáo dục: Luật phổ cập giáo dục tiểu học (1991) có qui

định tại Điều 11: "Trẻ em là con liệt sĩ, thương binh nặng, trẻ em tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được nhà nước và xã hội quan tâm giúp đỡ tạo điều kiện cần

thiết để đạt trình độ giáo dục tiểu học” [19]

Ngày 24 tháng 3 năm 2005 Thủ Tướng Chính Phủ đã có Quyết định số 62/2005/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở, sau đó liên Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và Bộ Tài Chính, Bộ Giáo dục và

Trang 37

31

Đào tạo đã có thông tư số 22/2005/TTLT-LĐTBXH-TC-GD&ĐT hướng dẫn thực hiện Quyết định số 62/2005/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở trong đó đối tượng được hưởng bao gồm: Học sinh là con liệt sỹ; Học sinh là con thương binh, con của bệnh binh và người hưởng chính sách như thương binh; Học sinh là người tàn tật; Học sinh mồ côi, học sinh dân tộc thiểu số; Học sinh thuộc diện hộ nghèo

Chính sách về y tế

Năm 1994 Chính phủ đã ban hành Nghị định 95/CP ngày 27/8/1994 về việc thu một phần viện phí đối với người nghèo và trẻ em và thông tư số 27/LĐTBXH ngày 24/10/1995 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, hướng dẫn việc cấp giấy chứng nhận cho các đối tượng được miễn nộp một phần viện phí khi đến khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế của Nhà nước, và tiếp theo là Thông tư liên tịch số 05/1999/TTLT/BLĐTBXH-YT-TC ngày 29/01/1999 Ngày 15 tháng 10 năm 2002 Thủ tướng Chính phủ lại ban hành Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg về việc khám, chữa bệnh cho người nghèo, trong đó người nghèo nói chung và trẻ em nghèo nói riêng được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, được quyền khám chữa bệnh tại các cơ sở không phải đóng tiền tạm ứng khi nhập viện Tiếp đó Chính phủ cũng có Nghị định

số 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 ban hành kèm theo Điều lệ Bảo hiểm y tế, Liên

Bộ Y tế-Tài chính ban hành Thông tư 21/2005/TTLT-BYT-BTC hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế bắt buộc, trong đó, xác định trẻ em nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng được cấp thẻ bảo hiểm y tế với mệnh giá như đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm y tế; quyền lợi khám chữa bệnh được

mở rộng, nhất là trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS; đặc biệt, với chính sách miễn phí khám chữa bệnh cho toàn bộ trẻ em dưới 6 tuổi đã giúp cho nhóm trẻ em nghèo, TEMC tiếp cận với y tế ngày càng thuận lợi hơn và chất lượng cũng khá hơn

Chính sách hỗ trợ học nghề, tạo việc làm

Bộ Tài chính và Uỷ ban Bảo vệ Chăm sóc trẻ em (trước đây) đã ban hành Thông tư liên tịch số 69/TTLB ngày 04/10/1997 "Hướng dẫn nội dung và định mức chi của chương trình chăm sóc và bảo vệ trẻ em", bên cạnh đó cũng có một số chính sách, chương trình khác hỗ trợ TEMC trong việc học nghề, tạo việc làm; tuy nhiên,

Trang 38

32

trên thực tế, số trẻ em được hỗ trợ kinh phí chưa nhiều do ngân sách của chương trình còn hạn hẹp [03]

1.4.3 Mô hình dịch vụ hỗ trợ trẻ em mồ côi

1.4.3.1 Mô hình chăm sóc dựa vào cộng đồng

Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015 đã xây dựng và nhân rộng mô hình trợ giúp trẻ em mồ côi, trẻ em khuyết tật, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em lang thang, lao động trẻ em, trẻ em bị xâm hại tình dục bao gồm

cả trẻ em bị buôn bán, bắt cóc vì mục đích thương mại tình dục, trẻ em nghiện ma túy dựa vào cộng đồng Đây là một mô hình khá toàn diện khi hướng tới việc nâng cao kiến thức, kỹ năng cho trẻ qua các lớp tập huấn và hướng nghiệp, mở các đường dây tham vấn, phòng chống kỳ thị và nâng cao nhận thức cho cộng đồng Mô hình cũng hướng tới sự cung cấp lâu dài cho trẻ em trong hoàn cảnh đặc biệt và gia đình các em

1.4.3.2 Mô hình nhà xã hội

Nhà xã hội là một giải pháp chăm sóc thay thế trong hệ thống chăm sóc tổng thể của nước ta, là giải pháp chăm sóc dựa vào cộng đồng thay thế cho việc chăm sóc trẻ tại trung tâm có quy mô lớn do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, cử cán bộ kiêm nhiệm hoặc sử dụng tình nguyện viên quản lý Nhà xã hội Đó là một giải pháp chuyển trẻ em đang sống trong các trung tâm quy mô lớn sang sống trong môi trường "chăm sóc gia đình quy mô nhỏ" dựa vào cộng đồng

1.4.3.3 Mô hình chăm sóc thay thế dành cho trẻ em mồ côi không nơi nương tựa

Những loại hình chăm sóc thay thế hiện nay là: Chăm sóc bởi họ hàng; người giám hộ; nhận con nuôi; nhận đỡ đầu; chăm sóc trong các cơ sở tập trung Tuy nhiên chưa có hệ thống về đỡ đầu nào được quy định một cách rõ ràng và công khai

Mô hình chăm sóc chính hiện nay cho TEMC là chăm sóc trong các cơ sở tập trung như Trung tâm bảo trợ xã hội, Trung tâm công tác xã hội

Trang 39

33

1.5 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI

1.5.1 Đặc điểm của đối tượng

Trẻ tự ti, dễ tủi thân, sống thầm lặng mặc cảm với số phận, lo lắng, sợ hãi, xa lánh không muốn quan hệ với bạn bè, liều lĩnh, gan lỳ, mánh khóe, hoài nghi với mọi người, hoài nghi cuộc sống, thù ghét, hằn thù Một số trẻ lại có khả năng tự lập

từ rất sớm Với đặc điểm đó NVXH sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận, trợ giúp các đối tượng

1.5.2 Năng lực, trình độ của nhân viên công tác xã hội

Thực tế cho thấy CTXH là một nghề còn mới ở Việt Nam, đội ngũ NVXH chưa được đào tạo bài bản, đúng chuyên ngành, họ chỉ được tham gia các lớp đào tạo ngắn hạn như các lớp tập huấn từ đó trong quá trình trợ giúp đối tượng họ đã không phát huy được hết vai trò của NVXH và hiệu quả trợ giúp cũng không cao

1.5.3 Cơ sở vật chất và kinh phí hoạt động

Điều kiện cơ sở vật chất dành cho TEMC tại các cơ sở bảo trợ chưa đầy đủ, diện tích nhà ở, sân chơi thể thao, các lớp học theo khối lớp đều thiếu Kính phí hoạt động được cấp theo quy định của ngân sách nhà nước rất thấp vì thế định mức của đối tượng chưa được đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của đối tượng Từ đó khiến cho CTXH thực hiện tại các cơ sở bảo trợ gặp rất nhiều khó khăn

1.5.4 Cơ chế chính sách và chế độ đãi ngộ

Ngày 19 tháng 8 năm 2015, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Nội

vụ đã ký ban hành thông tư liên tịch số 30/2015/TTLT-BLĐTBXH-BNV quy định

mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành CTXH Theo

đó, mã số và phân hạng chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành CTXH được quy định như sau: “CTXH viên chính (hạng II), mã số V.09.04.01; CTXH viên (hạng III), mã số V.09.04.02; Nhân viên CTXH (hạng IV), mã số V.09.04.03” [1]

Ngày 06/4/2016, Chính phủ ra Nghị định số 26/2016/NĐ-CP về quy định chế

độ trợ cấp, phụ cấp đối với công chức, viên chức, người lao động làm việc tại các

cơ sở nghiện ma túy, người sau cai nghiện ma túy và cơ sở trợ giúp xã hội công lập

Trang 40

34

như sau: phụ cấp từ 20% đến 70% mức lương hiện hành tùy thuộc vào tính chất công việc và nhóm đối tượng mà được phân công chăm sóc, quản lý, giáo dục Nghị định đã khẳng định sự quan tâm của Đảng, nhà nước ta trong việc nhìn nhận đánh giá đúng tính chất công việc của các cở sở nghiện ma túy, người sau cai nghiện ma túy và cơ sở trợ giúp xã hội công lập

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1 đã trình bày một số lý thuyết sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài, các khái niệm về TEMC, CTXH cá nhân đối với TEMC, cũng như các lý thuyết có liên quan Những khái niệm, lý thuyết này làm rõ về khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu của đề tài Bên cạnh đó, chương này cũng trình bày các quy định, chính sách của Đảng, Nhà nước về các chế độ hỗ trợ với TEMC nhằm chứng minh cho sự quan tâm hỗ trợ của Đảng và nhà nước đối với TEMC Như vậy, chương 1 là tổng quan về lý luận và các quy định của pháp luật về CTXH cá nhân

đối với TEMC khi nghiên cứu “Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng”

Ngày đăng: 06/06/2017, 15:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Bùi Thị Bích, Đề tài: “Khảo sát nhu cầu về mặt tinh thần của trẻ mồ côi tại trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi ST.Joseph – Giáo xứ Hà Nội” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài: “Khảo sát nhu cầu về mặt tinh thần của trẻ mồ côi tại trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi ST.Joseph – Giáo xứ Hà Nội
5. Bùi Thị Xuân Mai (2007), Phát triển công tác xã hội theo hướng chuyên nghiệp - một đòi hỏi khách quan trong quá trình đổi mới của nước ta, Tạp chí Lao động Xã hội, (số 307) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển công tác xã hội theo hướng chuyên nghiệp - một đòi hỏi khách quan trong quá trình đổi mới của nước ta
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Năm: 2007
11. Dự án đào tạo CTXH tại Việt Nam molisa- ulsa- asi- ap- unicef (2014), Tập bài giảng "CTXH làm việc với cá nhân và gia đình” Sách, tạp chí
Tiêu đề: CTXH làm việc với cá nhân và gia đình
Tác giả: Dự án đào tạo CTXH tại Việt Nam molisa- ulsa- asi- ap- unicef
Năm: 2014
17. Nguyễn Văn Hồi, bài viết “Vấn đề chăm sóc thay thế trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở một số nước và khả năng áp dụng tại Việt Nam”. Tạp chí Lao động – xã hội, số 277 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vấn đề chăm sóc thay thế trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở một số nước và khả năng áp dụng tại Việt Nam”
18. Phạm Tâm, "TEMC cần lắm một mái ấm" đăng trên trang Website:http://dochoimaugiao.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: TEMC cần lắm một mái ấm
20.Quốc hội (2004), Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội (2004)
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2004
29. Vũ Thị Hiểu, bài viết “Về đề án chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng, giai đoạn 2005 – 2010”. Tạp chí Lao động – xã hội, số 267 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về đề án chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng, giai đoạn 2005 – 2010”
30.website:http://www.slidehare.net/nengyoungye/bai-giang-ctxh-ca-nhan-vta-quan.B.Tài liệu nước ngoài Link
1. Bộ Lao động TBXH-Bộ Nội vụ (2015), Thông tư liên tịch số 30/2015/TTLT –BLĐTBXH-BNV quy định mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành công tác xã hội Khác
2. Bộ Lao động TBXH-Bộ Tài chính (2014), Thông tư liên tịch số 29/2014/TTLT –BLĐTBXH-BTC hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 136/2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội Khác
3. Bộ Tài chính và Uỷ ban Bảo vệ Chăm sóc trẻ em (1997), Thông tư liên tịch số 69/TTLB Hướng dẫn nội dung và định mức chi của chương trình chăm sóc và bảo vệ trẻ em Khác
6. Bùi Thị Xuân Mai (2010), Giáo trình Nhập môn công tác xã hội Nxb Lao động Xã hội Khác
7. Chính phủ (2008), Nghị định số 68 về quy định điều kiện, thủ tục thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội Khác
8. Chính phủ (2013), Nghị định 136 quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội Khác
9. Chính phủ (2016), Nghị định số 26/2016/NĐ-CP về quy định chế độ trợ cấp, phụ cấp đối với công chức, viên chức, người lao động làm việc tại các cơ sở nghiện ma túy, người sau cai nghiện ma túy và cơ sở trợ giúp xã hội công lập Khác
10. Dự án đào tạo CTXH tại Việt Nam molisa- ulsa- asi- ap- unicef (2014), Tập bài giảng "Nghề CTXH nền tảng triết lý và kiến thức Khác
12. Dự án đào tạo CTXH tại Việt Nam molisa- ulsa- asi- ap- unicef (2014), Tập bài giảng "CTXH với những cá nhân có nhu cầu đặc biệt&#34 Khác
13. Đại hội đồng Liên hiệp quốc (1989), Công ước về quyền trẻ em Khác
15. Học viện phụ nữ (2013), Tập bài giảng về CTXH với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Khác
16. Nguyễn Thị Phương Trang (2015), bài viết về nhu cầu tham vấn tâm lý của TEMC tại Trung tâm nuôi dạy trẻ em khó khăn Thành phố Đà Nẵng. Tại hội thảo kỷ niệm ngày Công tác xã hội thế giới 11/11/2015 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng
BẢNG DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT (Trang 5)
Bảng 1: Số lượng, trình độ chuyên môn của đội ngũ công chức, viên chức, - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng
Bảng 1 Số lượng, trình độ chuyên môn của đội ngũ công chức, viên chức, (Trang 44)
Bảng 2: Số lượng, trình độ, độ tuổi của nhân viên công tác xã hội và nhân - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng
Bảng 2 Số lượng, trình độ, độ tuổi của nhân viên công tác xã hội và nhân (Trang 45)
Bảng 3: Số lượng, giới tính, dân tộc của đối tượng sống tại Trung tâm - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng
Bảng 3 Số lượng, giới tính, dân tộc của đối tượng sống tại Trung tâm (Trang 46)
Bảng 4: Phân loại trẻ em mồ côi  tại Trung tâm - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng
Bảng 4 Phân loại trẻ em mồ côi tại Trung tâm (Trang 47)
Bảng 5: Điểm mạnh, điểm yếu của thân chủ  Thông tin thu được  Điểm mạnh  Điểm yếu - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng
Bảng 5 Điểm mạnh, điểm yếu của thân chủ Thông tin thu được Điểm mạnh Điểm yếu (Trang 63)
Sơ đồ số 2: Sơ đồ sinh thái của thân chủ Vừ A Tu - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng
Sơ đồ s ố 2: Sơ đồ sinh thái của thân chủ Vừ A Tu (Trang 64)
Sơ đồ số 3:  Cây vấn đề - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng
Sơ đồ s ố 3: Cây vấn đề (Trang 66)
BẢNG KẾ HOẠCH GIÚP ĐỠ THÂN CHỦ - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng
BẢNG KẾ HOẠCH GIÚP ĐỠ THÂN CHỦ (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w