1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng và sử dụng website hướng dẫn tự học môn 3DMax tại trường cao đẳng nghề kỹ thuật công nghệ TPHCM

110 248 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 3,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Thực nghiệm sư phạm để minh chứng cho giả thuyết khoa học và tính khả thi của việc xây dựng và sử dụng website hướng dẫn tự học môn 3DMax trình độ cao đẳng cho sinh viên.. Bước vào thờ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

-    -

MAI PHƯƠNG UYÊN

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBSITE HƯỚNG DẪN TỰ HỌC MÔN 3DMAX TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ NGHỆ II

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

-    -

MAI PHƯƠNG UYÊN

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBSITE HƯỚNG DẪN TỰ HỌC MÔN 3DMAX TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ NGHỆ II

Chuyên ngành: LL và PPDH bộ môn Kỹ thuật công nghiệp

Mã số: 60 14 01 11 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS LÊ HUY HOÀNG

HÀ NỘI – 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan bản luận văn này là kết quả công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng lặp với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đây

Tôi xin chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Hà Nội, ngày 25 tháng 05 năm 2017

Ký tên

Mai Phương Uyên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi

đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài trường

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, Trung tâm Thông tin – Thư viện và các Thầy, Cô ở khoa

Sư phạm kỹ thuật – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã quan tâm, tạo điều kiện để tác giả học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn của mình

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc PGS.TS Lê Huy Hoàng đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành bản luận văn này

Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô và các em sinh viên khoa Công nghệ Thông tin trường Cao đẳng Kỹ Nghệ II, đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, anh chị lớp cao học K25 và những người thân yêu đã luôn bên tôi, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành khoá học

Hà Nội, tháng 5 năm 2017

Tác giả

Mai Phương Uyên

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBSITE HƯỚNG DẪN TỰ HỌC 5

1.1 TỔNGQUAN 5

1.1.1 Nghiên cứu về tự học 5

1.1.2 Nghiên cứu về sử dụng CNTT hỗ trợ tự học 7

1.2 MỘTSỐKHÁINIỆMCƠBẢN 8

1.2.1 Tự học 8

1.2.2 Sự cần thiết của việc tự học 11

1.2.3 Các yêu cầu của hoạt động tự học 12

1.2.4 Năng lực tự học 13

1.2.5 Hướng dẫn tự học 18

1.2.6 Tài liệu hướng dẫn tự học 20

1.3 WEBSITEHƯỚNGDẪNTỰHỌC 23

1.3.1 Website hướng dẫn tự học 23

1.3.2 Đặc điểm và nội dung của website hướng dẫn tự học 24

1.3.3 Yêu cầu của website hướng dẫn tự học 25

1.3.4 Cấu trúc của website hướng dẫn tự học 30

1.3.5 Quy trình xây dựng website hướng dẫn tự học 31

1.3.6 Công cụ xây dựng website hướng dẫn tự học 32

1.4.THỰCTRẠNGTỰHỌC3DMAXTẠITRƯỜNGCAOĐẲNGKỸ NGHỆII 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBSITE HƯỚNG DẪN TỰ HỌC MÔN 3DMAX 37

2.1.CƠSỞTHIẾTKẾNỘIDUNGMÔNHỌC3DMAXTRONG CHƯƠNGTRÌNHĐÀOTẠONGHỀTHIẾTKẾĐỒHỌA 37

2.1.1 Chuẩn kiến thức kĩ năng của môn học 3DMax 37

2.1.2 Phần mềm Autodesk 3D Max 41

2.1.3 Các nguyên tắc cơ bản khi thiết kế trang web 42

2.2.XÂYDỰNGVÀSỬDỤNGWEBSITEHƯỚNGDẪNTỰHỌC 45

2.2.1 Ngôn ngữ lập trình 45

2.2.2 Đặc tả website 47

2.2.3 Thiết kế nội dung của Website 50

2.2.4 Hướng dẫn sử dụng Website 56

2.2.5 Đăng ký học trực tuyến 65

Trang 6

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 74

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM VÀ ĐÁNH GIÁ 75

3.1 MỤCĐÍCH,NHIỆMVỤKIỂMNGHIỆM 75

3.1.1 Mục đích kiểm nghiệm 75

3.1.2 Nhiệm vụ kiểm nghiệm 75

3.2.ĐỐITƯỢNG,NỘIDUNGVÀPHƯƠNGPHÁPKIỂMNGHIỆM 76

3.2.1 Đối tượng kiểm nghiệm và phương pháp kiểm nghiệm 76

3.2.2 Nội dung thực nghiệm 77

3.3.TIẾNTRÌNHVÀKẾTQUẢTHỰCNGHIỆMSƯPHẠM 77

3.3.1 Tiến trình thực nghiệm 77

3.3.2 Kết quả thực nghiệm 78

3.4.TIẾNTRÌNHVÀKẾTQUẢKIỂMNGHIỆMBẰNGPHƯƠNGPHÁP CHUYÊNGIA 85

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 87

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC 95

Trang 7

MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Việc nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực Công nghệ thông tin (CNTT)

và ứng dụng của nó là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa to lớn Với những nghiên cứu đi đôi với ứng dụng tốt sẽ làm nên những thay đổi cho cuộc sống của con người, đẩy mạnh và bắt kịp quá trình thông tin hóa đang diễn ra hiện nay của thế giới

Từ những năm 90, vấn đề ứng dụng CNTT vào dạy học là một chủ đề lớn được UNESCO chính thức đưa ra thành chương trình hành động trước ngưỡng cửa của thế kỉ XXI Ngoài ra, UNESCO còn dự báo: công nghệ thông tin sẽ làm thay đổi nền giáo dục một cách cơ bản vào đầu thế kỉ XXI Trước tình hình phát triển của CNTT và những ứng dụng của nó không những đối với ngành giáo dục mà trên các lĩnh vực khác nhau, Đảng Cộng sản Việt Nam

trong Nghị quyết TW2, khóa VIII đã nhấn mạnh: "Đổi mới mạnh mẽ phương

pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện vào quá trình dạy và học, bảo đảm điều kiện và thời gian

tự học, tự nghiên cứu của học sinh, nhất là sinh viên đại học"

Một điều cần khẳng định rằng, ứng dụng CNTT vào dạy - học và nghiên cứu khoa học là một xu thế tất yếu Với một lượng kiến thức khổng lồ như hiện nay, sinh viên cần phải khẳng định mình bằng cách tự học, tự nghiên cứu, tự trao đổi kiến thức lẫn nhau nhằm trang bị cho mình một lượng kiến thức đầy đủ và cần thiết để đáp ứng được yêu cầu của xã hội Việc đào tạo đội ngũ nhân lực có chất lượng cao đang trở thành một vấn đề cấp bách đối với các cơ sở giáo dục và đào tạo hiện nay Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo trong bối cảnh thị trường cạnh tranh và hội nhập quốc tế, đào tạo đáp

Trang 8

ứng nhu cầu xã hội đã trở thành một vấn đề cấp thiết để có thể hội nhập vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Khoa CNTT của Trường cao đẳng Kỹ Nghệ II hiện nay đang đào tạo nhiều ngành nghề, trong đó có nghề Thiết kế đồ họa Trong chương trình đào tạo nghề Thiết kế đồ họa có môn học 3DMax là một trong những chương trình giúp tạo ra các vật thể 3 chiều Môn học này có một lượng kiến thức rất lớn và không ngừng thay đổi

Để người học có đủ kiến thức, năng lực, phẩm chất đáp ứng nhu cầu của xã hội và nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu

Với những lý do trên, tác giả đã chọn chủ đề “Xây dựng và sử dụng

website hướng dẫn tự học môn 3DMax tại trường Cao đẳng Kỹ Nghệ II.” làm

luận văn Thạc sĩ của mình

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu, xác định cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và

sử dụng website hướng dẫn tự học Trên cơ sở đó, xây dựng và sử dụng website hướng dẫn tự học môn 3DMax tại trường Cao đẳng Kỹ Nghệ II;

III KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1 Khách thể nghiên cứu

Ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ hoạt động tự học

2 Đối tượng nghiên cứu

Website hướng dẫn tự học

3 Phạm vi nghiên cứu

IV GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Xây dựng và sử dụng website hướng dẫn tự học môn 3DMax trình

độ cao đẳng tại trường Cao đẳng Kỹ Nghệ II sẽ nâng cao được năng lực tự học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn

Trang 9

V NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài đặt ra một số nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

- Tổng quan cơ sở lý luận về xây dựng và sử dụng website hướng dẫn tự học

- Vận dụng lý luận để xây dựng và sử dụng website hướng dẫn tự học môn 3DMax trình độ cao đẳng Kỹ Nghệ II

- Thực nghiệm sư phạm để minh chứng cho giả thuyết khoa học và tính khả thi của việc xây dựng và sử dụng website hướng dẫn tự học môn 3DMax trình độ cao đẳng cho sinh viên

VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tác giả đã sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu sau đây:

Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các tài liệu có liên quan đến đề tài để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm định các tài liệu liên quan cơ sở lý luận để xây dựng website hướng dẫn tự học môn 3DMax

Sử dụng phương pháp khảo sát bằng phiếu hỏi để đánh giá thực trạng về phương pháp tự học môn 3DMax và khả năng sử dụng website hướng dẫn tự học của sinh viên Trường Cao đẳng Kỹ Nghệ II

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu khảo sát thực nghiệm, phương pháp chuyên gia

VII CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được cấu trúc thành 3 chương

Trang 10

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của xây dựng và sử dụng website hướng dẫn tự học

Chương 2: Xây dựng và sử dụng website hướng dẫn tự học môn 3DMax

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm và đánh giá

Trang 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC

Montaigne từng khuyên rằng: “Tốt hơn là ông thầy để cho người học tự

học, tự đi lên phía trước, nhận xét bước đi của họ, đồng thời giảm bớt tốc độ của thầy cho phù hợp với sức học của trò”

Các nhà giáo dục học ở Mỹ và Tây Âu đều thống nhất khẳng định vai trò của người học trong quá trình dạy học, song bên cạnh đó cũng khẳng định vai trò rất quan trọng của người thầy và các phương pháp, phương tiện dạy học

Tự học ở nước ta cũng được chú ý quan tâm từ rất lâu Ngay từ thời kỳ phong kiến, giáo dục chưa phát triển nhưng đất nước vẫn xuất hiện nhiều nhân tài kiệt xuất Những nhân tài đó, bên cạnh yếu tố được những ông đồ tài giỏi dạy dỗ, thì yếu tố quyết định đều là tự học của bản thân của mình Đến thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, mặc dù nền giáo dục Âu Mỹ rất phát triển nhưng nền giáo dục của nước ta chậm đổi mới Nên vấn đề tự học không được nghiên cứu và phổ biến, song thực tiễn lại xuất hiện nhu cầu tự học rất cao Vấn đề tự học thực sự được phát động nghiên cứu nghiêm túc, rộng rãi từ khi nền giáo dục cách mạng ra đời (1945), mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người khởi xướng vừa tấm gương về tinh thần và phương pháp dạy học

Người từng nói: “còn sống thì còn phải học”, và cho rằng: “về cách học phải

lấy người học làm cốt” Có thể nói tự học là một tư tưởng lớn của Hồ Chí

Trang 12

Minh, về phương pháp học tập Những lời chỉ dẫn quý báu và những bài học kinh nghiệm sâu sắc rút ra từ chính tấm gương tự học bền bĩ và thành công của Người cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị

GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn là một tấm gương sáng về tự học ở nước

ta Từ một giáo viên trung học (1947), chỉ bằng con đường tự học, tự nghiên cứu ông đã trở thành nhà toán học nổi tiếng Không chỉ nghiên cứu khoa học

cơ bản, ông còn nhiều công trình, bài viết về khoa học giáo dục, về vấn đề

Ông cho rằng: “Học bao giờ cũng gắn với tự học, tự rèn luyện để biến đổi

nhân cách của mình Người dạy giỏi là người dạy cho học sinh biết cách tự học, tự nghiên cứu, tự giáo dục”

Bước vào thời kỳ đổi mới hiện nay, việc tự học nói chung, và vấn đề tự học của sinh viên nói riêng ngày nay càng được quan tâm vì vai trò quan trọng của tự học trong quá trình dạy và học theo hướng đổi mới Tự học không những giúp sinh viên không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà trong tương lai, họ sẽ trở thành người cán bộ khoa học kỹ thuật có năng lực, có thói quen và phương pháp tự học suốt đời

Hiện nay, nước ta cũng như các nước trên thế giới đều quan tâm đến vấn

đề tự học không chỉ trong các trường Cao đẳng, Đại học mà ngay cả ở bậc giáo dục phổ thông Bởi tự học và học suốt đời là một trong những chìa khoá

bước vào thế kỷ XXI Đặc biệt trong quan niệm mới về “học tập suốt đời:

Một động lực của xã hội” sẽ giúp con người đáp ứng yêu cầu của một thế giới

đang thay đổi nhanh chóng Điều này thể hiện những đòi hỏi đang ngày càng

càng mãnh liệt hơn “Không thể thoả mãn những đòi hỏi đó được, nếu mỗi

người không học cách học”

Tự học là hình thức học tập không thể thiếu được của sinh viên đang học tập tại các trường cao đẳng và đại học Tổ chức hoạt động tự học một cách

Trang 13

hợp lý, khoa học, có chất lượng, hiệu quả là trách nhiệm không chỉ ở người học mà còn là sự nghiệp đào tạo của nhà trường và của toàn xã hội

1.1.2 Nghiên cứu về sử dụng CNTT hỗ trợ tự học

Ngày nay, Công nghệ thông tin không những đem lại giá trị cho quá trình giảng dạy và học tập mà còn hỗ trợ rất tích cực cho quá trình tự học lâu dài Trên thế giới, việc sử dụng Công nghệ thông tin hỗ trợ tự học có nhiều bước tiến vượt bậc trong sự nghiệp học tập và nghiên cứu khoa học Ở Việt Nam hiện nay, việc học tập của sinh viên ở các trường cao đẳng và đại học luôn đề cao nhiệm vụ tự học và tự nghiên cứu Theo đó, các phương tiện và sản phẩm của Công nghệ thông tin có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tự học của sinh viên Với nhu cầu hiện nay của xã hội, sự phát triển nhanh chóng của Công nghệ thông tin đã “ăn sâu” vào mọi mặt của của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục Nói cách khác, giáo dục được coi là lĩnh vực đi đầu trong việc ứng dụng Công nghệ thông tin, trong đó có việc ứng dụng vào giảng dạy và học tập Ứng dụng Công nghệ thông tin trong hướng dẫn tự học luôn được đề cao trong công cuộc đổi mới giáo dục, việc tự học của sinh viên sẽ được diễn ra bất kỳ ở đâu Vì vậy hiện nay có rất nhiều website hướng dẫn tự học - tự nghiên cứu Điều này mang lại sự

tự tin cho sinh viên, tự khám phá, tự khơi nguồn cảm hứng, tự đánh giá kết quả, tạo hứng thú và kích thích sự sáng tạo nắm bắt tri thức của sinh viên Giúp cho giáo viên và sinh viên tiết kiệm được thời gian, dành thời gian để tìm hiểu chuyên sâu, nâng cao chuyên môn nghề nghiệp

Để phù hợp với xu thế tất yếu, sử dụng Công nghệ thông tin trong hỗ trợ tự học là việc làm cần thiết Những môn học có lượng kiến thức lớn, mang tính ứng dụng cao Do đó, đòi hỏi sinh viên khi yêu cầu nghiên cứu những phần học này cần phải có nhiều thời gian, có đủ lượng kiến thức, và kiến thức mới cập nhật thường xuyên cho phù hợp với sự phát triển của xã hội Vì vậy, việc sử dụng Công nghệ

Trang 14

thông tin trong việc hỗ trợ tự học là hết sức quan trọng và là vấn đề cấp bách đối với mỗi sinh viên

Việc sử dụng Công nghệ thông tin trong tự học, tự nghiên cứu là một vấn

đề cấp bách, quan trọng đối với người học hiện nay nhất là sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng Tuy nhiên để làm được điều này cần phải có cơ sở vật chất kỹ thuật đáp ứng yêu cầu Bên cạnh đó sinh viên cũng cần có những nhận thức rõ ràng về tự học một cách nghiêm túc, chưa khai thác có hiệu quả các phần mềm và phương tiện của Công nghệ thông tin một cách thành thạo và có hiệu quả Vì vậy là một giáo viên theo tôi để giúp sinh viên phát huy khả năng của mình trong việc sử dụng Công nghệ thông tin trong dạy học, nhà trường cần phải thực hiện tốt các vấn đề sau:

 Tuyên truyền, định hướng giúp sinh viên nhận thức đầy đủ, rõ ràng về vai trò, ảnh hưởng của Công nghệ thông tin đối với việc tự học – tự nghiên cứu của sinh viên

 Hướng dẫn cách sử dụng phần mềm một các có hiệu quả nhất

 Giao nhiệm vụ cho sinh viên trong quá trình dạy học và tự học

 Hệ thống lại các kiến thức mà sinh viên cần phải hoàn thiện trong quá trình học tập

 Giới thiệu, hướng dẫn sinh viên tìm hiểu và khai thác tài liệu từ nhiều nguồn: Internet, sách, tạp chí …

 Thường xuyên kiểm tra kết quả đạt được của sinh viên trong suốt quả trình học

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.2.1 Tự học

Tuy đã được nghiên cứu từ lâu và rất nhiều trên thế giới nhưng “tự học” (learner autonomy) lại là một thuật ngữ gây nhiều tranh luận, và đôi khi các nhà giáo dục học và ngôn ngữ học không thể thống nhất hoàn toàn với nhau

Trang 15

về định nghĩa tự học là thế nào Một số nhà nghiên cứu nổi tiếng định nghĩa

về tự học như sau:

Tự học là khả năng tự lo cho việc học của chính mình (henri Holec)

Tự học là vấn đề về mối tương quan tâm lý của người học với quá trình

và nội dung (David Little)

Tự học là tình huống trong đó người học hoàn toàn chịu trách về mọi quyết định liên quan đến việc học và thực hiện những quyết định đó (Leslie Dickinson)

Trong tập bài giảng chuyên đề Dạy tự học cho SV trong các nhà trường

trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học Theo tác giả Thái Duy Tuyên

viết: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự

mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”

Tác giả Nguyễn Kỳ ở Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 7/ 1998 cũng bàn

về khái niệm tự học: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra

tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”

Trong bài phát biểu tại hội thảo Nâng cao chất lượng dạy học tổ chức vào tháng 11 năm 2005 tại Đại học Huế, tác giả Trần Phương cho rằng: “ Học

bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình kĩ năng thực hành những tri thức ấy”

Trang 16

Từ những quan niệm trên đây có thể nhận thấy rằng, khái niệm tự học luôn đi cùng, gắn bó chặt chẽ với khái niệm tự thân Tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng của mỗi cá nhân chỉ được hình thành bền vững và phát huy hiệu quả thông qua các hoạt động tự thân ấy Để có được, đạt tới sự hoàn thiện thì mỗi sinh viên cần phải tự thân tiếp nhận tri thức từ nhiều nguồn; Tự thân rèn luyện các kĩ năng; Tự thân bồi dưỡng tâm hồn của mình ở mọi nơi mọi lúc

Như vậy, tự học có vai trò và ý nghĩa rất lớn trong giáo dục ở nhà trường

và trong cả cuộc sống của người học Tự học còn tạo điều kiện hình thành và rèn luyện khả năng hoạt động độc lập, sáng tạo của mỗi người, trên cơ sở đó tạo tiền đề và cơ hội cho họ học tập suốt đời

Hiện nay, trong các trường cao đẳng, đại học, một bộ phận khá lớn sinh viên còn thụ động trong việc tiếp nhận tri thức Phương pháp học tập, nhất là phương pháp tự học luôn là bài toán khó cho không ít sinh viên kể cả sinh viên năm cuối Thế nhưng vấn đề này vẫn chưa được quan tâm đúng mức Do

áp lực của khối lượng công việc luôn quá tải nên giáo viên chỉ mãi lo thực hiện chức năng của mình mà ít quan tâm đến rèn luyện kĩ năng toàn diện trong đó tự học cho sinh viên trong đó kĩ năng tự học Vì vậy, mỗi trường đại học hiện đại cần đưa phương pháp tự học vào mục tiêu đào tạo Bởi lẽ, nó không chỉ cần thiết cho sinh viên khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà cả khi

ra trường hòa nhập với xã hội, trong suốt cuộc đời Khi tự học, mỗi sinh viên hoàn toàn có điều kiện để tự nghiền ngẫm những vấn đề nảy sinh trong học tập theo một phong cách riêng với những yêu cầu và điều kiện thích hợp Điều đó không chỉ giúp bản thân sinh viên nắm được vấn đề một cách chắc chắn và bền vững; chủ động bồi dưỡng phương pháp học tập và kĩ năng vận dụng tri thức mà còn là dịp tốt để rèn luyện ý chí và năng lực hoạt động độc lập sáng tạo Đó là những phẩm chất mà chỉ có chính bản thân sinh viên tự rèn luyện kiên trì mới có được, không một ai có thể cung cấp hay làm thay

Trang 17

cho mình Thực tế cũng đã chứng minh, mỗi thành công của sinh viên trên con đường học tập nghiên cứu không bao giờ là kết quả của lối học tập thụ động, đối phó, chờ thời

Từ đó, dễ nhận thấy rằng: cùng với đòi hỏi của xu thế hội nhập toàn cầu trên tất cả các lĩnh vực và với một xã hội đầy biến động như xã hội nước ta về

sử dụng lao động, tiền lương, sự đãi ngộ và quá trình đào tạo ngày càng đi vào chiều sâu thực chất thì hoạt động dạy học, đặc biệt là dạy cách học chắc chắn sẽ tìm được sự đồng thuận cao của cộng đồng và là mảnh đất tốt cho bất

kì ai có khát vọng học tập suốt đời

1.2.2 Sự cần thiết của việc tự học

Theo xu thế giáo dục hiện đại ngày nay thì người học đứng ở vị trí trung tâm của quá trình dạy học, người dạy chỉ đóng vai trò định hướng, cố vấn cho quá trình ấy mà thôi Vì thế đòi hỏi người học phải là người chủ động, tích cực trong việc học của mình Muốn chủ động, người học bắt buộc phải có công đoạn chuẩn bị kĩ lưỡng nội dung bài mới ở nhà để khi vào lớp người học có đủ điều kiện làm chủ quá trình chiếm lĩnh tri thức của mình Bên cạnh đó việc nắm vững nội dung bài cũ cũng là một tiền đề quan trọng giúp người học tự tin hơn trong việc nghiên cứu bài mới Muốn làm tốt hai việc đó bắt buộc người học phải có năng lực tự học, bởi lẽ tự học là con đường tự khẳng định mình Những kiến thức do tự học đem lại là do kết quả bản thân tự tìm tòi khám phá nên bao giờ cũng vững chắc bền lâu Thời gian

tự học không những giúp người học ôn tập lại những gì đã nghe giảng ở trên lớp mà còn là thời gian người học vận dụng, tìm tòi, suy ngẫm những bài tập, những kiến thức khó theo phong cách riêng của mình Qua đó bồi dưỡng năng lực phân tích, bản lĩnh vững vàng trước những điều không đơn giản Mặt khác, tự học đã khắc phục nghịch lý: học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì có hạn Đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay, thầy không thể

Trang 18

truyền thụ hết kiến thức trong thời gian lên lớp Vì vậy người học phải có phương pháp tự học tốt để làm giàu kiến thức cho mình, tạo ra tri thức bền vững nhất Người học có thể hướng ra thế giới bằng rất nhiều kênh thông tin như qua báo chí, qua sách vở, qua phim ảnh qua mạng internet và quan trọng hơn là qua khả năng tự học của mình

Kĩ năng tự học đã trở thành một trong những phẩm chất bắt buộc người học sinh phải có, không những trong quá trình học tập mà cả trong cuộc sống sau này

1.2.3 .Các yêu cầu của hoạt động tự học

Việc tự học chỉ thực sự đạt kết quả khi người học có thể vạch định cho mình một kế hoạch và phương pháp tự học khoa học Công việc này không phải tiến hành dễ dàng ở tất cả mọi người, vì nội dung tự học phụ thuộc vào từng đối tượng cụ thể.Tuy nhiên, các tác giả cũng đã nêu lên những yêu cầu cần thiết cho hoạt động tự học như sau:

- Yêu cầu 1: Xác định nhu cầu, động cơ để kích thích hứng thú học tập

Các động cơ học tập có thể tách thành hai nhóm: U U

Nhóm 1: Các động cơ, hứng thú nhận thức Chúng thường đến với sinh viên khi bài học có nội dung mới, đột ngột, bất ngờ và chứa những yếu tố nghịch lí, thỏa mãn nhu cầu của học sinh

Nhóm 2: Các động cơ trách nhiệm, nhiệm vụ trong học tập Chúng liên

hệ với ý thức về ý nghĩa xã hội của sự học tập như nghĩa vụ đối với đất nước, với gia đình, thầy cô, bạn bè và chính bản thân người học

- Yêu cầu 2: Xác định mục đích và nhiệm vụ tự học

Khi đã có động cơ và hứng thú học tập thì người học phải trả lời câu hỏi: Học để làm gì? (mục đích tự học) và học cái gì (nội dung tự học) Vấn đề này chỉ đặt ra đối với một số ít sinh viên khá, giỏi khi họ muốn học thêm những điều mà họ quan tâm, yêu thích

Trang 19

- Yêu cầu 3: Xây dựng kế hoạch tự học

Kế hoạch tự học cần xây dựng một cách tỉ mỉ và thiết thực Để tự học có hiệu quả thì người học phải chọn đúng trọng tâm công việc, phải xác định học cái gì là chính, là quan trọng, nhất là nội dung đó có tác động trực tiếp đến mục đích Bởi vì nội dung cần phải học thì nhiều mà thời gian và sức lực thì có hạn, nếu việc học tập dàn trải, phân tán thì kết quả sẽ không như mong đợi nhưng trên thực tế thì ít khi người học chú ý đến điều này

U

Vì vậy khi xác định mục tiêu tự học, người học nên xuất phát từ những vấn đề mình cần như kiến thức bị hỏng, bị lãng quên hoặc chưa hiểu rõ, những kiến thức mà mình yêu thích cần được đào sâu hay mở rộng

- Yêu cầu 4: Lập thời gian biểu cho tự học

Sau khi đã xác định trọng tâm rồi thì người học phải sắp xếp công việc cho thật hợp lí về trình tự nội dung cũng như về thời gian để công việc được tiến hành trôi chảy và tiết kiệm về thời gian Nên lập thời gian biểu cho thời gian dài hay cho từng buổi tự học và sử dụng thời gian tự học sao cho hợp lí Phải bố trí thời gian tự học phù hợp để đầu óc không quá căng thẳng, nên xen

giữa tự học với giải trí và nghỉ ngơi U U

1.2.4 Năng lực tự học

 Theo Từ điển tiếng việt: "Năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao"

Theo các tác giả Q L & Rijlaarsdam, G (2003, September): "Năng lực tự học

được thể hiện qua việc chủ thể tự xác định đúng đắn động cơ học tập cho mình,

có khả năng tự quản lý việc học của mình, có thái độ tích cực trong các hoạt động để có thể tự làm việc, điều chỉnh hoạt động học tập và đánh giá kết quả học tập của chính mình để có thể độc lập làm việc và làm việc hợp tác với người khác" Để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tự học, tự nghiên cứu, cần

phải xác định được các năng lực cần thiết phải có trong quá trình dạy học

Trang 20

Giáo viên cần hướng dẫn và tạo các cơ hội, điều kiện thuận lợi cho học sinh hoạt động, nhằm phát triển các năng lực đó Theo các tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, Thái Duy Tuyên năng lực tự học gồm:

Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề

Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học)

và tạo ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá nhân Năng lực nhận biết, tìm tòi, phát hiện vấn đề hết sức quan trọng đối với mọi người, đặc biệt sinh viên giỏi Nhờ năng lực này sinh viên vừa tự làm giàu kiến thức của mình, vừa rèn luyện tư duy và thói quen phát hiện, tìm tòi,

Năng lực này đòi hỏi sinh viên phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp,

so sánh sự vật hiện tượng được tiếp xúc; suy xét từ nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ sở những lí luận và hiểu biết đã có của mình; phát hiện ra các khó khăn, mâu thuẫn xung đột, các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, bổ sung, các bế tắc, nghịch lí cần phải khai thông, khám phá, làm sáng tỏ, Để phát hiện đúng vấn đề, đòi hỏi người học phải thâm nhập, hiểu biết khá sâu sắc đối tượng, đồng thời biết liên tưởng, vận dụng những hiểu biết và tri thức khoa học của mình đã có tương ứng Trên cơ sở đó, dường như xuất hiện "linh cảm", và từ

đó mạch suy luận được hình thành Phải sau nhiều lần suy xét thêm trong óc, vấn đề phát hiện được nói lên thành lời, hiện lên rõ ràng, thúc bách việc tìm kiếm con đường và hướng đi để giải quyết

Năng lực giải quyết vấn đề

Năng lực giải quyết vấn đề bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác định cách thức giải quyết và lập kế hoạch giải quyết vấn đề; khảo sát các khía cạnh, thu thập và xử lí thông tin; đề xuất các giải pháp, kiến nghị các kết luận Kinh nghiệm thực tế cho thấy nhiều sinh viên thu thập được một khối lượng thông tin phong phú nhưng không biết hệ thống và xử lí như thế nào để tìm ra

Trang 21

con đường đến với giả thuyết Điều này đòi hỏi sự hướng dẫn cẩn thận và kiên trì của các giáo viên ngay từ những hoạt động đầu của giải quyết vấn đề Để dạy cho sinh viên cách học, thì điều quan trọng nhất đó là cần dạy cho sinh viên kĩ thuật giải quyết vấn đề Với kĩ thuật này, sinh viên có thể áp dụng vào rất nhiều trường hợp trong học tập cũng như trong cuộc sống để lĩnh hội các tri thức cần thiết cho mình Nên xem kĩ thuật giải quyết vấn đề vừa là công cụ nhận thức, nhưng đồng thời là mục tiêu của việc dạy học cho sinh viên phương pháp tự học

 Năng lực xác định những kết luận đúng (kiến thức, cách thức, con đường, giải pháp, biện pháp) từ quá trình giải quyết vấn đề

Đây là một năng lực quan trọng cần cho người học đạt đến những kết luận đúng của quá trình giải quyết vấn đề, hay nói cách khác, các tri thức cần lĩnh hội sau khi giải quyết vấn đề sẽ có được một khi chính bản thân sinh viên

có năng lực này Năng lực này bao gồm các khả năng khẳng định hay bác bỏ giả thuyết, hình thành kết quả và đề xuất vấn đề mới, hoặc áp dụng (nếu cần thiết) Trên thực tế có rất nhiều trường hợp được đề cập đến trong lúc giải quyết vấn đề, nên sinh viên có thể đi chệch ra khỏi vấn đề chính đang giải quyết hoặc lạc với mục tiêu đề ra ban đầu Vì vậy hướng dẫn cho sinh viên kĩ thuật xác định kết luận đúng không kém phần quan trọng so với các kĩ thuật phát hiện và giải quyết vấn đề Các quyết định phải được dựa trên logic của quá trình giải quyết vấn đề và nhắm đúng mục tiêu

Năng lực tự thể hiện

Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự trình bày, bảo

vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học Khi người học tự bảo vệ kiến thức hay chính kiến ban đầu của mình sẽ nảy sinh nhu cầu nghiên cứu tài liệu, trao đổi, hợp tác với bạn bè,

Trang 22

đồng nghiệp Các kĩ năng về giao tiếp, cộng tác, huy động nguồn lực được rèn luyện Kết quả đó vừa làm giàu thêm tri thức, vừa soi sáng, giải thích, làm rõ thêm các kiến thức được học từ giáo trình, tài liệu sinh viên thấy tự tin, chủ động hơn, đồng thời họ lại phải có thái độ dám chịu trách nhiệm về các quyết định mình đã lựa chọn và có kĩ năng lập luận, bảo vệ các quyết định của mình

Năng lực xác định những kết luận đúng (kiến thức, cách thức, con đường, giải pháp, biện pháp) từ quá trình giải quyết vấn đề

Đây là một năng lực quan trọng cần cho người học đạt đến những kết luận đúng của quá trình giải quyết vấn đề, hay nói cách khác, các tri thức cần lĩnh hội sau khi giải quyết vấn đề sẽ có được một khi chính bản thân sinh viên

có năng lực này Năng lực này bao gồm các khả năng khẳng định hay bác bỏ giả thuyết, hình thành kết quả và đề xuất vấn đề mới, hoặc áp dụng (nếu cần thiết) Trên thực tế có rất nhiều trường hợp được đề cập đến trong lúc giải quyết vấn đề, nên sinh viên có thể đi chệch ra khỏi vấn đề chính đang giải quyết hoặc lạc với mục tiêu đề ra ban đầu Vì vậy hướng dẫn cho sinh viên kĩ thuật xác định kết luận đúng không kém phần quan trọng so với các kĩ thuật phát hiện và giải quyết vấn đề Các quyết định phải được dựa trên logic của quá trình giải quyết vấn đề và nhắm đúng mục tiêu

Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn (hoặc vào nhận thức kiến thức mới)

Kết quả cuối cùng của việc học tập phải được thể hiện ở chính ngay trong thực tiễn cuộc sống, hoặc là sinh viên vận dụng kiến thức đã học để nhận thức, cải tạo thực tiễn, hoặc trên cơ sở kiến thức và phương pháp đã có, nghiên cứu, khám phá, thu nhận thêm kiến thức mới Cả hai đều đòi hỏi người học phải có năng lực vận dụng kiến thức Việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đặc biệt trong các trường hợp mới, lại làm xuất hiện các vấn đề đòi hỏi phải giải quyết Như vậy kĩ năng giải quyết vấn đề lại có cơ hội để rèn luyện và kết

Trang 23

quả của việc giải quyết vấn đề giúp cho người học thâm nhập sâu hơn vào thực tiễn Từ đó hứng thú học tập, niềm say mê và khao khát được tìm tòi, khám phá, áp dụng kiến thức và kinh nghiệm tăng lên, các động cơ học tập đúng đắn càng được bồi dưỡng vững chắc

Năng lực đánh giá và tự đánh giá

Hoạt động nào cũng cần phải được kiểm tra và đánh giá Hoạt động tự học cũng thế Kiểm tra và đánh giá để thấy được việc tự học của bản thân có đạt được kết quả như mong đợi hay không Chỉ có như vậy, người học mới dám suy nghĩ, dám chịu trách nhiệm và luôn luôn tìm tòi sáng tạo, tìm ra cái mới, cái hợp lí, cái có hiệu quả hơn Mặt khác, kết quả tất yếu của việc rèn luyện các kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề, kết luận và áp dụng kết quả của qui trình giải quyết vấn đề đòi hỏi sinh viên phải luôn đánh giá và tự đánh giá Sinh viên phải biết được mặt mạnh, hạn chế của mình, cái đúng sai trong việc mình làm mới có thể tiếp tục vững bước tiếp trên con đường học tập chủ động của mình Không có khả năng đánh giá, sinh viên khó có thể tự tin trong phát hiện, giải quyết vấn đề và áp dụng kiến thức đã học Căn cứ vào kế hoạch

tự học đã được vạch ra trước đó để kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện công việc và mức độ hoàn thành để từ đó bản thân có những biện pháp tự điều chỉnh sao cho phù hợp

 Kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của bản thân do giáo viên giao cho

 Kiểm tra và đánh giá việc thực hiện những yêu cầu, nội dung trong giáo trình và trong việc hướng dẫn thực hành

 So sánh việc làm của mình với sự chỉ dẫn của sách, với lời giảng của giáo viên

Bảy năng lực trên vừa đan xen nhưng vừa tiếp nối nhau, tạo nên năng lực tự học ở sinh viên Các năng lực trên cũng chính là năng lực của người nghiên cứu khoa học Vì vậy, rèn luyện được các năng lực đó, chính là sinh

Trang 24

viên đặt mình vào vị trí của người nghiên cứu khoa học, hay nói cách khác, đó

là sự rèn luyện năng lực tự học, tự nghiên cứu Cũng chính việc học như vậy, đòi hỏi việc dạy học không phải là truyền thụ kiến thức làm sẵn cho sinh viên

mà người giáo viên phải đặt mình vào vị trí người hướng dẫn sinh viên nghiên cứu

1.2.5 Hướng dẫn tự học

1.2.5.1 Tự học có 3 hình thức

 Tự học không có hướng dẫn: Người học tự tìm lấy tài liệu để đọc, hiểu, vận dụng các kiến thức trong đó Cách học này sẽ đem lại rất nhiều khó khăn cho người học, mất nhiều thời gian và đòi hỏi khả năng tự học rất cao

 Tự học có hướng dẫn: Có giáo viên ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu hoặc bằng các phương tiện thông tin khác

 Tự học có hướng dẫn trực tiếp: Có tài liệu và giáp mặt với giáo viên một

số tiết trong ngày, trong tuần, được thầy hướng dẫn giảng giải sau đó về nhà

 Có sách và có thầy giáp mặt một số tiết trong ngày, trong tuần Bằng những hình thức thông tin trực tiếp không qua máy móc hoặc ít nhiều có sự hỗ trợ của máy móc đặt ngay tại lớp Đó là học giáp mặt trên lớp và về nhà tự học có hướng dẫn

Trang 25

Việc tự học có thể diễn như sau:

 Tự học không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên

 Tự học hoàn toàn (không có giáo viên) thông qua tài liệu, qua tìm hiểu thực tế, học kinh nghiệm của người khác

 Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập, thí dụ như học bài hay làm bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của học sinh – sinh viên

 Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa): học sinh được nghe giáo viên giảng giải minh họa, nhưng không được tiếp xúc với giáo viên, không được hỏi han, không nhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn

 Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Trong tài liệu trình bày cả nội dung, cách xây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu, bổ sung

 Tự học thực hiện một số hoạt động học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của giáo viên ở lớp

 Tự học có hướng dẫn sinh viên nhận được sự hướng dẫn từ hai nguồn: từ tài liệu hướng dẫn và trực tiếp từ giáo viên Đối với tự học

có hướng dẫn từ tài liệu, tài liệu tự học có hướng dẫn cung cấp cho sinh viên nội dung kiến thức và phương pháp học nội dung kiến thức đó

1.2.5.2 Chu trình tự học của sinh viên

Chu trình tự học của học sinh là một chu trình 3 giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: Tự nghiên cứu

+ Giai đoạn 2: Tự thể hiện

+ Giai đoạn 3: Tự kiểm tra, tự điều chỉnh

Trang 26

 Giai đoạn 1: Tự nghiên cứu Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá nhân

 Giai đoạn 2: Tự thể hiện Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự sắm vai trong các tình huống, vấn đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính xã hội của cộng đồng lớp học

 Giai đoạn 3: Tự kiểm tra, tự điều chỉnh Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác, trao đổi với các bạn và thầy, sau khi thầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học (tri thức) Chu trình tự nghiên cứu-tự thể hiện-tự kiểm tra,

tự điều chỉnh “thực chất cũng là con đường phát hiện vấn đề, định hướng giải quyết, và giải quyết vấn đề của nghiên cứu khoa học

1.2.6 Tài liệu hướng dẫn tự học

1.2.6.1 Dạy cách lập kế hoạch học tập

Trên cơ sở đề cương môn học, vào đầu mỗi học phần giáo viên cần hướng dẫn sinh viên lập kế hoạch học tập sao cho kế hoạch đó phải ở trong tầm với của mình, phù hợp với điều kiện của mình Tất nhiên có thể điều chỉnh khi điều kiện thay đổi Quán triệt để SV hiểu rõ: mọi kế hoạch phải được xây dựng trên những mục tiêu cụ thể và hoàn toàn phấn đấu thực hiện được Trong đó có sự phân biệt rõ việc chính việc phụ, việc làm ngay và việc làm sau Có như thế mới từng bước góp nhặt tri thức tích lũy kết quả học tập một cách bền vững Việc sử dụng và tận dụng tốt quĩ thời gian cũng cần được đặt ra để không phải bị động trước khối lượng các môn học cũng như áp lực công việc

Trang 27

1.2.6.2 Dạy cách nghe giảng và ghi chép theo tinh thần tự học

Nghe giảng và ghi chép là những kĩ năng mà ai cũng phải sử dụng trong quá trình học tập Trình độ nghe và ghi chép của người học không giống nhau

ở những môn học khác nhau Nó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập Tuy nhiên đây là vấn đề mà xưa nay chưa có ai nghiên cứu Mỗi người đều phải tự mình rèn luyện thói quen ghi chép để có thể có được những thông tin cần thiết về môn học Điều quan trọng trước tiên là giáo viên cần truyền đạt cho sinh viên những nguyên tắc chính của hoạt động nghe – ghi chép

Muốn tạo điều kiện cho sinh viên nghe giảng và ghi chép tốt, giáo viên cần lưu ý:

 Nội dung bài giảng phải mới mẻ, thiết thực, cần thiết có thể tạo ra những tình huống giả định yêu cầu sinh viên suy nghĩ phản biện

 Các câu hỏi, vấn đề đặt ra trong giờ giảng phải có sự chọn lọc kĩ lưỡng, tập trung vào trọng tâm bài học như một cách phát tín hiệu cho sinh viên xác định nội dung chính

 Đưa vào bài giảng những tình huống lí thú, những mẫu chuyện sinh động lấy từ thực tế có liên quan trực tiếp đến đời sống hay lĩnh vực chuyên ngành của từng đối tượng sinh viên để gây sự chú ý cũng như tạo cảm giác hứng thú cho người học

 Sau hoặc trong khi giảng bài có thể yêu cầu sinh viên tự đặt ra những câu hỏi, tình huống sát với nội dung bài học để thay đổi không khí, tăng cường sự chú ý của cả lớp

 Sự truyền cảm, mạch lạc trong lời giảng cũng là điều có ý nghĩa thu hút

sự chú ý của người học

Tất cả những công việc này muốn thực hiện tốt phải có sự phối hợp nhịp nhàng ăn ý của cả thầy và trò Trong đó thầy đóng vai trò chủ đạo trong việc

Trang 28

Việc đưa ra các tình huống vấn đề gắn với thực tiễn đời sống xã hội là

ưu thế của các học phần thuộc lĩnh vực Giáo viên cần cho những tình huống sau mỗi bài/ chương/ mục và yêu cầu sinh viên chuẩn bị trước Sau đó tùy tình hình để cho từng cá nhân hay từng nhóm (cả lớp) thảo luận, giải quyết Một trong những hình thức giúp sinh viên làm việc nhóm tốt nhất là tạo

cơ hội cho các em diễn ngôn trực tiếp Từ cách lấy dẫn chứng để chứng minh một vấn đề, giải thích, phản biện, nêu quan điểm ý tưởng hay thuyết trình, giới thiệu, tổng thuật một sự kiện, một vấn đề khoa học hoặc đơn giản chỉ là

sự bày tỏ chính kiến trước một hiện tượng Thông qua đó người dạy cũng có thể nắm được mức độ nhận thức của sinh viên để có sự bổ sung điều chỉnh hợp lí, kịp thời Đảm bảo chất lượng giờ giảng luôn được cải thiện theo hướng tích cực

1.2.6.4 Dạy cách nghiên cứu

Trước hết là dạy cách xác định đề tài, chủ đề nghiên cứu sao cho phù hợp với sở trường năng lực của mình và yêu cầu của chuyên ngành đào tạo Tiếp đến là dạy cách lựa chọn và tập hợp, phân loại thông tin và cách xử lí thông tin trong khuôn khổ thời gian cho phép Cơ sở lí luận của các môn học

Trang 29

thường mang tính hàn lâm, tính kế thừa cao Trong lúc trên thực tế các vấn đề

xã hội lại thay đổi từng giây Vì thế việc xác định nguồn tài liệu, điều tra, thực nghiệm cũng đòi hỏi mỗi người phấn đấu nắm bắt kịp thời những vấn đề mang tính thời sự nóng hổi cũng là một thách thức lớn Tài liệu sẽ lấy từ nguồn nào, giới hạn phạm vi bao nhiêu, cách viện dẫn những thông tin ra sao cho chính xác, trích dẫn những vấn đề điển hình nào cho có tính thuyết phục… là những vấn đề cần được hướng dẫn kĩ lưỡng chu đáo từ phía giáo viên Một đề cương nghiên cứu chuẩn mực, khoa học trong cấu trúc chung từ tổng quan của vấn đề nghiên cứu, các cấp độ nội dung cần triển khai và cách xác định phương pháp nghiên cứu phản ánh rất rõ năng lực của mỗi sinh viên Cần hình thành và rèn luyện cho các em sớm có được kĩ năng ấy Ngoài ra, việc tự kiểm tra đánh giá kết quả nghiên cứu trên cơ sở tranh thủ ý kiến của bạn bè thầy cô cũng đem lại lợi ích thiết dụng cho người nghiên cứu, nhất là những sinh viên bước đầu làm quen với khoa học

Bốn vấn đề cốt lõi nêu trên chỉ là những chỉ dẫn cần thiết, mang tính định hướng Còn việc vận dụng ra sao còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố: Sự cố gắng đầy ý chí nghị lực của người học, sự mẫn cán tận tâm và chu toàn của người dạy cùng những điều kiện tiên quyết khác Duy có một điều không cần bàn cãi là phương pháp dạy học ở bậc học đại học hiện nay không thể thiếu việc dạy cách học

1.3 WEBSITE HƯỚNG DẪN TỰ HỌC

1.3.1 Website hướng dẫn tự học

Website là một tập hợp trang web, thường chỉ nằm trong một tên miền hoặc tên miền phụ trên World Wide Web của Internet Một trang web là tập tin HTML hoặc XHTML có thể truy nhập dùng giao thức HTTP Website

có thể được xây dựng từ các tệp tin HTML (trang web tĩnh) hoặc vận hành bằng các CMS chạy trên máy chủ (trang web động) Website có thể được xây

Trang 30

dựng bằng nhiều ngôn ngữ lập trình khác nhau (PHP,.NET, Java, Ruby on Rails )

1.3.2 Đặc điểm và nội dung của website hướng dẫn tự học

 Đặc điểm tiện lợi của webstie hướng dẫn tự học: thông tin dễ dàng cập nhật, thay đổi, sinh viên có thể xem và chia sẻ thông tin ngay tức khắc, ở bất

kỳ nơi nào, tiết kiệm chi phí in ấn, thông tin không giới hạn (muốn đăng bao nhiêu thông tin cũng được, không giới hạn số lượng thông tin, hình ảnh ) và không giới hạn phạm vi khu vực sử dụng (toàn thế giới có thể truy cập) Và tôi luôn mong muốn thiết kế website chuyên nghiệp và hiệu quả để giúp sinh viên tự học đạt được kết quả tốt nhất

 Website hướng dẫn tự học cần đạt được những kết quả sau:

+ Chia sẻ thông tin cho tất cả mọi người

+ Thông tin mới được cập nhật thường xuyên

+ Có tính trợ giúp cao

+ Hỗ trợ, giải đáp các câu hỏi thắc mắc của sinh viên

+ Cung cấp thêm các bài tập thực hành có hướng dẫn cho sinh viên + Giúp sinh viên nâng cao khả năng tự học

+ Giúp sinh viên phát huy tính chủ động

 Một website thông thường được chia làm 2 phần: giao diện người dùng (front-end) và các chương trình được lập trình để website hoạt động (back-end) Giao diện người dùng là định dạng trang web được trình bày trên màn hình của máy tính của người xem (máy khách) được xem bằng các phần mềm trình duyệt web như Internet Explorer, Firefox, Tuy nhiên ngày nay người xem có thể xem website từ các thiết bị điện tử khác như điện thoại

di động, Việc thiết kế web phải đảm bảo các yếu tố về thẩm mỹ đẹp, ấn tượng; bố cục đơn giản, dễ hiểu và dễ sử dụng, các chức năng tiện lợi cho

Trang 31

người xem Đặc biệt ngày nay, website trở nên sống động với những hiệu ứng đa dạng của hình ảnh và chữ kết hợp với âm thanh

website hướng dẫn tự học;

Phần Back-end là phần lập trình của website lưu trữ trên máy chủ (Server) Sự khác nhau ở phần lập trình back-end của website làm phân ra 2 loại website: Website tĩnh và website động

 Website động (Dynamic website) là website có cơ sở dữ liệu, được cung cấp công cụ quản lý website (Admin Tool) để có thể cập nhật thông tin thường xuyên, quản lý các thành phần trên website Loại website này thường được viết bằng các ngôn ngữ lập trình như PHP, Asp.net, JSP, Perl, , quản trị

Cơ sở dữ liệu bằng SQL hoặc MySQL,

 Website tĩnh do lập trình bằng ngôn ngữ HTML theo từng trang như brochure, không có cơ sở dữ liệu và không có công cụ quản lý thông tin trên website Bạn phải biết kỹ thuật thiết kế trang web (thông thường bằng các phần mềm như FrontPage, Dreamwaver, ) khi muốn thiết kế hoặc cập nhật thông tin của những trang web này

1.3.3 Yêu cầu của website hướng dẫn tự học

 Đảm bảo tính khoa học Sư phạm và Công nghệ

Về bản chất thì Website dạy học là một phần mềm có thể cài đặt trên máy tính để hỗ trợ cho hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh Và

vì thế nó cần đảm bảo những yêu cầu của một phần mềm hỗ trợ dạy học, nghĩa là phải hàm chứa trong đó tri thức ở mức chuyên gia của hai lĩnh vực

Sư phạm và Tin học

Đáp ứng được yêu cầu này cũng là đồng thời đã đề cao chất lượng của một phần mềm nói chung được gọi là “phần mềm dạy học” và tính hiệu quả của việc sử dụng nó Các “phần mềm dạy học” hiện nay chủ yếu là sản phẩm của các chuyên gia Tin học (thể hiện tốt các kỹ thuật lập trình, nhưng lại

Trang 32

thiếu tri thức ở mức chuyên gia về dạy học) Ngược lại, cũng có một số

“phần mềm dạy học” là sản phẩm của các chuyên gia về dạy học (đáp ứng tốt những yêu cầu, nguyên tắc và kịch bản của quá trình dạy học, nhưng lại yếu về kỹ thuật lập trình) Để một phần mềm thực sự là “phần mềm dạy học” thì nó phải là một sản phẩm được kết tinh trong đó tri thức ở mức chuyên gia của hai lĩnh vực Dạy học và Tin học

 Đảm bảo tính hiệu quả

Xây dựng Website dạy học trước tiên cần phải xuất phát từ những dụng

ý sư phạm đã được xác định rõ từ đầu và phải lấy tính hiệu quả làm mục tiêu cho việc triển khai ứng dụng nó Vì rằng các hoạt động dạy học rất đa dạng

và phong phú bao gồm cả những hoạt động chân tay và hoạt động trí óc Website với tư cách là một phần mềm, cùng với máy tính phải hỗ trợ được nhiều mặt của quá trình dạy học Giải phóng người dạy thoát khỏi những lao động phổ thông để có nhiều thời gian hơn đầu tư cho việc tổ chức, thiết kế, điều khiển, giám sát và điều chỉnh hoạt động nhận thức của người học Đồng thời phải tạo được những điều kiện tốt để hoạt động nhận thức của học sinh được diễn ra một cách tích cực, độc lập, chủ động và sáng tạo Xuất phát từ những ý đồ như vậy, vừa đáp ứng được yêu cầu của các lý thuyết dạy học hiện đại, vừa phát huy những thế mạnh riêng có của việc sử dụng máy tính

và cũng chính là nâng cao hiệu quả sử dụng của một thiết bị dạy học hiện đại

 Đảm bảo tính mở rộng và tính phổ dụng

Trong một Website thường có sự liên kết của nhiều Site, mỗi một Site

sẽ đảm nhận hỗ trợ một số chức năng nào đó Xây dựng cấu trúc của Website cũng tức là thực hiện việc phân nhóm các chức năng mà Website có thể hỗ trợ Về phương diện kỹ thuật lập trình, đây chính là việc mô đun hoá một chương trình để dễ dàng cho thiết kế cài đặt, bảo dưỡng, bảo trì và nâng

Trang 33

cấp sau này Mặt khác, Website phải được viết dưới dạng một phần mềm công cụ để có thể sử dụng cho mọi môn học bất kỳ (chỉ cần thay đổi cơ sở

dữ liệu) Ví dụ Website tự học môn 3DMax: Trang chủ, giới thiệu, tài liệu hướng dẫn, video hướng dẫn, để hướng dẫn học phần 3DMax, nhưng cũng

có thể được sử dụng để dạy học các môn học khác khi thay đổi cơ sở dữ liệu tương ứng

 Đảm bảo tính tối ưu của cấu trúc cơ sở dữ liệu

Khi thiết kế một phần mềm nói chung, Website nói riêng thì việc xây dựng cơ sở dữ liệu là một vấn đề rất quan trọng Dữ liệu ấy phải được cập nhật dễ dàng và thuận lợi, yêu cầu kích thước lưu trữ phải tối thiểu, truy cập nhanh chóng khi cần, dễ dàng chia sẻ, dùng chung hay trao đổi giữa nhiều người dùng Đặc biệt với giáo dục, cấu trúc cơ sở dữ liệu phải hướng tới việc hình thành những thư viện điện tử trong tương lai, như thư viện các bài tập,

đề thi; thư viện các mô hình ảo, các phim học tập; thư viện các tài liệu giáo khoa, giáo viên Cùng với việc xây dựng Website, cần xây dựng các công

cụ nhập dữ liệu một cách thuận tiện, đơn giản để mọi người đều có thể tham gia xây dựng kho dữ liệu, làm cho nó ngày càng phong phú

 Đảm bảo tính thân thiện trong sử dụng

Xu hướng xây dựng các phần mềm hiện nay là chương trình phải có giao diện hết sức thân thiện (theo nghĩa dễ tìm hiểu, dễ tiếp cận, dễ thao tác,

dễ sử dụng, tận dụng được các thói quen ), nhất là khi lớp người dùng không có điều kiện tiếp cận với công nghệ còn nhiều và đang ở trong những

vị trí công tác khác nhau của nhiều lĩnh vực hoạt động văn hoá, xã hội thì điều đó càng được quan tâm hơn, và nó cũng phù hợp với mong muốn của con người là điều kiện lao động ngày càng phải được cải thiện Việc thiết kế

và xây dựng Website cũng không nằm ngoài yêu cầu đó Sử dụng quá nhiều phím chức năng, giao tiếp người máy qua nhiều menu, hộp thoại, trình bày

Trang 34

thông tin ngược với những tư duy thông thường, sử dụng màu sắc, độ tương phản không phù hợp với tâm lý thị giác sẽ là những cản trở lớn đối với người sử dụng đến với Website Mọi sự lạm dụng quá đáng, không có chủ định, mục đích rõ ràng, đặc biệt là trong dạy học, những chức năng phong phú, đa dạng của Website nhiều khi sẽ không đưa đến những kết quả mong muốn, thậm chí còn phản tác dụng Ví dụ: trong dạy học cần phải lựa chọn

và sử dụng các Font chữ chân phương, mỗi màu sắc được dùng với những dụng ý riêng Các hình động, tranh ảnh, phim và các hiệu ứng khác khi sử dụng đều phải có một dụng ý sư phạm xác định Có thể nói rằng, nếu như việc sử dụng Website trong dạy học không tuân thủ nguyên tắc này sẽ dẫn đến hậu quả làm giảm hiệu quả dạy học

 Đảm bảo tính cập nhật đối với các công cụ thiết kế Website

Việc lựa chọn các công cụ thiết kế Website vốn là công việc của người lập trình Song hiện nay, do sự phát triển có tính bùng nổ của Tin học mà trên thị trường xuất hiện nhiều loại chương trình ứng dụng và cũng theo nó

là nhiều ngôn ngữ lập trình khác nhau Có một sự hiểu biết nhất định ở mức khái quát về chúng sẽ giúp cho nhà giáo dục biết được khả năng của công nghệ có thể giúp hỗ trợ được gì cho hoạt động dạy và học Nhờ đó mà có thể đưa ra được nhiều yêu cầu hơn, các yêu cầu sẽ thiết thực hơn, có tính khả thi hơn Vì vậy, sự phối hợp chặt chẽ giữa một bên là nhà sư phạm, một bên là nhà Tin học sẽ là điều kiện cần thiết cho sự ra đời của những sản phẩm có giá trị cao Cần lưu ý tới một sự bất cập thường xảy ra đối với các nước chậm và đang phát triển, đó là nhiều khi ta chỉ được tiếp xúc với các phần mềm, phần cứng đã quá cũ kỹ và lạc hậu (thường là các sản phẩm miễn phí-Free) Mặc dù trên mạng Internet vẫn cho phép chúng ta tiếp cận nhanh hơn tới các phần mềm thương mại, nhưng các phương thức thanh toán trên mạng vẫn còn là quá xa lạ

Trang 35

 Đảm bảo tính khả dụng

Có thể nói rằng, việc thiết kế xây dựng một chương trình (chuẩn tắc),

dù lớn hay nhỏ đều là một công trình nghiên cứu khoa học (ứng dụng), vì nó thực sự đã giải quyết được những vấn đề đặt ra của các bài toán thực tiễn Công trình ấy tất yếu cần phải được thực nghiệm đánh giá Vì nó là sự kết tinh tri thức ở mức chuyên gia của hai lĩnh vực, nên thực nghiệm đánh giá nó cũng phải trên hai phương diện: kỹ thuật tin học (tính đúng đắn, tính tối ưu, tính khả thi, thân thiện ) và lĩnh vực ứng dụng (có đáp ứng được mọi yêu cầu mà bài toán của một lĩnh vực hẹp nào đó đã đặt ra hay không) Đồng thời trong bất kỳ lĩnh vực nào, việc sử dụng máy tính luôn đòi hỏi đến tính hiệu quả và nó cũng cần được kiểm chứng qua thực nghiệm

 Đảm bảo tính bảo mật của thông tin và tuổi thọ của chương trình

Khi nói đến thông tin người ta luôn phải quan tâm đến sự bảo toàn (bảo vệ) và bảo mật nó Xây dựng Website dạy học và việc ứng dụng nó trong giáo dục cần phải xác định rõ các loại thông tin, mức độ quan trọng để phân quyền truy cập sử dụng, bảo vệ và bảo mật Đặc điểm của Khoa học tin học

là trẻ và phát triển rất nhanh chóng Sự phát triển của phần cứng luôn kéo theo nó sự phát triển của phần mềm và ngược lại Vì thế, việc kéo dài tuổi thọ của một chương trình hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng phát triển nó trong sự thích ứng với sự phát triển của phần cứng Nâng cao hiệu quả sử dụng, kéo dài tuổi thọ của chương trình vẫn là cách nghĩ, cách làm trong hoàn cảnh của đất nước ta hiện nay

Trang 36

các yếu tố hình học, kích thích động cơ học tập, tính tích cực và khả năng sáng tạo của học sinh

 Các yêu cầu về mặt kỹ thuật

Giao diện trên màn hình phải thân thiện, cấu trúc site rõ ràng, các đối tượng phải được sắp xếp một cách hợp lí phù hợp với tiến trình của một giờ học, có hệ thống liên kết, điều hướng và chỉ dẫn rõ ràng Khả năng tương tác, cập nhật thông tin nhanh chóng, thuận tiện, chính xác và thể hiện được tính mở Việc sử dụng các tương tác, màu sắc phải khéo léo, không nên lạm dụng khả năng trình diễn thông tin dưới dạng hình ảnh của máy tính Đặc biệt Website phải dễ sử dụng, phần mềm thiết kế ổn định và có khả năng thích ứng cao với các thế hệ máy tính và các hệ điều hành

1.3.4 Cấu trúc của website hướng dẫn tự học

 Trang chủ: là trang đầu tiên khi bạn gõ tên miền lên trình duyệt sẽ được hiển thị, trang này là nơi liệt kê các liên kết đến các trang Website, được thiết kế ấn tượng, hiện đại, các chức năng nổi bật

 Trang giới thiệu: giới thiệu chung về Website tự học, tầm quan trọng của môn học và các danh mục cần thiết của website

 Trang Tài liệu hướng dẫn: dùng để cung cấp cho người học các tài liệu liên quan đến môn học

 Trang Video hướng dẫn: dùng để cung cấp cho người học các video hướng dẫn tự học

 Trang Free Download: hiển thị các tài liệu, video hướng môn học cho phép người học download miễn phí

 Trang thủ thuật hay: bao gồm các thủ thuật hay của môn học

 Trang lớp học 3DMax: là trang đặc biệt dùng cho người học là sinh viên của trường, sau khi đăng ký thành viên sẽ được xem và học tại trang này dưới sự quản lý của giáo viên

Trang 37

 Trang Tin Tức: Bao gồm những thông tin nổi bật của môn học

 Trang thành viên: dùng cho người học muốn đăng ký học

 Trang liên hệ:Bao gồm các hình thức liên hệ với giáo viên, thông qua địa chỉ email, số điện thoại…

1.3.5 Quy trình xây dựng website hướng dẫn tự học

 Lập kế hoạch

Xác định mục tiêu sư phạm của Website, xây dựng tiến trình dạy học kiến thức, thu thập và phân tích thông tin, xác định nội dung và phạm vi của Website, lựa chọn cụng cụ và trình duyệt, xây dựng hoặc thu thập các hình ảnh cần thiết

 Xây dựng và phát triển Website:

Mỗi một Website đều có những thách thức riêng, nói chung quy trình phát triển Website đều qua các giai đoạn sau:

 Định Site:

Giai đoạn này là giai đoạn xác định phạm vi nội dung Website, xác định công nghệ và tính năng tương tác cần thiết để đáp ứng được mục tiêu đề ra Đối với các Website dạy học, giai đoạn này cũng phải xác định phương pháp sư phạm áp dụng cho Website, lựa chọn phương tiện phù hợp tự động hoá quá trình dạy học Các câu hỏi phải đặt ra: Làm thế nào để tạo tiên đề để xuất phát, gợi động cơ kích thích? Nội dung kiến thức nào cần nhấn mạnh khi xây dựng nội dung kiến thức mới; Phương thức nào giúp ôn tập, củng cố ; Bằng cách nào để kiểm tra, đánh giá

 Xây dựng Website

Giai đoạn này bắt đầu sử dụng các công cụ xây dựng Website, các công việc bắt đầu từ thiết kế các trang riêng lẻ, thực hiện theo chiến lược xây dựng Website đó nêu ra, áp dụng chiến lược cho toàn bộ Site

Trang 38

Các công cụ càng mạnh thì càng cho phếp quản lý cấu trúc của Site càng tốt hơn, việc đó sẽ rất dễ dàng cho việc tạo các siêu liên kết (hyperlink), ngoài ra khả năng sử dụng tính năng đa phương tiện của ứng dụng là điều hết sức quan tâm (mô hình ảo, âm thanh, )

 Thực nghiệm, đánh giá và ứng dụng Website

Thực nghiệm Website cho các đối tượng cụ thể, thu thập số liệu điều tra và rút ra đánh giá, rút kinh nghiệm, sửa đổi Website và triển khai ứng dụng

1.3.6 Công cụ xây dựng website hướng dẫn tự học

NukeViet là một chương trình quản lý nội dung (CMS-Content

Management System) do người Việt phát triển, với mã nguồn được viết mới

hoàn toàn và dựa trên nền ngôn ngữ lập trình PHP Với NukeViet, bạn sẽ

nhanh chóng tạo ra một website động, người truy cập sẽ dễ dàng tương tác với nội dung và tránh cho họ sự nhàm chán như khi truy cập trên website tạo bằng

ngôn ngữ HTML Không những vậy NukeViet 4.0 còn có nhiều tính năng

vượt trội như tích hợp các module giúp cho quản trị viên và thành viên quản

lý tốt website, kết nối trực tiếp với diễn đàn được tạo bằng mã nguồn phpBB

hay vBB, tối ưu hóa công cụ tìm kiếm bằng việc sử dụng từ khóa (Keywords),

kiểm soát lỗi tự động và báo lỗi thông minh,…

NukeViet 4.0 có mã nguồn mở đang trong quá trình hoàn thiện, bạn có

thể tham khảo thêm thông tin, cũng như tải bản mới nhất của gói mã nguồn

này tại trang chủ http://nukeviet.vn

Trang 39

1.4 THỰC TRẠNG TỰ HỌC 3DMAX TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ

NGHỆ II

Trong nhiều năm giảng dạy 3DMax tại trường cao đẳng Kỹ Nghệ II, tôi nhận thấy môn học này có lượng kiến thức không chỉ nhiều mà lượng kiến thức còn gắn kết với thực tiễn rất cao Tất cả các kiến thức của môn 3DMax đều ứng dụng trong thực tế để thiết kế các mô hình 3D, các mô hình này đều xây dựng trên các mô hình thực tế Nhưng với thời lượng trên lớp không đủ

để sinh viên có thể ứng dụng một cách có hiệu quả, vì đòi hỏi các mô hình vẽ phải sát với thực tế hoặc có thể sáng tạo hơn thế nữa Người học phải biết vận dụng chương trình vẽ này một cách có hiệu quả Thời gian qua vì giáo viên chỉ truyền đạt kiến thức trên lớp, sự ghi chép cũng không thể cụ thể, nên chỉ cần một thời gian ngắn sinh viên có thể quên ngay kiến thức đã học mà không còn lưu trữ trong bộ nhớ Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy có một số sinh viên cũng có năng khiếu và có sự sáng tạo rất cao Nhưng đáng tiếc chỉ khi ra trường một thời gian thì những kiến thức đã được học các em không còn lưu trữ nhiều trong bộ nhớ nữa Hoặc là có những đề tài các em đã làm và nộp cho giáo viên giảng dạy nhưng không lưu trữ và giới thiệu các các khóa sau Vì thế, để tăng tính hiệu quả trong việc dạy và học nhằm đạt được mục tiêu mà môn học đã đặt ra, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thiết

kế tài liệu tự học, nhằm giúp sinh viên chủ động hơn trong việc tự học, đạt chất lượng hơn trong việc học tập tại trường đã trở nên vô cùng hữu ích Tôi

đã thực hiện khảo sát bằng bảng hỏi cho gần 100 em sinh viên ngành Thiết

kế đồ họa trong trường Kỹ Nghệ II và một số trường trên địa bàn (Phụ lục 1)

 Mục tiêu: Lấy ý kiến người học để điều tra thực trạng tự học môn 3DMax

để xây dựng trang Website tự học giúp người học lĩnh hội kiến thức một cách tốt nhất

 Đối tương: sinh viên các trường cao đẳng thuộc ngành Thiết kế đồ họa

Trang 40

 Phạm vi: Khảo sát nhiều lớp trong 6 tháng

Bảng 1.1 Kết quả điều tra thực trạng tự học môn 3DMax của sinh viên Nội dung điều tra Số lượng Tỷ lệ %

 Tự xem các bài tập cũ đã làm

 Không chuẩn bị, chờ sự hướng dẫn của giáo viên

Ngày đăng: 06/06/2017, 13:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát triển tính tích cực tự lực của học sinh trong quá trình dạy học, Vụ giáo viên - Bộ Giáo dục - Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tính tích cực tự lực của học sinh trong quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Năm: 1995
2. Thạc Bình Cường – Vũ Thị Hậu (2014), Giáo trình thiết kế web, NXB Giáo Dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thiết kế web
Tác giả: Thạc Bình Cường – Vũ Thị Hậu
Nhà XB: NXB Giáo Dục Việt Nam
Năm: 2014
3. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Ứng dụng CNTT trong dạy học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng CNTT trong dạy học
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Năm: 2006
4. Nguyễn Văn Hùng, Thiết kế ánh sáng trong 3D, NXB Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế ánh sáng trong 3D
Nhà XB: NXB Phương Đông
5. Quang Huy (2010), Thiết kế nội – ngoại thất, NXB Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế nội – ngoại thất
Tác giả: Quang Huy
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2010
6. Đặng Thành Hƣng (2004), Thiết kế dạy học theo hướng tích cực hoá, Tạp chí Phát triển giáo dục, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế dạy học theo hướng tích cực hoá
Tác giả: Đặng Thành Hƣng
Năm: 2004
7. Phan Lê Nhật Hỷ (2007), Thiết kế kiến trúc nội và ngoại thất từ căn bản đến nâng cao, NXB Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế kiến trúc nội và ngoại thất từ căn bản đến nâng cao
Tác giả: Phan Lê Nhật Hỷ
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 2007
8. Nguyễn Bá Kim (1987), Hội thảo quốc tế về sử dụng kỹ thuật thông tin trong giáo dục, Thông tin khoa học giáo dục, số 9/1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo quốc tế về sử dụng kỹ thuật thông tin trong giáo dục
Tác giả: Nguyễn Bá Kim
Năm: 1987
9. Trần Kiều (1995), Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động dạy học, Đề tài cấp Bộ - Viện Khoa học Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động dạy học
Tác giả: Trần Kiều
Năm: 1995
10. Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Sử dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp dạy học", Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp dạy học
11. Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia về công nghệ thông tin, "Chủ đề e-learning", Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ đề e-learning
12. Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia, "Ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục”, Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục
13. Đào Thái Lai (1998), Một số triển vọng đặt ra với nhà trường hiện đại trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghệ thông tin, Tạp chí Phát triển giáo dục, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số triển vọng đặt ra với nhà trường hiện đại trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghệ thông tin
Tác giả: Đào Thái Lai
Năm: 1998
14. Ngọc Lê (2009), Dựng 3D từ ảnh Bitmap với 3D Max, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dựng 3D từ ảnh Bitmap với 3D Max
Tác giả: Ngọc Lê
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2009
15. Từ Thu Mai, Hướng dẫn sinh viên ứng dụng CNTT trong tự học, tự nghiên cứu, Trường CĐSP Quảng Trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sinh viên ứng dụng CNTT trong tự học, tự nghiên cứu
16. Lê Đức Ngọc, Dạy cách học một trong những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo đại học, Tháng 8/2004, Tạp chí Dạy và học ngày nay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy cách học một trong những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo đại học
17. Nguyễn Hồng Quân, Giáo trình 3D Studio Max, trường đại học Khoa Học Tự Nhiên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình 3D Studio Max
18. Vũ văn Tảo, Tháng 4/2001, Học và dạy cách học, Tạp chí Tự học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học và dạy cách học
19. Hồ Hoàng Kiếm và Hồ Xuân Phương, Dựng mô hình 3D, NXB Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dựng mô hình 3D
Nhà XB: NXB Thống Kê
20. Lưu Thị Thảo, Sinh viên ứng dụng công nghệ thông tin trong tự học – tự nghiên cứu, bài viết khoa học giáo dục trường Cao đẳng Ngô Gia Tự Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh viên ứng dụng công nghệ thông tin trong tự học – tự nghiên cứu

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm