1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vận dụng quy luật mâu thuẫn trong việc xây dựng nông thôn mới ở tỉnh an giang

91 684 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng nông thôn mới tất yếu nảy sinh nhiều mâu thuẫn cần phải được giải quyết bởi đó là thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam nói chung, với một tỉn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI



NGUYỄN THỊ ÚT

VẬN DỤNG QUY LUẬT MÂU THUẪN TRONG

VIỆC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Ở TỈNH AN GIANG HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI



NGUYỄN THỊ ÚT

VẬN DỤNG QUY LUẬT MÂU THUẪN TRONG

VIỆC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Ở TỈNH AN GIANG HIỆN NAY

Chuyên ngành : Triết học

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN THỊ MINH

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu

và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGUYỄN THỊ ÚT

Trang 4

TS Trần Thị Minh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và khuyến khích tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tỉnh uỷ An Giang, Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang, Ban Tuyên giáo tỉnh An Giang, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh An Giang đã nhiệt tình cung cấp tài liệu và số liệu cho tôi thực hiện luận văn

Gia đình, người thân, bạn bè đã động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Trong quá trình thực hiện luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến nhận xét, đóng góp xây dựng của quý thầy cô và bạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 19 tháng 05 năm 2017

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGUYỄN THỊ ÚT

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CNH –HĐH: công nghiệp hóa-hiện đại hóa

ĐBSCL: Đồng bằng Sông Cửu Long

GDP: Gross Domestic Product

KHXH&NV: Khoa học Xã hội và Nhân văn

MTQG: Mục tiêu quốc gia

NTM: Nông thôn mới

Nxb: Nhà xuất bản

R&D: research & development

TP: Thành phố

UBND: Uỷ ban nhân dân

VBARD: Vietnam Bank for Agriculture and Rural Development VBSP: Vietnam Bank for Social Policies

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 3

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 5

5 Giả thuyết khoa học 5

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 6

8 Phương pháp nghiên cứu 6

9 Cấu trúc luận văn 6

10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của đề tài 6

CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC VẬN DỤNG QUY LUẬT MÂU THUẪN TRONG VIỆC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở TỈNH AN GIANG HIỆN NAY 8

1.1 Cơ sở lý luận của việc vận dụng quy luật mâu thuẫn trong việc xây dựng nông thôn mới 8

1.1.1.Vấn đề mâu thuẫn trong triết học 8

1.1.2 Tầm quan trọng của việc xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay 16

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng quy luật mâu thuẫn trong việc xây dựng nông thôn mới 34

1.2.1 Tổng quan tình hình kinh tế - xã hội tỉnh An Giang 35

1.2.2 Vai trò của việc xây dựng nông thôn mới trong phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang 37

1.2.3 Vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện việc xây dựng nông thôn mới ở tỉnh An Giang 42

Tiểu kết chương 1 49

CHƯƠNG II: SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT MÂU THUẪN CỦA TỈNH AN GIANG TRONG VIỆC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 50

2.1 Thực trạng vận dụng quy luật mâu thuẫn trong việc xây dựng nông thôn mới ở tỉnh An Giang 50

2.1.1 Thành tựu trong xây dựng NTM ở tỉnh An Giang 50

2.1.2 Hạn chế 54

2.1.3 Nguyên nhân 55

2.2 Một số mâu thuẫn trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh

An Giang 56

2.2.1 Mâu thuẫn giữa quy hoạch và quản lý 56

2.2.2 Mâu thuẫn giữa khả năng và hiện thực 60

2.2.3 Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế nông thôn với tính bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường 62

2.2.4 Mâu thuẫn trong cơ chế lồng ghép các nguồn lực từ các chương trình, dự án và đặc thù từng địa phương 63

Trang 7

2.3 Giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết các mâu thuẫn trong quá trình xây

dựng nông thôn mới ở tỉnh An Giang giai đoạn hiện nay 67

2.3.1 Giải quyết mâu thuẫn giữa quy hoạch và quản lý 67

2.3.2 Giải quyết mâu thuẫn giữa khả năng và hiện thực 69

2.3.3 Giải quyết mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế nông thôn với tính bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường 71

2.3.4 Giải quyết mâu thuẫn trong cơ chế lồng ghép các nguồn lực từ các chương trình, dự án và đặc thù từng địa phương 74

Tiểu kết chương 2 76

KẾT LUẬN 77

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (dưới đây gọi tắt

là quy luật mâu thuẫn) là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật, là hạt nhân của phép biện chứng duy vật Phép biện chứng suy cho cùng

là biện chứng về những mâu thuẫn Do tầm quan trọng của nó mà Lênin đã xem lý luận về sự thống nhất của các mặt đối lập là hạt nhân của phép biện chứng Bởi lẽ, nó vạch ra nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển của thế giới khách quan và vì nó là chìa khóa, là cơ sở giúp chúng ta nắm vững thực chất của tất cả các quy luật và phạm trù của phép biện chứng duy vật Mâu thuẫn là hiện tượng có trong tất cả các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy của con người Trong mỗi sự vật, mâu thuẫn hình thành không phải chỉ là một mà là nhiều mâu thuẫn, và sự vật trong cùng một lúc có nhiều mặt đối lập thì mâu thuẫn này mất đi và mâu thuẫn khác lại hình thành… Cho nên nắm vững quan điểm mácxít về mâu thuẫn sẽ giúp chúng ta hình thành phương pháp, hình thành tư duy khoa học, biết khám phá bản chất của sự vật và giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh, thúc đẩy sự vật phát triển

Quy luật này có ý nghĩa rất quan trọng, nó cho ta chìa khóa để tìm hiểu mọi sự vận động và phát triển, đi sâu vào bản chất của sự vật và hiện tượng Trong công tác thực tiễn, chúng ta cần tìm hiểu sự vật và hiện tượng bằng phương pháp phân tích mâu thuẫn, đồng thời chuẩn bị điều kiện đầy đủ để giải quyết mâu thuẫn Mâu thuẫn mà không được giải quyết sẽ cản trở sự phát triển của sự vật, hiện tượng

Nước ta hiện nay vẫn là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân cư sinh sống ở nông thôn Phát triển nông nghiệp, nông thôn đã, đang và sẽ còn

là mối quan tâm hàng đầu có vai trò quyết định đối với việc ổn định kinh tế -

xã hội đất nước Nông nghiệp và nông thôn luôn có vị trí quan trọng trong

Trang 9

chiến lược phát triển kinh tế, xã hội ở Việt Nam, là nhiệm vụ chung của cả hệ thống chính trị Trong từng thời kỳ khác nhau, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP và cơ cấu đầu tư dù khác nhau, nhưng nông nghiệp luôn là chỗ dựa vững chắc để giải quyết các vấn đề chung của xã hội như: an ninh lương thực quốc gia thu hẹp hoặc tiến tới xóa bỏ nghèo đói, cung cấp nguồn nhân lực, tạo việc làm và thu hút lao động theo hướng “bất ly hương”, góp phần ổn định xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Đối với tỉnh An Giang, là một tỉnh biên giới giáp với Campuchia, có diện tích tự nhiên 3.506 km2

, với dân số khoảng 2,1 triệu người; là tỉnh đông dân nhất khu vực Đồng bằng sông Cửu Long; kinh tế chủ yếu là nông nghiệp [55] Phong trào xây dựng nông thôn mới ở tỉnh An Giang đã, đang tạo được

sự lan tỏa rộng rãi và ngày càng huy động được nhiều nguồn lực trong xã hội, bước đầu mang lại hiệu quả thiết thực Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng nông thôn mới tất yếu nảy sinh nhiều mâu thuẫn cần phải được giải quyết bởi

đó là thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam nói chung, với một tỉnh

mà đời sống người dân còn nhiều khó khăn như An Giang nói riêng Xác định đúng các mâu thuẫn để từ đó đề ra những giải pháp thích hợp nhằm giải quyết mâu thuẫn trong quá trình xây dựng nông thôn mới có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là yêu cầu khách quan và tất yếu

Chính vì lý do trên mà tôi chọn đề tài: “Vận dụng quy luật mâu thuẫn

trong việc xây dựng nông thôn mới ở tỉnh An Giang hiện nay’’ làm đề tài luận

văn thạc sĩ của mình Tôi hy vọng việc nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm lý luận về mâu thuẫn và những vấn đề mâu thuẫn nảy sinh trong thực tiễn xây dựng nông thôn mới ở tỉnh An Giang, cũng như việc vận dụng các biện pháp giải quyết mâu thuẫn nhằm đảm bảo thực hiện thắng lợi Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới ở An Giang nói riêng và của cả nước nói chung

Trang 10

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về vấn đề mâu thuẫn, quy luật mâu

thuẫn cũng như sự vận dụng quy luật mâu thuẫn Có thể kể đến: “Mâu thuẫn

một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Tấn Hùng [24], tác giả đã làm

rõ về quy luật mâu thuẫn theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và vai trò

của nó đối với sự phát triển xã hội “Về mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu

và cách giải quyết trên con đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” của GS.TS Phạm Ngọc Quang [27], tác giả đã khái quát được

những mâu thuẫn cơ bản và những mâu thuẫn chủ yếu của nước ta Trên cơ sở

đó tác giả đề xuất một số giải pháp giải quyết các mâu thuẫn đó phù hợp với thực tế phát triển đất nước và xu thế của thời đại Công trình nghiên cứu của

Nguyễn Thị Hiền (2008), “Lý luận mâu thuẫn và sự vận dụng của Đảng Cộng

sản Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945” [20] Tác giả đã khái quát một cách

logic về quy luật mâu thuẫn trong lịch sử triết học và đã vận dụng quy luật mâu thuẫn vào việc xác định và giải quyết mâu thuẫn trong giai đoạn lịch sử

của dân tộc từ 1930 - 1945 Đề tài “Quy luật mâu thuẫn trong lịch sử triết học

và sự vận dụng vào công tác tuyên truyền ở Thừa Thiên Huế” của tác giả

Nguyễn Thái Sơn (2002) [28] Tác giả đã khái quát sơ lược về quy luật mâu thuẫn trong lịch sử triết học và từ đó vận dụng vào công tác tuyên truyền ở

Trang 11

Thừa Thiên Huế Trần Thành (2004), “Sự kết hợp các mặt đối lập trong giải quyết mâu thuẫn xã hội” [34]…

Thứ hai, một số công trình đề cập đến vấn đề xây dựng nông thôn mới

Tiêu biểu như: “Xây dựng mô hình nông thôn mới ở nước ta hiện nay” của

Phan Xuân Sơn, Nguyễn Cảnh [29], tác giả đề cập đến vấn đề nông thôn Việt Nam trước yêu cầu đổi mới, xác định một số tiêu chí của mô hình nông thôn mới và một số nhân tố chính của mô hình nông thôn mới Công trình nghiên cứu về “Xây dựng nông thôn mới – bước đi vững chắc cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Đồng bằng Sông Cửu Long” [32] của PGS.TS Võ Văn Thắng và ThS Huỳnh Thanh Hiếu đã chỉ ra được những thành tựu và hạn chế của quá trình xây dựng nông thôn mới ở ĐBSCL trong những năm qua và đánh giá quá trình thực hiện chủ trương xây dựng nông thôn mới ở ĐBSCL trong những năm gần đây Nguyễn Thị Thanh

Huyền: “Hiệu quả của phong trào cả nước chung sức xây dựng nông thôn

mới” [25], tác giả chỉ ra những cách làm hay, sáng tạo và mang lại hiệu quả

thiết thực Đồng thời, qua các hoạt động thực tiễn rút ra một số kinh nghiệm Công trình nghiên cứu của Phạm Xuân: “Xây dựng nông thôn mới: Những thuận – nghịch đặt ra tại Đắk Lắk” [66], tác giả đã chỉ ra được những khó khăn, vướng mắc trong quá trình xây dựng nông thôn mới đòi hỏi phải kịp thời tháo gỡ.… và nhiều bài viết của các tác giả khác đăng trên các tạp chí Triết học, tạp chí Cộng sản

Nhìn chung các công trình nghiên cứu và bài viết đã công bố tuy có nhiều nghiên cứu về lý luận và thực tiễn về quy luật mâu thuẫn, sự vận dụng vào thực tiễn và về xây dựng, phát triển nông thôn mới Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về những mâu thuẫn trong xây dựng nông thôn mới cũng như việc vận dụng quy luật mâu thuẫn trong xây dựng nông thôn mới ở tỉnh An Giang

Trang 12

3. Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là trên cơ sở làm rõ những mâu thuẫn trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh An Giang, qua đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết các mâu thuẫn trong quá trình xây dựng nông thôn

mới ở tỉnh An Giang giai đoạn hiện nay

Khách thể nghiên cứu: Quá trình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh An

Giang

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu việc vận dụng

quy luật mâu thuẫn trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh An Giang hiện nay

Chương trình xây dựng nông thôn mới đã tạo nhiều chuyển biến trong phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, an sinh xã hội được cải thiện Bước đầu đã mang lại một số kết quả quan trọng Song, trong quá trình thực hiện vẫn còn nảy sinh nhiều mâu thuẫn cần được giải quyết kịp thời Vận dụng đúng quy luật này trong quá trình thực hiện nông thôn mới sẽ góp phần tạo bước đột phá trong việc xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2015-2020 ở tỉnh An Giang

- Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở khoa học của việc vận dụng quy luật mâu thuẫn trong xây dựng nông thôn mới ở tỉnh An Giang

- Khảo sát, nghiên cứu thực trạng vận dụng quy luật mâu thuẫn trong việc xây dựng nông thôn mới ở tỉnh An Giang Từ đó chỉ ra những kết quả đạt được và những tồn tại, hạn chế trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở An Giang hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm giải quyết các mâu thuẫn

Trang 13

7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu việc vận dụng quy luật mâu thuẩn trong xây dựng nông thôn mới ở An Giang giai đoạn 2011-2015 Đề xuất giải pháp đến năm

2020

Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, phương pháp phân tích và tổng hợp, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, phương pháp lôgíc và lịch sử; phương pháp thống kê và hệ thống hóa…

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 2 chương, 5 tiết

10.1 Những luận điểm cơ bản

Từ mục đích nghiên cứu đã trình bày ở trên, luận văn tập trung chủ yếu vào một số luận điểm cơ bản sau:

- Thứ nhất: Xây dựng nông thôn mới là quá trình lâu dài, liên tục theo

định hướng của Đảng, Nhà nước; được thực hiện trên cơ sở vừa cải tạo, vừa xây dựng, vừa kế thừa những thành tựu, truyền thống và bản sắc văn hóa tốt đẹp trong nông thôn những năm qua, vừa hình thành những giá trị mới theo hướng văn minh, hiện đại

- Thứ hai: Vận dụng phù hợp quy luật mâu thuẫn trong quá trình xây

dựng nông thôn mới ở An Giang hiện nay để tạo bước đột phá mới nhằm nâng cao thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân

10.2 Đóng góp mới của đề tài

- Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các đề tài, đề án về xây dựng nông thôn mới ở địa phương hoặc nơi khác

Trang 14

- Công cuộc xây dựng nông thôn mới đang diễn ra đồng bộ trên phạm

vi cả nước An Giang cũng đang bắt tay vào xây dựng mô hình nông thôn mới theo bộ tiêu chí của Nhà nước Vì vậy mà đề tài chỉ ra những hạn chế, khó khăn, những điều chưa làm được và cần phải làm trong thời gian tới để có thể đưa ra những giải pháp phù hợp với từng tiêu chí

Trang 15

CHƯƠNG I

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC VẬN DỤNG QUY LUẬT MÂU THUẪN TRONG VIỆC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Ở TỈNH AN GIANG HIỆN NAY

1.1 Cơ sở lý luận của việc vận dụng quy luật mâu thuẫn trong việc xây dựng nông thôn mới

1.1.1.Vấn đề mâu thuẫn trong triết học

1.1.1.1.Khái niệm mâu thuẫn

Tư tưởng biện chứng về các mặt đối lập đã sớm xuất hiện trong lịch sử nhân loại Trước khi phép biện chứng mácxít ra đời, tư tưởng đó đã đạt được đỉnh cao nhất trong những học thuyết biện chứng của các nhà triết học cổ điển Đức, như I.Cantơ và đặc biệt là G.V.Hêgen Hêgen đã sớm nhận ra tính phổ biến của mâu thuẫn và vai trò của nó trong quá trình vận động và phát triển

của thế giới Trong hệ thống triết học của mình, khi cho rằng “tất cả mọi vật

đều có tính chất mâu thuẫn trong bản thân nó”, Hêgen đã khẳng định: “Mâu

thuẫn là nguồn gốc của tất cả mọi sự vận động và của tất cả mọi sức sống”

[65, tr.147]

Đứng trên lập trường duy vật, kế thừa một cách có phê phán tất cả những thành tựu có giá trị trong toàn bộ lịch sử triết học hơn 2000 năm, dựa trên những thành tựu có tính chất vạch thời đại của khoa học hiện đại cũng như thực tiễn của thời đại, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát triển học thuyết về mâu thuẫn lên một tầm cao mới - học thuyết mâu thuẫn trên cơ sở quan niệm duy vật biện chứng, khoa học, V.I.Lênin đã coi học thuyết đó là hạt nhân của phép biện chứng [65, tr.378]

Trang 16

Trong phép biện chứng, khái niệm mâu thuẫn dùng để chỉ các mối liên

hệ thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau

rước hết mâu thuẫn là hi n tư ng kh ch quan và ph biến

Nhân tố tạo thành mâu thuẫn là mặt đối lập Khái niệm mặt đối lập dùng

để chỉ những mặt, những thuộc tính, những khuynh hướng vận động trái ngược nhau, nhưng đồng thời lại là điều kiện, tiền đề tồn tại của nhau Mỗi sự vật, hiện tượng có thể có nhiều yếu tố, nhiều mặt, cấu thành, nhưng có hai mặt đối lập

cơ bản thống nhất với nhau quyết định kết cấu tạo thành sự vật, hiện tượng Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động, chuyển hóa lẫn nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng

Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan, vì mâu thuẫn tồn tại trong bản thân sự vật, hiện tượng

Mâu thuẫn tồn tại phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy (mâu thuẫn trong tư duy là sự phản ánh mâu thuẫn của hiện thực khách quan) Các mặt đối lập thống nhất, liên hệ, tác động lẫn nhau, thâm nhập vào nhau, loại trừ nhau tạo nên sự vận động biện chứng, là nguồn gốc, động lực bên trong của

sự phát triển Các mặt đối lập thống nhất với nhau, cùng tồn tại đồng thời trong một sự vật hay giữa các sự vật trong cùng một hệ thống được xác định trong thời gian, không gian cụ thể

h hai mâu thuẫn là m t ch nh thể trong đó hai m t đ i lập v a

th ng nhất v a đấu tranh với nhau

Trong một mâu thuẫn, hai mặt đối lập vừa có quan hệ thống nhất với nhau, vừa đấu tranh lẫn nhau

Khái niệm thống nhất của các mặt đối lập dùng để chỉ sự liên hệ, ràng buộc, không tách rời nhau, quy định lẫn nhau của các mặt đối lập, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề tồn tại Hai mặt đối lập cùng tồn tại, cùng chuyển hóa

Trang 17

trong quá trình vận động và phát triển của sự vật Khái niệm “thống nhất” trong quy luật này còn được hiểu là sự “đồng nhất” của nó vì các mặt đối lập không tồn tại tách rời nhau nên giữa chúng bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau, nghĩa là cũng thừa nhận trạng thái ổn định của mối liên hệ của các mặt đối lập Đồng thời cũng thừa nhận sự chuyển hóa lẫn nhau của các mặt đối lập

Tuy nhiên, trong sự thống nhất, các mặt đối lập vẫn không ngừng tác động lẫn nhau, đấu tranh với nhau Đó là sự thống nhất trong trạng thái cân bằng, tác động ngang nhau của các mặt đối lập

Khái niệm đấu tranh của các mặt đối lập dùng để chỉ khuynh hướng tác động qua lại, bài trừ, phủ định nhau của các mặt đối lập Sự đấu tranh của các mặt đối lập là một quá trình phức tạp Quá trình đó có thể chia ra nhiều giai đoạn Mỗi giai đoạn lại có những đặc điểm riêng của nó (Xem Hình.1)

Đối lập

Sự khác nhau căn bản

Sự khác nhau

Chuyến hóa

Các giai đoạn phát triển

Khuynh

hướng

phát

triển

Trang 18

Thống nhất và đấu tranh của hai mặt đối lập không tách rời nhau Trong đấu tranh của các mặt đối lập vẫn có sự thống nhất, tức chúng vẫn nương tựa vào nhau, làm tiền đề tồn tại của nhau

Sự đấu tranh gắn liền với tính tuyệt đối của sự vận động và phát triển Điều đó

có nghĩa là sự thống nhất của các mặt đối lập là tương đối, tạm thời; sự đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối Việc hình thành, phát triển và giải quyết mâu thuẫn là một quá trình đấu tranh rất phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn có những đặc điểm riêng của nó:

 Giai đoạn hình thành mâu thuẫn, biểu hiện: đồng nhất nhưng bao hàm

sự khác nhau; khác nhau bề ngoài, khác nhau bản chất, mâu thuẫn được hình thành

 Giai đoạn phát triển của mâu thuẫn, biểu hiện: các mặt đối lập xung đột với nhau; các mặt đối lập xung đột gay gắt với nhau

 Giai đoạn giải quyết mâu thuẫn, biểu hiện: sự chuyển hóa của các mặt đối lập, mâu thuẫn được giải quyết

Trong sự tác động qua lại của các mặt đối lập thì đấu tranh của các mặt đối lập quy định một cách tất yếu sự thay đổi của các mặt đang tác động và làm cho mâu thuẫn phát triển Lúc đầu mâu thuẫn mới xuất hiện mâu thuẫn chỉ là

sự khác nhau căn bản, nhưng theo khuynh hướng trái ngược nhau Sự khác nhau đó càng ngày càng phát triển đi đến đối lập Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện, chúng sẽ chuyển hoá lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết Nhờ đó thể thống nhất cũ được thay thế bằng thể thống nhất mới;

sự vật cũ mất đi sự vật mới ra đời thay thế

Kết quả đấu tranh của hai mặt đối lập có khi dẫn đến các mặt đối lập bị phân hủy, tan rã, lúc đó cả hai mặt đối lập đồng thời bị tan rã, nhưng thường

là hai mặt đối lập lại kích thích nhau phát triển Đấu tranh giữa các mặt đối

Trang 19

lập kích thích nhau phát triển là dẫn đến chuyển hóa, tức là hình thành sự thay đổi về chất của các mặt đối lập chứ không phải chúng chuyển đổi vị trí cho nhau Kết quả là chuyển thành một trạng thái mới, một sự vật mới trong quy trình phát triển

Hai mặt đối lập vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau trong một mâu thuẫn biện chứng Trong đó, sự thống nhất của các mặt đối lập là tương đối, tạm thời, còn sự đấu tranh giữa chúng là tuyệt đối

Các sự vật, hiện tượng trong thế giới luôn luôn vận động, phát triển thông qua sự tác động lẫn nhau trong quá trình phát triển của chúng Chính sự tác động qua lại giữa các sự vật là nguồn gốc của sự vận động của chúng Mỗi mâu thuẫn đều bao hàm sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho các sự vật, hiện tượng không thể giữ nguyên trạng thái cũ, mà liên tục biến đổi Kết quả đấu tranh giữa các mặt đối lập là mâu thuẫn cũ mất đi, mâu thuẫn mới hình thành, sự vật, hiện tượng cũ được thay thế bằng sự vật, hiện tượng mới Quá trình này tạo nên sự vận động, phát triển vô tận của thế giới khách quan, Do đó, sự đấu tranh giữa các mặt đối lập là nguồn gốc vận động, phát triển của sự vật

Về mối quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, Lênin viết: “Sự thống nhất (phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển sự vận động là tuyệt đối” [64, tr.379 – 380] Sự thống nhất của các mặt đối lập có tính chất tạm thời, thoáng qua, tương đối, cũng như trạng thái đứng im của sự vật, bởi vì mọi sự vật, hiện tượng cụ thể đều có quá trình phát sinh, phát triển

và tiêu vong để nhường chỗ cho các sự vật, hiện tượng khác cao hơn, hoàn thiện hơn, mới hơn về chất ra đời

Trang 20

Đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối vì: trong mọi sự vật hiện tượng đều có mâu thuẫn và mâu thuẫn quán xuyến từ đầu đến cuối quá trình phát triển của sự vật Tính tuyệt đối của sự đấu tranh của các mặt đối lập nói lên sự vận động, sự biến đổi liên tục của sự vật, hiện tượng Đấu tranh của các mặt đối lập là điều kiện quan trọng nhất, có tính quyết định đối với sự chuyển hóa của các mặt đối lập

Đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng

h ba s chu ển hóa của c c m t đ i lập

Sự tác động qua lại dẫn đến chuyển hóa giữa các mặt đối lập là một quá trình Lúc mới xuất hiện mâu thuẫn thể hiện ở mặt khác biệt và phát triển ở hai mặt đối lập Khi hai mặt đối lập của mâu thuẫn xung đột với nhau gay gắt

và khi điều kiện đã chín muồi thì chúng sẽ chuyển hóa lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết Mâu thuẫn cũ mất đi, mâu thuẫn mới sẽ hình thành, quá trình tác động, chuyển hóa giữa các mặt đối lập lại tiếp diễn, làm cho sự vật, hiện

tượng luôn luôn vận động và phát triển Sự chuyển hóa giữa các mặt đối lập

là tất yếu khách quan, là kết quả của sự đấu tranh giữa các mặt đối lập Nếu mâu thuẫn không được giải quyết (các mặt đối lập không chuyển hóa) thì không có sự phát triển

Sự chuyển hóa của các mặt đối lập là kết quả của quá trình đấu tranh của các mặt đối lập Sự chuyển hóa của các mặt đối lập được thực hiện ở giai đoạn chín muồi của mâu thuẫn Sự chuyển hóa diễn ra dưới nhiều hình thức

và tùy thuộc vào những điều kiện cụ thể

Hai hình thức khái quát nhất của sự chuyển hóa là:

Các mặt đối lập chuyển sang mặt đối lập của chính mình

Các mặt đối lập cũ bị xóa bỏ và hình thành các mặt đối lập mới trong

sự vật mới

Trang 21

Mâu thuẫn là khách quan và phổ biến, mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và phát triển - quan điểm lý luận cơ bản đó của phép biện chứng duy vật dạy chúng ta phải tích cực tìm tòi, phát hiện mâu thuẫn, phải biết chấp nhận mâu thuẫn và biết cách giải quyết mâu thuẫn để thúc đẩy sự phát triển, tiến bộ xã hội

1.1.1.2 Phân loại mâu thuẫn

Thế giới phong phú, đa dạng và phức tạp, nhưng nhìn chung có 4 loại mâu thuẫn cơ bản:

Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài: Mâu thuẫn bên trong là

mâu thuẫn giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính, các quá trình cấu thành nên sự vật, hiện tượng Mâu thuẫn này giữ vai trò quyết định sự vận động, phát triển của sự vật hiện tượng Mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn giữa các

sự vật hiện tượng, hoặc giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính, các quá trình giữa sự vật, hiện tượng với nhau Mâu thuẫn này không giữ vai trò quyết định

sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Nó chỉ có tác dụng ảnh hưởng khi liên hệ được với mâu thuẫn bên trong

Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản: Mâu thuẫn cơ bản là

mâu thuẫn phát sinh, hình thành, tồn tại cùng sự phát sinh, hình thành, tồn tại của vật, hiện tượng và giữ vai trò quyết định sự vận động, phát triển của sự vật hiện tượng Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn phát sinh, hình thành, tồn tại cùng sự phát sinh, hình thành, tồn tại của vật, hiện tượng và không giữ vai trò quyết định mà chỉ ảnh hưởng nhất định đến sự vận động, phát triển của

sự vật hiện tượng

Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn không chủ yếu: Mâu thuẫn chủ yếu là

mâu thuẫn nổi lên hàng đầu và giữ vai trò quyết định sự vận động, phát triển của sự vật hiện tượng ở mỗi giai đoạn phát triển Mâu thuẫn không chủ yếu là mâu thuẫn phát sinh và không giữ vai trò quyết định nhưng gây ảnh hưởng

Trang 22

nhất định đến sự vận động, phát triển của sự vật hiện tượng ở mỗi giai đoạn phát triển

Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng loại mâu thuẫn này chỉ có trong lĩnh vực đời sống xã hội : Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn

giữa các giai cấp có lợi ích cơ bản đối lập nhau Mâu thuẫn này chỉ được giải quyết thông qua cách mạng xã hội Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa các giai tầng có lợi ích cơ bản không đối lập nhau Mâu thuẫn này được giải quyết bằng phương pháp hòa bình thông qua giáo dục và đổi mới xã hội

1.1.1.3 Nội dung quy luật mâu thuẫn

Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (còn gọi là quy luật mâu thuẫn) là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật, là

“hạt nhân của phép biện chứng” Bởi vì nó vạch ra nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động và phát triển

Nội dung quy luật có thể được khái quát như sau:

Mọi sự vật, hiện tượng đều bao hàm mâu thuẫn bên trong Mỗi sự vật, hiện tượng đều là thống nhất của các mặt, các thuộc tính, các khuynh hướng đối lập nhau Chính sự đấu tranh của các mặt đối lập đó làm cho sự vật, hiện tượng vận động, phát triển

Vì mâu thuẫn có tính tuyệt đối, khách quan, phổ biến, là nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển nên phải tôn trọng, đi sâu nghiên cứu, phát hiện ra mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng để nhận thức đúng bản chất của

nó cũng như tìm ra phương hướng và giải pháp đúng cho hoạt động thực tiễn

Muốn phát hiện mâu thuẫn, phải tìm ra trong thể thống nhất (sự vật, hiện tượng, quá trình được xác định trong thời gian, không gian cụ thể) những mặt, những khuynh hướng trái ngược nhau, tức tìm ra những mặt đối lập và tìm ra những mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập để nắm được bản chất, nguồn gốc, khuynh hướng của sự vận động, phát triển

Trang 23

Vì mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú, vì thế việc nhận thức và giải quyết mâu thuẫn cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể, tức phải biết phân tích

cụ thể từng loại mâu thuẫn và có phương pháp giải quyết phù hợp

Mỗi sự vật, hiện tượng là một hệ thống, ứng với nó là hệ thống mâu thuẫn tạo nên một chỉnh thể, khi tác động vào một mâu thuẫn có thể dẫn tới thay đổi toàn bộ hệ thống hoặc thay đổi một số yếu tố của hệ thống Mỗi mâu thuẫn lại có những cách giải quyết khác nhau Phải tìm ra mâu thuẫn cơ bản

và mâu thuẫn chủ yếu và tác động vào đó để đem lại hiệu quả cao Khi giải quyết mâu thuẫn phải đặt nó trong mối tương quan với các mâu thuẫn khác trong hệ thống, không cô lập tách rời nhau Đồng thời, cần phân biệt đúng vai trò, vị trí của các loại mâu thuẫn trong từng hoàn cảnh, điều kiện nhất định để tìm ra phương pháp tối ưu nhất Nếu không nhận thức đúng đắn và tìm cách giải quyết phù hợp sẽ làm cho mâu thuẫn càng trở nên phức tạp và khó giải quyết hơn

1.1.2 ầm quan trọng của vi c xâ d ng nông thôn mới trong giai đoạn hi n na

1.1.2.1 Khái niệm nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới

Khái niệm nông thôn

Đến nay, khái niệm nông thôn được thống nhất với quy định Theo Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và

Phát triển nông thôn, cụ thể: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội

thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính

cơ sở là ủy ban nhân dân xã" [7, tr.1]

Khái niệm nông thôn mới

Là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản

Trang 24

lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới

Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội

Xây dựng nông thôn mới

Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để

cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, làng, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao

Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp

Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh

Đặc trưng của nông thôn mới

Theo cuốn “Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới” [8] đặc trưng

của Nông thôn mới thời kỳ CNH –HĐH, giai đoạn 2010-2020, bao gồm:

- Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao;

- Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ;

Trang 25

- Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy;

- An ninh tốt, quản lý dân chủ

- Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao

Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới

- Nội dung xây dựng nông thôn mới hướng tới thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia được qui định tại Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ [35]

- Xây dựng nông thôn mới theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, xã đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ và hướng dẫn Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện

- Được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình mục

tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai ở nông thôn, có bổ sung dự án hỗ trợ đối với các lĩnh vực cần thiết; có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư

- Được thực hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế -

xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh);

có quy hoạch và cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch trên cơ sở

các tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật do các Bộ chuyên ngành ban hành)

- Là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp uỷ Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức thực hiện; Hình thành cuộc vận động “toàn dân xây dựng nông thôn mới"

do Mặt trận Tổ quốc chủ trì cùng các tổ chức chính trị - xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong việc xây dựng nông thôn mới

Trang 26

Nông thôn là nơi sinh sống của một bộ phận dân cư chủ yếu làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp Nước ta hiện nay vẫn là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân cư đang sống ở nông thôn Phát triển nông nghiệp nông thôn

đã, đang và sẽ còn là mối quan tâm hàng đầu, có vai trò quyết định đối với việc ổn định kinh tế xã hội đất nước

Nông nghiệp, nông thôn và nông dân có vai trò to lớn từ trong quá trình lịch sử hình thành quốc gia dân tộc và trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Qua các giai đoạn cách mạng, nông dân luôn là lực lượng hùng hậu, trung thành nhất đi theo Đảng, góp phần làm nên những trang sử vẻ vang, hào hùng của dân tộc

ta

tr.1]:

Thứ nhất, đó là làng, xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại;

Thứ hai, sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa;

Thứ ba, đời sống vật chất và tinh thần của nông dân, nông thôn ngày càng nâng cao;

Thứ tư, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn;

Thứ năm, xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ

1.1.2.2 Tính tất yếu của việc xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay ở nước ta

Phát triển nông nghiệp, nông thôn được coi là vấn đề then chốt, ảnh hưởng đến sự thành công của quá trình phát triển kinh tế - xã hội và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nhiều quốc gia Đặc biệt với Việt Nam, một nước có nền sản xuất nông nghiệp làm nền tảng

Trang 27

Nông nghiệp Việt Nam được ghi nhận có sự tiến bộ vượt bậc Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu hàng đầu các mặt hàng nông sản, lương thực và nằm trong nhóm 5 nước xuất khẩu lớn nhất Những thành tựu cơ bản nhất của ngành nông nghiệp Việt Nam, đó là:

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng nông nghiệp liên tục tăng Trong 30 năm

đổi mới (1986 - 2016), nông nghiệp Việt Nam đạt được mức tăng trưởng nhanh và ổn định trong một thời gian dài, cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực Giá trị sản xuất nông nghiệp của Việt Nam tăng trưởng trung bình với tốc độ 4,06%/ năm giai đoạn (1986 - 2015) Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, mặc dù kinh tế vĩ mô gặp nhiều khó khăn nhưng nông nghiệp, nông thôn vẫn là ngành giữ được tốc độ tăng trưởng tương đối ổn định, bảo đảm cân bằng cho nền kinh tế Việt Nam đã có 10 mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, bao gồm: gạo, cà phê, cao su, điều, tiêu, sắn, rau quả, tôm, cá tra, lâm sản Trong khi các ngành kinh tế khác còn đang chịu ảnh hưởng lớn của suy thoái kinh tế, ngành nông nghiệp đã vượt qua nhiều khó khăn, đạt kết quả khá toàn diện, tăng trưởng ngành đạt tốc độ khá cao Năm

2014, ngành nông nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng 3,3% so với 2,6% (2012 - 2013), đánh dấu sự hồi phục và tăng trưởng cao

Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 đạt 3,13%, vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đề ra (2,6 - 3%) Chất lượng tăng trưởng tiếp tục được cải thiện, tỷ trọng giá trị gia tăng trong tổng giá trị sản xuất ngành đã tăng từ 57% (2010) lên 64,7% (2013); 67,8% (2014) và khoảng 68% (2015); năng suất lao động xã hội ngành nông, lâm, thủy sản tăng gần gấp đôi từ 16,3 triệu đồng năm 2010 lên khoảng 31 triệu đồng năm

2015 Giá trị sản phẩm thu được trên 1ha đất trồng trọt đã tăng từ 54,6 triệu đồng/ha năm 2010 lên 79,3 triệu đồng/ha năm 2014 và khoảng 82 - 83 triệu đồng/ha năm 2015; cứ mỗi ha mặt nước nuôi trồng thủy sản tăng từ 103,8

Trang 28

triệu đồng/ha (2013) lên 177,4 triệu đồng/ha (2014) và khoảng 183 triệu đồng/ha (2015) Thu nhập của người dân nông thôn năm 2015 tăng khoảng 2 lần so với năm 2010 (đạt mục tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng XI đề ra) Năm 2014, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt tới 30,8 tỷ USD, mức kỷ lục cao nhất từ trước đến nay Mặc dù, năng suất lao động thấp, năng lực cạnh tranh không cao, nhưng nông nghiệp là ngành duy nhất có xuất siêu, giúp Việt Nam trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới về nhiều loại nông sản đa dạng như: gạo, cà phê, hạt tiêu, cao su, các mặt hàng gỗ và thủy sản

Thứ hai, hệ thống thủy lợi, đê điều tiếp tục được nâng cấp, đầu tư Hệ

thống thủy lợi, đê điều được phát triển theo hướng đa mục tiêu và tăng cường năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu; kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp tiếp tục được nâng cấp và hiện đại hóa; công tác quản lý chất lượng và

vệ sinh an toàn thực phẩm đã được quan tâm chỉ đạo; hoạt động hợp tác quốc

tế được tăng cường; tham gia tích cực đàm phán và tổ chức thực hiện các Hiệp định thương mại và tháo gỡ rào cản, phát triển thị trường Với hơn 2,7 tỷ USD nguồn vốn ODA đầu tư cho phát triển nông nghiệp, mức kỷ lục trong giai đoạn 2010 - 2015, nhiều công trình thủy lợi, giao thông nông thôn… được xây dựng, nâng cấp, sửa chữa

Hệ thống giao thông trong nông thôn từng bước được xây dựng đồng

bộ, hình thành kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phục vụ cho việc xây dựng nền nông nghiệp bền vững, như hệ thống đường giao thông, hệ thống thủy lợi, hệ thống điện, hệ thống thông tin, hệ thống cơ sở giáo dục và y tế…

Thứ ba, tái cơ cấu nông nghiệp đã đạt được thành công bước

đầu Chương trình tái cơ cấu nông ngiệp được triển khai trên cơ sở phát huy lợi thế của cả nước và mỗi địa phương gắn với thị trường trong nước và xuất khẩu Giữ ổn định 3,8 triệu ha đất trồng lúa nhằm hỗ trợ và nâng cao đời sống

Trang 29

người trồng lúa Sau 3 năm thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng khá Ngành trồng trọt giá trị tăng 3% (2013)

và 3,2% (2014) Năng suất, chất lượng và giá cả nhiều loại sản phẩm đã được nâng cao Thu nhập bình quân/ha đất trồng trọt đạt 78,7 triệu đồng (2014) và 82,5 triệu đồng (2015) Ngành chăn nuôi đã chuyển từ hình thức nhỏ, lẻ, phân tán sang hình thức trang trại, gia trại Tỷ trọng giá trị ngành chăn nuôi trong tổng giá trị nông nghiệp tăng Giá các sản phẩm chăn nuôi ổn định, bảo đảm thu nhập cho người chăn nuôi Ngành thủy sản đã chuyển dịch cơ cấu giữa khai thác với nuôi trồng Năm 2015, tổng sản lượng thủy sản đạt 6,55 triệu tấn (tăng 3,4%)

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, phát triển nông nghiệp Việt Nam vẫn còn một số những hạn chế, đó là:

Một là, hạn chế trong cải cách đất đai và quyền sử dụng đất: Luật Đất

đai năm 2013 ban hành nhằm tăng cường sự phát triển của thị trường đất đai, duy trì thời hạn quyền sử dụng đất, diện tích đất cho mỗi hộ gia đình, sự lựa chọn các loại cây trồng, chuyển giao và trao đổi đất Những quy định này nhằm bảo đảm bình đẳng về tiếp cận đất đai giữa những người dân nông thôn, nhưng dẫn đến hạn chế khả năng tích tụ đất đai và gây trở ngại cho đầu tư dài hạn

Khả năng tích tụ và tập trung ruộng đất của nông dân thấp dẫn đến mức lợi nhuận thu được từ những mảnh ruộng nhỏ không đủ để bảo đảm chi tiêu trong cuộc sống của người nông dân Nhiều nông dân vì làm nông nghiệp không hiệu quả, đã phải kiếm thêm thu nhập bằng các hoạt động phi nông nghiệp phi chính thức Nhưng nghịch lý là họ vẫn muốn giữ đất như một sự bảo hiểm rủi ro vì ở nông thôn thiếu hệ thống an sinh xã hội Trong khi đó, với nguồn tích lũy hạn chế và thiếu hỗ trợ tín dụng nên sẽ khó khăn cho các nông dân giỏi, có nhiều tâm huyết, có đủ khả năng mua hoặc thuê lại đất của

Trang 30

các nông dân khác Kết quả là, nhiều đất nông nghiệp, đặc biệt tại khu vực ven đô hoặc đất rừng được các nhà đầu tư thành thị mua hoặc thuê để đầu cơ,

sử dụng kém hiệu quả hoặc hoạt động theo hình thức phát canh thu tô Chính sách giao đất bình quân khiến đất nông nghiệp trở nên manh mún Diện tích quy mô trang trại của hộ gia đình nông nghiệp Việt Nam vào loại nhỏ nhất ở Đông Nam Á và trên thế giới, khó có thể cơ giới hóa, hiện đại hóa và tiến hành thực hiện nền sản xuất lớn Thêm nữa, do số lao động rút khỏi ngành nông nghiệp không đủ lớn để làm giảm số lượng lao động nông nghiệp trên diện tích đất đai cùng với việc chuyển diện tích lớn đất nông nghiệp sang sử dụng với mục đích khác dẫn đến quy mô đất nông nghiệp bình quân đầu người tiếp tục giảm Trong khi, sức ép về việc làm cho lao động nông thôn ngày một tăng Do dân số tăng, hằng năm Việt Nam có thêm ít nhất 1,4 - 1,6 triệu người đến tuổi lao động được bổ sung vào lực lượng lao động, trong đó 0,9 triệu lao động tăng thêm ở khu vực nông nghiệp và nông thôn Điều này tạo ra sức ép lớn về việc làm và dòng người di cư từ nông thôn vào thành thị

Vì vậy, cần phải xây dựng chính sách để người dân coi đất đai là tài sản của mình, phải cải cách đất đai để nông dân tích tụ được đất đai với quy mô lớn Có như vậy, nông nghiệp mới có thể sử dụng có hiệu quả khoa học công nghệ vào thúc đẩy nông nghiệp phát triển

Thứ hai, khoa học công nghệ trong nông nghiệp vừa thiếu lại vừa lạc

hậu Mức độ đầu tư toàn xã hội cho nông nghiệp thấp mặc dù một số doanh nghiệp lớn đã bắt đầu chuyển sang đầu tư vào nông nghiệp, nhưng nhìn chung vẫn còn rất ít, chỉ khoảng vài phần trăm; đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp không đáng kể Việc xây dựng nền nông nghiệp công nghệ cao chậm chuyển biến, chưa tạo đột phá để nâng cao giá trị gia tăng, tạo cơ sở vững chắc cho chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng hiệu quả bền vững, gắn theo chuỗi giá trị Thiết bị và công nghệ chế biến sau thu hoạch còn lạc hậu,

Trang 31

kết cấu hạ tầng phục vụ bảo quản chế biến còn chưa phát triển, quy mô nhỏ,

tỷ lệ hao hụt, thất thoát cao Phần lớn vật tư, thiết bị nông nghiệp dựa vào nguồn nhập khẩu từ nước ngoài Trong đó hơn 90% số máy kéo bốn bánh và máy công tác kèm theo, máy gặt đập liên hợp phải nhập khẩu

Đội ngũ khoa học nông nghiệp tuy đông nhưng không mạnh Cán bộ có

đủ năng lực chủ trì đề tài nghiên cứu đưa lại kết quả cao chiếm tỷ lệ thấp, còn thiếu cán bộ đầu ngành giỏi; nhiều lĩnh vực khoa học và công nghệ như công nghệ sinh học thiếu nhân lực trình độ cao nên chậm được triển khai; điều kiện vật chất kỹ thuật của các cơ sở nghiên cứu, đào tạo còn lạc hậu, không đồng

bộ, dẫn đến tình trạng đào tạo nhân lực cho khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp, nông thôn chưa gắn lý thuyết với thực hành, thiếu các nghiên cứu chuyên sâu trên một đơn vị sản phẩm

Thứ ba, hạn chế tiếp cận tín dụng nông nghiệp Thị trường tài chính

nông thôn bao gồm một số tổ chức, trong đó Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (VBARD) và Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam (VBSP) có vị trí hàng đầu, đại diện cho 66% của nguồn tín dụng nông thôn Mặc dù các ngân hàng hợp tác xã là các Quỹ tín dụng nhân dân (PC s)

và các tổ chức tài chính tư nhân khác đã được thành lập, đến nay các tổ chức này không chiếm được vai trò đáng kể về tài chính nông thôn Thực tế này hạn chế tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng chính thức ở khu vực nông thôn

và lãi suất cao Thiếu tài sản thế chấp cũng hạn chế tiếp cận tín dụng của các

hộ nông dân quy mô nhỏ Kết quả là, một nửa số hộ gia đình nông thôn vẫn không thể tiếp cận các dịch vụ ngân hàng và tín dụng phi chính thức vẫn là nguồn tín dụng quan trọng nhất ở nông thôn

Thứ tư, thiếu kết cấu hạ tầng ở các khu vực nông thôn Mặc dù Việt

Nam đã có những tiến bộ ấn tượng trong phát triển kết cấu hạ tầng, hiện có hơn 90% dân số nông thôn được tiếp cận với điện và hơn 98,5% tiếp cận các

Trang 32

tuyến đường Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế nhanh đã dẫn đến tắc nghẽn nghiêm trọng về kết cấu hạ tầng Kết cấu hạ tầng nông thôn ở Việt Nam nhìn chung vẫn lạc hậu Hệ thống đường trục chính, đường vận tải còn thiếu Hầu như không có đường sắt, đường cao tốc để phục vụ vận chuyển hàng nông sản xuất khẩu Kết cấu hạ tầng mới thường nằm trong các khu vực đô thị để kết nối các thành phố lớn, sân bay, cảng biển, khu công nghiệp, trong khi kết cấu

hạ tầng nông thôn thường là trong điều kiện nghèo nàn và không được bảo dưỡng đúng mức Việc thực hiện các dự án kết cấu hạ tầng của chính quyền địa phương triển khai chậm, dẫn đến cạnh tranh giữa các địa phương, cản trở

sự phát triển toàn diện về kết cấu hạ tầng và kết quả là các dự án kết cấu hạ tầng bị phân tán, không được sử dụng tối ưu với tỷ lệ sử dụng thấp

Thứ năm, việc sử dụng quá nhiều phân bón, nhất là phân đạm trong

trồng trọt dẫn đến thừa nitrat (NO3) và gây nguy hại đến sức khỏe người tiêu dùng Việt Nam có khoảng 26 triệu ha đất nông nghiệp với nhu cầu sử dụng phân bón trung bình mỗi năm khoảng 10 triệu tấn, trong đó gần 20% phân đạm Để nâng cao năng suất cây trồng, nông dân đã tăng lượng phân bón gấp 2-3 lần, thậm chí là 5-7 lần so với nhu cầu, dẫn đến dư thừa lượng nitrat trong rau củ quả Theo Tổ chức Lương thực và nông nghiệp Liên hợp quốc, cây trồng chỉ sử dụng khoảng 40-50% số phân bón, còn lại bị rửa trôi hoặc tồn tại trên các bộ phận của cây Tập quán lãng phí và bữa bãi trong việc sử dụng đạm hóa chất khiến dư thừa nitrat và khi vượt ngưỡng nó sẽ biến thành nitrit gây nguy hại cho con người Nitrat là một trong bốn yếu tố khiến rau không

an toàn, cùng với kim loại nặng, thuốc bảo vệ thực vật và vi sinh vật Khi làm lượng chất nitrat vượt quá ngưỡng an toàn thì chúng được xem như độc chất, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người sử dụng, gây ra nhiều căn bệnh nguy hiểm

Trang 33

Thứ sáu, biến đổi khí hậu và tình trạng ô nhiễm đất nông nghiệp Mức

độ biến đổi khí hậu những năm gần đây xảy ra nhanh, xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long ngày càng diễn biến phức tạp Thời tiết khí hậu nóng bức ở miền Bắc không thuận lợi cho cây lúa phát triển Đặc biệt, dịch bệnh xảy ra đối với gia súc, gia cầm có thể lây nhiễm sang người Việc bảo vệ, ngăn chặn ngày càng khó khăn do nảy sinh thêm những chủng loại mới; Sản xuất nông nghiệp Việt Nam trong thời gian dài đã sử dụng quá nhiều phân hóa học làm cho độ phì đất suy giảm, một khối lượng lớn về đạm, lân đã bị rửa trôi, nước bị ô nhiễm hữu cơ, hàm lượng nitrat, nitrit tăng mạnh đã làm cho môi trường nước, đất giảm chất lượng và ngày càng xấu đi Việc sử dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và các chất kích thích sinh trưởng một cách tùy tiện đã có dấu hiệu vượt quá giới hạn cho phép của môi trường sinh thái, dẫn đến thoái hóa đất, ô nhiễm nguồn nước và gây hại đến sức khoẻ con người

Tăng trưởng nông nghiệp của Việt Nam thời gian qua chủ yếu dựa trên thâm dụng tài nguyên thiên nhiên Điều này gây tác động xấu đến môi trường, làm tăng mức độ ô nhiễm và suy yếu nguồn tài nguyên thiên nhiên (rừng đước ven biển, tài nguyên nước ngầm ở Tây nguyên, nguồn lợi hải sản ven

bờ, đa dạng sinh học ) Môi trường ở nông thôn chưa được quản lý tốt Ô nhiễm nước thải, khí thải ở các khu công nghiệp, làng nghề đang trực tiếp làm suy thoái môi trường, gây nguy hiểm cho sinh kế bền vững của người dân và cạn kiệt nguồn lợi thủy sản

Những hạn chế trong phát triển nông nghiệp Việt Nam là do những nguyên nhân cơ bản sau:

Một là, cơ chế chính sách phát triển nông nghiệp chưa rõ ràng, thiếu tính đột phá Chính sách tín dụng đối với nông nghiệp nông thôn cần làm rõ

vai trò trung tâm trong chuỗi giá trị của doanh nghiệp để áp dụng các phương

Trang 34

thức cho vay và cung ứng sản phẩm dịch vụ tài chính phù hợp Cho vay nông nghiệp không nhất thiết ngân hàng phải đưa vốn trực tiếp cho nông dân mà có thể thông qua doanh nghiệp ứng trước vật tư hàng hóa đầu vào, sau đó sẽ khấu trừ khi thu mua sản phẩm Cần có chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp đối với diện tích đất cho xây dựng kết cấu hạ tầng chế biến nông nghiệp như đất cho phơi sấy, đất xây dựng cơ sở chế biển, đất kho chứa Xây dựng và hoàn thiện các chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu,

áp dụng khoa học công nghệ trong chọn tạo giống, bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ cho các doanh nghiệp chọn tạo giống

Hai là, môi trường kinh doanh nông nghiệp không hấp dẫn Theo Báo

cáo của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam có điểm số thấp về điều kiện quản lý, kinh doanh nông nghiệp Môi trường kinh doanh giống cây trồng của Việt Nam ở mức 62,5/100 điểm, thấp hơn cả Campuchia, Bangladesh và Philippines Thời gian đăng ký cấp giấy phép kinh doanh giống nông nghiệp mới ở Việt Nam lên tới 901 ngày so với Philippines (571 ngày) và Myanmar (306 ngày) Môi trường kinh doanh máy móc nông nghiệp chỉ đạt 24,4/100 điểm (hơn Lào và Myanmar) Thủ tục và quy định cho phép hưởng ưu đãi về thuế, phí còn nhiều bất cập Xuất khẩu nông sản của Việt Nam vẫn chủ yếu dưới dạng thô Vì vậy, cần xây dựng mô hình mẫu, đầu tư vào khu vực, sản phẩm cụ thể để tạo nên sản phẩm, giá trị của Việt Nam

Ba là, đầu tư từ ngân sách nhà nước và các thành phần kinh tế vào nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển Để thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn, điều kiện tiên

quyết là tạo vốn cho nông nghiệp và khơi thông dòng tín dụng nông nghiệp Mặc dù, dòng tín dụng nông nghiệp tăng trong thời gian qua, nhưng do năng lực sản xuất của lĩnh vực này vẫn còn rất lớn nên chính sách tín dụng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu và chưa phát huy được hiệu quả như mong đợi

Trang 35

Để tín dụng nông nghiệp, nông thôn được khơi thông cần có điều kiện cần và điều kiện đủ Điều kiện cần, đó là: Đơn giản hóa thủ tục vay vốn để nông dân không mất nhiều thời gian làm thủ tục tín dụng Điều chỉnh linh hoạt điều kiện cho vay phù hợp với điều kiện sản xuất nông nghiệp, cải thiện điều kiện tiếp cận vốn (bao gồm cả điều kiện về tài sản thế chấp) Mở rộng gói tín dụng cho vay theo vụ cây trồng, cho vay tiêu dùng đối với hộ nông dân Điều kiện

đủ, bao gồm nghiên cứu cơ chế bảo lãnh tín dụng cho nông dân một cách đơn giản, rõ ràng thay vì phải cầm cố hay giao nộp sổ đỏ Hỗ trợ mua bảo hiểm rủi

ro trong nông nghiệp cho nông dân, bảo hiểm lãi suất cho vay đối với một số sản phẩm… Nhờ vậy, rủi ro trong hoạt động đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn sẽ giảm, thúc đẩy các ngân hàng mạnh dạn hơn trong đầu tư vốn vào lĩnh vực nông nghiệp

Bốn là, công tác quy hoạch kết cấu hạ tầng cho các vùng sản xuất nông nghiệp chưa đầy đủ Quy hoạch kết cấu hạ tầng nông thôn chưa bảo đảm cho

nhu cầu phát triển, cơ giới hóa, hiện đại hóa (quy mô đồng ruộng, giao thông nội đồng); Kết cấu hạ tầng nông thôn còn nhiều yếu kém, chưa tạo điều kiện ứng dụng máy móc trong sản xuất Bên cạnh đó, thu nhập từ sản xuất nông nghiệp thấp, vốn tích lũy bình quân một hộ nông thôn 16,8 triệu đồng (2011)

và rất bấp bênh Vì vậy, khả năng tích lũy để đầu tư, mua sắm máy móc, trang thiết bị sản xuất của nông dân gặp nhiều khó khăn; công tác tổ chức chỉ đạo thực hiện và quản lý nông nghiệp của nhà nước còn chưa hiệu quả; triển khai thực hiện các chính sách còn hạn chế

Trong xu thế hội nhập quốc tế và biến đổi khí hậu cũng như với đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội đặc thù thì đẩy mạnh phát triển nông nghiệp là một hướng phát triển phù hợp tại Việt Nam Để phát triển nông nghiệp có lợi thế cạnh tranh nhằm phát triển bền vững cần định hướng cần đẩy mạnh phát triển nông nghiệp công nghệ cao và xây dựng thương hiệu nông sản Chính

Trang 36

hai định hướng cơ bản này sẽ nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp và tạo lợi thế cạnh tranh cho nông sản nhằm góp phần nâng cao doanh thu trong sản xuất nông nghiệp và mức thu nhập cho nông dân

Theo tác giả Tô Duy Hợp [22] khu vực “tam nông” ở Việt Nam đang đứng trước những mâu thuẫn sau: (1) Khoảng cách giàu-nghèo và bất bình đẳng xã hội gia tăng; (2) Tình trạng thiếu việc làm gia tăng; (3) Tình trạng di dân tự phát gia tăng mạnh; (4) Tình trạng dân trí và quan trí thấp kém; (5) Tình trạng dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe yếu kém; (6) Đời sống văn hoá có nhiều biểu hiện tiêu cực, xuống cấp; (7) Tình trạng xung đột xã hội có chiều hướng gia tăng; (8) Năng lực quản lý xã hội thấp kém; (9) Kết cấu hạ tầng thấp kém; (10) Môi trường bị ô nhiễm và suy thoái đến mức báo động

Đứng trước thực trạng nói trên, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết về phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống của người nông dân

Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định

mục tiêu xây dựng nông thôn mới là: “Xâ d ng nông thôn mới ngà càng giàu đẹp dân chủ công bằng văn minh có cơ cấu kinh tế h p lý quan h sản xuất phù h p kết cấu hạ tầng kinh tế - xã h i ph t triển ngà càng

hi n đại” [15]

Quán triệt Nghị quyết Đại hội X, Hội nghị Trung ương lần thứ bảy (khóa X) ra Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 đã nêu một cách toàn diện quan điểm của Đảng ta về xây dựng nông thôn mới [1] Nghị quyết khẳng định nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vai trò to lớn, có vị trí quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Chính vì vậy các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng

bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nông nghiệp, nông thôn nước ta còn là khu vực giàu tiềm năng cần khai thác một cách có

Trang 37

hiệu quả Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn không phải chỉ là nhiệm vụ của nông dân, ở khu vực nông thôn mà là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội Xây dựng nông thôn mới là xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại ở nông thôn; xây dựng cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh; Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân

cư nông thôn, hài hoà giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới

Nghị quyết số 26-NQ/TW (khóa X) đã đặt ra yêu cầu cần phải tiếp tục xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn tạo nền tảng kinh

tế - xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 đã nêu một cách tổng quát về mục tiêu, nhiệm vụ cũng như phương thức tiến hành quá trình xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay, phù hợp với điều kiện thực tiễn phát triển của đất nước Quan điểm đó của Đảng là sự kế thừa và phát huy những bài học kinh nghiệm lịch

sử về phát huy sức mạnh toàn dân, huy động mọi nguồn lực để tạo ra sức mạnh tổng hợp xây dựng nông thôn mới Về mục tiêu cụ thể, Nghị quyết xác định, đến năm 2015: 20% số xã đạt chuẩn nông thôn mới và đến năm 2020,: 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới trên tổng số 9.121 xã của cả nước theo 19

Trang 38

tiêu chí được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg, ngày 16-4-2009

Thực hiện đường lối của Đảng, ngày 28/10/2008, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ban hành một chương trình hành động của Chính phủ về xây dựng nông nghiệp, nông dân và nông thôn, thống nhất nhận thức, hành động về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Trên cơ sở bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới gồm 5 nhóm nội dung (nhóm quy hoạch, nhóm hạ tầng kinh tế - xã hội, nhóm kinh tế và tổ chức sản xuất, nhóm văn hóa - xã hội - môi trường, nhóm hệ thống chính trị), Chính phủ đã ban hành Quyết định 800 QĐ-TTg, ngày 04-6-2010 về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 [36], nêu rõ 19 tiêu chí và 7 nhóm giải pháp Có thể nói, Chương trình xây dựng nông thôn mới là một chương trình trọng tâm, xuyên suốt của Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; là chương trình khung, tổng thể phát triển nông thôn với 11 nội dung lớn, tổng hợp của 16 chương trình mục tiêu quốc gia và

14 chương trình hỗ trợ có mục tiêu đang triển khai ở địa bàn nông thôn trên phạm vi cả nước Xây dựng nông thôn mới thực chất là chương trình do nhân dân lựa chọn, đóng góp công sức thực hiện và trực tiếp hưởng lợi Chương trình xây dựng nông thôn mới có ý nghĩa rất lớn cả về kinh tế - chính trị - xã hội vì nó mang lại lợi ích thiết thân cho cư dân nông thôn (chiếm khoảng 70% dân số cả nước), thông qua đó, chương trình sẽ điều hòa lợi ích, thành quả công cuộc đổi mới cho người dân khu vực nông thôn Ngay trong những năm đầu triển khai, Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới đã nhanh chóng trở thành phong trào của cả nước Nhiệm vụ về xây dựng nông thôn mới được xác định rõ trong nghị quyết đại hội Đảng các cấp từ tỉnh đến huyện và xã Ban Bí thư Trung ương khóa X đã trực tiếp chỉ đạo Chương trình thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới cấp xã tại 11 xã điểm ở 11

Trang 39

tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng, miền Bộ máy quản lý và điều hành Chương trình xây dựng nông thôn mới đã được hình thành từ Trung ương xuống địa phương Các bộ, ngành đã ban hành 25 loại văn bản hướng dẫn địa phương về tổ chức bộ máy quản lý, điều hành, quy hoạch nông thôn mới Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã triển khai cuộc vận động

“Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư gắn với xây dựng nông

thôn mới” Ngày 08-6-2011, Thủ tướng Chính phủ đã chính thức phát động

thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”

Nội dung chính của Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là: xây dựng, tổ chức cuộc sống của dân cư nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại, giữ gìn bản sắc văn hóa và môi trường sinh thái gắn với phát triển đô thị, thị trấn, thị tứ

Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là chương trình mang tính tổng hợp, sâu, rộng, có nội dung toàn diện; bao gồm tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, an ninh - quốc phòng Mục tiêu chung của chương trình được Đảng ta xác định là: xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa

xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) Đảng ta khẳng định xây dựng nông thôn mới là một nhiệm vụ quan trọng trong định hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng đã nêu rõ phương hướng, nhiệm vụ của xây dựng nông thôn mới đến năm 2020 là: Tiếp tục triển

Trang 40

khai chương trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn, giữ gìn và phát huy nét văn hóa bản sắc của nông thôn Việt Nam

Thực hiện đường lối của Đảng, trong thời gian qua, phong trào xây dựng nông thôn mới đã diễn ra sôi nổi ở khắp các địa phương trên cả nước, thu hút sự tham gia của cả cộng đồng, phát huy được sức mạnh của cả xã hội Quá trình xây dựng nông thôn mới đã đạt được thành tựu khá toàn diện Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cơ bản đảm bảo, tạo sự thuận lợi trong giao lưu buôn bán và phát triển sản xuât; Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề, đã xuất hiện nhiều mô hình kinh tế có hiệu quả gắn với xây dựng nông thôn mới, nâng cao thu nhập và đời sống vật chất tinh thần cho người dân; Hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng cường; Dân chủ cơ sở được phát huy; An ninh chính trị, trật tự an toàn

xã hội được giữ vững; Vị thế của giai cấp nông dân ngày càng được nâng cao Những thành tựu đó đã góp phần thay đổi toàn diện bộ mặt nông thôn, tạo cơ

sở vững chắc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân

Trong những năm qua, quá trình xây dựng nông thôn mới còn bộc lộ nhiều khó khăn hạn chế, nhất là về công tác quy hoạch Quy hoạch nông thôn mới là một vấn đề mới, liên quan đến nhiều lĩnh vực và phải mang tính chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Đội ngũ cán bộ còn nhiều hạn chế về năng lực, nên trong quá trình triển khai còn nhiều lúng túng Bên cạnh đó chúng ta còn gặp khó khăn về huy động nguồn vốn cho xây dựng nông thôn mới Đời sống của người dân nông thôn còn nhiều khó khăn Mặt khác, trong nhận thức nhiều người còn cho rằng xây dựng nông thôn mới là dự án do nhà nước đầu

tư xây dựng nên còn có tâm lí trông chờ, ỷ lại Chính vì vậy trong thời gian tới bên cạnh việc đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, chúng ta cần phải đẩy mạnh công tác giáo dục tuyên truyền chủ trương đường lối của

Ngày đăng: 06/06/2017, 13:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy An Giang (2015), “Xây dựng nông thôn mới ở An Giang nhìn từ góc độ điều tra xã hội học” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nông thôn mới ở An Giang nhìn từ góc độ điều tra xã hội học
Tác giả: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy An Giang
Năm: 2015
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), Giáo trình triết học Mác - Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác - Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), Giáo trình kinh tế chính trị, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế chính trị
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Giáo trình triết học, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2007
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
8. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2010), Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới, Nhà xuất bản Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động
Năm: 2010
13. Tô Xuân Dân, Lê Văn Viện, Đỗ Trọng Hùng (đồng chủ biên) (2013), Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam: Tầm nhìn mới, tổ chức quản lý mới, bước đi mới, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam: Tầm nhìn mới, tổ chức quản lý mới, bước đi mới
Tác giả: Tô Xuân Dân, Lê Văn Viện, Đỗ Trọng Hùng (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2013
14. Phạm Ngọc Dũng (2011), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ lý luận đến thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ lý luận đến thực tiễn ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Phạm Ngọc Dũng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Sự thật
Năm: 2011
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
19. Trần Đức Hiến (2004), “Về mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng”, Tạp chí triết học, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng”, "Tạp chí triết học
Tác giả: Trần Đức Hiến
Năm: 2004
20. Nguyễn Thị Hiền (2008), Lý luận về mâu thuẫn và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Trường Đại học khoa học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận về mâu thuẫn và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Năm: 2008
21. Hội Khoa học Lịch sử tỉnh An Giang (2015), An Giang 40 năm xây dựng và phát triển, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Giang 40 năm xây dựng và phát triển
Tác giả: Hội Khoa học Lịch sử tỉnh An Giang
Năm: 2015
22. Tô Duy Hợp (2007), “Một số vấn đề xã hội nan giải trong quá trình đổi mới tam nông Việt Nam”, Xã hội học, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề xã hội nan giải trong quá trình đổi mới tam nông Việt Nam”, "Xã hội học
Tác giả: Tô Duy Hợp
Năm: 2007
23. Lê Mạnh Hùng (chủ biên) (1998), Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Tác giả: Lê Mạnh Hùng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 1998
24. Nguyễn Tấn Hùng (2006), Mâu thuẫn-một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mâu thuẫn-một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Tấn Hùng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2006
25. Nguyễn Thị Thanh Huyền (2016), “Hiệu quả của phong trào cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, Tạp chí Khoa học thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả của phong trào cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Huyền
Năm: 2016
26. Nguyễn Văn Nòn (2015), Vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong thực hiện chính sách tam nông ở An Giang hiện nay, Luận văn thạc sĩ triết học, Trường Đại học KHXH&NV TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong thực hiện chính sách tam nông ở An Giang hiện nay
Tác giả: Nguyễn Văn Nòn
Năm: 2015
27. GS.TS Phạm Ngọc Quang (2001), Về mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và cách giải quyết trên con đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và cách giải quyết trên con đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Tác giả: GS.TS Phạm Ngọc Quang
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
28. Nguyễn Thái Sơn (2002), Quy luật mâu thuẫn trong lịch sử triết học và sự vận dụng vào công tác tuyên truyền ở Thừa Thiên Huế, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Trường Đại học khoa học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy luật mâu thuẫn trong lịch sử triết học và sự vận dụng vào công tác tuyên truyền ở Thừa Thiên Huế
Tác giả: Nguyễn Thái Sơn
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Tổng nguồn vốn huy động thực hiện chương trình MTQG  xây  dựng  nông  thôn  mới  giai  đoạn  2011  -  2015   Nguồn:  Báo  cáo  của - Vận dụng quy luật mâu thuẫn trong việc xây dựng nông thôn mới ở tỉnh an giang
Bảng 2 Tổng nguồn vốn huy động thực hiện chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2015 Nguồn: Báo cáo của (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w