Hồ Chí Minh không những nắm lấy cái tinh thần, phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, hòa quyện với tinh hoa biện chứng phương Đông vào thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam để
Trang 1
DƯƠNG VĂN LĨNH
TƯ DUY BIỆN CHỨNG HỒ CHÍ MINH
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC DÂN VẬN
Ở TỈNH SƠN LA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2- -
DƯƠNG VĂN LĨNH
TƯ DUY BIỆN CHỨNG HỒ CHÍ MINH
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC DÂN VẬN
Ở TỈNH SƠN LA HIỆN NAY
Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60.22.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ VĂN ĐOÁN
HÀ NỘI - 2017
Trang 3Tôi xin cam đoàn rằng, luận văn thạc sĩ Triết học với đề tài “Tư duy biện chứng Hồ Chí Minh và ý nghĩa của nó đối với công tác dân vận ở tỉnh Sơn La hiện nay” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng
dẫn của PGS TS Lê Văn Đoán
Các số liệu, trích dẫn và tài liệu tham khảo trong luận văn là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn
Dương Văn Lĩnh
Trang 4Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TS Lê Văn Đoán
- Người thầy đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Đồng thời, em gửi lời cảm ơn đến Ban chủ nhiệm khoa Triết học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Cảm ơn gia đình, cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và Ủy Ban nhân dân, Ban Dân vận tỉnh Sơn La đã luôn giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt thời gian qua để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn
Dương Văn Lĩnh
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích nghiên cứu 8
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 8
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
7 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu 9
8 Phương pháp nghiên cứu 9
9 Cấu trúc của luận văn 9
10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn 9
Chương 1: TƯ DUY BIỆN CHỨNG HỒ CHÍ MINH 11
1.1 Một số khái niệm cơ bản 11
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành tư duy biện chứng Hồ Chí Minh 14
1.2.1 Truyền thống cách mạng Việt Nam 14
1.2.2 Bản thân Hồ Chí Minh và quá trình tìm đường cứu nước 17
1.2.3 Sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin 30
1.3 Những nội dung cơ bản trong tư duy biện chứng Hồ Chí Minh 33
1.3.1 Đảm bảo nguyên tắc thống nhất của lý luận và thực tiễn 33
1.3.2 Phát hiện và giải quyết mâu thuẫn 36
1.3.3 Tư tưởng Dĩ bất biến, ứng vạn biến 42
1.3.4 Sự thống nhất biện chứng giữa dân tộc và giai cấp 45
1.3.5 Tư tưởng “lấy dân làm gốc” 48
Trang 62.1 Thực trạng vận dụng tư duy biện chứng Hồ Chí Minh đối với
công tác dân vận ở tỉnh Sơn La hiện nay 55
2.1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến vận dụng tư duy biện chứng Hồ Chí Minh vào công tác dân vận đối với tỉnh Sơn La hiện nay 55
2.1.2 Những thành quả và hạn chế của việc vận dụng tư duy biện chứng Hồ Chí Minh vào công tác dân vận ở tỉnh Sơn La hiện nay 63
2.2 Những giải pháp cơ bản trong vận dụng tư duy biện chứng Hồ Chí Minh đối với công tác dân vận ở tỉnh Sơn La hiện nay 88
2.2.1 Nhóm giải pháp về kinh tế 88
2.2.2 Nhóm giải pháp về chính trị - xã hội 95
2.2.3 Nhóm giải pháp về văn hóa - giáo dục 110
KẾT LUẬN 117
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Yêu nước, thương dân, cả cuộc đời người đấu tranh không mệt mỏi vì tự do hạnh phúc của nhân dân Người có một hệ thống quan điểm toàn diện và phong phú về cách mạng Việt Nam Những tinh hoa ưu tú nhất của lịch sử tư tưởng dân tộc, thời đại và nhân loại được trí tuệ, nhân cách Hồ Chí Minh làm cho thăng hoa, trở thành giá trị văn hóa Việt Nam hiện đại Hồ Chí Minh không những nắm lấy cái tinh thần, phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, hòa quyện với tinh hoa biện chứng phương Đông vào thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam để phát hiện, giải quyết những vấn đề của lịch sử cách mạng Việt Nam một cách đúng đắn, sáng tạo mà còn bổ sung mới, phát triển và làm phong phú hơn chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại mới để tạo nên cái riêng trong tư tưởng biện chứng của mình
Trong đó quan điểm nổi bật nhất là tinh thần yêu nước, độc lập dân tộc
kết hợp giải phóng giai cấp mà cốt lõi là tinh thần đoàn kết dân tộc “Sự
nghiệp cách mạng là sự nghiệp của đông đảo quần chúng nhân dân và chỉ có thể thực hiện được bằng sức mạnh của khối thống nhất toàn dân…” Trong
tinh thần đoàn kết, công tác vận động quần chúng nhân dân đoàn kết, thống nhất, chung sức một lòng thực hiện cách mạng, điều đó thể hiện rõ nhất sự phát triển tổng hợp của tư duy biện chứng, khoa học chính trị, nghệ thuật, tinh
tế và sâu sắc bởi nó chứa đựng những tinh hoa của lịch sử tư tưởng biện chứng nhân loại nhưng không hề bị gò bó, máy móc mà Người vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo trong mọi hoàn cảnh cụ thể, ở mọi lĩnh vực và ngày càng phổ biến hơn trong quá trình cùng nhân dân thực hiện chèo lái con
thuyền cách mạng Việt Nam
Trang 8Trong hoàn cảnh kháng chiến công tác vâ ̣n đô ̣ng quần chúng để đoàn kết dân tộc là vấn đề cấp bách, còn trong sự phát triển lâu dài của cách mạng, đây là vấn đề mang tính chiến lược
Đảng ta xác định: “Dân vận và công tác dân vận là nhiệm vụ có ý
nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nước ta; là điều kiện quan trọng đảm bảo có sự lãnh đạo của Đảng và củng cố, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân”
Bước vào công cuộc đổi mới, bên cạnh những thành tựu đạt được trong lĩnh vực vận động quần chúng của Đảng Song cũng bộc lộ những khuyết điểm hạn chế Tại Hội nghị triển khai chương trình hành động thực hiện nghị quyết Đại hội XII (27/5/2016) của Đảng về công tác dân vận Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Đảng ta và Bác Hồ luôn xác định dân vận và công
tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta…”
“Bên cạnh những thành tích, tiến bộ công tác dân vận cũng còn những mặt hạn chế, yếu kém mà Đại hội XII đã chỉ ra Đó là: Việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận quyết định của Đảng về công tác dân vận hiệu quả chưa cao; chưa đánh giá, dự báo kịp thời những diễn biến tư tưởng nhân dân; chậm đổi mới nội dung, phương thức vận động, tập hợp quần chúng trong tình hình mới…”
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò của công tác dân vận trong xây dựng Đảng, củng cố chính quyền Tác giả nhận thấy tư duy biện chứng của Người trong giai đoạn hiện nay còn giữ nguyên giá trị to lớn đố i
vớ i sự nghiê ̣p cách ma ̣ng nước ta nói chung và Sơn La nói riêng “Củng cố
niềm tin của nhân dân đối với Đảng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân; tập hợp, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ chương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà
Trang 9nước; phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, tạo thành phong trào cách mạng rộng lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Sơn La là tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam, tỉnh có diện tích 14.125 km² chiếm 4,27% tổng diện tích Việt Nam, đứng thứ 3 trong số 63 tỉnh/thành phố.; là nơi cùng sinh sống của 12 dân tộc thiểu với gần 1,2 triê ̣u dân Việc phát triển bền vững kinh tế - xã hội, chính trị - tư tưởng, văn hóa - giáo dục và quốc phòng - an ninh ở tỉnh Sơn La có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển chung của cả nước Tuy nhiên, trong những năm qua, cùng với các tỉnh của Tây Nam Bộ, Tây Nguyên thì Sơn La thuộc vùng Tây Bắc cũng là điểm nóng về bất ổn kinh tế - xã hội, chính trị - tư tưởng, văn hóa - xã hội,… cần được Đảng, Nhà nước đặc biệt là các cấp ủy Đảng thuộc tỉnh Sơn La quan tâm sâu sắc hơn nữa Chính những lý do đó đã thôi thúc tác giả chọn đề tài
“Tư duy biện chứng Hồ Chí Minh và ý nghĩa của nó đối với công tác dân vận ở tỉnh Sơn La hiện nay” để làm luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Triết học của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Việc nghiên cứu tư tưởng triết học và công tác dân vận đã được nhiều nhà khoa học đề xuất về hướng nghiên cứu và nội dung nghiên cứu nên cũng
đã có một số công trình như sau:
Thứ nhất, Nhóm các công trình về Phương pháp và phong cách của Hồ Chí Minh
Tiêu biểu nhất là cuốn Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh - GS
Đặng Xuân Kỳ chủ biên, Nxb Lý luận chính trị, 2004 Tác giả đã trình bày một cách có hệ thống các lý luận về phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh và phân tích khá cặn kẽ nội dung, ý nghĩa của phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh Tuy nhiên, tác giả chưa chỉ ra và phân tích rõ tính biện chứng trong các phương pháp cách mạng trên Đây là một trong số những tài liệu đầu tiên nghiên
Trang 10cứu về phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh từ đó mở đường và đưa việc nghiên cứu phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh lên tầm cao mới
Cuốn sách thứ hai cũng liên quan đến đề tài này là cuốn Tìm hiểu
phương pháp Hồ Chí Minh của GS.TS Hoàng Chí Bảo, Nxb Lý luận Chính trị
- Hành Chính, Hà Nội (2011) Cuốn sách là công trình đầy đặn, công phu thể hiện tâm huyết của một nhà khoa học đã có sự thấu hiểu sâu sắc về con người
và phương pháp Hồ Chí Minh Từ những quan điểm mang tính chất gợi mở, GS.TS Hoàng Chí Bảo đã chỉ ra sự hình thành phương pháp Hồ Chí Minh, bước đầu nêu ra và phân tích những đặc điểm chủ yếu của phương pháp Hồ Chí Minh, từ đó bước đầu vận dụng vào tìm hiểu tư tưởng triết học Hồ Chí Minh chứ chưa đi vào tìm hiểu và phân tích tính biện chứng trong các phương pháp cách mạng Về cơ bản, cuốn sách đã trình bày một cách có hệ thống phương pháp Hồ Chí Minh và bước đầu gợi mở cho các nhà nghiên cứu về phương pháp Hồ Chí Minh sau này
Thứ hai, Nhóm các công trình nghiên cứu về tư tưởng và tư tưởng triết học Hồ Chí Minh
Các cuốn sách tiêu biểu là Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh của Viện
Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1993, tập 3; Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh do Lê
Hữu Nghĩa (Chủ biên), Nxb Lao Động, Hà Nội, 2000; Góp phần tìm hiểu tư
duy đặc sắc tư duy triết học Hồ Chí Minh của tác giả Hồ Kiếm Việt, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; Hồ Chí Minh học và minh triết Hồ Chí
Minh của tác giả Bùi Đình Phong, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008; Hồ Chí Minh, nhà cách mạng sáng tạo của Mạch Quang Thắng, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2009; Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh của Phạm Ngọc Anh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010; và tiêu biểu nhất là cuốn Hồ Chí
Minh nhà tư tưởng thiên tài của GS Trần Nhâm, Nxb Lý luận Chính trị quốc
gia, Hà Nội (2011)
Trang 11Các công trình trên đã mở rộng nghiên cứu tư tưởng triết học Hồ Chí Minh trên các vấn đề chiến lược và sách lược cách mạng Nắm rõ tình hình thực tiễn của thế giới và Việt Nam những năm 1930, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã khởi thảo và chỉ rõ con đường tiến lên của cách mạng Việt Nam trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” Tầm cao về tư duy chiến lược của Hồ Chí Minh và Đảng ta chính là tầm nhìn bao quát, hiểu được bản chất ẩn náu bên trong những vấn đề cơ bản đề từ đó đề ra các tập hợp lực lượng, chiến lược cách mạng, chuyển hướng chiến lược hợp
lý Đặc biệt chiến lược xuyên suốt trong quá trình kết hợp độc lập dân tộc và giai cấp để đi lên con đường chủ nghĩa xã hội, nổi lên trong hệ thống tư tưởng
Hồ Chí Minh là tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc Sự thiên tài trong tư tưởng
Hồ Chí Minh - vấn đề được tác giả xem như là trung tâm phân tích trong tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh được thể hiện rõ trong tư duy mới về Đảng cầm quyền, quần chứng nhân dân Theo Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước và nhân dân có mối liên hệ chặt chẽ, không thể tách rời Xây dựng Đảng ta thành một đảng trí tuệ, một đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân Điểm mới cuốn sách “Hồ Chí Minh nhà tư tưởng thiên tài” là đi sâu làm rõ tư tưởng triết học và nhận thức luận Hồ Chí Minh Mặc dù Hồ Chí Minh không đi sâu vào tìm hiểu các vấn
đề triết học nhưng không thể nói rằng toàn bộ hệ thống tư tưởng, lý luận của Người không mang dấu ấn của quan điểm duy vật triệt để trong triết học Đặc điểm nổi bật của tư duy biện chứng Hồ Chí Minh là triết học thực tiễn và nhân sinh, triết học giải phóng và phát triển
Hệ thống tư tưởng triết học Hồ Chí Minh không chỉ làm nổi bật phép biện chứng được hình thành một cách tự nhiên, sáng tạo từ nhiều nguồn, nhiều hướng, nhiều cơ sở khác nhau mà còn nhấn mạnh nhận thức luận của
Trang 12Người qua quá trình thực tiễn hóa lý luận và lý luận hóa thực tiễn “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không
có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”
Thứ ba, Nhóm các công trình nghiên cứu về công tác dân vận
- Tác phẩm tiêu biểu nhất “Dân vận” của chính trực tiếp Hồ Chí Minh viết
được in trong Bộ Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, Hà Nội 2011, tr.232
Về hình thức: Đây là một bài viết rất ngắn gọn, từ đầu đề (chỉ vỏn vẹn
2 từ), đến dung lượng (chỉ có 573 từ); được diễn đạt bằng ngôn ngữ giản dị, gần gũi với quần chúng; văn phong súc tích, có tính khái quát cao
Về nội dung: Giản dị, ngắn gọn mà không hề sơ lược Tác phẩm “Dân vận” đã gói ghém một cách đầy đủ và sâu sắc những quan điểm, tư duy của
Hồ Chí Minh về công tác này
Về tầm quan trọng của công tác dân vận: Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng: “Dân vận kém thì việc gì cũng kém Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”
Về mục đích của công tác dân vận: Cái đích chung và cao nhất của sự nghiệp cách mạng mà Đảng ta và Hồ Chí Minh chủ trương trước sau vẫn là
“từ dân, vì dân, cho dân”
Về bản chất của công tác dân vận: Theo Hồ Chí Minh, thực chất hay bản chất của công tác dân vận, chính là nhằm “vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và đoàn thể đã giao cho ”
Về lực lượng làm công tác dân vận: Chỉ rõ tất cả mọi lực lượng, mọi người ai cũng là người làm công tác dân vận
Về cách thức, phương pháp làm công tác dân vận: Óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, miệng nói, tay làm, chân đi
+ Tác phẩm Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân của Đỗ Mười trong bài phát biểu tại hội thảo tư tưởng dân vận của
Trang 13Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên tạp chí dân vận số 12-1993, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật 2014
+ Tiêu biểu là cuốn sách Chủ tịch Hồ Chí Minh và con đường cách
mạng Việt Nam của Trường Chinh, Nxb Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1991 và
cuốn sách Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam của Võ
Nguyên Giáp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000
- Ngoài ra còn có một số luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ:
+ Lương Văn Kham, Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh trong cách
mạng giải phóng dân tộc Việt Nam, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
Hà Nội, 2001
+ Nguyễn Đức Đạt, Một số quan điểm biện chứng trong tư tưởng Hồ
Chí Minh, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội, 2002
+ Trần Thị Liên, Tư tưởng “Thân dân” trong triết học phương đông và
ý nghĩa của nó đối với công tác dân vận ở thành phố Hải Phòng hiện nay,
Luận văn thạc sĩ Triết học, Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội, 2015
+ Lâm Thị thu Việt, Tư tưởng biện chứng của Hồ Chí Minh trong
phương pháp cách mạng và ý nghĩa của nó đối với việc giữ gìn sự ổn định chính trị - xã hội ở Đắk Lắk hiện nay, Luận văn thạc sĩ Triết học, Trường Đại
lần thứ 2 năm 2000 tác phẩm “Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh”: Riêng về tư
duy biện chứng Hồ Chí Minh thì hầu như rất ít người nghiên cứu, đề tài này hầu như còn mới mẻ sơ khai” Vì vậy, việc nghiên cứu tư tưởng triết học Hồ Chí Minh cũng như Tư duy biện chứng Hồ Chí Minh chưa có điều kiện đề cập một cách có hệ thống và phân tích cặn kẽ đến những nội dung của những vấn đề đó
Trang 143 Mục đích nghiên cứu
Một là, trên cơ sở nghiên cứu tư duy biện chứng của Hồ Chí Minh, tác giả
hệ thống hóa, khái quát hóa những quan điểm, tư tưởng biện chứng của Người
Hai là, đưa ra những giải pháp định hướng nhằm nâng cao hiệu quả vận
dụng tư duy biện chứng Hồ Chí Minh trong công tác dân vận ở tỉnh Sơn La hiện nay
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Tư tưởng Hồ Chí Minh và công tác dân vận ở tỉnh Sơn La hiện nay
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Tư duy biện chứng của Hồ Chí Minh và vận dụng tư duy biện chứng
Hồ Chí Minh vào công tác dân vận ở tỉnh Sơn La hiện nay
5 Giả thuyết khoa học
- Tư duy biện chứng Hồ Chí Minh đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng, chỉ đạo và đề ra các nhiệm vụ cụ thể cho cách Việt Nam trong từng thời kỳ lịch sử
- Tư duy biện chứng Hồ Chí minh là sự đúc kết những tinh hoa trí tuệ của các nền văn minh phương đông và phương tây trong lịch sử tư tưởng nhân loại
- Nếu chúng ta biết khai thác những giá trị của tư duy biện chứng Hồ Chí Minh và vận dụng chúng một cách linh hoạt vào các lĩnh vực cụ thể của cách mạng Việt Nam thì chắc chắn sẽ góp phần làm sáng tỏ ý nghĩa thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng hiện nay
Cụ thể:
+ Vận dụng tư duy biện chứng của Hồ Chí Minh vào công tác dân vận
là điều kiện cần thiết đối với việc nâng cao hiệu quả công tác dân vận ở tỉnh Sơn La hiện nay
+ Nếu Sơn La thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp về kinh tế, chính trị -
xã hội và văn hóa - giáo dục thì công tác dân vận sẽ đạt được nhiều hiệu quả cao
Trang 156 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát hóa, hệ thống hóa và phân tích nội dung tư duy biện chứng của Hồ Chí Minh
- Làm rõ ý nghĩa của việc vận dụng những tư duy biện chứng đó vào thực tiễn công tác dân vận ở tỉnh Sơn La hiện nay
- Đưa ra một số giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao hiệu quả vận dụng
tư duy biện chứng của Người vào công tác dân vận ở tỉnh Sơn La hiện nay
7 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
Tác giả tập trung phân tích những nội dung chủ yếu của tư duy biện chứng Hồ Chí Minh đồng thời vận dụng chúng vào công tác dân vận ở tỉnh Sơn
La hiện nay
8 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp phân tích - tổng hợp, logic - lịch sử, khái quát hóa, thống kê, so sánh,…
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn gồm 2 chương 5 tiết
10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
10.1 Những luận điểm cơ bản
Một là, tư duy biện chứng của Hồ Chí Minh là sự vận dụng, phát triển
sáng tạo tư tưởng biện chứng phương Đông, phương Tây mà tiêu biểu là tư tưởng biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam
Hai là, tư duy biện chứng Hồ Chí Minh mang tính khoa học, cách
mạng và tính thực tiễn
Ba là, vận dụng tư duy biện chứng Hồ Chí Minh có vai trò, ý nghĩa to
lớn đối với việc vận dụng vào công tác dân vận nói chung và ở tỉnh Sơn La nói riêng hiện nay
Trang 1610.2 Đóng góp mới của luận văn
- Về lý luâ ̣n: Góp phần hệ thống hóa những nội dung cơ bản của tư duy biện chứng Hồ Chí Minh; góp phần bổ sung cho phần lý luận nhằm địa phương hóa quan điểm của Đảng, Hồ Chí Minh vào công tác dân vận ở tỉnh Sơn La
- Về thực tiễn: Xây dựng nhóm các giải pháp vận dụng tư duy biện chứng Hồ Chí Minh vào công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược với cách mạng Việt nam nói chung và ở tỉnh Sơn La nói riêng hiện nay; là tài liệu tham khảo cho các ban ngành trong công tác dân vận và những tác giả nghiên cứu về công tác dân vận
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy tại các cơ sở từ trường Trung học phổ thông đến Đại học ở Tây Bắc
Trang 17Chương 1
TƯ DUY BIỆN CHỨNG HỒ CHÍ MINH
1.1 Một số khái niệm cơ bản
Tư duy:
Theo cuốn Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, Tư duy là sản phẩm cao
nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt - bộ não con người Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lý luận.v.v [91]
Theo triết học duy vật biện chứng, tư duy là một trong các đặc tính của vật chất phát triển đến trình độ tổ chức cao Về lý thuyết, Karl Marx cho rằng:
“Vận động kiểu tư duy chỉ là sự vận động của hiện thực khách quan được di chuyển vào và được cải tạo/tái tạo trong đầu óc con người dưới dạng một sự phản ánh”
Theo M Rozenthan và P Iudin, Từ điển triết học: Tư duy là phạm trù triết
học dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần, đem những cảm giác của người
ta sửa đổi và cải tạo thế giới thông qua hoạt động vật chất, làm cho người ta
có nhận thức đúng đắn về sự vật và ứng xử tích cực với nó [77]
Theo cuốn Tâm lý học đại cương của Nguyễn Quang Uẩn chủ biên thì:
Tư duy là quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết [93]
Biện chứng (hay phương pháp biện chứng, phép biện chứng) là
một phương pháp luận, đây là phương pháp chủ yếu của cả nền triết học
phương Đông và phương Tây trong thời cổ đại Từ biện chứng “Dialectic” có
nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ; phương pháp biện chứng có nền tảng từ những cuộc đối thoại giữa hai hay nhiều người với những ý kiến, tư tưởng khác nhau
Trang 18và cùng mong muốn thuyết phục người khác Nhiều dạng khác nhau của biện chứng nổi lên ở phương Đông và phương Tây theo những thời kỳ lịch sử khác nhau Những trường phái chính theo phương pháp biện chứng là trường phái Socrates, đạo Hindu, đạo Phật, biện chứng Trung cổ, trường phái Hegel và chủ nghĩa Marx
Phép biện chứng là một khoa học triết học, vì vậy nó cũng phát triển từ thấp tới cao Biện chứng là một lý thuyết cho rằng một cái gì đó - cụ thể hơn,
tư duy con người - phát triển theo một cách thức được đặc trưng bởi cái gọi là
ba đoạn biện chứng: Chính đề, Phản đề và Hợp đề
Xét trong toàn bộ lịch sử triết học, thì phép biện chứng luôn chiếm một
vị trí đặc biệt trong đời sống tinh thần xã hội Biện chứng và siêu hình là hai phương pháp tư duy trái ngược nhau trong triết học; hình thức cơ bản của phép biện chứng Phép biện chứng chất phác (tự phát), Phép biện chứng duy tâm và Phép biện Phép biện chứng duy vật:
Phép biện chứng duy vật: được thể hiện trong triết học do C.Mác
và Ăng ghen xây dựng, sau đó được Lênin phát triển C Mác và Ăng ghen đã gạt bỏ tính chất thần bí, kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất
Phép biện chứng duy vật là khoa học nghiên cứu những quy luật chung
về sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy [92, tr.59]
Biện chứng là phương pháp xem xét những sự vật hiện tượng và những
phản ánh của chúng vào tư duy, chủ yếu là trong mối liên hệ qua lại của
chúng, trong sự phát sinh, phát triển và sự tiêu vong của chúng [92, tr.60]
Tư duy biện chứng là quá trình tâm lý được xây dựng trên cơ sở xem xét
các sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ qua lại, tác động lẫn nhau ảnh hưởng,
chi phối vừa thống nhất vừa đấu tranh, luôn vận động và phát triển
Trang 19Tư duy biện chứng Hồ Chí Minh là sản phẩm tổng hợp của sự kế
thừa những tư tưởng biện chứng trong lịch sử nhân loại với việc tổng kết những tính chất biện chứng của cách mạng Việt Nam và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn xã hội Việt Nam
Dân vận là tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục mọi
người dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Dân vận còn có nghĩa là làm gương trước dân
Theo Hồ Chủ tịch, “dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi
người dân, không để sót một người nào, góp thành lực lượng toàn dân để thực hành những công việc nên làm, những công việc mà đoàn thể và Chính phủ đã giao cho” [64]
Công tá c dân vâ ̣n là toàn bộ các hoạt động của Đảng đối với quần
chúng nhằm, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chăm lo cho lợi ích thiết thực của nhân dân, huy động tối đa lực lượng toàn dân thực thắng lợi mục
tiêu, nhiệm vụ cách mạng
- Hồ Chí Minh đưa ra quy trình công tác dân vận:
+ Phải cho dân biết: Quyền làm chủ của nhân dân, đường lối, chính sách
của Đảng, Nhà nước, thông tin thời sự, chính sách, cán bộ lãnh đạo, quản lý mình
+ Giải thích cho dân hiểu: Trước nhất là phải tìm mọi cách giải
thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm
vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được
+ Bày cách cho dân làm: phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh
nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa
phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành Và trong lúc thi hành
phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân
+ Tiến hành kiểm tra, kiểm soát: Khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng
Trang 20Theo Hồ Chí Minh, mục đích có đồng, chí mới đồng, chí có đồng, tâm mới đồng, tâm đã đồng lại phải biết cách làm, thì làm mới chóng Đó chính là
khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” mà ngày nay chúng ta thường đề cập tới
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành tư duy biện chứng Hồ Chí Minh
1.2.1 Truyền thống cách mạng Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia được hình thành từ rất sớm, trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước đặc biệt là trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, dân tộc ta đã xây dựng nên những truyền thống văn hóa tốt đẹp trong
đó có truyền thống yêu nước phát triển đến đỉnh cao, trở thành chủ nghĩa yêu nước Chủ nghĩa yêu nước là sản phẩm cao quý của dân tộc ta, nó trở thành đạo
lý, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử dân tộc, là động lực to lớn tạo nên sức mạnh
để nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược Nội dung cơ bản của chủ nghĩa yêu nước là tình yêu quê hương đất nước, tinh thần đoàn kết gắn bó cộng đồng, ý thức bảo vệ chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc, tinh thần bất khuất, tự cường, đạo lý uống nước nhớ nguồn trên tinh thần nhân văn, nhân ái…
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hàm chứa những yếu tố biện chứng sâu sắc, trong đó, có nhiều yếu tố đã ảnh hưởng đến tư duy biện chứng Hồ Chí Minh
Một là, đoàn kết gắn bó cộng đồng dân tộc
Đây là sự thống nhất, đoàn kết gắn bó giữa các cộng đồng dân tộc để tạo thành sức mạnh tổng hợp chống lại mọi khó khăn, gian khổ, mọi kẻ thù xâm lược
Đất nước Việt Nam từ xa xưa đã phải chống chọi với nhiều thiên tai lũ lụt và giặc ngoại xâm Để giành được thắng lợi, đằng sau cuộc đấu tranh đó đòi hỏi mọi người dân phải đoàn kết đồng lòng, góp sức mới có thể thực hiện
Trang 21được Do vậy, tinh thần đoàn kết của nhân dân ta bắt nguồn từ ấy, được truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác và ngày càng được phát triển mạnh mẽ, sâu sắc hơn Đặc biệt là trong công cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, tinh thần đoàn kết ấy càng phát triển rực rỡ, trở thành một truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta
Với vị trí địa lý luận lợi, giàu có về nguồn lợi tài nguyên, là trung tâm giao lưu kinh tế, văn hóa của các vùng, miền của khu vực nên các thế lực ngoại xâm đã thực hiện nhiều cuộc chiến tranh xâm lược Tuy là một quốc gia nhỏ, ít
về số lượng, yếu về sức mạnh, thô sơ về vũ khí nhưng bằng tinh thần đoàn kết, quyết tâm chống lại mọi kẻ thù xâm lược, ông cha ta đã làm nên những chiến thắng oai hùng
Nhà Trần ở thế kỷ thứ XIII đã ba lần đánh thắng quân Nguyên - Mông
và Trần Quốc Tuấn đã chỉ rõ nguyên nhân là do: “Vua tôi đồng tâm, anh em
hòa thuận, cả nước góp sức” Để có được sức mạnh to lớn từ sự đoàn kết đó,
Trần Quốc Tuấn đã chủ trương: “Thời bình phải khoan thư sức dân để làm kế
bền sâu gốc rễ, đó là thượng sách giữ nước” [44, tr.215]
Đầu thế kỷ XV, nhà Hồ cũng kháng chiến chống quân Minh xâm lược,
dù đã xây dựng được lực lượng quân thường trực khá mạnh nhưng cũng đã thất
bại vì không đoàn kết được toàn dân Đúng như Hồ Nguyên Trừng nói: “Thần
không ngại đánh, chỉ sợ lòng dân có theo hay không mà thôi” [23, tr.136]
Cũng trong thắng lợi của kháng chiến chống quân Minh, Nguyễn Trãi
đã chỉ rõ nguyên nhân là do đã đoàn kết, tập hợp được lực lượng dân chúng:
“Nêu hiệu gậy làm cờ, tụ tập khắp bốn phương dân chúng” [72, tr.259] Ông
đã nhìn thấy công lao, sức mạnh của dân chúng cũng như vai trò quyết định
sự thịnh suy của dân tộc
Thấy được sức mạnh của đoàn kết dân tộc, Hồ Chí Minh đã nói: “Sử ta
dạy bài học này: lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc
Trang 22lập, tự do Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”
[57, tr.217] Để rồi, trong tiến trình đấu tranh cách mạng của mình, Người luôn kêu gọi:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công” [51, tr 607]
Với tinh thần đoàn kết thống nhất một lòng, tất cả mọi người Việt Nam yêu nước, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, dân tộc, không phân biệt già trẻ, gái trai Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân thì đoàn kết lại chống mọi kẻ thù xâm lược Với tinh thần đó trong công cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, điển hình là hai cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, dân tộc ta đã làm nên những thắng lợi vĩ đại, vang dội khắp năm châu, chấn động địa cầu
Hai là, Kết hợp giữa kiên định mục tiêu của cuộc kháng chiến với linh hoạt, sáng tạo trong các hình thức và phương pháp tiến hành chiến tranh giữ nước
Để chiến thắng nhiều kẻ thù khác nhau, ông cha ta đã sáng tạo và vận dụng linh hoạt nhiều hình thức, phương pháp đấu tranh cách mạng phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế ở nước ta, giải quyết thành công vấn đề lấy nhỏ
thắng lớn, “lấy ít địch nhiều”, tùy thời cơ mà dùng mưu lược để thắng địch
Trần Quốc Tuấn đã nhận định: “Tóm lại, giặc cậy trường trận, ta cậy
đoản binh, lấy đoản chế trường là việc thường của binh pháp Nếu thấy quân giặc đến ồ ạt như lửa cháy, gió thổi thì dễ chế ngự Nếu chúng đi chậm như cách tầm ăn, không cần của dân, không cần được chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến như đánh cờ vậy, tùy thời mà làm” [44, tr 215] Trần
Quốc Tuấn luôn bám sát thế trận để đề ra nhiều phương pháp tác chiến, cách đánh với nội dung và hình thức phù hợp: lúc đánh du kích, khi đánh lẻ tẻ phân tán, khi tập trung công kích, khi lại rút lui, lợi dụng khí hậu, địa hình hiểm trở, dùng mưu trí lừa địch với hình thức, quy mô khác nhau để giành thắng
Trang 23lợi Tư tưởng biện chứng trong phương pháp đánh giặc ấy đã được thể hiện rất rõ ràng
Đến Nguyễn Trãi, Ông đưa ra nhiều cách đánh sáng tạo, độc đáo là tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, dùng quân mai phục để đánh bất ngờ, phát huy mọi thế mạnh của ta đánh vào chỗ sơ hở của địch, đánh vào chỗ mà địch không ngờ tới…; sự kết hợp đánh giặc bằng quân sự, chính trị, ngoại giao đã đạt đến trình độ mới Một mặt, Ông cùng Lê Lợi hoạch định âm mưu, mặt khác, ông đấu tranh với kẻ thù trên lĩnh vực tư tưởng và lý luận Ông coi đấu tranh trên mặt trận tư tưởng và lý luận cũng góp phần rất quan trọng cho thắng lợi của kháng chiến Tư tưởng ấy thể hiện rất rõ trong tác phẩm Bình ngô đại cáo, khẳng định quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của nước Đại Việt ta, bất
cứ kẻ nào xâm phạm đều bị đánh bại
Hồ Chí Minh đã nghiên cứu tư tưởng đánh giặc của cha ông, vận dụng sáng tạo và phát triển cách đánh ấy vào thực tiễn cách mạng Việt Nam Người đề
ra phương pháp tác chiến rất sáng tạo: “Dụ giặc vào bẫy để đánh” [51, tr.475]; Người đòi hỏi phải “Thiên biến vạn hóa, xuất quỷ nhập thần” [51, tr.470];
“Náo phía đông, đánh phía tây”… [51, tr.474] Trong kháng chiến chống Mỹ,
Hồ Chí Minh có sự kết hợp linh hoạt đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao, kết hợp giữa khởi nghĩa quần chúng với chiến tranh cách mạng, đánh địch trên cả ba vùng chiến lược, đánh địch bằng ba mũi giáp công, vừa đánh vừa đàm
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh sự kết hợp ấy hoàn toàn đúng đắn và sáng tạo, làm nên sức mạnh to lớn đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thành công
1.2.2 Bản thân Hồ Chí Minh và quá trình tìm đường cứu nước
Việt Nam là một quốc gia phong kiến lạc hậu ở Đông Dương, cũng không thoát khỏi thân phận là thuộc địa của thực dân Pháp Sau Cách mạng tháng Mười
Trang 24Nga, Việt Nam cũng là nơi hội tụ hầu hết những mâu thuẫn lớn của thời đại Phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam cũng liên tiếp nổ ra nhưng đều lần lượt bị thất bại vì bế tắc về đường lối, khủng hoảng lực lượng lãnh đạo
có đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của lịch sử Nhưng, cũng vì vậy mà tư tưởng chống Pháp, nguyện vọng giải phóng dân tộc ngày càng trở nên thiết tha mãnh liệt, nhất là đối với những tầng lớp tri thức có lòng yêu nước nồng nàn Đa số họ xuất thân từ tầng lớp khoa bảng, thấm nhuần học thuyết Nho giáo và các học thuyết phương Đông khác, đồng thời lại được tiếp thu ít nhiều tri thức mới của phương Tây, nhất là văn minh Pháp Tuy nhiên, tất cả những con đường giải phóng dân tộc mà họ tìm kiếm vẫn chưa thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn trước đây… Trong bối cảnh lịch sử ấy của đất nước và của thời đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên, nhận sứ mệnh lịch sử giải phóng dân tộc, thực hiện dân chủ, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, theo con đường mà học thuyết Mác -Lênnin đã vạch ra Hoàn cảnh lịch sử với yêu cầu cách mạng ấy
là nguồn gốc đầu tiên quy định mục tiêu, khơi nguồn động lực cho việc hình thành và phát triển những tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh sinh ra ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An - một vùng quê giàu truyền thống yêu nước, thương dân Ông ngoại và cha của Người là những nhà nho yêu nước, đặc biệt là người cha đã có nhiều ảnh hưởng đến cuộc đời Hồ Chí Minh Người cũng được học tập khá kỹ lưỡng những tri thức phù hợp với truyền thống dân tộc của Nho giáo, Lão giáo, Phật giáo, Mặc gia, Pháp gia và nhiều học thuyết phương Đông Cuộc sống vất vả
ở quê hương đã nuôi dưỡng những tình cảm ban đầu của Hồ Chí Minh Đó là lòng hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, kính trọng người già, có nghĩa khí, nhất là đối với các nghĩa sĩ chống Pháp; lòng thương yêu và giúp đỡ mọi người; căm ghét bọn thực dân Pháp xâm lược Ở đâu người cũng thấy sự bóc lột dã man tàn bạo của thực dân Pháp, sự yếu đuối của triều đình nhà Nguyễn Ở đâu,
Trang 25Người cũng thấy nỗi đau mất nước đầy ắp trong tâm khảm mỗi người Việt Nam yêu nước Người còn chứng kiến tận mắt sự thất bại liên tiếp của các cuộc khởi nghĩa chống Pháp lúc bấy giờ Thực tế cuộc sống đã thúc đẩy Hồ Chí Minh tích lũy thêm những kiến thức khác nhau, sàng lọc những tư tưởng tiến bộ, loại bỏ dần những tư tưởng lạc hậu, lỗi thời, nhất là sau khi được tiếp xúc với những tư tưởng mới của các nhà cải cách Trung Quốc như: Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vy và Tôn Trung Sơn Có lẽ đó cũng là cái cầu nối khiến người lưu ý đến các nhà triết học khai sáng Pháp Với vốn thực tế và tri thức mới, Hồ Chí Minh không đồng ý đi theo con đường “bạo động”, “duy tân”… mà để tâm tìm con đường khác cứu dân, cứu nước Hồ Chí Minh đã quyết định sang Pháp để thực hiện mục tiêu đó Năm 1911, với hai bàn tay trắng, Người lên một chuyến tàu buôn sang Pháp
Dân tộc Việt Nam có những tư tưởng triết học sâu sắc và độc đáo, được hình thành sớm, được bổ sung và tích lũy qua nhiều thế hệ cũng với sự thăng trầm của lịch sử Rõ ràng nhất là tư tưởng nhân văn sâu sắc của Việt Nam với những triết lí như “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách” , “ba cây chụm lại” “lao động là tiêu chuẩn đạo đức”, “một dân tộc độc lập và một quốc gia có chủ quyền”… luôn luôn được Hồ Chí Minh trân trọng, nuôi dưỡng và vận dụng trong mọi quá trình cách mạng, dưới những hình thức mới như “lao động là vẻ vang”, “nhân dân Việt Nam có truyền thống yêu nước nồng nàn”, “không có gì quý hơn độc lập tự do”… Có thể nói, những tư tưởng triết học truyền thống của dân tộc Việt Nam là cội nguồn, là yếu tố nội sinh được tích tụ một cách tự nhiên trong tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh đã biết hội tụ trong mình hầu như tất cả những giá trị triết học của dân tộc, biết phát triển, và nâng chúng lên ở trình độ mới với hình thức mới Trước hết là tư tưởng “trời, đất và con người hòa hợp” Trong đó, con người có thể “đội đá vá trời”, “dời núi, lấp sông, lấp biển” - “nhân địch
Trang 26thắng thiên” Tư tưởng này càng được củng cố và ổn định khi được bổ sung bởi tư tưởng “thiên nhân hợp nhất” của triết học Nho, Phật, Lão du nhập vào Việt nam những năm đầu công nguyên
Là một nước nhỏ ở gần hai nền văn hóa lớn là Ấn Độ và Trung Hoa nên Việt Nam đã tiếp thu hai nền văn hóa đó để làm giàu cho tư tưởng cũng như nền văn hóa của mình Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh cũng chịu ảnh hưởng từ hai nền văn hóa đó đặc biệt là biện chứng của Nho giáo, biện chứng trong tác phẩm Kinh Dịch và biện chứng của Phật giáo
- Ảnh hưởng của Nho giáo
Nho giáo chủ trương “Nhập thế”, “chính danh”, “hành đạo”, phải có hành động tích cực với đời, phải “tận lực” Người quân tử phải xả thân vì
“Nhân”, vì “Nghĩa” Triết lý Nho giáo là triết lý hành động, giúp đời, cứu người Nho giáo vào Việt Nam đã kết hợp với chủ nghĩa yêu nước truyền thống tạo thành những tiêu chuẩn cụ thể của Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Dũng Là đánh giặc giữ nước, cứu dân khỏi vòng nô lệ Hồ Chí Minh đã sử dụng và phát triển sáng tạo các giá trị của học thuyết chính trị - đạo đức của Nho giáo Nho giáo chủ trương xây dựng một “Thế giới đại đồng”, “Thiên nhân hợp nhất” một “Xã hội bình trị” và công bằng, một xã hội mà “mọi nhà ban đêm không cần đóng cửa” Đặc biệt, với tư tưởng “Tam tài thống nhất” Nho giáo
đã chỉ rõ con người là một yếu tố trong tam giác thiên, địa, nhân Ở đó, con người có vai trò là chủ thể tác động vào trời đất Tuân Tử đã khẳng định:
“Trời có bốn mùa, đất có sản vật, người có văn trị” [35, tr.104]
Nhận thấy mối quan hệ thiên, địa, nhân trong Nho giáo, Hồ Chí Minh
khẳng định: “Ở trong xã hội, muốn thành công phải có ba điều kiện là: thiên
thời, địa lợi và nhân hòa” [59, tr.479] Người luôn coi trọng sự kết hợp giữa
ba yếu tố đó để tạo nên sức mạnh chiến thắng kẻ thù Người cũng thấy rõ vai
trò, vị trí của ba yếu tố đó: “Nhưng thiên thời không quan trọng bằng địa lợi,
Trang 27mà địa lợi không quan trọng bằng nhân hòa” [59, tr.479] Người khẳng định
có hòa thuận, đoàn kết, nhất trí giữa mọi người thì mới có lực lượng vững mạnh, mới khơi dậy được tiềm năng, sức mạnh, mới tạo được thời cơ và tranh thủ thời cơ để giành thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng nước nhà Bên cạnh
đó, Hồ Chí Minh còn chịu ảnh hưởng rất lớn của tư tưởng dùng đức trị quốc của Nho giáo Các phạm trù: “nhân”, “trung”, “hiếu” hay “tài”, “đức” và mối quan hệ biện chứng của những phạm trù đó trong lối sống của người quân tử, người cách mạng đã thể hiện một cốt cách hiếm có của Hồ Chí Minh Đặc biệt trong học thuyết của Nho giáo có nhấn mạnh rằng, nhà cầm quyền phải thực hiện ba điều:Bảo đảm đủ lương thực cho dân được no ấm; phải xây dựng được lực lượng quân đội đủ mạnh để bảo vệ dân; Phải tạo được lòng tin của dân đối với mình.Người không chỉ đã biết loại bỏ ở đạo đức cũ những yếu tố thủ cựu, tiêu cực mà còn kế thừa và phát triển những mặt tích cực của đạo đức truyền thống phương Đông để xây dựng nền đạo đức cách mạng, giáo dục cho nhân dân nhằm phục vụ cho sự nghiệp cứu nước, cứu nhà của dân tộc ta Nho giáo chủ trương “Nhập thế”, “Hành đạo”, “Nhân nghĩa”, còn Đạo gia thì chủ trương “Xuất thế”, “Vô vi”, “Lấy nhu thắng cương” Nho gia và Đạo gia là hai hệ tư tưởng đối lập nhau Nhưng Hồ Chí Minh đã tìm ra được sự thống nhất của hai cái “đối lập” đó, khi dân khổ, mất nước thì phải xả thân vì nước,
vì dân, đến khi nước đã giành được độc lập, nhân dân được ấm no thì “thân thoái”, trở về sống cảnh điền viên, gần gũi với thiên nhiên và người dân lao
động Người tâm sự: “Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non
xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi” [58, tr.161]
Như vậy, Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo mối quan hệ giữa lực, thế, thời trong tư tưởng biện chứng Phương Đông Đó là cơ sở cho tư tưởng chỉ đạo chiến lược tạo lực, lập thế, tranh thời sáng suốt của Người Điều
Trang 28đó được chứng minh qua hai cuộc kháng chiến oanh liệt chống thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ Bên cạnh Nho gia, Đạo gia, Hồ Chí Minh còn chịu ảnh hưởng từ
tư tưởng biện chứng trong phương pháp dùng binh của Tôn Tử Với tác phẩm
“Tôn tử binh pháp”, Tôn Tử đã đề cập hết các vấn đề lý luận quân sự thời Xuân thu, được phân tích với quan điểm biện chứng Dù còn thô sơ nhưng đã tổng kết kinh nghiệm chiến tranh hơn một nghìn năm trước đó, trong đó trọng tâm là bàn đến phương pháp để giành thắng lợi trong chiến tranh Tôn Tử đã
chỉ ra quy luật: “Biết mình, biết người, trăm trận không nguy” [60, tr.78],
“Việc binh là thuật dối trá, đánh vào nơi địch không phòng bị, ra quân lúc địch không ngờ” [60, tr.61] Hồ Chí Minh nhận xét: “ Phép ông Tôn Tử tuy
đã lâu đời nhưng nguyên tắc đến nay vẫn là rất đúng Nguyên tắc của Tôn
Tử chẳng những dùng về quân sự đúng, mà dùng về chính trị cũng rất hay”
[57, tr.513] Người cũng đã vận dụng: “Biết mình, biết giặc, trăm trận, trăm
thắng” [59, tr.475] Trong chỉ đạo tác chiến, Người cũng rất coi trọng việc
nắm quyền chủ động trông chiến đấu và phải “tránh chỗ mạnh, đánh chỗ
yếu” [59, tr.474] Người cũng luôn chú ý đến nghệ thuật lừa địch, đánh địch
một cách bất ngờ để giành thắng lợi: “Về việc quân, không thể đường đường
chính chính được mà bao giờ cũng phải áp dụng chiến dịch lừa dối muốn thắng quân địch phải bầy mưu kế làm sao lừa được quân địch vào cạm bẫy, nên không thể không dùng chiến thuật giả dối được” [58, tr.251-252]
Kế thừa có chọn lọc, vận dụng, phát triển sáng tạo phù hợp với thực
tiễn cách mạng Việt Nam, trong khi binh pháp Tôn Tử lấy nhiều đánh ít “Có
binh lực gấp mười lần địch thì bao vây nó, gấp năm lần địch thì tiến công binh lực ít hơn địch thì nên tránh xa nó, điều kiện không bằng địch thì tránh giao chiến” [59, tr.81-82] thì Hồ Chí Minh dùng phương pháp “lấy ít địch
nhiều”, “lấy yếu chống mạnh”, không thể là một đối một, không thể bày thế trận như bên địch để đánh Kết quả dù quân ta ít và yếu hơn địch nhưng vẫn giành thắng lợi
Trang 29- Ảnh hưởng của Dịch học
Ở Việt Nam, qua các triều đại và thời kỳ luôn có người nghiên cứu Kinh Dịch Các nhà nghiên cứu Việt Nam thường quan tâm đến nghĩa lý trong Kinh Dịch nhằm ứng về tư tưởng đạo đức hay dùng vào việc binh pháp như
các tác phẩm: Quân trung từ mệnh tập của Nguyễn Trãi, Dịch kinh phu thuyết của Lê Quý Đôn, Quốc văn Chu Dịch diễn giải của Phan Bội Châu, Lịch sử
triết học Đông Phương của Nguyễn Đăng Thục, Kinh Dịch - Đạo của người quân tử của Nguyễn Hiến Lê Tiêu biểu của tư tưởng biện chứng trong kinh
dịch là mối quan hệ giữa âm và dương
Kinh dịch cho rằng: Trời đất, con người và xã hội luôn thay đổi Sự vận động của thế giới là sự tương tác, sự đồng nhất và bài trừ lẫn nhau của hai mặt đối lập: âm và dương, động và tĩnh, ngày và đêm, nóng và lạnh, cương và nhu, giống đực và giống cái, thịnh và suy, họa và phúc , là sự “tương sinh”,
“tương khắc” của thủy, mộc, hỏa thổ, kim, là sự tương tác giữa thiên - địa - nhân, sự thống nhất, đối lập và tác động qua lại đó là phổ biến, khách quan và vận động, phát triển không ngừng, rằng con người sống giữa trời đất phải hành sự sao cho phù hợp với quy luật của đất trời, phải có sự giao hòa giữa con người và thiên nhiên “thiên nhân tương cảm” Kinh dịch đề cập đến sự
vận động và phát triển của vạn vật: trong “hệ từ thượng truyện” (Chương XI)
có đoạn: “Dịch hữu thái cực, thị sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng,
tứ tượng sinh ra bát quái Nghĩa là dịch có thái cực, thái cực sinh ra lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh ra tứ tượng, tứ tượng sinh ra bát quái” [42, tr.563] Sự
vận động trong Kinh Dịch luôn diễn ra liên tục theo một chu trình tuần hoàn, xuất phát từ hai quẻ Càn - Khôn (tượng trưng cho Âm - Dương), từng cặp đôi chuyển hóa lẫn nhau cho đến kết thúc vòng tuần hoàn 64 quẻ Quá trình vận động ấy không bao giờ dừng lại Nguồn gốc của sự vật từ hai mặt đối lập Âm
- Dương Giữa vận động và đứng im có mối quan hệ biện chứng với nhau mà
ở đó đứng im chỉ mang tính chất tạm thời, còn vận động là mãi mãi
Trang 30Tuy nhiên, Kinh Dịch lại không có nhận thức đúng đắn về sự phát triển, không thấy được sự phát triển theo hình “xoáy ốc” mà cho rằng phát triển mang tính tuần hoàn, lặp lại, cái mới là tái hiện đơn giản của cái cũ mà thôi Bên cạnh đó Kinh Dịch thể hiện rõ mối quan hệ phổ biến của Âm - Dương thể hiện qua các chữ “giao cảm” (gặp nhau), “tương ứng” (phù hợp nhau), “tương cầu” (tìm nhau) “Tương thôi” (xô đẩy nhau) “tương ma” (cọ xát nhau)
“tương thành” (giúp nhau tự hoàn thành) Có cảm thì mới có giao, có tương ứng thì mới có tương cầu, tương hỗ, có tương đồng thì mới có tương hợp, tương thành Đó là sự tác động qua lại, hòa quyện vào nhau của các sự vật, hiện tượng có tương tác hấp dẫn
Đặc biệt là trong mối quan hệ của 64 quẻ, hay mối quan hệ nội tại của từng quẻ cho thấy sự liên hệ tác động qua lại lần nhau đặc biệt trong các mối quan hệ giữa con người với vũ trụ - tam tài (thiên, địa, nhân) Kinh Dịch cũng chỉ ra sự phát triển của mỗi sự vật hiện tượng bao hàm những mâu thuẫn nội tại và quá trình phát triển của chúng cũng bao hàm những mâu thuẫn Những mâu thuẫn ấy tồn tại khách quan và phổ biến Kinh Dịch cho thấy thế giới là chỉnh thể thống nhất, có tác động biện chứng qua lại lẫn nhau theo quy luật và ngay bản thân con người cũng là một phần không thể thiếu trong thế giới đó Con người là một “tiểu vũ trụ”, số phận của con người có thể dự đoán được
nhờ giải đoán các quẻ trong Kinh Dịch Phan Bội Châu đã từng nói: “Chúng
ta tham khảo triết trung ở các nhà triết học Đông Phương, vừa tinh vi vừa thiết thực, vừa thấu lý vừa thích dụng, thời chẳng gì bằng Dịch học”
Tư tưởng biện chứng đó áp dụng vào nhân sinh quan đã có tác dụng rất
to lớn đối với Hồ Chí Minh Đó là tinh thần lạc quan, nghiêm túc, lành mạnh, bình thản, ung dung “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trước mọi sinh tử, được mất, thịnh suy, bĩ thái, hoạc phúc của cuộc đời Ngoài ra Kinh Dịch còn có tính
dự đoán rất chính xác ứng dụng cho mọi ngành, mọi lĩnh vực và tính thực tiễn
Trang 31rất cao Tuy nhiên, Kinh Dịch là sản phẩm của con người cổ đại với lối tư duy trực quan, kinh nghiệm, chất phác, ngây thơ nên không khỏi có những yếu tố siêu hình, hạn hẹp, mập mờ, mang tính thần bí, duy tâm
- Ảnh hưởng của Phật giáo
Phật giáo vào Việt Nam bằng hai con đường là từ Ấn Độ và từ Trung Quốc Tuy vào sau Nho giáo nhưng Phật giáo đã ảnh hưởng sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân người Việt Nam nhất là người dân lao động Phật giáo cũng như các tôn giáo khác đều dựa trên thế giới quan duy tâm nhưng không phải là không có yếu tố duy vật, tích cực Khi vào Việt Nam, Phật giáo kết hợp với chủ nghĩa yêu nước, với bản chất nhân đạo, từ bi bác ái được người dân đón nhận và tạo thành một lực lượng trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc Trong học thuyết Phật giáo nguyên thủy có thuyết “Chân như” thừa nhận thế giới tồn tại và vận động một cách vĩnh hằng, không ai sinh ra cũng không bao giờ mất đi Rằng vũ trụ, vạn vật sinh ra do sự biến chuyển trong bản thân nó, vũ trụ là tự tại, quy luật vận hành của vũ trụ là quy luật nhân quả và dây chuyền của nhân quả là vô tận Vũ trụ là “vô thủy vô chung” hay còn gọi là thế giới “Thường trụ”, còn mỗi sự vật đều có thủy có chung, ra đời rồi mất đi, có sinh có tử nên gọi là “Vô thường” Thế giới Thường trụ, thế giới Tự nó gọi là “Chân như”
Chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa duy vật đối lập với tôn giáo nhưng trong hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam, Hồ Chí Minh chủ trương tự do tín ngưỡng Đó là quan điểm biện chứng thể hiện sự hòa hợp giữa tôn giáo và dân tộc, giữa đạo và đời trước một vấn đề cụ thể: Phải đoàn kết toàn dân không phân biệt đảng phái, lương giáo, giàu nghèo, quy tụ họ vào một mặt trận thống nhất chống xâm lược
Tư tưởng biện chứng của Phương Đông tuy còn thô sơ, mộc mạc nhưng góp phần không nhỏ hình thành những quan điểm biện chứng về thời - thế -
Trang 32lực trong chiến tranh, về lấy ít thắng nhiều, lấy trường kỳ thắng tốc chiến tốc thắng trong quân sự, lấy nhu thắng cương trong ngoại giao, lấy chính nghĩa thắng phi nghĩa Chính những quan điểm biện chứng ấy đã được thiên tài Hồ Chí minh vận dụng, phát triển sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam làm nên những thắng lợi vẻ vang của dân tộc
- Thực tiễn hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang chủ nghĩa đế quốc, mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản ngày càng diễn ra gay gắt, các phong trào cách mạng trên thế giới ngày càng phát triển trong đó có cách mạng Việt Nam Lúc bấy giờ, thực dân Pháp thiết lập bộ máy thống trị thực dân và thực hiện chính sách khai thác thuộc địa trên toàn cõi Đông Dương Phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước liên tiếp nổ ra: Phong trào Cần Vương được khởi xướng bởi vua Hàm Nghi - Tôn Thất Thuyết, Khởi nghĩa Yên Thế của nông dân và đồng bào miền núi dưới sự lãnh đạo của Hoàng Hoa Thám, Phong trào Đông du do Phan Bội Châu khởi xướng, Phong trào Duy tân do Phan Chu Trinh khởi xướng… Các phong trào đều đã thất bại Song đã để lại cho cách mạng nhiều bài học quý giá về xây dựng căn cứ địa, sản xuất vũ khí và tự túc lương thực, về vấn đề nông dân và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân
Như vậy, có thể thấy rằng, các đường lối cứu nước trên đều có mục đích giống nhau là đánh đuổi thực dân Pháp để giành độc lập cho dân tộc nhưng các đường lối đó không phù hợp và đã bị thất bại Hồ Chí Minh khi đánh giá các phong trào cách mạng đó, Người rất khâm phục lòng yêu nước
ấy và cũng nhận ra hạn chế của những ý tưởng đó Người nhận xét: “đường
lối của Phan Chu Trinh chẳng khác gì xin giặc rủ lòng thương, đường lối của Phan Bội Châu giống như đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau, còn cụ Hoàng Hoa Thám thì còn nặng cốt cách phong kiến” [56, tr.10] Sự thất bại của các
Trang 33phong trào yêu nước cùng với sự hy sinh xương máu của dân tộc đã nung nấu
ý chí và thôi thúc Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước Khác với các
sĩ phu yêu nước trước, Người không đi sang Phương Đông mà sang Phương Tây, nơi có tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái mà Người đã được nghe từ
trước Sau đó, Người xác định: “Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các
nước khác Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta” [56, tr.11]
Ngày 5 tháng 6 năm 1911, Người rời Tổ quốc sang Pháp để thực hiện hoài bão cách mạng của mình Sau nhiều năm bôn ba trên thế giới, Người đã hiểu rõ hơn về chủ nghĩa thực dân ở Pháp, Người kết luận rằng nhân dân lao
động Pháp cũng bị bóc lột, cũng khổ cực và “Những người Pháp phần nhiều là
tốt Song những người Pháp thực dân rất hung ác, vô nhân đạo” [56, tr 21]
Bằng sự quan sát thực tế, khả năng suy xét, tổng kết thực tiễn khi đến các nước Châu Âu, Người đã nhận ra cội nguồn đau khổ của nhân loại là ở bản chất áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc đối với người
lao động Từ đó, Người rút ra kết luận: “Ở đâu chủ nghĩa tư bản cũng tàn ác
và vô nhân đạo, ở đâu giai cấp công nhân và nhân dân lao động cũng bị áp bức bóc lột dã man, các dân tộc thuộc địa đều có một kẻ thù chung không đội trời chung là bọn đế quốc thực dân” [65, tr.19] Cũng từ đây, Người phát hiện
ra đồng minh của cách mạng Việt Nam là một lực lượng hùng hậu - giai cấp công nhân và nhân dân lao động bị áp bức trên toàn thế giới
Năm 1919, Người tham gia Đảng xã hội Pháp Tháng 6 năm 1919, Người gửi đến Hội nghị Vécxay bản “Yêu sách của nhân dân Việt Nam” đòi chính phủ Pháp thừa nhận các quyền tự do, dân chủ, bình đẳng của dân tộc
Việt Nam nhưng không được chấp nhận Người rút ra kết luận: “Những lời
tuyên bố về tự do, dân chủ của bọn đế quốc chỉ là những lời đường mật cốt để lừa bịp các dân tộc bị áp bức Muốn được độc lập và tự do thật sự, các dân
Trang 34tộc bị áp bức phải trông cậy trước hết vào lực lượng của bản thân mình; Người Việt Nam phải tự giải phóng lấy mình” [56, tr.21] Hiểu được bản chất
của bọn đế quốc, thực dân, Người cũng xót xa và đồng cảm với giai cấp công nhân và nhân dân lao động bị áp bức trên toàn thế giới, để rồi chủ nghĩa yêu nước ở Người đã hòa quyện với tinh thần dân tộc, tinh thần quốc tế, đoàn kết giai cấp vô sản với các dân tộc bị áp bức
Trong cuộc hành trình khắp các châu lục, Người không đứng ngoài quan sát mà hòa mình vào thực tiễn cuộc sống mà giác ngộ Người đã trực tiếp quan sát, tìm hiểu, trải nghiệm, đối chiếu, so sánh và tổng kết thực tiễn Thông qua thực tiễn, Người đã rút ra những kết luận quan trọng để bước đầu hình thành nên
tư tưởng biện chứng trong nhận thức Có thể nói, ngay cả trước khi tiếp xúc với
hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Người “đã nhận thức được hiện
thực trên cơ sở thế giới quan khoa học và phương pháp luận biện chứng một cách trực quan dù chưa có cơ sở lý luận hệ thống” [56, tr.12] Đến Đại hội lần
thứ XVIII Đảng xã hội Pháp (12-1920), Người bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế cộng sản Với quyết định lịch sử này, Người đã trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp
Từ giữa năm 1923, Người được cử sang Matxcơva làm việc tại ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản Một năm rưỡi trên đất nước Nga Xô Viết là thời gian đặc biệt quan trọng để Người có đủ điều kiện đi sâu nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, nắm vững tính khoa học và cách mạng của học thuyết ấy để làm kim chỉ nam cho hành động của mình Ở Người, về cơ bản
đã hình thành hệ thống luận điểm có tính lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa, về cách mạng giải phóng dân tộc đi theo con đường cách mạng
vô sản, về mối quan hệ khăng khít giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc, kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, về tính chủ động và khả năng thắng lợi trước cách mạng thuộc địa, về vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân trong cách mạng giải phóng dân tộc
Trang 35Cuối năm 1924, Người về Quảng Châu để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam Tại đây bên cạnh việc tìm cách liên hệ với các cơ quan của Quốc tế Cộng sản để nhận sự quan tâm, giúp đỡ, Người còn tiếp tục học tập, nghiên cứu lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và truyền bá vào Việt Nam Quá trình tìm đường cứu nước trải qua những năm bôn ba ở nước ngoài, Người tham gia nhiều hoạt động trong các tổ chức quốc tế đã giúp Người tiếp cận được nhiều vấn đề mang tính chân lý của con đường giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước…
Năm 1941, sau nhiều năm bôn ba nước ngoài, Người trở về Việt Nam trực tiếp lãnh đạo cách mạng Trong quá trình trực tiếp lãnh đạo cách mạng,
tư tưởng biện chứng của Người trong phương pháp cách mạng càng được bổ sung, hoàn thiện và vận dụng phát triển sáng tạo trong thực tiễn cách mạng ở từng giai đoạn Kết quả, đã đưa cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp cách mạng đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ giành lại độc lập, toàn vẹn lãnh thổ
Để đạt được thắng lợi đó, nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng biện chứng của Người Đó chính là kết tinh của một tấm lòng yêu nước nồng nàn trở thành chủ nghĩa yêu nước chân chính, cách mạng, là cốt cách của một cá nhân có hoài bão lớn, nghị lực phi thường, ý chí cao cả, kiên định
về mục tiêu, lý tưởng và đặc biệt ở Người với tư chất thông minh, tư duy độc lập, sáng tạo, trí tuệ uyên bác, tầm nhìn sâu sắc, ham học hỏi, nhạy bén với thời đại cùng khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát thực tiễn đồng thời là một tấm gương mẫu mực về phẩm chất đạo đức cách mạng Người chính là bậc đại nhân, đại trí, đại dũng, là kết tinh những gì tốt đẹp nhất của dân tộc, vươn tới tầm thời đại, đấu tranh không mệt mỏi cho độc lập của dân tộc, tự
do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân “Có thể kết luận rằng, toàn bộ những
Trang 36hoạt động cách mạng rộng lớn và sâu sắc của Nguyễn Ái Quốc ở Pháp, Liên
Xô, ở Trung Quốc đã là một cơ sở vững chắc cho tư duy biện chứng của Người trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam và trong mối quan
hệ quốc tế” [37, tr.85]
Như vậy, thực tiễn hoạt động cách mạng hết sức phong phú, đa dạng
đã mở rộng tầm nhìn, sự hiểu biết của Người, tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc Chính thực tiễn hoạt động cách mạng và nhân tố chủ quan của Người
là nguồn gốc hình thành, phát triển và hoàn thiện tư duy biện chứng của Hồ Chí Minh
1.2.3 Sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin
Trong hoạt động thực tiễn cũng như trong lý luận, Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh vai trò của chủ nghĩa duy vật biện chứng Người nói rằng học tập chủ nghĩa Mác - Lênin trước hết là học cách làm việc biện chứng
Người nói: “Học thuyết Khổng tử nó có ưu điểm nhưng nó là tu dưỡng đạo
đức cá nhân, tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả, chủ nghĩa Mác - Lênin có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng,…” [56, tr.159] Điều đó cho thấy rằng, cái chìa khóa mà Hồ Chí
Minh tìm thấy trong sự nghiệp giải phóng dân tộc chính là phép biện chứng Phép biện chứng ấy đã đem lại cho Người sự nhận thức đúng đắn các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy của con người
Phép biện chứng của Mácxít là phép biện chứng duy vật, là sự kế thừa,
sự phát triển phép biện chứng duy vật Pháp thế kỷ XVII - XVIII và phép biện chứng duy tâm của Hêghen, trong đó “nguyên lý về mối quan hệ phổ biến” và
“nguyên lý về sự phát triển” giữa vai trò then chốt của phương pháp luận mácxít Từ hai nguyên lý đó, các nhà khoa học, các nhà cách mạng đã rút ra quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể, quan điểm phát triển như là những phương pháp luận chủ yếu trong hoạt động lý luận cũng như trong hoạt
Trang 37động thực tiễn Hạt nhân của phép biện chứng, như Lênin đã chỉ rõ là lý luận
về mâu thuẫn Sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng “diễn ra trong mâu
thuẫn và thông qua các mâu thuẫn” [20, tr.77-78] Trên cơ sở phân tích điều
kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã phát hiện ra mâu thuẫn, những động lực của sự phát triển xã hội, chiều hướng phát triển của mâu thuẫn Từ đó, tìm ra đường đi, phương pháp giải quyết mâu thuẫn mang lại thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng nước ta Người nhận thấy rõ: muốn thực hiện bước nhảy cách mạng thì phải có sự tích lũy về lượng để đạt đến độ Chính vì vậy, trong quá trình thực hiện cách mạng, Người luôn chú trọng việc tích lũy về lượng: xây dựng lực lượng cả về số lượng và chất lượng, từng bước xây dựng và phát triển các phong trào để phát triển cách mạng từng bước từ nhỏ đến lớn, từ bộ phận đến toàn bộ Người cũng tin tưởng vào tính
khoa học và cách mạng của phép biện chứng duy vật khi cho rằng: “Không có
gì là tối hậu, là tuyệt đối, là thiêng liêng cả Nó chỉ ra trên mọi sự vật và trong mọi sự vật - dấu ấn của sự suy tàn tất yếu, và đối với nó, không có gì là tồn tại ngoài quá trình không ngừng của sự hình thành và sự tiêu vong, của
sự tiến triển vô cùng tận từ thấp lên cao” [51, tr.95]
Thấy được quy luật phủ định của phủ định, Người luôn lạc quan, tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng, không bi quan, dao động trước mọi khó khăn đồng thời tránh được thái độ hư vô, bảo thủ, lạc hậu kế thừa cái tích
cực, tiến bộ Người khẳng định: “Một chế độ này biến đổi thành một chế độ
khác là cả một cuộc đấu tranh gay go, kịch liệt và lâu dài giữa cái xấu và cái tốt, giữa cái cũ và cái mới, giữa cái thoái bộ và cái tiến bộ, giữa cái đang suy tàn và cái đang phát triển Kết quả là cái mới, cái đang tiến bộ nhất định thắng” [63, tr.20]; “Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ Cái gì mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm” [59, tr.94]
Trang 38Đây là những nguyên tắc cơ bản của triết học Mác - Lênin Nó đã được
Hồ Chí Minh cụ thể hóa trong cách mạng Việt Nam Người nhận thấy rõ cái riêng, cái đặc thù trong cách mạng Việt Nam so với cách mạng các nước để vận dụng, phát triển một cách sáng tạo các phương pháp cách mạng phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta Trong đó, cốt lõi là phép biện chứng với các nguyên lý, quy luật và các cặp phạm trù tạo thành công cụ sắc bén cho nhận thức và hoạt động thực tiễn trong sự nghiệp cách mạng Người luôn căn dặn:
“ Phải học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin, học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công cuộc cách mạng của chúng ta” [62, tr.497]
Như vậy, với Hồ Chí Minh, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin không hề rập khuôn, máy móc, giáo điều mà vận dụng một cách linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo, đúng đắn phép biện chứng vào hoàn cảnh cụ thể của thực tiễn cách
mạng Việt Nam Người cũng khẳng định và kết luận: “Bây giờ học thuyết
nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Mác - Lênin” [56, tr.268]
Như vậy, ngoài hoàn cảnh lịch sử - xã hội và quá trình tham gia hoạt động thực tiễn cách mạng của Hồ Chí Minh, có thể tìm thấy nguồn gốc tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh ở ba yếu tố chính: một là, những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam; hai là, những giá trị hợp lí, tiến bộ của triết học phương Đông và triết học phương Tây; ba là, hệ thống tư tưởng triết học Mác - Lênin (đỉnh cao trong sự phát triển của tư tưởng nhân loại) Những
tư tưởng biện chứng đó đã được Hồ Chí Minh kế thừa, vận dụng, phát triển sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam Trong đó mỗi yếu tố lại có vai trò khác nhau Yếu tố truyền thống dân tộc đóng vai trò là yếu tố nội sinh, là chất keo gắn kết những tư tưởng triết học khác nhau tham gia vào tư tưởng triết
Trang 39học Hồ Chí Minh Yếu tố triết học phương Đông và triết học phương Tây lại đóng vai trò kết hợp truyền thống Đông - Tây trong sự phát triển tư tưởng triết học của Người Còn triết học Mác - Lênin có vai trò quyết định nhất, là thế giới quan và phương pháp luận khoa học để Hồ Chí Minh xử lý những vấn đề thực tiễn Tổng hợp tất cả những yếu tố đó làm cho tư tưởng triết học Hồ Chí Minh có bản sắc riêng - là sự phát triển hợp lí của triết học Mác - Lênin, nâng lên ngang tầm thời đại, hướng tới tương lai
Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng triết học của Người nói riêng đã và đang là ngọn đèn soi đường cho sự phát triển và tiến bộ xã hội Việt Nam nói riêng và của nhiều nước khác trên thế giới nói chung
1.3 Những nội dung cơ bản trong tư duy biện chứng Hồ Chí Minh
1.3.1 Đảm bảo nguyên tắc thống nhất của lý luận và thực tiễn
Hồ Chí Minh có quan niệm rất đúng đắn về lý luận Theo Người: “lý
luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” Còn “lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là tổng kết kinh nghiệm của phong trào công nhân
từ trước đến nay của tất cả các nước” [59, tr.233] Sẽ không có được tri thức
nếu không có hoạt động động thực tiễn của con người, bao gồm cả thực tiễn lao động sản xuất và thực tiễn đấu tranh cách mạng
Cũng xuất phát từ thực trạng đất nước ta thoát thai từ nghèo nàn lạc hậu sau hàng trăm năm đô hộ tàn bạo của thực dân Pháp nên khi giành được chính quyền, Hồ Chí Minh rất chú ý đến vấn đề học tập, đặc biệt là học tập lý luận
cho cán bộ và đảng viên Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, năm 1947, Hồ Chí Minh định nghĩa: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh
nghiệm, trong các cuộc đấu tranh, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng, rõ ràng, làm thành kết luận Rồi, đem nó chứng minh với thực tế Đó là lý luận chân chính” [59, tr.233] Đến năm 1957, nói chuyện tại trường Đảng cao cấp, Hồ
Trang 40Chí Minh nhấn mạnh: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài
người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” [62, tr.497]
Hồ Chí Minh rất đề cao vai trò của lý luận Người xem “lý luận như là
kim chỉ nam, có chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế Không
có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối, vừa chậm chạp vừa hay vấp váp” [59, tr.233] Lý
luận nó được thể hiện ở những điểm sau: Nó vũ trang cho chúng ta quan điểm và phương pháp để nhận thức đúng sự thật, thấy được bản chất và phát hiện được quy luật của sự vật; nó giúp cho cán bộ, đảng viên nâng cao lập trường, quan điểm của giai cấp vô sản và trau dồi đạo đức cách mạng, bởi lẽ không có lý luận
về chủ nghĩa xã hội khoa học thì không có lập trường giai cấp vững vàng
Trong lý luận nhận thức của triết học Duy vật biện chứng, “Thực tiễn” được coi là những hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội Nó gồm các dạng cơ bản là hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động thực nghiệm khoa học Thực tiễn được coi là mục đích, là cơ sở, là động lực chủ
yếu và chủ yếu của nhận thức, là tiêu chuẩn của chân lý
Vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam, Hồ Chí Minh dùng khái niệm “thực tế”, “thực hành” thay cho khái niệm thực tiễn Người cho rằng:
“Thực tế là các vấn đề mình phải giải quyết, là mâu thuẫn của sự vật, chúng ta
là những người cán bộ cách mạng, thực tế của chúng ta là những vấn đề mà cách mạng đề ra cho ta phải giải quyết Thực tế bao gồm rất rộng Nó bao gồm kinh nghiệm công tác và tư tưởng của cá nhân, chính sách và đường lối của Đảng cho đến các vấn đề trong nước và trên thế giới” [62, tr.497] Người còn
nói: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ
nghĩa Mác - Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” [62, tr.496]