1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Triết lý giáo dục của karl jaspers và sự ảnh hưởng của nó đến nền giáo dục viện nam

95 583 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tác phẩm Triết học thế kỷ XX của Remo Bodei đã cho thấy, triết học của nền văn hóa phương Tây với xuất phát điểm từ triết học Khai sáng và có thể truy nguyên sâu xa hơn tới văn hó

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong dòng chảy triết học phương Tây hiện đại, một trong những nhà triết học có tầm ảnh hưởng lớn tới tư tưởng đương thời, đó là Karl Jasper Vấn đề con người là vấn đề trung tâm trong triết học hiện sinh của Jaspers Những nghiên cứu của ông không chỉ nghiên cứu về con người, thân phận con người mà còn chỉ ra việc giải phóng con người ở bình diện tự do cao nhất,

đó là giáo dục Triết học của Jaspers cố gắng tìm ra bản chất đích thực của sự tha hóa con người và tìm con đường giải phóng con người khỏi sự tha hóa đó

Nhà triết học hiện sinh Karl Jaspers cho rằng giáo dục cần thực hiện được ba nhiệm vụ cơ bản là nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo Ba nhiệm vụ này cần thực hiện một cách đồng bộ để tạo nên một nền giáo dục thống nhất bởi chính sự thống nhất của ba nhiệm vụ nói trên sẽ giúp tạo ra đời sống tinh thần sống động và sức sống cho mọi chuyên ngành Tư tưởng giáo dục của Karl Jaspers luôn đề cao vai trò của người học, theo ông trong quá trình hoạt động giảng dạy cần phải đặt người học ở vị trí trung tâm, cần xây dựng một môi trường giáo dục thân thiện Những tư tưởng triết học giáo dục của Karl Jaspers được hình thành trong bối cảnh của nước Phổ sau thế chiến thứ 2 nhưng đến nay những tư tưởng giáo dục của ông chứa đựng những giá trị triết

lý sâu sắc, có tác dụng tham khảo, tham chiếu, suy ngẫm và giải quyết những vấn đề giáo dục hiện nay Việc nghiên cứu triết học giáo dục của Karl Jaspers

là cần thiết để nhận diện, nắm bắt bản chất của triết học giáo dục này nhằm rút ra những bài học tham khảo cho công tác giáo dục ở nước ta hiện nay

Việt Nam là nước đang chủ động hội nhập quốc tế Trong bối cảnh như vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu, đánh giá, lựa chọn, tiếp thu những giá trị văn hóa của các dân tộc, khu vực, nền văn minh trên thế giới là việc làm quan

Trang 2

trọng Và đương nhiên, việc tìm hiểu những giá trị văn hóa, con người mà cụ thể là con người triết học phương Tây không nằm ngoài nhu cầu tất yếu đó Tuy nhiên, hiện nay trong quá trình hội nhập cũng cần tránh các khuynh hướng cực đoan, sùng bái, sưng tụng phương Tây, thậm chí còn là sự tuyệt đối hóa những giá trị tư tưởng phương Tây và hơn thế nữa là định hướng

“phương Tây hóa” để từ bỏ những chuẩn mực tốt đẹp của truyền thống, bản

sắc văn hóa Việt Nam Chúng ta cần giữ gìn những giá trị truyền thống của dân tộc, mặt khác không ngừng mở rộng và tiếp biến những tinh hoa văn hóa thế giới, để làm phong phú cho những giá trị văn hóa dân tộc, làm cho đất nước ngày càng văn minh Nghiên cứu triết học giáo dục của Karl Jaspers không những nâng cao hiệu quả trao đổi, sinh hoạt học thuật mà còn góp phần tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa các nước phương Tây

Việc nghiên cứu triết học phương Tây hiện đại nói chung, triết học giáo dục của Karl Jaspers nói riêng là cần thiết để làm phong phú hóa tư duy lý luận trong bối cảnh hội nhập, đồng thời nâng cao năng lực để chống “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa, góp phần bảo

vệ, khẳng định tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí

Minh trong giai đoạn hiện nay Vì vậy, tôi đã chọn đề tài: “Triết học giáo dục của Karl Jaspers và sự ảnh hưởng của nó đến nền giáo dục Việt Nam” để

làm luận văn Thạc sĩ Triết học của mình

Trang 3

Một là, nhóm công trình nghiên cứu về triết học giáo dục trong chủ

nghĩa hiện sinh của các tác giả trong nước

Công trình Triết học hiện sinh của tác giả Trần Thái Đỉnh (nhà xuất bản

Văn học, 2005) đã đề cập một số tư tưởng giáo dục của các nhà triết học hiện sinh Ông đã chỉ ra được các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục, đó là

sự giới hạn trong khả năng của con người, sự ham muốn của người học và mối quan hệ thầy trò Tuy nhiên, tác giả chỉ dừng lại ở mức độ đề cập mà chưa đi sâu phân tích các tư tưởng giáo dục trong chủ nghĩa hiện sinh

Công trình Chủ nghĩa hiện sinh lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam của tác

giả Nguyễn Tiến Dũng (nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2006) đề cập điều kiện ra đời của tư tưởng giáo dục trong chủ nghĩa hiện sinh sau khi đã phân tích tính đối lập của chủ nghĩa phi duy lý đối với chủ nghĩa duy lý trong việc chống lại sự độc quyền của nhà nước, chống lại yếu tố quan liêu hóa và sự đàn áp dân chủ Bên cạnh đó, tác giả trình bày một số quan điểm của các nhà hiện sinh trong việc hình thành một phương pháp giáo dục mới nhằm đề cao tính sáng tạo trong lao động

Trong tác phẩm Triết lý giáo dục thế giới và Việt Nam của tác giả Phạm

Minh Hạc (nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2011) đã đề cập khía cạnh của giáo dục hiện sinh khi nhấn mạnh “giá trị của bản thân” trong việc đề xuất xây dựng triết lý giáo dục

Bài viết Thuyết hiện sinh: “Tiến lên để sống” của tác giả Bùi Văn Nam

Sơn, đăng trên Tạp chí Tia sáng, chủ nghĩa hiện sinh mà ông nói đến là tính chủ thể cụ thể của con người, chứ không phải khái niệm trừu tượng về chủ thể Ông đã nói lên những băn khoăn, thao thức, đau khổ và lựa chọn trong thân phận làm người

Trang 4

Một trong những cuốn sách đáng chú ý nữa là Triết học hiện sinh của

nhà nghiên cứu Đỗ Minh Hợp (chủ biên, 2010) Cuốn sách được chia làm bốn chương Đây là công trình nghiên cứu công phu của nhóm tác giả về chủ nghĩa hiện sinh Tác phẩm đã cho người đọc thấy được bức tranh cơ bản về chủ nghĩa hiện sinh dưới cách tiếp cận độc đáo của nhân học văn hóa, cũng như bản thể luận, cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu chủ nghĩa hiện sinh Qua cách tiếp cận độc đáo đó, nhóm tác giả đã phân tích các triết gia tiền bối cũng như các đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa hiện sinh Phần cuối của cuốn sách nhóm tác giả đã đưa ra những hệ thống khái niệm cũng như chủ đề cơ bản của triết học hiện sinh Đọc tác phẩm này trong phần các tác gia tiêu biểu của chủ nghĩa hiện sinh, tác giả Đỗ Minh Hợp và các cộng sự cũng dẫn chứng, phân tích về triết gia hiện sinh Karl Jaspers

Công trình Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa của Đỗ Đức Hiểu

(nhà xuất bản Văn học, 1978) đã đặt ra cho mình nhiệm vụ là: phê phán triết học hịên sinh và văn học hiện sinh chủ nghĩa, kịch phi lí Đồng thời, đề cao vai trò, nhiệm vụ của văn học xã hội chủ nghĩa trong thời đại mới Ở một góc

độ và phương diện lịch sử nào đó, công trình ra đời trong bối cảnh lịch sử như vậy có tác dụng vô cùng to lớn đối với đời sống tinh thần của đất nước, dân tộc lúc bấy giờ

Trong cuốn sách Giới thiệu vài nét về các chủ nghĩa: cấu trúc, hiện sinh, phân tâm, thực dụng trong văn học của nhóm tác giả Nguyễn Đức Nam,

Phong Hiền, Hoàng Ngọc Hiến, Hoàng Trinh, Hoàng Việt (xuất bản trước năm 1975) đề cập bốn trào lưu chủ yếu trong văn học nghệ thuật tư sản hiện đại: chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa phân tâm và chủ nghĩa thực dụng Những nội dung trình bày trong cuốn sách có ý nghĩa rất lớn về

mặt tư liệu cho tác giả luận văn tham khảo

Trang 5

Hai là, nhóm công trình nghiên cứu về triết học giáo dục trong chủ

nghĩa hiện sinh của các tác giả nước ngoài

Công trình Schopenhauer nhà giáo dục của Friedrich Nietzsche, bản

dịch Mạnh Tường và Tố Liên (nhà xuất bản Văn học, 2006) đề cập vấn đề hiện sinh trong định hướng giáo dục tương lai và cách đánh giá một nhà triết học theo các gương mẫu mà họ đưa ra

Trong tác phẩm Triết học thế kỷ XX của Remo Bodei đã cho thấy, triết

học của nền văn hóa phương Tây với xuất phát điểm từ triết học Khai sáng và

có thể truy nguyên sâu xa hơn tới văn hóa triết học Hy Lạp cổ đại; ảnh hưởng của những tư tưởng triết học hiện sinh với những chủ đề về đời sống hoạt động, nhìn về phía trước, với những cơn mê cuồng khách quan, v.v… để từ

đó triết học trong thế kỷ ấy được xây dựng trên nền những biến cố và khoa học lớn lao của thời đại, đồng thời, nhấn mạnh tới những khát vọng làm sáng

tỏ các vấn đề trọng đại, thiết thân đối với tất cả chúng ta Có thể thấy, cuốn sách không trực tiếp nói về triết học hiện sinh Jaspers, những triết thuyết cũng như chủ đề của nó có ảnh hưởng bởi tư tưởng hiện sinh phương Tây

Công trình Nietzsche và triết học của Gilles Deleuze, bản dịch của

Nguyễn Thị Từ Huy, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính (nhà xuất bản Tri thức, 2010) với những phân tích thấu đáo và mang tính phê phán về triết học của

Nietzsche, Deleuzes soi sáng tác phẩm của triết gia này, người vốn thường

xuyên được quy giản về chủ nghĩa hư vô, về ý chí quyền lực về hình ảnh siêu nhân Ông đã đề cập vấn đề hiện sinh ở chổ nhìn thấy rằng dự án triết học của

Nietzsch trong việc vượt qua siêu hình học có hiệu lực ở chổ nó “tố cáo mọi

huyễn hoặc từng tìm thấy trong biện chứng pháp nơi ẩn náo cuối cùng”

Trang 6

Ba là, công trình các luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ nghiên cứu về

các đề tài có liên quan đến vấn đề con người trong triết học hiện sinh Karl Jaspers

Luận án Phó Tiến sĩ Triết học của tác giả Lê Kim Châu, với nhan đề:

Chủ nghĩa hiện sinh và một vài ảnh hưởng của nó ở miền Nam Việt Nam,(1996, tại Viện Triết học) là công trình chuyên sâu, đã làm rõ một số nội

dung cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh, bước đầu tìm hiểu quá trình du nhập cùng một số biểu hiện của nó ở miền Nam nước ta trong những năm dưới chế

Luận văn thạc sĩ Quan niệm đạo đức học trong chủ nghĩa Hiện sinh của Nguyễn Thị Như Huế (2007, tại Trường Đại học Khoa học xã hội và

Nhân văn Hà Nội) đã phân tích bối cảnh, nguồn gốc ra đời quan niệm đạo đức học trong chủ nghĩa hiện sinh như thiện và ác, trách nhiệm, sự không trung thực và hèn nhát, về lương tâm và tội lỗi qua một số triết gia tiêu biểu: làm rõ giá trị và hạn chế của quan niệm đạo đức học trong chủ nghĩa hiện sinh Tác giả đã đưa ra những nhận xét, đánh giá về những quan niệm đạo đức trong chủ nghĩa hiện sinh trong luận văn của mình

Những công trình nghiên cứu trên đề cập rất nhiều đến tư tưởng giáo dục của các nhà triết học hiện sinh như Schopenhauer, Nietzsche, Karl Jaspers… Tuy nhiên, đối với triết học giáo dục của Karl Jaspers, các tác giả

Trang 7

chỉ dừng lại ở mức độ đề cập một vài khía cạnh trong tư tưởng giáo dục của ông mà không đi sâu phân tích những giá trị của triết học giáo dục Karl Jaspers Trong khuôn khổ một luận văn tốt nghiệp, trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của những tác giả đi trước, bằng kiến thức và tìm hiểu sâu hơn, luận văn này tập trung phân tích những giá trị về triết học giáo dục của Karl

Jaspers đối với nền giáo dục Việt Nam hiện nay

3 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích chủ nghĩa hiện sinh với tư cách là cơ sở triết học giáo dục của Karl Jaspers, luận văn chỉ ra những giá trị, hạn chế và ảnh hưởng của tư tưởng triết học giáo dục Karl Jaspers đối với nền giáo dục Việt Nam

hiện nay

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt mục đích nghiên cứu nói trên luận văn có nhiệm vụ:

- Trình bày những nội dung cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh của Karl Jaspers với tư cách là cơ sở triết học giáo dục của ông

- Phân tích những nội dung cơ bản trong triết học giáo dục của Karl Jaspers

- Chỉ ra những giá trị, hạn chế và những ảnh hưởng của tư tưởng triết

học giáo dục của Karl Jaspers đối với nền giáo dục Việt Nam hiện nay

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

5.1 Khách thể nghiên cứu:

Triết học của Karl Jaspers và nền giáo dục Việt Nam

5.2 Đối tượng nghiên cứu:

Tư tưởng triết học giáo dục của Karl Jaspers và sự ảnh hưởng của nó

đến giáo dục Việt Nam hiện nay

Trang 8

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài là những tư tưởng triết học giáo dục của Karl Jaspers được thể hiện trong hai tác phẩm nổi tiếng của ông là

Triết học nhập môn và Ý niệm đại học

7 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu dựa trên học thuyết của chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và quan điểm của ngành Giáo dục Việt Nam hiện nay

Để thực hiện đề tài, tác giả dựa trên những quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục và sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử

và chủ nghĩa duy vật biện chứng, đồng thời, tác giả còn sử dụng các phương

pháp nghiên cứu khác như: phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch

8 Giả thuyết khoa học

Tư tưởng triết học giáo dục của Karl Jaspers được thể hiện cụ thể qua mục đích, phương pháp và chủ thể giáo dục Karl Jaspers luôn chủ trương một phương pháp giáo dục toàn diện, người học luôn đứng ở vị trí trung tâm, giảng viên được xem là người “đỡ đẻ” cho sinh viên khai phá khả năng tiềm tàng của họ Đồng thời, trong quá trình giáo dục sinh viên và giảng viên phải thường xuyên trao đổi, thảo luận và tranh luận với nhau để tạo một không khí học tập thân thiện giữa người dạy và người học

Triết học giáo dục Karl Jaspers là hướng đến sự tự do và sáng tạo của người học, ông coi nhẹ vấn đề thi cử trong giáo dục nhằm hướng đến một nền giáo dục dân chủ với sự phát triển của một cá nhân cụ thể trong một cộng đồng xã hội Điều này cho thấy, Karl Jaspers đề cao vị trí trung tâm của người học và vai trò định hướng của người thầy, những tư tưởng trong triết học giáo dục của ông có những điểm phù hợp với quan điểm cải cách giáo dục hiện

Trang 9

nay ở Việt Nam, mà trước hết là phương pháp giáo dục Karl Jaspers luôn hướng đến phát huy sự tự do, khả năng sáng tạo của người học và luôn đặt người học ở vị trí trung tâm trong hoạt động dạy học Tư tưởng này phù hợp với quan điểm đổi mới phương pháp giảng dạy hiện nay ở các cấp học trong nền giáo dục Việt Nam

Trong triết học giáo dục Karl Jaspers, ông luôn hướng đến cái thống nhất giữa mục đích, chương trình, nội dung và phương pháp giáo dục Điều này giáo dục Việt Nam chưa thực hiện được bởi trong nội dung giáo dục Việt Nam vẫn còn nặng về lý thuyết ít thực hành và xem nhẹ việc đào tạo phẩm chất và kỹ năng Trong khi đó, mục tiêu giáo dục là đào tạo những con người phát triển toàn diện về tri thức, kỹ năng và phẩm chất như vậy giữa mục tiêu

và nội dung giáo dục đã có sự không thống nhất với nhau

Một vấn đề trong quan điểm triết học giáo dục của Karl Jaspers có ảnh hưởng lớn đến giáo dục Việt Nam là việc thi cử Từ kinh nghiệm thực tiễn của nền giáo dục nước Phổ, Karl Jaspers cho rằng, trong suốt quá trình học tập của người học, chỉ cần một kì thi duy nhất là đủ, không cần chuỗi dài các

kì thi Nếu Karl Jaspers xem nhẹ việc thi cử thì đối với nền giáo dục Việt Nam hiện nay vẫn còn đặt nặng vấn đề này

Như vậy, những quan điểm triết học giáo dục của Karl có những giá trị quan trọng về lý luận và thực tiễn đối với nền giáo dục Việt Nam, nó là cơ sở

để các nhà giáo dục Việt Nam hoạch định các giải pháp, phương hướng giải quyết các vấn đề bất cập của giáo dục hiện nay Vì vậy, nếu đề tài này được ứng dụng sẽ góp phần làm cơ sở cho việc hình thành con đường giáo dục toàn diện của các thế hệ trẻ người Việt Nam

9 Cấu trúc luận văn

Trang 10

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần

nội dung luận văn gồm 2 chương 6 tiết

10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn

10.1 Những luận điểm cơ bản của luận văn:

- Chủ nghĩa hiện sinh được hình thành trên do sự khủng hoảng, sự bại hoại tinh thần của chủ nghĩa duy lí gây nên trong xã hội phong kiến phương Tây hiện đại Trước sự phát triển ưu thế của kinh tế, khoa học kĩ thuật đã làm xáo trộn những giá trị văn hóa, ngừng trệ cuộc sống con người; con người thực sự khủng hoảng mất niềm tin vào cuộc sống

- Triết học hiện sinh Karl Jaspers được hình thành trên cơ sở kế thừa những tiền đề tư tưởng của Kierkegaard, triết gia Nietzsche, triết gia Husserl… Jaspers đã khai thác, nói lên tiếng nói và sử dụng phương pháp một cách uyên thâm của các nhà triết học trước đó một cách hữu hiệu trong học thuyết triết học của mình

-Triết học giáo dục Karl Jaspers được thể hiện ở nhiều nội dung như mục đích giáo dục, bản chất giáo dục, chương trình giáo dục, nội dung giáo dục và chủ thể giáo dục…Ông luôn hướng đến sự tự do cá nhân của con người, phát huy tối đa tính sáng tạo và khả năng của người học

-Triết học giáo dục của Karl Jaspers có những giá trị quan trọng về lí luận và thực tiễn đối với nền giáo dục Việt Nam, nó là cơ sở để các nhà giáo dục Việt Nam hoạch định các giải pháp, phương hướng giải quyết các vấn đề bất cập của nền giáo dục hiện nay

10.2 Đóng góp mới của luận văn:

Trang 11

- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm rõ những vấn đề căn bản

về con người trong triết học hiện sinh của Jaspers, về vai trò của người học trong giáo dục

- Cung cấp cơ sở lí luận cho những nhà quản lí xã hội, quản trị nhân lực, quản lí giáo dục… có cách nhìn cụ thể khách quan, đúng đắn trong việc hoạch định chính sách về con người, về giáo dục trong giai đoạn hiện nay và tương lai

- Là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập triết học

và hoạt động giáo dục

Trang 12

Chương 1 CHỦ NGHĨA HIỆN SINH - CƠ SỞ TRIẾT HỌC GIÁO DỤC

CỦA KARL JASPERS

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Khái niệm hiện sinh

Hiện sinh là việc con người vươn lên trên mức sống của sinh vật, vì nó

là cuộc sống tinh thần; hiện sinh là nghĩa của đời sống, người ta chỉ vươn tới hiện sinh khi người ta đã ý thức được mình sống để làm gì, sống để thể hiện cái định mệnh cao quý và độc đáo của mình chứ không phải sống để mà sống

Hiện sinh bắt đầu xuất hiện khi con người ý thức sâu xa rằng mình là một chủ thể, tức là chủ động tạo lấy nhân cách và bản lĩnh của mình Ở đây, khoa học thực nghiệm hoàn toàn bất lực, vì hiện sinh là một thực tại tinh thần

nên không một máy móc, một công thức nào có thể diễn tả được

1.1.2 Khái niệm chủ nghĩa hiện sinh

Chủ nghĩa hiện sinh là một trường phái triết học chủ yếu trong trào lưu chủ nghĩa nhân bản phi duy lý Triết học hiện sinh đặt lên vị trí hàng đầu tính đặc thù độc đáo của tồn tại con người Tính độc đáo này không thể nhận thức bằng khái niệm và cũng không thể diễn đạt qua ngôn ngữ

Chủ nghĩa hiện sinh là từ dùng để nói về nghiên cứu của một nhóm các triết gia cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, những người mà tuy khác nhau về học thuyết nhưng có chung niềm tin rằng tư duy triết học xuất phát từ chủ thể con người không chỉ là chủ thể tư duy, mà là cá thể sống, cảm xúc, và hoạt động Trong chủ nghĩa hiện sinh, xuất phát điểm của cá nhân được đặc tả bởi cái

Trang 13

từng được gọi là "thái độ hiện sinh" (the existential attitude), hay một tình trạng mất định hướng và bối rối khi đứng trước một thế giới có vẻ như vô nghĩa và phi lý Nhiều nhà hiện sinh cũng đã coi triết học hàn lâm hoặc triết

học hệ thống truyền thống, ở cả phong cách cũng như nội dung, là quá trừu

tượng và tách biệt khỏi trải nghiệm cụ thể của con người

1.1.3 Khái niệm triết học

“Triết” theo nguyên chữ Hán có nghĩa là “trí” (bao gồm sự hiểu biết sâu rộng về vũ trụ và nhân sinh), theo chữ Hy Lạp (philosophie) là “yêu mến

sự thông thái” Khái niệm “triết học” có những biến đổi nhất định trong lịch

sử, nhưng lúc nào cũng bao hàm: yếu tố nhận thức (sự hiểu biết về vũ trụ, về con người và sự giải thích bằng hệ thống tư duy) và yếu tố nhận định (đánh giá về đạo lý để con người có thái độ và hành động)

Theo quan điểm mácxít, triết học là một trong những hình thái ý thức

xã hội; là học thuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại, của nhận thức và của thái độ con người đối với thế giới; là khoa học về những quy luật

chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy

1.1.4 Khái niệm giáo dục

Giáo dục (tiếng Anh: education) theo nghĩa chung là hình thức học tập

theo đó kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay

nhưng cũng có thể thông qua tự học

Giáo dục, theo nghĩa rộng là sự hình thành nhân cách được tổ chức một cách có mục đích, có tổ chức thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa

Trang 14

nhà Giáo dục với người được giáo dục nhằm giúp người được giáo dục chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người

Giáo dục, theo nghĩa hẹp đó là một bộ phận của quá trình sư phạm, là quá trình hình thành những cơ sở khoa học của thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ, những tính cách, những hành vi, thói quen

cư xử đúng đắn trong xã hội, kể cả việc phát triển và nâng cao thể lực

1.1.5 Khái niệm triết học giáo dục

Triết học giáo dục là ngành triết học về giáo dục và những vấn đề của

nó, chủ đề trung tâm của triết học giáo dục là giáo dục, còn những phương pháp của nó là những phương pháp của triết học Triết học giáo dục có thể là triết học về quá trình giáo dục hay triết học về lĩnh vực giáo dục Nghĩa là, nó

có thể là một phần của giáo dục theo nghĩa quan tâm đến những mục tiêu, dạng thức, phương pháp, hay kết quả của quá trình giáo dục hay quá trình

được giáo dục; hay nó có thể là một dạng metadiscipline theo nghĩa quan tâm

đến những khái niệm, mục tiêu, và phương pháp của giáo dục Như vậy, triết học giáo dục vừa là một phần của lĩnh vực giáo dục vừa là một phần của lĩnh vực triết học ứng dụng, bao gồm các lĩnh vực siêu hình học, nhận thức luận, giá trị học (axiology) và những cách tiếp cận triết học nhằm giải quyết những vấn đề trong và về các chủ đề như phương pháp giáo dục, chính sách giáo dục, và chương trình học, cũng như quá trình học, và những chủ đề khác Chẳng hạn, triết học giáo dục có thể nghiên cứu bản chất của sự nuôi dưỡng và giáo dục, những giá trị và chuẩn mực được thể hiện qua việc nuôi dưỡng và giáo dục, những giới hạn và việc hợp pháp hóa giáo dục với tư cách

là một ngành học thuật, và mối quan hệ giữa lý thuyết giáo dục và thực hành

giáo dục

Trang 15

1.2 Điều kiện, tiền đề ra đời và nội dung cơ bản của triết học hiện

sinh Karl Jaspers

1.2.1 Karl Jaspers cuộc đời và sự nghiệp

Karl Jaspers sinh ngày 23 tháng 12 năm 1883 tại Oldenburg, nước Đức

và mất ngày 26 tháng 02 năm 1969 Ông là một triết gia, nhưng cũng đồng thời là nhà phân tâm học tiêu biểu hàng đầu thế kỷ XX Những tư tưởng của ông có ảnh hưởng mạnh mẽ tới thần học, phân tâm học và triết học hiện đại Ông sinh tại Oldenburg có mẹ làm việc cho một nông trại địa phương, cha làm luật gia Ông sớm quan tâm đến triết học nhưng chọn ngành luật khi vào đại học bởi những ảnh hưởng của người cha Jaspers đã chọn học luật tại Trường đại học Heidelberg, sau đó học tại Muyschen từ 1901 – 1902 Ông lại theo học trường y tại Berlin và tốt nghiệp trường này năm 1909 với đề tài luận án tiến sĩ là: Heimweh und Verberchen ( Nostalgie et Criminalite ) bước đầu làm việc tại bệnh viện Tâm thần Heidelberg (nơi mà Emil Kraepelin đã từng làm việc trước đó) Ông được đề cử làm phụ khảo Y khoa, ngành Tâm trị học ở Heidelberg Chính tại đây, ông nhận thấy và thất vọng về phương pháp mà giới y học bấy giờ nghiên cứu tiếp cận bệnh tâm thần, ông tự đặt cho mình nhiệm vụ nâng cao phương pháp Phân tâm học Năm 1913, ông được đưa lên làm giảng viên về môn tâm lý học Về sau trở thành giảng viên chính thức cũng như không bao giờ quay lại với công việc điều trị lâm sàng nữa Nhưng sau chính con đường Y khoa và Tâm lý học đã dẫn đà để ông khám phá những u uẩn trong cuộc sống của con người, năm 1916 ông được mời làm

Giáo sư ngoại lệ, Giáo sư thực thụ về Triết học tại Heidenberg đúng năm

1921 Nhưng vào năm 1937 vì lý do chính trị, ông đã bị phong trào Đức quốc

xã cách chức Trong thời ấy ông đã không được phép xuất bản gì cả Mãi tới

Trang 16

năm 1945 ông mới được phục chức và năm 1946 ông được tặng chức "Kỳ lão danh dự" (Ehrensenator) ở Đại học Heidelberg Ở tuổi 40 Jaspers đã có bước

chuyển từ tâm lý học sang triết học, với việc mở rộng những đề tài mà ông từng nghiên cứu trong các công trình y học của ông Jaspers là một triết gia lừng danh ở Đức và châu Âu, tư tưởng của ông có ảnh hưởng sâu rộng trong phong trào hiện sinh trên thế giới Năm 1948, Jaspers nhận chức giáo sư triết học tại đại học Basel ở Thụy sĩ Và tiếp tục hoạt động triết học cho tới khi qua đời tại đây vào năm 1969

Như vậy ta thấy, Jaspers không chỉ là một triết gia mà còn là một nhà

Tâm lý học Quyển Allgemeine Psychopathologie: Tâm lý học (được xuất bản

năm 1913) là một yếu luận quan trọng mà ngày nay vẫn được coi là một căn

bản trong các vấn đề về tâm lý học Tiếp theo là quyển Psychologie der Weltanschaungen: Tâm lý học về Vũ trụ quan được xuất bản năm 1919

Quyển này chiếm một vị trí quan trọng trong việc hình thành tý tưởng triết lý hiện sinh của ông Ở đây, chúng ta thấy rõ ảnh hưởng của tư tưởng Kierkegaard lên tư tưởng của ông, nên khi đọc triết học của Jaspers người ta

có cảm giác như đọc một bài chú giải sâu sắc về triết học Kierkegaard Mặt khác, ngoài ảnh hưởng của tư tưởng Kierkegaard, còn nhiều triết gia khác đã

có ảnh hưởng không ít trên sự hình thành và phát triển tư tưởng của Jaspers như: Kant, Fichte, Schelling hay Nicolas de Cuse, Giordano Bruno và

Spinoza, v.v… Hầu hết các triết gia thiên về khuynh hướng Phiếm thần (Pantheisme) và Huyền nhiệm (Mystique) Mặt khác, Jaspers còn đối chiếu tư

tưởng của ông với tư tưởng của Nietzche và của Descartes Theo ông,

Nietzsche là một Hiện sinh ngoại lệ (Ausanhme) như Kierkegaard và cũng là một “khích lệ mở đầu” cho triết lý hiện sinh Với Descartes, Jaspers nhận

thấy, ông khám phá ra được những chân lý tuyệt vời khi “hoài nghi” và “suy

tưởng”, nhưng vì Descartes đã không trung thành với chính “nguồn suối” ấy

Trang 17

nên những chân lý kia trở thành võ đoán chật hẹp Tóm lại, Jaspers đã tổng hợp được những khuynh hướng triết lý rất khác nhau để tiến dần về hướng triết học hiện sinh Với việc cho xuất bản bộ sách lớn gồm 3 quyển nhan đề

Philosophie Jaspers đã cho thấy, lập trường căn bản về hiện sinh và những

vấn đề liên quan đến truyền thống triết lý Hy Lạp và Tây phương đã được

vạch ra trong triết học của ông Nghĩa là, 15 năm sau khi biên soạn quyển Von der Wahreit (bàn về sự thực) và bộ Philosophische (triết học), ông vẫn còn

trung thành với những lập trường của bộ triết học đó Ngoài ra, chúng ta còn phải kể đến một số tác phẩm nhỏ hơn xem ra hơi xa với viễn tượng hiện sinh, nhưng thực sự cũng giúp hiểu thêm về triết học hiện sinh của ông chẳng hạn

cuốn Die geistige Situation der Zeit (Hiện trạng tinh thần thời đại) và cuốn Vom Ursprung und Ziel der Geschichte (Nguồn gốc và Ý hướng lịch sử) Sau

khi đã được trình bày thêm một phần ngắn gọn trong bài viết này, ông còn

phát triển thêm tư tưởng trong những bài văn như: Verunft und Exitenz (Lý tính và hiện sinh); Existenzphilosophie (Triết lý hiện sinh); Der philosophische Glaube (Niềm tin triết lý) và Einfiihrung in die Philosophie

(Triết học nhập môn) Trong cuộc đời nghiên cứu lý luận của mình, Jaspers

đã nhiều lần được phong tặng bằng tiến sĩ danh dự, được tặng giải thưởng Goethe năm 1947 và giải thưởng hoà bình của Hiệp hội Kinh doanh sách Tây Đức năm 1958 Sau nhiều năm cống hiến và hoạt động trên lĩnh vực triết học,

y học, nhà hiện sinh người Đức đã để lại cho chúng ta nhiều tác phẩm có giá

trị, như Triết học, gồm 3 tập (1932); Ý tưởng đại học (1946); Câu hỏi về tội lỗi của nước Đức (1946); Đức tin triết học (1948); Nguồn gốc và mục tiêu của lịch sử (1949); Tương lai nhân loại (1961); Đức tin triết học đối với sự mặc khải (1962),… Cho đến trước khi qua đời, Jaspers đã xuất bản 30 tác

phẩm và ngoài ra, ông còn để lại hàng nghìn trang bản thảo viết tay chưa được công bố cũng như rất nhiều thư từ quan trọng trao đổi với nhà triết học

Trang 18

Mỹ gốc Đức - Hannah Arendt Khác với nhà triết học M Heidegger đã gia nhập Đảng Quốc xã, Jaspers phản đối kịch liệt chủ nghĩa phát xít và ông cho rằng: "Bất kỳ ai tham gia tích cực vào việc chuẩn bị hay thực hiện những tội

ác chiến tranh chống lại loài người đều có tội về mặt đạo đức"

Với một tư duy biện chứng sâu sắc, tinh tế, ông đã đi vòng theo những quanh co của hiện sinh để mô tả những gì dường như không thể làm được, mặc dù lối lập luận của ông đôi khi quá phức tạp, chi ly Ngoài những giá trị suy tư vừa nói, triết lý của Jaspers thể hiện ra như một bài học hay kinh nghiệm đạo đức cao siêu và phóng khoáng Vì với mỗi trình bày hay miêu tả

về một khía cạnh nào về hiện sinh, ông cũng đồng thời nêu lên một hình ảnh đạo đức để khích lệ chúng ta vươn lên những khuynh hướng siêu việt thâm sâu Nhưng phải nói ngay rằng, đây không phải một thứ đạo đức ngoại tại, phiến diện hay tổng quát mà là một thứ đạo đức xuyên tới Có thể nói, đây là

"đạo tại tâm" tức là, ở đây người đọc vừa học triết lý lại vừa sống trong triết

lý của chính mình học Thực vậy, mỗi lần đọc lại những trang Triết học nhập môn là một lần tư duy và tâm hồn như được tắm lại trong một sức sống và suy

tư mới, thông qua đó thấy được giá trị, những đóng góp của triết học Jaspers trong thế kỷ XX

Trên cơ sở những tác phẩm cơ bản của Jaspers, tác giả luận văn đi vào trình bày một cách khái quát những tư tưởng hiện sinh và triết học giáo dục trong 2 tác phẩm của ông là Triết học nhập môn và Ý niệm đại học

Tác phẩm Triết học nhập môn gồm 3 tập (1932) là tác phẩm quan trọng

nhất, chứa đựng hầu như trọn vẹn chủ đề hiện sinh của Jaspers Ở đây, ông đã trình bày những hiểu biết, đánh giá của mình về lịch sử triết học và đưa ra quan niệm về vũ trụ hiện sinh trên một số phương diện Triết học Jaspers là sự kết hợp tinh tế và sâu sắc triết học Kierkegaard với triết học Nietzsche, cộng

Trang 19

với một tinh thần năng động của truyền thống và hiện đại, khác với đường lối tiêu cực của Jean Paul Sartre Trong triết học Jaspers, người ta nhận thấy tinh thần hiện sinh khá sâu sắc, khi ông chú trọng với mọi hình thái hiện sinh của con người trong không gian và thời gian Khi chống lại những luận điểm về con người của Plato, Comte, Hegel, Nietzsche…, ông cho rằng, những quan niệm này nhất định sẽ đưa con người tới chỗ tự tôn mình làm Thượng đế và

do vậy, sẽ đưa con người tới những cái điên rồ, vô lý Triết học Jaspers là kết quả của những tư tưởng, những suy ngẫm chân thành và sâu sắc về con người Trong triết học của ông, người ta thấy những suy tư trong việc đi tìm định mệnh con người, thấy sự cố gắng của ông trong việc giúp cho con người thoát

ra khỏi cảnh sa lầy tự mãn và do vậy, những suy tư, cố gắng này của ông đã

có ảnh hưởng tích cực tới nền triết học hiện đại Điều đáng ghi nhận nhất trong triết học về con người của Jaspers là sự thức tỉnh con người, buộc con người phải tự ý thức về trách nhiệm làm người của mình và phải sống sao cho xứng đáng với sự hiện sinh ấy Tư tưởng của Jaspers về tự do, về tôn giáo cũng mang ý nghĩa sâu sắc, khi nó giúp cho con người nhận thức được tự do

có giới hạn, tự do là ý nghĩa căn bản của hiện sinh, nhưng đó không phải là tự

do vô lối, vô ý thức của con người

Cuốn Ý niệm đại học dài 164 trang, gồm 3 phần không đều nhau: Phần

I bàn về đời sống tinh thần nói chung; phần II bàn về những mục tiêu của Đại học; phần III bàn về những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của đại học Trong đó, phần II là quan trọng nhất, nên được trình bày một cách sâu rộng hơn hai phần kia Trong cuốn sách này, Jaspers đã chỉ ra hiện thực tại nước Đức, tại các trường đại học của Đức trong cuộc khủng hoảng nhận thức chung

đã tiến hành những cải cách, mang tới những thất vọng, lãng phí và vô nghĩa chính trị, đưa tới việc đe dọa các trường đại học ở Đức Ông đã đặt ra những câu hỏi mà các trường đại học của Đức cần trả lời như: các trường đại học của

Trang 20

tương lai là như thế nào? Cần có bao nhiêu cuộc cải cách, có bao nhiêu cạnh tranh, làm thế nào với các vấn đề quốc tế mà họ cần phải trở thành? Các chuyên gia nổi tiếng tham gia vào nghiên cứu và trường đại học thực hành đặt nền móng cho các cuộc tranh luận hiện nay Từ sự khởi đầu trong thế kỷ XII,

để cải cách các trường đại học của Wilhelm von Humboldt và các trường đại học cho quần chúng trong thời đại Phạm vi từ phân tích lịch sử quan điểm thực tế kích thích tư duy và tương lai mới cho các trường đại học của tương

lai

1.2.2 Những điều kiện kinh tế, chính trị và văn hóa - xã hội cho sự

ra đời chủ nghĩa hiện sinh Karl Jaspers

Từ nửa cuối thế kỷ XVIII, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật

đã đưa các nước phương Tây tới sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội theo con đường tư bản chủ nghĩa Sự phát triển của kinh tế, xã hội phương Tây lúc bấy

giờ được đánh dấu bằng Cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh năm 1760, lúc

đầu nó được bắt đầu trong ngành công nghiệp dệt, sau đó đã lan rộng ra khắp các ngành sản xuất khác để làm thay đổi bộ mặt đời sống xã hội nước Anh, biến nước Anh từ một nước công nghiệp nhỏ bé thành một nước công nghiệp dẫn đầu lúc bấy giờ và chủ nghĩa tư bản ở Anh trở nên lớn mạnh cũng như có tầm ảnh hưởng lớn trên thế giới Cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh đã kéo theo sự phát triển nhanh chóng trong nền kinh tế, cũng như có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phân chia giai cấp trong xã hội Điều này đã được Ph Ăngghen

phân tích khá tỉ mỉ trong tác phẩm Tình cảnh nước Anh thế kỷ mười tám

Cuộc cách mạng này được đánh dấu bằng sự kiện James Watt chế tạo thành công chiếc máy hơi nước đầu tiên trên thế giới năm 1768 Sau đó, với nhiều

sự kiện chuyển mình khác trong nền kinh tế xã hội lúc bấy giờ với những phát minh, cải tiến kỹ thuật trong các lĩnh vực như: sản xuất gốm, cơ khí, máy kéo

Trang 21

sợi… Kết quả của những phát minh, cải tiến đó là sự phát triển nhanh chóng của nền công nghiệp Anh, mà đầu tiên là trong lĩnh vực thủ công nghiệp, sau

đó được phát triển mạnh sang những ngành khác như công nghiệp chế tạo len, lanh và tơ Bằng việc phát minh và cải tiến kỹ thuật như vậy đã kéo theo một

hệ quả tất yếu là sự dư thừa lao động trong những ngành công nghiệp đó khi sức của máy móc đã dần thay thế sức lao động thủ công với năng suất lao động không ngừng được tăng lên, sản phẩm hàng hóa ngày càng nhiều, chất lượng ngày càng tốt Cuộc cách mạng công nghiệp còn nhanh chóng lan sang nhiều ngành công nghiệp khác như: khai mỏ, chế tạo máy, chế biến kim loại, phát triển giao thông vận tải, v.v… và hàng hóa được vận chuyển lưu thông nhanh chóng trong toàn nước Anh, đã đưa tới một tất yếu khác trong sự phát triển xã hội là sự hình thành giai cấp vô sản do cuộc cách mạng công nghiệp đem lại [2, tr.51] Cuộc cách mạng đã đòi hỏi một số đông công nhân có sẵn

để cung cấp cho nhiều ngành nghề mới Mặt khác, nhờ cuộc cách mạng công

nghiệp mà giai cấp tư sản “đã ngoi lên địa vị của tầng lớp quý tộc thực sự”

[22, tr.39] Sự kiện thứ hai đánh dấu cho sự phát triển của xã hội châu Âu lúc bấy giờ là cuộc Cách mạng Tư sản diễn ra ở Pháp 1789 – 1794 nhằm thủ tiêu chế độ phong kiến để mở đường cho lực lượng sản xuất của xã hội tư bản phát triển Sự kiện này có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với xã hội phương Tây lúc bấy giờ, khi xé toang màn đêm của xã hội đêm trường Trung cổ, làm cho những quan hệ phong kiến cũ bị phá vỡ, chế độ quân chủ sụp đổ, để xã hội phương Tây bước vào một kỷ nguyên mới của tự do, bình đẳng, bác ái, với những quyền con người được đề cao trong xã hội Những nhà tư tưởng ở châu

Âu lúc bấy giờ ở Pháp, Anh, Đức, Hà Lan, v.v… đã nhanh chóng đón nhận những sự kiện này, đặc biệt là các nhà triết học Đức Với tinh thần của khẩu

hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái” mà cách mạng tư sản Pháp mang tới đã thực

sự khơi gợi cảm hứng và là đề tài chủ đạo cho “tự do”, “tinh thần phổ biến”,

Trang 22

cho các nhà triết học thời kỳ này Sự thay đổi mau lẹ của nước Anh và Pháp như vậy trên con đường tư bản chủ nghĩa thì tại Đức lúc bấy giờ vẫn là một nước phong kiến lạc hậu về kinh tế và chính trị Với những ràng buộc bởi quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu, sự tập trung ruộng đất trong tay địa chủ

ở nông thôn và chế độ phường hội trong thành thị đã làm năng suất lao động thấp, đời sống của dân chúng thì nghèo nàn, lạc hậu và cùng cực Mặc khác,

sự phân chia lãnh địa thành cát cứ phong kiến, cùng với sự phân chia về kinh

tế và chính trị đã cản trở nước Đức phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa Đúng như Ăngghen khi nghiên cứu về nước Đức đã nhận xét về “tình hình nước Đức” như sau: “Mọi cái đều tồi tệ và tâm trạng bất mãn đã bao trùm cả nước Không có giáo dục, không có phương tiện ảnh hưởng đến ý thức quần chúng, không tự do báo chí, không có dư luận xã hội, thậm chí không có buôn bán tương đối lớn với các nước khác – không có gì cả ngoài sự

đê tiện và tự tư tự lợi; lề thói con buôn hèn mạt, xum xoe, nịnh hót thảm hại

đã xâm nhập toàn dân Mọi thứ đều nát bét, lung lay, xem chừng sắp sụp đổ,

thậm chí chẳng còn lấy một tia hy vọng chuyển biến tốt lên, vì dân tộc thậm chí không còn đủ sức vứt bỏ cái thây ma rữa nát của chế độ đã chết rồi” [2,

tr.54] Có thể thấy, nước Đức bước vào thời đại công nghiệp muộn hơn so với các nước Anh, Pháp lúc bấy giờ, cộng với những khác biệt trong sự hình thành dân tộc Đức so với các nước khác nên giai cấp tư sản ở Đức bấy giờ không thể hiện được vai trò tiên phong trong xã hội như ở các quốc gia khác Còn các nhà triết học lúc bấy giờ của Đức lại chống lại những cải cách ấy bằng con đường cách mạng xã hội và vì vậy với những nhà triết học Đức họ cũng đã tạo nên những hệ thống triết học trừu tượng, tách khỏi đời sống thực tiễn, phủ nhận con đường cách mạng cải tạo hiện thực Bế tắc trước thực trạng kinh tế - xã hội lúc bấy giờ, cũng như những giá trị nhân quyền bị bóp nghẹt trong xã hội phong kiến quân chủ Phổ, các nhà triết học duy tâm mà bắt

Trang 23

nguồn từ I.Kant trở đi đã xây dựng một hệ thống triết học trong tư duy, ý thức của chủ thể (con người), đặc biệt đề cao tính năng động và tính duy lý của chủ thể Với tư duy biện chứng sâu sắc các nhà triết học duy tâm Đức khi đi sâu vào chủ thể (do Kant khởi xướng) văn hóa tinh thần đã có những đóng góp to lớn trong việc xây dựng nền tảng triết học độc đáo và tạo nên bước ngoặt trong lịch sử triết học phương Tây mà sau này các nhà triết học trong thế kỷ

XX đã kế thừa những tư tưởng về con người trong triết học của Kant Bước vào thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản phương Tây ngày càng phát triển, mang nhiều diện mạo mới với sự chuyển mình sang giai đoạn chủ nghĩa tư bản hiện đại Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật được thay thế bằng cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, đã làm biến đổi sâu sắc bộ mặt đời sống xã hội phương Tây lúc bấy giờ Trong xã hội thời kỳ hiện đại, nền sản xuất phương Tây đã thể hiện sức mạnh vượt trội với quy mô sản xuất tăng, dẫn tới tích tụ sản xuất lớn, sản xuất hàng hóa phong phú và đa dạng, v.v… thành quả của những tiến bộ trong khoa học kỹ thuật ấy được ý thức hệ của xã hội phương

Tây miêu tả như thành quả của chủ nghĩa duy lý [5, tr 5] Lịch sử đã ghi nhận

và cho thấy, xã hội phương Tây bước từ giai đoạn phong kiến sang tư bản chủ nghĩa, được gọi là thời kỳ của triết học Khai sáng để thay thế cho đêm trường Trung cổ ở châu Âu Từ đó người ta cho rằng, mọi tiến bộ trong đời sống xã hội chỉ có thể thực hiện được dựa trên sự phát triển phồn vinh của khoa học

kỹ thuật và công nghệ, thông qua sự duy lý hóa chính trị, kinh tế và toàn bộ

đời sống xã hội Sự lạc quan đối với trí tuệ và tri thức đã thể hiện một cách đầy đủ và triệt để nhất trong ý thức lấy công nghệ làm nền tảng Cuộc cách mạng khoa học công nghệ giữa thế kỷ XX đã làm nảy sinh ý tưởng cho rằng,

sự phát triển khoa học – kỹ thuật có thể cứu chủ nghĩa công nghiệp khỏi cuộc khủng hoảng, loại trừ những xấu xa, băng hoại và mâu thuẫn vốn có trong xã hội của nó Sự phát triển ngày càng mạnh mẽ trong khoa học kỹ thuật có tác

Trang 24

động không nhỏ tới sự phát triển trong kinh tế đã đưa đến sự hình thành một

xu hướng duy lý cao gọi là chủ nghĩa kỹ trị và những quan điểm kỹ trị được

bộc lộ rõ ràng trong những mô hình xã hội của những nhà tương lai học về chủ nghĩa công nghiệp mang nhiều màu sắc khác nhau Trong đó, tính duy lý luôn luôn đối lập với tính phi duy lý, như tâm linh, tôn giáo, đạo đức, tình yêu, v.v… và được coi là phương thức vạn năng để hoàn thiện xã hội Người

ta đã có sự tuyệt đối hóa trong sự định nghĩa cũng như hiểu về xã hội khi quan niệm rằng, mọi tiến bộ xã hội được hiểu như là kết quả của sự truyền bá những tư tưởng duy lý chân thực trong việc loại bỏ những điều phi duy lý Điều này đã đưa đến sự ngộ nhận về sự toàn năng của tư duy khoa học - kỹ thuật trong việc giải quyết những vấn đề của xã hội đặt ra lúc bấy giờ

Trong những biểu hiện của chủ nghĩa duy lý trong đời sống xã hội lúc bấy giờ thì phải nói đến chủ nghĩa duy lý về nhà nước và thị trường, điều mà

J Habermas đã chỉ ra đó là hai trụ cột của xã hội phương Tây hiện đại Theo

đó tác giả có sự phân tích độc đáo như sau: Tính duy lý của nhà nước, thể hiện ở chỗ nó bị chi phối bởi những nhà kỹ trị, nhà quản lý chuyên nghiệp tạo thành một nhà nước quan liêu ngày một trương phình đè lên con người [5, tr 7] Vì vậy con người muốn thoát khỏi sự đè nén khỏi nhà nước duy lý ấy thì con người phải phá bỏ, vượt qua sự cưỡng bức quyền lực ấy để xây dựng một

xã hội mới công bằng, bình đẳng về chính trị Còn thị trường được xem như một thành tựu vĩ đại, sánh ngang với những thành tựu trí tuệ khác của con người Sức mạnh của nó là sản sinh ra một “xã hội tiêu thụ”, “xã hội dư thừa”, một hiện tượng “tiện nghi đại chúng” đã được ý thức hệ hóa khi trở thành phương tiện hòa nhập, khóa chặt con người vào xã hội không còn một lối thoát Có thể nhận thấy, với chủ nghĩa duy lý, xã hội phương Tây đã đạt tới giai đoạn tột cùng của nó và trong sự phát triển tột cùng của nó đã nảy sinh trong nó là sự khủng hoảng Các nhà triết học phi duy lý như Nietzsche,

Trang 25

Spenler đã chỉ rõ sự suy tàn, sự suy đồi ở phương Tây chính ở chủ nghĩa duy

lý kỹ thuật Sống trong giai đoạn đầu của cuộc cách mạng công nghiệp nhưng Mác đã nêu ra những nhược điểm của xã hội kỹ trị như sau: “Trong thời đại chúng ta, mọi sự vật đều tựa hồ như bao hàm mặt đối lập của nó Chúng ta thấy rằng những máy móc có một sức mạnh kỳ diệu trong việc giảm bớt lao động của con người và làm cho lao động của con người có kết quả hơn, thì lại đem nạn đói và tình trạng kiệt quệ đến cho con người Những nguồn của cải mới, từ xưa tới nay chưa ai biết, dường như do một sức mạnh thần kỳ nào đó lại đang biến thành nguồn gốc của sự nghèo khổ Những thắng lợi của kỹ thuật dường như đã được mua bằng cái giá của sự suy đồi về mặt tinh thần” [5, tr.8], hay như Mác viết “Tất cả những phát minh của chúng ta và tất cả sự tiến bộ của chúng ta tựa hồ như đang dẫn tới chỗ là, những lực lượng vật chất thì được ban cho một đời sống tinh thần, còn đời sống của con người vốn đã

bị tước mất cái mặt tinh thần rồi thì nay lại bị hạ thấp xuống trình độ những lực lượng vật chất đơn thuần” [5, tr.8] Với bối cảnh lịch sử, xã hội như vậy

sự duy lý hóa ở phương Tây đã sa vào khủng hoảng, suy đồi khi nó đã phi nhân vị hóa con người và biến con người chỉ còn là “một lực lượng vật chất đơn thuần” Khi con người đã trở nên bần cùng và kiệt quệ trong bộ máy kỹ trị khổng lồ của xã hội hiện đại, thì sự suy sụp của những cá nhân là điều không thể tránh khỏi Thân phận con người trong chính xã hội mà con người tạo ra ấy đã thực sự nuốt chửng con người với những gì giành được không phải giá trị của loài người mà lại phải trả giá bằng sự băng hoại, suy đồi của đạo đức Khi tìm hiểu về con người trong nền văn minh kỹ trị, F Fromm đã

có những nhận xét thật độc đáo: Ở thế kỷ XIX, sự tàn bạo chống lại con người

vì vậy vấn đề của thế kỷ này theo Nietzsche nói là “Chúa đã chết” Còn ở thế

kỷ XX, con người đã tha hóa, có tính chất nô lệ để biến con người trong tương lai có nguy cơ trở thành thần kinh phân liệt [5, tr 9] và vấn đề của con

Trang 26

người trong thế kỷ này là con người đã chết Chính trong xã hội ấy, con người

đã không còn là chính mình nữa, mà con người trở thành những con người không tư duy, con người như những cái máy vô tri vô giác, không linh hồn

không tình cảm hay nói đúng hơn con người là một sự vô vị khi bị biến thành một sản phẩm bị máy móc, bị tự động hóa để trở thành giản đơn của khoa học – kỹ thuật mà đánh mất mọi đức tính của riêng mình, một nhân vị người không còn nữa Đứng trước thực tại xã hội như vậy cũng như để phản ứng, đối lập với xã hội duy lý đang thống trị trong xã hội phương Tây lúc bấy giờ thì chủ nghĩa Hiện sinh ra đời nhằm chống lại chủ nghĩa duy lý và được tập

hợp dưới lá cờ “nhân học” với một loạt các xu hướng như: Triết học đời

sống, Phân tâm học, Chủ nghĩa nhân vị, Chú giải học, Chủ nghĩa hiện sinh, v.v… (trong triết học); Chủ nghĩa tượng trưng, Chủ nghĩa ấn tượng, Chủ nghĩa vị lai,… (trong văn học) được tập hợp nhằm chống lại chủ nghĩa duy lý Nguồn gốc của chủ nghĩa hiện sinh cũng như các hình thức khác của chủ nghĩa Phi duy lý hiện đại là sự khủng hoảng, sự bại hoại tinh thần do chủ nghĩa duy lý gây nên trong xã hội phương Tây hiện đại Việc phản ứng với chủ nghĩa duy lý không chỉ diễn ra trên bình diện triết học, nghệ thuật mà nó còn được biểu hiện ngay trong đời sống xã hội, với các phong trào hiện thực làm rung chuyển đời sống xã hội tại nhiều quốc gia Mặt khác, chủ nghĩa hiện sinh không chỉ hiện diện ở lý thuyết mà còn được biểu hiện ở những phong cách sống, trào lưu sống, trào lưu phong cách, v.v… trong xã hội lúc bấy giờ Ông tổ của hiện sinh phương Tây hiện đại là Kierkegaard với những suy tưởng của mình mà theo ông được chia làm ba giai đoạn (giai đoạn hiếu mỹ - stade esthétique; giai đoạn đạo hạnh trong đó có phức tạp và do dự và cuối cùng là giai đoạn tôn giáo) [11, tr 84 – 89] để sau này những người như Heidegger, Jaspers, Sartre hoặc như Marcel đã đào sâu thêm và phổ biến thêm những tư tưởng của ông Nói như nhà nghiên cứu J Wahl đã viết “Triết hiện

Trang 27

sinh đã khởi sự nền những suy niệm thuần chất tôn giáo của Kierkegaard… tất cả nền triết học hiện sinh đã xuất phát từ những suy nghĩ của Kierkegaard

về những uẩn khúc của đời sống tư tưởng của ông, về đính hôn của ông và về

sự ông không thể hiệp nhất với vị hôn thê của ông” [11, tr 81] Soren Kierkegaard đã nhận thấy sự đổ nát về tinh thần, còn quần chúng chỉ nhận thấy sự đổ nát đó qua sự đổ nát của vật chất mà thôi Nhưng, cũng phải mất một thế kỷ sau những tư tưởng của ông mới được người đời hưởng ứng Năm

1845, với sự xuất hiện cuốn Etapes sur le chemin de la vie (những chặng

đường đời) mới thực sự đánh dấu sự hoàn tất trong tư tưởng của ông Trước cuộc khủng hoảng của thế giới hiện đại, sự phát triển ưu thế của kinh tế, khoa học kỹ thuật đã làm xáo trộn những giá trị văn hóa, ngừng trệ cuộc sống con người, con người thực sự khủng hoảng và mất niềm tin vào cuộc sống, bằng việc giành lại nhân vị tự do cho con người thách thức mọi sức mạnh của chủ nghĩa duy lý thống trị ở bất cứ nơi đâu thì việc làm của những nhà triết học phi duy lý và những người phát triển chủ nghĩa hiện sinh là một việc làm

nhân văn sâu sắc

1.2.3 Những tiền đề tư tưởng cho sự ra đời chủ nghĩa hiện sinh Karl Jaspers

Chủ nghĩa hiện sinh là một trào lưu triết học, văn học quan trọng trong

xã hội phương Tây Sự ra đời của nó gắn với với sự khủng hoảng trong đời sống xã hội phương Tây lúc bấy giờ cũng như là bối cảnh lịch sử thế giới sau chiến tranh Chủ nghĩa hiện sinh ra đời trong một bối cảnh độc đáo của riêng nó, với các điều kiện kinh tế - xã hội được trình bày như trên, ngoài ra

sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh còn có những tiền đề tư tưởng sau:

Chủ nghĩa hiện sinh được bắt nguồn từ Kierkegaard, song có bước phát

triển mạnh ở Pháp và trở thành một trào lưu thịnh hành trong những năm sau

Trang 28

đó Năm 1946, tại Pari, xuất hiện một số đông thanh niên nói về vấn đề Thượng đế đã chết và vì vậy con người có quyền tự do làm mọi chuyện Những người ấy tỏ ra nghi ngờ đối với mọi thể chế chính trị, họ tuyên bố chống tư tưởng cũng như thành kiến cũ Đặc biệt, theo những thanh niên này, bản chất con người không phải là cái có sẵn và do Chúa tạo ra, mà con người phải hiện sinh để tự tạo nên mình, làm người Con người hiện sinh bằng tự do lựa chọn, trong lo âu Đây là tư tưởng trung tâm của chủ nghĩa hiện sinh hiện đại mà nó có trong các tác phẩm của các triết gia Đức như M Heidegger, K Jaspers, E Husserl, v.v… cũng như các nhà triết học hiện sinh Pháp như J P Sartre, M Ponty, v.v… Chính những tư tưởng đó đồng thời nói lên sự khủng hoảng của những giá trị tư sản và sự lẩn tránh hành động cách mạng Những tư tưởng về dự định và thất bại của con người, về tính phi lý của tồn tại về sự mong manh của kiếp người, về sự cô đơn của con người có nguồn gốc sâu xa trong sự khủng hoảng của xã hội phương Tây, dưới chế độ

tư bản “chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện trên sự đổ nát của chế độ tư sản và nguồn gốc của nó là tư sản” [26, tr 221], chủ nghĩa hiện sinh thường lan rộng

và nhân lên gấp bội với tỷ lệ thuận với tình trạng suy đồi của xã hội Sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất năm 1918 tại Đức, chủ nghĩa hiện sinh có bước phát triển mạnh với những sinh hoạt triết học sôi nổi lúc bấy giờ Còn tại Pháp trong những năm 1940, những tư tưởng của Kierkegaard và Nietzsche được sống lại trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế - xã hội, cũng như những năm chiến tranh Trong những năm tháng đó, với những tàn phá, đổ nát của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929, cùng với sau đó là Chiến tranh Thế giới lần thứ hai với sự mất mát về con người cũng như những giá trị văn hóa, tinh thần bị đảo lộn đã làm cho con người ghê sợ trước sự tàn bạo phi nhân của con người, dè dặt luôn cả với tri thức khoa học, đã được sử dụng để tiêu diệt con người Trước thực trạng đó, rất nhiều người tỏ ra ngao ngán, mất

Trang 29

lòng tin, hoài nghi, bi quan Theo họ, cuộc đời của họ giờ chỉ như những đám mây mù, mọi sự đều trở nên vô nghĩa, phi lý và vô nhân tính Với tâm trạng

chán ghét trước thực trạng điêu tàn đổ nát trong chiến tranh cũng như những bất lực của xã hội tư sản, con người đang khủng hoảng lòng tin khi không còn tin tưởng vào những giá trị cũ hiện thời nữa Thì lúc ấy, con người bắt gặp tư tưởng hiện sinh chủ nghĩa về thân phận con người, điều mà chính con người đang khao khát kiếm tìm, để giờ họ đã thực sự thấy được những gì mình chưa

có, mình đánh mất Và đó là căn nguyên cho sự phát triển của chủ nghĩa hiện sinh Mặc khác, tư tưởng hiện sinh hiện ra như một phản ứng đối với thế giới

đồ vật, nó chi phối không gian sống của con người, cái thế giới máy móc đã dần dần biến con người không còn làm chủ được bản thân mình nữa, mất dần tính tự chủ, để kéo theo là mất cả tính người Những người hiện sinh chủ nghĩa phản ứng với thế giới máy móc và gợi cho con người trở về với bản thân con người, trở về với tính chủ thể, tính tự do của con người và chỉ có tự

do con người Nói như nhà nghiên cứu E Mounier trong cuốn Chủ nghĩa hiện sinh đã viết: “Tưởng ta cũng không nên quên những điều kiện lịch sử đã tạo

nên triết thuyết này Triết học hiện sinh được coi như là một phản ứng chống lại một thế giới trong đó, v.v… chối bỏ thực tại chủ quan nội tại trong tâm hồn mỗi người Bước đầu tiên của triết học hiện sinh khi đi vào thế giới như quay cuồng trong tốc độ máy móc, là kéo con người ra khỏi sự mù quáng vì quảng cáo, vứt con người ra khỏi cái cảnh cứ bám riết lấy sự vật ngoại giới cũng như cách xã giao quá hời hợt giả tạo bên ngoài, để đi sâu vào công cuộc tìm kiếm một cuộc sống có tính người đích thực hơn” [26, tr 222] Phản ứng trước tình trạng máy móc, công thức của xã hội phương Tây cũng như là sự khủng hoảng bởi các tư tưởng triết học lúc bấy giờ, một số người đã hô hào quay trở về với lối sống mang tính hồn nhiên của con người Lối sống này được gọi là lối sống gần tự nhiên ở phương Tây lúc bấy giờ: thanh niên để

Trang 30

râu, tóc dài; phụ nữ không mặc áo lót, v.v… phải chăng họ chỉ muốn chống lại những thói quen máy móc bỏ quên con người mà người ta cảm nhận như họ muốn chống lại những gì trước đó Cũng chính E Mounier đã nhận xét như sau: “thế giới ngoại lai đối với con người theo quan điểm hiện sinh thì chỉ là một dịp để mà tởm lợm không có gì quan trọng, một cái gì đáng lãnh đạm, một khả hữu muôn thuở, v.v…” [26, tr 223] Ông đã nhắc đến nhiều nhà hiện sinh chủ nghĩa nói về chủ nghĩa Mác, vì chủ nghĩa Mác xuất hiện như vũ khí tinh thần của giai cấp công nhân và giai cấp công nhân như

vũ khí vật chất của nó, đã trở thành hệ thống tư tưởng mới, có sức sống và sức hút kỳ lạ đối với các tầng lớp xã hội bị áp bức bóc lột, do đó cũng trở thành nỗi hoảng sợ của giai cấp tư sản Tư tưởng mácxít đã trở thành hiện thực sinh động mang tinh thần nhân văn sâu sắc và tinh thần lạc quan cách mạng với những thành tựu rực rỡ của nó được đánh dấu bằng cuộc Cách mạng tháng Mười Nga cùng với sự ra đời của nhà nước liên bang Xô viết đầu tiên trên thế giới và sau đó kéo theo sự ra đời của hệ thống nước xã hội chủ nghĩa trên toàn thế giới sau chiến tranh là một sự thách thức cho chủ nghĩa tư bản và giai cấp

tư sản lúc bấy giờ Đây thực sự là căn nguyên chính trị xã hội quan trọng khiến cho giai cấp tư sản trong lòng xã hội ấy phải tìm ra một lý thuyết mới nhằm tránh những ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác và là nguyên nhân ra đời chủ nghĩa hiện sinh tại Âu châu lúc bấy giờ Cùng với sự suy đồi ngày càng sâu sắc ở xã hội phương Tây hiện đại dưới chế độ tư sản, chủ nghĩa hiện sinh làm sống lại những tư tưởng bi quan yếu thế về thân phận con người, nó làm sống lại những tín điều cũ, coi cuộc đời là bể khổ, là thung lũng trước mặt, coi mọi cố gắng của con người chỉ là đuổi theo những ảo tưởng, những bể khổ trầm luân, những điều mà con người phải trải qua ở thực tại này chỉ là cuộc sống tạm và cái mà con người thực sự sống, thực sự là cuộc đời chỉ có thể là thế giới bên kia Theo quan điểm của chủ nghĩa hiện sinh, ở cuộc sống này,

Trang 31

con người phải tận dụng những giá trị sống, những gì tốt đẹp nhất để làm người, để sống với ý nghĩa nhân sinh đích thực Có thể thấy, tư tưởng hiện sinh ở đây dưới một góc độ nào đó có những điểm tương trùng, giao thoa sâu sắc với những giá trị, tư tưởng Phật giáo về cuộc đời, về con người, về nhân sinh Song bên cạnh đó, nó cũng có những điểm khác biệt khi trong tư tưởng Phật giáo khuyên răn con người là cam chịu, là nhẫn nhục, chịu đựng để tới với thế giới khác mới là cuộc sống đích thực của con người Còn ở đây, hiện

sinh là hướng con người hãy sống sao cho ra sống để khỏi phải buồn nôn về cuộc đời mình, mà cuộc đời mình phải là sự phóng lên (dự phóng), vươn lên,

tự quyết, độc đáo, v.v… đó mới là hiện sinh đích thực Điều có thể nhận thấy

trong tư tưởng hiện sinh hiện đại có mối liên hệ với những tư tưởng duy tâm tôn giáo khác nhau Người ta đã vẽ lên một cây sơ đồ được gọi là cây thế hệ của chủ nghĩa hiện sinh với nhiều trường phái khác nhau Chủ nghĩa hiện sinh đâu chỉ có một trường phái đồng nhất mà nó có nhiều trường phái khác nhau, thậm chí có người nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh còn cho rằng, có bao nhiêu trường phái hiện sinh chủ nghĩa thì tương ứng với nó là có bấy nhiêu nhà hiện sinh chủ nghĩa, mỗi trường phái hiện sinh mang một nét độc đáo của riêng mình để tạo nên sự đa dạng những trào lưu hiện sinh thế kỷ XX Tuy nhiên, có thể thấy, chủ nghĩa hiện sinh có những đại diện tiêu biểu như sau: Kierkegaard đại diện cho chủ nghĩa hiện sinh hữu thần; ngược lại, Nietzsche tiêu biểu cho chủ nghĩa hiện sinh vô thần; còn Husserl được coi là ông tổ văn

chương triết lý hiện tượng học

Triết gia Soeren Kierkegaard, nhà triết học hiện sinh hữu thần (1813

– 1855 ) Ông sinh tại Đan Mạch và là ông tổ của chủ nghĩa hiện sinh hiện đại Ông sống trong xã hội phong kiến nhưng không chịu ảnh hưởng của cuộc cách mạng Pháp năm 1789 Tư tưởng triết học của ông có sự phản ứng gay gắt với xã hội đương thời lúc bấy giờ, với những phản ứng tiêu cực và mang

Trang 32

tính chất tôn giáo Ông đặc biệt đề cao tinh thần “hãy tự biết lấy chính mình” của Socrate và làm cho mình tự biết mình, làm cho mình trở nên chính mình,

đó là đặc điểm đầu tiên của một tồn tại theo kiểu triết học Kierkegaard Với

phương châm, “Tự biết mình, theo tinh thần của Socrate tức là hiểu thượng đế” [26, tr 225], theo ông, mỗi cá nhân không có trung tâm nào khác hơn

chính mình và “Chỉ có cá nhân có thể quyết định rằng nó thật sự ở trong sự khủng hoảng hay nó là một kỵ sĩ của niềm tin” [26, tr 223] Ở đây, tư tưởng của ông đã mang theo một sự phản ứng lại với xã hội lúc bấy giờ khi con người ta chú trọng tính trừu tượng, tính khái quát và coi thường cái cụ thể, cái

cá biệt bằng cách nhấn mạnh cá nhân, nhấn mạnh tính chủ thể, tính nội tâm Ở điểm này, Kierkegaard đã mang tính chất duy tâm tôn giáo cũng như mang tinh thần cực đoan khi nhấn mạnh tính cá nhân và chủ thể theo tinh thần chủ

nghĩa chủ quan và chủ nghĩa cá nhân Khái niệm hiện sinh như là cái sống

đích thực của cá nhân Theo ông, con người luôn bất hạnh bởi nó bị gạt ra ngoài bản thân nó, vì vậy con người luôn sống bằng hoài tưởng quá khứ hay bằng hy vọng tương lai Điều đó có nghĩa là, ngay lúc này, con người không đạt được cái sống đích thực của nó, tức con người không tồn tại Và điều đáng quý nhất của con người là sự tồn tại hiện sinh và sự hiện sinh là trạng thái tình cảm mà qua đó thấy được cái hữu hạn và cái vô hạn, cái khoảnh khắc và cái vĩnh cửu thống nhất với nhau, để từ đó thấy được hiện sinh không thể định nghĩa mà chỉ có thể mô tả mà thôi Đối với triết học Kierkegaard, niềm tin tôn giáo là tình cảm cao nhất, bởi những tín đồ này được sống trong thử thách, lo

âu, xao xuyến thường xuyên Với trạng thái như vậy nên con người tự đánh mất mình, sống xa Thượng đế Chính sự lo âu ấy đã làm cho cá nhân rút ra khỏi cái chung để trở về với chính mình, hướng về Thượng đế, cũng chính sự

lo âu ấy chính là cây cầu của cái hữu hạn và vô hạn Điểm có thể nhận thấy trong triết học hiện sinh hữu thần Kierkegaard là ông đã nhấn mạnh cái cá

Trang 33

nhân và sự âu lo, nhấn mạnh tính chủ thể và tính nội tâm Người hiện sinh chủ nghĩa là người thích âu lo, người mang trong mình nhiều âu lo là những người

mang tính hiện sinh sâu sắc

Triết gia Nietzsche nhà triết học hiện sinh vô thần của chủ nghĩa hiện

sinh hiện đại Triết học của ông tiêu biểu cho sự phát triển chủ nghĩa hiện sinh

ở châu Âu thế kỷ XX Ông là một triết gia Đức tiêu biểu (1844 - 1900) với

những cách nhìn con người như những cá nhân cô đơn, sự phản ứng với lý tính thuần túy, mà chú ý tới sự đam mê, sự sống cảm giác của cá nhân trước

sự lo âu cũng như sự suy đồi của xã hội tư bản Trong những sáng tác của

mình, ông đề cao con người mà vứt bỏ Thượng đế, theo Nietzsche Thượng đế

đã chết Vì vậy, chân lý không còn nơi trú ngụ ở thiên giới, không phải là

những gì xa lạ mà chân lý có sẵn trong chính mỗi chúng ta, một thực thể luôn luôn tìm sự vượt qua (dépassement), tự vượt qua bản thân mình Nếu làm được như vậy thì chính cá nhân đã trở thành siêu nhân, tức là cá nhân con người chính là Thượng đế Ông đề cao tư tưởng về con người với tinh thần danh dự và sức mạnh, thích hiểm nguy, v.v… Cũng như vậy, theo ông, con người sẽ trở nên bị “nhiễm độc” bởi lòng nhân từ, bởi tôn giáo và mất đi tính cường tráng, lòng trắc ẩn và việc đặt lại tiêu chí về mặt đạo đức tư sản cũng như những tiêu chí đạo đức tôn giáo là việc làm cần thiết Ông nói: “Bọn coi cửa hàng, tín đồ Kitô giáo, bò cái đàn bà, người Anh và bọn dân chủ khác thuộc một bè với nhau” [26, tr 243] Như vậy, ông đã xét lại những tiêu chí của ý thức hệ tư sản tự do cũng như những tiêu chí đạo đức truyền thống Và theo ông, những tư tưởng đó không còn phù hợp nữa khi đã có phong trào dân chủ của công nhân Có thể nhận thấy, trong tiền đề tư tưởng cho sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh hữu thần và vô thần, cả hai đều nhấn mạnh tính chủ thể và

tính tự do, cả hai đều hướng tới dự phóng, siêu việt để con người luôn có dự

Trang 34

định tiến lên, ở mỗi trường phái đều có cách thức riêng và độc đáo của riêng

mình

Triết gia Husserl (1859-1938) ông tổ văn chương triết lý hiện tượng

học Theo ông, tư duy chỉ thực sự là triết học khi nó hướng tới một sự tổng thể hoặc đó là sự suy tư tuyệt đối và được thể hiện ra ý nghĩa cuối cùng của nhận thức và các đối tượng của nhận thức Bằng việc chỉ ra ý nghĩa cuối cùng trong phạm vi sự dâng hiến tuyệt đối đã xác định nên chương trình về hiện tượng học Trong sự dâng hiến đó, sự vật cho chính cái tôi cũng chứa đựng cả

sự hiển nhiên tất yếu và tạo lập nền tảng cuối cùng đối với toàn bộ nhận thức Hành động suy tư nảy sinh trong Cái tôi tuyệt đối, “ở đó diễn ra sự phân ly giữa ý thức tự nhiên và Cái tôi hiện tượng học” [48, tr 45] Đó chính là “Điều

kỳ diệu của những kỳ diệu” mà triết học có nhiệm vụ biến chúng thành những vấn đề khoa học là cái Tôi thuần khiết Trong cái tôi đó, mọi trải nghiệm đều

có thể trở thành đối tượng của tri giác” [48, tr 45] Như vậy, qua sự phân tích những tiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh, chúng ta hiểu được vì sao tuy mang những quan điểm khác nhau trong quan niệm về hiện sinh chủ nghĩa, nhưng ở họ đều có điểm chung là sự phản ứng với tinh thần duy lý, bảo

vệ triết học, duy trì cái bí ẩn dưới những hình thức khác nhau Nói như nhà nghiên cứu E Mounier: “Mối quan tâm đầu tiên của một tư tưởng hiện sinh là không để cho những cái bí ẩn trở thành những vấn đề” [26, tr 246] Qua những phân tích trên, ta nhận thấy, Kierkegaard, Nietzsche và Husserl là những người đặt tiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh Jaspers hay nói một cách khác, Jaspers chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng của các triết gia này Jaspers đã khai thác, nói lên tiếng nói và sử dụng phương pháp một cách uyên thâm của các nhà triết học trước đó một cách hữu hiệu trong học thuyết triết học của mình Jaspers cùng với các nhà triết học cùng thời khác đã đưa những

tư tưởng của các ông tổ chủ nghĩa hiện sinh lên một tầm cao mới mà ở mỗi

Trang 35

một học thuyết có những độc đáo và sâu sắc riêng của nó Jaspers, ông đã xây

dựng lên một học thuyết về hiện sinh được thống nhất và hài hòa trong triết

học của mình

Kinh thánh Kinh thánh mô tả thân phận của con người, loài sinh vật

thụ tạo mang trong mình tội tổ tông truyền kiếp sống thoi thóp như ngọn nến càng cháy càng ngắn, chỉ biết ngắm nhìn đời sống tàn tạ, cầu mong sự cứu vớt

từ Thiên Chúa Những thông số về sự đau khổ của kiếp người và sự làm người trong Kinh thánh được các nhà thần học tiếp nhận, trong đó Karl Jaspers diễn đạt nó trong tác phẩm của mình, mang đậm màu sắc bi quan về

tồn tại của con người cũng như ý nghĩa của sự làm người ở trần thế

Sokrates (470 – 399 TCN) một trong những tiền đề tư tưởng cho sự ra đời của triết học hiện sinh Với khẩu hiệu “hãy tự biết lấy chính mình” chính

là một tuyên ngôn kêu gọi con người hãy dừng ngắm nhìn những vì tinh tú xa xôi, đừng bàn những vấn đề viễn vông mà hãy quan tâm về chính mình, nhận biết chính mình Cái chết của Sokrates chính là hiện thân cho sự dám đảm nhận mình cho dù nó là việc nguy hiểm Chỉ có con người mới biết được tính tất yếu của cái chết, sự hiểu biết đó buộc nó phải suy nghĩ về ý nghĩa của sự

làm người

Blaise Pascal (1623 – 1662) là nhà khoa học có tâm hồn văn chương

Theo ông, con người chỉ là một “cây sậy yếu ớt” trong tự nhiên nhưng là cây sậy biết tư duy, nó tồn tại trong sự bất an vĩnh hằng Tư tưởng của Pascal mang đậm màu sắc bi thương của con người Chủ nghĩa hiện sinh của Karl Jaspers cũng kế thừa ở một khía cạnh nào đó tư tưởng của ông Chủ nghĩa hiện sinh của Karl Jaspers lấy con người cùng thân phận làm đối tượng nghiên cứu nhằm xác lập và định vị cho con người một cách thức sinh hoạt

“dám sống là chính mình, dám là mình” Và bởi vậy, ở đâu bàn đến con người

Trang 36

trong đời sống tồn tại cụ thể của nó thì ở đó bắt đầu nhen nhóm tư tưởng hiện sinh

1.3 Nội dung triết học hiện sinh của Karl Jaspers

Để hiểu rõ hơn về nội dung triết học của Karl Jaspers, chúng ta phải cần hiểu khái niệm “Triết học” được ông quan niệm như thế nào? Hầu như Karl Jaspers không đưa ra một khái niệm cụ thể nào về triết học, mà chủ yếu ông mô tả triết học Đối với ông, triết học chỉ là sự thực hiện, thông qua thực hiện chúng ta mới hiểu, cảm nhận tích lũy kinh nghiệm để hiểu về triết học Đồng thời, Karl Jaspers chỉ rõ đối tượng mà triết học quan tâm, đó là vấn đề

tồn tại, chỉ có thông qua tồn tại chúng ta mới hiểu tường tận mọi vấn đề mà ta

nghiên cứu Karl Jaspers trong quá trình mô tả triết học, ông phân biệt rất chi tiết về tư cách của nhà triết học và nhà khoa học Ông cho rằng, một nhà triết học là người yêu mến sự hiểu biết, tri thức của nhân loại, còn một nhà khoa học là người đã sở hữu tri thức, sau một thời gian họ cũng lãng quên chúng

Vì thế, người theo đuổi triết học phải trải qua một hành trình không có kết thúc, do đó vấn đề triết học không bao giờ dừng lại Triết học đích thực phải hướng tới thân phận con người, giúp con người giải mã những bí ẩn về chính bản thân họ Theo Karl Jaspers, triết học có nguồn gốc từ nội tâm con người,

để có thể trình bày được triết học, con người và thân phận của họ phải hướng suy tư triết lý vào bản ngã Karl Jaspers cho rằng, mục đích của triết học là làm thế nào để con người nhận thức được bản thân của mình Triết học đối với Karl Jaspers có thể xuất hiện ở bất cứ đâu và với mọi người, kể cả trẻ con,

do đó mà triết học tồn tại mãi mãi không bao giờ kết thúc Khi trình bày về

vấn đề triết học, Karl Jaspers đưa ra ba khởi nguồn phát sinh ra triết học Thứ nhất là sự ngạc nhiên của con người Thứ hai là sự hoài ghi của con người Thứ ba là sự lung lạc và sự sa sẩy của con người Với việc chỉ ra ba nguồn

Trang 37

suối phát sinh triết học ta thấy, Karl Jaspers đã thể hiện nội dung triết học của ông là luôn hướng đến bản thân con người

Thời đại của Karl Jaspers là thời đại đầy biến động với những cuộc chiến tranh tàn khóc, đe dọa tính mạng và thân phận của con người Những

ám ảnh đen tối bao quanh xã hội, chúng gây nên cuộc khủng hoảng tinh thần toàn diện cho con người Karl Jaspers đã mô tả thời đại của ông như sau: “nay

là thời đại đổ nát như chưa từng thấy, thời đại đầy bắp bênh, u uẩn không thể

dự đoán” [47, tr.70] Chính xã hội này đã làm con người chỉ còn là một lực lượng vật chất đơn thuần Con người trong xã hội này đã trở thành bần cùng kiệt quệ, cuộc sống bị đe dọa, điều đó buộc họ phải đi tìm một thế giới mới, thế giới nội tâm để nương tựa Chính điều này đã hướng nội dung triết học của Karl Jaspers vào sự luận giải con người Triết học hiện sinh của Karl

Jaspers được thể hiện ở các nội dung cơ bản sau:

Về hữu thể (tồn tại) Tồn tại là vấn đề được bất cứ nhà triết học nào

quan tâm, trong đó, không loại trừ nhà triết học Karl Jaspers Theo ông, các nhà triết học trước ông đã xuất phát từ quan điểm nhị nguyên đối lập giữa chủ thể và khách thể, xem tồn tại chỉ là một đối tượng và họ đã đánh mất vấn đề tồn tại của bản thân nhận thức Tồn tại theo Karl Jaspers không thể đối tượng hóa được, nó được xem là một khái niệm khó diễn tả “Bao Dung Thể” Do đó chúng ta không thể dùng phương pháp nhận thức để lý giải nó Karl Jaspers phê phán các triết gia đã quy bản chất của tồn tại về một dạng cụ thể “nhà hiền triết Thalès tất cả là nước, tất cả đều do nước Về sau người ta lại chủ trương tất cả là lửa hay không khí hay là bất định, vật chất hay là nguyên tử” [47, tr.75] Các nhà triết học này đã chọn một tồn tại cụ thể nào đó để quy ra tất cả các tồn tại sự vật khác Điều này theo Karl Jaspers họ đã vô tình “phân

ly chủ thể và khách thể” [47, tr.76] Karl Jaspers đã chống lại sự phân ly giữa chủ thể và khách thể nhưng theo ông, chính sự phân ly này đã tạo nên “Bao

Trang 38

Dung Thể” “Bao Dung Thể” là chìa khóa để tìm ra mọi vấn đề về tồn tại con người Cũng theo ông, con người không thể chạm hay nhìn thấy được “Bao Dung Thể” mà chỉ cảm nhận nó một cách gián tiếp qua các ký hiệu, Con người “Bao Dung Thể” có một ý nghĩa quan trọng, “nó biến mọi khả thể thành hữu thể minh bạch, nó biến đổi ý nghĩa của khách thể tính Nó lay tỉnh

ý thức ta để ta có khả năng nhận thức được giữa những hiện tượng ảo ảnh đâu

là sự hữu đích thực” [47, tr.79] Căn cứ vào sự phân ly giữa chủ thể và khách thể, Karl Jaspers đã chia “Bao Dung Thể” thành nhiều hình thái khác nhau:

“Là trí năng tức ý thức phổ quát, ai trong chúng ta cũng đều giống nhau cả Là chủ thể sinh tồn, mỗi người chúng ta đã thành một cá tính đặc thù Là hiện sinh, mỗi người mới thật sự hiện hữu là mình trong sử tính riêng tư của mình”

[47, tr.81] “Bao Dung Thể” mà Karl Jaspers quan niệm là cái bất khả tri, nên

rất khó diễn tả cụ thể về nó Chính ông cũng thừa nhận điều đó: “không thể trình bày ý niệm đó vắn tắt hơn được nữa, chỉ xin tóm lược như sau: “được quan niệm là chính sự hữu, bao dung thể mang tên là siêu việt thể (Thiên Chúa) hay vũ trụ Còn khi được quan niệm theo sự hữu của chúng ta thì bao dung thể lại mang tên là chủ thể sinh tồn, ý thức phổ quát, tinh thần và hiện sinh” [47, tr.81] Trong triết học của Karl Jaspers, con người là một nhân vị

có đời sống tâm linh, tinh thần, vì thế mà bất cứ khoa học thực nghiệm nào cũng tỏ ra bất lực, nếu như muốn xâm nhập vào thế giới tâm linh này Theo Karl Jaspers, con người là một hiện hữu, còn đồ vật như cây, núi, sông,… tất

cả chỉ là một biểu hiện cụ thể của hữu thể nó không cần một sự cứu cánh, một

lý do để tồn tại, để tự do Nhưng con người thì không thể dừng lại ở biểu hiện của một hữu thể, vì con người có ý thức, đặc biệt là sự ý thức về sự hiện hữu của chính mình Với ý thức tinh thần con người cần phải vươn đến tự do, nhờ

có tâm linh, con người đã hòa nhập vào tự nhiên để cảm nhận suy tưởng về

thế giới

Trang 39

Về con người Con người được xem là yếu tố cốt lõi trong tư tưởng

triết học của Karl Jaspers Theo Karl Jaspers, con người là một hiện hữu và đồng thời là một hiện sinh, nhờ hiện sinh này con người đã hướng đến siêu việt (Thiên Chúa) Theo ông, mặc dù con người là một hữu thể nhưng hữu thể này không thể nhận thức được mà chỉ có thể mô tả Con người là một hiện sinh nên bất cứ mô hình khoa học thực nghiệm nào cũng không thể lý giải về con người Các khoa học thực nghiệm khi nghiên cứu về con người chỉ đưa ra được một vài khía cạnh về con người Chẳng hạn tâm lý học chỉ nghiên cứu tâm linh; sinh lý học nghiên cứu thể xác; xã hội học nghiên cứu về xã hội tính Chính điều đó “… ta không biết được họ một cách rõ rệt, minh bạch mà

ta chỉ có thể cảm nghiệm được bản chất của họ ở tận nguồn tư tưởng và hành động của ta” [2, tr.124] Qua đó có thể thấy, con người là một tiềm năng và là mối đe dọa cho thế giới vì chúng ta không thể lý giải được toàn bộ con người Con người là một tổng thể nó nằm bên ngoài phạm vi mà khách thể có thể nhận thức, bằng tri thức khách thể, chúng ta có khả năng tri thức thế giới vật chất mặc dù chưa bao giờ là toàn diện, nhưng đối với con người ta không có khả năng tri thức về nó, do con người chưa có bản chất, ta phải đi tìm kiếm bản chất cho nó và phải định hướng về mình để nhận thức được chính bản thân mình

Con người mà Karl Jaspers quan niệm ở đây cũng chưa có bản chất đích thực của con người Con người ở ông là một con người cá nhân cụ thể đang đi tìm kiếm bản chất của mình, sự làm người trong quá trình tìm kiếm bản chất nó gặp phải những trở ngại không thể vượt qua, đó là sự đau khổ, cái chết,… đồng thời, qua đây ông cũng phủ nhận sạch trơn con người là chủ thể sáng tạo ra lịch sử xã hội và bản chất xã hội của con người Ông đã tách bản chất sinh học và bản chất xã hội của họ Theo Karl Jaspers, con người có hai phương diện “một như là đối tượng khảo cứu cho khoa học, hai như là một tự

Trang 40

do hiện hữu” [47, tr.124] Nhưng con người mà ông xuất phát luôn là một con người cá nhân, khác hẳn con người được các nhà triết học khác đề cập

Về hiện sinh Theo Karl Jaspers, đối tượng của hiện sinh là những

nhân vị, tự do và tự chủ Do đó, không phải ai cũng có thể đạt tới hiện sinh, vì

“hiện sinh là chủ thể tự nhận mình độc đáo” Hiện sinh là phải vươn ra khỏi

vỏ bao bọc của sinh vật vì nó là cuộc sống về tinh thần, là ý nghĩa của đời sống con người Con người chỉ vươn tới hiện sinh khi họ ý thức mình sống để làm gì, có nhận thức được sự độc đáo của mình hay không và có dám quyết định về chính mình Theo Karl Jaspers, con người cảm thấy hiện sinh khi họ

đã ý thức về mình là một chủ thể Tức con người phải chủ động tạo lấy nhân cách và bản lĩnh của chính họ Hiện sinh là một thực tại tinh thần luôn tự do

và độc đáo, không một máy móc nào sao chép được Đây được xem là hiện sinh khả hữu của con người, chúng thể hiện sự chủ động trong việc xây dựng nhân cách của con người: “Tôi chỉ là cái tôi trung thực mà thôi, đó là cái tôi đang trở thành con người trung thực mà bạn và tôi vẫn đang mang sẵn trong người” [28, tr.82] Hiện sinh theo Karl Jaspers khác với sinh sống Sinh sống

là bám níu lấy sự sống như con cá bám níu lấy nước để sinh tồn, như thế không phải là hiện sinh Vì vậy để đạt đến hiện sinh, con người cần phải tự ý thức về mình: “họ hiện hữu khi họ ý thức về mình” [47, tr.124] và họ phải hiểu ý nghĩa của đời mình, phải sống theo con người thực của mình những gì

thuộc về chính mình như thế mới là hiện sinh chân thật

Về tự do Theo Karl Jaspers, dưới bình diện một hiện sinh, con người

luôn là một chủ thể tự do: “tự do là hành động xuất phát từ trong tâm khảm của ta” [28, tr.82] Tự do là bản chất của hiện sinh nhưng tự do của hiện sinh

là tự do có giới hạn và quy định vì chính thân xác của chúng ta cũng bị giới hạn bởi sức khỏe, sức chịu đựng, khả năng suy nghĩ, hoàn cảnh, vì thế Karl Jaspers cho rằng, con người có được tự do khi nó ý thức sâu sắc về sự hữu

Ngày đăng: 06/06/2017, 13:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thanh Bình (2008), Giáo dục Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Nxb., Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Nxb.
Năm: 2008
2. Lê Kim Châu (1996), Chủ nghĩa hiện sinh – sự du nhập và ảnh hưởng của nó ở miền Nam Việt Nam, Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Triết học, Viện Triết học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện sinh – sự du nhập và ảnh hưởng của nó ở miền Nam Việt Nam
Tác giả: Lê Kim Châu
Năm: 1996
3. Quang Chiến (2002), Chân dung triết gia Đức, Nxb. Văn hóa Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung triết gia Đức
Tác giả: Quang Chiến
Nhà XB: Nxb. Văn hóa Đông Tây
Năm: 2002
4. Mai Diên (2008), “Về triết lý giáo dục và triết lý giáo dục ở Việt Nam”, Tạp chí Thông tin Khoa học Xã hội, số 10, tr. 39 – 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về triết lý giáo dục và triết lý giáo dục ở Việt Nam”," Tạp chí Thông tin Khoa học Xã hội
Tác giả: Mai Diên
Năm: 2008
5. Nguyễn Tiến Dũng (2006), Chủ nghĩa hiện sinh: Lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam, Nxb. Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện sinh: Lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh
Năm: 2006
6. Nguyễn Tiến Dũng - Lê Văn Tùng (2011), “Tiếp cận quan điểm lịch sử triết học của Karl Jaspers”, Tạp chí Khoa học Xã hội, số 8, tr.6-tr.11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận quan điểm lịch sử triết học của Karl Jaspers”", Tạp chí Khoa học Xã hội
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng - Lê Văn Tùng
Năm: 2011
7. Bùi Đăng Duy - Nguyễn Tiến Dũng (Đồng chủ biên), (2003), Lược khảo triết học phương Tây hiện đại, của tác giả Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược khảo triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Bùi Đăng Duy - Nguyễn Tiến Dũng (Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2003
8. Trần Thiện Đạo (2001) Chủ nghĩa hiện sinh và thuyết cấu trúc, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện sinh và thuyết cấu trúc
Nhà XB: Nxb Văn học
9. Lưu Phóng Đồng (1994), Triết học phương Tây hiện đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Lưu Phóng Đồng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
10. Trần Thị Điểu (2013), Triết học thực tiễn của chủ nghĩa hiện sinh và những giá trị, hạn chế của nó, Luận án Tiến sĩ Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học thực tiễn của chủ nghĩa hiện sinh và những giá trị, hạn chế của nó
Tác giả: Trần Thị Điểu
Năm: 2013
11. Trần Thái Đỉnh (2008), Triết học hiện sinh, Nxb. Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học hiện sinh
Tác giả: Trần Thái Đỉnh
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 2008
12. Huy Đường, Giáo dục hiện sinh, Tạp chí Tia sáng (ngày 17/11/2008), http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&News=2533&CategoryID=6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục hiện sinh
13. Nguyễn Hồng Hà, Tìm hiểu sơ bộ về triết học giáo dục và triết lí giáo dục, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Triết lý giáo dục Việt Nam, Hà Nội – 9 /2007. tr.120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu sơ bộ về triết học giáo dục và triết lí giáo dục
14. Luyện Thị Hồng Hạnh (2012), “Vấn đề tồn tại người trong triết học hiện sinh của K. Jaspers”, Tạp chí Triết học, số 6/2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tồn tại người trong triết học hiện sinh của K. Jaspers”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Luyện Thị Hồng Hạnh
Năm: 2012
15. Nguyễn Hào Hải (2001), Một số học thuyết triết học phương Tây hiện đại, Nxb. Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số học thuyết triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Nguyễn Hào Hải
Nhà XB: Nxb. Văn hóa Thông tin
Năm: 2001
16. Đỗ Minh Hợp (2006), Diện mạo triết học phương Tây hiện đại, Nxb. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diện mạo triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Đỗ Minh Hợp
Nhà XB: Nxb. Hà Nội
Năm: 2006
17. Đỗ Minh Hợp (2007), “Tự do và trách nhiệm trong đạo đức học hiện sinh”, Tạp chí Triết học, số 12/ 2007, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự do và trách nhiệm trong đạo đức học hiện sinh”", Tạp chí Triết học
Tác giả: Đỗ Minh Hợp
Năm: 2007
18. Đỗ Minh Hợp – Nguyễn Anh Tuấn – Nguyễn Thanh (2008), Đại cương lịch sử triết học phương Tây hiện đại, cuối thế kỷ XIX – nửa đầu thế kỷ XX, Nxb Tổng hợp Tp. HCM, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử triết học phương Tây hiện đại, cuối thế kỷ XIX – nửa đầu thế kỷ XX
Tác giả: Đỗ Minh Hợp – Nguyễn Anh Tuấn – Nguyễn Thanh
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Tp. HCM
Năm: 2008
19. Đỗ Minh Hợp (2010), Triết học hiện sinh, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học hiện sinh
Tác giả: Đỗ Minh Hợp
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2010
20. Đỗ Đức Hiểu (1978), Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa, Nxb. Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 1978

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w