Vì thế, việc nghiên cứu, đánh giá tác động của chính sách phát triển giáo dục đặc biệt có ý nghĩa quan trọng nhằm hoàn thiện hành lang pháp lí và công cụ quản lí giáo dục đặc biệt của Vi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Văn Quân
Hà Nội, 2017
Trang 2Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện của bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 06 năm 2017
Tác giả luận văn
Vũ Thị Ngọc Bích
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Trong quản lý hành chính nhà nước việc, xây dựng chính sách quản lý
là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm tạo ra công cụ quản lý nhà nước sắc bén trong các lĩnh vực, các hoạt động của hệ thống kinh tế - xã hội Vai trò của công cụ chính sách là không thể phủ nhận cho dù nó được hiểu theo nghĩa rộng, bao hàm: những chủ trương lớn, đường lối hoặc phương hướng chiến lược của quốc gia và những biện pháp cụ thể thể hiện quan điểm thái độ ứng xử trong quá trình xử lý các vấn đề trong nước và quốc tế (tương đồng với thuật ngữ
“policy” trong các tài liệu tiếng Anh hiện nay), hay nghĩa hẹp là những chuẩn tắc
cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ; được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội
Một khía cạnh nữa khiến chính sách được quan tâm nghiên cứu bởi tính đa dạng của các mô hình chính sách Lựa chọn một hay sử dụng đồng thời các mô hình chính sách? Câu trả lời cho vấn đề này không đơn giản Nếu sử dụng một
mô hình chính sách cụ thể, cần thiết phải chứng minh được đó là mô hình chính sách tối ưu Ngược lại, sử dụng đồng thời nhiều mô hình chính sách khác nhau đồng nghĩa với việc phải chấp nhận với tính đa dạng và phức tạp của các mô hình này Chẳng hạn như sự thiếu nhất quán về nền tảng của vấn đề, cách lý giải các sự kiện khác nhau do sự nhấn mạnh và mối quan tâm khác nhau được đưa vào từng mô hình chính sách
Chính sách giáo dục là một trong những dạng của chính sách công nên nó
có đầy đủ các đặc trưng của chính sách Theo đó, những vấn đề phức tạp nêu trên của chính sách cũng cần phải được làm sáng tỏ đối với chính sách giáo dục
Trang 92
Ngoài ra, chính sách giáo dục còn có những đặc điểm riêng phản ánh nét đặc thù của giáo dục và quản lý nhà nước về giáo dục đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách, nhất là các nhà thực thi chính sách giáo dục phải quan tâm nghiên cứu
1.2 Giáo dục đặc biệt là sự giảng dạy và hướng dẫn được thiết kế đặc biệt nhằm đáp ứng những nhu cầu và khả năng riêng biệt của nhóm học sinh có nhu cầu đặc biệt Ở phần lớn các nước trên thế giới, giáo viên giáo dục đặc biệt luôn tìm mọi cách để điều chỉnh phương pháp và môi trường giảng dạy sao cho số lượng học sinh được phục vụ trong môi trường giảng dạy tốt nhất đạt mức tối đa Học sinh có thể yêu cầu được trợ giúp để có thể tiếp cận với những môn học quan trọng, được đến trường hoặc được đáp ứng những nhu cầu của bản thân Trong những năm gần đây, việc giáo dục người khuyết tật nói chung và sự phát triển ngành giáo dục đặc biệt nói riêng tại Việt Nam đang được các cơ quan, tổ chức trong nước, ngoài nước chú trọng phát triển và đạt được một số thành tựu đáng kể Tất cả những nỗ lực trong việc xây dựng cơ sở vật chất để nuôi dạy học sinh khuyết tật; tìm tòi, nghiên cứu, đào tạo giáo viên, biên soạn tài liệu phục vụ cho quá trình giáo dục nêu trên của các nhà chuyên môn, giáo dục giúp nâng cao rõ rệt chất lượng giáo dục trẻ khuyết tật tại Việt Nam hiện nay
1.3 Giáo dục đặc biệt ở Việt Nam dựa trên cơ sở pháp lí là các chính sách phát triển giáo dục đặc biệt đã được Đảng, Nhà nước ban hành Những chính sách này được phân thành 3 nhóm: 1/ nhóm các chính sách về người dạy; 2/ nhóm chính sách về người học; và 3/ Nhóm chính sách với cơ sở giáo dục đặc biệt Những chính sách này có tác động đến sự phát triển của Giáo dục đặc biệt nước ta Vì thế, việc nghiên cứu, đánh giá tác động của chính sách phát triển giáo dục đặc biệt có ý nghĩa quan trọng nhằm hoàn thiện hành lang pháp lí và công cụ quản lí giáo dục đặc biệt của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay
Trang 103
Những phân tích trên là lý do của việc lựa chọn đề tài nghiên cứu luận
văn: “Tác động của chính sách đối với giáo viên giáo dục đặc biệt trên địa bàn
nội thành, thành phố Hà Nội”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về quá trình chính sách giáo dục, nghiên cứu việc thực thi chính sách phát triển Giáo dục đặc biệt của Việt Nam và đánh giá tác động của chính sách này làm cơ sở cho việc đề xuất hoàn thiện chính sách này đối với Giáo dục đặc biệt ở nước ta, mà trước hết là thủ đô Hà Nội
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình chính sách phát triển Giáo dục đặc biệt của Việt Nam
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Tác động của chính sách đối với giáo viên giáo dục đặc biệt trong nội thành, thành phố Hà Nội
4 Giả thuyết khoa học
Cán bộ và GV GDĐB có sự quan tâm nhất định tới các chính sách đối với lĩnh vực GDĐB và nghề GDĐB, tuy nhiên chưa thực sự chủ động khi tìm hiểu các chính sách, văn bản pháp qui Nội dung chính sách mà họ quan tâm tìm hiểu nhất là các chính sách về lương thưởng và chế độ đào tạo bồi dưỡng chuyên môn Một trong những khó khăn cơ bản nhất của GV GDĐB là nhận thức và thái
độ chưa đúng đắn của cộng đồng về đặc điểm lao động, về giá trị nghề nghiệp của người GV GDĐB về đối tượng của GDĐB là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Theo đó, giải pháp mang tính khả thi cao là tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng, phối hợp các lực lượng giáo dục trong cộng đồng, nhằm tạo ra hiệu quả cho công tác GDĐB và đem tới tác động tích cực của chính sách đối với GV GDĐB
Trang 114
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu lý luận
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về: QLNN về giáo dục, chính sách giáo dục, thực thi và đánh giá tác động của chính sách giáo dục
- Hồi cứu và phân tích một số chính sách quản lý nhà nước về giáo dục và chính sách phát triển Giáo dục đặc biệt của Việt Nam làm cơ sở cho việc xây dựng khung lý thuyết và các tiêu chí để nghiên cứu việc thực thi và đánh giá tác động chính sách phát triển Giáo dục đặc biệt của Việt Nam
5.2 Nghiên cứu thực tiễn
- Khảo sát, đánh giá thực trạng phát triển Giáo dục đặc biệt theo chính sách phát triển Giáo dục đặc biệt của Đảng, Nhà nước
- Xác định các tác động của chính sách phát triển Giáo dục đặc biệt đối
với sự phát triển của Giáo dục đặc biệt của Việt Nam (bao gồm cả những tác động tích cực và chưa tích cực)
5.3 Nghiên cứu đề xuất các biện pháp
- Đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách phát triển Giáo dục đặc biệt của Việt Nam trong thời gian tới, ở đây cụ thể là đối với thành phố Hà Nội
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1 Về nội dung
- Quá trình chính sách giáo dục gồm nhiều giai đoạn: giai đoạn thực hiện
chính sách phát triển Giáo dục đặc biệt và giai đoạn đánh giá đối với chính sách này Đánh giá chính sách gồm các nội dung: đánh giá xây dựng chính sách và đánh giá tác động của chính sách Luận văn tập trung nghiên cứu đánh giá tác
Trang 12hỗ trợ hòa nhập cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
- Trong một số khía cạnh nhất định về lí luận và thực tiễn, luận văn nhấn mạnh công tác giáo dục hòa nhập và quá trình phát triển, chính sách phát triển giáo dục hòa nhập ở Việt Nam nói chung, thành phố Hà Nội nói riêng
6.2 Về địa bàn nghiên cứu
Các nghiên cứu thực tiễn được thực hiện trên địa bàn nội thành, thành phố
Hà Nội của Việt Nam Khảo sát với các loại đối tượng: Cán bộ QLGD, giáo viên
và cán bộ quản lý các ngành liên quan đến Giáo dục đặc biệt, nhất là với mảng công tác giáo dục hòa nhập cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hoá, so sánh những tư liệu đã có về chính sách quản lý nhà nước để xây dựng khung lý thuyết và các khái niệm công cụ của vấn đề nghiên cứu
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
i Phương pháp quan sát: chúng tôi tiến hành quan sát dự giờ trong một số
giờ học lớp nhóm, ca can thiệp cá nhân, quan sát giáo viên giáo dục đặc biệt trong quá trình giáo viên trả lời phỏng vấn và phiếu khảo sát
Trang 136
ii Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: chúng tôi thiết kế phiếu khảo sát
và tiến hành khảo sát ý kiến của giáo viên giáo dục đặc biệt, cán bộ quản lí ở các trung tâm hỗ trợ hòa nhập, các cơ sở giáo dục đặc biệt thuộc khối công lập và tư nhân
iii Phương pháp chuyên gia: chúng tôi phỏng vấn và khảo sát ý kiến
chuyên gia về một số vấn đề trong quá trình nghiên cứu, cũng như lấy ý kiến của chuyên gia về hệ thống giải pháp đề xuất nêu lên trong công trình này
iv Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: hệ thống cơ sở lí luận và thực tiễn
của công trình này được tổng hợp các kinh nghiệm của các quốc gia về chính sách phát triển giáo dục đặc biệt và chính sách đối với giáo viên lĩnh vực giáo dục đặc biệt, cùng với việc đối chiếu, so sánh thực tiễn áp dụng những chính sách này ở các cơ sở giáo dục đặc biệt khối công lập và tư nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội
7.3 Các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đánh giá chính sách
Sử dụng các phương pháp ngoại suy, phương pháp phân tích các tham số như tham số triển khai, tham số tổ chức và phân tích các liên đới.v.v
7.4 Các phương pháp khác
Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý các số liệu thu được từ các phương pháp nghiên cứu khác
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về đánh giá tác động của chính sách phát triển
Giáo dục đặc biệt
Chương 2: Thực trạng tác động của chính sách đối với giáo viên giáo dục
Trang 147
đặc biệt của thành phố Hà Nội
Chương 3: Đề xuất hoàn thiện chính sách đối với giáo viên giáo dục đặc
biệt của Việt Nam
Trang 15- Đánh giá tác động chính sách là công việc khó khăn đòi hỏi nguồn lực lớn;
- Đánh giá tác động có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, phụ thuộc nhiều vào nguồn lực và số liệu có thể thu thập, trong đó phương pháp định lượng là chủ yếu;
- Các đánh giá tác động chính sách cần được thiết kế ngay từ đầu triển khai chính sách, dự án
Từ đó, một số vấn đề rút ra là:
- Đánh giá tác động được thiết kế sau khi chính sách đã được ban hành,
do vậy đánh giá tác động phải sử dụng phương pháp hậu nghiệm Trong phương pháp này, do số liệu gốc và mẫu đối chứng không đảm bảo nên công việc đánh giá tác động bằng phương pháp định tính là phù hợp
- Chính sách đối với giáo viên giáo dục đặc biệt là một chương trình tổng thể, bao gồm nhiều chính sách được thực hiện đồng thời Một sự thay đổi của đối tượng thụ hưởng có thể diễn ra bởi tác động của nhiều yếu tố Do đó, đánh giá tác động của chính sách đối với giáo viên giáo dục đặc biệt phải tách bạch riêng từng loại chính sách và có phương pháp loại trừ các ảnh hưởng bởi
Trang 169
những tác động khác
Những thay đổi chung của toàn thể cộng đồng (thu nhập bình quân, giá trị nghề ) có thể được sử dụng làm chỉ số để phản ánh những tác động chung của chính sách đối với giáo viên giáo dục đặc biệt, trong đó có tác động của những chính sách nghiên cứu của đề tài
1.1.2 Ở Việt Nam
Các nghiên cứu về chính sách công
Chính sách công (public policy) được tiếp cận nghiên cứu từ những giác
độ khoa học khác nhau theo đó có những cách hiểu, xác định không hoàn toàn giống nhau về khái niệm và các thuộc tính của chính sách công, cụ thể như:
- Chính sách công là những hoạt động mà chính quyền chọn làm và không làm Theo cách tiếp cận này thì các hoạt động mà chính quyền làm hoặc không làm phải có tác động, ảnh hưởng lâu dài và sâu sắc đến nhân dân thì mới là chính sách công Như vậy không phải tất cả những việc mà chính quyền làm hoặc không làm đều là chính sách công Ví dụ: chủ trương cho người lao động nghỉ làm vào các ngày lễ, tết là chính sách công vì đó là việc chính quyền làm và có tác động, ảnh hưởng lâu dài, sâu sắc đến người dân; còn tổ chức thực hiện việc nghỉ lễ, tết thế nào cho hợp lý (làm bù hay nghỉ bù) không phải chính sách công
mà là thực hiện chính sách công (tuy nhiên chính quyền vẫn phải có quyết định
về việc này);
- Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của chính quyền trực tiếp hay gián tiếp tác động đến cuộc sống của mọi người Từ hướng tiếp cận này, trở lại với ví dụ nêu trên ta thấy: cả việc chủ trương nghỉ lễ, tết và thực hiện việc nghỉ
lễ, tết đều là chính sách công vì cả hai việc đều tác động, ảnh hưởng đến cuộc sống của mọi người So với quan niệm trên, quan niệm này mở hơn, rộng hơn ở việc xem cả xây dựng, ban hành và thực hiện chính sách của chính quyền đều là chính sách công Nhưng lại hẹp hơn ở chỗ không coi những việc chính quyền
Trang 17là nhà nước, chính phủ khác với quan niệm của các học giả Âu Mỹ xem tính công của chính sách là công cộng (công chúng, đối tượng chịu sự điều chỉnh, tác động của chính sách);
PGS.TS Lê Chi Mai cho rằng “Cho đến nay trên thế giới, cuộc tranh luận
về định nghĩa chính sách công vẫn là một chủ đề sôi động và khó đạt được sự nhất trí rộng rãi” tuy vậy theo bà chính sách công có những đặc trưng cơ bản nhất như: chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước; chính sách công không chỉ là các quyết định (thể hiện trên văn bản) mà còn là những hành động, hành vi thực tiễn (thực hiện chính sách); chính sách công tập trung giải quyết những vấn
đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định; chính sách công gồm nhiều quyết định chính sách có liên quan lẫn nhau Trong bài viết của mình, PGS.TS Lê Chi Mai còn đưa ra khái niệm “chính sách tư” là chính sách
do các cơ quan, tổ chức ban hành nhằm giải quyết những vấn đề thuộc về nội bộ
cơ quan, tổ chức, không có hiệu lực thi hành bên ngoài phạm vi cơ quan, tổ chức Như vậy, so với các quan niệm đã nêu ta thấy có những điểm tương đồng trong quan niệm về chính sách công như: tính nhà nước, tính công cộng, tính hành động thực tiễn (coi quá trình thực hiện là một phần của chính sách công)
Trang 18Hiện còn những quan điểm khác nhau về quá trình chính sách, nhưng quan điểm của Harman xem xét quá trình chính sách gồm 5 giai đoạn là quan điểm được phổ biến rộng rãi Các giai đoạn của quá trình chính sách (trong đó có chính sách giáo dục) gồm:
1/ Sự xuất hiện vấn đề và xác định vấn đề;
2/ Xây dựng và thông qua chính sách;
3/ Xây dựng kế hoạch cho việc triển khai chính sách;
Một số nghiên cứu về giáo dục đặc biệt và chính sách phát triển giáo dục đặc biệt
Trang 1912
Cuốn “Giáo trình quản lí giáo dục hòa nhập” của Hoàng Xuân Hải dành
một phần nội dung đáng kể cho quá trình phát triển, chính sách và định hướng phát triển giáo dục hòa nhập ở Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020
Nội dung tài liệu này đề cập đến việc dạy dỗ những học sinh khuyết tật trí tuệ đòi hỏi nhiều thời gian hơn với cùng một tài liệu giảng dạy Ngoài ra, chương trình giảng dạy phải thường xuyên được thay đổi Với nhóm đối tượng này, một chương trình giảng dạy thực sự có giá trị khi nó cung cấp những kiến thức thiết thực cho học sinh, đồng thời phải phù hợp với trình độ nhận thức của chúng Nhìn chung, không phải kiến thức hay kỹ năng, mà điều chỉnh phương pháp giáo dục mới là điều đầu tiên mà phần lớn học sinh khuyết tật trí tuệ cần đến
Giáo dục đặc biệt bao gồm những phương thức giáo dục sau:
- Hoà nhập: Là giáo dục giúp học sinh khuyết tật sống, học tập trong
những điều kiện đặc thù, nơi chúng có được cơ hội tốt nhất để trở nên độc lập tới mức tối đa Giáo dục hòa nhập chính là việc hòa nhập học sinh khuyết tật và bình thường trong cùng một lớp học
- Hội nhập: Là giáo dục để học sinh khuyết tật tham gia học trong các lớp
chuyên biệt của trường bình thường Những học sinh này tham gia vào một số hoạt động cùng trẻ em không khuyết tật trong trường học Những hoạt động này
có thể là những hoạt động ở một số môn học, hoạt động giáo dục Thời gian còn lại, những học sinh này được học chương trình riêng với những nội dung, phương pháp giáo dục riêng phù hợp với khả năng của các em
- Chuyên biệt: Là giáo dục học sinh tách biệt trong một lớp học hoặc một
trường học đặc biệt Hầu hết các trường, lớp chuyên biệt tập trung vào hỗ trợ sự phát triển các kĩ năng cá nhân và kĩ năng xã hội để học sinh có thể sống độc lập tới mức tối đa sau khi hoàn thành xong chương trình
Trong các phương thức giáo dục nêu trên, giáo dục hòa nhập - giáo dục mọi trẻ trong môi trường giáo dục phổ thông, được hầu hết các quốc gia trên thế
Trang 2013
giới áp dụng Đây là phương thức giáo dục "cho mọi trẻ em" đáp ứng nhu cầu đa dạng của tất cả trẻ em với những đặc điểm về kinh tế, văn hóa, dân tộc, khuyết tật hay không khuyết tật Chỉ khi trường phổ thông không đáp ứng được nhu cầu
và khả năng riêng biệt của trẻ thì các giải pháp thay thế như giáo dục hội nhập, giáo dục chuyên biệt mới được xem xét
Nhiều trường đại học, cao đẳng bắt đầu mở các khóa đào tạo chính quy và không chính quy chuyên ngành giáo dục đặc biệt để đáp ứng nhu cầu đào tạo đội ngũ giáo viên cho các trường chuyên biệt Nhiều trường trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật được hình thành và phát triển Nhiều nhà chuyên môn cũng như tổ chức giáo dục đã dày công nghiên cứu, tìm hiểu và biên soạn tài liệu hữu ích có liên quan
1.2 Các khái niệm công cụ
1.2.1 Chính sách, chính sách giáo dục
Chính sách là đường lối cụ thể của một chính đảng hoặc một chủ thể
quyền lực về một lĩnh vực nhất định cùng các biện pháp, kế hoạch thực hiện đường lối ấy
Cấu trúc của chính sách bao gồm đường lối cụ thể (nhằm thực hiện đường lối chung), biện pháp, kế hoạch thực hiện
Chủ thể ban hành chính sách: chính đảng, cơ quan quản lý nhà nước, đơn
b) Chính sách của cơ quan, đơn vị, công ty: gồm các loại như Chính sách phát triển, Chính sách nhân lực, Chính sách kinh doanh…
Trang 2114
Theo cách định nghĩa trên, có thể thấy chính sách giáo dục thuộc phân nhóm các chính sách của Nhà nước Các văn bản thể hiện chính sách ở nước ta bao gồm:
- Các nghị quyết, chỉ thị của Đảng
- Các văn bản quy phạm pháp luật: trong đó
i Các văn bản qui phạm pháp luật ở cấp Trung ương gồm có:
✓ Luật, pháp lệnh, nghị quyết (của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội);
✓ Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;
✓ Nghị định của Chính phủ; quyết định của Thủ tướng chính phủ;
✓ Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán tòa án tối cao; Thông tư của Chánh án tòa án tối cao; Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao;
✓ Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ;
✓ Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội;
✓ Thông tư liên tịch: giữa Chánh án Tòa án tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh
án Tòa án tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
ii Các văn bản qui phạm pháp luật ở cấp địa phương: bao gồm nghị quyết của Hội đồng nhân dân; quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân
- Các văn bản quy phạm của cơ sở: trong đó gồm có
✓ Nghị quyết của Đại hội Đảng, cấp uỷ cơ quan, đơn vị, công ty
✓ Nghị quyết của Hội nghị cán bộ, công chức, viên chức cơ quan, đơn vị, công ty
✓ Nghị quyết của Hội đồng Quản trị, Hội đồng thành viên công ty
✓ Quyết định của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, công ty
Trang 2215
- Các đề án, dự án
✓ Các đề án, dự án của Nhà nước
✓ Các đề án, dự án của cơ quan, đơn vị, công ty…
Chính sách giáo dục được xếp trong nhóm các chính sách Nhà nước (hay
còn gọi là chính sách công – public policy)
Chính sách công có tính hệ thống, tính kế thừa lịch sử và chính sách công luôn gắn với một quốc gia cụ thể với các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội nhất định Cụ thể như sau:
- Nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn cho thấy một chính sách hàm chứa trong nó những nội dung có liên quan đến nhau và có liên hệ, ảnh hưởng với các chính sách khác, theo đó tạo nên tính hệ thống của chính sách công Ví dụ: cải cách hành chính là chính sách công, trong đó có các nội dung như: cải cách thể chế; cải cách thủ tục hành chính; cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; cải cách tài chính công; hiện đại hoá hành chính Thực hiện các nội dung của cải cách hành chính có liên quan đến chính sách cải cách tiền lương, chính sách tài chính
- tiền tệ Những ví dụ trên cho thấy tính hệ thống của chính sách công;
- Lịch sử phát triển xã hội đã khẳng định quy luật phát triển xã hội theo hình “xoáy trôn ốc” tức là phát triển xã hội luôn có trong nó sự kế thừa lịch sử
Là một bộ phận của xã hội, sự phát triển của nhà nước, của chính sách công không thoát ly khỏi quy luật trên và từ thực tế đó khẳng định một lần nữa tính đúng đắn của chủ nghĩa duy vật lịch sử của C Mác đối với sự phát triển của nhà nước và xã hội Như vậy chính sách công không thể không có tính kế thừa lịch sử;
- Vì chính sách công bao gồm cả hoạt động thực thi chính sách do vậy phải gắn với chủ thể ban hành và thực hiện chính sách công Ngay cả trên lý thuyết, việc nghiên cứu những vấn đề chung về chính sách công cũng phải bắt
Trang 23Tóm lại chính sách công có các thuộc tính căn bản như: tính nhà nước, tính công cộng, tính hành động thực tiễn, tính hệ thống, tính kế thừa lịch sử và gắn với một quốc gia cụ thể với các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội nhất định Đây là nhận thức bước đầu về chính sách công theo hướng tiếp cận của khoa học tổ chức nhà nước
Phân loại chính sách công
Dựa trên các tiêu chí khác nhau theo đó chính sách công được phân loại thành các nhóm như:
- Theo bản chất của chính sách: chính sách thụ động và chính sách chủ động;
- Theo thời gian thực hiện chính sách: chính sách ngắn hạn và chính sách dài hạn;
- Theo cấp độ của chính sách: chính sách cho toàn thể và chính sách cho
Trang 24Khoa học tổ chức nhà nước nghiên cứu các nội dung liên quan đến tổ chức
và hoạt động của nhà nước, theo đó ngoài cách phân loại chính sách công theo 9 nhóm đã nêu trên, có thể phân loại chính sách công với các tiêu chí như:
- Các chính sách về tổ chức bộ máy nhà nước, bộ máy hành chính nhà nước Ví dụ: tổ chức bộ đơn ngành hay bộ đa ngành; không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường;
- Các chính sách liên quan đến quản lý, sử dụng nguồn nhân lực công (chủ yếu là cán bộ, công chức, viên chức) Ví dụ: Kết luận của Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương khóa X về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán
bộ từ nay đến năm 2020
- Các chính sách liên quan đến tiền lương và chế độ đãi ngộ đối với cán
bộ, công chức, viên chức Ví dụ: Kết luận số 63-KL/TW ngày 27/5/2013 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về “một số vấn đề về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020”
Ngoài cách phân loại nêu trên còn có thể phân loại chính sách công theo lĩnh vực; ví dụ: chính sách công trong lĩnh vực y tế, giáo dục Hoặc phân loại
Trang 2518
theo chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ; ví dụ: theo quy định của Hiến pháp, Chính phủ có nhiệm vụ “Thống nhất quản lý về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, thông tin, truyền thông, đối ngoại, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thi hành lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và các biện pháp cần thiết khác để bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm tính mạng, tài sản của Nhân dân” theo đó Chính phủ xây dựng và thực hiện “Chiến lược phát triển khoa học, công nghệgiai đoạn 2011 - 2020” là chính sách công trong nhiệm vụ quản lý khoa học, công nghệ của Chính phủ
1.2.2 Đánh giá tác động
Ngân hàng thế giới (2008) định nghĩa: “Đánh giá tác động là đánh giá
những thay đổi gắn với những tác động của một dự án, chương trình, chính sách Những thay đổi đó có thể được dự định trước hoặc không như dự định”
Đánh giá tác động được thực hiện nhằm trả lời câu hỏi: “Nếu không có
tác động của chính sách/chương trình/dự án thì kết quả đầu ra sẽ như thế nào”?
Điều này liên quan đến thuật ngữ được gọi là phân tích phản thực
(counterfactual analysis), đó là “một sự so sánh giữa điều gì thực sự xảy ra với
điều gì xảy ra nếu không có sự can thiệp của chính sách” (White H., 2006)
Với cách hiểu như trên, đánh giá tác động được xem là một công việc nhằm tìm ra những lý do dẫn đến sự thay đổi gắn trực tiếp với những tác động
từ chính sách Hiểu một cách đơn giản, đó là một sự so sánh kết quả đầu ra giữa việc có chính sách và không có chính sách Việc so sánh này cũng không phải là một phép trừ đơn giản của hai tình huống trên, bởi không có chính sách thì đầu ra cũng không phải nguyên trạng như lúc ban đầu mà có sự thay đổi từ các tác động khác Sự thay đổi do các tác động khác trong trường hợp không có chính sách lại không nhìn thấy được bởi đối tượng được tác động thực tế là đã có
Trang 2619
chính sách Vì vậy phải tìm một mẫu so sánh đối chứng (comparison group) phù hợp để so sánh với nhóm được hưởng tác động của chính sách (treatment group)
Theo nhóm IRD-DIAL (2008), câu hỏi chính cần phải giải đáp là “điều gì
sẽ diễn ra (hoặc đã diễn ra) nếu chính sách, chương trình hay dự án đó không được triển khai” Khi đó, khó khăn nằm ở việc lựa chọn một kịch bản tham
chiếu (hay kịch bản đối chứng) để đối chiếu với chính sách có liên quan nhằm đánh giá những tác động quan sát được hay những tác động kỳ vọng Nhóm tác giả xác định khi đánh giá tác động đầy đủ cần quan tâm đến ba nội dung:
- Đánh giá nhu cầu: xác định mục tiêu chính sách, đối tượng mục tiêu,
nhu cầu cần thiết phải có chính sách…
- Đánh giá quy trình: việc đánh giá nhằm xác định chính sách đã được
triển khai thế nào trong thực tế Với cùng một chính sách áp dụng chung cho nhiều vùng, có thể mỗi địa phương có cách triển khai khác nhau dẫn đến những tác động khác nhau
- Đánh giá tác động: đánh giá nhằm xác định liệu chính sách có tạo ra tác
động mong đợi đối với các đối tượng mục tiêu, các hộ gia đình, các thể chế, các đối tượng thụ hưởng của chính sách Những tác động này là nhờ chương trình hay nhờ yếu tố khác
1.2.3 Đánh giá tác động của chính sách
Đánh giá tác động của chính sách là ảnh hưởng của chính sách đối với các đối tượng khác nhau trong xã hội và đối với sự phát triển của xã hội nói chung Trong đó chức năng của đánh giá tác động của chính sách có thể là:
- Dự báo: khi những phân tích được đưa ra trước khi thực hiện chính sách
- Làm rõ hiệu quả: khi những phân tích được đưa ra sau khi thực hiện chính sách
Các đối tượng chịu tác động của chính sách theo hai hướng chủ yếu:
Trang 2720
- Chịu tác động trực tiếp
- Chịu tác động gián tiếp
Các tác động của chính sách cũng có thể được phân loại thành:
- Tác động tích cực (dương tính) / tác động tiêu cực (âm tính)
- Tác động trực tiếp / tác động gián tiếp
- Tác động chính / tác động phụ
- Tác động đơn lẻ / tác động dây chuyền
Sự cần thiết phải đánh giá tác động chính sách
Để nâng cao hiệu quả của một chính sách hay chương trình phát triển, việc đánh giá tác động của các khoản đầu tư hỗ trợ cần phải được thực hiện để hiểu được các khoản đầu tư, các chính sách hỗ trợ có thực sự đem lại hiệu quả hay không Nếu nhìn nhận một cách phiến diện, những kết quả đạt được tưởng như do chính sách, chương trình đem lại nhưng thực tế lại là một kết luận sai lầm Một sự thay đổi ở kết quả đầu ra có thể do tác động của nhiều yếu tố khác nhau Việc đánh giá tác động phải chỉ rõ được những bằng chứng chứng minh
sự thay đổi nào gắn với những tác động trực tiếp từ các chính sách, chương trình Đây là căn cứ để xây dựng chính sách và được gọi là xây dựng chính sách thực chứng (Evidence-based policy making) Đánh giá tác động có thể giúp:
- Định lượng được những tác động của một chính sách tới lợi ích của đối tượng hưởng lợi Ví dụ: một mô hình phát triển sản xuất mới có giúp tăng thu
nhập không, một khoản hỗ trợ làm nhà mới có giúp người dân cải thiện được sức khoẻ không
- So sánh những lợi ích đạt được của các nhóm hưởng lợi khác nhau
Ví dụ: có thể so sánh kết quả thi của nhóm học sinh nam và học sinh nữ khi cùng được hỗ trợ bởi một chương trình đào tạo mới
- Kiểm chứng và đưa ra các lựa chọn thay thế Ví dụ: kiểm chứng kết
quả giảm nghèo nhờ trợ cấp tiền hay nhờ đầu tư khoa học công nghệ
Trang 2821
Logic của đánh giá tác động chính sách
Theo World Bank (2008), để đánh giá tác động cần phải hiểu và phân tích chuỗi kết quả (results chain) của một chính sách Phân tích tác động dựa trên chuỗi kết quả giúp xây dựng một khung lô-gic đáng tin cậy để hiểu được các mối quan hệ từ đầu vào (inputs), hoạt động (activities) cho đến đầu ra (outputs, outcomes) của một chính sách Nó hình thành một logic nhân quả từ lúc khởi đầu với những nguồn lực ban đầu cho tới lúc kết thúc với những mục tiêu dài hạn
Trong chuỗi kết quả bao gồm 3 phần chính:
- Triển khai (Implementation): các công việc được triển khai để thực
hiện chính sách (bao gồm đầu vào, hoạt động, và đầu ra) Những nội dung này
có thể được theo dõi và đo lường trực tiếp từ các hoạt động của dự án
- Kết quả/tác động (Results): những kết quả, tác động dự định, gồm cả
tác động ngắn hạn và dài hạn (cuối cùng) Các tác động này không chỉ trực tiếp kiểm soát bởi chính sách và phụ thuộc vào những thay đổi trong cư xử của đối tượng hưởng lợi từ chính sách Nói cách khác, nó phụ thuộc vào mối quan hệ tương tác giữa bên cung cấp (Implementation) và bên có nhu cầu (Beneficiaries) Phần này liên quan đến đánh giá tác động để đo lường tính hiệu quả
- Giả định và rủi ro (Assumptions and Risks): phần này bao gồm các
minh chứng từ các tài liệu đã nêu về các mối quan hệ nhân quả và những giả định được dựa vào đó Phần này cũng đề cập đến những rủi ro có thể ảnh hưởng đến kết quả dự kiến và các biện pháp hạn chế những rủi ro đó
1.2.4 Phát triển Giáo dục đặc biệt
Với phạm vi nghiên cứu của công trình này, khái niệm phát triển Giáo dục đặc biệt được chúng tôi làm rõ ở công tác giáo dục hòa nhập - một trong ba hình thức cơ bản hiện nay thực hiện giáo dục đặc biệt
Trang 2922
Đối tượng nghiên cứu của giáo dục hòa nhập là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (là những trẻ có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hòa nhập với gia đình, cộng đồng) Theo đó, đối tượng của các mô hình giáo dục hòa nhập là trẻ mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ khuyết tật, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ nhiễm HIV/AIDS, trẻ lang thang, trẻ phải làm việc xa gia đình, trẻ bị xâm hại tình dục, trẻ em nghiện ma túy, trẻ em vi phạm pháp luật (Điều 40, Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em, 2004)
1.3 Chính sách phát triển Giáo dục đặc biệt
1.3.1 Quá trình chính sách phát triển Giáo dục đặc biệt
Giáo dục đặc biệt ở nước ta xuất phát từ quá trình cố gắng đưa trẻ khuyết tật vào học các lớp trong nhà trường phổ thông, bắt đầu thử nghiệm mô hình này
từ năm 1991 với sự hỗ trợ về tài chính và ý tưởng của một số các tổ chức quốc tế hoạt động trong lĩnh vực này
Các giai đoạn thực hiện giáo dục đặc biệt, nhất là với mảng giáo dục hòa nhập cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt
- Giai đoạn 1990 – 1995: Nghiên cứu, tìm tòi, tập trung chủ yếu cho đối
tượng trẻ khuyết tật, trẻ em là người dân tộc thiểu số và trẻ em người Kinh nhưng sống ở vùng cao, vùng sâu, vùng khó khan
Hai giai đoạn trên được thực hiện chủ yếu nhờ sự hỗ trợ của những tổ chức quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam thông qua sự tài trợ các chương trình,
dự án tại một số địa bàn trong cả nước Từ các hoạt động nghiên cứu thí điểm nhỏ lẻ ở địa phương của cả thành thị, nông thôn, miền núi, đã dần hình thành nên một mô hình tương đối phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa – xã hội của từng vùng trong cả nước vào những năm cuối cùng của thế kỉ XX
Trang 3023
- Giai đoạn 2002 – nay: Triển khai rộng khắp trong cả nước thông qua
thực hiện các chính sách quốc gia và của ngành giáo dục đào tạo, từng bước mở rộng đối tượng trẻ, bao gồm tất cả các dạng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Tuy nhiên, trước năm 2006, giáo dục đặc biệt ở nước ta chỉ tập trung cho các đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở ngành học mầm non và cấp tiểu học Bắt đầu từ năm 2006, giáo dục đặc biệt được triển khai mạnh mẽ ở các cấp học cao hơn (ở trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại học cao đẳng) trong toàn quốc
Chính sách giáo dục đặc biệt ở nước ta giai đoạn 2010 – 2020
❖ Hiện trạng các văn bản pháp qui về giáo dục hòa nhập ở nước ta
Việt Nam đang hướng tới hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010 và tiến tới phổ cập giáo dục trung học phổ thông cho mọi trẻ em, bao gồm cả những nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nhóm trẻ được Nhà nước, cộng đồng, gia đình và cả xã hội đặc biệt quan tâm chăm sóc, giáo dục Thực hiện mục tiêu này, Việt Nam đã cam kết thực hiện hàng loạt các văn bản quốc tế quan trọng, trong đó có thể kể đến như Công ước quốc tế về Quyền trẻ em (1991), Tuyên bố Salamanca và Cương lĩnh hành động về giáo dục theo nhu cầu đặc biệt (1994), Diễn đàn về giáo dục cho mọi người (Dakar, 2000), Công ước quốc tế về Quyền của người khuyết tật thông qua tại Đại hội đồng Liên hợp quốc (kì họp thứ 61, 2006)… Nội dung các văn bản đã nhấn mạnh:
- Tất cả trường học cần đáp ứng và tiếp nhận mọi trẻ em, không tính đến bất kì những điều kiện không thuận lợi về thể chất, trí tuệ, xã hội, cảm xúc, ngôn ngữ, hay các điều kiện khác với các em
- Công nhận và tôn trọng quyền được học tập của mọi trẻ em Hệ thống giáo dục của mỗi quốc gia cần phải chủ động tìm kiếm trẻ em, đặc biệt là những trẻ em không được tham gia vào quá trình giáo dục của nhà trường, xây dựng và
Trang 31- Nhóm các văn bản về chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam: nhóm văn bản này bao gồm văn kiện các Đại hội Đảng, Văn kiện nghị
quyết các Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng, các chỉ thị của Ban chấp hành Trung ương Đảng
- Nhóm các văn bản luật: nhóm văn bản này bao gồm các Hiến pháp, và
các Luật về nhiều lĩnh vực, nhất là về giáo dục
- Nhóm các văn bản dưới luật: nhóm văn bản này bao gồm các pháp luật,
quyết định, nghị định, chỉ định, thông tư…
Nhóm các văn bản dưới luật về chính sách ưu đãi cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khá phong phú và chứa đựng những nội dung qui định, hướng dẫn cụ thể
để triển khai các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước Theo thống kê không đầy đủ, từ 1986 đến năm 2006, có 87 văn bản pháp qui qui định các chế
độ, chính sách đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Cùng với nền kinh tế - xã hội được cải thiện thì chính sách cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cũng được chú
Trang 32Thứ nhất, với quan điểm xây dựng một xã hội công bằng, tạo cơ hội bình
đẳng trong giáo dục, Nhà nước Việt Nam luôn thể hiện sự quan tâm ưu tiên đối với những đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng cao, vùng sâu vùng xa, khu vực miền núi, bản thân bị tàn tật, khuyết tật, con hộ đói nghèo ở nông thôn và thành thị, con liệt sĩ, thương/bệnh binh…
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X năm 2005 khẳng định “Phấn đấu xây dựng nền
giáo dục hiện đại, của dân, do dân và vì dân, bảo đảm công bằng về cơ hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, thực hiện miễn giảm học phí và cấp học bổng cho học sinh nghèo, học sinh thuộc diện chính sách và học sinh giỏi Ưu tiên phát triển giáo dục và đào tạo ở vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số…”
Thứ hai: Chính sách đề cập đến quyền học tập bắt buộc đối với trẻ em, bao
gồm cả trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi rõ: “Học tập là quyền và nghĩa vụ của mọi công dân” Luật Giáo dục 2005, Điều 11 Phổ cập giáo dục: 1 Giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở là các cấp học phổ cập Nhà nước quyết định kế hoạch phổ cập giáo dục, đảm bảo các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục trong cả nước; 2 Mọi công dân trong độ tuổi qui định có nghĩa vụ học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập; 3 Gia đình có trách
Trang 3326
nhiệm tạo điều kiện cho các thành viên của gia đình trong độ tuổi qui định được học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập
Thứ ba: Thực hiện quyền học tập bắt buộc đối với mọi trẻ em, bao gồm trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt, cần phải đảm bảo những điều kiện về học tập và chất
lượng giáo dục như hỗ trợ tài chính, nguồn lực, quản lí, chương trình giáo dục và
các vấn đề khác
Luật Giáo dục 2005, Điều 89 Học bổng và trợ cấp xã hội, Mục 2 Nhà nước có chính sách trợ cấp và miễn, giảm học phí cho người học là đối tượng được hưởng chính sách xã hội, người dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh
tế - xã hội đặc biệt khó khăn, người mồ côi không nơi nương tựa, người tàn tật, khuyết tật có khó khăn về kinh tế, người có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn vượt khó học tập; Mục 3 Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân cấp học bổng hoặc trợ cấp cho người học theo qui định của pháp luật
Nghị định 75/2006/NĐ – CP ngày 02/8/2006 qui định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục 2005 khẳng định việc tạo điều kiện học tập và đảm bảo chất lượng giáo dục người tàn tật, khuyết tật, trong đó nêu rõ:
“Bộ Giáo dục và đào tạo có trách nhiệm đào tạo giáo viên, biên soạn chương
trình, giáo trình, sách giáo khoa áp dụng cho học sinh khuyết tật và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho giáo dục hòa nhập”
Thứ tư: Xây dựng một chính sách giáo dục hòa nhập tổng thể, đảm bảo sự
cam kết thực hiện của các Bộ, ban, ngành nhằm đảm bảo tính thực thi của chính sách
Xây dựng chính sách giáo dục đặt biệt giúp cho một giai đoạn phát triển mới của hệ thống văn bản qui phạm pháp luật của Đảng và Nhà nước ta trong tiến trình tiến tới một nền giáo dục cho mọi trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói riêng
1.3.2 Ý nghĩa của chính sách phát triển Giáo dục đặc biệt
Trang 34+ Bước đầu tạo hành lang pháp lí, làm cơ sở triển khai các chương trình giáo dục cho đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Một số chương trình quốc gia về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đã được Chính phủ phê duyệt, tạo điều kiện
về nguồn lực để đẩy mạnh công tác chăm sóc, giáo dục trẻ em
1.4 Định hướng phát triển Giáo dục đặc biệt ở nước ta giai đoạn 2010 -
2020
1.4.1 Quan điểm chỉ đạo phát triển Giáo dục đặc biệt giai đoạn 2010 – 2020
a Giáo dục đặc biệt, với quan điểm nhấn mạnh xu hướng giáo dục hòa nhập, là giáo dục cho mọi trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nhằm thực hiện công bằng về cơ hội học tập và phát triển cho mọi trẻ em, góp phần đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho xã hội
Mọi trẻ em đều có quyền cơ bản được học hành và phải được tạo cơ hội để đạt được và duy trì trình độ học ở mức độ phù hợp có thể chấp nhận được Mọi trẻ em đều có những đặc điểm, lợi ích và khả năng và nhu cầu học tập riêng Nội dung, chương trình giáo dục phải được thiết kế và thực hiện trên tinh thần nhìn nhận tính đa dạng của các đặc điểm và nhu cầu cá nhân Tất cả mọi trẻ em cần phải được đến học tại các trường học và các nhà trường cần trang bị kiến thức cho các em thông qua một hệ thống nội dung và phương pháp giáo dục Hòa nhập là phương thức tốt nhất để xóa bỏ thái độ phân biệt, tạo ra những cộng đồng thân ái, xây dựng một xã hội cho tất cả mọi người
Giáo dục hòa nhập dành cho mọi trẻ em, kể cả trẻ khuyết tật, trẻ có năng khiếu, trẻ em đường phố, trẻ em lao động sớm, trẻ em thuộc các dân tộc thiểu số
Trang 3528
sống hẻo lánh hoặc du cư, các nhóm thiểu số về mặt ngôn ngữ, hoặc nhóm cư dân thiệt thòi hoặc bị đẩy ra ngoài lề xã hội Trong điều kiện và khả năng của nước ta hiện nay, giáo dục hòa nhập trước hết dành cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, đồng thời là con đường để thực hiện mục tiêu công bằng về cơ hội học tập
và phát triển cho mọi trẻ em, góp phần đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho
xã hội
b Giáo dục đặc biệt, với quan điểm tiếp cận của giáo dục hòa nhập, cần đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội, gia đình và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng nhằm phát triển nguồn nhân lực có chất lượng
cho giáo dục đặc biệt Đây có thể coi là điều kiện cơ bản nhằm đảm bảo cho sự thành công của giáo dục đặc biệt
Tập trung nguồn lực xây dựng cơ sở vật chất nhà trường, giáo dục đặc
biệt chỉ có thể thực hiện thành công khi các điều kiện về nguồn ngân sách được đảm bảo Ngân sách cho giáo dục hòa nhập tập trung trước hết vào hỗ trợ cho việc bổ sung, sửa chữa, cải tạo, xây dựng mới cơ sở vật chất trong nhà trường và tăng cường trang thiết bị dạy học đặc thù cho nhóm trẻ có hoàn cảnh đặc biệt
Tăng cường xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp qui về giáo
dục đặc biệt, song cần đảm bảo tính hiệu lực và hiệu quả của các văn bản này
c Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, đảm bảo sự phối hợp liên ngành, đồng thời khuyến khích sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hỗ trợ trong phát triển giáo dục đặc biệt
Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của nhân dân Trên
cơ sở cộng đồng trách nhiệm, Nhà nước, cụ thể là Bộ Giáo dục đào tạo, giữ vai trò quản lí toàn diện đối với giáo dục đặc biệt Quản lí nhà nước về giáo dục đặc biệt, cụ thể là giáo dục hòa nhập, trong giai đoàn tới chú ý hơn nữa vào nghiên cứu và ban hành cơ chế chính sách, giải quyết các vấn đề kinh tế và tài chính
Trang 36hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước là nguồn lực quan trọng đảm bảo cho sự phát triển của giáo dục hòa nhập ở nước ta
1.4.2 Mục tiêu chiến lược phát triển Giáo dục đặc biệt
1.4.2.1 Mục tiêu chung
Hình thành hệ thống giáo dục đặc biệt ở tất cả các cấp học của hệ thống giáo dục phổ thông; các chính sách giáo dục đặc biệt được thực hiện đầy đủ; hệ thống dịch vụ hỗ trợ giáo dục đặc biệt được triển khai hiệu quả; 95% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được tiếp cận giáo dục có chất lượng
1.4.1.2 Mục tiêu cụ thể
a) Đến năm 2015 có 65% người khuyết tật, 90% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác học hòa nhập, ở vùng thuận lợi tỉ lệ này tương ứng là 75% và 95%; vùng trung bình là 65% và 90%; vùng khó khăn là 60% và 90% Đến năm 2020
có 70% người khuyết tật, 95% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác học hòa nhập,
ở vùng thuận lợi tỉ lệ này tương ứng là 80% và 97%; vùng trung bình là 70% và 95%; vùng khó khăn là 60% và 90%
b) Đảm bảo nguồn nhân lực đủ về số lượng và đạt yêu cầu về chất lượng cho
sự phát triển giáo dục hòa nhập, đáp ứng nhu cầu của xã hội và của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
c) Giáo dục hòa nhập được thực hiện ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo; mạng lưới dịch vụ hỗ trợ giáo dục hòa nhập được triển khai có hiệu quả ở phạm
vi toàn quốc
Trang 3730
1.4.3 Phát triển Giáo dục đặc biệt trong bối cảnh hiện nay
1.4.3.1 Những xu hướng phát triển của Giáo dục đặc biệt
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt vốn đa dạng trong các đặc điểm về đời sống vật chấ và tâm lí nên cần có những cách tiếp cận phù hợp khác nhau trong giáo dục Tùy từng đối tượng trẻ mà các cách tiếp cận cũng cần được vận dụng linh hoạt Trong những năm qua, Chính phủ Việt Nam đã chỉ đạo triển khai nhiều loại hình trường lớp cũng như các mô hình giáo dục khác nhau nhằm đảm bảo cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hưởng quyền bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
Một số loại hình trường lớp dành cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Trường, lớp bán trú dân nuôi tại xã, liên xã: nhà trường hoặc chính quyền
địa phương xây dựng nhà ở cho trẻ ở các vùng xa đặc biệt khó khăn hoặc không đến lớp được hàng ngày Trẻ ở tập trung song khác với các trường nội trú là các
em hang tuần có thể về nhà, tự túc lương thực thực phẩm và các điều kiện sống
và học tập khác Hình thức này chủ yếu được áp dụng cho các vùng dân tộc thiểu
số, nơi trẻ và gia đình trẻ ở xa trường học
Trường học dạy lớp ghép: Lớp ghép là lớp có trẻ của một hoặc nhiều khối
lớp được kết hợp lại với nhau Lớp ghép thường hình thành nhằm cải tiến khả năng tiếp cận ở những khu vực vó mật độ dân cư thấp Do đó, số trẻ quá thấp ở các lớp có thể tạo thành một lớp/cấp học đầy đủ
Trường có lớp cắm bản: là các lớp hoặc cụm lớp học tại các thôn, bản,
được thành lập dựa trên cơ sở một trường chính để tạo điều kiện cho trẻ tới trường thuận lợi hơn về khoảng cách và điều kiện giao thông
Trường dân tộc nội trú: Hệ thống các trường dân tộc nội trú gồm có
- Trường dân tộc nội trú cấp trung ương và dự bị đại học
- Trường dân tộc nội trú cấp tỉnh
- Trường dân tộc nội trú cấp huyện
Trang 3831
- Trường bán trú cụm xã
Lớp học linh hoạt, lớp học tình thương: là loại hình lớp học được tổ chức
với sự linh hoạt về thời gian, địa điểm, chương trình dạy học, người học và người dạy Loại lớp học này có hiệu quả không những đối với các trẻ em dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa mà còn đối với trẻ em lang thang, trẻ em lao động sớm, trẻ em di cư tự do…
Trường lớp chuyên biệt: Là loại hình trường lớp chỉ dành cho một đối
tượng, một loại có hoàn cảnh đặc biệt (thường là dành cho đối tượng trẻ khuyết tật như trường dạy trẻ khiếm thính, trường dạy trẻ khiếm thị, trường dạy trẻ chậm phát triển trí tuệ…)
Trường lớp hội nhập: là loại hình trường lớp mà trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt học có lớp học riêng nằm trong trường phổ thông, trẻ chỉ tham gia vào các hoạt động học tập chung với lớp học bình thường khác khi trẻ có khả năng Thông thường, trẻ chỉ có thể tham gia học cùng những trẻ khác ở một hay một số môn học, giờ học cụ thể nào đó mà thôi
Trường lớp hòa nhập: là loại hình trường lớp mà trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt học chung với mọi trẻ khác trong trường, lớp Tuy nhiên, giáo viên phải thực hiện hàng loạt các điều chỉnh trong giáo dục và dạy học cho phù hợp với khả năng, nhu cầu của trẻ về mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, đánh giá kết quả giáo dục và các điều chỉnh khác về môi trường lớp học, sự hợp tác hỗ trợ lẫn nhau trong tập thể lớp học, nhà trường…
Các mô hình giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên thế giới và Việt Nam hiện nay
Lịch sử nhân loại trong suốt quá trình vận động và phát triển đã hình thành nhiều hình thức tổ chức chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác nhau Trong mỗi giai đoạn lịch sử, với những đặc thù kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội của giai đoạn đó, mỗi quốc gia với các phong tục tập quán và bản sắc dân
Trang 3932
tộc khác nhau lại có những hình thức chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cũng khác nhau, chủ yếu được thể hiện qua những quan điểm xã hội nhìn nhận trẻ, từ đó hình thành các mô hình giáo dục theo quan điểm đã được xác định Theo đó, có ba mô hình giáo dục đặc biệt trên thế giới và ở Việt Nam [14]
• Giáo dục chuyên biệt
Là mô hình xuất hiện sớm nhất trong lịch sử giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung, cụ thể là dành cho đối tượng trẻ khuyết tật, gồm trẻ khiếm thính, trẻ khiếm thị, trẻ chậm phát triển trí tuệ, khuyết tật vận động… Mô hình này được hình thành từ những năm đầu của thế kỉ XVI ở các nước như Pháp (1784), Đức (1808), Italia (1818) và một số nước châu Âu khác Ở nước ta, trường học đầu tiên dành cho trẻ khiếm thính được thành lập năm 1886 tại Lái Thiêu, Bình Dương Nguồn gốc của mô hình trường chuyên biệt này thường là
do một số tu sĩ tập trung những trẻ câm điếc vào các lớp học trong nhà thờ để dạy Dần dần, cách tập trung những trẻ này để dạy được phát triển ở nhiều nước
và trở thành hệ thống các trường chuyên biệt Mỗi dạng trẻ khuyết tật (như câm, điếc, mù, chậm phát triển trí tuệ…) lại được chia thành những loại nặng - nhẹ khác nhau được dạy trong những lớp học, những trường học riêng biệt, ở đó trẻ được dạy theo chương trình riêng, bằng những phương pháp riêng phù hợp với dạng tật của trẻ và gần như tách biệt với hệ thống giáo dục quốc dân
Các trường chuyên biệt phát triển mạnh trong những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX và rất ít thay đổi về số lượng cũng như cách thức chăm sóc, giáo dục trẻ cho đến nay Mô hình giáo dục này được dựa trên quan điểm y học, coi
“trẻ khuyết tật là có vấn đề” và được mô tả là “mô hình y học chiếm ưu thế và
phương thức dịch vụ này tồn tại và phát triển rộng lớn từ cách nhìn nhận cá nhân theo bệnh tật của cơ thể” Như vậy, người khuyết tật cần phải có khả năng
thích ứng để hòa nhập được vào cộng đồng xã hội Nếu điều đó không xảy ra, những người này sẽ mãi mãi ở trong các cơ sở chuyên biệt hoặc ở nhà nơi các
Trang 4033
nhu cầu của họ được đáp ứng Nói cách khác, quan điểm giáo dục chuyên biệt
coi khuyết tật là mục tiêu chính để chữa trị, phục hồi cho trẻ, đồng thời trẻ cần được huấn luyện để trở thành “bình thường” hoặc chí ít cũng gần “bình thường”
Giáo dục chuyên biệt nhằm đến các mục tiêu cơ bản sau:
a Mục tiêu nhân đạo
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là đối tượng được trợ giúp của các tấm lòng hảo tâm, từ thiện, là đối tượng cần nhận được tình yêu thương của cộng đồng và
xã hội
b Mục tiêu chăm sóc, giáo dục
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là đối tượng của quá trình phục hồi chức năng và giáo dục, trong đó mục tiêu phục hồi chức năng là mục tiêu cuối cùng Tùy thuộc vào quan điểm của các chuyên ngành khác nhau, người ta chia trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt thành các dạng, các mức độ nặng nhẹ khác nhau để có thể tiến hành phục hồi chức năng và giáo dục sao cho phù hợp và có hiệu quả
Cũng trên cơ sở đó, nhiều ngành khoa học như giáo dục đặc biệt, tâm lí học đặc biệt, tư vấn giáo dục đặc biệt… đã ra đời Hiện nay, đã có nhiều biện pháp, phương pháp khác nhau được áp dụng nhằm phục hồi chức năng cho trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt với hi vọng một ngày nào đó, đứa trẻ đó có thể trở thành “lành lặn” hoặc gần với “lành lặn” như những trẻ em khác
c Mục tiêu giám sát, quản lí
Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, khi nhiều nước phương Tây tiến hành công nghiệp hóa, chuyển dần nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế thị trường thì nhà trường đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội Các nhà máy, công ty, xí nghiệp luôn đòi hỏi đội ngũ công nhân và cán bộ kĩ thuật phải có sức lao động, có tay nghề vững chắc và tính kỉ luật cao Vì vậy, người học cần phải được giáo dục, đào tạo
và trải qua kinh nghiệm thực tiễn để phân loại phù hợp, đáp ứng những công việc