1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh trường THCS ngô quyền, quận lê chân, thành phố hải phòng theo yêu cầu đổi mới giáo dục

137 472 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh theo yêu cầu đổi mới giáo dục nhằm góp phần nâng cao chất lượng quá trình dạy học tạ

Trang 1

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ NGÔ QUYỀN, QUẬN LÊ CHÂN,

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG THEO YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ NGÔ QUYỀN, QUẬN LÊ CHÂN,

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG THEO YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN XUÂN HẢI

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các

số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó

Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Hà Nội, tháng 5 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Huyền

Trang 4

THPT: Trung học phổ thông

TTCN: Trung tâm công nghiệp

UBND: Ủy ban nhân dân

Trang 5

Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI khẳng định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển bền vững” [26] Đó

là nhận thức chung của nhiều quốc gia trên thế giới với một nguyên lí phát triển: GD&ĐT nâng cao dân trí là điều kiện quan trọng nhất cho sự đi lên của mỗi địa phương, mỗi dân tộc cũng như của một đất nước Ở Việt Nam, giáo dục và đào tạo đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là điều kiện quyết định

để đưa đất nước phát triển sánh vai với các cường quốc năm châu Mục tiêu của nhà trường phổ thông Việt Nam hiện nay là đào tạo con người mới, phát triển toàn diện, phù hợp với yêu cầu, điều kiện và hoàn cảnh của đất nước cũng như phù hợp với sự phát triển của thời đại

Điều 28 của Luật Giáo dục 2005 (sửa đổi năm 2009): “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh” [19].

Như vậy, vấn đề đổi mới giáo dục đào tạo nói chung và đổi mới phương pháp dạy học nói riêng luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm và được đặt ra một cách cấp thiết ở trường phổ thông Đổi mới phương pháp dạy học còn là một trong những biện pháp hữu hiệu để nhà trường và giáo viên hoàn thành những mục tiêu giáo dục đào tạo thời kỳ đổi mới Một cuộc “cách mạng về phương pháp giáo dục sẽ đem lại một bộ mặt mới, sức sống mới cho nhà trường ở thời đại mới”

Trang 6

6

Đổi mới phương pháp dạy học không thể tách rời đổi mới đánh giá Bởi

vì mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập của học sinh là những thành tố quan trọng của quá trình dạy học ở trường phổ

thông, có quan hệ mật thiết và biện chứng với nhau “Đánh giá có vai trò vô cùng quan trọng được coi như là một biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, đó là khâu mở đầu của quá trình dạy học, đồng thời cũng là khâu kết thúc của quá trình dạy học này để mở ra một quá trình dạy học khác cao hơn đồng thời có tác động điều tiết trở lại quá trình giáo dục và đào tạo” [9]

Dạy học là một quá trình khép kín, để điều chỉnh quá trình này một cách có hiệu quả cả người dạy và người học đều phải tiếp thu được những thông tin ngược từ việc kiểm tra, đánh giá tri thức Việc đánh giá kết quả học tập có nhiệm vụ làm sáng rõ tình hình lĩnh hội kiến thức của học sinh, sự hình thành

kỹ năng, kỹ xảo, góp phần phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập, tự giác trong mỗi học sinh Đồng thời thông qua đánh giá kết quả học tập của học sinh giáo viên có thể rút kinh nghiệm quá trình dạy học của mình để từ đó có những điều chỉnh biện pháp sư phạm hợp lý hơn

Song thực tiễn việc đánh giá kết quả học tập của học sinh trong dạy học

ở trường THCS cho thấy: quan niệm về đánh giá của giáo viên, học sinh và xã hội cũng có nhiều bất cập, đánh giá còn nặng về ghi nhớ mà không kiểm tra được học sinh hiểu và vận dụng; kỹ năng đánh giá học sinh chưa thực sự được giáo viên quan tâm; việc đánh giá còn nặng về hình thức, về điểm, độ chính xác chưa cao Chính vì vậy, việc đánh giá kết quả học tập của học sinh chưa phát huy được đúng vai trò và khả năng của nó Để đánh giá học sinh, giáo viên gần như chỉ dùng một phương pháp: ra đề kiểm tra Đã vậy, cách ra đề kiểm tra còn phiến diện, đơn điệu, thiếu cơ sở khoa học Kết quả đánh giá còn nhiều sai số hệ thống

Đánh giá không chỉ là để cho điểm, đánh giá học sinh là hoạt động bắt buộc và quen thuộc đối với tất cả giáo viên đứng lớp Nhưng phần lớn các giáo viên đều quan niệm việc ra đề kiểm tra cho học sinh đơn giản là có điểm số ghi vào sổ điểm Từ đó, có căn cứ để cuối học kỳ, cuối năm đánh giá học sinh

Trang 7

Trường THCS Ngô Quyền nằm ở trung tâm thành phố Hải Phòng với bề dày thành tích, đội ngũ giáo viên có nhiều kinh nghiệm, số lượng học sinh đông Song nhiều năm gần đây, chất lượng giảng dạy chưa thực sự xứng đáng với tiềm năng và lợi thế của trường, đánh giá kết quả học tập theo yêu cầu của đổi mới giáo dục của học sinh ở trường THCS Ngô Quyền còn tồn tại nhiều điều bất cập Trước thực trạng đó của nhà trường, để đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện theo tinh thần của Nghị quyết 29 ngày 4 tháng 11 năm

2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: "Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh trường THCS Ngô Quyền, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng theo yêu cầu đổi mới giáo dục " để

nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh theo yêu cầu đổi mới giáo dục nhằm góp phần nâng cao chất lượng quá trình dạy học tại trường THCS Ngô Quyền, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về đánh giá và quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh theo yêu cầu đổi mới giáo dục

Trang 8

8

3.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động đánh giá và quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh trường THCS Ngô Quyền, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng theo yêu cầu đổi mới giáo dục

3.3 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh theo yêu cầu đổi mới giáo dục trường THCS Ngô Quyền, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng Đồng thời, đề tài tiến hành khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đã đề xuất

4 Khách thể, đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS theo yêu cầu đổi mới giáo dục

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh trường THCS Ngô Quyền, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng theo yêu cầu đổi mới giáo dục

5 Giả thuyết khoa học

Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh trường THCS Ngô Quyền, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng theo yêu cầu đổi mới giáo dục còn nhiều bất cập, chưa đạt yêu cầu về lập kế họach, thực hiện kế hoạch, đội ngũ chuyên trách, sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục Nếu vận dụng một cách đồng bộ các biện pháp đề xuất trong luận văn như nâng cao nhận thức, thực hiện quy trình đánh giá, xây dựng đội ngũ cốt cán và đảm bảo các điều kiện cho thực hiện họat động đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS

sẽ góp phần nâng cao chất lượng quá trình dạy học tại trường THCS Ngô Quyền, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

6 Phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn đối tượng và địa bàn nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động và quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS theo yêu cầu đổi mới giáo dục

Trang 9

+ Cán bộ quản lý (từ tổ trưởng bộ môn trở lên): 8 người

+ Giáo viên: 90 người

+ Học sinh: 150 em

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu, phân tích các tài liệu có liên quan đến đề tài:

- Phân loại, nghiên cứu hệ thống hóa, khái quát hóa các nội dung về lí luận dạy học trong nhà trường phổ thông

- Nghiên cứu các văn bản pháp quy, những quy định của ngành có liên quan đến đánh giá kết quả học tập của học sinh

- Trên cơ sở đó để xây dựng cơ sở nghiên cứu lí luận của đề tài

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Điều tra viết bằng bảng hỏi:

Thông qua việc xây dựng các phiếu điều tra, hệ thống câu hỏi với các đối tượng là cán bộ quản lý, giáo viên, các cán bộ chuyên môn phụ trách công tác kiểm tra của nhà trường Lấy trưng cầu ý kiến đánh giá của giáo viên về một

số nội dung chỉ đạo quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh trường THCS Ngô Quyền theo yêu cầu đổi mới giáo dục

- Phỏng vấn:

Thiết kế câu hỏi để phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về thực trạng quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh trường THCS Ngô Quyền theo yêu cầu đổi mới giáo dục

- Quan sát:

Phương pháp này được thực hiện bằng cách tiếp cận, xem xét, thu thập

dữ liệu từ những hoạt động thực tế của hoạt động đánh giá kết quả học tập của

Trang 10

10

học sinh, hoạt động coi thi, coi kiểm tra, chấm bài, vào điểm của giáo viên, đánh giá của Hiệu trưởng

- Nghiên cứu sản phẩm hoạt động học tập:

Nghiên cứu các hình thức đánh giá, sản phẩm hoạt động dạy và học thông qua các đề thi, công tác chấm thi, công bố kết quả thi, bảo quản và lưu trữ kết quả thi, kiểm tra của học sinh

- Chuyên gia:

Phương pháp chuyên gia được dùng để xin góp ý kiến nhận xét của các chuyên gia quản lý giáo dục về các lĩnh vực liên quan đến đề tài, từ đó rút ra những kinh nghiệm quý báu trong công tác chỉ đạo và quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh theo yêu cầu đổi mới giáo dục

7.3 Phương pháp bổ trợ

Sử dụng các phần mềm tin học và thống kê toán học để tổng hợp, xử lý, phân tích kết quả định tính và định lượng thu được kết quả qua khảo sát, khảo nghiệm

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của

học sinh THCS theo yêu cầu đổi mới giáo dục

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học

sinh trường THCS Ngô Quyền, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng theo yêu cầu đổi mới giáo dục

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học

sinh trường THCS Ngô Quyền, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng theo yêu cầu đổi mới giáo dục

Trang 11

11

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ

HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Trên thế giới

Lịch sử phát triển giáo dục và thực tiễn cho thấy: trong dạy học việc đánh giá tri thức của học sinh là khâu không thể thiếu được trong quá trình dạy học, đánh giá vừa là động lực, vừa là nhân tố nâng cao chất lượng dạy học trong các nhà trường Đây là vấn đề lớn, đã có từ ngay khi nhà trường xuất hiện trong xã hội loài người Khi xã hội loài người phát triển việc truyền thụ những kinh nghiệm sản xuất, những thành tựu khoa học, những tri thức cuộc sống cho thế hệ sau là điều cần thiết để tiến hành được điều đó, con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất là dạy học, dạy học được coi là hoạt động đặc trưng của xã hội loài người Để đánh giá được hiệu quả của quá trình truyền thụ và tiếp thu tri thức đạt đến đâu thì phải thông qua đánh giá Chính vì vậy, ngay từ khi xuất hiện mô hình nhà trường thì các hình thức đánh giá mức độ nhận thức của học sinh cũng ra đời.Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi quốc gia có khác nhau nhưng cũng đều đưa ra quy định chuẩn phù hợp cho việc đánh giá theo yêu cầu của xã hội hiện tại

Ở các nước Châu Âu, đã từ lâu việc đánh giá tri thức của học sinh được quy định dưới dạng các kỳ thi hoặc kiểm tra với các mức độ hình thức khác nhau Các hình thức thi khá phong phú và đa dạng được tiến hành bằng mạn đàm, nói chuyện, tranh luận, trao đổi, hay trình bày những hiểu biết về thế giới

và các vấn đề triết học, tôn giáo, luân lí và đạo đức nhằm phát hiện và tuyển lựa nhân tài cho đất nước Sau này, khoa học phát triển các ngành có ranh giới

rõ rệt và nhu cầu của xã hội cũng đến lúc cần những ngành khoa học theo những lĩnh vực chuyên biệt, giáo dục sẽ phát triển đi theo hướng đó Cho đến đầu thế kỷ XVI, ông tổ của nền sư phạm cận đại J.A Comenxki ( 1592 - 1670)

Trang 12

12

- nhà giáo dục người Sec Slovakia, đã đưa ra nhiều mô hình nhà trường và được nhiều quốc gia áp dụng Đó là nhà trường phân theo cấp học, bậc học ở những lứa tuổi nhất định; các môn học ở trong nhà trường cũng được quy định chặt chẽ có chương trình, có nội dung cụ thể thống nhất Thời gian đào tạo cũng được ấn định, đương nhiên, cách đánh giá cũng được quy định rõ ràng

Trong giai đoạn từ năm 1950 đến đầu năm 1970, xuất phát từ những yêu cầu của ngành giáo dục, nâng cao chất lượng học sinh trên cơ sở nâng cao tính độc lập, tự giác, tích cực của người học, việc nghiên cứu trong giai đoạn này chủ yếu nhằm hoàn thiện quá trình dạy học trong đó có đánh giá tri thức học sinh phổ thông Một số công trình đã làm sáng tỏ chức năng đánh giá như: Chức năng giáo dục, phát huy tính độc lập tự giác cho học sinh, tìm ra hình thức đánh giá thích hợp cho các đối tượng học sinh và từng môn học, chẳng hạn như công trình của E.I Petrovxki và X.E Aung Từ những năm 1970 trở lại đây, có rất nhiều công trình nghiên cứu đã giải quyết từng vấn đề cụ thể trong đó có xác định một cách khoa học nội dung đánh giá kết quả học tập của

học sinh, như: “Những vấn đề lí luận dạy học của việc đánh giá tri thức” của V.M Palomxki, “Con đường hoàn thiện việc kiểm tra tri thức kĩ năng” của X.V Uxova, “Các hướng nâng cao tính khách quan trong việc đánh giá tri thức học sinh” của A.M.Levitov; các phương tiện điểm số, bài trắc nghiệm

(test) được sử dụng rộng rãi, tự đánh giá cũng được nghiên cứu như công trình của B.R Goyal - Ấn Độ, Các công trình nghiên cứu khác như: Mô hình đánh giá theo mục tiêu (Goal - Based Model) hay mô hình E B Taylor; mô hình CIPP do L.D Sutufflebeam đề xuất năm 1966; mô hình đánh giá sự khác biệt (Discrepancy Evaluation Model), Các nhà nghiên cứu đã phân tích và phát triển lý luận kiểm tra đánh giá ở các góc độ: vai trò, ý nghĩa, mục tiêu, nội dung, nguyên tắc và phương pháp nhằm đảm bảo tính khách quan của việc đánh giá Tác giả B.S Bloom cùng George F Madaus và J.Thomas Hastings

năm 1971 đã cho ra đời cuốn sách “Evaluation to Improve Learning” (Đánh

giá thúc đẩy học tập) Đây là cuốn sách viết về kỹ thuật đánh giá kết quả học tập của học sinh dành cho giáo viên, cuốn sách hướng tới việc hoàn thiện và sử

Trang 13

13

dụng các câu hỏi, các bài kiểm tra đánh giá quá trình học tập và các dạng bài kiểm tra khác do giáo viên tự làm được áp dụng cho học sinh một cách có hệ thống để tăng cường khả năng học tập của học sinh Thông qua việc liên kết các kỹ thuật đánh giá tốt nhất, cuốn sách hỗ trợ các giáo viên sử dụng đánh giá như một công cụ để cải tiến cả quy trình dạy và học Các công trình nghiên cứu chuyên biệt về đánh giá tri thức, kỹ năng kỹ xảo của học sinh đã tăng nhanh so với trước kia

Về mặt nội dung và chất lượng nghiên cứu, các tác giả đã hướng việc nghiên cứu của mình vào việc giải quyết ngày càng có hiệu quả các vấn đề trong hệ thống đánh giá kết quả học tập học sinh Mỗi công trình đều có những điểm mạnh, điểm yếu và những mục đích đánh giá riêng Nhưng điểm chung nhất của các nghiên cứu là cùng tập trung nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của đánh giá kết quả học tập của học sinh để đánh giá và nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng nhu cầu của xã hội

Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nền giáo dục Việt Nam mang nặng tính chất nền giáo dục nô dịch thuộc địa kiểu Pháp (số ít); còn với đại đa số thì chúng thực hiện chính sách ngu dân để dễ cai trị.Trong thời kỳ này, các kỳ thi tuyển được tổ chức rất nghiêm túc được đảm bảo bằng pháp luật Trung tâm khảo thí là một đơn vị độc lập với Bộ GD&ĐT Công tác đánh giá chất lượng giáo dục luôn gắn liền với mục tiêu đào tạo của thực dân phong kiến

Từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến nay, cùng với hoàn cảnh của đất nước, nền giáo dục Việt Nam đã trải qua ba lần cải cách với mỗi lần mục

Trang 14

14

tiêu được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình mới của đất nước Hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh có cải tiến thay đổi về cách thức nhằm mục đích đánh giá được chính xác và khách quan hơn

Với sự phối hợp những thành tựu khoa học của thế giới nghiên cứu, cải tiến quá trình đánh giá chất lượng giáo dục nói chung và đánh giá kết quả học tập học sinh nói riêng, các tác giả khẳng định: Vấn đề đánh giá kết quả học tập của học là một phạm trù của lí luận dạy học, đánh giá là mắt xích không thể tách rời trong quá trình dạy học.Trong những năm gần đây, với mục tiêu đổi mới nền giáo dục hiện đại sao cho phù hợp với nền kinh tế phát triển của đất nước nền giáo dục nói chung các mục tiêu đổi mới về mục tiêu, đổi mới về nội dung, chương trình sách giáo khoa thì công tác đổi mới về đánh giá kết quả học tập của học sinh cũng được xem là một khâu quan trọng của đổi mới đánh giá giáo dục, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay

Trong nhiều năm trở lại đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước hoạt động nghiên cứu lý luận về vấn đề này ngày càng được nâng lên tầm cao mới Đã có nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra những yêu cầu về chất lượng thi, đánh giá kết quả học tập của học sinh nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo con người trong thời kỳ phát triển Dưới đây là một số tài liệu nghiên cứu về đánh giá của các chuyên gia Việt Nam:

- Nguyễn Công Khanh (2004), Đánh giá và đo lường trong giáo dục,

NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội

- Đặng Bá Lãm (2003), Kiểm tra- đánh giá trong dạy học đại học, NXB

Giáo dục, Hà Nội [17]

- Lâm Quang Thiệp (2003), Đo lường đánh giá trong giáo dục

- Trần Bá Hoành với công trình: Đánh giá trong giáo dục

- Nguyễn Kế Hào với công trình: Đổi mới phương pháp dạy học và phương pháp đánh giá đối với giáo dục phổ thông, cao đẳng và đại học sư phạm [12]

- Trần Thị Tuyết Oanh với công trình: Đánh giá và đo lường kết quả học tập [24]

Trang 15

15

- Lê Đức Ngọc với công trình: Đo lường và đánh giá thành quả học tập

và Nâng cao năng lực xây dựng cấu trúc đề thi và biểu điểm trong đào tạo giáo viên THCS [22]

Hầu hết các công trình này đều có hai phần nội dung chính là đề cập tới

cơ sở lí luận của hoạt động giảng dạy nói chung, hệ thống lí luận về hoạt động đánh giá, các khái niệm công cụ và quan trọng là xây dựng cơ sở lí luận của các phương pháp, nội dung, hình thức đánh giá, các kĩ thuật xây dựng công cụ

- “ Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh trường THCS quận Kiến An thành phố Hải Phòng” của tác giả Trần Thị Tuyết

(2014), Đại học Sư phạm Hà Nội

Các công trình này đã xây dựng được hệ thống lí luận đánh giá; có công trình thiên về đánh giá quá trình dạy học, đánh giá chương trình, có công trình thiên về đánh giá kết quả học tập của người học, và ở công trình nào tác giả cũng đánh giá được thực trạng của hoạt động đánh giá làm sơ sở để xây dựng được các biện pháp quản lý đánh giá của chủ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đánh giá nói riêng và nâng cao chất lượng học tập, đào tạo nói chung

Để nâng cao chất lượng quá trình dạy học tại trường THCS Ngô Quyền, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, đã có một số đề tài nghiên cứu về các lĩnh vực khác nhau Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do sự thay đổi về phương pháp giảng dạy, sự thay đổi trong đội ngũ giáo viên nên chất lượng giảng dạy và học tập của nhà trường chưa thực sự xứng tầm Do vậy, đề tài:

“Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh trường THCS Ngô Quyền, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng theo yêu cầu đổi mới giáo dục" là vấn đề mang tính cấp thiết trong công tác giáo dục và đào tạo tại

Trang 16

16

trường THCS Ngô Quyền, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Quản lý, quản lý nhà trường

1.2.1.1 Quản lý

Khoa học quản lý xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội loài người

Nó là phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời một cách tất yếu do nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi tổ chức, mọi quốc gia, mọi thời đại

Lao động quản lý là một lĩnh vực lao động trí tuệ và thực tiễn phức tạp nhất của con người nhằm điều khiển lao động thúc đẩy xã hội phát triển trên tất cả các bình diện, khoa học quản lý gắn liền với tiến trình phát triển của xã hội loài người, mang tính lịch sử, giai cấp, dân tộc, thời đại Quản lý là một khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học xã hội, đồng thời quản lý còn là một nghệ thuật đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao độ để đạt được mục đích Chính vì vậy, có thể tiếp nhận khái niệm quản lý theo nhiều cách khác nhau Theo C.Mác, quản lý là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hoá lao động Quản lý có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội

đều thông qua quản lý Người viết: Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện như chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm

tự điều khiển lấy mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng

Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên khá phổ biến nhưng có nhiều quan điểm khác nhau với những góc độ khác nhau phụ thuộc vào cái nhìn chủ quan và tính mục đích của hoạt động Có thể điểm qua một số khái niệm:

Theo F.W.Taylo (1856 – 1915) “Quản lý là biết được chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó biết được họ làm việc đó có tốt hay không, có rẻ nhất không” [trích theo 3 và 4, tr 28]

Trang 17

17

Theo Henry Fayol (1841 – 1925) xuất phát từ các loại hình quản lý cho

rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [trích

theo 4, tr31] Các nhà nghiên cứu người Mỹ Harold Koontz, Cyril O’Donnell,

Heinz Weihrich trong cuốn “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” thì cho rằng:

“Quản lý là một loại hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp, nỗ lực của các nhân hướng vào mục tiêu tổ chức – Đó là hình thành một môi trường

có những điều kiện tốt nhất, thời gian ít nhất, công sức bỏ ra ít nhất, sự bất mãn cá nhân ít nhất để đạt hiệu quả cao nhất” [trích theo 3 và 4, tr 39]

Theo Mary Parker Follfet (Mỹ): “Quản lý là nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác”, “… Trong quản lý cần chú trọng tới những người lao động với toàn bộ đời sống của họ, cả yếu tố kinh tế lẫn yếu tố tinh thần và tình cảm,…” [trích theo 3 và 4, tr 50].

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng có những định nghĩa khác nhau

về thuật ngữ “Quản lý” tùy theo cách tiếp cận khác nhau:

Đại Từ điển tiếng Việt: “Quản lý là hoạt động của con người tác động vào tập thể người khác để phối hợp điều chỉnh phân công thực hiện mục tiêu chung” [32].

Theo Trần Kiểm, “Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo sự hình thành công việc qua nỗ lực của người khác” Hoặc: “Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác cũng có chung một tổ chức” [15, tr 12,13]

Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý có hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này được đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [20, tr 255]

Tác giả Trần Khánh Đức khẳng định "Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người, hay một cộng

Trang 18

sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ, đưa hệ vào thế “phát triển” Nếu người đứng đầu trong một tổ chức chỉ lấy việc “Quản” làm chính thì tổ chức dễ bị trì trệ, ngược lại nếu chỉ quan tâm đến “Lý” thì sự phát triển của tổ chức không bền vững Do vậy, người quản lý phải luôn xác định và phối hợp tốt, sao cho trong

“Quản” phải có “Lý” và trong “Lý” luôn phải có “Quản”, làm cho trạng thái của hệ thống mình quản lý luôn luôn ở trạng thái cân bằng động [2]

Như vậy, từ cách tiếp cận trên ta thấy khái niệm quản lý bao hàm một số

ý nghĩa chung:

- Quản lý là quá trình hoạt động lao động có mục đích để điều khiển lao động

- Có sự tương tác giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý

- Liên quan tới môi trường xác định

Từ các dấu hiệu chung đó, có thể khái quát như sau: Quản lý là một quá trình tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản

lý nhằm sử dụng hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra

1.2.1.2 Quản lý nhà trường

 Khái niệm nhà trường

Nhà trường (trường học) là nhân tố sinh thành hệ thống giáo dục Không có nhà trường thì không thể có giáo dục theo đúng nghĩa Trường học

là một tổ chức giáo dục cơ sở trực tiếp làm công tác đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ Trường học là tế bào của bất cứ hệ thống giáo dục quốc dân nào Nói cách khác, trường học là thành tố cơ bản của tất cả các cấp quản lý giáo dục, lại vừa

là thành tố độc lập tự quản của xã hội

Trang 19

19

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Nhà trường (trường học) là nơi tiến hành giảng dạy, đào tạo toàn diện hay một lĩnh vực chuyên môn nào đó cho học sinh, sinh viên hoặc là nơi rèn luyện, bồi dưỡng con người về mặt nào đó”

[32]

Theo Đặng Quốc Bảo "Trường học là một thiết chế xã hội trong đó diễn

ra quá trình đào tạo, giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố: Thầy - Trò Trường học là một bộ phận của cộng đồng và guồng máy của hệ thống GDQD” [2]

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi sử dụng khái niệm

Nhà trường của tác giả Trần Kiểm: “Nhà trường là thiết chế chuyên biệt của

xã hội, nơi tổ chức, thực hiện và quản lý quá trình giáo dục và đào tạo Quá trình này được thực hiện bởi hai chủ thể: người được giáo dục và đào tạo (người học) và người giáo dục và đào tạo (người dạy) Trong quá trình giáo dục và đào tạo, hoạt động của người học và hoạt động của người dạy luôn luôn gắn bó, tương tác, hỗ trợ lẫn nhau, tựa vào nhau để thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo theo yêu cầu của xã hội” [15, tr13]

 Quản lí nhà trường

Nhà trường là một dạng thiết chế tổ chức chuyên biệt và đặc thù của xã hội, được hình thành do nhu cầu tất yếu khách quan của xã hội, nhằm thực hiện chức năng truyền thụ các kinh nghiệm xã hội cần thiết cho từng nhóm dân

cư nhất định trong cộng đồng và xã hội Nhà trường là một bộ phận của xã hội,

là tổ chức giáo dục cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân Quản lý hoạt động giáo dục trong nhà trường phổ thông chính là xây dựng mối quan hệ quản lý giữa các hình thức công tác tập thể, cách đối xử giữa học sinh và giáo viên Tất

cả những điều đó đặt ra yêu cầu cao đối với việc quản lý nhà trường, việc tổ chức hợp lý quá trình giáo dục, học tập, việc xây dựng các điều kiện vật chất

kỹ thuật, tổ chức sư phạm và việc tạo ra những điều kiện khác của lao động, của giáo viên, của học sinh

Trang 20

20

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí trường học là quản lý giáo dục được thực hiện trong phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục - nhà trường - ở từng bậc học khác nhau” [25]

Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lí trường học là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi chuyên trách của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”;

“Quản lí nhà trường là hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý lên tất cả các mặt của đời sống nhà trường để đảm bảo sự vận hành tối ưu xã hội - kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên”[15]

Theo tác giả Bùi Minh Hiền và Nguyễn Vũ Bích Hiền: “Quản lý nhà trường quá trình tác động có mục đích, có định hướng, có kế hoạch của các chủ thể quản lý (đứng đầu là hiệu trưởng nhà trường) đến các đối tượng quản

lý (giáo viên, cán bộ nhận viên, người học, các bên liên quan ) và huy động,

sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả các nguồn lực nhằm thực hiện sứ mệnh của nhà trường đối với hệ thống giáo dục và đào tạo cới cộng đồng và xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đã xác định trong một môi trường luôn luôn biến động” [13, tr 31,32]

Tóm lại, Quản lí nhà trường là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật khách quan của chủ thể quản lý nhằm làm cho nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục đạt được mục tiêu giáo dục đào tạo đề ra

Quản lý nhà trường chính là những công việc mà người cán bộ quản lý nhà trường thực hiện chức năng quản lý để thực hiện các nhiệm vụ công tác của mình Vì vậy, quản lý nhà trường là quản lý toàn diện Bao gồm:

- Quản lý đội ngũ nhà giáo

- Quản lý học sinh

- Quản lý quá trình dạy học

- Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học

Trang 21

21

- Quản lý tài chính trường học

- Quản lý mối quan hệ giữa con người và cộng đồng

Tận dụng các nguồn lực đầu tư cũng như các lực lượng xã hội đóng góp, xây dựng hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường đạt được mục tiêu, kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường đến một trạng thái mới

Có một số nước đưa ra những nghĩa khác như sau:

Robert F.Macger (Pháp): “Đánh giá là việc miêu tả tình hình của học sinh và giáo viên để dự đoán công việc phải tiếp tục và gúp học sinh tiến bộ”

[trích theo 21]

Philippines: “Đánh giá là sự phân tích tác động của chương trình vào

cá nhân, vào hệ thống giáo dục và vào hệ thống phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng” [33]

Đánh giá là thông tin phản hồi trong quá trình có điều khiển Đánh giá được xem như toàn bộ quá trình thu thập các số liệu và thông tin cần thiết về chương trình học cụ thể để cung cấp bằng chứng, cơ sở cho các hoạch định chương trình, có những quyết định liên quan đến chương trình, kế hoạch đào

tạo Chính vì thế, “đánh giá là biểu thị một thái độ, đòi hỏi một sự phù hợp, theo một chuẩn nhất định Nhờ đó mà người đánh giá (thầy giáo, nhà sư phạm) cho một thông tin tổng hợp, đôi khi con số đối với người đánh giá”

[21]

Theo Đại Từ điển tiếng Việt: “Đánh giá là nhận định giá trị” [32]

Theo tác giả Đặng Bá Lãm (2003): “Đánh giá là một quá trình có hệ thống bao gồm việc thu thập, phân tích, giải tích thông tin nhằm xác định mứ

độ người học đạt được các mục tiêu dạy học” [17]

Trang 22

22

Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh: “Đánh giá trong giáo dục là quá trình tiến hành có hệ thống để xác định mức độ mà đối tượng đạt được các mục tiêu giáo dục nhất định” [24]

Các khái niệm này đều nhấn mạnh đến sự phù hợp giữa mục tiêu và

việc thực hiện, cũng có nghĩa là xem xét sự phù hợp với mục đích đánh giá và đối tượng đánh giá

Đánh giá là quá trình thu thập, xử lí thông tin để lượng tình hình và kết quả công việc giúp quá trình lập kế hoạch, quyết định và hành động có hiệu quả

Đánh giá là một hoạt động nhằm nhận định, xác định giá trị thực trạng về: Mức độ hoàn thành nhiệm vụ, chất lượng, hiệu quả công việc, trình độ, sự phát triển, những kinh nghiệm được hình thành, ở thời điểm hiện tại đang xét

so với mục tiêu hay những chuẩn mực đã được xác lập.Trên cơ sở đó, nêu ra những biện pháp uốn nắn, điều chỉnh và giúp đỡ đối tượng hoàn thành nhiệm

vụ

Đánh giá là thái độ đối với những hiện tượng xã hội, hành vi của con người, xác định những giá trị của chúng tương xứng với những nguyên tắc và chuẩn mực nhất định (khen ngợi hay lên án, đồng tình hay phản đối lên án) được xác định bằng vị trí xã hội, thế giới quan, trình độ văn hoá Mặt khác có tính động cơ, phương tiện và mục đích hành động, điều kiện và vị trí trong cả

hệ thống cách xử sự của cá nhân là điều kiện cần thiết cho việc đánh giá đúng đắn.Việc đánh giá là việc là có giá trị đối với ý nghĩa cuối cùng dẫn đến sự cải tiến hoạt động của cá nhân và tập thể

Như vậy, đánh giá trong giáo dục được hiểu là: “Sự thu thập, chỉnh lí, xử

lí, phân tích một cách toàn diện, khoa học, hệ thống những thông tin về sự nghiệp giáo dục, để rồi phán đoán giá trị của nó nhằm thúc đẩy công cuộc cải cách giáo dục, nâng cao trình độ phát triển của giáo dục, đáp ứng ngày càng cao của cộng đồng xã hội” [5]

Từ những ý kiến trên, có thể thấy đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập và xử lí kịp thời có hệ thống thông tin về hiện trạng, khả năng hay

Trang 23

Đánh giá trong nhà trường gồm nhiều lĩnh vực, nhiều khía cạnh có ý nghĩa phong phú: Có thể là dự đoán khả năng diễn biến tâm sinh lí hay sự việc, hiện tượng Xác định khả năng tiếp thu kiến thức, mức độ hiểu biết tri thức có thể thể hiện qua điểm số hoặc lời nhận xét của giáo viên Đánh giá là phương tiện củng cố cho học sinh vào sức mình và khả năng của mình, cũng là phương tiện để bù trừ những sai lầm trong học tập, cuộc sống của học sinh Qua đánh giá cũng hình thành ở học sinh khả năng tự đánh giá tự ý thức về bản thân

1.2.3 Quản lý hoạt động đánh giá

Quản lý hoạt động đánh giá là hoạt động của chủ thể quản lý tác động vào quá trình đánh giá làm cho hoạt động đánh giá được chính xác, khách quan, trung thực, phản ánh đúng thực trạng chất lượng dạy học, để từ đó tìm ra nguyên nhân và biện pháp cải thiện thực trạng, nâng cao chất lượng dạy học cũng như chất lượng giáo dục tổng thể

Nếu làm tốt công tác quản lý đánh giá thì người quản lý sẽ có được thông tin chính xác, kịp thời, có hệ thống, đảm bảo tính pháp lý,… về chất lượng quá trình dạy học, quá trình giáo dục, mức độ đạt được mục tiêu quản lý

đã đề ra cũng như hiệu quả quản lý “Kết quả của đánh giá kết quả học tập là

cơ sở để chứng thực kết quả học tập xếp loại học lực của học sinh, đánh giá năng lực và hiệu quả giảng dạy cũng như việc đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên, đánh giá việc sử dụng các nguồn lực trong và ngoài nhà trường, và sau đó là đánh giá hiệu quả quản lý của hiệu trưởng” [29] Vì vậy,

kết quả thu được từ đánh giá phải tin cậy để công khai hóa các nhận định về

Trang 24

Quản lý hoạt động đánh giá được thực hiện bằng cách hoạt động quản lí như lập kế hoạch, tổ chức, đánh giá – tự đánh giá, chỉ đạo – tự chỉ đạo Đối tượng của những hoạt động này không phải nội dung học vấn, mà là kết quả học tập và rèn luyện, thời gian, tiến độ học tập, hành vi học tập, nhu cầu và thái độ học tập, phong cách, cường độ và nhịp độ học tập, các nguồn lực học tập như học liệu, phương tiện, dụng cụ, thiết bị, môi trường học tập Hoạt động

đó gồm các khâu:

- Lập kế hoạch đánh giá: môn học nào, tương ứng vào thời điểm nào? Hình thức đánh giá? Kiến thức cần đạt đối với từng mức độ? Cấu trúc đề kiểm tra?

- Tổ chức, chỉ đạo, giám sát: ra đề, coi kiểm tra (thi), chấm bài, lấy điểm, đánh giá – xếp loại

- Sử dụng kết quả đánh giá vào việc điều chỉnh phương pháp dạy của giáo viên và phương pháp học tập của học sinh, cũng như điều chỉnh mục tiêu dạy học và giáo dục

Hoạt động đánh giá được diễn ra theo quy trình sau:

- Xác định mục tiêu: Thông thường hiệu phó chuyên môn cùng các nhóm trưởng chuyên môn căn cứ chuẩn kiến thức kỹ năng của mỗi môn học, cùng thảo luận để xây dựng mục tiêu của môn học Ngoài ra, có thể tham khảo cán bộ quản lý của các đơn vị giáo dục khác Trên cơ sở mục tiêu của môn học

sẽ yêu cầu giáo viên giảng dạy xây dựng mục tiêu cụ thể của từng môn học và công bố trong kế hoạch giảng dạy môn học

- Xây dựng kế hoạch đánh giá: Kế hoạch đánh giá được thực hiện ở các trường THCS là một bảng biểu bao gồm thời điểm thực hiện, tiết thực hiện, nội dung kiểm tra đối với mỗi môn học cụ thể

Trang 25

25

- Chọn các phương pháp, hình thức đánh giá phù hợp: Các phương pháp đánh giá phải phù hợp với mục tiêu, không chỉ là mục tiêu của môn học mà còn là mục tiêu của cả chương trình môn học cho nên phải do nhà quản lý quyết định Việc chọn lựa phương pháp đánh giá chính xác sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao chất lượng

- Tiến hành triển khai theo kế hoạch: Bao gồm các công việc xây dựng ngân hàng các câu hỏi kiểm tra, tiến hành kiểm tra, chấm trả bài

Báo cáo, sử dụng kết quả đánh giá: Báo cáo kết quả đánh giá phải chỉ ra được những điểm mạnh và những điểm yếu của người học, đồng thời phải chỉ

ra được những ưu, nhược điểm của các đối tượng liên quan như: học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý

- Đánh giá toàn bộ quy trình đánh giá: Đây là bước cuối cùng trong quy trình đánh giá Nhà trường thông qua các buổi họp chuyên môn phải có đánh giá, nhận xét việc thực hiện quy trình đánh giá đối với từng môn, chỉ rõ những thuận lợi, khó khăn khi thực hiện Từ đó, sẽ đưa ra những vấn đề cần chỉnh sửa (kế hoạch, chính sách, quy trình,…) giúp cho các lần thực hiện tiếp theo sẽ có kết quả cao hơn

Những nội dung quản lý hoạt động đánh giá được xác định một cách có hiệu quả, khoa học sẽ là những yếu tố quyết định đến việc thực hiện tốt các chức năng của đánh giá

1.2.4 Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập theo yêu cầu đổi mới giáo dục

Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập là hoạt động của chủ thể quản lý tác động vào quá trình đánh giá kết quả học tập làm cho hoạt động đánh giá được chính xác, khách quan, trung thực, phản ánh đúng thực trạng chất lượng dạy học, để từ đó tìm ra nguyên nhân và biện pháp cải thiện thực trạng, nâng cao chất lượng dạy học cũng như chất lượng giáo dục tổng thể

Trong thời điểm hiện nay, chất lượng đang là vấn đề mang tính thời sự, cấp thiết Để nâng cấp chất lượng giáo dục, bên cạnh việc đổi mới mục tiêu, cải tiến nội dung, phương pháp, nâng cao chất lượng đánh giá là vô cùng cần

Trang 26

26

thiết Một số năm trở lại đây, ngành giáo dục đào tạo có nhiều cố gắng nhằm đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh Song thực tế cho thấy, do cách thức đánh giá còn nặng về mục tiêu, chương trình, nội dung đào tạo và phương pháp dạy học Mặt khác, vấn đề dạy thêm, học thêm tràn lan, bệnh thành tích trong giáo dục đã làm này sinh nhiều hiện tượng tiêu cực trong quản lý giáo dục là vấn đề nhức nhối trong ngành giáo dục và toàn xã hội Vì vậy, việc cải tiến hoạt động đánh giá (ra đề, hình thức thi, ) là khâu mang tính đột phá và việc quản lý hoạt động đánh giá là yếu tố quyết định để đảm bảo chất lượng đánh giá tạo ra những chuyển biến cơ bản nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường

Muốn quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh hiệu quả theo tinh thần “đổi mới căn bản và toàn diện” (Nghị quyết TW8 khóa XI) phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Có mục tiêu, kế hoạch đánh giá cụ thể, khoa học phù hợp với thực tiễn nhà trường

- Có quy trình đánh giá phù hợp

- Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối

kỳ, cuối năm học, đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học, đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và xã hội

- Tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện hoạt động đánh giá theo đúng quy trình Xây dựng “ma trận” đề trong hoạt động đánh giá đảm bảo đánh giá kiến thức một cách toàn diện, tránh học tủ hướng tới phát triển năng lực người học

- Thanh tra, kiểm tra hoạt động đánh giá để có các điều chỉnh kịp thời để nâng cao chất lượng đánh giá kết quả học tập của học sinh

1.3 Vấn đề lý luận về đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS

1.3.1 Vị trí, vai trò, chức năng của đánh giá kết quả học tập trong quá trình dạy học ở THCS

1.3.1.1 Vị trí của đánh giá kết quả học tập

Học tập - theo lí luận dạy học hiện đại là hoạt động nhận thức của người học được thực hiện dưới sự tổ chức điều khiển của nhà sư phạm Mục đích của

Trang 27

27

hoạt động học tập là tiếp thu nền văn hóa nhân loại và chuyển chúng thành năng lực thể chất, năng lực tinh thần của mỗi cá nhân Đối tượng của hoạt động học là hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo tương ứng được thể hiện ở nội dung của môn học, bài học với hệ thống khái niệm khoa học và môn học

Sản phẩm của hoạt động dạy học, của lao động sư phạm trên lớp học, trong phòng thí nghiệm, xưởng trường, bãi tập, rất đa dạng và phức tạp, khó xác định Những sản phẩm đó làm người học đã thay đổi ít hoặc nhiều trong phẩm chất và năng lực của họ sau một thời gian học tập nhất định hay nói cách khác là đã có các giá trị gia tăng - đó chính là kết quả học tập của người học, thành tố chủ yếu tạo nên chất lượng của hoạt động dạy học trong nhà trường

Như vậy, kết quả học tập là những thông tin cho biết mức độ đạt được

mục tiêu về kiến thức và kĩ năng của người học trong quá trình học tập “Kết quả học tập thể hiện chất lượng của quá trình dạy học, chỉ xuất hiện khi có những biến đổi tích cực trong nhận thức, hành vi của người học” [18] Kết quả

học tập được hiểu theo hai nghĩa trong khoa học cũng như trong thực tế Thứ nhất là mức độ người học đạt được so với mục tiêu đã xác định Thứ hai là mức độ người học đạt được so sánh với những người cùng học khác thế nào

Kết quả học tập còn là những thông tin giúp cho việc phán đoán, xác định về mặt số lượng (định lượng) hay chất lượng (định tính) về mức độ lĩnh hội kiến thức, kĩ năng, thái độ của người học làm cơ sở cho việc đánh giá kết quả học tập của học sinh

Theo tác giả Đặng Bá Lãm: “Đánh giá thành tích của người học theo nghĩa hẹp có nghĩa là chúng ta thu thập thông tin nhằm đưa ra quyết định về mức độ đạt được mục tiêu về kiến thức và kĩ năng của người học” [17]

Phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng toi thống nhất với quan điểm của

tác giả Trần Thị Tuyết Oanh: “Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập,

xử lí thông tin về trình độ, khả năng mà người học thực hiện các mục tiêu học tập đã xác định, nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên, của nhà trường và cho bản thân người học giúp họ tiến bộ hơn Đánh giá kết quả học tập của học sinh là đánh giá mức độ hoàn thành các mục tiêu đề ra

Trang 28

28

cho học sinh sau một giai đoạn học tập Các mục tiêu này thể hiện ở từng môn học cụ thể Thông qua đánh giá kết quả học tập của học sinh sẽ thể hiện được kết quả của quá trình giáo dục và đào tạo” [24]

Đánh giá kết quả học tập đòi hỏi phải xác định mức độ nắm được kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh so với yêu cầu của chương trình đề ra Nội dung đánh giá là những kết quả học tập hàng ngày, cũng như kết quả phản ánh trong các kì thi, kiểm tra Kết quả của đánh giá được thể hiện chủ yếu bằng điểm số theo thang điểm đã được quy định Ngoài ra, còn được thể hiện qua nhận xét của giáo viên Việc đánh giá kết quả học tập có tác dụng quyết định đối với quá trình dạy học vì nó khẳng định và công nhận những thành quả đã đạt được và định hướng những mục tiêu cần phấn đấu trong tương lai

Hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh là khâu cuối cùng và là khâu quan trọng nhất trong quá trình dạy học, là bộ phận cấu thành trong quá trình thực hiện kế hoạch dạy học, trong hệ thống- các nguyên tắc dạy học và thực hiện các nội dung dạy học, là điều kiện đủ để hoàn thành mục tiêu và nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học

Xét trên quan điểm hệ thống, quy trình đào tạo được xem như một hệ thống gồm các yếu tố như: mục tiêu, chương trình đào tạo, nội dung, hình thức

tổ chức dạy học, phương pháp dạy của thầy, phương pháp học của trò và cuối cùng là đánh giá kết quả của người học Quy trình này được thể hiện ở sơ đồ dưới đây:

Trang 29

29

Sơ đồ 1.1 Quy trình đào tạo

Các yếu tố tác động qua lại lẫn nhau theo một sơ đồ cấu trúc nhất định

Đó là từ phân tích nhu cầu của xã hội, trên cơ sở triết lí của nền giáo dục và các cơ sở khác (hệ) mục tiêu của một cấp học, bậc học, ngành học được xác định Đây là cái mốc cơ bản để thiết kế chương trình, lựa chọn và sắp xếp nội dung đào tạo Hệ mục tiêu còn định hướng cho việc tìm ra các hình thức tổ chức dạy-học phù hợp trong đó người dạy và người học tìm được các phương pháp dạy và học tương ứng để đạt được mục tiêu

Trong sơ đồ trên, đánh giá là khâu cuối cùng và cũng là khâu quan trọng nhất bởi lẽ nó không chỉ cho ta biết quá trình đào tạo có đạt được mục tiêu hay không, mà còn cung cấp thông tin hữu ích để điều chỉnh toàn bộ các hoạt động xảy ra trước đó, song cũng có thể xem là bước khởi đầu cho chu trình tiếp theo với chất lượng mới hơn của cả một quá trình

1.3.1.2 Vai trò của đánh giá kết quả học tập

Yêu cầu của xã hội

Trang 30

30

Theo tác giả Bùi Minh Hiền và Nguyễn Vũ Bích Hiền: “Đánh giá kết quả học tập là hoạt động hỗ trợ giáo viên cách sử dụng minh chứng để xác nhận kết quả học tập của học sinh theo mục tiêu và chuẩn” [13, tr 192]

Đánh giá kết quả học tập là một trong những hoạt động quan trọng nhất của quá trình dạy học Bản chất của đánh giá là thu thập các thông tin định tính

và định lượng, xử lý các thông tin đó và xác định xem mục tiêu của chương trình đào tạo, của môn học có đạt được hay không và nếu đạt được thì ở mức

độ nào

Đánh giá kết quả học tập là định hướng tới đích cuối cùng để người dạy hướng dẫn người học cùng vươn tới và cũng là để người học tuỳ theo năng lực của bản thân mà tìm cách riêng cho mình hướng tới Với nghĩa này, đánh giá

sẽ định hướng cách dạy của giáo viên và cách học của học sinh sao cho hiệu quả nhất, nghĩa là cùng hướng tới việc đạt mục tiêu

Ngoài ra, các thông tin khai thác được từ kết quả đánh giá sẽ rất hữu ích cho việc điều chỉnh phương pháp dạy của thầy và phương pháp học của học sinh, đồng thời giúp các nhà quản lý có những thay đổi cần thiết trong việc tổ chức quá trình đào tạo (như điều chỉnh chương trình, nội dung đào tạo, hình thức tổ chức dạy học)

Trong nhà trường hiện nay, việc dạy học không chỉ chủ yếu là dạy cái gì

mà còn dạy học như thế nào Đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu cấp bách có tính chất đột phá để nâng cao chất lượng dạy học Đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi phải tiến hành một cách đồng bộ đổi mới từ nội dung chương trình sách giáo khoa, phương pháp dạy học cho đến đánh kết quả dạy học Đánh giá có vai trò rất to lớn đến việc nâng cao chất lượng đào tạo

“Kết quả của đánh giá là cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học

và quản lý giáo dục” [29] Nếu đánh giá sai dẫn đến nhận định sai về chất

lượng đào tạo gây tác hại to lớn trong việc sử dụng nguồn nhân lực Như vậy, đổi mới đánh giá trở thành nhu cầu bức thiết của ngành giáo dục và toàn xã hội ngày nay Đánh giá đúng thực tế, chính xác và khách quan sẽ giúp người học

tự tin, hăng say, nâng cao năng lực sáng tạo trong học tập

Trang 31

* Chức năng đốc thúc, kích thích, tạo động lực

Thông qua đánh giá, giáo dục có thể kích thích tinh thần ham học hỏi và không ngừng vươn lên của người học Sau mỗi bài kiểm tra, nhờ kết quả đó sẽ giúp học sinh thấy được mức độ nắm bắt kiến thức của bản thân để có hướng phấn đấu cho bài kiểm tra sau Đối với mỗi đối tượng học sinh sẽ có những tác dụng riêng, với những em học giỏi, kết quả học tập tốt sẽ động viên khích lệ các em hăng say học tập, còn đối với những em học học yếu kết quả sẽ là một minh chứng thôi thúc các em cố gắng vươn lên Như vậy, đánh giá đã tạo ra môi trường cạnh tranh chính thức hoặc phi chính thức

* Chức năng sàng lọc, lựa chọn

Trong thực tế, lựa chọn, sàng lọc, phân loại đối tượng cần thường xuyên được tiến hành

Kết quả của quá trình đánh giá sẽ giúp phân loại, sàng lọc đối tượng và

từ đó sẽ có những chiến lược phù hợp với từng loại đối tượng, giúp đối tượng tiến bộ không ngừng

* Chức năng cải tiến dự báo

Nhờ có đánh giá mới phát hiện được những vấn đề tồn tại trong công tác dạy và học, từ đó tiến hành sử dụng các biện pháp thích hợp để bù đắp những chỗ thiếu hụt hoặc loại bỏ những sai sót không đáng có Đó chính là chức năng cải tiến và dự báo của đánh giá

Ví dụ: Nhờ có phân tích và nghiên cứu từng khâu, từng bước trong quản

lý giáo dục và đánh giá tính chính xác, độ thích hợp của các hoạt động giáo

Trang 32

32

dục, chúng ta mới có thể phán đoán hoặc dự báo các vấn đề hoặc các khâu còn yếu kém trong công tác dạy và học Đây sẽ là căn cứ đáng tin cậy để tiến tới việc xác lập mục tiêu cải tiến giáo dục

1.3.2 Nguyên tắc và các yêu cầu sư phạm của hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS

1.3.2.1 Các nguyên tắc của hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS

Để đánh giá trong dạy học cần dựa vào những nguyên tắc mang tính tổng quát và cụ thể Đánh giá là quá trình tiến hành có hệ thống để xác định phạm vi đạt được của các mục tiêu đề ra, phải xác định rõ mục tiêu đánh giá Khi đánh giá phải chọn mục tiêu đánh giá rõ ràng, các mục tiêu phải được biểu hiện dưới dạng những điều có thể quan sát được Đánh giá bao giờ cũng gắn với việc học tập của học sinh, nghĩa là trước tiên phải chú ý đến việc học tập của học sinh, sau đó mới kích thích sự nỗ lực học tập của học sinh, cuối cùng mới đánh giá bằng điểm số Qua những lỗi mắc phải của học sinh, giáo viên cần rút kinh nghiệm để phát hiện ra những sai sót trong quá trình dạy và đánh giá của mình để thay đổi cách dạy sao cho phù hợp với học sinh Trong đánh giá nên sử dụng nhiều phương pháp và hình thức khác nhau nhằm tăng độ tin cậy và chính xác, lôi cuốn và khuyến khích học sinh tham gia vào quá trình đánh giá Giáo viên phải thông báo rõ các loại hình câu hỏi để đánh giá

1.3.2.2 Các yêu cầu sư phạm khi đánh giá kết quả học tập của học sinh

THCS

Lý luận và thực tiễn dạy học ngày nay chứng tỏ rằng, vấn đề đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chỉ có tác dụng khi thực hiện những yêu cầu trong việc đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh

Đó là các yêu cầu sau:

* Đánh giá phải xuất phát từ mục tiêu dạy học

* Đảm bảo tính khách quan trong quá trình đánh giá:

- Là sự phản ánh trung thực kết quả lĩnh hội nội dung tài liệu học tập của học sinh so với yêu cầu do chương trình qui định

Trang 33

33

- Nội dung kiểm tra phải phù hợp với các yêu cầu chung của chương trình đề ra

- Tổ chức thi phải nghiêm minh

Để đảm bảo tính khách quan trong đánh giá, cần cải tiến, đổi mới các phương pháp, hình thức đánh giá, từ khâu ra đề, tổ chức thi tới khâu cho điểm

Xu hướng chung là tuỳ theo đặc trưng môn học mà lựa chọn hình thức thi thích hợp Song dù hình thức nào, vấn đề “lượng hoá” nội dung môn học theo các đơn vị kiến thức để làm chuẩn cho việc đánh giá, cho điểm khách quan là cực kỳ quan trọng

* Yêu cầu đảm bảo tính toàn diện:

Trong quá trình đánh giá kết quả học tập của học sinh về khối lượng và chất lượng chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, vận dụng thuộc về các môn học; về kết quả phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, tư duy sáng tạo, ý thức, thái độ,… trong đó, chú ý đánh giá cả số lượng và chất lượng, cả nội dung và hình thức

* Yêu cầu đảm bảo tính thường xuyên và hệ thống

* Yêu cầu đảm bảo tính phát triển

Trân trọng sự cố gắng của học sinh, đánh giá cao những tiến bộ trong học tập của học sinh Cần đảm bảo tính công khai trong đánh giá

* Đánh giá phải đảm bảo tính thuận tiện của việc sử dụng công cụ đánh giá

1.3.3 Nội dung đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS

Bao gồm đánh giá xếp loại hạnh kiểm và học lực của học sinh được quy định ở Thông tư số 58/2011/TT- BGDĐT [1]

1.3.3.1 Đánh giá, xếp loại hạnh kiểm

* Căn cứ đánh giá, xếp loại hạnh kiểm:

- Đánh giá hạnh kiểm của học sinh căn cứ vào biểu hiện cụ thể về thái

độ và hành vi đạo đức; ứng xử trong mối quan hệ với thầy giáo, cô giáo, cán

bộ, công nhân viên, với gia đình, bạn bè và quan hệ xã hội; ý thức phấn đấu vươn lên trong học tập; kết quả tham gia lao động, hoạt động tập thể của lớp,

Trang 34

* Xếp loại hạnh kiểm:

Hạnh kiểm được xếp thành 4 loại: Tốt (T), khá (K), trung bình (TB), yếu (Y) sau mỗi học kỳ và cả năm học Việc xếp loại hạnh kiểm cả năm học chủ yếu căn cứ vào xếp loại hạnh kiểm học kỳ II và sự tiến bộ của học sinh

1.3.3.2 Đánh giá, xếp loại học lực

* Căn cứ đánh giá, xếp loại học lực:

- Mức độ hoàn thành chương trình các môn học và hoạt động giáo dục trong Kế hoạch giáo dục cấp THCS, cấp THPT

- Kết quả đạt được của các bài kiểm tra

* Học lực được xếp thành 5 loại: Giỏi (G), khá (K), trung bình (TB), yếu (Y), kém (Kém)

1 Loại giỏi, nếu có đủ các tiêu chuẩn sau đây:

- Điểm trung bình các môn học từ 8,0 trở lên, trong đó điểm trung bình của 1 trong 2 môn Toán, Ngữ văn từ 8,0 trở lên; riêng đối với học sinh lớp chuyên của trường THPT chuyên phải thêm điều kiện điểm trung bình môn chuyên từ 8,0 trở lên;

- Không có môn học nào điểm trung bình dưới 6,5;

- Các môn học đánh giá bằng nhận xét đạt loại Đ

2 Loại khá, nếu có đủ các tiêu chuẩn sau đây:

- Điểm trung bình các môn học từ 6,5 trở lên, trong đó điểm trung bình của 1 trong 2 môn Toán, Ngữ văn từ 6,5 trở lên; riêng đối với học sinh lớp chuyên của trường THPT chuyên phải thêm điều kiện điểm trung bình môn chuyên từ 6,5 trở lên;

- Không có môn học nào điểm trung bình dưới 5,0;

Trang 35

35

- Các môn học đánh giá bằng nhận xét đạt loại Đ

3 Loại trung bình, nếu có đủ các tiêu chuẩn sau đây:

- Điểm trung bình các môn học từ 5,0 trở lên, trong đó điểm trung bình của 1 trong 2 môn Toán, Ngữ văn từ 5,0 trở lên; riêng đối với học sinh lớp chuyên của trường THPT chuyên phải thêm điều kiện điểm trung bình môn chuyên từ 5,0 trở lên;

- Không có môn học nào điểm trung bình dưới 3,5;

- Các môn học đánh giá bằng nhận xét đạt loại Đ

4 Loại yếu: Điểm trung bình các môn học từ 3,5 trở lên, không có môn học nào điểm trung bình dưới 2,0

5 Loại kém: Các trường hợp còn lại

6 Nếu điểm trung bình học kỳ ĐTBhk) hoặc điểm trung bình cả năm (ĐTBcn) đạt mức của từng loại quy định tại các Khoản 1, 2 điều này nhưng do kết quả của một môn học nào đó thấp hơn mức quy định cho loại đó nên học lực bị xếp thấp xuống thì được điều chỉnh như sau:

- Nếu ĐTBhk hoặc ĐTBcn đạt mức loại giỏi nhưng do kết quả của một môn học nào đó mà phải xuống loại trung bình thì được điều chỉnh xếp loại khá

- Nếu ĐTBhk hoặc ĐTBcn đạt mức loại giỏi nhưng do kết quả của một môn học nào đó mà phải xuống loại yếu thì được điều chỉnh xếp loại trung bình

- Nếu ĐTBhk hoặc ĐTBcn đạt mức loại khá nhưng do kết quả của một môn học nào đó mà phải xuống loại yếu thì được điều chỉnh xếp loại trung bình

- Nếu ĐTBhk hoặc ĐTBcn đạt mức loại kém nhưng do kết quả của một môn học nào đó mà phải xuống loại kém thì được điều chỉnh xếp loại yếu

1.3.4 Các hình thức đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS

Hiện nay trên thế giới, khoa học đánh giá ngày càng phát triển các loại hình thức đánh giá được phân loại theo các quan điểm tiếp cận

Trang 36

36

* Xét theo quá trình học tập sẽ có 4 loại đánh giá tương ứng với đầu vào, quá trình học tập, đầu ra của quá trình dạy học: Đánh giá chẩn đoán, đánh giá từng phần, đánh giá tổng kết và ra quyết định

Đánh giá chẩn đoán được tiến hành trước khi dạy một chương hay một

vấn đề quan trọng nào đó giúp cho giáo viên nắm được tình hình những kiến thức liên quan có trong học sinh, những điểm học sinh nắm vững, những lỗ hổng cần bổ khuyết, để quyết định cách dạy cho thích hợp

Đánh giá từng phần được tiến hành nhiều lần trong giảng dạy nhằm

cung cấp nhưng thông tin ngược để giáo viên và học sinh kịp thời điều chỉnh cách dạy và cách học, ghi nhận xét kết quả từng phần để tiếp tục thực hiện chương trình một cách vững chắc

Đánh giá tổng kết tiến hành khi kết thúc môn học, khóa học bằng những

kì thi nhằm đánh giá tổng quát kết quả học tập, đối chiếu với những mục tiêu

đề ra

Ra quyết định là khâu cuối cùng của đánh giá Dựa và những định hướng

trong khâu đánh giá Giáo viên quyết định những biện pháp cụ thể để giúp đỡ

họ sinh hay cả lớp về những sai sót đặc biệt hay những thiếu sót phổ biến

* Xét theo mục tiêu học tập sẽ có hai loại đánh giá là: Đánh giá vì học tập của học sinh và đánh giá kết thúc học tập của học sinh

Đánh giá vì sự tiến bộ trong học tập của học sinh (asessment for learning) diễn ra trong quá trình học tập vẫn đang được thực hiện Đó là đánh

giá tiến hành thông qua việc dạy và học nhằm phán đoán những nhu cầu của học sinh, lên kế hoạch cho các định hướng giảng dạy tiếp theo, cung cấp cho học sinh những phản hồi để các em có thể sử dụng những phản hồi này nhằm cải thiện chất lượng học tập của các em

Đánh giá kết quả học tập của học sinh (assessment of learning) là

những đánh giá diễn ra sau khi học xong một giai đoạn học tập nhằm xác định xem giáo dục có được thực hiện không Đánh giá kết quả học tập của học sinh được sử dụng nhằm lập báo cáo về tình trạng học sinh học tập ở một thời điểm,

có thể sử dụng để đưa ra

Trang 37

37

1.3.5 Quy trình đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS

Quy trình đánh giá là trình tự phải tuân theo để tiến hành đánh giá Đây cũng chính là quá trình nhận thức và vận dụng tri thức vào công việc đánh giá Quy trình đánh giá kết quả học tập gồm các bước [28]:

- Căn cứ vào mục tiêu dạy học và mục đích học tập để xác định mục tiêu đánh giá;

- Lượng hóa các mục tiêu dạy học để đặt ra các mức độ cần đạt về kiến thức, kỹ năng, thái độ, nhằm xác định nội dung và các tiêu chí đánh giá;

- Lựa chọn phương pháp đánh giá phù hợp với mục tiêu, nội dung đã đề

ra trên cơ sở các đặc điểm của đối tượng được đo lượng, thẩm định và trên cơ

sở hoàn cảnh xã hội;

- Soạn thảo công cụ: Viết câu hỏi, đặt bài toán dựa trên mục tiêu đề ra

và nội dung cần đánh giá;

- Sắp xếp câu hỏi, bài toán từ dễ đến khó, chú ý đến tính tương đương của các đề (nếu có nhiều đề) và duyệt lại đáp án;

- Tiến hành đo lường;

- Phân tích kết quả, đánh giá độ tin cậy và độ giá trị của bài thi;

- Điều chỉnh, bổ sung để hoàn thiện công cụ đánh giá bài thi

1.4 Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS

1.4.1 Mục đích quản lý hoạt động đánh giá

Trong quá trình giáo dục nói chung, quá trình dạy học nói riêng, đánh giá là một trong những yếu tố chủ yếu và hợp thành một chỉnh thể thống nhất trong quy trình đào tạo Đánh giá có vai trò to lớn trong việc tạo động cơ, thái

độ tích cực của người học, hoàn thiện quá trình dạy học, kiểm định chất lượng, hiệu quả công tác dạy học Cụ thể:

- Công khai hóa nhận định về năng lực và kết quả học tập của mỗi học sinh và tập thể lớp, tạo cơ hội cho học sinh phát triển kỹ năng tự đánh giá, giúp học sinh nhận ra sự tiến bộ của mình, khuyến khích động viên việc học tập

Trang 38

38

- Giúp cho giáo viên, cơ quan quản lý, nhà quản lý có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh và điểm yếu của mình, tự hoàn thiện hoạt động dạy, phấn đấu không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học

Như vậy, đánh giá không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và định hướng, điều chỉnh hoạt động của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định ra thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy

1.4.2.Nội dung quản lý hoạt động đánh giá

1.4.2.1 Quản lý xác định mục tiêu hoạt động đánh giá

Đánh giá là một quá trình bắt đầu bằng việc xác định mục tiêu, tức là xác định những gì người học cần biết, cần làm được sau khi kết thúc chương trình học, đối với nhà trường thì đó là mục tiêu đào tạo, còn đối với người học thì đó

là mục tiêu học tập và thực tế cho thấy quá trình dạy học không thể tốt nếu thiếu cơ sở thu thập thông tin, dữ liệu cho đánh giá Đánh giá thành công cần

có sự phù hợp giữa mục tiêu với công cụ đánh giá, giữa mục tiêu với phương pháp giảng dạy Thông thường, đầu năm học Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn cùng các nhóm trưởng chuyên môn căn cứ chuẩn kiến thức kỹ năng của môn học, khối, lớp cùng thảo luận để xây dựng mục tiêu đánh giá của môn học đồng thời xác định các mức độ năng lực của người học Ngoài ra,

có thể tham khảo cán bộ quản lý của các đơn vị giáo dục khác Trên cơ sở mục tiêu và mức độ năng lực đã xác định của môn học sẽ yêu cầu giáo viên giảng dạy xây dựng mục tiêu cụ thể và xác định các phương diện năng lực mà học sinh cần hình thành và phát triển qua môn học

Mục tiêu và kết quả học tập của học sinh phải bao gồn bốn yếu tố: kiến thức, năng lực nhận thức, tư duy, kỹ năng kỹ xảo được huấn luyện và thái độ đối với môn học, ngành học, xã hội

1.4.2.2 Quản lý ra đề kiểm tra

Đề kiểm tra là các câu hỏi được đặt ra để kiểm tra năng lực nhận thức của người học sau khi hoàn thành một chương trình học tập cụ thể, ở các trường phổ thông có các dạng bài kiểm tra: bài kiểm tra 15 phút được lấy vào

Trang 39

1.4.2.3 Quản lý coi thi

Là việc giám sát kiểm tra việc thực hiện kế hoạch đánh giá của giáo viên đối với từng lớp học, về thái độ tinh thần trách nhiệm của giáo viên trong mỗi giờ kiểm tra; Xây dựng ban khảo thí thay mặt nhà quản lý quản lý hoạt động đánh giá chất lượng dạy học của giáo viên và học sinh; luôn công tâm, công bằng, chính xác và khách quan trong kiểm tra đánh giá chất lượng giáo dục của nhà trường Nhiệm vụ của ban khảo thí là tổ chức chia học sinh theo số báo danh, phòng thi của mỗi kỳ kiểm tra hết học kỳ, phân công giám thị coi, chấm kiểm tra theo đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện đúng quy chế coi, chấm; quản lý kết quả đánh giá hoạt động học tập của học sinh

1.4.2.4 Quản lý thu thập thông tin phản hồi từ học sinh

Đây là công việc thường xuyên của giáo viên phổ thông, xác nhận ý kiến trả lời của học sinh về câu hỏi đạt được theo một thang điểm nhất định Trên cơ sở đó, để giáo viên và học sinh điều chỉnh hoạt động dạy và học của mình Đó cũng là cơ sở để Ban giám hiệu nhà trường theo dõi đôn đốc nhắc nhở việc học của trò và giảng dạy của thầy Giáo viên chủ nhiệm lớp thông báo cho phụ huynh học sinh kết quả học tập rèn luyện của học sinh tại lớp

1.4.2.5 Quản lý sử dụng kết quả hoạt động đánh giá

- Kết quả đánh giá phải chỉ ra được những điểm mạnh và những điểm yếu của người học, đồng thời phải chỉ ra được những ưu, nhược điểm của các đối tượng liên quan như: học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý

- Nhà trường thông qua các buổi họp chuyên môn để đánh giá, nhận xét việc thực hiện quy trình đánh giá đối với từng môn, chỉ rõ những thuận lợi, khó khăn khi thực hiện Từ đó, sẽ đưa ra những vấn đề cần chỉnh sửa (kế

Trang 40

- Phải đánh giá được các năng lực khác nhau của học sinh:

+ Mỗi cá nhân để thành công trong học tập, thành đạt trong cuộc sống cần phải sở hữu nhiều loại năng lực khác nhau Do vậy, giáo viên phải sử dụng các loại hình, công cụ khác nhau nhằm đánh giá được các loại năng lực khác nhau của người học để kịp thời phản hồi, điều chỉnh hoạt động dạy học

và giáo dục

+ Năng lực của các nhân thể hiện qua hoạt động và có thể đo lường, đánh giá được Mỗi kế hoạch đánh giá cụ thể phải thu thập được các chứng cứ cốt lõi về các kiến thức, kỹ năng, thái độ,… được tích hợp trong những tình huống, ngữ cảnh thực tế Năng lực của mỗi các nhân là một phổ từ năng lực bậc thấp như nhận biết/ tìm kiếm thông tin (tái tạo) tới năng lực bậc cao (khái quát hóa/ phản ánh) Năng lực và các thành tố của năng lực không bất biến mà được hình thành và biến đổi liên tục trong suốt cuộc sống của mỗi cá nhân Mỗi kết quả đánh giá chỉ là một “lát cắt”, do vậy mà mỗi phán xét, quyết định

về học sinh phải sử dụng nhiều nguồn thông tin từ các kết quả đánh giá

- Đảm bảo tính khách quan thực hiện trong quá trình đánh giá sao cho kết quả thu thập được ít chịu ảnh hưởng từ những yếu tố chủ quan khác Vì vậy, khi đánh giá cần chú ý:

+ Phối hợp một cách hợp lý các loại hình, công cụ đánh giá khác nhau nhằm hạn chế tối đa các hạn chế của mỗi loại hình, công cụ đánh giá

+ Đảm bảo môi trường, cơ sở vật chất không ảnh hưởng đến việc thực hiện các bài tập đánh giá của học sinh

+ Kiểm soát các yếu tố khác ngoài khả năng thực hiện các bài tập đánh giá của học sinh có thể ảnh hưởng đến kết quả bài làm hay thực hiện hoạt động của học sinh Các yếu tố khác có thể là trạng thái sức khỏe, tâm lý lúc làm bài hay thực hiện các hoạt động, ngôn ngữ diễn đạt trong bài kiểm tra, sự quen

Ngày đăng: 06/06/2017, 12:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Thông tư số 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 12 năm 2011 ban hành Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 12 năm 2011 ban hành Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2011
2. Đặng Quốc Bảo (1997), Một số khái niệm về quản lý giáo dục, Trường Cán bộ quản lý Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khái niệm về quản lý giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 1997
3. Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1999), Khoa học tổ chức quản lý – một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học tổ chức quản lý – một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1999
4. Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2010), Đại cương khoa học quản lý, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương khoa học quản lý
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2010
5. Nguyễn Đức Chính (2008), Đo lường và đánh giá trong giáo dục và dạy học, Khoa Sư phạm, ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường và đánh giá trong giáo dục và dạy học
Tác giả: Nguyễn Đức Chính
Năm: 2008
6. Nguyễn Đức Chính (2010), Quy trình tổ chức một kỳ kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh trung học, Tạp chí Giáo dục Thời đại, tr.8-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Giáo dục Thời đại
Tác giả: Nguyễn Đức Chính
Năm: 2010
7. Vũ Cao Đàm (2012), Phương pháp luận NCKH, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận NCKH
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
8. Trần Khánh Đức (2002), Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI, NXB Giáo dục, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
9. Lê Thị Mỹ Hà (2010), Đánh giá kết quả học tập của học sinh: định nghĩa và phân loại, Tạp chí Khoa học Giáo dục số 61, tr.21-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả học tập của học sinh: định nghĩa và phân loại
Tác giả: Lê Thị Mỹ Hà
Năm: 2010
10. Phạm Minh Hạc (1981), Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1981
11. Phạm Minh Hạc – Chủ biên (2001), Phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Minh Hạc – Chủ biên
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
12. Nguyễn Kế Hào (2006), Đổi mới phương pháp dạy học và phương pháp đánh giá đối với giáo dục phổ thông, Cao đẳng và Đại học sư phạm, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học và phương pháp đánh giá đối với giáo dục phổ thông, Cao đẳng và Đại học sư phạm
Tác giả: Nguyễn Kế Hào
Năm: 2006
13. Bùi Minh Hiền – Nguyễn Vũ Bích Hiền (2015), Quản lý và lãnh đạo Nhà trường, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và lãnh đạo Nhà trường
Tác giả: Bùi Minh Hiền – Nguyễn Vũ Bích Hiền
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2015
14. Hà Sĩ Hồ - Lê Tuấn (1987), Những bài giảng về quản lý trường học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài giảng về quản lý trường học
Tác giả: Hà Sĩ Hồ - Lê Tuấn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1987
15. Trần Kiểm (2008), Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý giáo dục, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý giáo dục
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Năm: 2008
16. Đặng Bá Lãm (2005), Quản lý nhà nước về giáo dục lý luận và thực tiễn. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về giáo dục lý luận và thực tiễn
Tác giả: Đặng Bá Lãm
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
17. Đặng Bá Lãm (2003), Kiểm tra đánh giá trong giáo dục đại học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra đánh giá trong giáo dục đại học
Tác giả: Đặng Bá Lãm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
18. Trang Thị Lân (1996), Về việc kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh, Nghiên cứu giáo dục, số 5, tr.24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh
Tác giả: Trang Thị Lân
Năm: 1996
20. Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt (1998), Giáo dục học (Tập 2), NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học
Tác giả: Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1998
21. Hoàng Đức Nhuận, Lê Đức Phúc (1995), Cơ sở lí luận của việc đánh giá chất lượng học tập của học sinh phổ thông, Chương trình KHCN cấp Nhà nước KX-07, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lí luận của việc đánh giá chất lượng học tập của học sinh phổ thông
Tác giả: Hoàng Đức Nhuận, Lê Đức Phúc
Năm: 1995

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1. Quy trình đào tạo - Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh trường THCS ngô quyền, quận lê chân, thành phố hải phòng theo yêu cầu đổi mới giáo dục
Sơ đồ 1.1. Quy trình đào tạo (Trang 29)
Sơ đồ 1.3. Các mức độ nhận thức - Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh trường THCS ngô quyền, quận lê chân, thành phố hải phòng theo yêu cầu đổi mới giáo dục
Sơ đồ 1.3. Các mức độ nhận thức (Trang 45)
Sơ đồ 1.5. Thái độ - Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh trường THCS ngô quyền, quận lê chân, thành phố hải phòng theo yêu cầu đổi mới giáo dục
Sơ đồ 1.5. Thái độ (Trang 46)
Bảng 2.1. Chỉ tiêu tuyển sinh các năm - Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh trường THCS ngô quyền, quận lê chân, thành phố hải phòng theo yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 2.1. Chỉ tiêu tuyển sinh các năm (Trang 55)
Bảng 2.3. Tổng hợp giải HSG cấp Quận - Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh trường THCS ngô quyền, quận lê chân, thành phố hải phòng theo yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 2.3. Tổng hợp giải HSG cấp Quận (Trang 58)
Bảng 2.5. Tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường THPT quốc lập - Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh trường THCS ngô quyền, quận lê chân, thành phố hải phòng theo yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 2.5. Tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường THPT quốc lập (Trang 58)
Bảng 2.4. Tổng hợp giải HSG cấp Thành phố - Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh trường THCS ngô quyền, quận lê chân, thành phố hải phòng theo yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 2.4. Tổng hợp giải HSG cấp Thành phố (Trang 58)
Bảng 2.11. Nhận thức về đánh giá  việc thực hiện sử dụng công nghệ thông tin  trong đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS nhà trường - Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh trường THCS ngô quyền, quận lê chân, thành phố hải phòng theo yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 2.11. Nhận thức về đánh giá việc thực hiện sử dụng công nghệ thông tin trong đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS nhà trường (Trang 64)
Bảng  2.12.  Nhận  thức  về  đánh  giá  việc  thực  hiện  sử  dụng  bài  kiểm  tra  trong  đánh giá kết quả học tập HS THCS nhà trường theo phân phối chương trình - Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh trường THCS ngô quyền, quận lê chân, thành phố hải phòng theo yêu cầu đổi mới giáo dục
ng 2.12. Nhận thức về đánh giá việc thực hiện sử dụng bài kiểm tra trong đánh giá kết quả học tập HS THCS nhà trường theo phân phối chương trình (Trang 65)
Bảng 2.13. Đánh giá về việc thực hiện quản lý xác định mục tiêu hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS nhà trường - Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh trường THCS ngô quyền, quận lê chân, thành phố hải phòng theo yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 2.13. Đánh giá về việc thực hiện quản lý xác định mục tiêu hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS nhà trường (Trang 68)
Bảng 2.15. Đánh giá về việc thực hiện quản lý hoạt động coi thi trong hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS nhà  trường - Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh trường THCS ngô quyền, quận lê chân, thành phố hải phòng theo yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 2.15. Đánh giá về việc thực hiện quản lý hoạt động coi thi trong hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS nhà trường (Trang 72)
Bảng 2.19. Đánh giá về  các yếu tố ảnh hưởng đến  hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh  THCS nhà trường - Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh trường THCS ngô quyền, quận lê chân, thành phố hải phòng theo yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 2.19. Đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS nhà trường (Trang 80)
Bảng 3.4. Các bậc nhận thức tương ứng với mỗi nội dung bài kiểm tra 15 phút - Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh trường THCS ngô quyền, quận lê chân, thành phố hải phòng theo yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 3.4. Các bậc nhận thức tương ứng với mỗi nội dung bài kiểm tra 15 phút (Trang 96)
Bảng 3.5. Các bậc nhận thức tương ứng với bài kiểm tra 45 phút - Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh trường THCS ngô quyền, quận lê chân, thành phố hải phòng theo yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 3.5. Các bậc nhận thức tương ứng với bài kiểm tra 45 phút (Trang 97)
Bảng 3.6. Số câu hỏi ứng với từng mục tiêu và điểm tương ứng cho mỗi câu - Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh trường THCS ngô quyền, quận lê chân, thành phố hải phòng theo yêu cầu đổi mới giáo dục
Bảng 3.6. Số câu hỏi ứng với từng mục tiêu và điểm tương ứng cho mỗi câu (Trang 97)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w