1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh trung học phổ thông quận hoàn kiếm, hà nội

126 1,1K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI HÀ TRỌNG HOAN PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT AN TOÀN GIAO THÔNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUẬN HOÀ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

HÀ TRỌNG HOAN

PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI

TRONG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT AN TOÀN GIAO THÔNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

HÀ TRỌNG HOAN

PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI

TRONG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT AN TOÀN GIAO THÔNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng

Mã số: Thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS DƯƠNG THỊ HOÀNG YẾN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, các giảng viên cán bộ nhân viên các phòng, khoa trường Đại học Sư phạm Hà Nội, khoa Tâm lý - Giáo dục đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp

đỡ tác giả trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Đặc biệt tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với PGS.TS Dương Thị Hoàng Yến người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện

đề tài và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo cán bộ, chiến sỹ Phòng Cánh sát Giao thông đường bộ, đường sắt Công an thành phố Hà Nội, các Trường PTTH trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, các bạn lớp K25 Giáo dục & Phát triển cộng đồng và gia đình đã động viên, khích lệ, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tác giả trong quá trình nghiên cứu, học tập và hoàn thành luận văn

Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những thiết sót Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp, chỉ bảo của các thầy giáo, cô giáo và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn

Tác giả xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 6 năm 2017

Tác giả luận văn

Hà Trọng Hoan

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết nghiên cứu 3

5 Phạm vi nghiên cứu 3

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc luận văn 5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT AN TOÀN GIAO THÔNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về giáo dục pháp luật an toàn giao thông 6

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về phối hợp các lực lượng giáo dục 8

1.1.3 Các công trình nghiên cứu về phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật cho học sinh THPT 10

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 11

1.2.1 Giáo dục pháp luật an toàn giao thông 11

1.2.2 Phối hợp các lực lượng giáo dục 14

1.2.3 Phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh 16

1.3 Phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh Trung học phổ thông 17

1.3.1 Học sinh Trung học phổ thông 17

1.3.2 Học sinh trường Trung học phổ thông và vấn đề chấp hành pháp luật khi tham gia giao thông 22

Trang 5

1.3.3 Vai trò của các chủ thể tham gia vào phối hợp lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh trung học

phổ thông 23

1.3.4 Mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào phối hợp lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT 28

1.3.5 Nguyên tắc phối hợp các lực lượng trong giáo dục an toàn giao thông cho học sinh THPT 29

1.4 Nội dung phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh trường Trung học phổ thông 30

1.4.1 Thông qua hoạt động tuyên truyền và phổ biến 30

1.4.2 Thông qua hoạt động dạy và học kiến thức pháp luật an toàn giao thông 31

1.4.3 Thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo 32

1.4.4 Thông qua các hoạt động của Đoàn Thanh niên 33

1.4.5 Thông qua các cuộc thi tìm hiểu pháp luật an toàn giao thông 34

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh Trung học phổ thông 35

1.5.1 Các yếu tố chủ quan 35

1.5.2 Các yếu tố khách quan 35

Kết luận chương 1 36

Chương 2: THỰC TRẠNG PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG TRONG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT AN TOÀN GIAO THÔNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 38

2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 38

2.1.1 Khái quát về quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 38

2.1.2 Khái quát về các trường Trung học phổ thông quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 39

2.1.3 Khái quát về tình hình tham gia giao thông của các em học sinh trường THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 41

Trang 6

2.2 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu 42

2.2.1 Mẫu nghiên cứu 42 2.2.2 Quy trình tổ chức khảo sát 43

2.3 Thực trạng giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội của các lực lượng giáo dục 44

2.3.1 Thực trạng giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội của lực lượng Cảnh sát giao thông 44 2.3.2 Thực trạng giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội của các Nhà trường 46 2.3.3 Thực trạng giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội của Đoàn Thanh niên 49

2.4 Thực trạng phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật ATGT cho học sinh trường THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 52

2.4.1 Thực trạng phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật ATGT cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội thông qua hoạt động tuyên truyền và phổ biến pháp luật an toàn giao thông 52 2.4.2 Thực trạng phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật ATGT cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội thông qua hoạt động dạy và học kiến thức pháp luật an toàn giao thông 54 2.4.3 Thực trạng phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật ATGT cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo 56 2.4.4 Thực trạng phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật ATGT cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội thông qua các hoạt động của Đoàn Thanh niên 57 2.4.5 Thực trạng phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật ATGT cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội thông qua các cuộc thi tìm hiểu pháp luật an toàn giao thông 59

Trang 7

2.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh trường

THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 63

Kết luận chương 2 65

Chương 3: BIỆN PHÁP PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG TRONG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT AN TOÀN GIAO THÔNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 66

3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 66

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 66

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 66

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ toàn diện 67

3.2 Đề xuất biện pháp phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh trung học phổ thông quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 68

3.2.1 Xác định quy chế phối hợp giữa các lực lượng Cảnh sát giao thông – Nhà trường – Đoàn Thanh niên trong giáo dục pháp luật ATGT 68

3.2.2 Xây dựng kế hoạch phối hợp giữa các lực lượng Cảnh sát giao thông – Nhà trường – Đoàn Thanh niên trong giáo dục pháp luật ATGT 70

3.2.3 Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của cán bộ lực lượng Cảnh sát giao thông, Cán bộ quản lý, Giáo viên và các cán bộ Đoàn Thanh niên các Nhà trường về giáo dục pháp luật ATGT cho học sinh THPT 72

3.2.4 Bồi dưỡng năng lực, kỹ năng tuyên truyền, phổ biến pháp luật ATGT cho đội ngũ cán bộ CSGT, giáo viên và cán bộ Đoàn Thanh niên 75

3.2.5 Thường xuyên đổi mới và sáng tạo các hình thức phối hợp lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông 78

Trang 8

3.2.6 Xây dựng các mô hình điểm và tăng cường đầu tư kinh phí về

phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông 80

3.2.7 Định kỳ sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm về phối hợp giữa các lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông 82

3.3 Mối liên hệ giữa các biện pháp 85

3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp được đề xuất 86

3.4.1 Quy trình khảo nghiệm 86

3.4.2 Kết quả khảo nghiệm 87

Kết luận chương 3 94

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Đối tượng khảo sát thực trạng phối hợp các lực lượng

trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 42 Bảng 2.2 Thực trạng giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học

sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội của lực lượng Cảnh sát giao thông 44 Bảng 2.3 Thực trạng giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học

sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội của các Nhà trường 46 Bảng 2.4 Thực trạng giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học

sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội của Đoàn Thanh niên 49 Bảng 2.5 Thực trạng giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học

sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội của các lực lượng giáo dục 51 Bảng 2.6 Thực trạng phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp

luật ATGT cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội thông qua hoạt động tuyên truyền và phổ biến pháp luật an toàn giao thông 52 Bảng 2.7 Thực trạng phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp

luật ATGT cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội thông qua hoạt động dạy và học kiến thức pháp luật an toàn giao thông 54 Bảng 2.8 Thực trạng phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp

luật ATGT cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo 56

Trang 10

Bảng 2.9 Thực trạng phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp

luật ATGT cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội thông qua các hoạt động của Đoàn Thanh niên 57 Bảng 2.10 Thực trạng phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp

luật ATGT cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội thông qua các cuộc thi tìm hiểu pháp luật an toàn giao thông 59 Bảng 2.11 Thực trạng phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp

luật ATGT cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 61 Bảng 2.12 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới phối hợp các lực

lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh trường THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 63 Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp phối

hợp lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 88 Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp phối

hợp lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 90 Bảng 3.3 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các

biện pháp phối hợp lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 92

Trang 11

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Thực trạng giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho

học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội của các lực lượng giáo dục 52Biểu đồ 2.2 Thực trạng phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp

luật ATGT cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 61Biểu đồ 3.1 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện

pháp phối hợp lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 93

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Để giải quyết vấn đề ATGT quốc gia thì giáo dục ATGT cho học sinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường là công tác đang được ngành giáo dục coi trọng Từ đó sẽ sớm hình thành cho các em có ý thức hơn khi tham gia giao thông, góp phần hình thành văn hóa giao thông Đây là một nhiệm vụ trọng tâm đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều lực lượng xã hội như nhà trường, gia đình, Công an, Đoàn thanh niên, Hội sinh viên và các lực lượng giáo dục khác

Với mục đích nâng cao hiểu biết về các quy định đảm bảo ATGT, từ năm học 2014 - 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã bắt đầu ban hành văn bản chỉ đạo Sở GD&ĐT các địa phương triển khai lồng ghép, tích hợp việc giáo dục ATGT trong môn Giáo dục công dân, các giờ ngoại khóa Nghị quyết số 88/NQ-CP của Chính phủ đề ra với mục đích nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục an toàn giao thông trong các cơ sở giáo dục, cụ thể như sau: (1) Nâng cao nhận thức, ý thức khi tham gia giao thông trong học sinh, sinh viên; (2) Phấn đấu giảm các vụ tai nạn giao thông liên quan tới học sinh, sinh viên; (3) Đồng bộ hóa các phương pháp giảng dạy, truyền đạt về ATGT sao cho phù hợp với từng lứa tuổi và bậc học, hướng dẫn xây dựng các tiêu chí “Văn hóa giao thông” trong trường học; (4) Góp phần giảm thiểu vi phạm an toàn giao thông, tai nạn giao thông trong phạm vi cả nước [21]

Đối với học sinh THPT - lứa tuổi mới bắt đầu sử dụng và điều khiển phương tiện khi tham gia giao thông, với nhiều đặc điểm tâm lý khó kiểm soát, cần phải có ý thức tuân thủ pháp luật an toàn giao thông và hành vi tham gia giao thông nghiêm túc Đặc biệt, ở lứa tuổi thích thể hiện mình vượt quá năng lực bản thân, các em dễ mắc lỗi vi phạm an toàn giao thông, gây nguy hiểm cho bản thân, những người xung quanh, mất trật tự an ninh xã hội, và có thể dẫn tới những hậu quả đáng tiếc

Trang 13

Hiện nay, một bộ phận các em học sinh THPT nói chung và ở quận Hoàn Kiếm - thành phố Hà Nội nói riêng đã và đang có những biểu hiện về việc chưa chấp hành tốt quy định pháp luật an toàn giao thông Một số nguyên nhân khách quan dẫn đến thực trạng này là do tác động tiêu cực diễn ra hàng ngày từ phía xã hội, do các lực lượng chức năng hướng dẫn chưa hiệu quả, thiếu những hoạt động phù hợp với lứa tuổi học sinh THPT và thiếu sự quan tâm đúng mức của gia đình, xã hội về vấn đề này… Trong đó, nguyên nhân về thiếu sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục và thiếu sự nêu gương, giám sát của người tham gia giao thông trong xã hội là những nguyên nhân cơ bản nhất Việc nghiên cứu biện pháp phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố

Hà Nội hiện nay là một vấn đề cấp thiết, nhưng chưa được nghiên cứu

Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “Phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh trường trung học phổ thông quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội” cần được đặt ra và triển khai nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, khảo sát thực trạng và phân tích các yếu

tố ảnh hưởng đến thực trạng, đề tài đề xuất hệ thống biện pháp phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho nhà trường, cùng với các lực lượng chức năng giáo dục nâng cao ý thức tham gia giao thông cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT

Trang 14

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

4 Giả thuyết nghiên cứu

Hiện nay, giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh trường THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội đã đạt được một số kết quả nhất định, song vẫn tồn tại những hạn chế do các nguyên nhân sau: sự phối hợp giữa các lực lượng chức năng và gia đình, nhà trường chưa đồng bộ; thiếu sự giám sát chặt chẽ của xã hội; các hình thức và phương pháp giáo dục chưa phù hợp; ảnh hưởng tiêu cực của môi trường xã hội; ý thức tự rèn luyện của học sinh còn thấp… Vì vậy, nếu đề xuất được hệ thống biện pháp phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội một cách hợp lý và khả thi thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho nhà trường, cùng với các lực lượng chức năng giáo dục nâng cao ý thức tham gia giao thông cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

5 Phạm vi nghiên cứu

- Do điều kiện thời gian có hạn, luận văn chỉ tiến hành nghiên cứu số liệu thực trạng tham gia giao thông và thực trạng phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội từ năm 2013 đến 2017

- Trong luận văn này tác giả chỉ nghiên cứu về các biện pháp phối hợp lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT của Hiệu trưởng trường THPT và của Lãnh đạo phòng CSGT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội mà không đề cập đến vấn đề khác Cụ thể:

+ Chủ thể phối hợp: Hiệu trưởng trường THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội và Lãnh đạo phòng CSGT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

Trang 15

+ Đối tượng khảo sát: Cán bộ quản lý, Giáo viên, Học sinh, Phụ huynh học sinh các trường THPT, Cán bộ quản lý phòng CSGT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về phối hợp các lực lượng trong giáo dục

pháp luật an toàn giao thông cho học sinh trường trung học phổ thông

6.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng phối hợp các lực lượng trong giáo

dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh trung học phổ thông quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng

6.3 Đề xuất các biện pháp phối hợp lực lượng trong giáo dục pháp luật

an toàn giao thông cho học sinh Trung học phổ thông quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

Tiến hành phân tích – tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa, mô hình hóa, cụ thể hóa… các tài liệu lý luận về phối hợp các lực lượng trong giáo dục – đào tạo; văn bản pháp luật, các chính sách, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước về phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT, các báo cáo về phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội… nhằm xây dựng khung lý luận của đề tài và đề xuất biện pháp

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra viết: Nhằm khảo sát thực trạng phối hợp các

lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT

quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

- Phương pháp phỏng vấn: Nhằm xin ý kiến đánh giá của các

CBQL, đội ngũ giáo viên, học sinh, cán bộ quản lý phòng CSGT quận

Trang 16

Hoàn Kiếm về thực trạng, những vấn đề cần giải quyết và nguyên nhân của thực trạng phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, lấy đó làm

cơ sở khoa học đề xuất biện pháp

- Phương pháp khảo nghiệm: Nhằm khẳng định tính cần thiết và tính

khả thi của các biện pháp phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật an

toàn giao thông cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

7.3 Phương pháp toán thống kê

Sử dụng công thức toán học thống kê để xử lý số liệu thu được từ điều tra, khảo sát; báo cáo các kết quả nghiên cứu dưới dạng các sơ đồ, biểu đồ

8 Cấu trúc luận văn

CHƯƠNG 3 Biện pháp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh trung học phổ thông quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT AN TOÀN GIAO THÔNG

CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về giáo dục pháp luật an toàn giao thông

Thời gian qua có nhiều công trình nghiên cứu, chủ trương, nghị quyết, chính sách, kế hoạch của Đảng và Nhà nước về giáo dục pháp luật an toàn giao thông, nâng cao ý thức chấp hành luật giao thông trong nhà trường

Nghị quyết 32/2007/NQ-CP về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, Bộ Giáo dục và đào tạo có trách

nhiệm: “Ban hành chương trình giáo dục trật tự an toàn giao thông phù hợp

trong nhà trường, tăng thời lượng giảng dạy chính khóa, các hoạt động ngoại khóa về trật tự an toàn giao thông Thực hiện chương trình giảng dạy trật tự

an toàn giao thông mới từ niên học 2008 – 2009 ở tất cả các cấp học” [18]

Năm 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chỉ thị số BGDĐT về việc tăng cường công tác giáo dục về an toàn giao thông bằng cách đưa giáo dục Luật Giao thông về an toàn giao thông vào giảng dạy chính trong nhà trường Đồng thời sẽ trở thành môn học chính khoá cho học sinh từ

52/2007/CT-mẫu giáo cho tới học sinh trung học phổ thông “Chỉ đạo hiệu trưởng các

trường phổ thông, các trường cao đẳng, đại học, trung học chuyên nghiệp quản lý chặt chẽ học sinh, sinh viên về chấp hành pháp luật trật tự an toàn giao thông; thường xuyên nhắc nhở, đưa thông tin liên quan đến trật tự an toàn giao thông vào nội dung sinh hoạt đầu tuần, lễ chào cờ, sinh hoạt lớp, sinh hoạt Đoàn, Đội; quy định việc đánh giá đạo đức đối với học sinh, sinh viên vi pháp pháp luật trật tự an toàn giao thông Từ ngày 01 tháng 09 năm

Trang 18

2007 kiên quyết xử lý nghiêm đối với học sinh, sinh viên chưa đủ tuổi, không

có giấy phép lái xe điều khiển mô tô, xe gắn máy; Bộ Giáo dục và đào tạo quy định trách nhiệm của hiệu trưởng các trường không tổ chức thực hiện nghiêm túc những quy định trên” [7]

Điều 6 Luật Giao thông đường bộ (2008), văn bản có giá trị pháp lý cao

nhất trong việc đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ “Các cơ quan

quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo có trách nhiệm đưa pháp luật GTĐT vào chương trình giảng dạy trong nhà trường và các cơ sở giáo dục khác phù hợp với từng ngành học, cấp học” [35]

Quyết định 3442/QĐ-BGDĐT ngày 15/05/2009 của Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành Đề cương tuyên truyền, phổ biến luật GTĐB cho học sinh, sinh viên theo chủ đề năm học [11]

Tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quan đến giáo dục pháp luật an toàn giao thông, có nhiều nhà khoa học đã tiếp cận vấn đề này theo nhiều cách, với nhiều cấp độ khác nhau Có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau:

- Nguyễn Như Chiến, “Nghiên cứu hành vi chấp hành Luật giao thông

đường bộ của học sinh THCS khi tham gia giao thông”, Luận án tiến sĩ, năm

2008, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam [14]

- Nguyễn Đình Đuân, “Vai trò của lực lượng cảnh sát giao thông

trong phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sỹ Quản lý Hành chính công,

năm 2010 [26]

- Đặng Quang Tâm, “Phổ biến, giáo dục pháp luật về an toàn giao

thông qua thực tiễn tỉnh Quảng Bình”, Luận văn thạc sĩ ngành Lý luận về lịch

sử nhà nước và pháp luật, năm 2012 [36]

- Nguyễn Thị Thanh Thảo, “Giáo dục ý thức chấp hành luật giao

thông đường bộ cho học sinh Trung học phổ thông trong giai đoạn hiện nay

Trang 19

(Qua khảo sát tại một số trường THPT ở quận 7, thành phố Hồ Chí Minh)”,

Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục, năm 2012 [37]

- Trần Sơn Hà, “Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về trật tự, an

toàn giao thông đường bộ Việt Nam”, Luận án tiến sĩ Quản lý Công, năm 2015 [27]

- Nguyễn Thị Bích Phượng, “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trật

tự, an toàn giao thông đường bộ của lực lượng Cảnh sát giao thông thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sĩ ngành Quản lý công, năm 2017 [34]

Việc ra đời chương trình giáo dục Luật Giao thông về an toàn giao thông và tìm những biện pháp có hiệu quả, khả thi để chương trình này đi vào cuộc sống là một việc làm cấp bách và cần thiết Tuy nhiên nghiên cứu về vấn

đề này còn khá mới mẻ, nhất là việc nghiên cứu cho khối các nhà trường nói chung, khối các trường THPT nói riêng

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về phối hợp các lực lượng giáo dục

Trách nhiệm của nhà trường trong việc tổ chức, phối hợp với gia đình và cộng đồng xã hội để giáo dục học sinh là vấn đề từ lâu đã được các nhà nghiên cứu khoa học giáo dục coi trọng Trong nền giáo dục cận đại, J.A.Komenxki (1592-1670) là người đầu tiên nêu ra một hệ thống lý luận chặt chẽ về tầm quan trọng của mối quan hệ thống nhất giữa gia đình, nhà trường và xã hội đối với kết quả giáo dục trẻ Nhiều nhà giáo dục lỗi lạc của Liên Xô đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự phối hợp, hợp tác giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong việc thực hiện mục đích giáo dục những người công dân chân chính trong tương lai đối với nhà nước xã hội chủ nghĩa V.A.Xukhomlinxki (1918-1970) đã khẳng định gia đình, nhà trường và cộng đồng xã hội phải có sự hợp tác để thống nhất mục đích, nội dung giáo dục cho con trẻ

Năm 1991 ở Trung Quốc đã có Hội nghị quốc gia về sự phối hợp các ban ngành trong việc giáo dục học sinh ngoài nhà trường Các lực lượng tham gia có: Bộ Giáo dục, ngành Văn hóa, Thể dục thể thao, Công đoàn, Đoàn thanh niên, Ủy ban Phụ nữ và nhiều ban ngành liên quan khác [13]

Trang 20

Ở Singapore những năm gần đây, việc nghiên cứu đưa các hoạt động các Hoạt động hợp tác ngoại khóa (Co-currcular activity) của học sinh trung học vào thực tiễn ngày càng phong phú thì sự phối hợp các lực lượng tham gia giáo dục học sinh cũng ngày càng thêm đa dạng Đó là các tổ chức nhóm Chữ thập đỏ (Red Cross), nhóm Quân sự (Military Band), Hiệp hội Hướng đạo Singapore (The Singapore Scout Asociation), Nữ hướng dẫn viên Singapore, các Câu lạc bộ Thể thao, Văn nghệ, Khiêu vũ, Nhiếp ảnh… Các hoạt động này đều có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và các lực lượng

xã hội để giúp đỡ cho các hoạt động của học sinh đạt kết quả tốt, hiệu quả giáo dục được nâng cao (ISSS International School (Singapore)) [33]

Ở Nhật Bản, các hoạt động ngoại khóa (extracurricular activities) cũng được tổ chức phối hợp giữa nhà trường và các lực lượng xã hội rất phong phú, hình thành nên các câu lạc bộ khoa học, nghệ thuật cho học sinh (Daily life in Japanese High School, Eric Digest 2000) [32]

Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta cũng rất quan tâm đến việc phối hợp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội; coi đó là nguyên tắc cơ bản để đảm bảo kết quả giáo dục trong các loại hình trường Các nhà giáo dục đã quan tâm nghiên cứu và từng bước giải quyết vấn đề này ở nhiều góc độ khác nhau Các công trình nghiên cứu về vấn đề này như sau:

- Nâng cao tính thống nhất giữa giáo dục nhà trường, gia đình và xã

hội trong điều kiện mới, tập thể tác giả ở Trung tâm Giáo dục học, Viện Khoa

học Giáo dục, (1993)

- Những quan điểm, phương pháp luận của việc liên kết giáo dục giữa

nhà trường, gia đình và xã hội trong quá trình giáo dục học sinh hiện nay, tác

giả Nguyễn Thị Kỳ, Viện Khoa học Giáo dục, (1996)

- Phối hợp việc giáo dục gia đình với nhà trường và các thể chế xã hội

khác, tác giả Phạm Khắc Chương (chủ biên), NXB Giáo dục, (1998)

Trang 21

- Các tác giả Phạm Tất Dong, Lê Thi, Đinh Thị Kim Thoa… đã có những công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề con người và vấn đề xã hội hóa, vấn đề về gia đình và vai trò của gia định trong sự hình thành nhân cách trẻ em, sự phát triển của gia đình Việt Nam và chức năng giáo dục gia đình; nghiên cứu công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em trong gia đình và cộng đồng, việc giáo dục truyền thống cho trẻ em trong gia đình

1.1.3 Các công trình nghiên cứu về phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật cho học sinh THPT

Hoạt động giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh cần sự phối hợp của nhiều lực lượng xã hội và các bên liên quan cùng tiến hành, triển khai Các văn bản pháp luật thể hiện sự phối hợp này có thể kể đến như sau:

Ngày 11/01/1968, Hội đồng Chính phủ đã ra chỉ thị 141/CP về việc tăng cường biện pháp bảo đảm giao thông vận tải và trật tự ATGT trong thời chiến Chính phủ đã giao trách nhiệm cho từng bộ, ngành trong công tác bảo đảm an

ninh trật tự, trong đó giao cho “Ngành giáo dục cần đưa việc giáo dục những

điều cơ bản về giữ gìn trật tự an toàn giao thông công cộng vào chương trình giảng dạy thường xuyên vào các trường phổ thông cho học sinh” [30]

Chỉ thị 601/TTg ngày 23/9/1995 của Thủ tướng Chính phủ nhấn

mạnh: “Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai ngay trong năm học 1995-1995

việc giảng dạy luật lệ giao thông trong các trường phổ thông cơ sở, phổ thông trung học, các trường đại học phối hợp với Bộ giao thông vận tải biên soạn giáo trình đào tạo lái xe cơ giới đường bộ để áp dụng thống nhất trong

cả nước” [40]

Tại khoản 7 điều 20 Nghị định 14/2003/NĐ-CP ngày 19/2/2003 quy

định: “Lực lượng Cảnh sát giao thông có trách nhiệm với các lực lượng, các

ngành có liên quan trong việc tuyên truyền giáo dục pháp luật về trật tự an toàn giao thông, trong đó có học sinh phổ thông” [17]

Trang 22

Ngày 04/9/2007 giữa Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Giao thông vận tải,

Bộ Công an, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Đài Truyền hình Việt Nam ký kế hoạch liên tịch số 9337/KHLT/BGDĐT-BCA-BGTVT-TWĐTN-ĐTHVN về tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, xử lý các vi phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông cho học sinh, sinh viên [8]

Khoản 3, điều 6 Luật giao thông đường bộ quy định: Đưa pháp luật

giao thông đường bộ vào giảng dạy trong nhà trường [35]

Điều 12 Nghị định số 36/2001/NĐ-CP nêu rõ: “Bộ Giáo dục và Đào

tạo xử lý nghiêm khắc những học sinh cố tình vi phạm các quy định về trật tự

an toàn giao thông” [15]

Có thể thấy, các văn bản pháp luật chỉ đạo, định hướng việc phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh, sinh viên đã được nêu lên rõ ràng Tuy nhiên, nghiên cứu về vấn đề này còn khá mới mẻ, nhất là việc nghiên cứu phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh khối các nhà trường nói chung, khối các trường THPT nói riêng Công trình nghiên cứu của chúng tôi mong muốn tạo được điểm nhấn về việc phối hợp các lực lượng cùng với nhà trường tham gia công tác giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT, đặc biệt ở nơi có mật độ dân số đông, mạng lưới giao thông phức tạp như quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Giáo dục pháp luật an toàn giao thông

1.2.1.1 Khái niệm giáo dục pháp luật an toàn giao thông

Khái niệm giáo dục pháp luật được định nghĩa như sau: “Phổ biến,

giáo dục pháp luật là hoạt động do tổ chức, cá nhân thực hiện thông qua các hình thức nhất định nhằm nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật cho tổ chức, cá nhân được phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần

Trang 23

nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” [30]

- Theo đó, khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật có hai nghĩa:

(1) Nghĩa hẹp: là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm nâng cao tri thức, tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng

(2) Nghĩa rộng: là công tác, lĩnh vực, ngạch phổ biến, giáo dục pháp luật bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật: Định hướng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; Lập chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật; Áp dụng các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật; Triển khai chương trình kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật; Kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng két công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, rút kinh nghiệm nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ lý luận… về phổ biến, giáo dục pháp luật

Trong luận văn này, tác giả đề cập đến giáo dục pháp luật theo nghĩa rộng Như vậy, khái niệm giáo dục pháp luật an toàn giao thông về cơ bản cũng giống với giáo dục pháp luật nói chung và có những chi tiết, cụ thể hóa

ở phạm vi hoạt động được giới hạn ở lĩnh vực giao thông vận tải Có thể hiểu giáo dục pháp luật trong ngành giao thông vận tải nói chung và giáo dục pháp luật an toàn giao thông nói riêng là công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, góp phần tăng cường công tác quản lý nhà nước về giao thông vận tải, đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong ngành giao thông vận tải cũng như người tham gia giao thông, nhằm bảo đảm trật tự an toàn giao thông, từng bước kiềm chế, giảm thiểu tai nạn giao thông

1.2.1.2 Mục đích của giáo dục pháp luật an toàn giao thông

(1) Hình thành, làm sâu sắc và từng bước mở rộng hệ thống tri thức pháp luật cho đối tượng;

Trang 24

(2) Hình thành, bồi dưỡng, phát triển niềm tin pháp luật cho đối tượng; (3) Giáo dục ý thức nhân cách, rèn luyện thói quen, hành vi tuân thủ pháp luật cho đối tượng

1.2.1.3 Đối tượng và chủ thể giáo dục pháp luật an toàn giao thông

- Chủ thể của giáo dục pháp luật về an toàn giao thông:

Đối với công tác giáo dục pháp luật về an toàn giao thông, các cán bộ làm công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật về an toàn giao thông

có thể kể đến là Cảnh sát giao thông, Thanh tra giao thông, Giáo viên giảng dạy pháp luật, giáo dục công dân trong các nhà trường, Phóng viên, Biên tập viên chuyên mục an toàn giao thông của các báo, đài phát thanh, vô tuyến truyền hình, các luật gia đang công tác tại cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát, Tư pháp, các tổ chức nghề nghiệp (Hội Luật gia, Đoàn Luật sư, Tư vấn pháp lý…)

- Đối tượng giáo dục pháp luật: có thể là cá nhân, những nhóm cộng đồng xã hội, đó có thể là cán bộ, công chức, viên chức, công nhân lao động, nông dân, học sinh sinh viên, thanh niên và thậm chí cả những người tham gia đảm bảo an toàn giao thông như lực lượng công an, thanh tra… Xét trong mối quan hệ này thì họ là đối tượng được giáo dục pháp luật an toàn giao thông, trong mối quan hệ khác họ có thể trở thành các chủ thể giáo dục pháp luật an toàn giao thông

1.2.1.4 Nội dung giáo dục pháp luật an toàn giao thông

Nội dung phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật về an toàn giao thông phải bao gồm đầy đủ các thông tin pháp luật về an toàn giao thông (bao gồm cả kiến thức pháp luật cơ bản về văn bản pháp luật thực định); các thông tin về việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực an toàn giao thông; thông tin hướng dẫn hành vi pháp luật cụ thể của công dân (quyền, nghĩa vụ pháp luật các quy trình, thủ tục để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp)…

Giáo dục pháp luật an toàn giao thông hiện nay bao gồm: Luật Giao

Trang 25

thông đường bộ năm 2008, Nghị định 34/2010/NĐ-CP ngày 02/4/2010 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ; Luật Giao thông đường thủy nội địa và văn bản hướng dẫn thi hành; Luật đường sắt, Pháp lệnh Bảo vệ công trình giao thông… Tuyên truyền về tình hình, kết quả công tác bảo đảm an toàn giao thông, những tấm gương tập thể,

cá nhân có cách làm hay, hiệu quả, những khó khăn vướng mắc từ thực tế, biện pháp tháo gỡ… Tuyên truyền về hậu quả của tai nạn giao thông đối với

xã hội, gia đình và mỗi cá nhân làm bài học cho mọi người

1.2.1.5 Hình thức giáo dục pháp luật an toàn giao thông

- Phổ biến giáo dục pháp luật về an toàn giao thông thông qua các phương tiện thông tin đại chúng;

- Phổ biến giáo dục pháp luật an toàn giao thông thông qua tổ chức cuộc thi tìm hiểu về an toàn giao thông;

- Phổ biến giáo dục pháp luật an toàn giao thông thông qua hoạt động giáo dục pháp luật trong nhà trường;

- Phổ biến giáo dục pháp luật an toàn giao thông thông qua các loại hình văn hóa, văn nghệ;

- Phổ biến giáo dục pháp luật an toàn giao thông thông qua hoạt động của đội ngũ cán bộ nòng cốt tại xã, phường, thị trấn

Như vậy, có thể định nghĩa ngắn gọn và cụ thể về giáo dục pháp luật an

toàn giao thông như sau: “Giáo dục pháp luật an toàn giao thông là hoạt

động truyền đạt những kiến thức pháp luật về an toàn giao thông để mọi người hiểu, tuân thủ, có ý thức chấp hành Luật khi tham gia giao thông, tránh những rủi ro không mong muốn đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản”

1.2.2 Phối hợp các lực lượng giáo dục

Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng của NXB Giáo dục năm 2002, Phối

hợp là cùng chung góp, cùng hành động ăn khớp để hỗ trợ cho nhau [41]

Trang 26

Nói cách khác, phối hợp là hoạt động cùng nhau của hai hay nhiều cá nhân, tổ chức để hỗ trợ cho nhau khi thực hiện một công việc chung

Theo nghĩa từ điển thì cơ chế (mechanism) phối hợp là Cách thức sắp

xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện; thể chế

(institute) phối hợp là Những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội

Trong các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa các lực lượng giáo dục trong công tác giáo dục và đào tạo, các tác giả dùng các khái niệm như: hợp tác, kết hợp, thống nhất, liên kết, phối hợp… Các từ này được từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ (2005) định nghĩa:

- Hợp tác: là cũng chung sức, trợ giúp qua lại với nhau;

- Kết hợp: là gắn chặt với nhau để bổ sung cho nhau;

- Thống nhất: là hợp lại thành một khối;

- Liên kết: là kết hợp nhiều thành phần, nhiều tổ chức để thực hiện;

Các khái niệm trên có nghĩa gần giống Phối hợp Khái niệm Phối hợp

cũng phản ánh một cách rõ nét nhất về bản chất của tính thống nhất, chặt chẽ, liên tục, toàn vẹn của quá trình giáo dục Như vậy, nếu coi các lực lượng xã hội tham gia xây dựng giáo dục trong cộng đồng là các thành tố của hệ thống tạo thành môi trường giáo dục thì chất lượng của hệ thống phụ thuộc vào quan hệ tương tác giữa các lực lượng giáo dục trong cộng đồng mà biểu hiện của nó là thể chế và cơ chế phối hợp, nói rộng ra là thể chế và cơ chế xã hội hóa giáo dục

Sự phối hợp các lực lượng trong giáo dục là sự cùng bàn bạc, hỗ trợ nhau của các lực lượng xã hội nhằm tạo ra sự thống nhất về nhận thức, hành động trong công tác giáo dục của tất cả các tổ chức, cá nhân trong xã hội Trong đó, nhà trường chủ động lên kế hoạch hoạt động phối hợp và có ký kết giao ước thực hiện mục tiêu, nội dung giáo dục học sinh và xác định trách nhiệm, nhiệm vụ của nhà trường và các tổ chức khi tham gia các hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường theo một kế hoạch đã được bàn bạc

Trang 27

Sự phối hợp giữa nhà trường, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội được hiểu là các thầy cô trong trường, phụ huynh học sinh và các tổ chức, đoàn thể, cộng đồng xã hội cùng thống nhất hành động và hỗ trợ nhau thực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh

1.2.3 Phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh

Công tác phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong đề tài này được giới hạn là nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục an toàn giao thông cho học sinh Chủ thể phối hợp là Hiệu trưởng (phạm vi toàn trường), giáo viên chủ nhiệm (phạm vi từng lớp) và cha mẹ học sinh (phạm

vi từng học sinh)

Khi nói: Hiệu trưởng phối hợp với các lực lượng xã hội trong giáo dục

an toàn giao thông là nói đến hoạt động của Hiệu trưởng, của nhà trường trong việc tổ chức các lực lượng xã hội thực hiện xã hội hóa giáo dục, đồng thời cũng nhấn mạnh đến sự chủ động, tích cực của nhà trường trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông Để phối hợp có hiệu quả, Hiệu trưởng phải xác định lĩnh vực hoạt động chung giữa các lực lượng xã hội là giáo dục pháp luật

an toàn giao thông Trong đó, nội dung phối hợp giữa các lực lượng giáo dục như Công an, Đoàn Thanh niên, Nhà trường cần phải được chỉ ra rõ ràng Xác định rõ mỗi tổ chức, lực lượng giáo dục phải làm gì, trách nhiệm ra sao

Như vậy, Phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn

giao thông cho học sinh là hoạt động nhằm xây dựng một cơ cấu tổ chức và xác định một cơ chế phối hợp hoạt động của các lực lượng trong và ngoài trường nhằm thống nhất nhận thức, phát huy tiềm năng của xã hội (về người, ngân sách, cơ sở vật chất…) để tác động tích cực đến ý thức chấp hành pháp luật an toàn giao thông của học sinh

Trang 28

1.3 Phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh Trung học phổ thông

1.3.1 Học sinh Trung học phổ thông

1.3.1.1 Trường Trung học phổ thông

Trường Trung học phổ thông là một loại hình trường học nằm trong tổng thể các loại hình trường lớp của hệ thống giáo dục quốc dân Trung học phổ thông là cấp học cuối cùng của giáo dục phổ thông Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông học sinh có thể thi vào các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp, Dạy nghề hoặc bước vào cuộc sống lao động

Mục tiêu của trường Trung học phổ thông: “Giáo dục Trung học phổ

thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục Trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân

để lựa chọn hướng phát triển tiếp tục học Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, Nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [10] Giáo dục Trung

học phổ thông phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở Trung học cơ

sở, bởi vì những nội dung, kiến thức ở bậc Trung học cơ sở chưa được đầy đủ

và vững chắc, để giúp học sinh có thể tự giải quyết các vấn đề ở mức độ phổ thông Mặt khác, lứa tuổi Trung học cơ sở chưa được phát triển đầy đủ về mặt thể chất và tâm lý Vì vậy, ở cấp Trung học phổ thông nhà trường phải hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông giúp cho các em có năng lực, kiến thức cơ bản để bước vào đời hay tiếp tục học lên các bậc học cao hơn Ngoài nội dung chủ yếu nhằm đảm bảo chuẩn kiến thức phổ thông cơ bản toàn diện và hướng nghiệp còn có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh

1.3.1.2 Vai trò của giáo dục nhà trường bậc Trung học phổ thông

Nhà trường nói chung là cơ sở thực tế diễn ra hoạt động giáo dục giữa

Trang 29

giáo viên và hoạt động học tập của học sinh dưới sự quản lý của Hiệu trưởng cùng với sự cộng tác của gia đình và xã hội Nhà trường Trung học phổ thông là một cơ sở nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, luôn được gắn liền không thể tách rời khỏi hệ thống giáo dục và chịu sự quản lý của ngành giáo dục Bản thân mỗi nhà trường cũng là hệ thống, trong hệ thống này có ba thành phần chính: con người, những tổ chức chính trị, những phương tiện vật chất kỹ thuật

Đặc trưng của giáo dục nhà trường THPT bao gồm:

(1) Nhà trường THPT là một thiết chế xã hội, có kỷ luật chặt chẽ, có mục đích giáo dục đúng đắn, là nơi truyền thụ tri thức và giáo dục học sinh một cách toàn diện theo các nội dung giáo dục: đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm

mỹ, lao động hướng nghiệp;

(2) Nhà trường THPT có đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn cao,

có nghiệp vụ sư phạm, hiểu biết và nắm được các đặc điểm tâm sinh lý của từng lứa tuổi; là những người biết tổ chức các hoạt động giáo dục cho học sinh;

(3) Nhà trường THPT là nơi tổ chức hoạt động học tập, rèn luyện và giáo dục học sinh một cách có tổ chức, có kế hoạch, có căn cứ vào các mục tiêu giáo dục cụ thể được Nhà nước quy định;

(3) Nhà trường THPT phải thực hiện tốt nguyên lý giáo dục: “Học đi đôi với hành, giáo dục phải kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với

xã hội”;

(4) Nhà trường THPT là nơi đề ra nội dung, biện pháp phối hợp giáo dục, đóng vai trò chủ đạo trong việc phối hợp với gia đình và các lực lượng khác trong xã hội để cùng giáo dục học sinh;

(5) Môi trường giáo dục của nhà trường THPT trong chừng mực nhất định cần tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh hình thành và phát triển tinh thần tập thể, ý thức kỷ luật, trách nhiệm đối với bản thân và mọi người

Như vậy, mặt mạnh của giáo dục nhà trường bậc THPT là: tính mục đích

Trang 30

có định hướng xã hội cao và được quán triệt trong suốt quá trình giáo dục, hệ thống tri thức, kỹ năng, đặc biệt là phương pháp tư duy mang tính hệ thống cơ bản và có thể mở rộng, hệ thống phương pháp, phương tiện khoa học tạo cơ sở cho sự trưởng thành của học sinh, sự lập nghiệp và thành đạt cả đời người

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt mạnh đó, nhà trường THPT cũng có những hạn chế do chỉ chú ý đến việc cung cấp kiến thức mà chưa thường xuyên giáo dục các kỹ năng xã hội, ý thức trong tuân thủ, chấp hành các quy định của Pháp luật, ứng xử trong các mối quan hệ với bạn bè, gia đình và cộng đồng, chưa phát huy được tính chủ động, sáng tạo, tự giác của học sinh…

1.3.1.3 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi của học sinh Trung học phổ thông

Học sinh Trung học phổ thông bao gồm các em ở độ tuổi 15 đến 18 là độ tuổi đầu của lứa tuổi thanh niên, có những đặc điểm riêng biệt như sau: [10]

(1) Hình thành biểu tượng “cái tôi” có tính hệ thống

Vị thế xã hội của lứa tuổi thanh niên có nhiều thay đổi so với lứa tuổi trước đó Các quan hệ xã hội của học sinh THPT được mở rộng, các thầy cô giáo và bố mẹ đều nhìn nhận học sinh THPT như những người “chuẩn bị thành người lớn” và đòi hỏi họ phải có các cách ứng xử phù hợp với vị thế của mình Hơn nữa, học sinh THPT đứng trước một thách thức khách quan của cuộc sống: phải chuẩn bị lựa chọn cho mình một hướng đi sau khi tốt nghiệp phổ thông, phải xây dựng cho mình một cuộc sống độc lập trong xã hội… Do đó, làm xuất hiện ở lứa tuổi học sinh THPT những nhu cầu về hiểu biết thế giới, hiểu biết xã hội và các chuẩn mực quan hệ người - người, hiểu mình và tự khẳng định mình trong xã hội

Biểu tượng về “cái tôi” trong giai đoạn đầu của lứa tuổi thanh niên thường chưa thật rõ nét, đánh giá về bản thân không ổn định và có tính mâu thuẫn Nhu cầu giao tiếp, đặc biệt là giao tiếp với bạn bè đồng lứa phát triển mạnh ở lứa tuổi này đã thực hiện một chức năng quan trọng là giúp thanh niên

Trang 31

dần hiểu mình rõ hơn, đánh giá bản thân chính xác hơn thông qua những cuộc trao đổi thông tin, trao đổi các đánh giá về các hiện tượng mà họ quan tâm Ý thức về cái tôi rõ ràng và đầy đủ hơn đã làm cho thanh niên có khả năng lựa chọn, con đường tiếp theo, đặt ra vấn đề tự khẳng định và tìm kiếm vị trí cho riêng mình trong cuộc sống chung

(2) Nảy sinh cảm nhận về “tính chất người lớn” của bản thân

Cảm nhận về “tính người lớn” của chính bản thân mình là một trong những nét tâm lý đặc trưng xuất hiện trong giai đoạn chuyển từ lứa tuổi thiếu niên sang tuổi thanh niên Thực tiễn cho thấy rằng sự nảy sinh cảm nhận đó ở các học sinh THPT là một trong những yếu tố tâm lý góp phần tạo nên những biểu hiện rối loạn nhân cách tăng lên rõ rệt và trong phần lớn các trường hợp, chúng có nguồn gốc sâu xa trong các quan hệ cha mẹ - con cái, quan hệ thầy - trò không thuận lợi

Trên cơ sở phát triển sinh lý, mức độ chín muồi của quá trình phát triển các đặc điểm sinh lý giới, sự cảm nhận về tính chất người lớn của bản thân mình ở thanh niên không phải là một cảm nhận chung chung mà liên quan chặt chẽ với việc gắn kết mình vào một giới nhất định Từ nhận thức đó ở thanh niên nam (nữ) dần dần hình thành những nhu cầu, động cơ, định hướng giá trị, các quan hệ và các kiểu loại hành vi đặc trưng cho mỗi gia đình

(3) Hình thành thế giới quan

Những thay đổi trong vị thế xã hội, trình độ phát triển của tư duy lý luận và hơn nữa một khối lượng tri thức lớn mang tính phương pháp luận về các quy luật của tự nhiên, xã hội mà học sinh THPT tiếp thu được trong nhà trường đã giúp các em thấy được các mối liên hệ giữa các trí thức khác nhau, giữa các thành phần của thế giới Nhờ đó học sinh THPT bắt đầu biết liên kết các tri thức riêng lẻ lại với nhau để tạo nên một biểu tượng chung về thế giới cho riêng mình

Trang 32

Để chuẩn bị bước vào đời, học sinh THPT thường trăn trở với các câu hỏi về ý nghĩa và mục đích cuộc sống, về cách xây dựng một kế hoạch sống

có hiệu quả, về việc lựa chọn nghề nghiệp cho phù hợp và có ý nghĩa Để giải đáp các câu hỏi này, khả năng nhận thức, đánh giá cũng như khả năng thực tiễn của mỗi cá nhân rất khác nhau, thể hiện đặc biệt rõ khoảng cách giữa

sự phát triển tự phát và sự phát triển có hướng dẫn của giáo dục với nghĩa rộng của khái niệm này

Ở nước ta hiện nay khi mà các giá trị xã hội có nhiều biến động, không

ít học sinh THPT chưa xác định được ý nghĩa của cuộc sống, không có định hướng nghề nghiệp rõ nét và do đó cũng không thể lập được cho bản thân một

kế hoạch sống cụ thể Hiện tượng này tồn tại không phải đơn thuần do trình

độ phát triển tâm lý ở lứa tuổi thanh niên chưa chín muồi, mà quan trọng hơn

là do những khiếm khuyết trong giáo dục ở nhà trường, gia đình và trong xã hội (thông qua các ấn phẩm sách báo, văn hóa, nghệ thuật ) Sự hướng dẫn, giảng giải, giúp đỡ bằng các biện pháp cụ thể, phù hợp của các thế hệ đi trước

sẽ giúp học sinh THPT đạt đến “miền phát triển gần” mà L.X Vưgốtxki đã phát hiện ra

Một trong các khía cạnh quan trọng của quá trình hình thành thế giới quan ở học sinh THPT là trình độ phát triển ý thức đạo đức Các nghiên cứu tâm lý học cho thấy rằng thế giới quan về lĩnh vực đạo đức bắt đầu hình thành

ở con người từ tuổi thiếu niên Các em thiếu niên biết đánh giá phân loại hành

vi của bản thân và của người khác theo các phạm trù đạo đức khác nhau, có khả năng đưa ra những chính kiến tương đối khái quát của riêng mình về các vấn đề đạo đức Song sang tuổi thanh niên ý thức đạo đức đã phát triển lên một bậc cao hơn cả về mặt nhận thức tình cảm và hành vi

Tuy nhiên từ lâu các nhà tâm lý học đã nhận thấy mâu thuẫn bên trong

ý thức đạo đức ở lứa tuổi thanh niên Trong các đánh giá của mình, học sinh

Trang 33

THPT có thể rất cứng nhắc tuân theo các chuẩn mực đạo đức mà các em đã tiếp nhận song đồng thời lại cũng nghi ngờ về tính đúng đắn của chúng Để lý giải điều này có thể cho rằng lứa tuổi thanh niên vẫn là lứa tuổi mà ý thức đạo đức đang ở trong giai đoạn đầu của quá trình hình thành Mặt khác về phương diện trí tuệ, học sinh THPT đã hiểu được tính tương đối của các chuẩn mực

Sự nghi ngờ lật lại các chuẩn mực đạo đức của xã hội có thể hiện như một thao tác tìm kiếm, nghiên cứu, học hỏi để tiếp thu

1.3.2 Học sinh trường Trung học phổ thông và vấn đề chấp hành pháp luật khi tham gia giao thông

Tai nạn giao thông và những bức xúc về giao thông luôn là vấn đề có sức ép nặng nề lên xã hội Thống kê cho thấy hơn 90% số vụ tai nạn có nguyên nhân là do người điều khiển phương tiện vi phạm luật giao thông Trong đó có không ít vụ tai nạn để lại những hậu quả vô cùng thương tâm khi người bị nạn lại là các em học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường, do sự thiếu hiểu biết đã không lường trước được sự việc

Những nghiên cứu gần đây cho thấy, học sinh là đối tượng dễ bị tổn thương nhất khi tham gia giao thông bằng xe máy điện, xe đạp điện Theo số liệu của Hiệp hội Các nhà sản xuất xe máy Việt Nam, trong tháng 8.2016, cứ 100.000 trẻ em thì có 20 trẻ tử vong do tai nạn giao thông, tỷ lệ cao gấp 3 lần

so với các nước trong khu vực Trong đó, có hơn 80% các vụ tai nạn xảy ra khi các em đang trực tiếp điều khiển phương tiện giao thông Cũng theo một báo cáo khác, tỷ lệ tử vong do tai nạn giao thông của nhóm học sinh THPT là 32,5 trẻ tử vong trên 100.000 trẻ, cao gấp 4 lần tỉ lệ so với người bình thường tại TPHCM và cao gấp 8-9 lần nhóm trẻ cùng độ tuổi ở các nước phát triển

Trong rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông, thì phần lớn xuất phát từ ý thức tham gia giao thông của chính các em Vì thế, việc tập trung đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền giáo dục an toàn giao thông là vô

Trang 34

cùng cần thiết và hữu ích, giúp các em nâng cao kiến thức về luật giao thông đường bộ, phán đoán và lường trước được tình huống giao thông để từ đó đưa

ra những xử lý kịp thời Đồng thời chỉ rõ cho các em thấy được tầm quan trọng của việc tuân thủ các quy tắc giao thông đường bộ; hệ thống báo hiệu giao thông đường bộ; dự đoán và phòng tránh nguy hiểm, cách đi xe đạp an toàn và kiến thức chuẩn bị điều khiển xe máy an toàn Song song với đó, các

em học sinh THPT còn cần phải tăng cường ý thức trách nhiệm trong công tác tuyên truyền, giáo dục và ý thức tự giác chấp hành, nêu gương việc chấp hành Luật Giao thông của học sinh cấp THPT

Trong các đối tượng cần được giáo dục ATGT thì học sinh THPT là đối tượng đáng quan tâm hơn cả, bởi đây là đối tượng dễ dẫn đến vi phạm ATGT cũng như tai nạn giao thông Học sinh THPT là lứa tuổi có nhiều chuyển biến trong tâm, sinh lý, nên rất cần có những phương pháp giáo dục phù hợp để mang lại nhiều hiệu quả đối với các em, đặc biệt là trong vấn đề giáo dục ATGT cũng như nhân cách sống Giáo dục pháp luật an toàn giao thông theo hướng phát huy tích cực của học sinh THPT nhằm cho các em thực sự yêu thích việc tìm hiểu, tạo cơ hội cho các em trở thành người ra quyết định sáng suốt và có thể nhận biết những nguy hiểm trong giao thông, trên cơ sở đó có thể xử lí tốt trong các tình huống khi tham gia giao thông

1.3.3 Vai trò của các chủ thể tham gia vào phối hợp lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh trung học phổ thông

1.3.3.1 Phòng Cảnh sát giao thông tại địa phương

Trong công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật an toàn giao thông, lực lượng cảnh sát giao thông giữ một vai trò quan trọng, then chốt, đồng thời là đầu mối của sự phối hợp với các Cơ quan quản lý nhà nước

về giáo dục và đào tạo; Cơ quan thông tin, tuyên truyền; Ủy ban nhân dân các cấp; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan hữu quan khác

Trang 35

Theo đó, lực lượng cảnh sát giao thông tại địa phương được xem là lực lượng quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục pháp luật an toàn giao thông trong cộng đồng xã hội nói chung và trường học nói riêng Cùng với nhà trường, phụ huynh học sinh và khu dân cư; lực lượng cảnh sát giao thông tại địa phương thực hiện sâu, rộng và thường xuyên công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật an toàn giao thông đến học sinh, sinh viên các cấp

Dưới sự chỉ đạo của Ủy ban An toàn giao thông quốc gia, lực lượng cảnh sát giao thông, thanh tra giao thông tích cực kiểm tra và xử lý các hành

vi vi phạm quy định về trật tự an toàn giao thông tại khu vực trường học theo thẩm quyền (có thông tin phản hồi cho nhà trường về đối tượng học sinh vi phạm để kịp thời có biện pháp giáo dục phù hợp)

Như vậy, lực lượng Cảnh sát giao thông tại địa phương không chỉ góp phần nâng cao nhận thức cho toàn bộ học sinh, đội ngũ giáo viên, CBQL và cha mẹ học sinh về pháp luật an toàn giao thông mà còn là lực lượng nòng cốt giúp cho mọi người dân từng bước hình thành và củng cố niềm tin về pháp luật an toàn giao thông Từ đó, góp phần tạo ra những thói quen chuẩn mực, nghiêm túc về thực hiện pháp luật an toàn giao thông đối với tất cả mọi người tham gia giao thông, đặc biệt là học sinh THPT

(1) Thực hiện tốt công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục Luật Giao thông và an toàn giao thông, tạo sự thay đổi ý thức về hành vi giao thông của học sinh THPT, để các em tham gia giao thông một cách tự giác, tuân theo các quy tắc trật tự an toàn giao thông, biết tôn trọng, nhường nhịn lẫn nhau khi tham gia giao thông;

(2) Phối hợp thực hiện chương trình giảng dạy trật tự an toàn giao thông

ở tất cả các cấp học, các nhà trường;

(3) Đề xuất chương trình giáo dục trật tự an toàn giao thông phù hợp với các trường THPT;

Trang 36

(4) Quy định trách nhiệm của Hiệu trưởng các trường nếu không tổ chức thực hiện nghiêm túc những quy định giáo dục pháp luật an toàn giao thông;

(5) Quy định việc phổ biến giáo dục Luật Giao thông và trật tự an toàn giao thông trong các buổi sinh hoạt thường kỳ;

(6) Biểu dương người tốt, việc tốt, phê phán các cá nhân vi phạm; nêu cao hơn nữa vai trò của các cơ quan, tổ chức trong việc giáo dục ý thức tự giác chấp hành Luật Giao thông cho các thành viên;

1.3.3.2 Ban Giám hiệu nhà trường

Ban Giám hiệu nhà trường là những người đứng đầu cơ sở giáo dục, chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà nước

có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận Trong phối hợp các lực lượng tham gia vào giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh trung học phổ thông, hiệu trưởng và phó hiệu trưởng chịu trách nhiệm:

(1) Triển khai chương trình giảng dạy về an toàn giao thông trong nhà trường, xây dựng kế hoạch đưa giáo dục pháp luật về trật tự, an toàn giao thông vào dạy học chính khóa trong từng năm học;

(2) Phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức Đoàn, Hội, Đội trong việc giữ gìn trật tự an toàn giao thông; đẩy mạnh cuộc vận động “Học sinh, sinh viên với văn hóa giao thông”, nhân rộng mô hình “Cổng trường an toàn giao thông”;

(3) Phối hợp với Ban đại diện Cha mẹ học sinh thường xuyên nhắc nhở, giáo dục con em mình tự giác chấp hành quy tắc giao thông, đội mũ bảo hiểm khi ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy, xe điện; không có giấy phép lái xe hoặc sau khi uống rượu, bia không được điều khiển xe mô tổ, xe gắn máy tham gia giao thông;

(4) Tạo điều kiện để tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chính Minh triển khai các phong trào, cuộc vận động học sinh, sinh viên tham gia các hoạt động bảo đảm an toàn giao thông;

Trang 37

(5) Tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên nghiên cứu, nắm vững yêu cầu, nội dung, phương pháp của hoạt động giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh;

(6) Trực tiếp tổ chức chỉ đạo hoạt động giáo dục pháp luật an toàn giao thông, chỉ đạo các cán bộ và giáo viên chủ nhiệm làm công tác giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh lồng ghép vào các hoạt động ngoại khóa, thống nhất các hoạt động giáo dục của nhà trường;

(7) Vận động học sinh thực hiện các hành vi văn hóa khi tham gia giao thông, bao gồm: tự giác chấp hành pháp luật về an toàn giao thông, chủ động nhường đường, thân thiện với người đồng hành, không nói tục, chửi bậy, hút thuốc lá và vứt rác bừa bãi, hạn chế sử dụng còi, sẵn sàng giúp đỡ người bị tai nạn giao thông, mặc áo phao khi đi đò…

(8) Đưa nội dung giáo dục pháp luật về trật tự, an toàn giao thông là một trong những tiêu chí đánh giá thi đua hàng năm đối với giáo viên và học sinh

(9) Phối hợp với Công an, Cảnh sát giao thông tại địa phương để đưa ra giải pháp giáo dục pháp luật an toàn giao thông; đồng thời xử lý các trường hợp vi phạm nếu có, biểu dương, khen thưởng các trường hợp học sinh tích cực tuyên truyền, phổ biến về an toàn giao thông trong cộng đồng

1.3.3.3 Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị-xã hội và

là trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên Nhiệm vụ cơ bản của Đoàn là chăm lo giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng và đạo đức cách mạng để thanh niên trở thành công dân tốt và nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng với thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì vậy, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cũng trở thành một lực lượng quan trọng trong việc thực hiện giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT, góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của thế hệ trẻ khi tham gia giao thông, xây dựng văn hóa giao thông lành mạnh cho toàn xã hội

Trang 38

Đối với tổ chức Đoàn thanh niên, nhiệm vụ trọng tâm được xác định là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong cán bộ, đoàn viên thanh niên, học sinh và nhân dân chấp hành Luật ATGT, từ đó từng bước tạo chuyển biến trong nhận thức và hành động của cán bộ, đoàn viên thanh niên Để đạt được mục tiêu đó các cơ sở Đoàn trường cần triển khai nhiều phong trào, hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục, vận động Đoàn viên nghiêm chỉnh chấp hành và tham gia giữ gìn trật tự an toàn giao thông trên địa bàn sinh sống

Cụ thể, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh có vai trò và trách nhiệm như sau: (1) Xây dựng chương trình, hoạt động cụ thể tuyên truyền về an toàn giao thông cho Đoàn viên Thanh niên;

(2) Tổ chức cho học sinh ký cam kết không vi phạm pháp luật về giao thông; (3) Thiết kế các sản phẩm trực quan tuyên truyền về văn hóa giao thông trong nhà trường gắn với tuyên truyền văn minh học đường; phát huy các sản phẩm tuyên truyền sẵn có về văn hóa giao thông;

(4) Tuyên truyền, khuyến khích đoàn viên, thanh niên sử dụng ứng dụng thông tin giao thông trên điện thoại di động; vận động học sinh ưu tiên

sử dụng các phương tiện công cộng;

(5) Tổ chức các hình thức tuyên truyền gắn liền với thực tế như: đến các bệnh viện, xử lý phiên tòa giả định, kịch… để tuyên truyền về hậu quả của tai nạn giao thông

(6) Phối hợp với Ban Giám hiệu nhà trường xây dựng quy chế bảo vệ, Đoàn thanh niên giữ trật tự cổng trường và lề đường xung quanh trường; đề nghị các các hộ dân giữ xe xung quanh trường cam kết không giữ xe phân khối lớn cho học sinh

(7) Kịp thời phát hiện, tuyên dương, có giải pháp nhân rộng các điển hình

là những học sinh, chi đoàn có thành tích tiêu biểu trong quá trình tham gia đảm bảo trật tự, an toàn giao thông, xây dựng văn hóa giao thông học đường…

Trang 39

1.3.4 Mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào phối hợp lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT

Việc phối hợp thống nhất giáo dục của nhà trường với giáo dục của cộng đồng xã hội, các tổ chức Đoàn thể đã trở thành một nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa Bản chất của việc phối hợp đó là đạt được

sự thống nhất về các yêu cầu giáo dục, định hướng sự phát triển của học sinh một cách đúng đắn, đầy đủ và vững chắc, tạo được môi trường giáo dục thuận lợi trong nhà trường và ngoài xã hội Nhờ có môi trường giáo dục đó, học sinh buộc phải hành động đúng theo yêu cầu và các chuẩn mực ứng xử khi tham gia vào các mối quan hệ Môi trường giáo dục bao gồm: Những yêu cầu thống nhất của nhà trường và cộng đồng xã hội đối với hành vi của học sinh; Những tình huống được tạo ra trong cuộc sống để các hành vi tích cực có điều kiện thực hiện; Những phương pháp và biện pháp giáo dục được sử dụng khéo léo, không mâu thuẫn với nhau và không dễ dẫn đến tính chất hai mặt trong ứng xử của học sinh

Mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT vì vậy cũng cần phải có sự hợp tác, thống nhất, cộng tác chặt chẽ giữa các lực lượng giáo dục, bao gồm: Cảnh sát giao thông, Nhà trường và Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

Chất lượng và hiệu quả của giáo dục nói chung và giáo dục pháp luật

an toàn giao thông nói riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quản

lý và đặc biệt phối hợp quản lý giữa Nhà trường, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

và Cảnh sát giao thông có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng Sự phối hợp này tạo nên tác động tổng hợp và phát huy được những tiềm năng phong phú của toàn xã hội tham gia vào quá trình giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT Mối quan hệ này còn tạo ra môi trường sư phạm lành mạnh, hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực, tạo ra những tác động tích cực cho quá trình giáo dục pháp luật an toàn giao thông

Trang 40

Tóm lại, sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục Cảnh sát giao thông - Nhà trường – Đoàn TNCS Hồ Chí Minh làm tăng thêm hiệu quả của quá trình giáo dục pháp luật an toàn giao thông, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, hình thành văn hóa giao thông, văn hóa ứng xử khi tham gia giao thông của học sinh THPT; góp phần hạn chế, đẩy lùi tình trạng vi phạm pháp luật về trật

tự an toàn giao thông; giảm thiểu các vụ tai nạn giao thông

1.3.5 Nguyên tắc phối hợp các lực lượng trong giáo dục an toàn giao thông cho học sinh THPT

Phối hợp các lực lượng trong giáo dục an toàn giao thông cho học sinh THPT phải lấy luật giao thông đường bộ, đường sắt và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan để làm căn cứ, mục tiêu và xây dựng nội dung chương trình giáo dục

Công tác phối hợp giữa các lực lượng giáo dục cũng cần phải được thực hiện theo kế hoạch, nội dung thống nhất trên cơ sở phân công, phân cấp trách nhiệm cụ thể từ Cục CSGT đến lực lượng CSGT Công an các địa phương Lực lượng CSGT phải có sự phối hợp chặt chẽ với các ngành, cơ quan hữu quan và chính quyền địa phương để thực hiện tốt công tác giáo dục pháp luật về an toàn giao thông cho học sinh THPT

Mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào lực lượng giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT phải được duy trì thường xuyên, liên tục;

Công tác tuyên truyền, phổ biến phải nhanh và kịp thời, cần có sự cập nhật liên tục và có hệ thống về các văn bản quy phạm pháp luật mới hoặc các văn bản sửa đổi, bổ sung liên quan đến trật tự, an toàn giao thông

Các cơ quan, đơn vị trong lực lượng CSGT có trách nhiệm tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về giao thông cho cán bộ chiến sĩ, nhân viên thuộc thẩm quyền quản lý

Ngày đăng: 06/06/2017, 12:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2003), Chỉ thị số 22/CT-TW ngày 24/02/2003 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 22/CT-TW ngày 24/02/2003 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng
Năm: 2003
2. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2012), Chỉ thị số 18/CT-TW ngày 4/9/2012 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và khắc phục ùn tắc giao thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 18/CT-TW ngày 4/9/2012 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và khắc phục ùn tắc giao thông
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng
Năm: 2012
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2011), Công văn số 07-CV/TW ngày 25/05/2011 về việc tổng kết Chỉ thị số 22-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 07-CV/TW ngày 25/05/2011 về việc tổng kết Chỉ thị số 22-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2011
4. Bộ Công an (2012), Thông tư số 65/2012/TT-BCA về quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát của Cảnh sát giao thông đường bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 65/2012/TT-BCA về quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát của Cảnh sát giao thông đường bộ
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2012
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1999), Chiến lược giáo dục THPT từ năm 1998 đến năm 2020, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược giáo dục THPT từ năm 1998 đến năm 2020
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1999
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Luật Giáo dục, NXB Chính trị quốc gia - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia - Hà Nội
Năm: 2005
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Chỉ thị số 52/2007/CT-BGDĐT về việc tăng cường công tác giáo dục về an toàn giao thông trong các cơ sở giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 52/2007/CT-BGDĐT về việc tăng cường công tác giáo dục về an toàn giao thông trong các cơ sở giáo dục
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2007
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Điều lệ trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2008
11. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Quyết định số 3442/QĐ-BGDĐT ngày 15/5/2009 ban hành Đề cương tuyên truyền, phổ biến luật Giao thông đường bộ cho học sinh, sinh viên theo chủ đề năm học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 3442/QĐ-BGDĐT ngày 15/5/2009 ban hành Đề cương tuyên truyền, phổ biến luật Giao thông đường bộ cho học sinh, sinh viên theo chủ đề năm học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2009
12. Phạm Thị Châu - Trần Thị Sinh (1999), Một số vấn đề Quản lý Giáo dục THPT, NXB Đại học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề Quản lý Giáo dục THPT
Tác giả: Phạm Thị Châu - Trần Thị Sinh
Nhà XB: NXB Đại học
Năm: 1999
13. China Education and Research Network (2001), Basic Education in China (VI) – After-school Education Sách, tạp chí
Tiêu đề: China Education and Research Network
Tác giả: China Education and Research Network
Năm: 2001
14. Nguyễn Như Chiến (2008), Nghiên cứu hành vi chấp hành Luật giao thông đường bộ của học sinh THCS khi tham gia giao thông, Luận án tiến sĩ, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hành vi chấp hành Luật giao thông đường bộ của học sinh THCS khi tham gia giao thông
Tác giả: Nguyễn Như Chiến
Năm: 2008
16. Chính phủ (2002), Quyết định số 161/ 2002/ QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về “Một số chính sách phát triển Giáo dục THPT” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 161/ 2002/ QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về “Một số chính sách phát triển Giáo dục THPT
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2002
18. Chính phủ (2007), Nghị quyết 32/2007/NQ-CP ngày 29/6/2007 của Chính phủ về một số giải pháp cấp bách kiềm chế tai nạn giao thông và hạn chế ùn tắc giao thông, NXB Giao thông vận tải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 32/2007/NQ-CP ngày 29/6/2007 của Chính phủ về một số giải pháp cấp bách kiềm chế tai nạn giao thông và hạn chế ùn tắc giao thông
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 2007
19. Chính phủ (2007), Nghị định 146/2007/NĐ-CP ngày 14/9/2007 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trên lĩnh vực giao thông đường bộ, NXB Giao thông vận tải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 146/2007/NĐ-CP ngày 14/9/2007 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trên lĩnh vực giao thông đường bộ
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 2007
20. Chính phủ (2008), Nghị định 13/2008/NĐ-CP ngày 4/2/2008 quy định về tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 13/2008/NĐ-CP ngày 4/2/2008 quy định về tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2008
22. Chính phủ (2012), Nghị định 71/2012/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 34/2010/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, NXB Giao thông vận tải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 71/2012/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 34/2010/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 2012
23. Chính phủ (2014), Nghị định số 106/2014/NĐ-CP ngày 17/11/2014 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 106/2014/NĐ-CP ngày 17/11/2014 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
26. Nguyễn Đình Đuân (2010), Vai trò của lực lượng cảnh sát giao thông trong phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sỹ Quản lý Hành chính công Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của lực lượng cảnh sát giao thông trong phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Đình Đuân
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Đối tượng khảo sát thực trạng phối hợp các lực lượng - Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh trung học phổ thông quận hoàn kiếm, hà nội
Bảng 2.1. Đối tượng khảo sát thực trạng phối hợp các lực lượng (Trang 53)
Bảng 2.2 cho thấy, các đối tượng khảo sát đánh giá khá cao tầm quan  trọng của việc lực lượng Cảnh sát giao thông giáo dục pháp luật an toàn giao - Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh trung học phổ thông quận hoàn kiếm, hà nội
Bảng 2.2 cho thấy, các đối tượng khảo sát đánh giá khá cao tầm quan trọng của việc lực lượng Cảnh sát giao thông giáo dục pháp luật an toàn giao (Trang 55)
Bảng 2.3. Thực trạng giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh  THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội của các Nhà trường - Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh trung học phổ thông quận hoàn kiếm, hà nội
Bảng 2.3. Thực trạng giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội của các Nhà trường (Trang 57)
Bảng 2.4. Thực trạng giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh  THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội của Đoàn Thanh niên - Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh trung học phổ thông quận hoàn kiếm, hà nội
Bảng 2.4. Thực trạng giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội của Đoàn Thanh niên (Trang 60)
Bảng 2.7. Thực trạng phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật ATGT  cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội thông qua hoạt động - Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh trung học phổ thông quận hoàn kiếm, hà nội
Bảng 2.7. Thực trạng phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật ATGT cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội thông qua hoạt động (Trang 65)
Bảng 2.10. Thực trạng phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật  ATGT cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội thông qua các - Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh trung học phổ thông quận hoàn kiếm, hà nội
Bảng 2.10. Thực trạng phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật ATGT cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội thông qua các (Trang 70)
Bảng 2.11. Thực trạng phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật  ATGT cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội - Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh trung học phổ thông quận hoàn kiếm, hà nội
Bảng 2.11. Thực trạng phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật ATGT cho học sinh THPT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội (Trang 72)
Bảng 2.12. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới phối hợp các lực lượng trong  giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh trường THPT quận Hoàn - Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh trung học phổ thông quận hoàn kiếm, hà nội
Bảng 2.12. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới phối hợp các lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh trường THPT quận Hoàn (Trang 74)
Bảng 3.1. Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp phối hợp lực  lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT quận - Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh trung học phổ thông quận hoàn kiếm, hà nội
Bảng 3.1. Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp phối hợp lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT quận (Trang 99)
Bảng 3.2. Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp phối hợp lực  lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT quận - Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh trung học phổ thông quận hoàn kiếm, hà nội
Bảng 3.2. Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp phối hợp lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh THPT quận (Trang 101)
Bảng 3.3. Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện  pháp phối hợp lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học - Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh trung học phổ thông quận hoàn kiếm, hà nội
Bảng 3.3. Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp phối hợp lực lượng trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học (Trang 103)
2  Hình thức và phương pháp tuyên truyền, phổ - Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục pháp luật an toàn giao thông cho học sinh trung học phổ thông quận hoàn kiếm, hà nội
2 Hình thức và phương pháp tuyên truyền, phổ (Trang 124)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w