1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục hòa nhập cho trẻ mầm non tại khu đô thị mới linh đàm, quận hoàng mai, thành phố hà nội

100 1,2K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI HÀ THỊ MỸ BÌNH PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC HÒA NHẬP CHO TRẺ MẦM NON TẠI KHU ĐÔ THỊ MỚI LINH ĐÀM, QUẬN HOÀNG MAI

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

HÀ THỊ MỸ BÌNH

PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC HÒA NHẬP CHO TRẺ MẦM NON TẠI KHU

ĐÔ THỊ MỚI LINH ĐÀM, QUẬN HOÀNG MAI, HÀ NỘI

Chuyên ngành: Giáo dục và Phát triển cộng đồng

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thiện luận văn tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, trong thời gian học tập và hoàn thiện , tôi đã nhận được sự quan tâm, động viên, khuyến khích và tạo điều kiện giúp đỡ tận tình của BGH các trường Mầm non, chuyên viên phòng GD và ĐT quận Hoàng Mai, các GV đồng nghiệp và cộng đồng tổ dân phố quận Hoàng Mai

Tôi chân thành cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội mà trực tiếp là các thầy cô Khoa Tâm lý - Giáo dục học đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến Cô giáo hướng dẫn tôi, PGS.TS Hoàng Thanh Thúy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo

và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Tuy nhiên, do trình độ hiểu biết cũng như thời gian và phạm vi, lĩnh vực công tác có phần hạn chế nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Bên cạnh đó, trong thực tiễn công tác còn đặt ra nhiều những vấn đề cần phải giải quyết , song tôi chưa thể nghiên cứu và tìm hiểu hết được Do vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp chân thành của quý thầy cô, đồng nghiệp

và bạn đọc để luận văn của tôi được hoàn thiện và có tính khả thi hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 05 năm 2017

Tác giả luận văn

Hà Thị Mỹ Bình

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc luận văn 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC HÒA NHẬP CHO TRẺ TỰ KỶ TẠI TRƯỜNG MẦM NON 5

1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 5

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 5

1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 7

1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài 10

1.2.1 Cộng đồng và phối hợp các lực lượng cộng đồng 10

1.2.2 Khái niệm Giáo dục hòa nhập 12

1.2.3 Khái niệm trẻ tự kỷ: Tự kỷ là do rối loạn của hệ thần kinh gây ảnh hưởng đến hoạt động của não bộ Tự kỷ được biểu hiện ra ngoài bằng những khiếm khuyết về tương tác xã hội, khó khăn về giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, hành vi, sở thích và hoạt động mang tính hạn hẹp và lặp đi lặp lại 15

1.2.4 Khái niệm phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ 15

1.3 LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG TRONG GIÁO DỤC HÒA NHẬP CHO TRẺ TỰ KỶ TẠI TRƯỜNG MẦM NON 15

Trang 4

1.3.1 Lý luận về giáo dục hòa nhập 15

1.3.2 Lý luận về phối hợp các lực lượng cộng đồng trong GDHN 26

1.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC HÒA NHẬP CHO TRẺ TỰ KỶ LỨA TUỔI MẦM NON 30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ VIỆC GDHN CỦA TRẺ MẦM NON TẠI KHU ĐÔ THỊ MỚI LINH ĐÀM – QUẬN HOÀNG MAI – HN 35

2.1 TỔ CHỨC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1.1 Mục đích nghiên cứu 35

2.1.2 Nội dung nghiên cứu 35

2.1.3 Tiến trình nghiên cứu 36

2.1.4 Các phương pháp nghiên cứu: 36

2.2 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 40

2.3 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA 42

2.3.1 Nhận thức về khái niệm GDHN cho trẻ tự kỷ ở độ tuổi mầm non 42

2.3.2 Nhận thức về biểu hiện cơ bản và trạng thái của trẻ tự kỷ 44

2.3.3 Nhận thức về vai trò của GDHN cho trẻ tự kỷ lứa tuổi mầm non 47

2.3.4 Thực trạng các phương pháp GDHN cho trẻ tự kỷ ở độ tuổi mầm non đang được áp dụng 50

2.3.5 Thực trạng các hình thức GDHN cho trẻ tự kỷ ở độ tuổi mầm non 51

2.3.6 Thực trạng các chủ thể tham gia GDHN cho trẻ tự kỷ ở độ tuổi mầm non 55

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 63

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC HÒA NHẬP CHO TRẺ MẦM NON TẠI KHU ĐÔ THỊ MỚI LINH ĐÀM QUẬN HOÀNG MAI – HÀ NỘI 64

3.1 NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG THAM GIA VÀO GIÁO DỤC HÒA NHẬP 64

3.1.1 Tính kế thừa 64

Trang 5

3.1.2 Tính thực tiễn 64

3.1.3 Tính hiệu quả 65

3.1.4 Tính đồng bộ 65

3.2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG GIÁO DỤC HÒA NHẬP CHO TRẺ TỰ KỶ LỨA TUỔI MẦM NON TẠI KHU ĐÔ THỊ MỚI LINH ĐÀM – PHƯỜNG ĐẠI KIM – QUẬN HOÀNG MAI – HÀ NỘI 66

3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho giáo viên và các thành phần dân cư trong cộng đồng về giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ lứa tuổi mầm non 66

3.2.2 Biện pháp 2: Tăng cường huy động sức mạnh tổng hợp của nghành Giáo dục – Đào tạo; của cấp Đảng ủy, chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội trong cộng đồng đối với việc GDHN TTK 69

3.2.3.Biện pháp 3: Tăng cường thể chế hóa, xây dựng cơ chế chính sách trong việc phối hợp các lực lượng cộng đồng tham gia GDHN TTK 72

3.2.4 Biện pháp 4: Phân loại đối tượng để phối hợp và xác định rõ cách thức để phối hợp các lực lượng cộng đồng tham gia GDHN TTK 75

3.2.5 Biện pháp 5: Kiểm tra, đánh giá hiệu quả hoạt động phối hợp các lực lượng cộng đồng với mục đích cải thiện chất lượng GDHN TTK 76

3.2.6 Mối quan hệ giữa các biện pháp 77

3.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 79

3.3.1 Kết quả khảo nghiệm 80

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 82

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

PHỤ LỤC 87

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

GD – ĐT : Giáo dục – Đào tạo

Trang 8

Phát triển tình cảm – Quan hệ Xã hội

Tuy nhiên, trong cuộc sống hiện nay ngoài những trẻ phát triển bình thường cả về thể lực và trí tuệ thì trẻ khuyết tật chiếm một phần không nhỏ

Vì vậy Đảng và nhà nước Việt Nam rất quan tâm đến GD hòa nhập hiện nay

GD hòa nhập nhằm giúp trẻ khuyết tật có quyền được hưởng sự giáo dục công bằng, bình đẳng, phát triển đa nhân cách, tài năng, tâm hồn và thể chất Phương hướng và nhiệm vụ GDHN đã được Đảng và nhà nước ta khẳng định trong chiến lược ĐT & GD “ GD trẻ khuyết tật của nước ta trong giai đoạn hiện nay chủ yếu là GD hòa nhập” Phương thức GDHN đối với nước ta còn là vấn đề mới cả về lý luận và thực tiễn, do vậy để đạt được mục tiêu GDHN như nêu trên thực sự là thách thức lớn đối với nghành GD và XH chúng ta

Hiện nay, số lượng trẻ khuyết tật nước ta chiếm khoảng 1% dân số, song do nhiều điều kiện khách quan và chủ quan, các em chưa được quan tâm CS – GD Vấn đề trẻ khuyết tật ở tuổi mẫu giáo đến trường hay chăm sóc tại nhà và chăm sóc như thế nào vẫn còn là điều băn khoăn của đa số PHHS có con khuyết tật, mặc

dù nhiều ý kiến cho rằng trường mầm non là nơi phù hợp nhất để GDHN cho trẻ khuyết tật lứa tuổi mẫu giáo Nếu các em khuyết tật không có điều kiện hòa nhập

ở trường mẫu giáo thì cơ hội học lên cũng như bước phát triển nhân cách của các

Trang 9

em sẽ hết sức khó khăn, như vậy cần thiết phải có những nghiên cứu để khẳng định thực trạng và tính hiệu quả của GDHN ở trường mầm non để tiếp tục có phương hướng chỉ đạo cũng như đầu tư

Vấn đề GDHN cho trẻ khuyết tật cũng là xu hướng của nhiều nước trên thế giới Hiện nay, có nhiều tổ chức quốc tế quan tâm giúp đỡ GDHN cho trẻ khuyết tật VN như tổ chức Cứu trợ trẻ em Thụy Điển, Ủy ban Hà lan, Ủy ban

y tế Hà Lan, Nhật Bản Vì thế cần có nghiên cứu tổng quát đánh giá cũng như vận dụng kinh nghiệm của bạn vào thực tiễn, đặc biệt đối với những nơi không có dự án hoặc tài trợ, có như vậy mới tránh được khập khiễng trong việc thực hiện GDHN Đồng thời phát huy tối đa sự giúp đỡ, đóng góp của các tổ chức quốc tế

Thực tế GDHN cho trẻ khuyết tật ở các trường MN cũng đang được triển khai ở các tỉnh, thành phố, song để góp phần nâng cao hiệu quả cảu GDHN cần nghiên cứu chỉ ra thực trạng cũng như chỉ ra những điều kiện chính là cơ sở để tổ chức GDHN có hiệu quả

Với những lý do trên, tôi nhận thấy cần thiết phải nghiên cứu đề tài

“Phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục hòa nhập cho trẻ mầm

non tại khu đô thị mới Linh Đàm – quận Hoàng Mai – Hà Nội”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về giáo dục hòa nhập cho trẻ mầm non đề xuất một số biện pháp phối hợp các lực lượng cộng đồng nhằm phát huy vai trò của cộng đồng dân cư trong giáo dục hòa nhập cho trẻ mầm non, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập trên địa bàn khu đô thị mới Linh Đàm, quận Hoàng Mai, Hà Nội

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Giáo dục hòa nhập cho trẻ mầm non

3.2 Đối tượng: biện pháp phối hợp các lực lượng cộng đồng trong

giáo dục hòa nhập ở trường mầm non tại khu đô thị mới Linh Đàm

Trang 10

4 Giả thuyết khoa học

Thực tế tại 2 trường Mầm non Thực hành Linh Đàm và trường Mầm non Billget hiện nay nói riêng và các trường Mầm non trên địa bàn Hà Nội nói chung

đa số giáo viên và phụ huynh học sinh cũng như các lực lượng khác trong cộng đồng đã nhận thức đúng về GDHN và thực hiện hiệu quả GD hòa nhập

Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có một số giáo viên cũng như các thành phần dân cư khác trong cộng đồng còn thờ ơ, bàng quang, hay có những suy nghĩ chưa đúng, chưa hiểu hoặc hiểu sai về GDHN Vì vậy, nếu nghiên cứu

và đề xuất được một số biện pháp tác động vào nhận thức, tạo ra những cơ hội

để hành động nhằm phối hợp các lực lượng trong cộng đồng về GDHN cho trẻ mầm non tại khu đô thị mới Linh đàm sẽ giúp cho trẻ khuyết tật có cơ hội được hòa nhập hơn với cộng đồng

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phối hợp các lực lượng trong GDHN

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Giới hạn thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về GDHN trẻ mầm non tại khu đô thị mới Linh Đàm, Quận Hoàng Mai, Hà Nội giai đoạn 2010 – 2015

- Giới hạn khách thể nghiên cứu: Chỉ nghiên cứu GDHN cho trẻ mầm non mắc hội chứng tự kỷ

Trang 11

- Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu tại ba trường Mầm non: Trường Mầm non thực hành Linh Đàm, trường Mầm non Billgate và trường mầm non Đại Kim

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận

+ Thu thập tài liệu

+ Tổng hợp hóa, khái quát hóa

-Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

+ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi;

+ Phương pháp phỏng vấn;

+ Phương pháp quan sát;

+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm;

+ Phương pháp xin ý kiến chuyên gia

+ Nhóm phương pháp hỗ trợ: Dùng toán thống kê để xử lysa số liệu thu được

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, Kết luận và kiến nghị và Danh mục tài liệu tham

khảo nội dung luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục hòa nhập ở trẻ mầm non

Chương 2: Thực trạng về giáo dục hòa nhập cho trẻ mầm non tại khu đô thị mới Linh Đàm – Quận Hoàng Mai – Hà Nội

Chương 3: Một số biện pháp phối hợp các lực lượng trong giáo dục hòa nhập cho trẻ mầm non tại khu đô thị mới Linh Đàm

Trang 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC HÒA NHẬP

CHO TRẺ TỰ KỶ TẠI TRƯỜNG MẦM NON

1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Việc nghiên cứu về giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ (GDHN TTK) được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm Các tác giả đều nhấn mạnh, GDHN không phải đơn thuần đem lại ý nghĩa riêng cho TTK, mà quan trọng hơn, nó tạo ra cộng đồng thân ái, xóa bỏ mọi phân biệt để xây dựng một

xã hội bình đẳng cho tất cả mọi người Họ cũng chỉ ra vai trò to lớn của GDHN đối với TTK tuổi mầm non, và chỉ ra những điều kiện, những phương thức hình thành quá trình GDHN

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Từ những năm đầu của thế kỉ XI, ở các nước Pháp, Đức, Tây Ban Nha

và một số nước Châu Âu đã xuất hiện phương thức giáo dục chuyên biệt mang đậm tư tưởng nhân văn, quan điểm y tế, phục hồi chức năng chỉnh trị, đây là mô hình xuất hiện sớm nhất trong lịch sử giáo dục TTK Ở phương thức này, trẻ có các dạng khuyết tật khác nhau được đưa vào các cơ sở giáo dục riêng, tách biệt với hệ thống giáo dục quốc dân

Theo quan niệm thời bấy giờ, TTK là những người “không bình thường” cần phải huấn luyện “đặc biệt” để trở thành người bình thường Như vậy, mục tiêu của giáo dục chuyên biệt là thực hiện vấn đề nhân đạo, cái đích cuối cùng là phục hồi chức năng để hi vọng “lành lặn”, TTK mới đạt tiêu chuẩn để trở thành người lao động như mọi người khác Nhưng trước hết, khi

họ còn là người tự kỷ thì cần sự quản lí, giám sát để khỏi làm ảnh hưởng đến cộng đồng

Quan điểm tâm lí học: Góp phần tạo một mô hình giáo dục hội nhập TTK được chăm sóc, hòa nhập từng phần vào xã hội

Trang 13

Năm 1770 đã xuất hiện một mô hình giáo dục hội nhập TTK ở Mỹ, năm 1950 mô hình giáo dục hội nhập xuất hiện ở nhiều nước Năm 1956, Philipin đã đưa trẻ tự kỷ vào học ở trường phổ thông Năm 1945, Anh đưa TTK vào trường hội nhập vv…

Về bản chất, giáo dục hội nhập vẫn dựa vào mô hình y tế - phục hồi chức năng, TTK sau khi được phục hồi chức năng được học với trẻ lành, song chỉ tham gia một số hoạt động

Cho đến năm 1960, tư tưởng tôn trọng giá trị và bình đẳng cho mọi người, trong đó có trẻ em, đã xuất hiện và trở thành trào lưu trên toàn thế giới GDHN ra đời Ở đó TTK được giáo dục ngay trong trường học của trẻ em bình thường, tại cộng đồng nơi các em đang sinh sống

Đầu tiên xuất hiện ở một số nước Châu Âu như: Thụy Điển, Nauy, Italy, Tây Ban Nha… sau tiếp là ở Bắc Mỹ, Newzeland, tiếp tục phát triển ở các nước và được sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng Quốc tế, UNESCO và UNICEF Thành công của GDHN được khẳng định từ nửa thế kỉ XX, giúp một số lượng lớn TTK ở mọi quốc gia có cơ hội phát triển, nhiều trẻ thành đạt, đại đa số có cuộc sống bình thường, hòa nhập cộng đồng thuận lợi

Một số tác giả đã dày công nghiên cứu về vấn đề GDHN:

- M.Soder, đã nghiên cứu thực hiện hòa nhập cho trẻ chậm phát triển trí tuệ Ông cho rằng: Cần phải tập trung nghiên cứu để giúp trẻ tự tìm ra hoàn cảnh của mình thay thế cho việc đo đạc hiệu quả của công việc hòa nhập

Cũng quan điểm này, Irene Lospez đã nghiên cứu thành công “hòa nhập từ viễn cảnh học sinh”: “… những suy nghĩ, nhận thức và mong muốn của đứa trẻ cần được tìm ra bằng cách hỏi trẻ như một con người”, và ông xác định trong mục tiêu hòa nhập đấy là cộng đồng tinh thần đoàn kết, sự hiểu biết lẫn nhau, tham gia và giao tiếp

- Học thuyết thực tiễn của Glassers – cơ sở giảng dạy của Nissens nói

Trang 14

rằng “sự phát triển tích cực của đứa trẻ là khi nhu cầu cơ bản của trẻ đã được

thỏa mãn qua sự chăm nom đầy đủ và điều kiện phát triển là khi trẻ có cảm giác luôn thỏa mãn”

- L.X.Vưgôtxki nhà tâm lí học hoạt động, đã khởi xướng thuyết về

“Vùng phát triển gần nhất” của trẻ em Ông cho rằng : “Sự phát triển của trẻ

lứa tuổi mầm non không thể dựa vào vốn liếng di truyền, không tự phát mà diễn ra trong quá trình phát triển” Điều này, không có nghĩa là chỉ có giá trị

với trẻ em Mầm non bình thường, mà rất có ý nghĩa với TTK mầm non Bởi

vì, được hòa nhập với bạn bè, với người lớn trong môi trường giáo dục là phương thức tốt nhất để trẻ hoạt động và phát triển

Cũng trong cuốn “Tư duy và ngôn ngữ”, Vưgôtxki đã lập luận rằng:

Hoạt động tinh thần của con người chính là kết quả học tập mang tính xã hội, chứ không phải là hoạt động học tập chỉ là của cá thể Theo ông, khi trẻ em gặp phải những khó khăn trong cuộc sống, trẻ tham gia vào sự hợp tác với người lớn và với bạn bè có năng lực cao hơn, những người này đã giúp đỡ và khuyến khích trẻ Trong mối quan hệ hợp tác này, quá trình tư duy trong một

xã hội nhất định được chuyển giao sang trẻ Điều này vô cùng có ý nghĩa đối với việc cần phải GDHN cho TTK

1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, trước cách mạng tháng tám, công tác chăm sóc giáo dục TTK chưa được quan tâm, ở một số cơ sở tiếp nhận khoảng 200 TTK:

Năm 1976- 1990, thành lập một số cơ sở giáo dục chuyên biệt cho trẻ khiếm thính, khiếm thị và chậm phát triển trí tuệ với 72 cơ sở, tập trung thu nhận gần 4000 TKT

Từ năm 1991 đến nay, GDHN tại Việt Nam chính thức hình thành và phát triển Hơn 10 năm thực hiện GDHN cho TTK Mầm non, có 40 tỉnh thành với khoảng 70.000 TTK được GDHN Những năm gần đây, với sự hỗ trợ của

Trang 15

tổ chức UNICEF, Vụ Giáo dục Mầm non đã tổ chức tập huấn về GDHN cho nhiều địa phương trong cả nước Gần đây nhất, tháng 9/2003 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có quyết định số 4431 thành lập ban chỉ đạo giáo dục TTK để thực hiện chức năng quản lí nhà nước của Bộ đối với công tác giáo dục TTK ở Việt Nam

Việc nghiên cứu GDHN cho TTK Mầm non được thể hiện nhiều trong các tạp chí, báo giáo dục, chuyên san giáo dục đặc biệt và nhiều tài liệu nghiên cứu của nhiều nhà khoa học:

Tác giả Lê Văn Tạc trong cuốn “Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật” đã

xem xét hiệu quả của công tác GDHN trong việc điều chỉnh chương trình dạy học phù hợp với khả năng và nhu cầu của TTK Theo tác giả, trên cơ sở những đặc điểm khác nhau về khả năng, nhu cầu, sở thích của trẻ, căn cứ vào nội dung của môn học, bài học, trong lớp học hòa nhập có thể áp dụng một trong các cách điều chỉnh sau: Phương pháp đồng loạt, phương pháp đa trình

độ, phương pháp trùng lặp giáo án, phương pháp thay thế Việc điều chỉnh cần dựa vào khả năng của từng trẻ và cũng không có một phương pháp nào có thể áp dụng cho mọi TTK

,

nhóm tác giả Lê Văn Tạc, Trần Văn Đích và một số tác giả đã viết: “Cần nhìn

trẻ khuyết tật như mọi trẻ em khác, những em này cũng có năng lực nhất định…các em phải được tham gia một cách bình đẳng trong mọi công việc của cộng đồng để thực hiện lí tưởng một xã hội cho mọi người” Các tác giả

đã chỉ ra cụ thể từng bước đi và cách làm đối với công tác GDHN cho TTK ở Việt Nam

Trong đề cương bài giảng về GDHN, Nguyễn Thị Hoàng Yến đã nhấn mạnh tầm quan trọng của các đặc tính tâm lí TTK, khả năng tham gia của chúng trong các trường, lớp học Tác giả cũng khẳng định: Hiểu rõ những đặc

Trang 16

điểm tâm lí và tính quy định tâm lí cá nhân đối với hoạt động chính là điều kiện có ảnh hưởng căn bản đến hiệu quả của quá trình GDHN và phát triển trẻ Ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục, mà trước hết là chuẩn bị cho trẻ những năng lực cần thiết để hòa nhập cuộc sống, học để biết, học để làm và học để chung sống

Nhóm tác giả: Trịnh Đức Huy, Phạm Toán, Dương Thận trong cuốn

“Dạy học hòa nhập cho trẻ khuyết tật” đề cập nhiều đến hình thức giáo dục

cho TTK, trong đó khẳng định GDHN là mô hình giáo dục toàn diện và hiệu quả nhất Các tác giả cho rằng: Việc áp dụng lí luận dạy học hiện đại - dạy học lấy trẻ làm trung tâm - là nền tảng để dạy học hòa nhập cho TTK Cần phải xem xét đứa trẻ ở năng lực và nhu cầu của chúng để áp dụng biện pháp giáo dục cho phù hợp Một số kỹ năng cơ bản dạy các loại tật của trẻ trong hòa nhập cũng được các tác giả chỉ ra một cách chi tiết

Những năm qua, tại trung tâm nghiên cứu giáo dục mầm non, trung tâm tật học, Viện khoa học giáo dục còn thực hiện nhiều đề tài cấp Bộ, Viện và các

đề tài tham dự Dự án hợp tác Quốc tế khác về GDHN cho trẻ Mầm non như:

Viện khoa học giáo dục, trung tâm giáo dục TKT “Tài liệu đào tạo giáo

viên dạy hòa nhập cho trẻ khuyết tật” (1995)

Tác giả, chủ biên Nguyễn Thị Ngọc Châm và nhóm tác giả: Phạm Mai

Chi, Trương Đắc Nguyên, Nguyễn Thị Hoan, Ngô Sỹ Sính với “Tài liệu bồi

dưỡng giáo viên mầm non về phát hiện sớm và GDHN” (1998)

Nhóm tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà, Lê Thị Đức với cuốn “Phương

pháp GDHN lứa tuổi mầm non” (1999) Chủ nhiệm Nguyễn Văn Hường và

nhóm tác giả Trương Văn Đích, Nguyễn Văn Đính, Lê Văn Tạc với cuốn

“GDHN và cộng đồng” (2001)

Tổ chức CRS - Tổ chức cứu trợ phát triển - đã hỗ trợ Vụ Mầm non xây dựng và cấp phát nhiều tài liệu quan trọng về giáo dục TTK Điển hình là bộ

Trang 17

sách “Can thiệp sớm và GDHN TKT mầm non” Tài liệu này không chỉ là

công cụ tốt của cán bộ giáo viên mầm non mà ngay cả với những bà mẹ trong

độ tuổi sinh đẻ cũng rất cần thiết để phát hiện những dấu hiệu bất thường của con để có biện pháp can thiệp sớm cho trẻ

Tháng 6/2007, Vụ Mầm non đã tổ chức xây dựng phim phóng sự “Tầm

quan trọng của can thiệp sớm trong GDHN TKT mầm non” Phim có tác dụng

nâng cao nhận thức cho phụ huynh và cộng đồng, khẳng định sự phối hợp quan trọng giữa y tế và giáo dục cũng như vai trò quan trọng của các cơ quan trong quản lí giáo dục và chính quyền các cấp trong hoạt động GDHN

1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài

1.2.1 Cộng đồng và phối hợp các lực lượng cộng đồng

*Khái niệm cộng đồng

Theo UNESCO: Cộng đồng là một tập hợp người có cùng chung một lợi ích, cùng làm việc vì một mục đích chung nào đó và cùng sinh sống trong một khu vực xác định Những người chỉ sống gần nhau, không có sự tổ chức lại thì đơn thuần chỉ là sự tập trung của một nhóm các cá nhân và không thực

“Cộng đồng” để xây dựng được một định nghĩa vừa bảo đảm tính chặt chẽ, khoa học, vừa có tính công cụ hay tính “thao tác luận” (functionalist) cao, làm

cơ sở và là công cụ cho những nghiên cứu về cộng đồng và các vấn đề có liên quan đến cộng đồng Đây là một vấn đề đã được bàn thảo khá nhiều ở nước

Trang 18

ngoài, song còn chưa được quan tâm thỏa đáng ở Việt Nam Thuật ngữ “cộng đồng” vốn bắt nguồn từ gốc tiếng Latin là “cummunitas”, với nghĩa là toàn bộ tín đồ của một tôn giáo hay toàn bộ những người đi theo một thủ lĩnh nào đó Một số quan điểm cho rằng:

- Cộng đồng phải là tập hợp của một số đông người;

- Mỗi cộng đồng phải có một bản sắc, bản thể riêng;

- Các thành viên của cộng đồng phải tự cảm thấy có sự gắn kết với cộng đồng và với thành viên khác của cộng đồng;

- Có thể có nhiều yếu tố tạo nên bản sắc và sức bền gắn kết cộng đồng nhưng quan trọng nhất chính là sự thống nhất về ý chí và chia sẻ về tình cảm tạo nên ý thức cộng đồng

- Mỗi cộng đồng đều có những tiêu chí bên ngoài để nhận biết về cộng đồng và có những quy tắc chế định hoạt động và ứng xử chung của cộng đồng

Trên cơ sở những nội hàm như trên, có thể đi đến một định nghĩa chúng nhất như sau về “cộng đồng”: Cộng đồng là tập hợp người có sức bền cố kết nội tại cao, với những tiêu chí nhận biết và quy tắc hoạt động, ứng xử chung dựa trên sự đồng thuận về ý chí, tình cảm, niềm tin và ý thức cộng đồng, nhờ

đó các thành viên của cộng đồng cảm thấy có sự cố gắn kết họ với cộng đồng

và với các thành viên khác của cộng đồng

* Nguyên tắc phát triển cộng đồng

- Phát triển cộng đồng phải xuất phát từ nhu cầu đích thực của người dân Không phải tác nhân bên ngoài, không phải là sự “nhập khẩu cách mạng” làm nên sự thành công của phát triển cộng đồng Sự khởi xướng phát triển cộng đồng phải xuất phát từ yếu tố “nội tại”, từ chính nhu cầu của người dân

- Sự tham gia và quyền tự quyết của người dân Nhu cầu muốn thay đổi khi đã được đông đảo người dân nhận thức, được giác ngộ một cách rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân thì nó sẽ trở thành động lực để người dân đoàn

Trang 19

kết lại, thành lập các nhóm, các tổ chức đại diện của mình sẽ là một nhu cầu thực tế Mỗi tổ chức, mỗi nhóm phải khuyến khích người dân tham gia đầy đủ vào các hoạt động Người lãnh đạo, người tác viên cộng đồng chỉ hành động trên cơ sở ý kiến của người dân Giống như khi làm việc với cá nhân và nhóm, ở đây tác viên cộng đồng luôn khích lệ và tạo điều kiện để người dân tham gia vào các hoạt động Người dân phải được tham gia cùng làm, kết hợp với các tổ chức nguồn lực bên ngoài để giải quyết vấn đề của chính họ Trong các cuộc họp, tác viên cộng đồng chỉ là người điều phối còn người dân mới là người đưa ra các quyết định cuối cùng cho các vấn đề của họ

- Tin vào khả năng của người dân Khi người dân đã có động lực, khi người dân đã được huy động, họ sẽ tìm thấy sức mạnh tinh thần và sức mạnh vật chất cần thiết để hành động Khả năng của người dân ở đây là khả năng suy tính cho phù hợp với hoàn cảnh, khả năng đóng góp kinh nghiệm, cả khả năng nguồn lực Khả năng ở đây không phải là khả năng của một hai cá nhân,

cá thể mà là của cả một tập thể, một cộng đồng, đó là sức mạnh rất lớn Thực hiện nguyên tắc này, tác viên cộng đồng hay những người lãnh đạo cộng đồng phải biết phát huy cao độ sức mạnh “dời non, lấp biển”, sức mạnh “một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao” Những thành công công nhỏ là niềm khuyến khích lớn để người dân tiếp tục đi lên Không nên làm thay, làm hộ mà cùng sống, cùng làm với người dân và khuyến khích họ một cách kịp thời

* Khái niệm phối hợp các lực lượng cộng đồng là quá trình vận

tầng, ý thức hệ, khoảng cách địa lý…) bằng nhiều giải pháp và cách thức khác nhau, để thu hút các lực lượng ấy tham gia vào một việc làm cụ thể

1.2.2 Khái niệm Giáo dục hòa nhập

GDHN được dùng nhiều trong những năm gần đây ở nhiều quốc gia

Trang 20

trên thế giới Khái niệm GDHN tương đối năng động để biểu đạt quan điểm

“quây quần lại chúng ta sẽ tốt hơn” (Irenne Lóper - Thụy Điển) Động từ gốc

La Tinh includere có nghĩa là đóng cửa lại sau khi có người nào đó vào nhà

Định nghĩa thông thường của động từ tiếng Anh include là có, xem xét

và nhìn nhận một cái gì đấy như một phần của một tổng thể

Giáo dục trong ngữ cảnh này nhấn mạnh những hoạt động nhằm khuyến khích óc phê phán, phát triển năng lực trí tuệ và kích thích tính tò mò GDHN cũng có hàm ý là giảm bớt sự phân biệt

Thuật ngữ GDHN được xuất phát từ Canada và được hiểu là những trẻ ngoại lệ được hoà nhập, qui thuộc vào trường hoà nhập GDHN là phương thức giáo dục mọi trẻ em, trong đó có TTK, trong lớp học bình thường của

trường phổ thông Giáo dục hoà nhập là "Hỗ trợ mọi học sinh, trong đó có trẻ

tự kỷ, cơ hội bình đẳng tiếp nhận dịch vụ giáo dục với những hỗ trợ cần thiết trong lớp học phù hợp tại trường phổ thông nơi trẻ sinh sống nhằm chuẩn bị trở thành những thành viên đầy đủ của xã hội” Hoà nhập không có nghĩa là

"xếp chỗ" cho TKT trong trường lớp phổ thông và không phải tất cả mọi trẻ đều đạt trình độ hoàn toàn như nhau trong mục tiêu giáo dục GDHN đòi hỏi

sự hỗ trợ cần thiết để mọi học sinh phát triển hết khả năng của mình Sự hỗ trợ cần thiết đó được thể hiện trong việc điều chỉnh chương trình, các đồ dùng dạy học, dụng cụ hỗ trợ đặc biệt, các kỹ năng giảng dạy đặc thù,… Các giáo viên và nhân viên nhà trường cần thấm nhuần tư tưởng hoà nhập để TTK được phụ thuộc lẫn nhau, được chấp nhận, được có giá trị, được hỗ trợ của

bạn bè… Trường hoà nhập là "Tổ chức giải quyết vấn đề đa dạng nhằm chú

trọng đến việc học của mọi trẻ Mọi giáo viên, cán bộ và nhân viên nhà trường cam kết làm việc cùng nhau tạo ra và duy trì môi trường đầm ấm có hiệu quả cho việc học tập Trách nhiệm cho mọi trẻ được chia sẻ"

GDHN dựa trên quan điểm xã hội trong việc nhìn nhận đánh giá đúng TTK Nguyên nhân gây ra khuyết tật không phải chỉ do khiếm khuyết của bản thân cá thể mà còn là môi trường xã hội Môi trường xã hội đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của TTK GDHN dựa trên quan điểm tích cực về TTK Mọi TTK đều có những năng lực nhất định, chính từ sự đánh giá đó mà

Trang 21

TTK được coi là chủ thể chứ không phải là đối tượng thụ động trong quá trình tiếp nhận các tác động giáo dục Từ đó người ta tập trung quan tâm, tìm kiếm những cái mà TTK có thể làm được Các em sẽ làm tốt những việc phù hợp với nhu cầu và năng lực của mình Trong giáo dục, gia đình, cộng đồng, xã hội cần tạo ra sự hợp tác và hoà nhập với các em trong mọi hoạt động Vì thế, các em phải được học ngay ở trường học gần nhất, nơi các em sinh ra và lớn lên Các em luôn luôn được gần gũi gia đình, luôn được sưởi ấm bằng tình yêu của cha, mẹ, anh, chị mình và được cả cộng đồng đùm bọc, giúp đỡ TTK

sẽ được học cùng một chương trình, cùng lớp, cùng trường với các bạn học sinh bình thường Cũng như mọi học sinh khác, học sinh tự kỷ là trung tâm của quá trình giáo dục Các em được tham gia đầy đủ và bình đẳng mọi công việc trong nhà trường và cộng đồng để thực hiện lý tưởng "trường học cho mọi trẻ em, trong một xã hội cho mọi người" Chính lý tưởng đó tạo cho TTK niềm tin, lòng tự trọng, ý chí vươn lên để đạt đến mức cao nhất mà năng lực của mình cho phép Đó là GDHN

Tuy nhiên, hòa nhập không chỉ đơn giản là đưa trẻ trẻ tự kỷ vào trong một chương trình giáo dục chung với trẻ bình thường Phải thiết lập những bước rõ ràng để đảm bảo cho trẻ khuyết tật được tham gia một cách đầy đủ và tích cực những hoạt động trong lớp học

Để làm được việc này rất cần có sự hỗ trợ của nhiều lực lượng Sự hỗ trợ cần thiết đó được thể hiện trong việc điều chỉnh chương trình, các đồ dùng dạy học, dụng cụ hỗ trợ đặc biệt, các kỹ năng giảng dạy đặc thù

Lý do tiến hành giáo dục hòa nhập

Giáo dục hòa nhập

Quan điểm

giáo dục

Đáp ứng mục tiêu đào tạo

Trang 22

Như vậy: GDHN là phương thức giáo dục trong đó TTK được học

chung với trẻ em bình thường cùng lứa tuổi ở nơi sinh sống, trẻ được tham gia vào các hoạt động như mọi trẻ bình thường, không có sự phân biệt Tất cả trẻ đều học theo nội dung chương trình giáo dục chung có sự điều chỉnh cho phù hợp với mức độ và loại tật của trẻ

1.2.3 Khái niệm trẻ tự kỷ: Tự kỷ là do rối loạn của hệ thần kinh gây ảnh

hưởng đến hoạt động của não bộ Tự kỷ được biểu hiện ra ngoài bằng những khiếm khuyết về tương tác xã hội, khó khăn về giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, hành vi, sở thích và hoạt động mang tính hạn hẹp và lặp đi lặp lại

1.2.4 Khái niệm phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ

Từ hai khái niệm phối hợp các lực lượng cộng đồng và giáo dục hòa nhập chúng tôi đưa ra định nghĩa phối hợp các lực lượng trong giáo dục hòa nhập như sau:

Là quá trình vận động, động viên, khuyến khích các cá nhân và tập thể (không phân biệt giai tầng, ý thức hệ, khoảng cách địa lý…) bằng nhiều giải pháp và cách thức khác nhau, để thu hút các lực lượng ấy tham gia vào phương thức giáo dục mà ở đó TTK được học chung với trẻ em bình thường cùng lứa tuổi ở nơi sinh sống, trẻ được tham gia vào các hoạt động như mọi trẻ bình thường, không có sự phân biệt Tất cả trẻ đều học theo nội dung chương trình giáo dục chung có sự điều chỉnh cho phù hợp với mức độ và loại tật của trẻ

1.3 LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG TRONG GIÁO DỤC HÒA NHẬP CHO TRẺ TỰ KỶ TẠI TRƯỜNG MẦM NON

1.3.1 Lý luận về giáo dục hòa nhập

1.3.1.1 Các đặc trưng cơ bản của GDHN

Giáo dục cho mọi đối tượng trẻ - đây là tư tưởng chủ đạo thể hiện bản chất của GDHN Trong GDHN không có sự tách biệt giữa các trẻ với nhau, mọi trẻ đều được tôn trọng và đều có giá trị như nhau Điều này thể hiện quan điểm bình đẳng trong giáo dục, tôn trọng quyền lợi và khả năng phát triển của mọi trẻ em

Trang 23

Trong GDHN, trẻ được học ngay tại địa phương, không bị tách biệt môi trường sống Bởi vì, trường mầm non hòa nhập có trách nhiệm tiếp nhận mọi trẻ em trong độ tuổi vào học, không kể trẻ mầm non bình thường hay TTK Điều đó tạo cơ hội cho TTK được đến trường mầm non mà khoảng cách

và không gian không bị thay đổi lớn, trẻ có khả năng sớm thích nghi và hòa nhập nhanh vào môi trường bình thường

GDHN đảm bảo cho mọi trẻ em đều được hưởng một chương trình giáo dục Tuy nhiên, chương trình đó phải được điều chỉnh cho phù hợp với mức

độ và loại tật của trẻ Điều chỉnh chương trình, đổi mới phương pháp dạy học

và thay đổi quan điểm, cách đánh giá là vấn đề cốt lõi giúp GDHN đạt hiệu quả cao nhất Điều chỉnh chương trình là việc làm tất yếu của GDHN, có điều chỉnh chương trình phù hợp mới đáp ứng cho mọi trẻ em có nhu cầu, năng lực khác nhau

GDHN không đánh đồng mọi trẻ em như nhau Mỗi đứa trẻ là một cá nhân, một nhân cách có năng lực khác nhau, cách học khác nhau, tốc độ học cũng không như nhau Vì thế, điều chỉnh chương trình cho phù hợp là rất cần thiết

Mặt khác, dạy học một cách sáng tạo, tích cực và hợp tác là mục tiêu của dạy học hòa nhập Dạy học hòa nhập sẽ tạo ra được cho trẻ kiến thức chung, tổng thể, cân đối Do vậy, trong dạy học hòa nhập, các phương pháp được lựa chọn và sử dụng luôn phải mang lại hiệu quả và đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của trẻ

1.3.1.2 Mục đích của GDHN cho trẻ TTK ở trường mầm non

Mục đích của GDHN TTK của trường mầm non là nhằm giúp mọi trẻ

em, trong đó có cả trẻ mầm non bình thường và TTK được phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách và chuẩn bị cho trẻ vào lớp một, tạo ra được môi trường sống, học tập hòa nhập tốt nhất cho TTK mầm non

Để thực hiện mục tiêu này, trường mầm non có nhiệm vụ tiếp nhận tất các các trẻ trên địa bàn dân cư nơi sinh sống của trẻ mà trường chịu trách

Trang 24

nhiệm quản lí giáo dục Mặt khác, tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ trong một môi trường giáo dục bình thường, tạo điều kiện thuận lợi cho TTK được tham gia học cùng trẻ bình thường ở các lớp mầm non hòa nhập Tạo điều kiện cho mọi trẻ em, kể cả TTK có cơ hội được chăm sóc và giáo dục bình đẳng Bên cạnh đó, để thực hiện các nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ đạt kết quả, trường mầm non cần tạo được sự cộng tác giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ Nhà trường có trách nhiệm

đề xuất tăng cường sự hỗ trợ của gia đình và xã hội về cơ sở vật chất, đồ dùng học tập cho TTK Quan trọng hơn, nhà trường có trách nhiệm tạo điều kiện và cơ hội học tập về giáo dục đặc biệt cho giáo viên mầm non tham gia dạy TTK hòa nhập, giúp giáo viên có kiến thức, khả năng và phương pháp,

kỹ năng tổ chức tốt các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ tại trường lớp mầm non hòa nhập

1.3.1.3 Nội dung GDHN cho TTK ở trường mầm non

Mọi trẻ em đều được học trong môi trường giáo dục, mà trong đó trẻ có điều kiện và có cơ hội để lĩnh hội những tri thức mới theo nhu cầu và khả năng của mình Để có một môi trường học tập như vậy cho mọi trẻ em, GDHN đề cập đến những nội dung cơ bản sau đây trong dạy và học:

Trẻ được học theo một chương trình phổ thông

Tuỳ theo năng lực và nhu cầu của từng trẻ mà giáo viên có trách nhiệm điều chỉnh nội dung cho phù hợp

Đổi mới phương pháp dạy và học, đặc biệt giáo viên cần biết cách điều chỉnh và lựa chọn những hoạt động học tập sao cho mọi trẻ đều có đủ những điều kiện thuận lợi và cơ hội để lĩnh hội kiến thức mới

Môi trường giáo dục phù hợp cho mọi đối tượng

Mỗi hoạt động trong chương trình giáo dục được biên soạn nhằm phát triển kiến thức, kỹ năng nhất định cho trẻ bình thường Tuy nhiên, những hoạt

Trang 25

động đó cũng rất cần thiết đối với TTK trong lớp học Vốn sống, môi trường chăm sóc giáo dục tại gia đình, năng lực nhận thức, khả năng ngôn ngữ, của TTK rất đa dạng Do vậy, khi trong lớp học có TTK hòa nhập, giáo viên cần căn cứ vào đặc điểm về năng lực và nhu cầu để linh hoạt điều chỉnh các hoạt động sao cho TTK tích cực tham gia vào các hoạt động trong lớp học Việc điều chỉnh cần được tiến hành về mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện hoạt động và cách đánh giá kết quả hoạt động

Việc điều chỉnh cần được tiến hành ngay từ khi đặt mục tiêu của hoạt động Cơ sở của việc điều chỉnh này là “Thang nhận thức Bloom gồm 6 mức độ: Biết → hiểu → vận dụng → phân tích → tổng hợp → đánh giá” Sau đó, tùy thuộc vào hoạt động, năng lực của trẻ, giáo viên cần linh hoạt xác định mục tiêu cho phù hợp với trẻ và chuẩn bị đồ dùng thích hợp

Để đạt được mục tiêu của các hoạt động, giáo viên cũng cần lựa chọn nội dung hoạt động cho phù hợp với khả năng của trẻ Thông thường, với TTK, giáo viên không nên cho trẻ hoạt động với quá nhiều nội dung

Việc điều chỉnh và lựa chọn nội dung giáo dục phù hợp có ý nghĩa rất lớn đối với TTK, các em có cơ hội phát huy hết khả năng của mình và tham gia hoạt động tích cực hơn trong lớp hòa nhập

1.3.1.4 Phương pháp GDHN cho TTK mầm non

Ở lớp học hòa nhập, TTK ngoài việc tham gia các hoạt động chung cùng với cả lớp còn phải có sự tác động riêng Tại tiết học chung, TTK cần được xếp ngồi phía trên gần giáo viên nhưng tránh là tâm điểm chú ý của lớp, ảnh hưởng các cháu khác Ngoài tiết dạy chung theo chương trình cho cả lớp, giáo viên dành thời gian thực hiện tiết học cá nhân cho TTK Tổ chức các hoạt giáo dục cá nhân cho trẻ tại lớp hòa nhập còn có sự phối hợp giữa giáo viên chính và giáo viên phụ Đồng thời phối hợp giữa trường lớp mầm non và gia đình trong giáo dục trẻ tại trường và gia đình

Trang 26

Giáo viên cần động viên, khích lệ TTK trong mỗi nấc thang tiến bộ của trẻ, tạo dựng lòng tin và sự tin tưởng, lạc quan cho trẻ Như vậy, trẻ sẽ cố gắng vươn lên phát huy hết khả năng của mình và thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập

Tiết học cá nhân được giáo viên thực hiện với từng TTK theo đặc điểm của tật và tại địa điểm riêng của lớp Tùy theo mức độ tật của trẻ mà giáo viên

có phương pháp giáo dục khác nhau, thời gian khoảng từ 15 – 20 phút sau buổi học chung

Kế hoạch bài giảng của giáo viên dạy lớp hòa nhập cần được xây dựng theo biểu đồ hình tháp:

Muốn xây dựng chương trình riêng cho từng TTK, giáo viên cần khảo sát đánh giá các mặt phát triển của trẻ dựa vào 5 lĩnh vực phát triển sau:

Vận động thô: đi, chạy, nhảy…

Vận động tinh: Sờ mó, cầm nắm…

Nhận biết ngôn ngữ

Kỹ năng cá nhân và xã hội

Kỹ năng giao tiếp

Khi tiến hành khảo sát trẻ trên 5 lĩnh vực trên, giáo viên phải dựa vào các mốc phát triển tâm lí, sinh lí, ngôn ngữ và vận động của trẻ bình thường cùng độ tuổi để xác định, ghi nhận sự phát triển của trẻ

* Đánh giá trẻ tự kỷ: tức là đánh giá sự tiến bộ của trẻ sau mỗi giai

Trang 27

đoạn chăm sóc giáo dục về các mặt hành vi, cách cư xử, giao tiếp, cách sống trong cộng đồng và các hiểu biết khác Kết quả những lần đánh giá TTK trong lớp học mầm non là đánh giá hiệu quả giáo dục đối với TTK mầm non với vai trò giáo dục của giáo viên và cha mẹ trẻ Trong quá trình GDHN TTK mầm non, sự phối hợp giữa giáo viên, trẻ, môi trường sống và học tập của trường lớp và cha mẹ trẻ là những yếu tố đóng vai trò quyết định của sự thành công Đồng thời, giáo viên và cha mẹ trẻ cần tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong nhóm chuyên ngành đa chức năng để đánh giá đúng mức sự tiến bộ của trẻ và hướng can thiệp

+ Góp tiền để chi lương cho GV – NV dạy TTK

- Đóng góp bằng sức lao động và chuyên môn

+ Góp sức lao động trực tiếp hỗ trợ GV dạy TTK

+ Góp sức lao động trực tiếp về y tế, chăm sóc sức khỏe cho trẻ TK + Tham gia trực tiếp vào việc đóng góp ý kiến cho nhà trường: xây dựng kế hoạch, nội dung chương trình, phương pháp GD, quản lý, đánh giá kết quả học sinh

+ Giúp đỡ nhà trường trong việc tổ chức các hoạt động nội và ngoại khóa + Mở các trung tâm giáo dục TTK tại khu dân cư

+ Tham gia xây dựng môi trường giáo dục toàn diện: Gia đình – Nhà trường – Xã hội

Để công tác GDHN cho TTK ở trường mầm non đạt hiệu quả, tạo cho

Trang 28

trẻ môi trường tốt nhất để phát triển, ngoài việc điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy học thì hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục cũng được thay đổi cho phù hợp với khả năng và nhu cầu của TTK

Thứ nhất là thay đổi hình thức hoạt động của trẻ Căn cứ vào khả năng

và sở thích của trẻ, căn cứ vào nội dung và thời điểm của bài học, giáo viên đưa ra các dạng hoạt động phù hợp với trẻ Có thể tổ chức các hoạt động theo hình thức:

Hoạt động theo nhóm

Học theo từng đôi

Học qua sự giúp đỡ của bạn bè

Thứ hai là thay đổi hình thức giảng dạy của giáo viên Nhiều khi việc ghi nhớ kiến thức của trẻ không phải chỉ thông qua việc giảng giải, hướng dẫn của giáo viên mà còn được thông qua các hoạt động khác như:

Hoạt động vui chơi, đóng kịch hoặc phân vai

Các giờ học thực hành

Các giờ học ngoài trời

Giáo viên căn cứ vào dạng tự kỷ của trẻ, căn cứ vào khả năng và nhu cầu của từng TTK trong lớp hòa nhập để lựa chọn và tổ chức các hình thức hoạt động phù hợp Đối với TTK, giáo viên cần sử dụng linh hoạt các hình thức tổ chức giáo dục để trẻ có thể phát huy tối đa khả năng của mình và học tập tốt nhất trong môi trường hòa nhập

Việc thay đổi hình thức giáo dục còn thể hiện ở sự thay đổi phong cách giảng dạy của giáo viên Trong dạy học hòa nhập, giáo viên phải thay đổi cách truyền đạt hay phong cách giảng bài nhằm giúp TTK tiếp thu các kiến thức một cách tốt nhất

Khi trong lớp mẫu giáo có TTK học hòa nhập giáo viên phải chú ý: trẻ thuộc loại khuyết tật nào, khả năng nhận thức, hoạt động…của trẻ ra sao, để

Trang 29

có cách tổ chức thực hiện các hoạt động phù hợp Việc thay đổi và tổ chức hình thức giáo dục phù hợp có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của trẻ trong lớp mẫu giáo hòa nhập

1.3.1.6 Vai trò của giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ mầm non

Quá trình tìm kiếm các phương thức giáo dục cho phù hợp với sự phát triển của TTK, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Giáo dục TTK cần được tiến hành càng sớm càng tốt, và môi trường tốt nhất để TTK tham gia giáo dục hòa nhập đó chính là trường Mầm non

Quá trình phát triển của trẻ trong những năm đầu của cuộc đời diễn ra

vô cùng nhanh chóng Đồng thời với sự phát triển của não bộ, với sự tăng nhanh trọng lượng, chiều cao của cơ thể…là sự phát triển vượt trội về ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm và thực hiện các kỹ năng xã hội Phát hiện và thực hiện can thiệp sớm cho TTK ở giai đoạn này có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phát triển của trẻ

GDHN cho TTK Mầm non có vai trò hết sức to lớn không chỉ đối với TTK mà nó còn có ý nghĩa đối với trẻ bình thường

Đối với TTK, việc tham gia lớp học hòa nhập như một thành viên được tiếp đón ân cần dạy cho trẻ tính tự lực và giúp chúng nắm vững những kỹ năng mới Đối với một số trẻ, đó có thể là lần đầu tiên trong đời chúng được mong đợi

và khuyến khích là những điều chúng có thể làm cho bản thân Làm việc và vui chơi với những trẻ khác khuyến khích TTK phấn đấu để đạt được những thành tích lớn hơn Do đó chúng phát triển được cái tôi khỏe mạnh và tích cực

Nếu cứ sống và học tập mãi với bạn bè khuyết tật, TTK sẽ không bao giờ khám phá ra được những khả năng tiềm tàng mà chúng có Vì vậy, việc học tập trong một lớp hòa nhập với trẻ bình thường giúp cho trẻ hiểu đúng về năng lực của mình, từ đó chúng có thể tìm được cách phát huy những tiềm năng này và tự phát triển Ví dụ, một trẻ khiếm thính sẽ rất khó phát hiện ra

Trang 30

khả năng nhận biết từ ngữ diễn đạt bằng việc mấp máy môi Hay chúng có thể không làm giàu được vốn ngôn ngữ ký hiệu của bản thân nếu không sinh hoạt với trẻ bình thường cùng tuổi Việc hòa nhập TTK giống như một thứ nhớt làm trơn quá trình lĩnh hội của chúng

Một số TTK không chẩn đoán được cũng được khám phá thông qua chương trình hòa nhập trước tuổi học Có một số TTK không nhận biết được một cách rõ ràng cho đến khi trẻ gia nhập trường tiểu học, và do vậy rất nhiều thời gian học tập bị đánh mất Giáo viên mầm non có thể quan sát và so sánh nhiều trẻ cùng độ tuổi Điều này làm cho việc phát hiện những vấn đề cho thấy triệu chứng của một khuyết tật nào đó trở nên dễ dàng hơn Nhà trẻ có thể là cơ hội đầu tiên mà một số trẻ nhận được sự chăm sóc mà chúng cần

Việc hòa nhập giúp đỡ cả trẻ không phải là TTK Chúng học cách vui

vẻ tiếp nhận những sự khác biệt đặc biệt của con người Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng, thái độ của trẻ đối với TTK có thể trở nên tích cực hơn khi chúng có cơ hội chơi chung với nhau một cách thường xuyên Chúng học được rằng, TTK cũng như chúng, có thể làm một số việc tốt hơn những việc khác Trong một lớp hòa nhập, chúng có cơ hội làm bạn với nhiều trẻ khác nhau

Chúng ta biết rằng, sự thân ái là viên gạch đầu tiên giúp xây dựng lòng nhân hậu và vị tha cho trẻ Trẻ em sống trong một môi trường đa chủng tộc, đa văn hóa thường độ lượng hơn trong cách nhìn nhận và chấp nhận sự khác biệt về màu da và đa dạng về văn hóa là vì vậy Do đó, khi học cùng một lớp với TTK, trẻ bình thường sẽ học được cách nhìn nhận một cách rộng lượng và đối xử nhân hậu với TTK Cũng chính vì vậy, chúng sẽ làm giàu được vốn sống của mình Đôi khi phụ huynh TTK có thể lo lắng rằng con họ sẽ không được những trẻ khác thích và chấp nhận,

có khi còn bị ăn hiếp, đối xử thô bạo hay trêu chọc Tuy nhiên chúng ta

Trang 31

cũng biết rằng, một trong những điểm mạnh của trẻ em là chúng rất dễ thích nghi, dễ tiếp nhận cái mới nên lo lắng này có thể khắc phục được Đương nhiên, một số trẻ không tỏ ra thân thiện, nhưng đây không phải là vấn đề chỉ xảy ra với TTK Đó không phải là lý do để né tránh lớp học, lại càng không phải lý do để lẩn tránh cả thế giới còn lại Dù sao đi nữa thì TTK cũng cần được tiếp cận với cuộc sống bình thường bởi vì một lẽ: Cuộc sống là một món quà phải được mở bởi chính đôi bàn tay của chúng

Như vậy, GDHN TTK mầm non góp phần tạo ra được môi trường sống, học tập tốt nhất cho TTK, tạo điều kiện thuận lợi cho TTK được tham gia học cùng trẻ bình thường ở các trường, lớp mầm non GDHN là cơ hội để trẻ bình thường và TTK hiểu đúng giá trị của nhau, xóa bỏ sự cách biệt mặc cảm, xa lánh để trẻ có trách nhiệm với nhau hơn Bên cạnh đó, GDHN giúp TTK được học tại nơi trẻ sinh sống cùng gia đình, không có sự tách biệt môi trường sống vì trường mầm non hòa nhập có trách nhiệm tiếp nhận toàn bộ trẻ của địa phương nơi trường đóng không kể TTK hay trẻ bình thường vào học Thông qua lớp học hòa nhập, giúp cho mọi trẻ, trong đó kể cả trẻ mầm non bình thường và TTK được phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách và chuẩn bị cho trẻ vào lớp một GDHN TTK mầm non còn đóng vai trò giúp TTK được can thiệp sớm và hỗ trợ gia đình TTK trong công tác can thiệp sớm Tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ trong một môi trường giáo dục bình thường, tạo cho mọi trẻ mầm non kể cả TTK có cơ hội được chăm sóc và giáo dục bình đẳng Và đặc biệt, GDHN tạo sự hợp tác giữa gia đình, cộng đồng và nhà trường trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non

Để thấy rõ hơn vai trò của GDHN, UNICEF và UNESCO đã đưa ra bảng tổng hợp khái quát sự khác nhau giữa các mô hình giáo dục:

Trang 32

Bảng 1.1: Khái quát sự khác nhau giữa các mô hình giáo dục

“Bình thường” càng tốt

Đứa trẻ tồn tại như chính bản thân nó

nơi trẻ sinh sống Chương trình,

Giáo viên chủ nhiệm, giáo viên chuyên biệt, chuyên gia các lĩnh vực liên quan

Giáo viên chủ nhiệm

Hiệu quả

giảng dạy của

giáo viên

Chuyên biệt cho nhóm trẻ cùng dạng tật

Không thay đổi, chỉ có

“lành”

Có khả năng giống mọi trẻ trong quá trình học

Sự tự tin ở trẻ

Thấp, cảm giác mình bị tách biệt

Có cảm giác bị cách biệt

Cảm giác tự tin về bản thân

Môi trường

Gần như bị tách biệt, từ chối

Không thay đổi

Giới hạn thấp nhất,

mở rộng ngang bằng với những trẻ khác

Tính bền

vững

Không bền vững

Thực tế và cấp thiết được thực hiện thì hoàn toàn bình đẳng

Trang 33

Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng, GDHN là mô hình hoàn thiện nhất, kinh tế nhất và mang tính nhân văn nhất

Các nội dung nâng cao nhận thức về giáo dục hòa nhập

Các biện pháp nâng cao nhận thức về giáo dục hòa nhập

o Tuyên truyền để thay đổi cách nhìn của cộng đồng về người khuyết tật từ từ thiện đến nhân quyền

o Tổ chức các hội thảo

1.3.2 Lý luận về phối hợp các lực lượng cộng đồng trong GDHN

1.3.2.1.Bản chất của phối hợp các lực cộng đồng trong GDHN

Bản chất của phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào phát triển sự nghiệp giáo dục Xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân và các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị xã hội, các doanh nghiệp địa phương và của từng người dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế xã hội lành mạnh thuận lợi cho hoạt động giáo dục Là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội, phát huy và sử dụng có hiệu quả nguồn lực này

Như vậy, phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục là cách làm giáo dục được xác định bởi các đặc điểm sau: đó là việc huy động sức mạnh tổng hợp của các ngành có liên quan đến giáo dục vào việc phát triển sự nghiệp giáo dục Sự huy động này không phải nhất thời mà là thường xuyên theo một cơ chế vận hành xác định, xây dựng từ cấp Trung ương đến địa phương trên cơ sở một chiến lược phát triển giáo dục lâu dài cho cả nước cũng như cho mỗi địa phương, địa bàn dân cư nhất định Là việc huy động các lực lượng của cộng đồng tham gia vào công tác giáo dục

Trang 34

Các lực lượng xã hội như: Mặt trận Tổ quốc, Đoàn thanh niên, Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội khuyến học…có thể tham gia rộng rãi vào nhiều lĩnh vực hoạt động giáo dục với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, làm cho giáo dục gắn bó với cộng đồng, do cộng đồng thực hiện và vì lợi ích của cộng đồng Là đa dạng hóa các hình thức giáo dục và các loại hình nhà trường

Phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục còn là việc mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội, phát huy và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho giáo dục phát triển Đây không những là chính sách lâu dài trong thực hiện các chính sách xã hội của Đảng ta mà còn là biện pháp cần thiết trong giai đoạn Nhà nước chưa có đủ kinh phí cần thiết cho các hoạt động giáo dục và sựu nhận thức chưa đúng của cộng đồng về vai trò của giáo dục hòa nhập

1.3.2.2 Các văn bản pháp quy về huy động cộng đồng

Điều 26, luật Giáo dục (sửa đổi năm 2009) nêu:

Chủ trương của Đảng, Nhà nước về huy động nguồn lực của cộng đồng xã hội trong phát triển giáo dục và đổi mới giáo dục

Chủ trương của Đảng, Nhà nước về huy động nguồn lực trong phát triển giáo dục

Đảng và Nhà nước đã thường xuyên có những chính sách và giải pháp để thúc đẩy sự phát triển của giáo dục của nước nhà

Khi bàn về công tác giáo dục, Hồ Chí Minh đã dạy: “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, cần phải phát huy đầy đủ dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữa thầy với thầy, giữa trò với trò, giữa trò với nhau, giữa các bộ các cấp, giữa nhà trường với nhân dân

để hoàn thành nhiệm vụ…”

Hiến pháp nước ta coi “Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu”; mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và

Trang 35

năng lực của công dân (Điều 35); “Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân” (Điều 59) Chính phủ cũng đã ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 về đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao và Nghị định số 53/2006/NĐ-CP, ngày 25/5/2006 về chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập đã từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế chính sách về khuyến khích và phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập”

Nghị quyết số 04-NQ/HNTW, ngày 14/01/1993 Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo đã ghi: “Huy động các nguồn lực đầu tư trong nhân dân, viện trợ của các tổ chức quốc tế, kể cả vay vốn của nước ngoài để phát triển giáo dục”

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII khẳng định: “Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân đóng góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước”

Đại hội XI (2011) xác định rõ những giải pháp trực tiếp cho chiến lược phát triển nguồn nhân lực, đó là: “Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ và hội nhập quốc tế”

1.3.2.3 Đặc điểm của phối hợp các lực lượng cộng đồng trong GDHN

Một cách tổng quát nhất có thể hiểu phối hợp các lực lượng cộng đồng

là một cách thực hiện xã hội hóa sự nghiệp Giáo dục mà cụ thể trong đề tài này là nhằm làm tốt phương thức giáo dục hòa nhập và nó có những đặc điểm

Trang 36

- Các lực lượng xã hội được huy động vào đa dạng hóa các hình thức giáo dục và các loại hình nhà trường

- Mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác tiềm năng về nhân lực, vật lực, tài lực trong xã hội, phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho giáo dục phát triển

- Có sự lãnh đạo trực tiếp, thường xuyên của Đảng, sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước và vai trò chủ động, nòng cốt của ngành giáo dục, các phòng chức năng để thực hiện việc huy động cộng đồng để phát triển giáo dục

1.3.2.4 Nguyên tắc phối hợp các lực lượng cộng đồng trong GDHN cho trẻ mầm non

Thực chất phối hợp các lực lượng cộng đồng là một cách thực hiện xã hội hóa sự nghiệp Giáo dục, là tăng cường vai trò, trách nhiệm của xã hội với giáo dục Điều này chỉ thực hiện thành công khi đảm bảo các nguyên tắc sau:

Nguyên tắc 1: Có sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước và và vai trò chủ động, nòng cốt của ngành giáo dục

Nguyên tắc 2: Đảm bảo sự thống nhất, thường xuyên, liên tục, hiệu quả Việc phối hợp sức mạnh tổng hợp của các lực lượng xã hội nhằm phát triển sự nghiệp GD nói chung và GDHN nói riêng phải là một quá trình thường xuyên, liên tục với một cơ chế vận hành thống nhất, có tính xác định, được xây dựng từ Trung ương đến địa phương

Nguyên tắc 3: Tính pháp quy

Phối hợp các lực lượng cộng đồng tham gia vào GDHN phải được thể chế hóa bằng các văn bản pháp quy, bằng các quy định cụ thể thấm nhuần chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, cháp hành đúng theo Hiến pháp và pháp luật

Nguyên tắc 4: Tính dân chủ, đại chúng, đảm bảo hài hòa về lợi ích Giáo dục là sự nghiệp của toàn dân nên khi phối hợp các lực lượng xã hội phải đảm bảo tính dân chủ và đại chúng Bên cạnh đó, động lực thúc đẩy hoạt động của các lực lượng là đảm bảo lợi ích của các lực lượng này Bởi khi

Trang 37

các lực lượng tham gia ủng hộ cho nhà trường họ luôn mong muốn có được chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ tốt nhất Ngược lại, nhà trường cũng từ lợi ích có chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ tốt mà có thể thuận lợi huy động các lực lượng xã hội tham gia vào GNHN cho trẻ tại trường mình

1.3.2.5 Hình thức phối hợp các lực lượng xã hội trong GDHN

Trên thực tế cho thấy, để phối hợp chặt chẽ các lực lượng xã hội trong GDHN cho trẻ mầm non cần phải sử dụng nhiều hình thức khác nhau

- Tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức về GDHN trong cộng đồng Đây là một trong những hình thức phổ biến và được thực hiện rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo, đài, ti vi, loa phường, mạng

xã hội

- Phổ biến các chủ trương, chính sách liên quan đến GDHN

- Nêu gương người tốt, việc tốt trong GDHN Hình thức này sẽ mang lị cho tất cả mọi người có cái nhìn đúng đắn về GDHN, cùng nhau cố gắng mang lại những gì tốt đẹp cho trẻ khuyết tật, góp phần giảm thiểu những gánh nặng cho xã hội

- Tổ chức hội thảo chuyên đề về GDHN

- Mở các lớp bồi dưỡng ngắn ngày về GDHN

1.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC HÒA NHẬP CHO TRẺ TỰ KỶ LỨA TUỔI MẦM NON

Môi trường kinh tế - xã hội

Môi trường kinh tế - xã hội ảnh hưởng tới việc phối hợp các lực lượng cộng đồng tham gia giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ lứa tuổi mầm non thể hiện ở chỗ: Môi trường xã hội ổn định, kinh tế phát triển, thu nhập dân cư cao, đời sống người dân ngày càng đi lên sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động các lực lượng cộng đồng tham gia giáo dục TTK

Ngược lại, môi trường xã hội không ổn định, kinh tế kém phát triển thì việc huy động các lực lượng cộng đồng tham gia giáo dục TTK là rất khó

Trang 38

khăn Các tổ chức, cá nhân không yên tâm đầu tư vào giáo dục hoặc bản thân

họ cũng không nhận thức đầy đủ , không có điều kiện về kinh tế để đóng góp, đầu tư cho giáo dục Những điều kiện khác như: thành thị, nông thôn, dân tộc, các vấn đề giới cũng có ảnh hưởng nhất định đến việc huy động phối hợp các lực lượng cộng đồng tham gia giáo dục TTK

Chủ trương chính sách của nhà nước, của phường, tổ dân phố, quận Các chủ trương, chính sách của nhà nước, của phường, tổ dân phố, quận

có ý nghĩa là tiền đề cho việc huy động nguồn lực của cộng đồng tham gia vào việc giáo dục TTK được thực hiện và thực hiện một cách thuận lợi hay không

Năng lực phối hợp các lực lượng cộng đồng tham gia vào việc phát triển giáo dục TTK

Phòng GD và ĐT đóng vai trò chủ động nòng cốt trong việc phối hợp các lực lượng cộng đồng tham gia vào việc phát triển giáo dục TTK Điều này thể hiện ở chỗ tham mưu, đề xuất của ngành với chính quyền địa phương ở việc phối hợp các nghành trong trong tổ chức thực hiện, ở kết quả thực hiện

Nhận thức và tham gia phát triển GD của các tổ chức XH

Nhận thức của các tổ chức : các nghành như y tế, công an, Lao động thương binh và XH, các tổ chức đoàn thể như MTTQ, hội LHPN, Đoàn TNCSHCM, hội Cựu chiến binh, hội khuyến học, các tổ chức tôn giáo, tổ chức từ thiện có ý nghĩa quan trọng đối với việc huy động phối hợp các lực lượng cộng đồng tham gia GD TTK

Giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ lứa tuổi mầm non chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố như: Gia đình, nhà trường, xã hội, môi trường hoạt động, giao tiếp, cơ sở vật chất trong nhà trường… Mỗi yếu tố đều có vai trò ảnh hưởng nhât định trên con đươ ng giao duc

* Gia đình hòa nhập cho trẻ tự kỷ: Gia nh la nên tang , là cái nôi đầu tiên của sự ra đời và phát triển của trẻ Gia đinh la những ngươ i gân gui nhât với tre nên ho hiêu đươc trẻ cần gì trong quá trình phát triển, hiểu rõ nhất năng lực và nhu cầu của trẻ Chính vì vậy gia đình trẻ giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác GDHN

Trang 39

Đối với trẻ tự kỷ, cha mẹ cần kiên trì chăm sóc, hướng dẫn, giúp đỡ trẻ, không nên đòi hỏi quá nhiều, vượt quá khả năng của trẻ Hướng dẫn trẻ một

số các hoạt động và kỹ năng tự phục vụ bản thân như tự đi vệ sinh, tự rửa tay chân, thu xếp đồ dùng, đồ chơi cá nhân tăng dần số lượng công việc mức độ

và thời gian thực hiện nhằm đạt đén sự tự lực, làm cơ sở cho cuộc sống tự lập sau này của trẻ

Gia đình cần chuẩn bị tâm thế tốt cho trẻ đi học, mua quần áo, sách vở những đồ dùng học tập như mọi trẻ em bình thường khác Tạo điều kiện cho trẻ được tiếp xúc và vui chơi với những trẻ khác càng nhiều càng tốt Tạo điều kiện cho trẻ xóa bỏ mặc cảm để hòa nhập bạn bè và cộng đồng

Gia đình cần phối hợp trao đổi thông tin kịp thời với giáo viên phụ trách lớp về tình hình của con

* Nhà Trường: Một trong những trách nhiệm của nhà trường mầm non là xây dựng được môi trường học tập thân thiện, hợp tác Đó là môi trường diến ra

sự tương tác về tâm lý, tình cảm giữa trẻ - với trẻ, giáo viên với giáo viên, giữa

là trung tâm để huy động các lực lượng xã hội tham gia thì giáo viên lại là cầu nối trực tiếp và cực kỳ quan trọng hỗ trợ có hiệu quả đối với việc đáp ứng nhu cầu lợi ích của trẻ tự kỷ GV là người trực tiếp tổ chức thực hiện tất cả các hoạt động chăm sóc giáo dục trong nhà trường Trên cơ sở đó GV có thể thông báo những thông tin tương đối chính xác, rõ ràng về trẻ để cùng phối hợp với gia đình, cộng đồng, xã hội và huy động các nguồn lực tham gia vào công tác này

* Cộng đồng: Trong quá trình phát triển trẻ tự kỷ luôn chịu những tác động

từ cộng đồng nơi các em đang sinh sống Những yếu tố tác động đó có thể là những yếu tố tự nhiên như: Địa lý, địa hình, môi trường, khí hậu, giao thông hay những yếu tố xã hội như: Phong tục tập quán, trình độ dân trí, sự phát triển của y

tế, giáo dục những yếu tố về kình tế: mức sống, các nguồn thu nhập, quan tâm chi phí cho giáo dục nói chung và trẻ tự kỷ nói riêng của gia đình

Sự tham gia của cộng đồng có tác dụng tích cực cho việc giúp cha mẹ

Trang 40

những người chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tự kỷ có hiểu biết đúng, biết cách chăm sóc hỗ trợ về tinh thần và vật chất cho trẻ trực tiếp hướng dẫn giúp đỡ trẻ tự

lý, tình cảm, giao tiếp giữa trẻ với trẻ, trẻ với giáo viên, giáo viên với giáo viên, trẻ với môi trường vật chất, đồng thời chính môi trường này cũng là nơi diễn ra quá trình thống nhất giáo dục giữa các tổ chức đoàn thể trong nhà trường, giũa nhà trường với các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường Một môi trường hoạt động thân thiện sẽ giúp trẻ tự kỷ có được cảm giác an toàn, trẻ được thừa nhận và tôn trọng, trè tự tin và hứng thú tham gia các hoạt dộng, đồng thời trẻ được tương tác, hợp tác, hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau

Các yếu tố vật chất trong nhà trường như các điều kiện vật chất, đồ dùng, đồ chơi, phương tiện… có vai trò quan trọng đảm bảo cho hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ tự kỷ đạt hiệu quả Việc đảm bảo sự phù hợp giữa cấu trúc không gian và tổ chức các hoạt động như sắp xếp bàn ghế học tập, vị trí ngồi của trẻ , góc đồ dùng, đồ chơi, phương tiện thiết bị học tập… sẽ giúp trẻ tự kỷ nhận diện được vị trí của mình trong lớp học Lớp học đảm bảo các yêu cầu về ánh sáng, bàn ghế đứng kích cỡ, sự phù hợp giữa cấu trúc không gian và tổ chức hoạt dộng như kết cấu khung cảnh chung của nhà trường, đường đi, khu vực dành cho các hoạt động vui chơi…sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động chăm sóc, giáo dục các em

Ngày đăng: 06/06/2017, 12:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Phạm Ngọc Thanh (2008), “Cách tiếp cận trẻ có rối loạn phổ tự kỷ dựa trên cộng đồng tại bệnh viện Nhi đồng 1” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách tiếp cận trẻ có rối loạn phổ tự kỷ dựa trên cộng đồng tại bệnh viện Nhi đồng 1
Tác giả: Phạm Ngọc Thanh
Năm: 2008
14. Quách Thu Minh và cộng sự (2008), “Tìm hiểu một số yếu tố gia đình và hành vi của trẻ tự kỷ tại khoa Tâm thần bệnh viện Nhi trung ƣơng”, Chẩn đoán và can thiệp sớm hội chứng tự kỷ ở trẻ em, Tài liệu hội thảo, tr 27 – 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu một số yếu tố gia đình và hành vi của trẻ tự kỷ tại khoa Tâm thần bệnh viện Nhi trung ƣơng”, "Chẩn đoán và can thiệp sớm hội chứng tự kỷ ở trẻ em
Tác giả: Quách Thu Minh và cộng sự
Năm: 2008
1. Phan Thị Ngọc Anh, Đặng Lan Phương, Phương hướng tổ chức GDHN trẻ KT tuổi mẫu giáo , kỷ yếu hội thảo: Báo cáo kinh nghiệm thực trạng và giải pháp GDHN trẻ KT tuổi mẫu giáo, tháng 5/2003 Khác
2. Bảng kiểm phát triển cho trẻ em Việt Nam – Tổ chức JiCa Nhật Bản Khác
3. Bộ GD và Đt, số 23/2006/QĐ – BDĐT (2006). Quy định về GDHN dành cho người khuyết tật, tàn tật, Hà Nội Khác
4. Nguyễn Huy Cẩn (2006), các quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ trẻ em, Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học Khác
5. Chương trình giáo dục mầm non - Bộ GD và ĐT, NXB Giáo dục , Hà Nội 6. Đánh giá và trị liệu cá nhân cho trẻ tự kỷ và trẻ khuyết tật phát triển – Trung tâm ĐT và phát triển GD đặc biệt Khác
7. Eva Lindskog – Nguyễn Xuân Hải – tiến tới GD cho mọi trẻ - Những bài học kinh nghiệm từ chương trình GDHN ở Việt Nam, NXBCTQG, 2002 Khác
8. Giáo dục hòa nhập cho trẻ KT ở Việt Nam. Trung tâm GD trẻ khuyết tật NXBCT Quốc Gia. Hà Nội – 1995 Khác
9. Lê Minh Hà, GD trẻ KT tuổi mầm non, thực trạng và giải pháp. Tạp chí GDMN, số 3/1999 Khác
10. Những hoạt động dạy trẻ tự kỷ- Tài liệu của hội PHHS Khác
11. Một số biện pháp hướng dẫn, tổ chức các hoạt động giáo dục trong trường mầm non - Bùi Kim Tuyến và Phan Thị Ngọc Anh Khác
12. Phụ chương nguy cơ tự kỷ - Thầy Nguyễn Văn Thành Khác
15. Quyền trẻ em trong Pháp luật quốc gia và quốc tế NXB Sự thật. Hà Nội – 1995 Khác
16. Lê Văn Tạc – Viện KHGD, Giáo dục hòa nhập trẻ KT – Nhìn nhận từ phía giáo viên và PHHS, tạp chí nghiên cứu Giáo dục số 7/2002 Khác
17. Nguyễn Văn Thành (2006), Trẻ em tự kỷ phương thức giáo dục , NXB Tôn giáo Khác
18. Tổ chức cứu trợ của trẻ em Thụy Điển (1998), tiến tới giáo dục hào nhập kinh nghiệm Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Khác
19. Từ điển Tâm lý học (Petit Larousse de la Psychologie), xuất bản tại Pháp năm 2005 Khác
20. Nguyễn Thị Hoàng Yến (2012), Tự kỷ - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Đại học sƣ phạm Khác
21. Nguyễn Thị Hoàng Yến, Tổ chức quản lý trường hòa nhập, lớp hòa nhập. Công tác quản lý GDHN trẻ KT, Bộ GD và ĐT, tháng 7/2003 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w