và nhất là nguồn nhân lực nữ chất lượng cao trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay chưa được quan tâm khai thác hợp lý và phát triển đúng với tiềm năng hiện có của nó, vẫn còn ảnh hưởng của
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN NGỌC TRÚC QUỲNH
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NỮ CHẤT LƯỢNG CAO Ở THÀNH PHỐ
LONG XUYÊN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM THỊ QUỲNH
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám Hiệu trường Đại học Sư phạm Hà Nội; cảm ơn quý thầy, cô là giảng viên Khoa Triết học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Tiến sĩ Phạm Thị Quỳnh - người đã dành nhiều thời gian, tạo điều kiện thuận lợi, hướng dẫn về phương pháp khoa học và cách thức thực hiện các nội dung của đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo các phòng, ban ngành, các cơ quan, đơn vị trên địa bàn thành phố Long Xuyên; cùng toàn thể cán bộ thành phố Long Xuyên đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp các thông tin, số liệu cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài này
Trong quá trình làm nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thành luận văn, đã tham khảo nhiều tài liệu và đã trao đổi, tiếp thu ý kiến của thầy, cô và bạn bè Song, do điều kiện về thời gian và trình độ nghiên cứu của bản thân còn nhiều hạn chế nên nghiên cứu khó tránh khỏi những thiếu sót
Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của thầy, cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Long Xuyên, tháng 6 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Ngọc Trúc Quỳnh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu trong luận văn là trung thực Những kết luận nêu trong luận văn chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình khoa học nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Ngọc Trúc Quỳnh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC NỮ CHẤT LƯỢNG CAO 15
1.1 Cơ sở lý luận chung về phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao 15
1.2 Tầm quan trọng và các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề phát triển
nguồn nhân lực nữ chất lượng cao 23
Tiểu kết chương 1 36
Chương 2: PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NỮ CHẤT LƯỢNG
CAO Ở THÀNH PHỐ LONG XUYÊN HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ
GIẢI PHÁP 37
2.1 Một số nét khái quát về thành phố Long Xuyên 37
2.2 Đánh giá thực trạng về phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở
thành phố Long Xuyên hiện nay 43
2.3 Nguyên nhân của thực trạng về phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng
cao ở thành phố Long Xuyên hiện nay 55
2.4 Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng
cao ở thành phố Long Xuyên trong thời gian tới 61
Tiểu kết chương 2 76
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 89
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CĐ, ĐH và sau ĐH : Cao đẳng, đại học và sau đại học
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
NNLNCLC : Nguồn nhân lực nữ chất lượng cao
NNLCLC : Nguồn nhân lực chất lượng cao
TCCN và TC nghề : Trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Dân số trung bình phân theo giới tính và phân theo
thành thị, nông thôn ở Long Xuyên năm 2015 39
Bảng 2.2.Dân số trong độ tuổi lao động ở Long Xuyên 45 Bảng 2.3.Tỷ lệ lao động phân theo trình độ 46 Bảng 2.4 Tỷ lệ nữ tham gia vào vị trí lãnh đạo, quản lý
trong hệ thống chính trị thành phố năm 2015 52
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử loài người từ xưa đến nay, phụ nữ bao giờ cũng là một nhân tố không thể thiếu trong đội ngũ những người lao động, góp phần tạo dựng nên xã hội và luôn thể hiện vị thế của mình trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Mặc dù vậy, ở một số quốc gia, khu vực, vẫn còn xảy tình trạng bất bình đẳng giới, người phụ nữ vẫn chưa được tạo điều kiện để phát triển xứng tầm với tiềm năng hiện có Như câu nói của Mác: “Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa” [37, tr.523], qua đó để thấy được tầm quan trọng của một nửa dân
số, và vấn đề thực hiện bình đẳng giữa nam giới - nữ giới trong mọi lĩnh vực
là một việc vô cùng cần thiết
Ở nước ta trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã chủ trương thực hiện chiến lược quốc gia về bình đẳng giới, người phụ nữ đã được tạo điều kiện tốt hơn để khẳng định bản thân, để thể hiện tốt vai trò của mình trong gia đình cũng như ngoài xã hội Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
và hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta cần phải quan tâm đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ toàn diện về mọi mặt cho người phụ nữ để tạo ra nguồn nhân lực nữ chất lượng cao
Thực tế đã chứng minh, xét trên nhiều phương diện như năng lực, trí tuệ,
có thể nói rằng, nguồn nhân lực nữ không thua kém gì nam giới Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng nguồn nhân lực nữ, xem đây là một trong những thành
tố quan trọng góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực nữ
Trang 9và nhất là nguồn nhân lực nữ chất lượng cao trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay chưa được quan tâm khai thác hợp lý và phát triển đúng với tiềm năng hiện
có của nó, vẫn còn ảnh hưởng của tư tưởng “trọng nam, khinh nữ” trong phân
công lao động, nên phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao là vấn đề quan trọng cần được tập trung nghiên cứu, bởi nếu không chúng ta sẽ đánh mất một nửa sức mạnh cho nguồn lực phát triển kinh tế xã hội Hơn nữa, xã hội ngày càng vận động phát triển tạo điều kiện khách quan thúc đẩy việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu bức thiết của xã hội về giải phóng, phát huy tiềm năng, vai trò, vị thế của người phụ nữ Chính
vì vậy, muốn khai thác được tối đa sức mạnh của nguồn nhân lực nữ chất lượng cao trong giai đoạn hiện nay, ta phải kết hợp hiệu quả quá trình ảnh hưởng của điều kiện khách quan và các nhân tố chủ quan trong việc phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao
Thành phố Long Xuyên với dân số trên 285 ngàn dân (trong đó dân số
nữ trên 147 ngàn, chiếm trên 50%), là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, thương mại, dịch vụ của tỉnh An Giang Long Xuyên có nguồn nhân lực dồi dào, đặc biệt là nguồn nhân lực nữ, là một thuận lợi lớn để phát triển kinh tế
- xã hội Trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, Long Xuyên phấn đấu đến năm 2020 đạt tiêu chí đô thị loại I, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển thương mại – dịch vụ, có thu nhập bình quân đầu người đạt mức cao so với cả tỉnh Để đạt được mục tiêu đó, thì nguồn nhân lực nữ đặc biệt là nguồn nhân lực nữ chất lượng cao đóng vai trò quan trọng Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng chất lượng nguồn nhân lực nữ chất lượng cao qua sự tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan trong thời gian qua, để từ đó đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao đáp ứng sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của thành phố cả về lý luận và thực tiễn là một vấn đề cần thiết Với tư cách là người cán bộ nữ, hiện đang công tác trong hệ thống chính trị
Trang 10của thành phố Long Xuyên, tôi lựa chọn đề tài “Phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở thành phố Long Xuyên hiện nay” làm đề tài luận văn của
mình, với mong muốn góp phần thiết thực phục vụ cho công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng và phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao cũng như góp phần phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố Long Xuyên
2 Lịch sử nghiên cứu
Do vấn đề phát triển nguồn nhân lực nói chung và phát triển nguồn nhân lực nữ, nguồn nhân lực nữ chất lượng cao nói riêng trong giai đoạn hiện nay có vai trò, vị trí hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội, xây dựng đất nước trong tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, nên thời gian qua đã
có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này
* Một là, nhóm những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề nguồn nhân lực,phát triển nguồn nhân lực như:
Năm 2005, tác giả Đoàn Văn Khái đã xuất bản cuốn sách Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam,ở chương 1
tác giả tập trung phân tích một số vấn đề chung về CNH, HĐH nhưng đáng chú
ý nhất là sự khái quát các mô hình CNH của các nước trên thế giới Chương 2, tác giả đưa ra khái niệm về nguồn lực con người và phân tích, so sánh với các nguồn lực khác trong xã hội để từ đó đưa ra nhận định nguồn lực con người trở thành nguồn lực của mọi nguồn lực Trên cơ sở phân tích những lý luận chung,
ở chương 3 và chương 4, tác giả đã đánh giá toàn diện thực trạng, đặc điểm nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta trong giai đoạn 2001 - 2005, qua đó đã đề ra các giải pháp cơ bản nhằm khai thác và phát triển nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Trang 11Cuốn Phát triển nguồn nhân lực kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước
ta của Trần Văn Tùng và Lê Ái Lâm (Viện kinh tế thế giới) xuất bản năm 1996,
đã đề cập lý luận chung về nguồn nhân lực, kinh nghiệm về phát triển nguồn nhân lực của một số cường quốc trên thế giớivà thực trạng phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay, tập trung vào lĩnh vực giáo dục đào tạo, xem đây là nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển nguồn nhân lực
Qua khảo sát thực tiễn việc phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài trong
lịch sử Việt Nam, cuốn sách Lược khảo về kinh nghiệm phát hiện, đào tạo và
sử dụng nhân tài trong lịch sử Việt Nam do PGS.TS Phạm Hồng Tung (2008)
làm chủ biên đã giúp chúng ta đánh giá một cách tương đối toàn diện và súc tích về những mặt tốt và những hạn chế của thực tiễn đào tạo và sử dụng nhân tài của ông cha ta trong các thời kỳ lịch sử
Tạp chí Lý luận chính trị (số 8 - 2002) có bài Sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Hữu Dũng Bài viết chủ yếu hệ thống
các vấn đề lý luận và thực tiễn về việc bố trí, sử dụng nguồn nhân lực trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Trên cơ sở đó, tác giả
đã đề ra các giải pháp nhằm phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực
trong đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội ở nước ta
Trong cuốn Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng,
xuất bản năm 2005, tác giả Trần Văn Tùng đã trình bày những kinh nghiệm của Mỹ và một số quốc gia châu Âu, châu Á trong việc phát hiện, đào tạo và sử dụng tài năng khoa học - công nghệ, sản xuất kinh doanh, quản lý Từ đó, tác giả so sánh với thực trạng của Việt Nam và việc cần đổi mới các chính sách đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng hiện có trên nhiều lĩnh vực
Với bài viết “Quan điểm của Đại hội XI về phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức” được
Trang 12đăng trên Tạp chí Phát triển nhân lực, tác giả Lê Thị Chiên đã phân tích những
quan điểm khác nhau của nhiều tác giả và quan điểm chung của Đảng ta về nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay Qua đó, tác giả đã đưa ra các nhóm giải pháp về nâng cao chất lượng và hiệu quả của giáo dục đào tạo; có chiến lược nâng cao thể lực cho con người; khai thác và sử dụng hợp lý nguồn nhân lực; xây dựng chính sách tiền lương hợp lý nhằm từng bước nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Qua việc đề cập 05 kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của Nhật Bản
và một số nước Đông Á, cuốn Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực ở những quốc gia và vùng lãnh thổ Đông Á của PGS.TS Phạm Thành Nghị (2009), đã
chỉ rõ Việt Nam cần tiếp thu và xây dựng phát triển nguồn nhân lực, cụ thể như: Xem con người, nhân lực là yếu tố quyết định; phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, theo chiến lược đón đầu; kết hợp đào tạo nghề đại cương và đào tạo nghề chuyên sâu; vai trò của Nhà nước và trách nhiệm của doanh nghiệp và khu vực tư nhân; thu hút và
hội nhập kinh tế quốc tế, v.v
Cuốn sách Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của tác giả Vũ Văn Phúc và Nguyễn Duy
Trang 13(2012) gồm tập hợp các bài tham luận tại Hội thảo Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, được
chia thành ba phần: Phần 1 đề cập những tư tưởng, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về phát triển nguồn nhân lực; và những vấn đề lý luận chung như cách tiếp cận nghiên cứu nguồn nhân lực, từ lý luận đến thực tiễn phát triển nguồn nhân lực… Phần 2 tập trung giới thiệu những kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của một số ngành trong nước và của một số nước, vùng lãnh thổ trên thế giới Phần 3 tập trung phân tích thực trạng, những bất cập, thách thức và đề xuất các giải pháp… của phát triển nguồn nhân lực nói chung của nước ta hiện nay, nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng trong các doanh nghiệp nhà nước; vấn đề đào tạo theo nhu cầu của các doanh nghiệp; phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa quan hệ lao động; chất lượng giáo dục đại học; đổi mới cơ chế tài chính và chuyên môn cho việc dạy
và học ở bậc đại học; đào tạo nghề, nhất là đào tạo nghề cho lao động nông thôn; phát triển nguồn nhân lực trong một số ngành như du lịch, đối ngoại, tài chính – ngân hàng,…
Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và triển vọng là cuốn sách do Nguyễn Văn Khánh, Hoàng Thu Hương
(2010) đồng chủ biên Trong đó, các tác giả đã đưa ra những quan niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao, cụ thể coi nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phận của nguồn nhân lực nói chung, bao gồm những người có trình độ học vấn từ cao đẳng, đại học trở lên Qua đó đề cập đến thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao, triển vọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, từ đó các tác giả đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay
* Hai là, nhóm các công trình nghiên cứu có liên quan đến nguồn nhân lực nữ, nguồn nhân lực nữ chất lượng cao, vấn đề phụ nữ nói chung đáp ứng
Trang 14yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Các đặc điểm cơ bản của gia đình Việt Nam, vai trò của người phụ nữ Việt Nam và các yếu tố cơ bản tác động trực tiếp dẫn đến sự biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình đã được tác giả Dương Thị Minh (2004) làm
rõ trong nội dung cuốn sách Gia đình Việt Nam và vai trò người phụ nữ trong giai đoạn hiện nay Từ đó, tác giả nêu ra những vấn đề xây dựng gia đình
mới và phát huy vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Cuốn sách Phát huy nguồn nhân lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tác giả Đỗ Thị Thạch (2005) đã trình
bày những quan niệm về trí thức và trí thức nữ; những cơ sở để khẳng định phẩm chất trí tuệ ở người phụ nữ; một số yếu tố tác động đến phẩm chất trí tuệ của người phụ nữ; những đặc điểm, vai trò của đội ngũ trí thức nữ và những vấn đề đặt ra hiện nay, qua đó đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nguồn nhân lực trí thức nữ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Với đề tài khoa học cấp nhà nước Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán
bộ nữ trong hệ thống chính trị do tác giả Nguyễn Đức Hạt làm chủ nhiệm,
được Hội đồng cấp nhà nước nghiệm thu ngày 12-11-2006 Đề tài nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong bộ máy của Đảng, Nhà nước và các tổ chức đoàn thể ở nước ta trong tình hình mới Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra hệ thống các giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo cán bộ nữ, cụ thể như: Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo việc nâng cao nhận thức, quan điểm về bình đẳng giới và công tác cán bộ nữ; hoàn thiện khuôn khổ chiến lược bình đẳng giới, mô hình bình đẳng giới; xây dựng mô hình lãnh đạo hài hòa giới; nâng cao năng lực của hội liên hiệp phụ nữ và các
cơ quan tổ chức chuyên trách về công tác phụ nữ; xây dựng bộ phận chuyên trách về công tác cán bộ nữ trong các cơ quan tổ chức cán bộ của hệ thống chính trị; các giải pháp tạo nguồn, xây dựng quy hoạch cán bộ nữ trong tổng
Trang 15thể quy hoạch cán bộ của Đảng và Nhà nước; nâng cao chất lượng đào tạo cán
bộ nữ; bố trí, sử dụng và luân chuyển hợp lý cán bộ lãnh đạo nữ các cấp, các ngành; hoàn thiện chính sách phù hợp với từng đối tượng cán bộ nữ trong các
cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị các cấp
Với việc tập hợp các bài báo, bài viết nêu lên những quan điểm của Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng của phụ nữ,về việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
nữ, năm 2010, PGS.TS Nguyễn Thị Kim Dung đã xuất bản cuốn sách Hồ Chí Minh với cuộc đấu tranh về quyền bình đẳng của phụ nữ, trong đó tác giả đã
trực tiếp nghiên cứu vấn đề: “Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế năng lực cho phụ nữ theo tư tưởng Hồ Chí Minh”
Năm 2003, thông qua phân tích, làm rõ thực trạng và xu hướng biến đổi vai trò nữ cán bộ quản lý trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cuốn
sách Vai trò của nữ cán bộ quản lý nhà nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tác giả Võ Thị Mai đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng
cao hơn nữa vị thế, vai trò của phụ nữ tham gia quản lý lãnh đạo trong bộ máy
nhà nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay
Cuốn sách Phụ nữ, giới và phát triển của tác giả Trần Thị Vân Anh - Lê
Ngọc Hùng (1996), đã phân tích, làm rõ những khái niệm cơ bản của phụ nữ học, về các vấn đề phụ nữ, giới và phát triển, những biểu hiện và những xu hướng biến đổi trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình có liên quan đến người phụ nữ; đồng thời thông qua những tài liệu, nghiên cứu mới nhất, đã khẳng định vai trò, vị trí của người phụ nữ trong sự nghiệp phát triển kinh tế -
xã hội ở nước ta và những kiến nghị nâng cao chính sách xã hội đối với phụ nữ xứng tầm thời đại
* Ba là, nhóm những công trình nghiên cứu khoa học, luận án, luận văn nghiên cứu về vấn đề phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực nữ chất lượng cao trong những năm gần đây
Trang 16Năm 2013, nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Giáng Hương đã bảo vệ thành
công Luận án tiến sĩ Triết học với đề tài Vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay, qua đó góp phần làm rõ thêm về nguồn
nhân lực nữ chất lượng cao và tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay Đồng thời phân tích thêm một số mâu thuẫn cơ bản từ tiếp cận giới trong việc phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao, đưa ra một số giải pháp thuộc về điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan nhằm phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay
Ngoài ra, từ góc độ triết học, tác giả Nguyễn Thị Tùng đã nghiên cứu
Vấn đề phát triển nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Nghệ An hiện nay Đây là luận án tiến sĩ triết học của tác giả bảo
vệ năm 2014, qua đó tác giả đã tập trung làm rõ vai trò của việc phát triển nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của cả nước nói chung và tỉnh Nghệ An nói riêng Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất quan điểm định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Nghệ An hiện nay
Như vậy, các công trình nghiên cứu, các tài liệu nêu trên đã có nhiều đóng góp to lớn về mặt khoa học, các tác giả đã làm tập trung làm sáng tỏ những cơ sở lý luận chung về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực nữ cũng như trí thức nữ,… và qua đó khẳng định vị trí, vai trò quyết định của nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Một số công trình nghiên cứu khoa học đã tập trung nghiên cứu về thực trạng, vai trò, vị thế của nguồn nhân lực nữ, nữ trí thức trong sự nghiệp đổi mới
và hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời làm rõ những quan điểm của Đảng ta về vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nói chung và nguồn nhân lực
nữ chất lượng cao nói riêng, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp, định hướng
Trang 17nhằm phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao trong thời gian tới
Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, đối với thành phố Long Xuyên, ít có công trình đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về nguồn nhân lực nữ chất lượng cao dưới góc độ triết học Với vị trí là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh An Giang, thành phố Long Xuyên có những đặc thù và tiềm năng để đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội cũng như phát triển nguồn nhân lực, nguồn nhân lực nữ chất lượng cao, thiết nghĩ đây là vấn đề có ý nghĩa
cả về lý luận và thực tiễn, cần được tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống
Vì vậy, chúng tôi mạnh dạn tiếp cận và nghiên cứu vấn đề này nhằm góp phần luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng Ngoài ra, nét mới trong đề tài luận văn này là đánh giá thực trạng, những nguyên nhân ảnh hưởng chủ quan và khách quan đến nguồn nhân lực nữ để từ đó, đề xuất những giải pháp phù hợp để phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao của thành phố Long Xuyên trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao Luận văn đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở thành phố Long Xuyên thời gian qua, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao đáp ứng quá trình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Long Xuyên
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Phụ nữ trong độ tuổi lao động ở thành phố Long
Xuyên
- Đối tượng nghiên cứu: Phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng
cao trong độ tuổi lao động trên địa bàn thành phố Long Xuyên
5 Giả thuyết khoa học
Trang 18Trong điều kiện xã hội ngày càng vận động phát triển, nếu kết hợp hài hòa các yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến nguồn nhân lực nữ chất lượng cao và quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng và có những giải pháp phù hợp, định hướng phát triển đúng đắn thì bên cạnh các nguồn lực khác, nguồn nhân lực nữ chất lượng cao sẽ góp phần to lớn vào quá trình xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội của thành phố, tạo đà cho thành phố đạt tiêu chí đô thị loại I vào năm 2020 và vươn lên trở thành một trong những trung tâm kinh tế của khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, tập trung phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát
triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở thành phố Long Xuyên
Thứ hai, phân tích những thành tựu và hạn chế của việc phát triển
nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở thành phố Long Xuyên hiện nay
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân
lực nữ chất lượng cao ở thành phố Long Xuyên trong thời gian tới
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao và những vấn đề đặt ra trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố Long Xuyên, qua số liệu thống kê nguồn nhân lực nữ chất lượng cao tham gia lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị và khoa học công nghệ từ năm 2010 đến 2015
8 Phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở những nguyên lý
cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người và phát triển con người
- Phương pháp nghiên cứu: Cùng với các nguyên tắc có ý nghĩa
phương pháp luận trong nghiên cứu lịch sử triết học, luận văn chủ yếu sử
Trang 19dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp: logic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa…
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận văn được kết cấu làm 02 chương và 06 tiết
10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
10.1 Những luận điểm cơ bản
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ có ý nghĩa quan trọng góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đất nước nói chung cũng như của thành phố Long Xuyên nói riêng
- Hoạt động phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở thành phố Long Xuyên thời gian qua đã có nhiều thành tựu nhưng vẫn còn một số hạn chế
do tác động của các nhân tố khách quan cũng như chủ quan Vì vậy, cần tìm hiểu, nghiên cứu để đề xuất các giải pháp phù hợp, kịp thời giải quyết các hạn chế nêu trên
10.2 Đóng góp mới của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ thêm về thực trạng nguồn nhân lực nữ chất lượng cao và một số vấn đề đặt ra từ thực trạng phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở thành phố Long Xuyên hiện nay
- Luận văn góp phần vào việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao, bổ sung thêm những
cơ sở khoa học có thể tham khảo trong định hướng chiến lược và chính sách
cụ thể liên quan đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở thành phố Long Xuyên hiện nay
- Đề xuất những giải pháp đặc thù, phù hợp với tình hình địa phương nhằm phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở thành phố Long Xuyên
Trang 20Theo Từ điển Tiếng Việt: Nguồn là nơi phát sinh, nơi cung cấp [56, tr.692] Nhân lực là sức của con người bao gồm: sức lực cơ bắp (thể lực),
trình độ tri thức được vận dụng vào quá trình lao động của mỗi cá nhân (trí lực), những ham muốn, hoài bão của bản thân người lao động hướng tới một
mục đích xác định (tâm lực) Nhân lực với ý nghĩa đầy đủ của nó bao gồm ba
yếu tố: Thể lực, trí lực và tâm lực Ba yếu tố đó có quan hệ biện chứng với nhau, trong đó, trí lực giữ vai trò quyết định, nhưng thể lực và tâm lực cũng đóng vai trò quan trọng như điều kiện cần thiết không thể thiếu đối với sự
phát triển của NNL Nguồn nhân lực được hiểu là nơi phát sinh, nguồn cung
cấp sức của con người trên đầy đủ các phương diện cho lao động sản xuất và quản lý [56, tr.710]
Theo Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương: “Nguồn nhân lực là
Trang 21tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”[55, tr.46]
Theo Liên Hợp Quốc: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng” [2, tr.3]
Giáo sư - Viện sĩ Phạm Minh Hạc cho rằng: Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng
để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó… [18, tr.323]
Theo tác giả Trần Thị Tâm Đan, nguồn lực con người là “tổng thể sức
dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người vào việc cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội” [12, tr.9]
Tác giả Nguyễn Thị Giáng Hương quan niệm rằng: “Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với các tiêu chí về thể lực, trí lực
và tâm lực tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ của xã hội” [22, tr.26]
Có thể nhận thấy các quan điểm trên tuy được diễn đạt bằng những ngôn từ khác nhau nhưng các tác giả đều xác định nguồn lực con người hay nguồn nhân lực là hệ thống các nhân tố cả về vật chất lẫn tinh thần của con người, có khả năng góp phần thúc đẩy quá trình cải biến xã hội của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Bởi vậy, nguồn lực con người chính là vốn quý, cùng với
Trang 22vốn tài nguyên sẵn có, tạo thành nguồn lực chính cho sự phát triển kinh tế - xã hội
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học và gắn với góc độ nghiên cứu đề tài, luận văn trình bày khái niệm
như sau: Nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động xã hội hiện có của một quốc gia, một địa phương, họ sử dụng thể lực, tinh thần, trình độ tri thức, phẩm chất đạo đức, tác phong lao động, của bản thân để tham gia vào quá trình sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước
Theo triết học Mác - Lênin, con người có vị trí và vai trò rất quan trọng đối với thế giới, và trong thực tế hiện nay thì con người là một lực lượng chủ đạo trong nền sản xuất xã hội Trong công cuộc đổi mới xã hội chỉ có con người - yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất của xã hội, là nhân tố chính, là nguồn lực mang tính quyết định sự thành công hay thất bại
Thấm nhuần tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lê nin về con người, trong
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội,
Đảng ta đã khẳng định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân Kết hợp và phát huy đầy đủ vai trò của xã hội, gia đình, nhà trường, từng tập thể lao động, các đoàn thể và cộng đồng dân cư trong việc chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khoẻ, lao động giỏi; sống có văn hoá, nghĩa tình; có tinh thần quốc tế chân chính” [14, tr.76]
Đặc biệt là, trong giai đoạn hiện nay đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi
Trang 23mới, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta thực hiện cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Ngoài những nhân tố quan trọng quyết định sự thành công, đó là vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của nhà nước, sự tham gia ủng hộ tích cực của các đoàn thể xã hội, chúng ta cần khẳng định rằng, yếu tố con người, nguồn nhân lực có vị trị rất quan trọng như trong văn kiện Đại hội XI của Đảng đã xác định khâu đột phá chiến lược:
“Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ” [14, tr.106] Kế thừa và phát triển tư tưởng Đại hội XI, Nghị quyết Đại hội XII tiếp tục xác định: “Tiếp tục thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ” [15, tr 432]
1.1.1.2.Nguồn nhân lực nữ
Đối với khái niệm nguồn nhân lực nữ, để có nhận thức rõ hơn về vai trò, vị trí của lực lượng hơn nửa dân số này, chúng ta cần hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp này, từ đó sẽ xây dựng chiến lược phát triển phù hợp tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia
Trước hết, theo nghĩa rộng, có thể hiểu nguồn nhân lực nữ là bộ phận dân số nữ có khả năng tham gia vào quá trình lao động xã hội Có thể nói, nhân lực nữ không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động nữ đã có và sẽ có mà còn bao gồm sức mạnh trí tuệ, thể chất, tinh thần của các cá nhân nữ trong một cộng đồng, quốc gia được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội
Trang 24Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực nữ với tư cách là lực lượng lao động của xã hội, bao gồm nhóm phụ nữ trong và trên tuổi lao động trở lên có khả năng lao động Theo quy định của pháp luật Việt Nam, độ tuổi nghỉ hưu của lao động nữ sớm hơn lao động nam 5 năm nên tỷ lệ lao động nữ luôn thấp hơn
Nghiên cứu về nguồn nhân lực nữ cần chú ý đến một số vấn đề sau:
Thứ nhất, việc quan niệm nguồn nhân lực nữ (rộng hay hẹp) chỉ mang
tính chất tương đối, phụ thuộc vào phạm vi điều chỉnh của chiến lược phát triển kinh tế- xã hội Còn với tư cách là phần nửa dân số và lực lượng lao động xã hội, vừa là người trực tiếp tái sản xuất ra nguồn nhân lực cho đất nước, phụ nữ luôn là vấn đề lớn đối với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của bất kỳ quốc gia nào
Thứ hai, nghiên cứu nguồn nhân lực nữ đòi hỏi phải có phương pháp
tiếp cận đúng đắn Phương pháp luận cơ bản trong việc nghiên cứu ở đây là xem xét mối quan hệ giữa cái chung (con người) và cái riêng (giới nam, giới nữ) Điều này là do chính đặc điểm của đối tượng nghiên cứu quy định
Là con người, nam giới và phụ nữ giống nhau - đều vừa là thực thể tự nhiên vừa là thực thể xã hội - nhưng họ có khác biệt về mặt tự nhiên - sinh học của cơ thể Những đặc điểm sinh học về giới tính là bẩm sinh và không thể thay đổi được Từ những đặc điểm sinh học, xét về mặt xã hội, phụ nữ
đảm nhiệm chức năng xã hội khác nam giới, đó là chức năng trực tiếp tái sản
xuất ra con người Từ đó nảy sinh những khó khăn, thuận lợi khác nhau giữa giới nam và giới nữ trong học tập, làm việc, sinh sống Phụ nữ thường gắn với con cái và gia đình Họ có những nhu cầu cấp thiết hơn nam giới về những dịch vụ y tế, dịch vụ gia đình, về điều kiện làm việc gần gia đình Sự phân biệt về giới tính giữa nam và nữ có tính tự nhiên, bẩm sinh Tuy nhiên, từ
Trang 25trong lịch sử kéo dài đến ngày nay đã tồn tại sự bất bình đẳng giữa nam và nữ trong đời sống xã hội và gia đình Phụ nữ thường được coi là người hiển nhiên phải chịu trách nhiệm và thích hợp với việc chăm sóc con cái, gia đình Những công việc này thường ít được nhìn nhận ở góc độ kinh tế Sự đánh giá thấp của xã hội về khả năng, giá trị của lao động nữ trong lao động sản xuất
đã giam hãm người phụ nữ ở địa vị thấp kém trong xã hội và gia đình với tất
cả những bất công và thiệt thòi
Tóm lại, NNLN là bộ phận cơ bản cấu thành nguồn nhân lực chung của
xã hội, việc nghiên cứu về phát triển NNLN cần phải tiếp cận từ góc độ chức năng tự nhiên, chức năng xã hội cũng như những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến lực lượng này để xây dựng được chiến lược phát triển NNLN một cách hiệu quả nhất, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước
1.1.1.3 Nguồn nhân lực nữ chất lượng cao
Về khái niệm NNLNCLC có nhiều điểm tương đồng như khái niệm trí thức nữ
PGS.TS Đỗ Thị Thạch cho rằng: Trí thức nữ là bộ phận quan trọng của đội ngũ trí thức đang tham gia trên tất cả các lĩnh vực: khoa học, công nghệ, lãnh đạo, quản lý, văn học nghệ thuật; là một bộ phận tiêu biểu của phụ nữ, có những phẩm chất, thiên chức của người phụ nữ như tinh thần cần cù, chịu khó, nhân hậu, đảm đang…và chức năng làm vợ, làm mẹ [47, tr.20]
Theo PGS.TS Hoàng Bá Thịnh, có thể định nghĩa trí thức nữ là những
người có trình độ cử nhân trở lên, làm công việc liên quan đến hoạt động trí tuệ và có tính sáng tạo, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị cho xã hội
Ngoài ra, khi đề cập đến đội ngũ trí thức nữ hay NNLNCLC còn có những thuật ngữ theo từng lĩnh vực chuyên môn, cụ thể như: Nhà bác học nữ,
Trang 26nhà khoa học nữ, nữ chuyên gia, nữ nghệ nhân, nữ công nhân kỹ thuật lành nghề…
Trên cơ sở góc độ nghiên cứu của đề tài, tác giả luận văn quan niệm
rằng: NNLNCLC là một bộ phận ưu tú nhất của NNLN, được đào tạo nghiêm túc, có kiến thức sâu rộng về một lĩnh vực nào đó, có trình độ, có phẩm chất đạo đức, có khả năng thích ứng với từng điều kiện lao động sản xuất mang lại năng suất hiệu quả lao động cao và có những đóng góp không nhỏ đối với sự nghiệp phát triển đất nước
1.1.2 Vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao
Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một tài nguyên, một nguồn lực Bởi vậy việc phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia Đầu tư cho con người là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững
NNLNCLC là một trong những nhân tố cấu thành nên NNL, cho nên để hiểu rõ về vấn đề phát triển NNLNCLC, trước hết cần phải nắm được khái niệm phát triển NNL
Có quan điểm cho rằng: Phát triển nguồn nhân lực tựu trung là gia tăng giá trị cho con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động
có những năng lực và phẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu
to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội [46, tr.105]
Có tác giả lại quan niệm: Phát triển nguồn nhân lực là quá trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt (thể lực, trí lực, tâm lực); đồng thời phân bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nhất nguồn nhân lực thông
Trang 27qua hệ thống phân công lao động và giải quyết việc làm để phát triển kinh tế-
xã hội
Theo quan niệm của Liên hiệp quốc, phát triển NNL bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống
Từ những quan điểm nêu trên, có thể định nghĩa rằng: Phát triển NNL, trước hết chính là sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực theo chiều hướng đi lên trên tất cả các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần; bên cạnh đó phát triển NNL cũng tạo ra sự biến đổi về cơ cấu nguồn nhân lực Nói một cách chung nhất, phát triển NNL chính là quá trình xây dựng đội ngũ nhân lực, sử dụng tất cả các khả năng hiện có của mỗi cá nhân một cách hiệu quả nhất để phát triển kinh tế - xã hội và hoàn thiện chính bản thân nguồn nhân lực đó
Vận dụng những lý luận chung về phát triển NNL vào phát triển
NNLNCLC, tác giả cho rằng: Phát triển NNLNCCL là quá trình nhằm hoàn thiện, xây dựng cơ cấu hợp lý, nâng cao cả số lượng cũng như chất lượng cho từng lao động nữ (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý - xã hội) và tạo ra sự bình đẳng giới để góp phần cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội
Các phương diện thể hiện phát triển NNLNCLC bao gồm: Phát triển về
số lượng và chất lượng; về số lượng được thể hiện ở quy mô dân số, cơ cấu về
giới và độ tuổi; về chất lượng là sự phát triển thể hiện ở cả ba phương diện:
thể lực, trí lực và tâm lực Phát triển thể lực là sự gia tăng chiều cao, trọng
lượng cơ thể, tuổi thọ, sức mạnh, sự dẻo dai cơ bắp và thần kinh Phát triển trí lực là phát triển năng lực trí tuệ của con người để nhằm đáp ứng yêu cầu của
của công việc đặt ra Phát triển tâm lực là phát triển những phẩm chất chính
trị, đạo đức, tác phong, lối sống lành mạnh tính tích cực hoạt động, tinh thần
Trang 28trách nhiệm công dân Ba phương diện trên có mối quan hệ mật thiết với nhau
không thể tách rời trong quá trình phát triển NNL
1.2.Tầm quan trọng và các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao
1.2.1 Tầm quan trọng của vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao
Một trong những luận điểm quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phụ nữ được nhìn nhận như một lực lượng cơ bản của cách mạng Phụ nữ còn được coi là nguồn lực to lớn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
“Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải làm gì? Nhất định phải tăng gia sản xuất thật nhiều Muốn sản xuất nhiều thì phải có nhiều sức lao động Muốn có nhiều sức lao động phải giải phóng sức lao động của phụ nữ" [37, tr.33] Từ
đó để thấy được tầm quan trọng của việc phát triển NNLNCLC, vai trò, vị trí của người phụ nữ trong xã hội từng bước được khẳng định
Thật vậy, ngay từ những ngày đầu mới thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn coi phụ nữ là động lực quan trọng của sự phát triển kinh tế - xã hội, để từ đó đề ra nhiều chủ trương, chính sách tạo điều kiện để xây dựng đội ngũ NNLNCLC phát triển ngày càng lớn mạnh, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Ngày nay, bên cạnh các nguồn lực khác, NNL mà đặc biệt là NNLNCLC giữ vị trí chiến lược trong kế hoạch xây dựng và phát triển đất nước, cho nên việc phát triển NNLNCLC có ý nghĩa hết sức quan trọng, thể hiện ở những điểm cụ thể sau:
Thứ nhất, NNLNCLC là nhân tố quan trọng hàng đầu đối với việc tái sản xuất con người Phát triển NNLNCLC sẽ tác động trực tiếp và lâu dài đến
sự phát triển kinh tế - xã hội và phát triển con người
Trang 29Một xã hội muốn tồn tại và phát triển cần phải dựa trên ba yếu tố cơ bản, đó là sản xuất ra của cải vật chất, sản xuất ra tinh thần và tái sản xuất ra bản thân con người Ba yếu tố này có mối quan hệ biện chứng với nhau Sản xuất vật chất, tinh thần là cơ sở của tái sản xuất con người Ngược lại, tái sản xuất con người lại là tiền đề của sản xuất vật chất, tinh thần Qua đó, có thể thấy được, vai trò của NNLNCLC đối với xã hội cũng phải được xét trên cả hai phương diện, thứ nhất, NNLNCLC tác động đến sự phát triển của xã hội thông qua các hoạt động sản xuất ra của cải vật chất, tinh thần của họ; thứ hai, phụ nữ tác động đến xã hội thông qua việc thực hiện chức năng trực tiếp tái sản xuất ra bản thân con người Chiếm phần nửa trong lực lượng lao động xã hội, nên đương nhiên phụ nữ giữ vai trò quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế
- xã hội
Trong thời đại ngày nay, tuy khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ cho phép chúng ta sinh sản ra con người một cách nhân tạo, nhưng việc tái sản xuất con người vẫn phải được thực hiện thông qua người phụ nữ, bởi vì việc tái sản xuất ra con người phải xét trên cả hai phương diện đó là tái sản xuất về mặt thể chất và tái sản xuất về mặt tinh thần Việc sản sinh ra một con người không chỉ đơn thuần là tạo ra một con người sinh học mà quan trọng hơn hết
là việc nuôi dưỡng, giáo dục và định hướng để trở thành người công dân có ích cho xã hội, và đảm nhận nhiệm vụ này không ai khác hơn chính là người phụ nữ
Ngoài ra, phát triển NNLNCLC còn ảnh hưởng tích cực đến chất lượng NNL trong tương lai Người mẹ có học vấn cao sẽ giáo dục con cái, chăm lo sức khỏe, đầu tư cho con được học hành một cách tốt nhất, tạo nguồn cung cấp NNL chất lượng cao cho xã hội
Trang 30Đồng thời, người phụ nữ có trình độ cao còn giáo dục để con mình tránh xa với các tệ nạn xã hội trở thành những công dân có ích cho xã hội Bên cạnh đó, với vai trò tổ chức các hoạt động gia đình, họ còn giúp các thành viên trong gia đình hưởng thụ những thành quả lao động của bản thân
và gia đình một cách khoa học, hợp lý, bổ ích góp phần tái sản xuất sức lao động và nâng cao chất lượng NNL
Như vậy, theo quan điểm phát triển hiện nay, NNLNCLC luôn tồn tại với hai tư cách: vừa là phụ nữ; vừa là NNLCLC Chính vì vậy, họ không chỉ
là lực lượng lao động quan trọng của xã hội, mà còn là lực lượng tái sản xuất
ra sức lao động có chất lượng cho xã hội, đây là chức năng đặc biệt của NNLNCLC, trải qua các thời đại, chức năng này ngày càng có vai trò quan trọng hàng đầu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội “Chất lượng của tái sản xuất xã hội được thực hiện thông qua người phụ nữ là yếu tố chủ yếu của phát triển nguồn nhân lực và hơn nữa là nguồn đầu tư đặc biệt dài hạn” [58, tr.26]
Thứ hai, NNLNCLCchiếm hơn phần nửa dân số, là lực lượng lao động chủ yếu của xã hội Phát triển NNLNCLC sẽ tạo động lực cho sự phát triển nền kinh tế của đất nước
Một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nền kinh tế của nước
ta là NNLCLC, trong đó không thể thiếu sự đóng góp của NNLNCLC Ta thấy, trong quan hệ với các nguồn lực khác như môi trường, tài nguyên, khoáng sản, thì NNL mà trong đó NNLCLC đóng vai trò quyết định nhất đến
sự phát triển của các quốc gia trong thời đại ngày nay Bởi lẽ, các nguồn lực khác dù có phong phú đa dạng đến đâu thì bản thân nó không thể tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội nên chưa trở thành động lực cho sự phát triển Các nguồn lực đó chỉ có tác dụng và trở thành động lực cho sự phát triển khi có sự tác động của bàn tay, khối óc của con người Như Lênin đã
Trang 31từng khẳng định sự vượt trội của con người so với các yếu tố khác trong quá trình sản xuất: “Trong khi vật chất có thể bị phá hủy hoàn toàn thì các kỹ năng của con người như công nghệ, bí quyết tổ chức và nghị lực làm việc sẽ còn mãi” [30, tr.30] Cho nên, chính con người, với sức mạnh và trí tuệ của mình là yếu tố quyết định hiệu quả của việc khai thác, sử dụng và phát triển các nguồn lực khác
Ngày nay, vai trò của NNLNCLC càng thể hiện rõ hơn trong nền kinh
tế tri thức và và hội nhập kinh tế quốc tế Bất kỳ quốc gia nào trên thế giới trong quá trình phát triển đều phải tính đến sự đóng góp của NNLN, đặc biệt
là NNLNCLC Ngày nay, NNLNCLC cũng đã tiên phong đi đầu tham gia vào nhiều lĩnh vực khó khăn và mang lại nhiều kết quả tích cực Chẳng hạn như trong lĩnh vực nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ, lãnh đạo, quản
lý Đây được xem là yếu tố quan trọng quyết định đối với sự tăng trưởng kinh
tế bền vững và đánh dấu sự tiến bộ xã hội của đất nước
Bên cạnh đó, với tư cách là một bộ phận của dân số, NNLNCLC thường trực tiếp tiêu dùng các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ nhiều hơn NNL
nam, nên họ tạo ra nhu cầu kích thích sản xuất, thúc đẩy kinh tế phát triển Đồng thời, với tư cách là nguồn lực, NNLNCLC trực tiếp tạo ra cung cho nền
kinh tế NNLNCLC đã và luôn là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nền kinh tế của đất nước
Thứ ba, NNLNCLC có vai trò quan trọng trong việc sáng tạo, giữ gìn
và phát triển văn hoá dân tộc
Nếu kinh tế là nền tảng vật chất của đời sống xã hội thì văn hoá là nền tảng tinh thần của đời sống ấy, và vì thế, hai lĩnh vực đó luôn luôn giữ vị trí quan trọng và quyết định đối với sự vận động và phát triển của xã hội Với vai trò là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá có khả năng
Trang 32to lớn trong việc khơi dậy, nhân lên mọi tiềm năng, phát triển sức sáng tạo của con người, tạo ra nguồn lực nội sinh quyết định sự phát triển của CNH, HĐH
Có thể nói, từ xưa đến nay, người phụ nữ nói chung và NNLNCLC nói riêng luôn giữ vai trò quan trọng trong việc sáng tạo, truyền thụ, giữ gìn
và phát triển văn hoá Điều này xuất phát từ vai trò trọng yếu của họ trong nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo tồn và phát triển giống nòi đất nước Họ là những người giữ gìn, truyền thụ những giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc từ thế hệ này qua thế hệ khác bằng những lời ru, những truyện cổ dân gian, những khúc đồng dao đến những tục lệ tốt đẹp Chính trong cuộc sống đa dạng thường ngày, trong sản xuất, trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, trong nuôi dạy con cái, người phụ nữ đã sáng tạo, truyền đạt, giữ gìn và phát huy những giá trị tốt đẹp của văn hoá Việt Nam Họ đóng góp, làm giàu nền văn hoá đó cho dù họ không biết hay ít biết làm thơ, viết chuyện, họ bảo vệ nền văn hoá đó trước mọi mưu đồ đồng hoá của các kẻ thù xâm lược… “Họ đã giữ gìn, xây dựng nhân cách con người Việt Nam qua tấm gương sống và làm việc của bản thân” [48, tr 56]
NNLNCLC còn có công lao to lớn trong việc nuôi dưỡng, giáo dục con cái, đóng góp những công dân có ích cho xã hội và đất nước, góp phần xây dựng con người Việt Nam có những phẩm chất, đạo đức tốt đẹp như tinh thần yêu nước, đoàn kết, lòng tự hào dân tộc, lòng nhân ái, cần cù, thông minh, sáng tạo trong lao động, tình nghĩa chung thuỷ giữa vợ và chồng, lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ, lòng kính trọng biết ơn người già… Ngoài
ra, họ còn đóng vai trò quan trọng đối với việc xây dựng, củng cố những quan
hệ tốt đẹp giữa người với người, nhờ đó xã hội Việt Nam còn giữ được nếp sống có nghĩa, có tình, có trước, có sau, quan tâm giúp đỡ nhau lúc khó khăn hoạn nạn…
Trang 33Thứ tư, phát triển NNLNCLC góp phần thực hiện mục tiêu bình đẳng giới
Theo thống kê, phụ nữ chiếm khoảng ½ dân số và có vị trí, vai trò đặc biệt trong lực lượng lao động do cần cù, khéo léo hơn lao động nam Tuy nhiên, vai trò của phụ nữ trong dây chuyền sản xuất luôn bị xem nhẹ do đặc điểm về thể chất cũng như tính chất đặc thù của một số công việc nhất định trong xã hội Vì vậy, nâng cao chất lượng NNLN có ý nghĩa quan trọng góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đất nước và đây cũng
là nền tảng để tiến tới bình đẳng giới, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội
Hiện nay, NNLNCLC đã dần có một vị thế nhất định trong lực lượng sản xuất và có một số NNLNCLC đạt được các vị trí cao trong bộ máy nhà nước và trong xã hội Để đạt được điều này, NNLNCLC đã phải cố gắng gấp nhiều lần so với nam giới vì các yếu tố chủ quan lẫn khách quan Nhưng nhìn chung, việc những NNLCLC đạt được những vị thế cao trong xã hội dẫn đến
vị trí của người phụ nữ trong xã hội được nâng cao
Thực tế hiện nay, khi nhận những nhiệm vụ mà tưởng như phải do nam giới đảm nhiệm mới có thể hoàn thành được thì NNLNCLC vẫn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao mặc dù về điều kiện thì người phụ nữ hầu như phải thực hiện nhiều hơn so với nam giới do các đặc điểm về giới trong
xã hội hiện nay Từ đó cho thấy, việc phát triển NNLNCLC là cần thiết để giảm đi áp lực cho người phụ nữ và tiến tới thực hiện bình đẳng giới một cách
có hiệu quả, có định hướng và lâu dài
Từ những kết quả, những đóng góp cho xã hội mà NNLNCLC đã đạt được, đã chứng minh NNLNCLC có thể tham gia thực hiện mọi công việc trong mọi lĩnh vực và sẽ đạt được nhiều thành công hơn nam giới Bởi vì, ngoài những phẩm chất có được như nam giới, NNLNCLC còn có nhiều
Trang 34phẩm chất nổi trội hơn như có sự kiên nhẫn, cần cù, chịu khó… Ngoài ra, càng có nhiều thách thức, khó khăn thì NNLNCLC càng có động lực mãnh liệt để vượt qua Đây là phẩm chất đặc biệt mà hiếm khi nam giới có được
Do đó, ta có thể thấy, một số vị trí quan trọng trong lĩnh vực chính trị cũng như trong đời sống đều có NNLNCLC lãnh đạo như bà Angela Merkel - Thủ tướng Đức, bà Nguyễn Thị Kim Ngân - Chủ tịch Quốc hội Việt Nam… Do
đó, chúng ta có thể khẳng định rằng, việc phát triển NNLNCLC là cần thiết và quan trọng hàng đầu trong quá trình phát triển và đổi mới đất nước để có thể khai thác và sử dụng toàn bộ những phẩm chất, năng lực của NNLNCLC
Ngoài ra, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định “tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường” [14, tr.316] Như vậy, để thực hiện được mục tiêu này ta không thể không phát huy vai trò tích cực của NNLNCLC để làm một trong những nền tảng thực hiện Nghị quyết của Đảng
Mặt khác, việc phát triển NNLNCLC sẽ gắn với việc phát triển bình đẳng giới bền vững và chính từ kết quả đạt được sẽ là bước đệm để chúng ta giới thiệu về người phụ nữ Việt Nam nói chung, NNLNCLC nói riêng đến bạn bè năm châu để hiểu thêm về những đặc trưng không nơi nào có được của phụ nữ Việt Nam và chứng minh nước ta là nước đi đầu trong thực hiện bình đẳng giới
Tóm lại, NNLNCLC có vai trò quan trọng đối với sự phát triển đất nước Nhìn nhận về vai trò của phụ nữ, trong đó có NNLNCLC, Nghị quyết
số 04-NQ/TW, ngày 12/7/1993 của Bộ Chính trị (khoá VIII) đã khẳng định một quan điểm mới và khá toàn diện: “Phụ nữ vừa là người lao động, vừa là người công dân, vừa là người mẹ, người thầy đầu tiên của con người Khả năng và điều kiện lao động, trình độ văn hoá, vị trí xã hội, đời sống vật chất
Trang 35và tinh thần của phụ nữ có ảnh hưởng sâu xa đến sự phát triển của thế hệ tương lai” [41, tr.4] Việc phát triển NNLNCLC vì thế, sẽ tạo ra động lực phát triển xã hội, thúc đẩy bước tiến của dân tộc cả về cơ sở vật chất và cuộc sống văn hoá tinh thần
1.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao
Vấn đề phát triển NNLNCLC thực chất là quá trình một mặt dựa vào năng lực chủ quan của con người, một mặt dựa vào những nhân tố khách quan tác động tới sự tồn tại và phát triển của con người Có thể thấy những nhân tố
cơ bản sau đây thường xuyên tác động đến việc phát triển NNLNCLC:
Thứ nhất, nhân tố tự nhiên - sinh học có tác động rất lớn đến thể lực và trí lực của NNLNCLC
So với nam giới, phụ nữ có nhiều trở ngại về sức khỏe, phụ nữ được xem là chân yếu tay mềm với nhiều hạn chế về thể lực cũng như độ dẻo dai, điều đóảnh hưởng phần nào đến công việc xã hội cũng như trong gia đình Hơn nữa, NNLN nói chung và NNLNCLC nói riêng đều phải thực hiện thiên chức sinh con và nuôi dưỡng con cái để duy trì và phát triển giống nòi, việc này sẽ tiêu tốn của NNLNCLC rất nhiều thời gian và sức khỏe Chính vì vậy, phát triển NNLNCLC cần phải thấy được những đặc điểm riêng về mặt tự nhiên - sinh học của phụ nữ để có những giải pháp và chính sách xã hội hợp
lý, đảm bảo phát triển được thế mạnh và phù hợp với mặt sinh học của NNLNCLC
Thứ hai là nhân tố giáo dục - đào tạo
Giáo dục và đào tạo giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành, phát triển trí tuệ và nhân cách của con người nên nhân tố này đang được xem là phương thức phát triển nhanh chất lượng NNL Giáo dục là nền tảng để phát
Trang 36triển các kỹ năng cần thiết giúp NNL tham gia vào các hoạt động kinh tế có hàm lượng chất xám cao Những ai không điều kiện tiếp cận đến giáo dục có nguy cơ bị loại khỏi cơ hội mới, tụt hậu
Đối với NNLNCLC, sự tác động của giáo dục - đào tạo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì không chỉ liên quan đến một nửa nguồn nhân lực của xã hội
mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển của lực lượng lao động trong tương lai NNLNCLC được giáo dục đầy đủ và ở bậc cao thì họ sẽ có đầy đủ kiến thức
để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mình tốt hơn sẽ cung cấp NNL có chất lượng cho đất nước
Ngoài ra, giáo dục còn giúp nâng cao khả năng nhận thức của xã hội về vai trò, vị trí của người phụ nữ được cải thiện, góp phần xóa bỏ những tư tưởng lạc hậu ăn sâu bám rễ đó là “trọng nam khinh nữ”, đây là một trong những rào cản lớn ảnh hưởng đến việc phát triển đội ngũ nhân lực nữ
Tóm lại, Nghị quyết số 29 của Hội nghị Trung ương 8, khóa XI, khẳng định yếu tố giáo dục trong phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là NNLNCLC không chỉ là quốc sách hàng đầu, là “chìa khóa” mở ra con đường đưa đất nước tiến lên phía trước, mà còn là “mệnh lệnh” của cuộc sống.Việt Nam phải kiên trì thực hiện chủ trương coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu thì việc giảm khoảng cách giới trong giáo dục đào tạo đặc biệt là giáo dục bậc cao sẽ thúc đẩy sự phát triển toàn diện và nâng cao chất lượng NNL của đất nước, trong đó có NNLNCLC trước mắt cũng như lâu dài
Thứ ba, việc sử dụng lao động là một nhân tố rất quan trọng để phát huy tiềm năng tri thức và kỹ năng của NNLNCLC
Nếu NNLNCLC được bố trí đúng ngành nghề và trình độ thì họ sẽ phát huy được tài năng trí tuệ, tay nghề và ra sức phấn đấu vươn lên về mọi mặt
Sử dụng NNLNCLC hợp lý sẽ tạo ra môi trường phù hợp cho họ phát triển
Trang 37nhanh chóng Ngược lại, nếu sử dụng không hợp lý sẽ làm cho NNLNCLC bị hạn chế thậm chí thui chột khả năng lao động của mình
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, việc sử dụng NNLNCLC sao cho hợp lý và hiệu quả là một trong những vấn đề rất phức tạp Đặc biệt, trong quá trình sử dụng và đãi ngộ NNLNCLC phải chú ý đến đặc điểm sinh học của phụ nữ, họ vừa có chức năng lao động như nam giới, vừa có chức năng tái sản xuất con người, phải tính đến tiêu hao sức lực và thời gian của NNLNCLC trong việc thực hiện chức năng thứ hai một cách hợp lý để họ có điểm xuất phát ngang bằng với nam giới trong nền kinh tế thị trường Đồng thời, phải tạo điều kiện thuận lợi cho họ phát triển ngang bằng với nam giới
về cơ hội đóng góp, thăng tiến và thụ hưởng thành quả lao động Quy trình tuyển dụng, đề bạt bổ nhiệm, luân chuyển, khen thưởng phải tạo được sự công bằng, khách quan giữa nam và nữ Khi sử dụng NNLNCLC phải khai thác tiềm năng sẵn có của họ tránh lãng phí cho gia đình và xã hội
Thứ tư, chính sách xã hội là một trong những nhân tố tác động trực tiếp đến việc phát triển NNLNCLC
Trong công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, việc chăm lo phát triển nguồn lực con người là một yếu tố quyết định thành công của công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN ở Việt Nam Chăm lo phát triển nguồn lực con người hướng vào cả nam và nữ với các tiêu chí: phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tình cảm và đạo đức Một trong những nhân tố chủ quan quan trọng có tác động trực tiếp đến việc phát triển con người, phát triển NNL, đặc biệt NNLNCLC là chính sách xã hội
Trang 38Chính sách xã hội là một công cụ không thể thiếu của Nhà nước nhằm quản lý và điều chỉnh các mối quan hệ xoay quanh giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội Nếu có chính sách xã hội đúng đắn, phù hợp với sự phát triển bình đẳng đối với cả nam và nữ, thì sẽ là động lực to lớn khơi dậy tiềm năng, sức sáng tạo của con người, đặc biệt của NNLNCLC Chính sách xã hội đúng đắn, phù hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho NNLNCLC say mê lao động, phát triển khả năng sáng tạo của mình đóng góp cho sự phát triển của cá nhân và cộng đồng xã hội Ngược lại, nếu hệ thống chính sách xã hội không đảm bảo sự phát triển bình đẳng giới, thiếu đồng bộ thì nó sẽ trở thành rào cản kìm hãm năng lực và tư duy sáng tạo của NNLNCLC làm cho họ không có cơ hội được đóng góp sức mình cho sự phát triển của đất nước, nó tạo điều kiện cho sự phát triển thiên lệch của hai giới trong mục tiêu chung
Như vậy, do những đặc điểm sinh học và trở ngại về giới tính nên NNLNCLC thường chịu những thiệt thòi hơn so với nam giới về thời gian cống hiến và cơ hội thăng tiến Chính vì vậy, vấn đề quan trọng là phải thiết lập được môi trường pháp lý thuận lợi, chính sách xã hội phù hợp để giúp xóa
bỏ rào cản cũng như tạo những điều kiện thích hợp để NNLNCLC có thể nâng cao tính tích cực và khả năng sáng tạo của mình một cách hiệu quả nhất
Thứ năm, nhân tố truyền thống văn hoá dân tộc có tác động rất lớn đến phát triển NNLNCLC - nhất là về mặt tinh thần
Các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc là nhân tố quan trọng, là môi trường lành mạnh để hình thành và phát triển nguồn lực con người Một dân tộc, một quốc gia có truyền thống tốt, những tập quán lành mạnh, có nền văn hoá phát triển cao thì đó chính là tiền đề để xây dựng một nguồn nhân lực vừa
có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, vừa có thái độ, tinh thần, tác phong làm việc tốt Ngược lại, nếu một dân tộc, một quốc gia có những phong tục, tập
Trang 39quán lạc hậu thì sẽ kìm hãm sự vươn lên của chính quốc gia, dân tộc đó Mặt khác, những đặc trưng văn hoá - xã hội của một dân tộc còn là cơ sở cho việc
sử dụng nguồn nhân lực hợp lý và hiệu quả cao
Chúng ta thường hay nhắc tới truyền thống yêu nước, cần cù, thông minh, sáng tạo trong lao động và những phẩm chất trung hậu, đảm đang, kiên cường của phụ nữ Việt Nam Những truyền thống quý báu và phẩm chất tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam chính là sức mạnh, là điểm tựa tinh thần để phụ nữ vươn lên đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của sự phát triển kinh tế - xã hội trong sự nghiệp đổi mới đất nước Liên quan đến việc phát triển nguồn nhân lực nữ hiện nay, bên cạnh việc phát huy các giá trị văn hoá, truyền thống dân tộc đề cao vai trò của phụ nữ, quan tâm đến sự phát triển của phụ nữ, thì phải loại bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu, lối tư duy theo kiểu “trọng nam, khinh nữ” để tạo điều kiện cho sự phát triển mọi mặt của phụ nữ vì mục tiêu phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội
Bên cạnh những nguyên nhân khách quan kể trên, một nguyên nhân khác làm ảnh hưởng đến việc phát huy vai trò của người phụ nữ, đó là sự mặc cảm, tự ti, an phận của chính bản thân người phụ nữ Một bộ phận phụ nữ không tự vượt lên khỏi những thành kiến lạc hậu, “tự trói chặt mình” vào trong vai trò nội trợ, nuôi con, phụ thuộc vào người chồng, mặc dù họ hoàn toàn có khả năng tham gia tốt vào các hoạt động chính trị, xã hội
Thứ sáu, gia đình là nhân tố liên quan mật thiết và tác động thường xuyên đến phát triển NNLNCLC
Dựa trên quan niệm duy vật về lịch sử, Ph.Ăngghen đã xem xét, nghiên cứu sự phát triển gia đình trong sự phát triển của sản xuất vật chất Ông cho rằng, “… nhân tố quyết định trong lịch sử, quy đến cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp Nhưng bản thân sự sản xuất đó lại có hai loại
Trang 40Một mặt là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt…; mặt khác là sự sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi giống Những trật tự xã hội là do hai loại sản xuất đó quyết định: một mặt là do trình độ phát triển của lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình [34, tr.44] Luận điểm trên của Ph.Ăngghen đã chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của sản xuất
và sự phát triển của gia đình; trong đó, các quan hệ gia đình bị chi phối bởi sự phát triển của sản xuất và ngược lại, các quan hệ gia đình có ảnh hưởng đến các quan hệ xã hội
Về mặt tâm lý truyền thống, dù là nhà khoa học hay người lao động bình thường, người phụ nữ khi đã xây dựng gia đình thường hết lòng vì gia đình, sẵn sàng hy sinh cho chồng con, đôi khi từ bỏ cả sự nghiệp để bảo vệ hạnh phúc gia đình Họ chịu sự chi phối của chồng và họ cho rằng phụ nữ phải chăm lo cho gia đình, nam giới có thu nhập cao họ thường yêu cầu người phụ nữ ở nhà hoặc làm những công việc bán thời gian để có thời gian chăm lo cho gia đình Những phụ nữ đã lập gia đình thường không có thời gian để học tập nâng cao trình độ và chuyên môn vì vậy ảnh hưởng đến sự phát triển NNLNCLC
Tóm lại, việc phát triển NNLNCLC chủ yếu chịu sự tác động của các
nhân tố trên Mỗi một nhân tố tác động đến từng mặt của NNLN Tuy nhiên,
do các đặc điểm về giới nên phụ nữ thường phải chịu những tác động tiêu cực nhiều hơn nam giới Vì thế khi xem xét, đánh giá, xây dựng chiến lược phát triển NNLNCLC cần phải phân tích đầy đủ và sử dụng tổng hợp tất cả các nhân tố này