Bên cạnh những mặt tích cực, cũng có một số mặt hạn chế, tiêu cực; đôi khi con người bị cuốn vào vòng xoáy của nền kinh tế thị trường, chạy theo lợi nhuận kinh tế, nhiều giá trị đạo đức
Trang 1
PHẠM THỊ MINH
NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
PHẠM THỊ MINH
NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ HIỆN NAY
Chuyên ngành : Triết học
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của
riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hoàng Thúc Lân Các dẫn chứng trong luận văn hoàn toàn trung thực, đảm bảo
tính khách quan, khoa học dựa trên kết quả thu thập từ các tư liệu và tài liệu tham khảo có trích nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, tháng 6 năm 2017
Học viên
Phạm Thị Minh
Trang 4Để hoàn thành được luận văn của mình, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ của các thầy cô giáo Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội và Trường Đại học An Giang Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các thầy
cô giáo trong khoa Triết học, các phòng ban chức năng, Trường Đại học
Sư Phạm Hà Nội; phòng Đào tạo Trường Đại học An Giang Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Hoàng Thúc Lân, người đã dành cho tôi sự quan tâm chu đáo, sự hướng dẫn tận tình và những chỉ bảo quý báu trong quá trình làm luận văn tốt nghiệp
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến cơ quan, gia đình, bạn bè
và những người thân đã tạo điều kiện, động lực giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ của mình
Với khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, thời gian và kiến thức còn hạn chế nhưng bằng sự nỗ lực của bản thân và nhận được sự ủng hộ, động viên của quý thầy cô giáo đặc biệt là thầy hướng dẫn, tôi đã hoàn thành luận văn đúng thời hạn Song, không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến để luận văn của tôi hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng năm 2017
Học viên
Phạm Thị Minh
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 3
3 Mục đích nghiên cứu 8
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 8
5 Giả thuyết khoa học 8
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 9
8 Phương pháp nghiên cứu 9
9 Cấu trúc luận văn 9
10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn 10
NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1: NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 11
1.1 Cơ sở lý luận 11
1.1.1 Nhân sinh và nhân sinh quan 11
1.1.2 Nhân sinh quan Phật giáo 12
1.1.3 Sinh viên và sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ 13
1.2 Cơ sở thực tiễn 19
1.2.1 Hoàn cảnh ra đời của Phật giáo 19
1.2.2 Sự du nhập và đặc điểm của Phật giáo Việt Nam 20
1.3 Nội dung cơ bản của nhân sinh quan Phật giáo 24
1.3.1 Quan niệm của Phật giáo về cấu tạo con người 24
1.3.2 Tư tưởng luân hồi – nghiệp báo 25
1.3.3 Tứ diệu đế trong quan niệm nhân sinh của Phật giáo 28
1.4 Tính hai mặt của nhân sinh quan Phật giáo 38
1.4.1 Tính tích cực 38
1.4.2 Tính tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo 46
Trang 6CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO ĐỐI
VỚI SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ HIỆN
NAY - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 51
2.1 Thực trạng ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đối với sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ hiện nay 51
2.1.1 Ảnh hưởng tích cực của nhân sinh quan Phật giáo đối với sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ hiện nay và nguyên nhân của nó 51
2.1.2 Ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo đến sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ hiện nay và nguyên nhân của nó 82
2.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của Phật giáo đến sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ hiện nay 93
2.2.1 Nhóm giải pháp từ phía sinh viên 93
2.2.2 Nhóm giải pháp về phía nhà trường 96
2.2.3 Nhóm giải pháp từ phía gia đình 101
2.2.4 Nhóm giải pháp từ phía Xã hội 102
Tiểu kết Chương 2 105
KẾT LUẬN 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 7Cùng với Nho giáo, Đạo giáo thì Phật giáo là một trong những tôn giáo
đã có quá trình tồn tại, phát triển bền vững và có sức ảnh hưởng lớn đối với đời sống tinh thần của người dân Việt Nam Nhân sinh quan Phật giáo là hệ thống quan niệm chung nhất của Phật giáo về nguồn gốc, bản chất, cấu tạo con người và cuộc đời con người là khổ, chỉ ra nguyên nhân và con đường thoát khổ bằng việc hướng thiện, tránh ác, tu nhân, tích đức, gột rửa thân tâm, thực hành ngũ giới, thập thiện, bát chính đạo Vì vậy, ngay từ những năm đầu du nhập vào Việt Nam, Phật giáo đã thấm sâu vào lòng người, tạo một chỗ đứng vững chắc, lâu bền trong lòng các thế hệ người dân Việt Nam
Trải qua hàng nghìn năm tồn tại và phát triển cùng dân tộc, Phật giáo luôn có mặt và gắn bó mật thiết với đời sống, tinh thần người Việt Vì vậy, nó
có những ảnh hưởng nhất định đến lịch sử, văn hóa - xã hội và con người Việt Nam trong đó ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đạo đức và lối sống có phần nổi trội hơn Nhân sinh quan Phật giáo luôn chứa đựng tính nhân văn sâu sắc; với tinh thần từ, bi, bác ái, cứu nhân, độ thế, giải thoát con người khỏi nỗi khổ trầm luân, hướng đến hạnh phúc của chúng sinh Phật giáo
đã khơi dậy và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, cảm hóa và hướng con người đến niềm tin chân chính bằng cái tâm từ, bi, trí tuệ, hành thiện và tránh ác
Sinh viên nói chung, sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ nói riêng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong công cuộc bảo vệ, xây dựng, phát triển đất nước; bởi vì, họ là những chủ nhân tương lai của đất nước, sẽ trở
thành nguồn nhân lực y tế, là người “Thầy thuốc” trong tương lai, phụ trách
công tác bảo vệ sức khỏe và tính mạng cho nhân dân
Nghề y được coi là một trong những nghề cao quý và đặc biệt quan trọng, nghề tạo phúc cho con người, do liên quan trực tiếp đến sức khỏe và
Trang 8tính mạng của con người Vì vậy, cùng với việc học tập kiến thức khoa học nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thì việc trau dồi, rèn luyện đạo đức, tác phong, đạo đức nghề nghiệp là vô cùng quan trọng và hết sức cần thiết đối với sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, góp phần hình thành nhân
cách người cán bộ y tế trong tương lai “vừa hồng, vừa chuyên”, vừa sáng ngời
“y đạo”
Đất nước đang trong quá trình hội nhập và phát triển, nền kinh tế thị trường đã và đang làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội, trong đó có công tác y tế Bên cạnh những mặt tích cực, cũng có một số mặt hạn chế, tiêu cực; đôi khi con người bị cuốn vào vòng xoáy của nền kinh tế thị trường, chạy theo lợi nhuận kinh tế, nhiều giá trị đạo đức đã và đang bị xuống cấp; con người đang đứng trước nguy cơ suy thoái về đạo đức, hoang mang, hoài nghi với những giá trị cuộc sống và dần quên đi những giá trị đạo đức truyền thống, làm ảnh hưởng đến đời sống tinh thần xã hội trong đó có một bộ phận sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Hiện tượng suy thoái đạo đức trong một bộ phận sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ biểu hiện ở thái độ thiếu niềm nở, thiếu lịch sự trong giao tiếp với bệnh nhân, thiếu tôn trọng quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của con người, thờ ơ với nỗi đau của người bệnh Bên cạnh đó còn có việc viện cớ chế độ chính sách y tế còn nhiều bất cập mà gây khó khăn trong thăm khám và điều trị hoặc vòi vĩnh quà cáp và tiền của người bệnh Ngoài ra trong việc học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật tay nghề, một số sinh viên chưa có ý thức tự học tập, còn chây lười, vi phạm nội quy của Trường, đi học không đúng giờ, thi lại nhiều môn, học tủ, học lệch Thậm chí, trong quá trình học tập tại các bệnh viện thực hành, một số sinh viên chưa thực hiện đúng nội quy, quy định của bệnh viện, quy chế của chuyên môn làm ảnh hưởng đến hình ảnh sinh viên nhà trường nói riêng và hình ảnh người thầy thuốc trong tương lai nói chung
Trang 9Có thể nói, nhân sinh quan Phật giáo mang đậm giá trị nhân văn sâu sắc, phù hợp với đạo đức truyền thống của dân tộc và đạo đức nghề y Với tinh thần từ ái, hiếu sinh, cứu khổ, cứu nạn, giải thoát khổ đau; triết lý nhân sinh luân hồi, nghiệp báo và luật nhân quả như “gieo nhân nào thì gặt quả ấy” (kiếp trước làm nhiều điều ác thì kiếp sau sẽ bị báo ứng) đã ảnh hưởng nhất định đối với đạo đức, nhân cách của sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ Điều đó được thể hiện qua những hoạt động thường ngày, bằng thái độ tích cực học tập, rèn luyện nâng cao trình độ nhận thức văn hóa, khoa học, kỹ thuật cùng với ý thức tham gia các hoạt động thiện nguyện do Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên và các câu lạc bộ, đội nhóm tổ chức,… góp phần ổn định tư tưởng chính trị, đạo đức cách mạng, góp phần xây dựng, phát triển nhà trường và xã hội Trong bối cảnh hiện nay, việc nghiên cứu để tìm ra những tác động tích cực và tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo đối với sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ là việc làm vô cùng cấp thiết
và quan trọng
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Nhân sinh quan Phật
giáo và ảnh hưởng của nó đối với sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ hiện nay” làm luận văn thạc sĩ triết học
2 Lịch sử nghiên cứu
Nghiên cứu về Phật giáo nói chung, nhân sinh quan Phật giáo nói riêng
ở nước ta đã có nhiều tác giả quan tâm Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, tìm hiểu, nguồn gốc lịch sử hình thành và phát triển của Phật giáo nói chung Phật giáo Việt Nam nói riêng Các tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu về nhân sinh quan Phật giáo, đạo đức Phật giáo, ảnh hưởng của nó đối với các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Có thể khái quát các công trình nghiên cứu về nhân sinh quan Phật giáo, đạo đức Phật giáo theo các nhóm sau:
Trang 102.1 Nhóm nghiên cứu về Phật giáo và Phật giáo ở Việt Nam
Công trình Lược khảo Phật giáo Ấn Độ (1957) của Lương Khải Siêu đã
trình bày khái quát quá trình ra đời của Phật giáo trong xã hội Ấn Độ, chứng minh những lý luận của Đức Phật là “một giáo lý trung dung thực tiễn” [46, tr.52] Trên cách tiếp cận triết học, tác giả đã phân tích nhân duyên, nghiệp và luân hồi, vô thường và vô ngã, giải thoát và niết bàn Trong các nội dung khai thác, tác giả luôn xây dựng đường hướng nhân sinh tu tập cho Phật tử đến hai con đường là Huệ giải thoát và Tâm giải thoát, để có lối sống tốt đẹp hướng đến cái đích cuối là sự giải thoát
Với công trình, Thế giới quan Phật giáo (1967), Thích Mật Thể đã
trình bày cụ thể về vấn đề nhân sinh, bản thể luận của Phật giáo Trong công trình này, tác giả đã phân tích rất cụ thể về luân lý theo quan niệm của Phật giáo Hệ thống luân lý đó được xem như là hệ thống giáo dục Phật giáo và chỉ
có ý nghĩa khi con người đã tự mình giác ngộ Hệ thống đó bao gồm những gì thuộc về hành vi của con người, nó gắn liền với các mặt đối lập về tốt - xấu, đúng - sai, phúc đức - tội lỗi… và hướng con người tự giác ngộ và giải thoát
Trong cuốn Việt Nam Phật giáo sử luận (1994) của tác giả Nguyễn
Lang, đã giới thiệu về lịch sử Phật giáo Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, khái quát được một số đóng góp của Phật giáo trong từng thời kỳ lịch
sử của dân tộc, vai trò của các thiền sư trong công cuộc dựng nước và giữ nước của các triều đại phong kiến Việt Nam Đặc biệt, tác giả đã phân tích ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống, văn hóa, tinh thần của người dân Việt Nam
Cuốn sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam (1998) do Nguyễn Tài Thư (chủ
biên), các tác giả đã bàn về lịch sử du nhập và quá trình phát triển của Phật giáo, phân tích những tư tưởng cơ bản của Phật giáo trong quá trình hình
Trang 11thành và phát triển, từ đó thấy được vai trò của Phật giáo đối với tư tưởng chính trị, đời sống văn hóa của dân tộc Việt Nam
Công trình Tôn giáo và lịch sử văn minh nhân loại - Phật giáo Việt
Nam và thế giới (2003), tác giả Đinh Lực và Nhất Tâm đã trình bày tổng quan
Phật giáo Việt Nam, ảnh hưởng Phật giáo trong đời sống người Việt Nam Đó
là những ảnh hưởng của quá trình hội nhập văn hóa Việt Nam, ảnh hưởng qua góc độ nhân văn và xã hội; ảnh hưởng qua các loại hình nghệ thuật, đến giá trị cuộc sống của con người nói chung và đi đến kết luận: “Đạo Phật đã ảnh hưởng đến mọi sinh hoạt của người Việt Nam từ triết lý, tư tưởng, đạo đức, văn học, nghệ thuật cho đến phong tục tập quán, nếp sống, nếp nghĩ” [40, tr.52]
2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về nhân sinh Phật giáo, đạo đức Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đạo đức, lối sống và nhân cách con người Việt Nam
Trong cuốn Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con
người Việt Nam hiện nay (1997), của tác giả Nguyễn Tài Thư (chủ biên), các
tác giả đã đề cập đến vai trò của Phật giáo trên một số lĩnh vực như ảnh hưởng của Phật giáo đến hệ tư tưởng và sự hình thành nhân cách con người Việt Nam
Đạo đức Phật giáo cho đời sống hằng ngày (1997) của Hòa Thượng
Tinh Vân là quyển sách thể hiện cụ thể những giá trị của đạo đức Phật giáo ảnh hưởng trong đời sống hằng ngày của con người, đưa ra những cách thức
cụ thể để các Phật tử ứng dụng vào đời sống nhân sinh; biết phân biệt đúng - sai, phải - trái, sống biết yêu thương, hiếu thảo với cha mẹ,…
Công trình Nhân sinh quan Phật giáo qua góc nhìn của lịch sử triết học
(1999) của Hoàng Ngọc Vĩnh, tác giả đã đi sâu luận giải về khía cạnh nhân sinh, đạo đức của Phật giáo ảnh hưởng đến đạo đức, đời sống, tinh thần của người dân; từ đó thấy được vai trò giáo dục đạo đức của Phật giáo đối với con
Trang 12người và xây dựng những giá trị truyền thống trong cộng đồng người Việt Nam
Công trình, Đạo đức Phật giáo với kinh tế thị trường (2002) của Hoàng
Thị Thơ, đã làm rõ những giá trị truyền thống trong Phật giáo Việt Nam chỉ rõ giá trị đạo đức Phật giáo trong nền kinh tế thị trường hiện nay Tuy nhiên, công trình chưa chú ý đến việc thực hành lối sống đạo đức Phật giáo trong đời sống của nền kinh tế thị trường
Cuốn sách Tìm hiểu chức năng xã hội của Phật giáo Việt Nam (2010),
của Trần Hồng Liên đã làm rõ các vấn đề về vai trò của Phật giáo đối với kinh
tế, chính trị, văn hóa, xã hội Việt Nam Từ đó tác giả hướng đến việc xây dựng con người hướng thiện, sống biết quan tâm và chia sẻ trong sự phát triển của xã hội hiện nay
Trong công trình nghiên cứu Ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo đến
đời sống tinh thần người Hà Nội hiện nay (2011), tác giả Đặng Thị Ánh Tuyết
đã đề cập đến nội dung chủ yếu trong nhân sinh quan Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần của người Hà Nội trên các phương diện đạo đức, nhân cách, tín ngưỡng, lễ hội, phong tục, tập quán… đồng thời đưa
ra những giải pháp cơ bản nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo
Trong bài viết “Đạo làm người trong triết lý nhân sinh Phật giáo và ý
nghĩa của nó đối với xã hội Việt Nam hiện nay” (2013), của PGS.TS Nguyễn Thị Thọ đã phân tích giá trị của nhân sinh quan Phật giáo ảnh hưởng đến quá trình hình thành đạo đức, nhân cách của con người, góp phần bảo tồn và phát huy đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam, tác giả đã kết luận “Triết lý nhân sinh Phật giáo đưa lại cho chúng ta những bài học về đạo làm người qua việc giáo dục tính hướng thiện, tránh ác; giáo dục tình yêu thương con người, tính vị tha và sự nhẫn nhịn Mỗi một cố gắng, nỗ lực của chúng ta trì Ngũ giới, hành Thập thiện và Bát chính đạo là mỗi một bước đi quan trọng tránh
Trang 13xa nghiệp ác, vun bồi cho những nghiệp thiện, giữ vững thân tâm trong sáng, giữ vững đạo làm người” [49, tr.39]
Công trình nghiên cứu, Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đến lối sống
người dân thành phố Cần Thơ hiện nay (2016), luận văn thạc sĩ triết học của
tác giả Phạm Văn Chiều đã phân tích nội dung của đạo đức Phật giáo và ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đến đời sống của người dân thành phố Cần Thơ hiện nay Từ đó tác giả đã đề xuất các nhóm giải pháp cơ bản nhằm đưa các giá trị đạo đức Phật giáo đến gần với người dân Cần Thơ
2.3 Nhóm nghiên cứu liên quan đến sinh viên và vấn đề giáo dục đạo đức, y đức cho sinh viên khối ngành khoa học sức khỏe
Công trình nghiên cứu luận văn thạc sĩ của Trần Thị Hồng Lê, Nâng
cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng đạo đức cho sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ trong giai đoạn hiện nay (2011), tác giả đã
phân tích và nêu lên tầm quan trọng của việc giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho sinh viên, từ đó đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm giáo dục chính trị, tư tưởng đạo đức cho sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ hiện nay
Luận văn thạc sỹ triết học của Nguyễn Thị Kính, Tư tưởng đạo đức Hồ
Chí Minh với việc rèn luyện và tu dưỡng đạo đức cho sinh viên ngành y, dược hiện nay (2012), tác giả đã phân tích những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ
Chí Minh ảnh hưởng đến việc rèn luyện và tu dưỡng đạo đức cho sinh viên ngành y, dược hiện nay dựa trên quan điểm của Hồ Chí Minh về việc rèn luyện đạo đức của người cán bộ y tế, hướng đến việc xây dựng đội ngũ bác sĩ, dược sĩ theo tinh thần “Lương y như từ mẫu”
Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học của
Nguyễn Thị Hằng về Giáo dục y đức cho sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội
hiện nay (2013), tác giả đã phân tích tầm quan trọng của việc giáo dục đạo
đức, y đức cho sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội hiện nay, trên cơ sở đó tác
Trang 14giả đã đi sâu vào phân tích những tác dụng của việc giáo dục y đức với việc xây dựng những giá trị thực tiễn cuộc sống cho sinh viên trong quá trình nghiên cứu
Tóm lại, triết học Phật giáo nói chung và nhân sinh quan Phật giáo nói riêng đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu từ các góc nhìn khác nhau; các tác giả tập trung nghiên cứu về Phật giáo trên phương diện tôn giáo, triết học
và ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần người Việt; song cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về nhân sinh quan Phật giáo sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước; tác giả mong muốn nghiên cứu nhân sinh quan Phật giáo để chỉ ra những ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ hiện nay
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận chung về nhân sinh quan Phật giáo và luận giải ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đối với sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ hiện nay, luận văn đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy những giá trị tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực ảnh hưởng đến đạo đức và y đức của sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ hiện nay
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Phật giáo Việt Nam
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đối với sinh viên Trường Đại
học Y Dược Cần Thơ hiện nay
5 Giả thuyết khoa học
Khi sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ hiểu đúng, thấm nhuần nhân sinh quan Phật giáo, sẽ góp phần hiểu thêm được một chân lý và mục
Trang 15đích sống hướng thiện của con người; cùng với lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, giúp sinh viên biết đánh giá, nhìn nhận những giá trị của cuộc sống, để
nỗ lực học tập nâng cao tư duy, đặc biệt là nắm vững kiến thức, kỹ năng y khoa; tích cực trau dồi đạo đức cách mạng và đạo đức người “Thầy thuốc” phù hợp với chuẩn mực xã hội
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, đề tài giải quyết một số nhiệm vụ sau:
Một là, phân tích những vấn đề lý luận chung về nhân sinh quan Phật
giáo
Hai là, phân tích thực trạng và nguyên nhân ảnh hưởng của nhân sinh
quan Phật giáo đối với sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ hiện nay,
từ đó nêu lên một số vấn đề đặt ra từ sự ảnh hưởng này
Ba là, bước đầu đưa ra một số nhóm giải pháp cơ bản nhằm phát huy
những mặt tích cực và hạn chế tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo đối với sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ hiện nay
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đối với sinh viên chính quy học ngành bác sĩ từ năm thứ 3 đến năm thứ 5, sinh viên chính quy học ngành Điều dưỡng từ năm thứ 3 đến năm thứ 4 của Trường Đại học Y Dược Cần Thơ hiện nay
8 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; kết hợp các phương pháp phân tích và tổng hợp; sự thống nhất giữa logic và lịch sử; điều tra xã hội học, phỏng vấn
và kết hợp các phương pháp khác
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 2 chương, 6 tiết
Trang 1610 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
10.1 Những luận điểm cơ bản
- Nhân sinh quan Phật giáo chứa đựng nhiều giá trị khoa học, nhân văn phù hợp với các giá trị đạo đức truyền thống của người Việt
- Nhân sinh quan Phật giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam
- Nghiên cứu những ảnh hưởng tích cực, tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo đối với sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ là một việc làm cần thiết trong giáo dục y đức hiện nay
10.2 Đóng góp mới của luận văn
Về phương diện lý luận: luận văn làm rõ bản chất của nhân sinh quan
Phật giáo và ảnh hưởng tích cực, tiêu cực của nó đối với sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ hiện nay; đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo đối với sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Về phương diện thực tiễn: luận văn góp phần giữ gìn và phát huy
những giá trị tích cực của nhân sinh quan Phật giáo, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực đến sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ nói riêng và người dân Việt Nam nói chung Đồng thời, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy các môn học như: Tôn giáo học, Đạo đức học, Tâm lý học và y học…
Trang 17NỘI DUNG Chương 1 NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Nhân sinh và nhân sinh quan
Khái niệm nhân sinh: “Nhân sinh” theo Từ điển tiếng Việt được hiểu
là: “cuộc sống của con người” Trong từ điển Từ và ngữ Việt Nam đã giải nghĩa: Nhân là người, sinh là sự sống; theo nghĩa đó: Nhân sinh là sự sống
của con người [25, tr.10] Theo tiếng Hán: nhân là người, sinh là sống; nhân
sinh là cuộc sống của con người
Về khái niệm nhân sinh quan: theo Từ điển tiếng Việt thông dụng thì
“Nhân sinh quan là quan niệm về cuộc đời, thành hệ thống bao gồm lý tưởng,
lẽ sống, lối sống…” [25, tr.10]
Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học định nghĩa nhân sinh quan
là, “quan niệm thành hệ thống về cuộc đời, về ý nghĩa và mục đích sống của con người” [62, tr.711]
Nhân sinh quan là vấn đề quan trọng đối với mỗi con người; là toàn bộ những kinh nghiệm, cách nhìn nhận chung nhất về cuộc sống của con người,
là tư tưởng chủ đạo xuyên suốt mục tiêu, hành động của con người, là nguồn gốc của mọi suy nghĩ, hành vi và chi phối các hoạt động của con người trong đời sống
Nhân sinh quan là quan niệm về đời người, cách nhìn nhận về cuộc đời,
là đạo làm người: “Nhân sinh quan nói vắn tắt thì đó là cách người ta nhìn cuộc đời hay là cái “Đạo” làm người của người ta”, “Nhân sinh quan là sự xem xét, suy nghĩ về sự sống của con người, là quan niệm về những định luật diễn hóa trong đời sống nhân loại và sự sống của con người” [42, tr.7]
Trang 18Như vậy, nghiên cứu nhân sinh quan, tức là nghiên cứu về tư tưởng, mục đích, thái độ và hành vi của đời sống con người Mỗi thời đại khác nhau, con người có một nhân sinh quan khác nhau Nhân sinh quan luôn đồng hành
và phát triển cùng thời đại
1.1.2 Nhân sinh quan Phật giáo
Nhân sinh quan Phật giáo được hình thành, phát triển gắn liền với quá trình hình thành, phát triển của Phật giáo trên cơ sở tiền đề kinh tế, chính trị,
xã hội và tiền đề tư tưởng văn hóa Ấn Độ cổ đại trước công nguyên, đồng thời xuất phát từ tấm lòng từ bi, cứu khổ muốn giải thoát con người ra khỏi nỗi khổ trầm luân
Nhân sinh quan Phật giáo là hệ thống các quan niệm, quan điểm của Phật giáo về nguồn gốc, bản chất và cấu tạo con người Trong bài “Nhân sinh quan Phật giáo và ảnh hưởng của nó trong giao tiếp và sinh hoạt của sinh viên
Việt Nam hiện nay” của công trình Triết lý nhân sinh trong văn hóa Việt
Nam, TS Nguyễn Thị Giáng Hương đã nhận định “Nhân sinh quan Phật giáo
là hệ thống quan điểm, cách nhìn mang tính chất nền tảng của Phật giáo về mục đích, ý nghĩa của cuộc đời, nó quyết định mục đích của các hoạt động thực tiễn và định hướng đường đi cho cuộc đời” [30, tr.307] Do đó, nhân sinh quan sẽ chi phối và định hướng mục tiêu, giá trị, thái độ sống của con người
Mục đích cuối cùng của Phật giáo là giải thoát cho con người khỏi kiếp khổ trầm luân, do đó, triết lý nhân sinh xét dưới gốc độ giải thoát con người là giá trị cơ bản trong hệ thống giáo lý nhà Phật Đức Phật đã nhìn thấu rõ sự đau khổ của đời sống con người, giúp con người tự nhận biết để giải thoát nỗi khổ; tuy nhiên muốn thoát khổ con người phải tự phấn đấu, tự tu tập nơi chính mình chứ không thể mong cầu vào ai khác ngoài họ
Xét dưới gốc độ đời sống xã hội của con người, nhân sinh quan Phật giáo tập trung vào hai vấn đề cơ bản, là sự khổ não và sự giải thoát khỏi nỗi khổ Khổ là sự luân hồi, là tất yếu, muốn thoát khỏi khổ đau con người phải
Trang 19biết tu tập để tự mình thoát khỏi vòng luân hồi, nghiệp chướng bằng cách vun bồi phước đức và trí tuệ
Từ sự phân tích trên, theo chúng tôi nhân sinh quan Phật giáo là toàn
bộ những quan niệm chung nhất của Phật giáo về nguồn gốc, bản chất, cấu tạo con người, về sự “khổ”trong cuộc đời của con người, đồng thời lý giải nguyên nhân của “khổ” và thái độ, hành vi, phương pháp tu tập của con người để thoát khổ
1.1.3 Sinh viên và sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
1.1.3.1 Khái niệm sinh viên
Thuật ngữ sinh viên có nguồn gốc từ tiếng La - tinh “student” có nghĩa
là người làm việc, học tập, người đi tìm kiếm, khai thác tri thức, nó được dùng cùng nghĩa với từ “student” trong tiếng Anh, “Etudiant” trong tiếng Pháp và “Cmgenm” trong tiếng Nga Sinh viên là để chỉ những người theo học ở bậc đại học, cao đẳng và phân biệt với học sinh đang theo học ở bậc phổ thông hay bậc học trung cấp
Theo ngôn ngữ Hán Việt, “Sinh viên” là người bước vào cuộc sống, cuộc đời Còn theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học định
nghĩa“Sinh viên: là người học ở bậc đại học” [62, tr 860 ] Theo Qui chế
công tác học sinh, sinh viên trong các trường đào tạo của Bộ giáo dục và đào tạo thì “Sinh viên” là người đang theo học hệ đại học và cao đẳng
Từ đó có thể hiểu khái niệm “Sinh viên” là những người đang học tập
hệ cử nhân tại các trường đại học hoặc cao đẳng, được tiếp thu và lĩnh hội tri thức nghề nghiệp, họ sẽ đảm nhận một lĩnh vực hoạt động nhất định sau khi ra trường, đáp ứng nhu cầu của xã hội
Sinh viên Việt Nam là những người trẻ tuổi, giàu lòng yêu nước, dám nghĩ, dám làm, ham học hỏi, đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng
Họ là những người có khả năng thích nghi với những nhân tố mới, năng động, sáng tạo; không chấp nhận sự nghèo nàn lạc hậu Sinh viên là tầng lớp xã hội
Trang 20đặc thù, đang trên con đường học tập, rèn luyện, định hình nhân cách, đạo đức
và lối sống Mặc dù, có trình độ nhận thức, trình độ khoa học cơ bản, có năng lực tư duy, nhưng ở độ tuổi 18 đến 25 tuổi, kinh nghiệm sống chưa nhiều; đây
là thời điểm sinh viên phát triển tư duy trừu tượng, đặc biệt là phát triển thế giới quan, nhân sinh quan, chứa đựng ước mơ, hoài bão vươn tới lý tưởng cao đẹp, phát triển năng lực nghề nghiệp…
Về mặt tâm lý, sinh viên là lứa tuổi hình thành và phát triển mạnh mẽ những phẩm chất nhân cách có ý nghĩa rất lớn đối với việc tự giáo dục, tự hoàn thiện bản thân theo hướng tích cực như khả năng tự đánh giá, lòng tự trọng, tự tin, có ý thức trách nhiệm cao; có khát vọng được cống hiến và mong muốn được xã hội ghi nhận Họ cũng muốn được khẳng định vai trò, vị trí của mình trong gia đình, trong tập thể, trong công việc cũng như trong các mối quan hệ xã hội Tuy nhiên, ở lứa tuổi này họ cũng rất dễ dao động, dễ lôi kéo trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, một số sinh viên chưa thích nghi với môi trường mới, còn e dè và thụ động trong các hoạt động tập thể, hoạt động cộng đồng
Đối với xã hội, sinh viên là đại biểu đặc biệt gồm những người đang học tập trong các trường đại học, cao đẳng, tiếp thu tri thức khoa học kỹ thuật, tinh hoa văn hóa nhân loại, tạo dựng hành trang nghề nghiệp nhất định Sinh viên Việt Nam là chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng nòng cốt trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội; trong tương lai, một số sinh viên sẽ trở thành những cán bộ quản lý, lãnh đạo các ngành, các cấp
Sinh viên là lứa tuổi đã có sự trưởng thành nhất định về mặt sinh học lẫn quan hệ xã hội; sinh lý và trí lực đã bắt đầu phát triển hoàn thiện Sự phát triển của tư duy biện chứng đạt đến trình độ tương đối cao Tư duy lôgíc, tư duy biện chứng vừa lấy trình độ phát triển tâm lý làm cơ sở, lại vừa là kết quả của giáo dục đại học Hơn nữa, ở độ tuổi này sinh viên đã tiếp xúc với xã hội nhiều hơn so với lứa tuổi trước đó, dần hình thành thói quen tư duy mang tính
Trang 21độc lập với những phán đoán toàn diện hơn, khoa học hơn, thúc đẩy tư duy lôgíc, tư duy trừu tượng ngày càng phát triển, từ đó thế giới quan, nhân sinh quan từng bước hình thành, các phẩm chất tâm lý, cá tính dần dần phát triển,
tư tưởng và hành vi ngày càng có tính độc lập
1.3.1.2 Đặc điểm sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Cũng giống như sinh viên thuộc các khối ngành nghề khác, sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ được tuyển sinh từ Nam Trung Bộ trở vào, chủ yếu là vùng Đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm: Bác sỹ đa khoa, Bác sỹ Răng hàm mặt, Bác sỹ Y học dự phòng, Bác sỹ Y học cổ truyền, Dược sĩ, Cử nhân Điều dưỡng đa khoa, Cử nhân Xét nghiệm y học, Cử nhân Y tế công cộng Thời gian đào tạo là 6 năm đối với các ngành đào tạo bác sĩ, 5 năm đối với ngành Dược học và 4 năm với các ngành đào tạo cử nhân
Sinh viên chính quy các Trường Đại học Y Dược nói chung và Trường Đại học Y Dược Cần Thơ nói riêng có độ tuổi trung bình cao hơn các trường đại học khác, do thời gian học tập kéo dài từ 4 đến 6 năm Tuy nhiên, đây vẫn
là độ tuổi thanh niên (khoảng 18 đến 25 tuổi), độ tuổi mà về mặt sinh học lẫn quan hệ xã hội đã có sự trưởng thành nhất định Về mặt sinh học, cơ thể đang dần đi đến hoàn thiện về chiều cao, trọng lượng, các đặc điểm tâm, sinh lý, giới tính, sự phát triển của bộ não với nguồn sinh lực dồi dào nhất
Về đời sống tâm lý xã hội, sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
đã có sự trải nghiệm sớm, vì ngay từ năm thứ hai, sinh viên đã được đi thực hành ở các bệnh viện, được tiếp xúc với người bệnh, người nhà bệnh nhân cùng các nhân viên y tế tại cơ sở thực hành Vì vậy, ở họ đã sớm hình thành tinh thần trách nhiệm đối với tập thể và cộng đồng xã hội
Ngoài ra, sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ cũng có tính cẩn trọng, siêng năng, chịu khó, thông minh, có đời sống nội tâm cao và tính quyết đoán lớn của một người cán bộ y tế tương lai Do, áp lực học tập ở cả giảng đường, phòng thí nghiệm, các bệnh viện thực hành và các cơ sở y tế
Trang 22khác đã thúc đẩy sinh viên phải đoàn kết, hỗ trợ, giúp đỡ nhau, trong quá trình học tập và làm việc theo nhóm
Qua các đợt học luân khoa lâm sàng theo từng tổ, các đêm trực, các đợt
đi cộng đồng điều tra tình hình sức khỏe… đã dần hình thành ở sinh viên tính
tự giác, tự quản và tính đoàn kết cùng với quá trình học thực tế, thực hành nghề nghiệp cũng đem lại cho sinh viên lòng kiên trì, tính chịu đựng lớn khi môi trường học tập và rèn luyện chịu nhiều áp lực cao Chính từ trong áp lực
đó đã nảy sinh sự cảm thông, chia sẻ, tình yêu thương và trách nhiệm; tinh
thần dấn thân vì cộng đồng, học tập để cầu tiến, lập thân, lập nghiệp
Đa số sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ đến từ các tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, ngoài ra còn một số ít đến từ các tỉnh miền Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ đã trúng tuyển thông qua kỳ thi tuyển sinh với số điểm thuộc tốp đầu Theo báo cáo của Trường Đại học Y Dược Cần Thơ về kết quả tuyển sinh từ năm 2012 đến 2016, điểm trúng tuyển đầu vào đối với ngành bác sĩ là 27.5 điểm, đối với ngành dược học là 25.5 và ngành
cử nhân là 24 điểm [59] Trải qua quá trình đào tạo chuyên môn cơ bản, có thời gian đào tạo từ bốn đến sáu năm mới trở thành người cán bộ y tế
Cùng với việc học tập kiến thức khoa học, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, các kỹ năng cần thiết của người cán bộ y tế thì việc rèn luyện, bồi dưỡng đạo đức và đạo đức nghề nghiệp là vô cùng quan trọng và cần thiết
để hình thành đạo đức, nhân cách của người cán bộ y tế trong tương lai Trong quá trình đào tạo, sinh viên được học tập các môn học như: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Tâm lý học và y đức nhằm trang bị cho sinh viên những quan điểm khoa học cách mạng và nhân văn, giáo dục đạo đức lý tưởng sống; nâng cao nhận thức về thế giới quan, phương pháp luận khoa học, nhân sinh quan cách mạng, tạo niềm tin và lý tưởng về cuộc sống và xã hội, trân trọng các giá trị thực tiễn trong đời sống
Trang 23Vì vậy, sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, cần phải được giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện lý tưởng, đạo đức cách mạng, đạo đức của người thầy thuốc, đó là: tinh thần yêu nước, thương dân, yêu người, yêu nghề; sống nhân từ, khiêm tốn, lạc quan; biết cách ứng xử phù hợp với đạo đức, quy tắc chuẩn mực của ngành nghề và của xã hội
Để thực hiện được ước mơ, hoài bão trở thành người “Thầy thuốc” trong tương lai, đem sự hiểu biết của bản thân cống hiến cho Tổ quốc, phục
vụ nhân dân, phục vụ đất nước trong công tác chăm sóc sức khỏe, bảo vệ tính mạng cho nhân dân; sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ phải là những người giàu lòng yêu nước, thương nòi, sống nhân ái, bao dung, biết yêu thương, trân trọng tính mạng con người, biết hy sinh những lợi ích của bản thân, nỗ lực vươn lên, chăm chỉ học tập, chịu khó nghiên cứu; trau dồi phẩm chất, đạo đức, y đức với tinh thần, trách nhiệm cao; họ mong muốn nắm vững kiến thức y học, thành thục về kỹ năng y khoa, biết áp dụng những phương tiện kỹ thuật hiện đại trong hoạt động chuyên môn, tất cả vì tính mạng và sức khỏe của nhân dân
Sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ cũng là những người có bản lĩnh, có ý chí và nghị lực vươn lên; là những người có ý thức trách nhiệm cao với bản thân, gia đình và xã hội, họ là những sinh viên cần cù, chịu khó, chịu khổ trong học tập và rèn luyện; bởi vì, họ đã và đang được học tập và rèn luyện trong một môi trường đặc biệt, thường xuyên tiếp xúc với những người
có vấn đề về sức khỏe, lĩnh hội tri thức qua bệnh nhân Nhưng, bằng tình yêu thương con người, trân quý sức khỏe và tính mạng của con người; họ đã vượt qua những khó khăn, tích cực học tập, rèn luyện với mục tiêu cao cả, trị bệnh cứu người, giúp con người thoát khỏi nỗi đau của bệnh tật
Trong quá trình học tập, qua các đợt đi thực tế, thực hành nghề nghiệp, sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ sớm được hình thành những phẩm chất đạo đức, năng lực, kỹ năng của người cán bộ y tế Khi đứng trước
Trang 24bệnh nhân, chứng kiến những cảnh đau đớn, vật vã do bệnh tật, mặc dù rất thương bệnh nhân, nhưng họ tự kìm nén cảm xúc, cẩn trọng, bình tĩnh trong mọi tình huống để ứng xử nhân văn, vì đối tượng tiếp xúc của họ là người bệnh, là sức khỏe và tính mạng của con người; là xác chết, là các hóa chất, sinh vật phẩm, bệnh phẩm có mức độ lây nhiễm cao Chính từ trong quá trình học tập, tiếp xúc nhiều con người, nhiều loại bệnh khác nhau, nhiều đối tượng
có hoàn cảnh khác nhau, đã hình thành những phẩm chất nghề nghiệp cao quý; họ biết hi sinh, biết cảm thông, chia sẻ với khó khăn vất vả của mọi người; từ đó hình thành tình yêu thương và tinh thần trách nhiệm với ngành nghề, với bệnh nhân và cộng đồng xã hội
Mặc dù có trình độ khoa học cơ bản và nhận thức, có năng lực tư duy nhạy bén nhưng sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ có tuổi đời trẻ, kinh nghiệm sống chưa nhiều, họ chịu sức ép rất lớn từ nhiều hướng khác nhau, dễ bị dao động trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay nhất là những tác động tâm lý từ áp lực học tập cũng như môi trường rèn luyện nghề nghiệp của
họ tại các bệnh viện, trạm xá, trung tâm y tế gây ra nhiều thay đổi trong tâm sinh lý của sinh viên
Một số sinh viên còn thụ động chưa thích nghi với môi trường thay đổi bởi tâm lý của tuổi trẻ chưa thật sự ổn định, lại ham thích và chạy theo cái mới, chịu ảnh hưởng của lối sống đua đòi, thực dụng, dễ thay đổi, gây ra những biểu hiện chưa đúng đắn, ảnh hưởng nhận thức hoạt động nghề nghiệp trong tương lai
Tuy nhiên, đa số sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ đã không ngừng học tập, nâng cao trình độ và phát huy những truyền thống tốt đẹp của nhà trường xây dựng qua thời gian, họ là lớp người năng động, sáng tạo, nhạy bén, thích ứng nhanh với cơ chế mới, nhất là những sự thay đổi trong cơ chế hoạt động nghề nghiệp của mình Cho nên có thể thấy, đa số sinh viên Trường Đại học Y Dược Cần Thơ là những người sống có lý tưởng, có ước mơ và
Trang 25hoài bão lớn lao; họ sẵn sàng vượt qua khó khăn, thử thách để thực hiện ước
mơ của mình, gắn bó ước mơ với những hoạt động phát triển xã hội, giúp ích cộng đồng, nâng cao trách nhiệm của bản thân trước xã hội nhất là trong lĩnh vực y tế
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Khái lược về sự ra đời của Phật giáo
Phật giáo ra đời từ thế kỉ thứ VI trước công nguyên ở miền Bắc Ấn Độ, nay là Nêpal, trong sự phản đối sự thống trị của đạo Bàlamôn Người sáng lập
ra Phật giáo chính là thái tử Tất Đạt Đa con vua Tịnh Phạn Ông sinh ngày 8 tháng 4, khoảng năm 544 trước công nguyên; sau khi tu hành đắc đạo có danh hiệu Thích Ca Mâu Ni
Sự hình thành và phát triển của Phật giáo chia làm hai giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất từ thế kỷ thứ VI trước công nguyên đến giữa thế kỷ thứ IV trước công nguyên là thời kì hình thành Phật giáo
Giai đoạn thứ hai từ thế kỷ IV trước công nguyên đến công nguyên là thời kỳ bắt đầu Phật giáo chia làm nhiều tông phái khác nhau trong đó có hai tông phái lớn là Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ
Từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VII là thời kỳ Phật giáo Đại thừa đối lập với Phật giáo Tiểu thừa Sau thế kỷ thứ VIII Phật giáo đi vào suy tàn trước sự tấn công của Hồi giáo cho đến cuối thế kỷ XIX
Phật giáo ra đời trong làn sóng phản đối với sự ngự trị của đạo Bàlamôn và chế độ phân biệt đẳng cấp khắc nghiệt trong xã hội Ấn Độ; trở thành ngọn cờ đấu tranh đòi tự do, đòi quyền bình đẳng trong xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ
Về tiền đề kinh tế, chính trị - xã hội đối với sự ra đời của Phật giáo: sự tồn tại của chế độ chiếm hữu nô lệ mang tính chất gia trưởng Do việc mở mang các công trình thủy lợi, sản xuất nông nghiệp phát triển, thủ công nghiệp tách hẳn ra khỏi nông nghiệp, giao thông thủy, bộ được phát triển;
Trang 26nhiều thành phố trở thành trung tâm công nghiệp và thương nghiệp Nhưng xã
hội Ấn Độ vẫn tồn tại và kéo dài kết cấu kinh tế xã hội theo mô hình “công xã
nông thôn”, ruộng đất thuộc quyền sở hữu Nhà nước, gắn liền với nó là sự
bần cùng hóa của người dân trong công xã; quan hệ giữa gia đình thân tộc được coi là quan hệ cơ bản
Từ cơ sở xã hội phân chia giai cấp, xã hội bất bình đẳng đã làm cho đời sống của tầng lớp nông dân, thợ thủ công, thương nhân và nô lệ ở đây vô cùng khắc nghiệt Phật giáo, với mục đích giải thoát cho con người khỏi những khổ đau, thể hiện tinh thần phản kháng của những người nghèo chống lại đạo Bàla môn
Với triết lý từ, bi, hỷ, xả, tinh thần bác ái, yêu thương, tôn trọng con người, bình đẳng giới và ý chí hướng thiện, Đức Phật đã khuyến khích con người hãy tin vào sức mạnh của bản thân, ở khả năng của mình và tự mình nỗ lực tu tập, làm nhiều việc thiện, việc có ích, có lợi cho bản thân và cộng đồng
xã hội; tránh xa những việc phi nghĩa, những việc làm có hại cho dân cho nước, để xã hội có cuộc sống yên bình thì sẽ giải thoát được những phiền muộn, khổ đau; chứ đừng mong chờ, cầu cạnh một ai có thể giúp mình được
1.2.2 Sự du nhập và đặc điểm của Phật giáo Việt Nam
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu Công nguyên; thông qua các đoàn thuyền buôn mà người Ấn Độ và các nhà sư Ấn Độ khi đến Việt Nam đã mang theo nếp sinh hoạt của Phật giáo như tinh thần hướng thiện, lánh ác, từ, bi, hỷ, xả, cứu khổ, cứu nạn, thực hành ngũ giới, bát chính đạo gần gũi với truyền thống yêu nước, thương nòi của dân tộc Việt Nam Cho nên, mỗi người dân Việt Nam tiếp nhận Phật giáo một cách tự nhiên và nhẹ nhàng
Phật giáo Việt Nam trải qua 4 giai đoạn:
(1) Giai đoạn du nhập và hình thành (từ khoảng thời gian đầu Công nguyên đến thế kỷ X): đây là thời kỳ Phật giáo du nhập vào Việt Nam, hình
Trang 27thành và phát triển rộng khắp Thời Đinh, Tiền Lê mở ra thời kỳ độc lập lâu dài, tạo điều kiện cho Phật giáo phát triển, nhiều bậc cao tăng tham gia triều chính
(2) Giai đoạn phát triển cực thịnh (từ thế kỷ XI - thế kỷ XIV): Phật giáo phát triển đạt đến đỉnh cao, đóng vai trò quan trọng trong hệ tư tưởng và đời sống chính trị ở hai triều đại Lý (1010 - 1225) và Trần (1226 - 1400), Phật giáo Việt Nam giai đoạn này đã đóng vai trò quan trọng trong nền giáo dục, góp phần đào tạo ra những nhà vua anh minh, từ việc đạo đến việc nước đều chu toàn như Lý Thái Tổ, Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông
(3) Giai đoạn suy thoái (từ thế kỷ XV - cuối thế kỷ XX): Phật giáo suy thoái do một số lý do sau: a) Bất ổn chính trị kéo dài qua các thời kỳ Hậu Lê, Mạc, Nguyễn; b) Nho giáo được đề cao (khoa thi năm 1442 được xem là cái mốc quan trọng cho việc xác lập vị trí Nho giáo)
(4) Giai đoạn phục hưng (từ giữa thế kỷ XX đến nay), hình thành các phong trào chấn hưng Phật giáo Điều này được thể hiện khi Phật giáo Việt Nam được xem là nền Phật giáo dân gian, được tiếp nhận như một tôn giáo Cho nên, Phật giáo Việt Nam thiên về bố thí cứu khổ, cứu nạn hơn là đi tìm
sự giải thoát Ngay trong thời Trần, Phật giáo đã được giới quý tộc quan tâm nghiên cứu, tuy nhiên không đạt đến cao trào như ở Ấn Độ hay Trung Quốc
Tông phái Trúc Lâm với tư tưởng “Tâm tức Phật, Phật tức tâm”, như Phật
hoàng Trần Nhân Tông đã Việt hóa “Tâm” là “Lòng”, hướng đến việc xây dựng những giá trị của nhà Phật ngay trong chính cái “tâm” của con người
chứ không phải ở bất kỳ một nơi nào khác Hay dân gian ta thường nói “Phật
tại tâm”, nghĩa là Phật ở trong lòng mình
Phật giáo khi du nhập vào Việt Nam mang đầy đủ các đặc điểm của Phật giáo nói chung Tuy nhiên cũng có những biến đổi nhất định để hòa nhập, thích nghi và kết hợp với đời sống tâm linh, truyền thống văn hóa của
Trang 28người dân Việt Nam Vì vậy, Phật giáo Việt Nam đã có những đặc điểm riêng biệt, trở nên linh hoạt, phong phú hơn
Những giá trị riêng biệt của Phật giáo ở Việt Nam thể hiện rõ nét ở tính dung hòa với các tín ngưỡng truyền thống của người Việt Nam như: thờ cúng
tổ tiên, thờ thần, thờ mẫu chính sự gần gũi, tương đồng với truyền thống của dân tộc mà nổi bật là chủ nghĩa yêu nước; khi nó có nhiều điểm tương đồng với sự từ bi, cứu khổ, cứu nạn của Phật giáo
Vì vậy, Phật giáo đã thấm sâu vào văn hóa người Việt một cách tự nhiên, góp phần vào việc hình thành những quan niệm tích cực, nhân bản, những giá trị và chuẩn mực đạo đức mà Phật giáo đề cập đến đã đi vào cuộc sống và được duy trì cho đến ngày nay
Phật giáo du nhập vào Việt Nam với tư cách sứ giả của hòa bình và tình thân ái, tinh thần nhập thế của Phật giáo đã được coi như một chuẩn mực tối cao của việc hành đạo Quan niệm từ, bi, hỷ, xả, cứu khổ, cứu nạn của Phật giáo rất gần gũi với những giá trị truyền thống của người Việt đã dẫn dắt sự nhập thế và được lưu truyền trong đời sống của người dân một cách rất tự nhiên Khác với Nho giáo, Thiên Chúa giáo, Phật giáo du nhập vào Việt Nam không gây nên một sự ồn ào, đảo lộn, cũng không phủ định những giá trị đạo đức truyền thống, tinh thần dân tộc; những phong tục tập quán của người Việt Nam mà nó đã thấm sâu và phát huy trong đời sống của người dân như chính những con người nơi đây
Nhân sinh quan Phật giáo Việt Nam mang trong mình tinh thần yêu nước và tinh thần nhập thế Với tính nhập thế mạnh mẽ, Phật giáo Việt Nam
nổi bật tinh thần “Vì đạo pháp - Vì dân tộc” Từ những năm 1920, nhiều vị
danh tăng, nhiều ngôi chùa đã gắn với hoạt động yêu nước, chống giặc ngoại xâm của các hội kín như Thiên địa hội, phong trào Đông kinh nghĩa thục, Đông Du,… như Chùa Nam Nhã (còn gọi là chùa Minh Sư hay Đức Tế Phật Đường)
Trang 29Trong những hoàn cảnh nhất định, Phật giáo Việt Nam đã trở thành một thực thể chính trị Các tổ chức, các phong trào đấu tranh thời kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã góp phần quan trọng vào công cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc
Trong quá trình đó, họ đã nuôi dưỡng ý thức dân tộc, lòng yêu nước cho nhiều thế hệ thanh thiếu niên, không để bị mai một, bị “mất gốc” sau các khoảng thời gian đấu tranh giành độc lập dân tộc Giới tăng sĩ vốn là thành phần có học thức, lại không thuộc thành phần thống trị, gần gũi với nhân dân
Vì vậy, họ luôn có được sự cảm thông, chia sẻ với nỗi khổ của người dân trong bối cảnh đất nước bị đô hộ, nhân dân lầm than, cơ cực; từ đó, nhà chùa đã thực
sự trở thành nơi hun đúc truyền thống yêu nước, thương dân, là trung tâm của khát vọng và niềm tin vào độc lập dân tộc
Trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của giặc ngoại xâm, đã có nhiều Tăng Ni và Phật tử sẵn sàng đứng lên chống giặc với tinh thần giết một người để cứu muôn người Khi đất nước lâm nguy, những người con của Phật không thể giáo điều, máy móc về giới luật không được giết hại chúng sinh, trong đó có giặc ngoại xâm Không vì một điều thiện nhỏ cho cá nhân mà quên điều thiện lớn cho dân tộc Đây là sự phá giới theo tinh thần phá chấp Chính vì vậy, trong bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam
có nhiều biến động lớn, tinh thần nhập thế của Phật giáo lại có cơ hội để bộc
lộ rõ hơn
Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, Phật giáo Việt Nam chú trọng việc giáo dục đạo đức, pháp luật, quan tâm giáo dục và đào tạo con người hơn là lễ bái cầu xin Hoạt động mê tín dị đoan phát sinh trong Phật giáo được hạn chế, các lớp trung cấp Phật học được tổ chức thường xuyên, những buổi học tập làm theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng được quan tâm nhiều hơn
Với chủ trương nhập thế để góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước trên tinh thần đoàn kết dân tộc, các chức sắc Phật giáo Việt Nam luôn mang tinh
Trang 30thần giải thoát, khai mở nhân tâm hướng thiện, hành thiện tránh ác Trên con đường đó, bản thể luận của Phật giáo và ý thức con người Việt Nam hội tụ
trong một thể thống nhất, đó là “Đạo pháp - Dân tộc” thông qua các hoạt
động thiện nguyện, Phật giáo đã tập hợp được sức mạnh của nhân dân đóng góp sức người, sức của vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Từ những đặc điểm trên, Phật giáo trở thành một tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam; góp phần định hình lối sống, phong tục và chuẩn mực giá trị đạo đức văn hóa Việt Nam
1.3 Nội dung cơ bản của nhân sinh quan Phật giáo
1.3.1 Quan niệm của Phật giáo về cấu tạo con người
Phật giáo cho rằng, con người không do Thượng đế sinh ra, cũng không
do một đấng thiêng liêng nào sáng tạo Con người do nhân duyên trong vũ trụ hòa hợp mà thành, gồm hai yếu tố thể xác và tinh thần, là kết quả của hợp, tan, tan hợp của Ngũ uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức)
Thuyết Ngũ uẩn: xem con người được cấu tạo từ 5 yếu tố: Sắc, Thụ, Tưởng, Hành, Thức Thuyết Ngũ uẩn cho rằng, con người được cấu thành từ hai phần là phần sinh lý và phần tâm lí Thân xác, hình dáng con người chính
là yếu tố “Sắc ngũ uẩn”, là phần sinh lý con người được kết hợp bởi bốn yếu
tố vật chất cụ thể gồm: Địa (đất) tạo ra phần cứng như xương, lục phủ ngũ tạng, tóc, lông; thủy (nước) tạo ra chất lỏng như máu, mỡ, mồ hôi; hỏa (lửa) tạo nên thân nhiệt; phong (gió) tạo thành hơi thở, khí trong hơi thở của con người Phần tâm lý hay ý thức, tinh thần của con người gồm: thụ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn; được biểu hiện bảy trạng thái tinh thần, tình cảm của con người đó là yêu, ghét, sướng, vui, giận, thương, muốn Trong con người phần tâm lý và sinh lý luôn luôn song hành cùng nhau
Trong các thuyết cấu tạo con người của Phật giáo thì thuyết Ngũ uẩn là phổ biến hơn cả Quan niệm vô thường của Phật giáo cho rằng, mọi sự vật, hiện tượng luôn vận động và biến đổi Phật giáo cho rằng, con người không
Trang 31có thực thể là “không”, gọi là “nhân vô ngã” (nhân không) Con người được tạo từ Ngũ uẩn cho nên không có chủ thể hằng thường tự tại Con người là sự kết hợp của những yếu tố động, cho nên là giả tạm, suy cho cùng là vô ngã Phật giáo cho rằng, mọi sự vật, hiện tượng là giả, không có thực, con người
chỉ là giả hợp của Ngũ uẩn tùy duyên giả hợp mà thành
1.3.2 Tư tưởng luân hồi - nghiệp báo
Phật cho rằng, toàn bộ Chư pháp đều do luật nhân quả chi phối, biến hoá vô thường, không có cái bản ngã cố định, không có cái thực thể, không có hình thức nào tồn tại vĩnh viễn Tất cả đều do luật nhân quả biến đổi không ngừng và chỉ có sự biến hoá ấy là thường còn (vĩnh viễn)
Cái nhân nhờ có cái duyên mới sinh ra được mà thành quả, quả lại nhờ
có duyên mà thành nhân khác, nhân khác lại thành quả Quả lại nhờ có duyên
mà thành nhân khác, nhân khác lại nhờ có duyên mà thành quả mới cứ thế, nối tiếp nhau sinh sinh, diệt diệt, vô cùng vô tận
Như chúng ta đã biết, Phật giáo khác với các tôn giáo khác ở chỗ, Phật
giáo phủ nhận vai trò sáng tạo thế giới của các “đấng tối cao” của “Thượng
đế” hay cái nhân ban đầu mà từ đó sinh ra thế giới vạn vật và cho rằng mọi sự
vật, hiện tượng trong thế giới này kể cả con người đều do nhiều nhân duyên hợp thành Cái hiện hữu, cái kết quả hôm nay là do sự tác động của nhân duyên kiếp trước để lại mà Phật giáo gọi đó là luân hồi, nghiệp báo và nhân quả
Trong quan niệm về đạo đức nhân sinh của Phật giáo, theo qui luật nhân quả mà vạn vật ở trong quá trình biến đổi không ngừng bao gồm sinh, trụ, dị, diệt; thành, trụ, hoại, không Quá trình đó phổ biến khắp vạn vật, trong
vũ trụ, nó là phương thức thay đổi chất lượng của sự vật và hiện tượng
Nhân chính là nguyên nhân bên trong trực tiếp sinh ra kết quả Quả là
kết quả Nhân là năng lực phát động, quả là sự hình thành của năng lực phát động ấy Nhân và quả là hai trạng thái tiếp nối nhau được hình thành trong
Trang 32quá trình phát sinh, phát triển, tiêu vong của vạn vật Nếu không có nhân thì không có quả; nếu không có quả thì không có nhân
Nguyên nhân chính trực tiếp của một hiện hữu là nhân, nguyên nhân gián tiếp ảnh hưởng đến quả là duyên, đây gọi là những điều kiện phụ thuộc, trong đó duyên dùng để chỉ nguyên nhân gián tiếp Thập nhị nhân duyên sẽ
tạo thành vòng tròn nghiệp báo luân hồi Phật giáo cho rằng, con người phải
chịu trách nhiệm trước hành vi và hậu quả của mình Nghiệp là sự hoạt động của ý nghĩ, lời nói và hành động của mỗi người tạo thành kết quả về sau
Khi con người hình thành thì mọi suy nghĩ, hành động được ghi lại ở luật vô hình đặc trưng của con người Khi con người chết đi luật vô hình quay lại gặp điều kiện thuận lợi tạo thành sinh linh mới chịu quả của kiếp trước và nhân của kiếp sau cứ thế luân hồi sinh sinh, diệt diệt mãi nối tiếp nhau vô cùng, vô tận; thế giới vô thủy, vô chung không có cái gì là bất biến, trường tồn mãi mãi Mọi vật đều tuân theo quy luật sinh, trụ, dị, diệt Cuộc đời con người cũng là một mắt xích trong chuỗi dài vô cùng, vô tận ấy của nhân duyên
Kế thừa cách hiểu truyền thống về nghiệp từ thời kỳ Veda và trong kinh Upanishad, Đức Phật khuyên con người nỗ lực hướng tới tương lai Vì nghiệp cũng bao hàm tư tưởng nhân quả báo ứng về hành vi thiện ác, cho nên nghiệp và nhân quả có mối quan hệ với nhau
Nghiệp có liên quan đến ba đời: nghiệp hiện tại có khả năng trở thành nhân quyết định quả vị lai và nghiệp quá khứ có sức tác động mãnh liệt mang
quả báo trong hiện tại Phật dạy “Muốn biết nhân đời trước hãy xem quả của
đời này Muốn biết quả của đời sau, hãy xem nhân của đời này” [51, tr.208]
Và theo đó “Trong triết lý nhân sinh của Phật giáo, theo luật nhân quả, thì nghiệp báo và tái sinh là hai phạm trù căn bản có liên hệ mật thiết với nhau Tái sinh là hệ luận tự nhiên của nghiệp Từ trước thời Đức Phật, tư tưởng
Trang 33nghiệp báo và tái sinh đã được truyền bá rộng rãi ở Ấn Độ Nhưng với triết lý Phật giáo, chúng được phát triển hoàn thiện hơn” [10, tr.169]
Hơn nữa, Phật giáo cho rằng, con người phải chịu trách nhiệm trước những hành vi và hậu quả của cuộc đời mình “Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy” [20, tr.425] Tạo nghiệp thiện, nghiệp lành, con người được hưởng hạnh phúc về sau, tạo nghiệp ác con người sẽ chịu quả báo, Đức Phật cũng phân biệt ranh giới giữa thiện và ác qua hình ảnh ẩn dụ khá rõ ràng: “thật là xa, thật xa, khoảng cách giữa mặt đất và bầu trời Thật là xa, thật xa, khoảng cách giữa bờ bên này với
bờ bên kia Thật là xa, thật xa, khoảng cách giữa mặt trời mọc và mặt trời lặn Nhưng còn cách xa, cách xa hơn nữa là khoảng cách giữa pháp của bậc thiện
và pháp của kẻ ác” [5, tr.22] Do đó, sống có đạo đức, sống đúng với đạo làm người, biết thanh lọc thân tâm, hướng thiện, diệt trừ vô minh, tạo thiện nghiệp
là việc con người cần làm trong cuộc sống này
Trong triết lý nhân sinh Phật giáo, nhân - quả, luân hồi, là dòng biến động sinh diệt nối tiếp vô cùng, vô tận của đời sống, trong vòng bánh xe sinh
tử, kiếp sau sẽ gặt hái hậu quả của kiếp trước để rồi lại gieo nhân cho những kiếp sống kế tiếp Bức tranh hậu kiếp, được hình thành bởi những đường nét của tiền kiếp Nghiệp gắn bó, chi phối đời sống của con người, gieo nhân nào hưởng quả ấy; làm lành được quả tốt, làm ác chịu quả xấu, người trồng thì người hưởng
Như vậy, nhân quả, nghiệp báo là yếu tố quan trọng hình thành nên tư tưởng đạo đức hướng tới chúng sinh của Phật giáo Chính bản thân cá nhân là người được thừa hưởng cái nghiệp của mình, nếu nhân tốt thì gặt quả lành, nhân xấu thì gặt quả dữ Tuy nhiên, đó chưa hẳn là yếu tố cố định, mà nó mang tính chất duyên sinh, khi con người biết ăn năn, hối lỗi, biết phấn đấu
để làm những việc thiện, không cho những hành động xấu trở thành những
Trang 34thói quen vốn hình thành bộ phận cảm thức bản ngã của chính mình thì
nghiệp của họ có thể chuyển hóa
1.3.3 Tứ diệu đế trong quan niệm nhân sinh của Phật giáo
Phật giáo cho rằng, đời là bể khổ, nhưng Đức Phật cũng khẳng định nỗi khổ có thể được diệt trừ, nếu như con người biết tu tập để thoát khỏi tam giới, thoát khỏi vô minh, tham, sân, si Trong đó vô minh làm cho con người mê lầm, không nhận biết được giá trị của cuộc sống, không nhận ra được bản chất của mọi sự vật, hiện tượng trong cuộc đời, không phân biệt được đâu là đúng,
là điều tốt đẹp để thực hiện, để làm và phát huy nhân rộng và ngược lại biết được đâu là sai trái, xấu xa để tránh, để diệt trừ, loại bỏ Để thoát khỏi vô minh con người cần phải nỗ lực tự mình tu tập, rèn luyện, nâng cao trí tuệ, nhận thức và hiểu biết của mình để từ đó làm chủ bản thân biết ứng xử đúng mực
Nội dung Tứ diệu đế theo quan niệm Phật giáo:
Khổ đế: Phật giáo quan niệm cuộc đời con người là khổ Chỉ ra các
nguyên nhân dẫn đến khổ và con đường giải thoát khổ
Khổ theo quan niệm của Phật giáo: con người sống trên đời ít nhất có tám nỗi khổ, đó là: sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ (yêu thương nhau mà phải xa nhau), oán tăng hội khổ (ghét nhau mà phải gần nhau), sở cầu bất đắc khổ (mong muốn mà không được), ngũ thụ uẩn khổ (sự tồn tại các giác quan) cho nên sinh ra sự luyến tiếc của con người, nó hàm chứa tính vô thường của đời sống
Cái khổ của con người mang tính quy luật và là tất yếu, cho nên Phật giáo cho rằng, con người ta sinh ra đã là khổ, vì có sinh là có diệt đây là quy luật tất yếu của tự nhiên Sinh ra để tồn tại được con người phải trải qua rất nhiều biến cố, thăng trầm, đối mặt với rất nhiều tác động của tự nhiên, xã hội
và chính bản thân; nên phải suy nghĩ, phải lưu tâm để suy xét chín chắn, biết
Trang 35rõ luân hồi là khổ, để tránh khỏi vòng luân hồi bất tận đó, con người phải diệt trừ vô minh, tiêu trừ sân hận để được giải thoát
Tám nỗi khổ đó đeo bám suốt cuộc đời của con người, trở thành một trạng thái được sắp đặt trước, như là một quy định sự thật nơi cuộc sống nhân sinh, không có gì khác ngoài sự đau khổ Tuy sống trong thế giới khổ nhưng con người lại mê muội mà không hay biết, mãi tham đắm trong dục lạc thế gian cứ cho đó là hạnh phúc sung sướng, vì vậy mà đắm chìm trong bể khổ
Tập đế: là những nguyên nhân sâu xa của khổ
Đức Phật dạy rằng tất cả vạn vật trên đời đều nằm trong mối quan hệ nhân và quả mà sinh hay diệt Bản thân mỗi con người lại phải chịu khổ, nhưng cái khổ nơi con người không phải tự nhiên hay ngẫu nhiên mà có, mà
nó lệ thuộc vào tập nhân rồi theo luật nhân quả mà chi phối
Tập nhân ở đây là “vô minh” là nguồn gốc đầu tiên rồi đến tham ái, do tham ái mà chấp thủ, bám víu vào cuộc đời mỗi người Sự khao khát về dục
lạc dẫn đến khổ đau, bởi vì lòng khao khát ấy không bao giờ được thỏa mãn nên sinh ra khổ Cái khổ ấy lại chính vì vô minh nên con người ta muốn tồn tại mãi nhưng thực tại cứ luôn biến đổi trong dòng chảy vô cùng, vô tận, trong vòng sinh, lão, bệnh, tử; cũng chính vô minh nên con người ta luôn coi bản thân mình là nhất và chỉ có ta, không biết được tầm quan trọng của mối nhân duyên; cứ lầm tưởng rằng “cái tôi” là quan trọng, là cái có thực cần phải bám víu, củng cố và thỏa mãn nhu cầu của cái tôi
Tham, sân, si còn gọi là Tam độc, là ba thứ phiền não căn bản, là
nguyên nhân nảy sinh vô số phiền não mà trong kinh điển thường gọi là tám vạn bốn ngàn trần lao phiền não Tựu trung lại, có thể quy về 12 nguyên nhân sinh ra phiền não của con người đó là:
+ Vô minh: Không sáng suốt, không nhận thức được thế giới, không
nhận định được chân lý về sự khổ, nguyên nhân của sự khổ, sự diệt khổ và con đường đưa đến sự diệt khổ Cái không thấy, không nhận định được đó
Trang 36chính là nguyên nhân làm động lực thúc đẩy chuyển động cả bánh xe đời sống
Đức Phật dạy: “Vô minh là lớp ảo kiến mịt mù dày đặc, trong ấy chúng
sanh quây quần, quanh lộn” [5, tr.730] Đến khi lớp vô minh bị phá vỡ thì
vấn đề nhân quả cũng chấm dứt Đức Phật nói rằng “người đã tiêu trừ ảo kiến
và phá tan lớp tối tăm dày đặc sẽ không còn thênh thang đi mãi nữa Đối với người ấy, sẽ không còn vấn đề nhân quả nữa”[19, tr.14]
+ Duyên hành: là hành động có ý thức, hoạt động của ý thức, sự dao
động của tâm, của khuynh hướng và đã có manh nha của nghiệp
+ Duyên thức: tâm thức từ chỗ cân bằng trong sáng đến dần mất cân
bằng Cái tâm thức đó tuỳ vào nghiệp mà tìm đến các nhân duyên khác để hiện hình, thành một cuộc đời khác
+ Duyên danh sắc: là sự hội tụ của các yếu tố vật chất, tinh thần sinh ra
các cơ quan cảm giác mắt, tai, mũi, lưỡi; thân thể và ý thức
+ Duyên lục nhập: là quá trình xâm nhập của thế giới xung quanh vào
các giác quan
+ Duyên xúc: là sự tiếp xúc với thế giới xung quanh từ đó sinh ra cảm
giác: yêu, ghét, buồn, vui
+ Duyên thụ: là sự cảm thụ, sự nhận thức trước tác động của thế giới
bên ngoài; cảm giác do tiếp xúc với bên ngoài mà sinh ra cảm giác vui sướng, khổ đau, hạnh phúc, bi thương
+ Duyên ái: là sự yêu thích mà nảy sinh lòng ham muốn (dục vọng) do
cảm thụ thế giới bên ngoài
+ Duyên thủ: Do yêu thích mà muốn chiếm đoạt và giữ lấy
+ Duyên hữu: tiến tới xác định chủ thể chiếm hữu (cái ta) thì phải tồn
tại (hữu), tức đã có hành động tạo nghiệp; là sự tồn tại để tận hưởng cái đã chiếm đoạt được
Trang 37+ Duyên sinh: đã có tạo nghiệp là nhân, tất yếu sẽ sinh ra quả, là hiện
hữu, là tự sinh ra ở thế giới để làm người hay súc sinh
+ Duyên lão tử: đã có sinh tất yếu có già, yếu và chết đi Sinh -Lão -
Bệnh - Tử là kết thúc một chu kỳ, đồng thời là nguyên nhân của một chu kỳ tiếp theo, bắt đầu một vòng luân hồi mới, cứ như thế tiếp diễn trong vòng đau khổ sinh tử
Nếu nhìn xuyên suốt lại chúng ta sẽ thấy, cái nhân gần nhất đưa đến quả khổ đó là “nghiệp”, còn cái nhân sâu xa đưa đến quả khổ đó là “Vô minh”
Trước Phật giáo, trong Upanisad đã đề cập tới vô minh - một trạng thái mê lầm, không thấy được sự đồng nhất giữa tiểu ngã Atman và đại ngã Brahman, gắng tìm một cái ngã cá nhân biệt lập với cái đại ngã dẫn tới
Mười hai cái nhân, cái nọ làm nhân cho cái kia mà thành ra vạn vật trên thế gian này Mười hai nhân duyên sẽ tạo thành một vòng tròn và như vậy sẽ không còn cái gì là nguyên nhân đầu tiên hay kết quả cuối cùng nữa Vòng tròn đó chính là vòng nghiệp báo luân hồi Đây là một quan niệm biện chứng,
nó phản ánh quá trình vận động không ngừng của vũ trụ theo quan hệ nhân - quả
Diệt đế: là chân lý mà Đức Phật chỉ dạy chúng ta cần phải thực hành
để đạt được trạng thái tiêu diệt nguyên nhân gây khổ đau
Trang 38Diệt đế, là khả năng triệt tiêu được sự đau khổ nơi cuộc sống nhân sinh
để dẫn đến cảnh giới Niết bàn (Nizvana) Phật giáo quan niệm, đời người là
bể khổ, song Đức Phật cho rằng, con người hoàn toàn có khả năng tự tận diệt được nỗi khổ đau nơi cuộc sống nhân sinh để đạt được an lạc, hạnh phúc; trong đó diệt được ái dục, phá được chấp ngã, xoá bỏ được vô minh con người
sẻ diệt trừ đi được nỗi khổ của chính bản thân mình Và khi con người giải thoát được những ràng buộc mê chấp thì sẽ đạt tới cảnh giới Niết bàn (tiếng Sanscrit là Nirvana, tiếng Pali là Nibhana) Niết bàn, trong Phật giáo không phải là thiên đường như Thiên Chúa giáo, mà là một trạng thái tâm linh hoàn toàn thanh thản, yên tĩnh, sáng suốt, không vọng động, diệt ái dục, xoá bỏ vô minh, chấm dứt mọi khổ đau, phiền não
Để đạt đến cảnh giới Niết bàn, Phật giáo cũng khuyên con người nên tu tập theo Giới - Định - Tuệ, trong đó Bát chính đạo là phương hướng chung cho mọi ngã đường dẫn đến Niết bàn; Phật giáo khuyên con người nên yêu thương, chia sẻ, từ, bi, hỷ, xả để mình và mọi người đều được hưởng hạnh phúc
Từ là tâm phải tĩnh, phải chân thành, cởi mở, biết yêu thương, tôn trọng con người và vạn vật trên trái đất này; làm việc gì cũng phải biết đặt lợi ích của con người, của tập thể, của xã hội lên trên hết, mong tất cả được an lành, hạnh phúc
Bi là sự thương xót, cảm thông vô hạn trước nỗi đau khổ của người khác, là liều thuốc chữa bệnh tàn bạo, độc ác đó chính là động lực thúc đẩy con người rung động và hành động trước sự đau khổ, bất hạnh của người khác; thông cảm, chia sẻ, xoa dịu nỗi đau của người khác với mong muốn sẽ giúp chúng sinh thoát khỏi khổ đau
Hỷ là vui vẻ, hạnh phúc khi chúng sinh được hạnh phúc; không ganh ghét, đố kỵ, sân hận
Trang 39Xả là khoan dung, độ lượng, biết buông bỏ; không tham lam, ích kỷ, đây cũng chính là tinh thần lạc quan tôn giáo và tính nhân bản của Phật giáo
là vì con người, luôn đặt mình vào vị trí trung tâm với mục đích cao cả là giải thoát con người khỏi đau khổ; hướng con người đến niềm hạnh phúc tuyệt đối, đó chính là khát vọng của con người muốn đạt tới giá trị chân - thiện -
mỹ
Đạo đế: là con đường thực hành để diệt khổ
Theo quan niệm của Phật giáo, có nhiều con đường để thoát khổ, trong đó con đường tu “Trung đạo”: Giới, Định, Tuệ (Tam giới) chi tiết là bát chính đạo, còn gọi là “tám con đường” tu đạo đức, trí tuệ và niềm tin kết hợp
Giới trong Phật giáo có khả năng tạo cho con người nền tảng hạnh phúc
và lợi ích tốt đẹp cho cuộc sống con người và xã hội Nội dung của bát chính đạo cũng như các pháp môn khác đều thể hiện 3 giới học quan trọng này, cho nên, tất cả lời dạy của Đức Phật có thể thu gọn trong câu:
“Chư ác mạc tác Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý Thị chư Phật giáo” [33, tr.68]
(Chớ làm các điều ác Vâng làm các điều lành Giữ tâm ý trong sạch Đây lời chư Phật dạy)
Định là phương pháp cho người tu hành không tán loạn thân tâm tạo
điều kiện cho trí tuệ phát triển Định sẽ làm cho tâm thanh tịnh và định được
ví như khu vườn được làm sạch cỏ, không nhơ bẩn Cách để cho tâm thanh tịnh nhất là thiền định Thiền định tức là gạt bỏ mọi sự phân tán của tâm ý tạo trạng thái vắng lặng, là tập trung lại trong tâm để tâm được an trụ suy nghĩ, quan sát hay suy nghiệm… Mục đích muốn đạt đến của định là để không cho các đối tượng tham dục, tham ái khác khuấy động và không để cho dòng tư duy tuôn trào bất tận Từ đó, tâm của con người không còn cái ý niệm tham đắm, chấp trước mọi cảm giác, ngay cả những vui, buồn, lạc, khổ Chỉ có tâm thật sự thanh tịnh và ý thức còn lại thì con người mới trở nên định tâm Chính
Trang 40định là điều cần thiết để tâm thanh tịnh, nhờ đó tâm trí sáng suốt và có thể nhận biết được giá trị chân thực của vạn vật trên đời
Đức Phật dạy: “Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng Những nguyên nhân gì làm con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên Vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt” [35, tr.401]
Tuệ được xem là khả năng hiểu biết một cách sâu sắc về bản chất của
con người và thế giới, biết rõ nguyên lý của chính - tà, thiện - ác và thấy rõ sự
vô thường, vô ngã trong vạn vật Tuệ có chức năng phân biệt, xử lý, chọn lọc
các pháp, là khả năng khai sáng của tâm trí, xem xét bản chất đích thực của sự
vật, thể nhập chân lý Do vậy, tuệ được xem là nền tảng của mọi đức tính,
giúp người tu hành diệt trừ được vô minh, dục vọng chứng ngộ chân lý của Đức Phật Đức Phật dạy: “Như thế nào được gọi là trí tuệ? Vì có tuệ tri nên được gọi là trí tuệ Tuệ tri gì? Tuệ tri đây là khổ, tuệ tri đây là khổ tập, tuệ tri đây là khổ diệt, tuệ tri đây là con đường đưa đến khổ diệt” [35, tr.640]
Như vậy, theo quan niệm của Phật giáo, ba phương pháp tu tập Giới - Định - Tuệ, thì Giới được xem là quan trọng nhất, là một trong những nền tảng đạo đức Phật giáo, chỉ dẫn con người đến việc thực hành chính pháp Từ
đó, chúng giúp chuyển hóa cái nghiệp cho con người, cải tạo xã hội trở nên chân - thiện - mỹ Vì có giữ giới thì tâm mới định, tâm có định thì tuệ mới phát sinh để diệt trừ đi cái tâm tối của vô minh, phiền não và thành Phật Tu đạo theo Tam học cũng chính là việc cá nhân tu theo các nội dung trong Bát chính đạo, trong đó bao gồm chính ngữ, chính nghiệp, chính tinh tiến là Giới; chính mệnh, chính niệm, chính định là Định; chính kiến, chính tư duy là Tuệ
Rèn luyện về Giới, trong đó Ngũ giới là nền tảng căn bản đem lại hạnh phúc cho con người sống đúng ý nghĩa văn minh của nhân loại Ngũ giới là đạo làm người cơ bản của người Phật tử, khi bắt đầu bước chân trên con đường giác ngộ giải thoát để sống đúng với mình, sống tốt với người Ngũ